1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP PHONG tục tập QUÁN NUÔI CON NUÔI cơ sở lý LUẬN và THỰC TIỄN

83 270 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó phong tục tập quán về nuôi con nuôi là một công cụ hữu hiệu, mang tính tương trợ cho pháp luật góp phần mang lại hiệu quả cao, bảo vệ tốt nhất cho những quyền lợi của trẻ em, đồng

Trang 1

PHONG TỤC TẬP QUÁN NUÔI CON NUÔI

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện

MSSV: 5095654

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

4 Phương pháp nhiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG PHONG TỤC, TẬP QUÁN VỀ NUÔI CON NUÔI 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHONG TỤC, TẬP QUÁN NUÔI CON NUÔI 4

1.1.1 Khái niệm chung về phong tục tập quán và phong tục tập quán nuôi con nuôi 4

1.1.1.1 Khái niệm chung về phong tục tập quán 4

1.1.1.2 Khái niệm phong tục tâp quán nuôi con nuôi 5

1.1.2 Đặc điểm phong tục tập quán về nuôi con nuôi 7

1.1.2.1 Phong tục, tập quán về nuôi con nuôi có hình thức thể hiện chủ yếu là truyền miệng (bất thành văn) 7

1.1.2.2 Tính tự giác, tự nguyện thực hiện rất cao của phong tục, tập quán về nuôi con nuôi 8

1.1.2.3 Phong tục, tập quán về nuôi con nuôi còn mang nặng tính địa phương, tính tộc người, phạm vi điều chỉnh hẹp 8

1.1.2.4 Phong tục tập quán về nuôi con nuôi mang tính ổn định, bền vững và có tính bảo thủ rất lớn 8

1.2 PHÂN LOẠI CÁC HÌNH THỨC NUÔI CON NUÔI THEO PHONG TỤC TẬP QUÁN 9

1.3 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH VÀ Ý NGHĨA CỦA PHONG TỤC TẬP QUÁN NUÔI CON NUÔI 11

1.3.1 Nguyên nhân hình thành phong tục tập quán nuôi con nuôi 11

1.3.2 Ý nghĩa của phong tục tập quán về nuôi con nuôi 13

1.4 LƯỢC SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TỤC TẬP QUÁN NUÔI CON

Trang 3

CHƯƠNG 2

PHÂN TÍCH CÁC NỘI DUNG TRONG PHONG TỤC, TẬP QUÁN VỀ

NUÔI CON NUÔI 2.1 ĐIỀU KIỆN XÁC LẬP QUAN HỆ CHA MẸ NUÔI-CON NUÔI THEO PHONG TỤC TẬP QUÁN 18

2.1.1 Điều kiện liên quan đến người nhận nuôi 19

2.1.2 Điều kiện liên quan đến người được nhận nuôi 26

2.2 THẨM QUYỀN XÁC LẬP QUAN HỆ NUÔI CON NUÔI THEO PHONG TỤC TẬP QUÁN 31

2.3 THỦ TỤC XÁC LẬP QUAN HỆ CHA MẸ NUÔI – CON NUÔI 32

2.3.1 Hình thức xác lập quan hệ nuôi con nuôi 32

2.3.2 Việc giao nhận con nuôi theo phong tục tập quán 35

2.4 HIỆU LỰC CỦA VIỆC THIẾT LẬP QUAN HỆ CHA MẸ NUÔI-CON NUÔI THEO PHONG TỤC TẬP QUÁN 41

2.4.1 Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi đối với con nuôi theo phong tục tập quán 42

2.4.1.1 Quyền và nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng 42

2.4.1.2 Quyền và nghĩa vụ giáo dục 45

2.4.1.3 Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con nuôi gây ra 47

2.4.1.4 Quyền quản lý, định đoạt tài sản riêng của con nuôi 50

2.4.1.5 Một số quyền và nghĩa vụ khác 52

2.4.2 Quyền và nghĩa vụ của con nuôi đối với cha mẹ nuôi 56

2.4.2.1 Quyền và nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng 56

2.4.2.2 Quyền thừa kế di sản 58

2.4.2.3 Quyền có tài sản riêng 61

2.5 PHONG TỤC TẬP QUÁN LIÊN QUAN ĐẾN CHẤM DỨT VIỆC NUÔI CON NUÔI 62

2.5.1 Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi theo phong tục tập quán 62

2.5.2 Thủ tục chấm dứt quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi theo phong tục tập quán 64

Trang 4

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHONG TỤC, TẬP QUÁN VỀ NUÔI CON NUÔI NHỮNG VẤN ĐỀ CÕN TỒN TẠI VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

3.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHONG TỤC, TẬP QUAN VỀ NUÔI CON NUÔI 66 3.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CON TỒN TẠI VỀ NUÔI CON NUÔI THEO PHONG TỤC, TẬP QUÁN 69

3.2.1 Những mặt tích cực của phong tục tập quán nuôi con nuôi 69 3.2.2 Những mặt tiêu cực của phong tục tập quán nuôi con nuôi 71

3.3 HƯỚNG HOÀN THIỆN TRONG VIỆC ÁP DỤNG PHONG TỤC, TẬP QUÁN VỀ NUÔI CON NUÔI 75 KẾT LUẬN 79

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU



1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước Việt Nam với biết bao phong tục tập quán tốt đẹp được xem là những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc, với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống hòa thuận với nhau, mỗi dân tộc lại có những phong tục tập quán riêng thể hiện

sự phong phú đa dạng trong đời sống, tín ngưỡng và mang lại nét đặc trưng cho dân tộc đó Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận rằng có những phong tục tập quán tốt đẹp mang đậm giá trị đạo đức và ý nghĩa nhân văn, trong số đó việc nhận trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa làm con nuôi là một việc làm thiện, nhân đạo, là một phong tục tốt đẹp, thể hiện đạo lý của dân tộc và được xã hội ủng hộ Nó không chỉ

là nét đặc trưng của riêng bất cứ dân tộc nào cả mà nó đã được phổ biến rộng rãi và

có mặt ở hầu khắp các dân tộc đặc biệt là các dân tộc thiểu số ở miền núi, vùng sâu, vùng xa

Tuy hầu hết các dân tộc đều có phong tục tập quán này, nhưng mỗi dân tộc lại có những nét đặc trưng riêng về nghi lễ, hình thức nhận con nuôi thể hiện nét văn hóa riêng của dân tộc đó Bên cạnh đó, đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ em người dân tộc thiểu số khi điều kiện kinh tế và cuộc sống còn khó khăn thì một mái ấm gia đình

là nơi quan trọng nhất Bởi lẽ, gia đình là nơi hình thành, phát triển và là cái nôi nuôi dưỡng nhân cách mỗi con người, trong gia đình cũng như xã hội mối quan giữa cha

mẹ và con cái là một trong những mối quan hệ mang tính chất thiêng liêng và cao cả nhất, con cái cần phải được sống trong môi trường chăm sóc và giáo dục lành mạnh, được hưởng sự yêu thương che chở của cha mẹ, như thế mới bảo đảm cho đứa trẻ được phát triển toàn diện và đầy đủ nhất

Nhiều văn bản pháp luật được ban hành quy định về việc bảo vệ quyền lợi đối với trẻ em, về vấn đề nuôi con nuôi, tuy nhiên nhìn nhận ở một khía cạnh nào đó với trình độ nhận thức và tâm lý chủ quan, e ngại của nhiều người đặt biệt là với đồng bào dân tộc thiểu số, thì những chủ trương, chính sách trên cũng phần nào chưa đi sâu vào đời sống và áp dụng được nhiều đối với họ Ở một số vùng miền đặc biệt là đối với đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số thì việc áp dụng các văn bản pháp luật

đó vào đời sống của họ chưa đạt hiệu quả cao bằng việc áp dụng phong tục tập quán,

do những phong tục tập quán về nuôi con nuôi này có sức ảnh hưởng rất lớn đã ăn sâu bám rể vào đời sống tinh thần của họ Do đó phong tục tập quán về nuôi con nuôi là một công cụ hữu hiệu, mang tính tương trợ cho pháp luật góp phần mang lại hiệu quả cao, bảo vệ tốt nhất cho những quyền lợi của trẻ em, đồng thời đáp ứng được nhu cầu về tinh thần, ước muốn quyền được làm cha, mẹ của người nhận nuôi đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, không nơi nương tựa, thể hiện tấm lòng thương người và nét đẹp văn hóa dân tộc được lưu giữ từ bao đời nay

Trang 6

Việc nghiên cứu phong tục tập quán về nuôi con nuôi phần nào giúp hiểu thêm về nét đẹp văn hóa riêng của từng vùng miền dân tộc đồng thời duy trì và phát huy những mặt tích cực trong phong tục tập quán về nuôi con nuôi Bên cạnh những mặt tốt của phong tục tập quán về nuôi con nuôi thì cũng còn tồn tại nhiều hạn chế,

do là phong tục tập quán nên chưa được quy định cụ thể rõ ràng và còn tồn tại nhiều bất cập so với các văn bản pháp luật như quyền và nghĩa vụ, điều kiện xác lập quan

hệ nuôi con nuôi giữa các bên…từ phong tục tập quán về nuôi con nuôi mà có những hành vi trái với quy định của pháp luật, nhiều khía cạnh của quan hệ nuôi con nuôi

mà phong tục tập quán chưa có những quy phạm điều chỉnh dẫn đến chưa giải quyết thỏa đáng được những vấn đề phức tạp nảy sinh trong thực tế Từ ý nghĩa về lý luận

và thực tiễn nêu trên việc nghiên cứu đề tài: “Phong tục, tập quán về nuôi con nuôi-cơ sở lý luận và thực tiễn” là một yêu cầu cấp thiết, khách quan góp phần hạn

chế và xóa bỏ những quy định lạc hậu, nhằm hoàn thiện vấn đề nuôi con nuôi theo phong tục phong tục tập quán với ý nghĩa là một biện pháp nhằm giúp cho trẻ em có được một mái ấm gia đình, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của trẻ em, khuyến khích tinh thần tương thân, tương ái của con người

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu, làm rõ những nét đặc trưng trong phong tục tập quán về nuôi con nuôi, làm rõ những mặt tích cực và những vấn đề còn hạn chế, chưa hoàn thiện của phong tục tập quán về nuôi con nuôi So sánh, đánh giá ưu khuyết điểm của phong tục tập quán nuôi con nuôi với các quy định của pháp luật về nuôi con nuôi hiện hành Trên cơ sở đó có những kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề

về nuôi con nuôi theo phong tục tập quán bảo đảm tốt hơn quyền được sống trong gia đình của trẻ em

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Về nguồn thông tin: tài liệu chủ yếu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau

như sách nghiên cứu, giáo trình các trường đại học, báo, tạp chí chuyên ngành và trên internet

- Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích làm rõ những nội dung của phong tục tập quán về nuôi con nuôi ở các dân tộc sinh sống trên khắp các vùng miền trên lãnh thổ Việt Nam Từ đó có cái nhìn tổng quan để so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành

4 Phương pháp nhiên cứu

Trong suốt quá trình nghiên cứu người viết sử dụng các phương pháp phân tích câu chữ, phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu sách, báo Ngoài ra người viết còn kết hợp các phương pháp liệt kê, so sánh, phân tích, tổng hợp…nhằm đi sâu tìm hiểu nội dung, để xem xét vấn đề được toàn diện và đạt hiệu quả cao

Trang 7

5 Bố cục đề tài

Đề tài nghiên cứu được xây dựng gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung phong tục tập quán về nuôi con nuôi

Nội dung chương 1: Nêu lên một số khái niệm, đặc điểm phong tục tập quán

về nuôi con nuôi, phân loại, nguyên nhân hình thành và ý nghĩa, sơ lược lịch sử phát triển của phong tục tập quán nuôi con nuôi

Chương 2: Phân tích các nội dung của phong tục tập quán về nuôi con nuôi

Nội dung chương 2: Tập trung phân tích các quy định về nuôi con nuôi theo phong tục tập quán như: điều kiện xác lập quan hệ nuôi con nuôi, thẩm quyền và trình tự thủ tục xác lập quan hệ nuôi con nuôi, hiệu lực của việc thiết lập quan hệ cha

mẹ nuôi-con nuôi cũng như chấm dứt việc nuôi con nuôi theo phong tục tập quán

Chương 3: Thực tiễn áp dụng phong tục tập quán về nuôi con nuôi những vấn

đề còn tồn tại và hướng hoàn thiện

Nội dung chương 3: Nêu lên những thực trạng của việc áp dụng phong tục tập quán về nuôi con nuôi, những mặt tích cực và tiêu cực của nó, từ đó kiến nghị và sửa đổi bổ sung nhằm hoàn thiện những quy định của phong tục tập quán về nuôi con nuôi

Trang 8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG PHONG TỤC, TẬP QUÁN VỀ

NUÔI CON NUÔI

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ NUÔI CON NUÔI 1.1.1 Khái niệm chung về phong tục, tập quán và phong tục tập quán nuôi con nuôi

1.1.1.1 Khái niệm chung về phong tục tập quán

Từ xưa đến nay phong tục tập quán đã ăn sâu bám rễ vào trong từng nếp sống, nếp ăn ở của nhân dân, có nhiều phong tục tập quán được xem như là nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc nói chung và ở vùng, miền địa phương nói riêng Phong tục, tập quán là một khái niệm phức tạp, hiện nay còn có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này, dưới đây là một số cách hiểu về phong tục tập quán:

Trước hết, tập quán được hiểu là “thói quen”1, hay “theo thói quen mà thành

ra vững chắc”2 hoặc “những thói quen (những ứng xử) được lặp lại theo thời gian ở

cá thể hay tập thể”3

Từ đó có thể hiểu một cách khái quát tập quán là phương thức

ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động sản xuất không chỉ ở một cá nhân mà phải được cả cộng đồng thừa nhận và

ai cũng tuân theo ở một địa phương nhất định, tập quán của cộng đồng chi phối mỗi thành viên sống trong đó

Tập quán bao hàm những thói quen liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội như thói quen về sinh hoạt, đời sống trong lao động và sản xuất, chẳng hạn như tập quán du canh du cư của một số dân tộc ít người ở miền núi, tập quán ăn trầu, cà răng…Tập quán có phạm vi điều chỉnh rộng, mang tính bền lâu, khó thay đổi, tập quán xuất hiện và định hình một cách tự phát, hoặc hình thành và

ổn định thông qua sự rèn luyện và là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt Tập quán thường có tính bắt buộc không cao, những hành vi vi phạm tập quán sẽ

có những chế tài nhất định đó là dư luận xã hội, tuy nhiên tính chất của chế tài này không nặng nề lắm, nếu ai không làm theo sẽ bị dư luận phê phán, dị nghị hoặc tẩy chay…

Còn phong tục được xem là "thói quen trên xã hội" theo Đào Duy Anh trong

Hán-Việt từ điển hay theo Đào Văn Tập trong Tự điển Việt Nam Phổ Thông, định

nghĩa phong tục là "thói tục chung của nhiều người từ lâu đời" Trong từ điển Hán Việt của tác giả Nguyễn Văn Khôn được hiểu là "thói quen chung của số đông người

từ lâu đời đúc thành khuôn khổ nhất định" Theo nghĩa Hán-Việt, "Phong" là nền

nếp đã lan truyền rộng rãi, "Tục" là thói quen được hình thành từ lâu đời Nội dung

1

Bửu Kế: Từ điển Hán – Việt từ nguyên, Nxb Thuận Hóa, Tp Hồ Chí Minh, 1999

2 Đào Duy Anh: Hán – Việt từ điển, Nxb Khoa học xã hội, 1999

3 Đào Văn Chúc: Xã hội học văn hóa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1997, tr 129

Trang 9

phong tục tập quán bao hàm mọi mặt sinh hoạt trong đời sống xã hội…Vì vậy trên

cơ sở nghiên cứu khái niệm phong tục dưới góc độ của ngôn ngữ học, và trong cách định nghĩa của một số tác giả có thể định nghĩa phong tục như sau:

Phong tục là toàn bộ những thói quen trong hoạt động sống của con người đã

được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng

Phong tục không mang tính cố định và bắt buộc như nghi lễ, nghi thức, tuy nhiên nó cũng không tuỳ tiện, nhất thời như hoạt động sống thường ngày Nhưng nó

đã trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững Phong tục có thể ở một dân tộc, một địa phương, một tầng lớp xã hội, thậm chí của một dòng họ và gia tộc, thể hiện qua nhiều chu kì khác nhau của đời sống con người Phong tục rất đa dạng có nhiều phong tục khác nhau trong đời sống như phong tục về ngày giỗ, lễ tết, cưới sinh Phong tục luôn mang trong mình những khuôn mẫu ứng xử, là chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ của cộng đồng trong xã hội Là một bộ phận của văn hoá, phong tục có vai trò quan trọng trong việc hình thành truyền thống của một dân tộc, một địa phương, nó ảnh hưởng rất lớn đến cách ứng xử của cá nhân trong cộng đồng

Tóm lại, phong tục, tập quán là những quy tắc ứng xử chung đã được hình thành và phát triển trong một phạm vi nhất định ở địa phương được mọi người chấp nhận và tuân thủ một cách tự giác

Từ xa xưa cho đến ngày nay, phong tục, tập quán rất đa dạng và phong phú nó gắn liền với cuộc sống con người và khi những phong tục, tập quán được chấp nhận trở thành quy ước chung của cộng đồng và áp dụng rộng rãi trong cuộc sống xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng những biện pháp nghiêm khắc mà cộng đồng nhất trí, được nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực công khi đó những phong tục, tập quán được phát triển dưới hình thức luật tục và chúng thường có tính hiệu lực cao Tất cả các luật tục đều đã từng là phong tục tập quán nhưng có những phong tục tập quán không phải là luật tục, bởi vì nó không được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước và không phát triển chi phối ra khỏi phạm vi mà chúng hình thành và tác động Như vậy, luật tục là hình thức phát triển cao nhất của phong tục tập quán, nó ra đời biến đổi và quy định những hành vi của từng cá nhân trong cộng đồng phù hợp hoàn cảnh xã hội và có phương pháp xử lý rất linh hoạt

1.1.1.2 Khái niệm phong tục tập quán nuôi con nuôi

Xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau trong xã hội, trong cuộc sống cộng đồng của người dân tộc thiểu số mà quan niệm về hôn nhân và gia đình luôn là một trong những vấn đề được chú trọng, được quan tâm nhiều nhất Trong quan hệ về hôn nhân

và gia đình có nhiều phong tục tập quán đã hình thành như trong việc kết hôn, ly hôn, quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con, quan hệ nuôi con nuôi…Đặc biệt trong quan hệ nuôi con nuôi tuy mức đa dạng về số lượng phong tục

Trang 10

tập quán không nhiều bằng việc kết hôn, ly hôn, nhưng những phong tục tập quán về nuôi con nuôi này mang một giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện tinh thần dân tộc là sự che chở yêu thương giữa con người với nhau nói chung và trong mối quan hệ tình cảm của cha, mẹ với con cái nói riêng Từ xa xưa do hoàn cảnh kinh tế, xã hội xuất phát từ nhiều nhu cầu khác nhau của con người và ích nhiều cũng chịu sự tác động từ những quan niệm xưa của các vị già làng, trưởng lão mà phong tục tập quán nuôi con nuôi cũng dần hình thành và việc nhận con nuôi cũng không kém phần quan trọng như các phong tục về hôn nhân và gia đình khác Tuy không bắt buộc, gò ép nhưng dần dần việc nhận nuôi con nuôi được nhân rộng ra nhiều nơi được nhiều người làm theo trở thành thói quen và nề nếp chung trong cộng đồng các dân tộc Nhiều phong tục tập quán tốt đẹp về nuôi con nuôi được phổ biến rộng rãi và nhiều phong tục đã trở thành luật tục riêng của một dân tộc, quy định về các mối quan hệ nuôi con nuôi, hướng dẫn và điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con cái trong gia đình

Phong tục tập quán về nuôi con nuôi hướng đến việc xác lập quan hệ cha, mẹ

và con lâu dài, bền vững giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi thông qua lời nói, sự giao kết hoặc các nghi lễ tập tục truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi, con nuôi tuy không được quy định

cụ thể nhưng vẫn được đảm bảo thực hiện bằng các quy ước chung của cộng đồng dân tộc, nếu ai vi phạm sẽ phải chịu những chế tài nhất định nhưng tính chất của chế tài này không nặng nề lắm, bởi lẽ nó được đảm bảo thực hiện bằng dư luận xã hội, bằng sức thuyết phục và bằng các biện pháp cưỡng chế phi nhà nước

Về mặt pháp lý việc nuôi con nuôi theo quy định pháp luật được định nghĩa là

“việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi”4

Theo đó nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi thông qua việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, vì mục đích bảo đảm thực hiện quyền trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình động viên, khơi dậy tinh thần nhân đạo, nhân văn của con người Việt Nam Việc nhận con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo thủ tục luật định sẽ làm phát sinh quan hệ cha

mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi Các quyền và nghĩa vụ phát sinh trong mối quan hệ này được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật Quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi về quyền và nghĩa vụ của các bên được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước từ tuyên truyền, phổ biến giáo dục, cho đến áp dụng các biện pháp chế tài của nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật Nhưng suy cho cùng dù là pháp luật hay phong tục tập quán thì cũng vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi, bảo đảm trẻ

Trang 11

em được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình thay thế Qua đó xuất phát từ khái niệm chung về phong tục tập quán và dưới góc độ khái niệm về nuôi con nuôi theo luật nuôi con nuôi năm 2010, mục đích, ý nghĩa của việc nuôi con nuôi, phong tục tập quán về nuôi con nuôi có thể được định nghĩa khái quát như sau:

Phong tục tập quán về nuôi con nuôi là những thói quen đã thành nếp, hình thành trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định mang đậm nếp sống, nếp văn hóa đặc trưng riêng của từng địa phương, dân tộc trong mối quan hệ nuôi con nuôi Phản ánh ý chí, nguyện vọng qua nhiều thế hệ của con người trong một cộng đồng tự quản (thôn, làng, bản, ấp), nhằm xác lập quan hệ cha mẹ nuôi, con nuôi các quyền và nghĩa vụ trong mối quan hệ này theo phong tục tập quán riêng của từng nơi, được các chủ thể sinh sống trong địa phương, dân tộc đó thừa nhận và tuân theo một cách

tự giác

1.1.2 Đặc điểm phong tục tập quán về nuôi con nuôi

1.1.2.1 Phong tục, tập quán về nuôi con nuôi có hình thức thể hiện chủ yếu là truyền miệng (bất thành văn)

Việc nhận trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa làm con nuôi là một việc làm thiện, nhân đạo, là một phong tục tốt đẹp, thể hiện đạo lý của dân tộc và được xã hội ủng hộ do đó từ lâu phong tục tập quán về nuôi con nuôi được hình thành và được cố định hướng dạng lời nói (văn vần) có vần, điệu, giàu hình ảnh, cụ thể sinh động được truyền miệng từ đời này sang đời khác, hoặc ở một số vùng miền những phong tục tập quán này chưa cố định thành lời văn vần mà vẫn chỉ là sự ghi nhớ và thực thi biểu hiện qua các hành động bắt chước thông qua giao tiếp của cộng đồng Tuy chỉ tồn tại dưới hình thức bất thành văn nhưng do ngôn ngữ giàu hình ảnh vừa giản dị,

dễ nhớ, dễ lưu truyền và gần gũi với cuộc sống làm cho người nghe dễ hình dung nên nó có một sức sống mãnh liệt, trở thành nét văn hóa riêng của vùng miền dân tộc, được mọi người tuân thủ một cách nghiêm túc Tuy nhiên phong tục tập quán về nuôi con nuôi do được lưu truyền bằng miệng nên thiếu tính chính xác dẫn tới việc

áp dụng một cách tuỳ tiện, không thống nhất so với các hình thức thành văn khác

1.1.2.2 Tính tự giác, tự nguyện thực hiện rất cao của phong tục, tập quán về nuôi con nuôi

Phong tục, tập quán về nuôi con nuôi vốn đã có từ rất lâu đời, nó gắn bó gần gũi với đời sống con người, được con người biết đến từ lúc bé một cách tự nhiên và mặt nhiên tuân thủ một cách tự giác nên đối với người dân đặc biệt là dân tộc ít người họ thường ít quan tâm đến luật pháp của nhà nước mà chỉ quan tâm tới những chuẩn mực đã được biết đến qua phong tục, tập quán Do vậy, phong tục, tập quán về nuôi con nuôi nói riêng và phong tục tập quán nói chung đã trở thành chuẩn mực để mọi người tự giác noi theo mà không mang tính cưỡng chế bắt buộc thực hiện như pháp luật của nhà nước Là cơ chế tâm lý bên trong thể hiện ước muốn và tâm tư nguyện

Trang 12

vọng của con người, phong tục tập quán về nuôi con nuôi điều khiển, điều chỉnh những hoạt động hành vi, lối sống của con người hướng con người đến những giá trị đạo đức tốt đẹp về tình cảm gia đình, về mối quan hệ giữa cha, mẹ nuôi - con nuôi, không nên làm những điều đi ngược, trái với lối sống đạo đức chung của cộng đồng

và trở thành thước đo các giá trị đạo đức trong đời sống của con người thông qua dư luận xã hội

1.1.2.3 Phong tục, tập quán về nuôi con nuôi còn mang nặng tính địa phương, tính tộc người, phạm vi điều chỉnh hẹp

Phong tục, tập quán về nuôi con nuôi thể hiện kinh nghiệm sống, sinh hoạt của một cộng đồng nhất định, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở địa phương, bản, làng Do vậy, phong tục, tập quán về nuôi con nuôi với những nét văn hóa đặc trưng riêng của từng vùng miền, phản ánh tâm tư, nguyện vọng riêng của người dân

ở địa phương, bản làng nào thì chỉ phù hợp với người dân sinh sống tại địa phương, bản làng đó mà nếu đem áp dụng phong tục tập quán này sang một địa phương, một bản, làng khác thì không hẳn đã phù hợp và được mọi người chấp nhận Phong tục tập quán về nuôi con nuôi có phạm vi điều chỉnh hẹp nó chỉ tác động, điều chỉnh trong một cộng dân cư ở một địa phương nhất định (thôn, làng, bản, ấp ) Phong tục, tập quán về nuôi con nuôi thể hiện ý chí và sự đồng thuận của một cộng đồng dân cư, là tình cảm, ý nguyện của cả một cộng đồng, là sự tích lũy, chắt lọc các kinh nghiệm trong đời sống và sinh hoạt xã hội, nó không do một cá nhân nào quy định cả

mà do một nhóm người, một cộng đồng dân cư ở địa phương đó đặt ra

1.1.2.4 Phong tục tập quán về nuôi con nuôi mang tính ổn định, bền vững và

có tính bảo thủ rất lớn

Do được hình thành rất sớm và phát triển lâu dài cùng với quá trình phát triển của lịch sử, phong tục tập quán về nuôi con nuôi được lưu truyền qua nhiều thế hệ, trải qua chặng đường dài của thời gian nhiều phong tục tập quán bị lỗi thời, không còn phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại sẽ bị cộng đồng đào thải loại bỏ dần, tuy vậy có những phong tục tập quán về nuôi con nuôi vẫn tồn tại bền vững và giữ được giá trị đạo đức tốt đẹp phát triển cho đến ngày nay như tục nhân con nuôi của người Dao, người Mông ở Sa Pa Nếu muốn thay đổi hay loại bỏ một phong tục tập quán nuôi con nuôi nào đó là cả một chặng đường dài đấu tranh, biến đổi cùng với quá trình lịch sử không thể một sớm một chiều mà có thể dễ dàng thay đổi được bởi lẽ những phong tục tập quán này đã ăn sâu bám rễ vào tư tưởng của mỗi con người hình thành những thói quen chung mà một sớm, một chiều không thể thay đổi được

1.2 PHÂN LOẠI CÁC HÌNH THỨC NUÔI CON NUÔI THEO PHONG TỤC TẬP QUÁN

Trang 13

Thực tế trong đời sống xã hội quan hệ nuôi con nuôi theo phong tục tập quán tồn tại dưới dạng một số hình thức sau đây:

Con nuôi chính thức

Con nuôi chính thức gồm có hai loại:

- Con lập tự: là hình thức đặt người nói dõi khi trong gia đình không có con trai thì cháu trai sẽ trở thành người lập tự tức là nhận con nuôi trong cùng một dòng

họ như nuôi con của anh em ruột hoặc con anh em chú bác ruột để khi tuổi già còn

có người chăm sóc, lúc qua đời còn có người thờ cúng Con lập tự có thể nhận nuôi

từ bé, hoặc lớn rồi mới nuôi, thậm chí có người đã thành gia lập thất, có con rồi mới nhận làm con nuôi, tùy theo nét đặc trưng riêng của từng dân tộc và phong tục ở mỗi vùng miền có sự khác nhau Người con nuôi lập tự chịu trách nhiệm săn sóc, nuôi dưỡng cha mẹ nuôi lúc tuổi già và hương khói tang tế sau khi mất và được hưởng quyền thừa kế như con đẻ Con nuôi lập tự được hưởng ruộng hương hoả, được họ hàng chấp nhận là cùng huyết thống thân thuộc, khi cha mẹ nuôi chết, người lập tự cũng để tang như cha mẹ đẻ Trường hợp cha mẹ ruột chết trước, phải xin phép cha

mẹ nuôi mới được về chịu tang, nhưng không được phép mặc áo khâu gấu, khăn ngang không được để hai giải bằng nhau tùy theo phong tục ở mỗi nơi

- Con nuôi hạ phóng tử gồm có:

+ Con hoang thai: là những người phụ nữ có thai hoang, đứa trẻ trong bụng không biết cha mình là ai được nhận nuôi từ lúc mới sinh Có những nhà hiếm con nhận nuôi đứa trẻ từ lúc còn trong bụng mẹ từ trước, đợi sau khi người mẹ sinh nở xong thì đón đứa trẻ về, sản phụ được bồi dưỡng một ít tiền và sau đó không được quyền nhận hay thăm con Đứa trẻ sau này lớn lên cứ nghĩ cha, mẹ nuôi là cha mẹ ruột của mình

+ Nuôi con nuôi để lấy phúc: Thực tế đời sống không ít trường hợp nhận con mồ côi hay con nhà nghèo khó đem về nuôi coi như con của mình để làm phúc, để có thể giảm bớt tai vạ, những điều không may mắn cho gia đình hoặc để vợ chồng có thể sinh được con của mình, giữa người nhận nuôi và đứa trẻ được nhận nuôi có thể có quan hệ quen biết hoặc không quen biết Nếu nuôi thực sự từ lúc còn nhỏ cũng được hưởng mọi quyền lợi như con đẻ trong gia đình, cha mẹ nuôi cũng có trách nhiệm dựng vợ gả chồng, cũng được cha mẹ nuôi chia cho một phần gia tài khi ra ở riêng Trường hợp cha mẹ nuôi không có con trai cũng có thể lập người con này làm thừa

tự, song không được can dự vào phần hương hoả, tự điền cũng như việc họ hàng, bởi

lẽ khác dòng máu, không được họ hàng chấp nhận Tang chế đối với cha mẹ nuôi cũng giống như cha mẹ đẻ, đối với anh em nuôi cũng một năm như anh em ruột, nhưng đối với họ hàng bên bố mẹ nuôi thì không tang Trừ một trường hợp con nuôi

đã mang họ của bố nuôi, không biết bố đẻ là ai và đã được họ hàng chấp nhận thì mọi lễ nghi hiếu hỷ, tang chế đều như người trong họ, song vẫn không được hưởng hương hoả, tự điền

Trang 14

Theo phong tục một số địa phương "vô nam dụng nữ" thì người con rể cũng

có quyền lợi và nghĩa vụ như con nuôi hạ phóng tử nói trên, nhưng chỉ để tang bố mẹ

vợ một năm, anh em ruột của vợ chín tháng, ngoài ra không để tang cho ai bên nhà

vợ Lập tự chỉ lập tự cho cháu ngoại, không lập tự cho con rể

Con nuôi giả vờ:

Vì con khó nuôi, hay bị ốm yếu, bệnh tật sợ ma quấy nhiễu người mẹ đem con

bỏ đường bỏ chợ, nhưng dặn trước người trực sẵn đưa về nuôi, sau vài giờ hoặc vài ngày đến chuộc nhận làm con nuôi Đây là cách đánh tráo con đẻ thành con nuôi, con nuôi là con đẻ để lừa ma Ở một số đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi, trong gia đình có đứa trẻ hay bị ốm yếu, bố mẹ đứa trẻ sẽ đến nhờ các thầy cúng cao tay trong làng tìm giúp bố mẹ nuôi cho đứa trẻ, hoặc thầy cúng sẽ chủ động tìm một người khác trong làng làm bố mẹ nuôi cho đứa trẻ mà không báo cho gia đình biết trước Người được thầy cúng nhờ sẽ đợi thời cơ khi bố mẹ đứa trẻ vắng nhà sang

bế đứa trẻ về nhà nuôi hai, ba ngày Đến khi bố mẹ đứa trẻ về thấy mất con, cả gia đình nhốn nháo đi tìm, khóc than thể hiện sự mất mát, nhớ thương của cha mẹ với con cái Theo phong tục mặc dù là khóc giã, nhưng bố mẹ phải khóc càng to càng tốt với ý nghĩa tiếng khóc đau thương của bố mẹ báo hiệu cho các loại ma biết là đứa trẻ

đã bị người khác bắt đi và khi nghe thấy tiếng khóc thất thanh của bố mẹ, các con ma

dữ sẽ bỏ đi không về làm hại đứa trẻ nữa Ba ngày sau, bố mẹ nuôi sẽ thông báo cho

bố mẹ đẻ biết để mang lễ vật đến xin con về Nhiều gia đình lại chọn bố mẹ nuôi cho trẻ theo một cách ngẫu nhiên, người cha, hoặc mẹ bế đứa trẻ ngồi ở một ngã ba đường, nơi có nhiều người qua lại Khi gặp được người đi qua đầu tiên thì người đó

sẽ được nhận làm cha mẹ nuôi cho đứa trẻ, lúc này bố mẹ đứa trẻ sẽ lấy một sợi dây bất kỳ để làm lý buộc vào bắp chân hoặc xé một miếng vải làm vòng đeo vào cổ cho đứa trẻ Bố mẹ nuôi đặt cho đứa trẻ một cái tên mới và họ chính thức trở thành cha

mẹ nuôi của đứa trẻ Trong các trường hợp trên đứa trẻ được nhận làm con nuôi không sống chung với ba mẹ nuôi, do đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng và hưởng quyền thừa kế tài sản như ở cha mẹ ruột

Con nuôi danh nghĩa:

Đây là những trường hợp thường xảy ra trong cuộc sống nuôi con nuôi trên danh nghĩa là việc các bên nhận nhau là cha mẹ nuôi và con nuôi xuất phát từ tình cảm, nhưng không gắn với quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con, không nhằm mục đích hình thành quan hệ cha mẹ và con trong thực tế Các bên có thể đối xử với nhau, gọi nhau là cha, mẹ và con, nhưng không ràng buộc thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau trên thực tế Hai bên thường không sống chung với nhau Việc nuôi con nuôi này chỉ tuỳ thuộc vào tình cảm, sự tự nguyện của các bên, phù hợp với cách ứng xử, chuẩn mực đạo đức chung của xã hội Việc nuôi con nuôi này thường được thực hiện dưới hình thức thoả thuận bằng lời giữa các bên Quan hệ cha mẹ và con trong hình thức này thường chỉ tồn tại trên danh nghĩa, có ý nghĩa đối với hai

Trang 15

bên chủ thể, mà không có ý nghĩa nhiều lắm đối với những người khác trong gia đình của hai bên, những người xung quanh và xã hội Tuy nhiên, trong xã hội Việt Nam, hình thức nhận con nuôi hoặc nhận cha mẹ nuôi trên danh nghĩa thường hay xảy ra, vì người Việt Nam vốn có lối sống trọng tình, trọng nghĩa, có thể là do cảm

ân đức, nghĩa tình nhận làm con nuôi hoặc do anh em kết nghĩa với nhau thân tình, nhận bố mẹ của anh em cũng như bố mẹ của mình và ngược lại bố mẹ cũng nhận người anh em kết nghĩa với con mình như con cái trong nhà Ví dụ: việc nhận những người già cả, không có khả năng lao động là cha nuôi, mẹ nuôi để chăm sóc, nuôi dưỡng; việc bạn bè của những đồng đội đã hy sinh trong chiến tranh nhận những người mẹ liệt sĩ làm mẹ nuôi; hoặc cho con làm con nuôi của những người có tài, có đức, giỏi giang, trên danh nghĩa để con cái có thể học được những phẩm chất tốt đẹp của họ…Hình thức nuôi con nuôi trên danh nghĩa thể hiện nét đẹp trong đời sống tinh thần của người Việt Nam Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế thị trường, việc nuôi con nuôi trên danh nghĩa còn thể hiện sự chăm sóc, quan tâm của cộng đồng đối với những người nghèo khổ, già cả, trẻ mồ côi không nơi nương tựa Điều đó ít nhiều tạo điều kiện giúp đỡ họ bớt khó khăn, tạo niềm tin cho họ trong cuộc sống Việc nhận nuôi con nuôi này chủ yếu hướng tới những giá trị đạo đức, tinh thần, nhưng không

có giá trị pháp lý

1.3 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH VÀ Ý NGHĨA CỦA PHONG TỤC TẬP QUÁN NUÔI CON NUÔI

1.3.1 Nguyên nhân hình thành phong tục tập quán nuôi con nuôi

Phong tục tập quán về nuôi con nuôi đã hình thành từ rất lâu trải qua rất nhiều thế hệ, kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp từ các thế hệ tổ tiên đi trước, không riêng gì người Kinh mà các đồng bào dân tộc thiểu số khác như Ê Đê, Mông, Dao, Gia Rai…xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau vẫn xem đây là một nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc họ và lưu giữ cho đến ngày nay

Dưới thời phong kiến xưa và mãi cho đến ngày nay, trong nhiều gia đình của người Kinh còn mang nặng quan niệm truyền thống “trọng nam khinh nữ”, người ta quan trọng nhất là việc kế tự, nếu không có người kế tự cho mình được xem là bất hiếu với tổ phụ cho nên nếu gia đình không có con hoặc không sanh được con trai để nói dỗi tông đường, thì họ sẽ nhận một đứa con trai làm con nuôi chủ ý để mai sau

có người giữ hương hỏa cho nhà mình Ngoài ra có một số trường hợp do cha mẹ kết nghĩa huynh đệ, do ân nghĩa, quý mến nhau mà nhận con của nhau làm con nuôi Không phải chỉ những gia đình “hiếm muộn” mà ngay cả những gia đình đã con đàn cháu đống vẫn muốn nhận thêm con cái vì họ cho rằng đó chính là cái phúc, cái lộc trời ban, càng đông con, gia đình càng yên ấm, hạnh phúc

Trong số 54 dân tộc anh em, không riêng gì người Kinh mà một trong những dân tộc thiểu số mang đậm dấu ấn của phong tục tập quán về nhận con nuôi trước tiên phải kể đến đó là dân tộc Dao, M’Nông, La Chí Từ bao đời nay, trong mỗi nếp

Trang 16

nhà của những dân tộc này, tục nhận con nuôi dường như đã ăn sâu vào tiềm thức hầu như gia đình nào cũng có con nuôi hoặc có người đi làm con nuôi, với họ con nuôi cũng mang ý nghĩa và tình mẩu tử thiên liêng như chính con ruột của mình Nguyên nhân chủ yếu của việc nhận con nuôi là do họ hiếm con, với tập tục lạc hậu,

đó là quần hôn và nay là hôn nhân cận huyết, nên nhiều gia đình đặc biệt là dân tộc Dao khó có thể sinh con đàn cháu đống như người Mông hay người Thái, như trường hợp của nhà ông Triệu Quý Lục, bà Đặng Thị Pham không có con nên đi nhận con

về nuôi Theo lời bà Pham kể khi 15 tuổi thì đi lấy chồng nhưng không có con nên phải đi nhận con về nuôi, nhận nuôi tám đứa nhưng giờ chỉ còn bốn đứa, vì lúc trước chưa có điều kiện, chưa có sữa nên bốn đứa bị chết từ khi còn nhỏ5

Hầu hết các gia đình trong nhà thường không có nhiều tiền nhưng sợ không có người làm nương, làm rẫy, mai này chết không có ai khiêng đi chôn nên phải nhận nhiều con nuôi Ngoài

ra, đối với dân tộc Dao không sinh được con trai nên chủ yếu họ nhận con trai về nuôi để lấy người nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên và thờ “tranh ma”6 Bởi theo quan niệm của họ, khi đã cúng ma nhà là đứa trẻ trở thành con đẻ của mình, vì thế có nhiều gia đình không sinh được con trai mà vẫn có người nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên Không phải chỉ những nhà hiếm con hoặc sinh toàn con gái mới nhận con nuôi, nhiều nhà nhận con nuôi theo phong tục để có cuộc sống vui vẻ, đầm ấm như gia đình bà Đặng Thị Còi trước kia là chủ tịch hội phụ nữ xã đã có sáu con gái, hai con trai mà vẫn muốn nhận thêm một người con nuôi cho vui cửa vui nhà và cũng một phần theo quan niệm của người xưa thì đã sinh ra trời phải sinh ra đất, đẻ con cũng phải có nếp có tẻ, thì trong nhà mới hoà hợp âm dương

Đối với một số dân tộc thiểu số khác như dân tộc Mông, La Chí… sinh sống tập trung chủ yếu ở miền núi thì có tục nhận cha mẹ nuôi cho trẻ diễn ra rất phổ biến nhưng mỗi dân tộc lại có quan niệm, cách thức và những nghi lễ nhận con nuôi một cách khác nhau Xuất phát từ nhiều lí do khác nhau nhưng chủ yếu rơi vào những đứa trẻ hay bị ốm đau, còi cọc, kém ăn, khó nuôi thì bố mẹ cũng đi tìm bố mẹ nuôi

để cầu mong cho đứa trẻ sau này mới mau lớn, khỏe mạnh, không bị ốm đau Đôi khi việc nhận bố mẹ nuôi, con nuôi xuất phát từ sự tình cờ, quý mến nhau mà thành Tùy vào từng trường hợp mà mỗi dân tộc có cách tìm cha mẹ nuôi cho đứa trẻ bằng nhiều cách khác nhau

Thông thường, khi đứa trẻ hay bị ốm yếu, bố mẹ đứa trẻ sẽ đến nhờ các thầy cúng cao tay trong làng xem giúp đứa trẻ ốm đau do nguyên nhân gì Nếu thầy cúng thấy đứa trẻ cần phải tìm một người làm bố mẹ nuôi thì gia đình phải nhờ thầy cúng xem giúp tuổi đứa trẻ hợp với tuổi của người nào đó trong làng để đến nhận làm bố

5 Trần Tân: Tại sao người Dao đua nhau mua con nuôi, Báo điện tử Báo mới, 2010,

http://www.baomoi.com/Tai-sao-nguoi-Dao-dua-nhau-mua-con-nuoi/139/4172699.epi, [ngày truy cập 2013]

11-1-6 Tranh ma thường có 18 tờ là một bức tranh được thầy cúng vẻ lại hình ảnh của các bậc tổ tiên, ông bà để con cháu thờ cúng

Trang 17

mẹ nuôi cho đứa trẻ Tùy vào những nét đặc trưng riêng mà mỗi dân tộc có các nghi

lễ nhận con nuôi diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều có chung ý nghĩa là cầu mong cho đứa trẻ luôn sống tốt, phòng - chống được mọi tà ma, bệnh tật giúp cho đứa trẻ luôn được bảo vệ khỏe mạnh Đây là nghi lễ mang đậm nét văn hoá truyền thống, góp phần làm phong phú, đa dạng văn hoá của đồng bào dân tộc ở miền núi

1.3.2 Ý nghĩa của phong tục tập quán về nuôi con nuôi

Phong tục, tập quán là một bộ phận cấu thành căn bản của truyền thống văn hoá và các giá trị đạo đức trong gia đình Việt nam, việc duy trì và áp dụng phong tục, tập quán nuôi con nuôi là một là một trong các biện pháp cần thiết để bảo vệ bản sắc văn hoá trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Không những thế phong tục tập quán nuôi con nuôi còn thể hiện tinh thần nhân đạo đảm bảo cho trẻ em nhận được sự đùm bọc che chở và giáo dục từ cha mẹ, được phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần Đối với trẻ em miền núi phải chịu cảnh mồ côi cha, mẹ từ nhỏ sẽ gặp nhiều thiệt thòi hơn rất nhiều lần so với những đứa trẻ khác Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau (một số nơi nguyên nhân chủ yếu vẫn là các hủ tục lạc hậu như tục “nối dây” còn tốn tại ở một vài dân tộc thiểu số) mà hơn nghìn đứa trẻ phải sống cảnh mồ côi, đối với những đứa trẻ này thì mái ấm gia đình và tình yêu thương được xem là thứ quý giá và quan trọng nhất, do

đó tục nhận con nuôi của đồng bào dân tộc thiểu số đã phần nào bù đắp được những thiệt thòi và tạo dựng nên một mái ấm gia đình cho những đứa trẻ đó

Việc nuôi con nuôi cũng mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho người nhận nuôi, đặc biệt là những cặp vợ chồng hiếm con nhằm đáp ứng niềm mong muốn được thực hiện quyền làm cha, làm mẹ của họ và đảm bảo cho người nhận nuôi được hưởng sự chăm sóc, thương yêu của con cái khi về già, là chỗ dựa tinh thần đầy ý nghĩa cho người nuôi và người được nhận nuôi

Hầu hết ở các vùng miền đặt biệt là với người dân tộc thiểu số thường có các nghi lễ, tập tục nhận cha, mẹ nuôi Các nghi lễ tập tục này thường mang một ý nghĩa rất lớn đến cuộc sống của đứa trẻ sau này đặc biệt là đối với những đứa trẻ khó nuôi, còi cọc hay ốm đau, bệnh tật…họ thường nhờ thầy cúng giỏi trong làng tiến hành các nghi lễ nhận cha, mẹ nuôi cho đứa trẻ Với mong muốn xua đuổi tà ma khỏi đứa trẻ, giúp chúng được khỏi bệnh, khỏe mạnh, gặp nhiều mai mắn trong cuộc sống

Từ bao đời nay cái đức tính về lòng yêu thương con người, sự đùm bọc giúp

đỡ lẫn nhau đã ăn sâu bám rễ vào trong đời sống mỗi con người đặt biệt là với người đồng bào dân tộc thiểu số Không riêng gì người Kinh mà trong hầu khắp dưới mái nhà của người đồng bào dân tộc sinh sống ở miền núi gia đình nào cũng có con nuôi,

đủ cả trai lẫn gái với ý nguyện cầu mong cho gia đình đông vui con cái đủ cả nếp lẫn

tẻ, cuộc sống gia đình hạnh phúc, đầm ấm Tuy điều kiện sống khó khăn nhưng họ vẫn dành tình cảm quan tâm, chăm sóc những đứa con nuôi như chính con ruột của

Trang 18

mình Đây là một thứ tình cảm thiêng liêng và đáng trân trọng, nó không chỉ thể hiện tấm lòng nhân ái, săn sàng đùm bọc cưu mang, giúp đỡ những đứa trẻ bất hạnh không nơi nương tựa mà nó còn là một tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái sẵn sàng nhường cơm, sẽ áo giúp cho trẻ em miền núi cơ nhỡ có được mái ấm gia đình, đầm ấm hạnh phúc bù đắp được phần nào khoảng trống về tinh thần

Theo tập tục ở nhiều nơi, con gái hoặc con trai không được thờ cúng tổ tiên

do vậy trong gia đình cần phải có con trai hoặc con gái để nói dõi, thừa kế tài sản và thờ cúng ông bà tổ tiên khi cha, mẹ qua đời Do đó gia đình nào mà không có con được xem là có lỗi rất lớn với tổ tiên, họ nhất quyết phải kiếm cho bằng được người nói dõi Có thể thấy việc xin được một đứa con nuôi và đặc biệt là con trai hay con gái đều có ý nghĩa rất lớn và quan trọng giúp cho gia đình có được người nói dõi duy trì việc thờ cúng, duy trì truyền thống của gia đình và dòng họ

Đối với xã hội, phong tục tập quán nuôi con nuôi góp phần làm giảm thiểu gánh nặng cho xã hội, khi pháp luật chưa có nhiều những chính sách hỗ trợ quy định

cụ thể rõ ràng đặt biệt là với các đối tượng là trẻ em người đồng bào dân tộc thiểu số

mồ côi, có hoàn cảnh gia đình khó khăn…Thì những phong tục tập quán này là một trong những biện pháp hữu hiệu hạn chế được tình trạng trẻ em lang thang không nơi nương tựa, góp phần giảm thiểu hoặc ngăn ngừa trẻ em phạm tội, ít bị kẻ xấu dụ dỗ, lợi dụng hoặc các hành vi lạm dụng trẻ em vào mục đích vô nhân đạo

1.4 LƢỢC SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TỤC TẬP QUÁN NUÔI CON NUÔI

Khi nhà nước chưa hình thành pháp luật cũng chưa ra đời con người thường

áp dụng các thói quen, những quy tắc ứng xử chung được đề ra để điều chỉnh các vấn

đề trong xã hội, dần dần những thói quen, quy tắc ứng xử ấy trở thành phong tục tập quán được đưa vào đời sống để quy định cách ứng xử và giải quyết các vấn đề tranh chấp trong xã hội, phong tục tập nuôi con nuôi được xem là đã ra đời sớm hơn so với các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng và vấn đề nuôi con nuôi nói chung Pháp luật về hôn nhân gia đình ra đời để điều chỉnh các quy phạm xã hội phát sinh trong các mối quan hệ gia đình như kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi…Do

đó từ trong mối quan hệ gia đình xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau mà vấn

đề nhận con nuôi cũng dần hình thành để đáp ứng được những nhu cầu thiết thực đó, tùy theo nét đặc trưng riêng của từng vùng miền, từng dân tộc mà mỗi nơi lại có các phong tục tập quán về nuôi con nuôi khác nhau

Phong tục về nuôi con nuôi được xem là một trong những phong tục tập quán tốt đẹp do đó xuất phát từ thực tiễn phong tục tập quán nuôi con nuôi mà dần dần các quy định của pháp luật về vấn đề nuôi con nuôi ra đời nhằm khuyến khích tiếp tục phát huy những truyền thống tốt đẹp đó và để điều chỉnh các vấn đề nảy sinh ngày càng phức tạp trong việc nuôi con nuôi Thực tiễn đã chứng minh, ngay trong thời kỳ phong kiến, ở Việt Nam có bốn bộ luật lớn, nhưng vấn đề nuôi con nuôi được ghi

Trang 19

nhận khá cụ thể trong hai bộ luật là Quốc triều Hình luật triều Lê và Hoàng triều luật

lệ của nhà Nguyễn Không thể phủ nhận rằng hai bộ luật lớn ấy đều tồn tại, phát huy hiệu lực trên một nền tảng pháp lý cơ bản của cộng đồng người Việt Nam truyền thống là phong tục, tập quán Trong đó pháp luật triều Lê có quy định việc nhận trẻ

em mồ côi, không nơi nương tựa làm con nuôi là một việc làm thiện, nhân đạo, là một phong tục tốt đẹp, thể hiện đạo lý của dân tộc và được xã hội ủng hộ Trách nhiệm cứu người, cưu mang những người nghèo khổ, tàn tật nặng, mồ côi mà không

có người thân thích để nương tựa cũng đã được phản ánh trong điều 294, điều 295 bộ

Quốc triều hình luật, ngoài ra còn có rất nhiều quy định điều chỉnh về vấn đề nuôi con nuôi được quy định trong các bộ luật dưới triều đại nhà Lê, nhà Nguyễn

Phong tục tập quán nói chung và phong tục tập quán nuôi con nuôi nói riêng

đã hình thành từ rất lâu, ra đời gần như gắn liền và phát triển với sự ra đời của con người, ở một số địa phương nhất là ở các dân tộc thiểu số người dân còn xem trọng phong tục tập quán và tuân theo một cách tự giác còn hơn cả pháp luật chúng được

áp dụng khá rộng rãi nhiều phong tục tập quán đã trở thành luật tục, hương ước riêng của một địa phương, làng, xã…Trong đó phong tục về nuôi con nuôi là một trong số những phong tục tập quán tốt đẹp còn lưu giữ cho đến ngày nay, ở một số địa phương vẫn còn lưu giữ và lưu truyền được những nghi lễ hình thức của phong tục tập quán này, đặc biệt phong tục tập quán này cho đến ngày nay còn phát triển khá phổ biến ở các dân tộc ít người như Thái, Dao, Thổ, Mông…Và nó còn được quy định trong cả luật tục của các dân tộc như Ê Đê, Chăm, những phong tục về nuôi con nuôi được người dân ở những địa phương đó coi như “luật dân gian” hay “luật tự nhiên” và mặt nhiên áp dụng một cách tự giác

Trong nền văn hóa truyền thống của Việt Nam do quy luật giao lưu văn hóa

và hoàn cảnh lịch sự, phong tục tập quán nuôi con nuôi ở một số vùng miền, địa phương được phổ biến rộng rãi và ở một số địa phương có đôi nét giống nhau, nhưng nói chung phong tục nuôi con nuôi của người Việt Nam tuy ở nhiều nơi khác nhau nhưng vẫn mang đậm đà bản sắc riêng của mỗi dân tộc, thể hiện rõ nét đời sống văn hoá tốt đẹp xưa và nay của cộng đồng các dân tộc sống trên khắp các vùng miền đất nước từ Bắc chí Nam

Phong tục tập quán nuôi con nuôi được hình thành vì nhiều lý do khác nhau, xuất phát từ những quan niệm của người xưa và nó gắn liền với đời sống hằng ngày của con người Có những phong tục tập quán nuôi con nuôi bắt đầu hình thành ngay

ở một địa phương là nét đặc trưng riêng của địa phương đó, nhưng cũng có nhiều phong tục tập quán nuôi con nuôi di chuyển từ nơi khác tới do quá trình hội nhập và giao lưu văn hóa từ nhiều địa phương vùng miền khác nhau Dù bắt đầu ở một địa phương hay di chuyển từ nơi này sang nơi khác, thì những thói quen cũng như những tục lệ nhận con nuôi hoặc cha mẹ nuôi không phải ngày một, ngày hai mà thành Muốn được mọi người tuân theo những thói quen và tục lệ đó cần phải trải qua một

Trang 20

thời gian lâu dài để con người tập quen dần thì những thói quen và tục lệ đó mới đi vào nền nếp, được mọi người xem như khuôn thước ứng xử trong xã hội và một phần không thể thiếu trong đời sống gia đình và dần dần trở thành những phong tục tập quán được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Phong tục tập quán Việt Nam nói chung và phong tục tập quán nuôi con nuôi nói riêng đã có truyền thống lâu đời từ hàng ngàn năm nay, trải qua biết bao thời kỳ lịch sử từ khi khai thiên lập địa đến thời kỳ xây dựng đất nước và giữ nước, phong tục tập quán nuôi con nuôi đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử dân tộc do đó những nghi lễ, hình thức của phong tục tập quán này cũng không ngừng biến đổi theo trào lưu biến đổi văn hóa xã hội

Phong tục tập quán nuôi con nuôi có thể nói nó được hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Những tục lệ nhận con nuôi từ thời

xa xưa trải qua các triều đại lịch sử cho tới ngày nay ích nhiều cũng đã dần mất đi hoặc đã được phát triển thêm không còn giữ giá trị nguyên văn như lúc trước, có những nghi lễ hình thức nhận con nuôi tốt đẹp nó được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhưng theo thời gian các nghi lễ hình thức này cũng đã dần biến đổi để phù hợp với thời đại, với trào lưu biến đổi trong cuộc sống của con người

Theo thời gian và sự phát triển của xã hội, phong tục tập quán nuôi con nuôi

đã được sàng lọc, phong tục tập quán này luôn luôn biến đổi dần dần để những điều

gì, trước đây thích hợp với tổ tiên ta, nhưng sau này trở nên lỗi thời, bị đào thải từ từ,

và chỉ còn lại những điều gì không phản lại sự tiến hoá của dân tộc Đấy chỉ là một lẽ

tự nhiên bất cứ phong tục nào cũng vậy, phải chịu sự "gạn đục khơi trong" để bỏ bớt

đi những cái lạc hậu, lỗi thời mà gìn giữ lấy cái tốt đẹp , để truyền thống được bảo tồn và phát huy phù hợp với nhận thức và sự tiến bộ của nhân loại

Cùng với xu hướng phát triển của thời đại, của đất nước thì phong tục tập quán nuôi con nuôi cũng không ngừng biến đổi theo trào lưu biến đổi văn hoá xã hội, nhưng quá trình biến đổi này diễn ra khá chậm chạp, dai dẳng hơn và có quy luật riêng của nó, không dễ gì một sớm một chiều đã được mọi người, mọi nhà, mọi tầng lớp chấp nhận và tuân theo Bởi lẽ phong tục tập quán này là một trong những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc thể hiện lòng thương người tinh thần tương thân tương ái, mang lại mái ấm gia đình cho nhiều trẻ em và là niềm mong ước của những người muốn được làm cha, làm mẹ, do đó nó sẽ được nhiều người bắt chước nhau làm, tiếp tục phát huy và gìn giữ những truyền thống của dân tộc Không giống như một số phong tục tập quán đã lạc hậu lỗi thời dần dần sẽ bị xã hội đào thải, phong tục tập quán nuôi con nuôi đã khẳng định được tính đúng đắn, cái hay, cái đẹp của nó qua việc những phong tục tập quán đó còn hiện hữu trong cuộc sống ngày nay của người Việt Nam đã và đang tiếp tục phát triển

Trang 21

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CÁC NỘI DUNG TRONG PHONG TỤC, TẬP QUÁN

VỀ NUÔI CON NUÔI

Ở mỗi vùng miền, dân tộc lại có những nét đặc trưng riêng về phong tục tập quán nuôi con nuôi, có thể thấy trong phong tục tập quán nuôi con nuôi rất đa dạng

và phong phú, ở mỗi nơi đều có nét đặc sắc trong việc thể hiện các tập tục, nghi lễ về việc giao nhận con nuôi hay những quy ước chung về điều kiện nuôi con nuôi…không nơi nào giống nơi nào Phong tục tập quán nuôi con nuôi là một phong tục tập quán tốt đẹp cần được phát huy, nhưng bên trong nó lại còn tồn tại nhiều bất cập, nhiều nội dung lạc hậu vẫn được cộng đồng lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác do nó đã ăn sâu bám rễ vào đời sống của con người Bên cạnh đó, xuất phát từ những quy định của pháp luật nuôi con nuôi hiện hành, người viết nhận thấy trong phong tục tập quán còn tồn tại nhiều điểm lạc hậu trái với quy định của pháp luật nhưng cũng không thể phủ nhận phong tục tập quán cũng đã tiếp thu được một phần những quy định của pháp luật và một số nội dung tiến bộ Do đó để đi sâu được vào vấn đề và làm rõ các vấn đề liên quan đến phong tục tập quán nuôi con nuôi, người viết chia bố cục đề tài trong chương này có một số nội dung tương ứng với các quy định của pháp luật để dễ dàng có cái nhìn tổng quát hơn, từ đó so sánh với các quy định của pháp luật hiện hành để xem xét, nhìn nhận những mặt tích cực cũng như tiêu cực của phong tục tập quán về nuôi con nuôi được khách quan và hoàn thiện hơn

2.1 ĐIỀU KIỆN XÁC LẬP QUAN HỆ CHA MẸ NUÔI-CON NUÔI THEO PHONG TỤC TẬP QUÁN

Điều kiện xác lập quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi theo theo phong tục tập quán

là cơ sở để hình thành nên mối quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi, theo phong tục, tập quán ở mỗi vùng miền, địa phương mỗi dân tộc lại có những quy ước riêng về điều kiện nhận con nuôi Tuy không được quy định thống nhất và cụ thể rõ ràng như những quy định của pháp luật trong đó giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi chỉ phát sinh quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi khi nào thỏa hết các điều kiện về xác lập quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi (trừ một số trường hợp ngoại lệ), nhưng ngược lại với pháp luật điều kiện xác lập quan hệ cha mẹ nuôi-con nuôi theo phong tục tập quán nó lại mang nét đặc trưng riêng, không nằm trong một khuôn khổ, quy định cụ thể thống nhất nào cả, mỗi một vùng miền, địa phương dân tộc lại có những nét riêng

về điều kiện để xác lập mối quan hệ nuôi con nuôi theo phong tục tập quán ở nơi đó Việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có thể được thực hiện theo những cách thức khác nhau, tuỳ theo sự lựa chọn và yêu cầu của cá nhân trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định

Trang 22

2.1.1 Điều kiện liên quan đến người nhận nuôi

Theo phong tục tập quán nuôi con nuôi tuy ở mỗi vùng miền đều có những nghi thức, nghi lễ và phong tục nhận con nuôi khác nhau nhưng nhìn chung người nhận con nuôi chỉ có thể là vợ, chồng hoặc một cá nhân không phải là một pháp nhân, một hộ gia đình hay một tổ hợp tác Đối với phong tục nhận con nuôi ở mỗi dân tộc, địa phương khác nhau lại có những quy ước riêng về điều kiện đối với người nhận con nuôi, nhằm đáp ứng được mong muốn của người cho và nhận con nuôi, ngoài ra đó còn là những giá trị tinh thần ẩn chứa bên trong là ước muốn của cha mẹ

về một cuộc sống tốt đẹp cho con cái Do là phong tục tập quán nên nó điều chỉnh trong phạm vi hẹp ở một cộng đồng người cho nên mỗi nơi lại có những điều kiện liên quan đến người nhận nuôi khác nhau, phong tục nhận con nuôi không phân biệt trường hợp người nhận nuôi là cá nhân hay cả hai người là vợ chồng nên các điều kiện dưới đây có thể áp dụng cho cả hai trường hợp trên, dưới đây là điều kiện về người nhận con nuôi theo phong tục tập quán áp dụng ở một số dân tộc hoặc địa phương

Thứ nhất là thông thường, khi nhận một đứa trẻ làm con nuôi, bố mẹ nuôi cũng không phải là cứ đến xin không, mà sẽ mất một khoản tiền hoặc một món vật phẩm nhất định coi như một thứ tín lễ trao tay điều kiện này thường thấy ở tục nhận con nuôi của các dân tộc ít người sinh sống ở miền núi Hầu hết các gia đình nhận cho con nuôi theo phong tục tập quán đều không quan tâm nhiều đến điều kiện nhận con nuôi như quy định của pháp luật mà đối với những gia đình khó khăn thì ai có thể đáp ứng được nhu cầu vật chất mà họ đang thiếu thốn thì có thể đem con về nuôi

Một số đồng bào dân tộc thiểu số như người Dao ở bản Na Páo Hành, xã Nậm Mười, tỉnh Yên Bái nhận về làm con nuôi đều là con của người dân tộc Thái ở những huyện lân cận, sở dĩ như vậy vì người dân tộc Thái đời sống kinh tế còn khó khăn, kế hoạch hóa gia đình cũng như việc áp dụng biện pháp tránh thai chưa tốt nên nhiều gia đình sinh con ra nhưng không thể nuôi được Người Dao đi tìm con nuôi bằng cách xuống chợ huyện, thấy cặp vợ chồng người Thái nào dẫn theo một đàn con đông liền lại gần hỏi mua hoặc trong những chuyến đi xuống đồng bằng nhờ qua lại mối lái, biết có gia đình nào khó khăn, những người Dao ở Nậm Mười liền đến để xin về nuôi Hay một số người tập hợp lại rồi đi xuống núi suốt nhiều ngày đường,

hễ thấy gia đình người Thái nào đông con, họ liền vào nhà xin ngủ nhờ và hỏi thăm xem có ý bán con hoặc trao đổi thứ gì đó không, gọi là bán chứ thực chất là cũng chỉ đổi lấy ít thóc, sắn hoặc gánh bí ngô hoặc một số tiền nhất định để sinh sống qua ngày vì gia đình quá khó khăn Nếu gia đình họ đồng ý bán con, người Dao sẽ hẹn một ngày tốt rồi dắt theo một con trâu ba đến bốn tuổi, một đôi gà và ít tiền đến trao đổi, làm thủ tục mang con về nuôi

Còn đối với tộc người Khơ mú và một số dân tộc khác người dân nơi đây có tập tục cho con nuôi Theo đó, hai gia đình muốn xin con của nhau về nuôi thỏa

Trang 23

thuận từ khi bà mẹ mang thai, khi nào đứa trẻ được sinh ra, cha mẹ nuôi sẽ đến đón trẻ về và đặt tên cúng ma cho trẻ Hai bên thỏa thuận trao cho nhau một khoản thù lao nào đó, khoảng vài triệu khi trẻ lớn lên thì chỉ cần mang hai lít rượu, một con gà

và một ít lễ vật đến cho cha mẹ đẻ là tuyệt giao mối quan hệ giữa hai bên với nhau7

Như vậy theo tập tục một số nơi, người nhận con nuôi muốn xin đứa trẻ đem về nuôi cũng cần phải có một khoảng tài sản nhất định có thể là tiền hoặc vật phẩm như con

gà, tải gạo hoặc có khi là cả con trâu giá trị tùy theo sự thỏa thuận của hai bên như thế là đã có thể đem đứa con về nuôi

Thứ hai là cha, mẹ nuôi phải hợp tuổi hoặc số mệnh với đứa trẻ, trong một số trường hợp tùy vào cách thức tiến hành nghi lễ tìm cha mẹ nuôi cho trẻ nên cha mẹ nuôi được nhận con nuôi một cách ngẫu nhiên tùy thuộc vào cơ duyên giữa cha mẹ với đứa trẻ Theo quan niệm địa phương thì cơ duyên này là do thần linh chỉ dẫn để người cha, mẹ ruột tìm được cha mẹ nuôi cho trẻ, điều kiện này thường thấy ở hình thức nhận con nuôi giả vờ Nhiều địa phương do đứa trẻ từ lúc nhỏ đã khó nuôi, ba

mẹ phải đem con bỏ đường, bỏ chợ rồi giả vờ mất con than khóc thảm thiết để ma xấu nghe được biết đứa trẻ không ai thương sẽ thôi không theo phá đứa trẻ nữa, phần đứa trẻ sẽ có người đến mang về nuôi vài ngày sau cha mẹ đẻ mang lễ vật đến chuộc con lại và nhận người đó làm cha mẹ nuôi

Đối với tập tục nhận con nuôi của một số dân tộc như Mông, La Chí…những đứa trẻ khi sinh ra mà khó nuôi hay ốm đau thì cha mẹ sẽ đi coi thầy hoặc nhờ thầy cúng cao tay xem đứa trẻ hợp với tuổi của người nào đó trong làng và gia đình sẽ đến xin họ nhận đứa trẻ làm con nuôi Nhiều gia đình lại chọn bố mẹ nuôi cho trẻ một cách ngẫu nhiên theo tập tục, người cha hoặc mẹ bế đứa trẻ ngồi ở một ngã ba đường, nơi có nhiều người qua lại khi gặp được người đi qua đầu tiên thì người đó sẽ được nhận làm cha mẹ nuôi cho đứa trẻ Nhiều nơi lại chọn bố mẹ nuôi cho đưa trẻ theo tập tục địa phương bằng cách vào buổi sáng sớm, bố đứa trẻ sẽ múc đầy một bát nước đặt lên bàn thờ tổ tiên Sau đó người chủ gia đình đợi xem ai là người đầu tiên bước vào nhà (trừ những người trong gia đình), thì chủ nhà sẽ mời người đó vào nhà uống nước, rồi thưa chuyện với người khách, nếu họ đồng ý thì hai gia đình nhận làm thông gia, rồi gia đình hẹn ngày đưa con, cùng lễ vật sang gia đình vái nhận làm cha mẹ nuôi cho con mình Ngoài ra, bố mẹ đứa trẻ có thể chọn cha mẹ nuôi cho đứa trẻ bằng cách khác, gia đình sẽ chọn một ngày tốt, sau đó bện một sợi chỉ màu rồi người bố địu con trên lưng đi theo lời chỉ dẫn của thầy cúng Người bố địu con đến một đoạn đường nơi có nhiều người qua lại rồi đứng ở đó chờ khi nào gặp được người đầu tiên thì bố mẹ đứa trẻ sẽ nhận người đó làm cha, mẹ nuôi Trong trường hợp nhiều người gặp đầu tiên mà còn nhỏ tuổi, thì người bố sẽ nhờ bố mẹ đứa trẻ đó làm cha mẹ nuôi cho đứa trẻ

7 Hương Nguyên: Chủ tịch xã cũng muốn mua con nuôi, Báo điện tử Nhân dân, 2001,

http://www.nhandan.com vn/phapluat/thoi-su-phap-luat/item/13014102-.html, [ngày truy cập 1-2-2013]

Trang 24

Với người Phù Lá thì thường có hai cách chủ yếu để tìm cha mẹ nuôi, một là dùng cách bẫy dây ở tại nhà, hai là phải nhờ thầy cúng đến cúng xem giúp đứa trẻ hợp với tuổi của người nào đó trong dòng họ, hoặc trong làng thì gia đình sẽ đến đặt vấn đề nhờ người đó làm cha mẹ nuôi cho đứa trẻ Bẫy dây tại nhà là cách tìm cha

mẹ nuôi phổ biến hơn cả, vì cách làm này đơn giản, không cần phải nhờ đến thầy cúng Gia đình sẽ chọn một ngày tốt trong tháng, nhưng phải là ngày chẵn Sau đó lấy một bát nước rồi lấy sợi chỉ vắt ngang qua bát nước với ý nghĩa hồn của đứa trẻ đang chơi vơi trong bát nước cần có người đến cứu giúp Đợi đến khi màn đêm đã về khuya, không còn khách đến chơi nhà, bố đứa trẻ sẽ mang bát nước đặt lên bàn thờ

tổ tiên rồi theo dõi xem ngày hôm sau bất cứ ai là người đến chơi nhà đầu tiên, thì người đó sẽ được gia đình nhận làm cha nuôi hoặc mẹ nuôi cho đứa trẻ Một số gia đình thì tìm cách chọn cha mẹ nuôi cho trẻ bằng hình thức nhờ thầy cúng, trường hợp này phức tạp hơn, gia đình sẽ chọn một ngày đẹp rồi nhờ một thầy cúng đến tìm giúp, thầy cúng sẽ dùng đồng âm gieo xuống đất xem quả chỉ về hướng nào thì họ đi tìm cha mẹ nuôi theo hướng đó Khi đi, họ phải đếm đi đủ 360 bước với ý nghĩa đây

là con số nơi hồn bị thất lạc, sau đó dừng lại trên đường đi nếu gặp người nào đầu tiên thì bố mẹ đứa trẻ sẽ nhận người đó là cha mẹ nuôi, không kể trai gái, già trẻ

Thứ ba là theo phong tục địa phương ở một số nơi có hình thức nuôi con nuôi trên danh nghĩa do đó điều kiện đối với người nhận nuôi cũng tùy thuộc vào nhiều nguyên nhân khác nhau Có một số rơi vào trường hợp người nhận nuôi đã mang ơn hoặc chịu sự giúp đỡ của cha mẹ đứa trẻ đối với một số dân tộc ít người có phong tục kết nghĩa làm cha con hay mẹ con, người muốn kết nghĩa hàm ơn về người khác tộc

đã giúp đỡ mình vượt qua hoạn nạn như ốm đau, nghèo khó, hoặc giữa họ đã có tình cảm yêu thương, quý mến nhau như anh em ruột thịt Là người mà cha mẹ đứa trẻ thấy ngưỡng mộ, tin tưởng, quý mến thì có thể nhận người này làm cha mẹ nuôi cho đứa trẻ Hay người nhận nuôi là những người có tài năng và đức độ làm việc giỏi giang, cũng có thể là các vị trưởng lão trong làng được nhiều người kính trọng được cha mẹ cho con mình nhận làm con nuôi, vì theo quan niệm xưa con cái có thể noi theo, hưởng được nhiều phúc lộc của cha mẹ nuôi sau này có được một cuộc sống tốt đẹp Người nhận nuôi phải là người có gia đình hạnh phúc, con cái khỏe mạnh để đứa trẻ cho nhận làm con nuôi có thể được nhờ phúc Đối với những gia đình có trẻ nhỏ hay bị ma quấy nhiễu hoặc không may sinh ra mà có tuổi xung khắc với cha mẹ sống chung một nhà không hợp thành ra khó nuôi, do vậy gia đình thường hay tìm những người ngoài điều kiện phải hợp tuổi ra còn phải kén những người có phúc, có tài, gia đình có đông con và con cái đều khỏe mạnh thì càng tốt để cho làm con nuôi Theo quan niệm người xưa tìm được cha mẹ nuôi như vậy đứa trẻ mới có thể xua đuổi được tà ma, được mọi điềm xấu, sau khi làm lễ nhận con nuôi bố mẹ nuôi sẽ đem đứa trẻ về nuôi dưỡng (đây chỉ là hình thức tượng trưng) ít lâu sau bố mẹ ruột

Trang 25

đứa trẻ sẽ đến gia đình xin mang con về, nếu không phải ân tình nuôi giúp phải chịu

ơn, phí tổn

Một số dân tộc thiểu số theo tập tục địa phương có quy ước chung là người thầy cúng chữa trị bệnh cho người nào trong làng thì người được chửa trị hết bệnh sẽ nhận người đó làm cha nuôi, ở các vùng dân tộc miền núi khi đứa trẻ ốm đau hay bệnh tật nặng người dân thường tin tưởng nhiều vào tài năng chửa trị bệnh của các vị thầy cúng Đặc biệt là một số dân tộc như Xinh Mun, Kháng, Thái…nếu các vị thầy cúng trong làng có thể trị khỏi bệnh cho đứa trẻ hoặc một người nào đó thì theo tập tục người được trị hết bệnh sẽ nhận người đó làm cha nuôi Hằng năm người Kháng

có lễ hội Xek Pang Ả trong đó những người được Pà ả (thầy cúng) chữa cho khỏi

bệnh (được coi là con nuôi) đến dâng lễ, tạ ơn, hay lễ hội “Xên lẩu nó” của người

Thái phần quan trọng nhất của lễ hội là lễ cúng các con nuôi Ông Lường Văn Ơn, bản Nà Mè cho biết hiện ông có gần 100 người con nuôi, nên phải mất hơn một ngày mới thực hiện xong lễ cúng Các con nuôi sau khi mang lễ vật đến nhà ông, chia nhau ra mỗi gia đình một chỗ, tự mổ gà, vo gạo đồ xôi để chuẩn bị cho mâm lễ dâng lên cảm tạ Ông một đã chữa khỏi bệnh Khi chuẩn bị xong, mâm lễ của các con nuôi được rải trên là chuối, gồm có 1 con gà hoặc 1 con lợn, 1 nải chuối, 1 bát gạo, 2 chén rượu, 3 mét vải…Sau đó, lần lượt từng người con nuôi dâng lễ để làm lễ cúng, khấn cho các con nuôi8

Như vậy có thể thấy các điều kiện về người nhận con nuôi theo phong tục tập quán chủ yếu xuất phát từ những nguyên nhân thiết thực từ đời sống, cũng giống như quy định của pháp luật, phong tục tập quán nhận con nuôi cho phép người nhận nuôi

có thể nuôi nhiều con nuôi So với luật nuôi con nuôi năm 2010 thì các quy định về điều kiện liên quan đến người nhận con nuôi theo phong tục tập quán không được quy định cụ thể và rõ ràng như các quy định của pháp luật

So với phong tục tập quán nhận con nuôi pháp luật đã chia điều kiện đối với người nhận con nuôi thành hai trường hợp là trường hợp người nhận nuôi là cá nhân

và trường hợp con nuôi của cả hai người là vợ chồng

 Người nhận nuôi là cá nhân:

Theo quy định của pháp luật thì để đảm bảo cho việc cha mẹ nuôi có thể thực hiện tốt chức năng làm cha làm mẹ của mình đối với con nuôi thì người nhận nuôi phải có đầy đủ các điều kiện sau: người nhận con nuôi phải có năng lực hành vi dân

sự đầy đủ, hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên, có điều kiện bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con nuôi chưa thành niên, có tư cách đạo đức tốt Bên cạnh đó phong

8 Cổng thông tin điện tử tỉnh Sơn La: Các lễ hội, http://sonla.gov.vn/content/1599-Cac-le-hoi/, [ngày truy cập

1/2/2013]

Trang 26

tục nhận con nuôi cũng không mấy chú trọng đến các điều kiện này như ở các quy định của pháp luật, chủ yếu ở mỗi vùng miền tùy theo nét đặc trưng của phong tục ở nơi đó mà hình thành nên các yếu tố cấu thành điều kiện về nhận con nuôi để phù hợp hơn với nếp sống, con người và hoàn cảnh của từng nơi Có thể thấy các điều kiện của phong tục tập quán nhận con nuôi ở một số nơi tuy có một vài điểm chung nhưng đa phần vẫn đi ngược lại so với các quy định của pháp luật về điều kiện nhận con nuôi như:

+ Người nhận con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Theo quy định tại điều 19, Bộ luật dân sự năm 2005, người có năng lực hành

vi dân sự đầy đủ là người đã thành niên, không bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành

vi dân sự9

hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự10 Đây là một trong những quy định cần thiết của pháp luật nhằm đảm bảo cho người nuôi có một cuộc sống trọn vẹn, được chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng một cách tốt nhất trong môi trường gia đình bởi lẽ người nhận con nuôi nếu bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì chưa ý thức hết được trách nhiệm của mình đối với việc chăm sóc nuôi dưỡng con cái Trên thực tế việc nhận nuôi con nuôi sẽ chỉ có hiệu quả, đạt được mục đích và các tiêu chí đã đề ra khi người nhận nuôi có thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, không phải là người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác

Khác với pháp luật phong tục nuôi con nuôi không nêu rõ người nhận con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, do là phong tục nên người ta thường không chú trọng hoặc quan tâm nhiều đến việc người nhận nuôi có hay không năng lực hành vi dân sự đầy đủ Như ở một số dân tộc ở miền núi khi nhận thức pháp luật của họ chưa cao thì việc nhận con nuôi chủ yếu dựa vào các điều kiện hình thành từ nhu cầu và đời sống vật chất lẫn tâm linh của họ Một số trường hợp do kết hôn sớm,

do những yếu tố về điều kiện sống, yếu tố tâm linh như nhờ thần linh mách bảo, do

cơ duyên, hoặc do người khác chỉ dẫn mà việc nhận con nuôi có thể do ý muốn hoặc đến ngẫu nhiên, một số trường hợp cha mẹ nuôi lại là những người nghiện hút thuốc phiện, nghiện hút cần sa, Do vậy tinh thần không ổn định, gây ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của đứa trẻ sau này, nhưng suy cho cùng nếu người nhận nuôi đáp ứng được những điều kiện mà cha mẹ đứa trẻ đang cần thì có thể nhận đứa trẻ làm con nuôi

+ Hơn con nuôi 20 tuổi

Theo quy định của pháp luật người nhận nuôi phải hơn con nuôi 20 tuổi trở lên hoặc trường hợp nếu một người làm con nuôi của cả hai vợ chồng thì cả cha

9 Khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Khi một người do bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà

không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích lien quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định”

10 Khoản 1 Điều 23 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn

đến phá tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan tổ chức hữu quan,

Trang 27

nuôi, mẹ nuôi phải hơn con 20 tuổi trở lên Quy định về độ tuổi của người nhận nuôi căn cứ vào bản chất của việc nuôi con nuôi là hình thành quan hệ cha mẹ và con hợp pháp giữa hai bên, do đó tuổi của người nuôi phải tương xứng, phù hợp với tuổi có thể làm cha mẹ về mặt sinh học Đồng thời, người nhận nuôi phải đạt tới một độ nhất định thì mới có được kinh nghiệm, hiểu biết, điều kiện kinh tế phù hợp và quan trọng nhất là nhận thức rõ về nhu cầu nhận nuôi con nuôi của mình

Khác với pháp luật phong tục nhận con nuôi ở một số nơi thường không quan trọng điều kiện về độ tuổi bởi lẽ do tập tục tảo hôn còn tồn tại ở nhiều nơi, nhiều cặp

vợ chồng kết hôn sớm sau một hai năm mà chưa có con thì theo tập tục phải tìm đứa con đem về nuôi do đó nhiều cặp vợ chồng mặc dù vẫn còn rất trẻ hoặc đang còn trong độ tuổi chưa thành niên vẫn có thể nhận con nuôi, nhiều trường hợp việc nhận con nuôi chủ yếu là do tập quán nhận con nuôi danh nghĩa do đó không quan trọng

độ tuổi của người nhận nuôi, tùy tập quán của từng nơi mà bất kể trai, gái, người già, trẻ lớn bé đều có thể được nhận làm cha mẹ nuôi

+ Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con cái

Như quy định của pháp luật thì đây là một điều kiện quan trọng để đảm bảo cho cuộc sống của đứa trẻ được nhận làm con nuôi sau này, người con nuôi chỉ được chăm sóc giáo dục tốt và được sống trong một môi trường lành mạnh, được phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần khi người nhận nuôi có sức khỏe tốt, có thời gian chăm sóc giáo dục con cái, có chỗ ở ổn định và có đủ năng lực về tài chính để đảm bảo cuộc sống cho con cái Tùy vào điều kiện thực tế ở mỗi nơi khác nhau mà các điều kiện về mặt kinh tế, sức khỏe, chỗ ở đảm bảo ở mức cần thiết cho việc nuôi con nuôi Tuy vậy trong trường hợp người già yếu, cô đơn, thương binh tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự nhận con nuôi thì quy định này khó có thể đảm bảo được vì chính họ là người cần phải trông cậy vào người được nhận làm con nuôi,

do đó Luật nuôi con nuôi đã loại bỏ những đối tượng này ra khỏi đối tượng nhận nuôi con nuôi như thế việc nhận con nuôi mới đạt được mục đích và hiệu quả tốt nhất

Theo như phong tục nhận con nuôi ở nhiều nơi ít khi nào người cho con nuôi quan tâm nhiều đến những điều kiện về sức khỏe, kinh tế chỗ ở chủ yếu chỉ là theo phong tục tập quán và tùy vào điều kiện ở mỗi địa phương, như đối với những gia đình đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa chủ yếu rơi vào những gia đình thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo, các hộ cận nghèo nơi đây chỉ đếm trên đầu ngón tay còn lại toàn hộ nghèo Hầu hết người dân ở nơi đây phải làm lụng vất vả, cuộc sống gia đình còn khó khăn, nhưng nhiều gia đình cũng cố chắt góp tiền để mua con về nuôi mặc dù gia đình cũng chẳng khá giả Nhiều gia đình mua được con về nuôi nhưng lại không đủ điều kiện để chăm sóc chúng thật tốt, thực trạng hiện nay có nhiều đứa trẻ được đem về nuôi nhưng lại không đủ ăn, đủ mặc hoặc khi ốm đau gia

Trang 28

đình lại không có tiền để chạy chữa thuốc thang Giống như trường hợp bà Đặng Thị Pham người dân tộc Dao có 8 người con nhưng đã mất 4 đứa con nuôi, hiện 4 người con nuôi còn lại của gia đình người phụ nữ này đã trưởng thành nhưng rất khổ cực, thường xuyên thiếu ăn Nhiều người mua con tưởng chừng đạt được mục đích là

có con nhưng mua về thì người vợ lại sanh nhiều khiến vỡ kế hoạch rồi con cái thiếu

ăn, thiếu mặc, không được học hành

So với pháp luật, phong nhận con nuôi ở một số nơi cũng quan tâm ít nhiều đến điều kiện về kinh tế gia đình, nhưng đối với pháp luật nuôi con nuôi điều kiện

về kinh tế phải là điều kiện lâu dài gắn liền với cuộc sống của đứa trẻ sau này còn theo phong tục thì đây chỉ là điều kiện nhất thời, như muốn xin con nuôi phải đổi cho cha mẹ đứa trẻ một khoảng tiền, con trâu, bao thóc nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt của cha mẹ đứa trẻ, còn về điều kiện kinh tế của gia đình người nhận nuôi như thế nào thì cũng không được quan tâm nhiều Có thể thấy điều kiện này thường nghiêng về lợi ích của người cho, người nhận con nuôi hơn là vì lợi ích của người được nhận làm con nuôi, như vậy không đảm bảo được đầy đủ điều kiện cho con nuôi sau này có được một cuộc sống tốt đẹp hơn Khác với quy định của pháp luật, phong tục nhận con nuôi không hạn chế đối tượng được nhận con nuôi mà chủ yếu xuất phát từ tình cảm, nguyện vọng của bản thân đều có thể xin nhận con nuôi, do đó phong tục nhận con nuôi không giới hạn đối với các đối tượng không đảm bảo được điều kiện về sức khỏe là người người già yếu, cô đơn, thương binh tàn tật như ở quy định của pháp luật

+ Người nhận nuôi phải có tư cách đạo đức tốt

Gia đình là nơi cung cấp cho con người những giá trị, chuẩn mực đạo đức nhất định, định hướng cho cách xử sự của con người, để đảm bảo cho người con nuôi được nuôi dạy tốt thì cha mẹ phải sống gương mẫu, tôn trọng các giá trị đạo đức

Luật cũng quy định các trường hợp không được nhận con nuôi là người “đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, đang chấp hành hình phạt tù; chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác, ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ,

vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình, dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em” 11 Quy định này là một điều kiện mở rộng thêm về tư cách cửa người nhận con nuôi, khẳng định lại tư cách đạo đức của họ và những người có những hành vi đó thì không đủ tư cách để nuôi dạy con cái Tuy nhiên việc một người có được xem là có

tư cách đạo đức tốt hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trên thực tế còn rất khó để đánh giá, xác minh được tư cách đạo đức của một người

Trang 29

Khác với pháp luật một số hình thức nhận con nuôi theo phong tục tập quán thường không chú trọng đến điều kiện đạo đức của người nhận nuôi, người nhận nuôi có thể là những người rơi vào các trường hợp cấm nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật như ở hình thức nhận con nuôi chính thức hay con nuôi giả vờ, còn đối với hình thức con nuôi trên danh nghĩa một số trường hợp người nhận nuôi phải là người có tài, đức (kén những người có đạo đức xã hội tốt, là tấm gương sống cho nhiều người)

2.1.2 Điều kiện liên quan đến người được nhận nuôi

Tập tục nhận con nuôi không quy định độ tuổi cụ thể của người được nhận làm con nuôi, mỗi nơi lại có những điều kiện về độ tuổi khác nhau Tục nhận con nuôi từ lâu đã trở nên phổ biến ở hầu hết các gia đình đặt biệt là với người dân tộc thiểu số, hầu như nhà nào cũng có con nuôi hoặc có người đi làm con nuôi, thông thường đối tượng được nhận làm con nuôi chủ yếu là những đứa trẻ sơ sinh, như ở bản Na Páo Hành nơi có dân tộc Dao sinh sống đều phải nhận từ khi còn bé xíu, có người còn nhận từ lúc vừa mới đẻ ra hãy còn đỏ hỏn, như trường hợp của anh Nam một người dân tộc Thái về làm con nuôi ở bản được bố mẹ nuôi nhận về từ lúc còn nhỏ hoặc anh Bàn Phúc Thanh được bà Đặng Thị Còi nhận về nuôi từ lúc 9 tháng

Trang 30

tuổi nay đã yên bề gia thất, người dân ở đây quan niệm chỉ nhận nuôi đứa trẻ từ lúc còn nhỏ, bởi như vậy mới thấy được tấm lòng bố mẹ nuôi đối với đứa trẻ

Thông thường người nhận nuôi đặc biệt là với người đồng bào dân tộc thiểu

số họ rất thích nhận những đứa trẻ mới sinh hay sinh được vài tháng làm con nuôi bởi lẽ ở độ tuổi này đứa trẻ chưa nhận thức được, đem chúng về nuôi khi chúng lớn lên chúng sẽ sống gắn bó thân thiết với bố mẹ nuôi hơn mà không nhớ nhà mà bỏ về gia đình bố mẹ ruột Cũng có nhiều khi đứa trẻ đã lớn nhưng do gia đình đông con, thiếu ăn phải đem cho làm con nuôi, việc nhận con nuôi tuy ở nhiều độ tuổi khác nhau nhưng nhìn chung đều là trẻ em chưa thành thành niên, đang còn ở những độ tuổi rất nhỏ Cũng có một số trường hợp theo quan niệm một số nơi có hình thức nhận con nuôi để có người nói dõi có trường hợp vợ chồng đã quá tuổi sinh đẻ hoặc sinh toàn con gái, kiếm mãi mà vẫn không được một đứa con trai để nói dõi, tuổi tác

đã cao vì sợ mai này sắp gần đất xa trời không có người hương khói sẽ tìm nuôi một đứa con, người ta thường nhận nuôi đứa con đã trưởng thành hoặc đã thành gia, lập thất để tiện bề chăm sóc và thờ cúng cha mẹ nuôi Tùy vào phong tục của từng nơi cũng như mục đích của việc nhận con nuôi mà người được nhận làm con nuôi tùy vào trường hợp có thể được nhận ở nhiều độ tuổi khác nhau

Theo quan niệm khác nhau của từng vùng, địa phương mà ở một số nơi họ thường chỉ chấp nhận hoặc ưu tiên người trong họ làm con nuôi hơn là con nuôi ở ngoài dòng họ Theo quan niệm xưa cho đến tận ngày nay còn tồn tại trong một số gia đình truyền thống có quan niệm thờ cúng tổ tiên ông bà rất quan trọng thể hiện đạo hiếu của con cháu, chính vì vậy mà gia đình phải lo sau cho có con trai để lập tự Nếu gia đình không có con trai thì phải chọn một người cháu gọi bằng chú hay bác làm con nuôi, là con của anh em ruột hoặc anh em chú bác ruột, không có cháu gần thì lập cháu xa để giữ việc thừa tự cho mình, theo tập tục không cho lập những con nuôi khác họ vì dù là con nuôi nhưng cũng là huyết mạch trong một nhà, chẳng hại

gì, còn nuôi con người ngoài mà lại được ưu tiên, quý trọng hơn con anh, em thì cũng không hợp lẽ

Một số dân tộc thiểu số như Dao, Ê Đê, Mường, Thái, Chăm thường có tục nhận con nuôi và họ ưu tiên nhận người trong dòng họ làm con nuôi hơn là người ngoài họ, người trong dòng họ ở đây có thể là cô, cậu, dì, chú bác ruột hoặc những người có cùng họ sinh sống ở trong cùng một địa phương hay ở nơi khác Từ bao đời nay người Dao Tiền ở xã Tân Minh có tập tục nhận con nuôi, nếu nhà nào đẻ toàn con gái sẽ không có người nối dõi tông đường, khi chết không có người chống gậy,

do đó những gia đình sinh toàn con gái với giá nào cũng phải đi xin bằng được con trai về nuôi Tuy nhiên người con nuôi bắt buộc tuân theo luật của người Dao là phải người trong dòng họ, việc nhận con nuôi chỉ diễn ra với người cùng họ hàng, người con đó sẽ ăn ở truyền kiếp với bố mẹ nuôi và gọi bố mẹ đẻ là ông, bà ngoại Thậm chí nhiều gia đình tự nguyện cho con của mình, nhưng gia đình mình không thể nhận

Trang 31

vì những người con nuôi đó không cùng họ, để có một người con nuôi, các cặp vợ chồng phải tìm đến những gia đình cùng họ đặt vấn đề xin con nuôi bất kể đường xá

Theo tập tục nhận con nuôi, một số dân tộc quy định trường hợp đứa trẻ được nhận làm con nuôi chính thức theo phong tục, tập quán như dân tộc Raglai có quy định cha mẹ nuôi đối với con nuôi cũng như con sinh không được đem con nuôi bán cho kẻ khác, nếu nghèo khổ chỉ được đem đứa con nuôi đi đợ đỡ trong thời gian ba bốn năm mà thui, với người dân tộc Ê Đê nhận con nuôi không phải để bắt chúng làm việc như người hầu, đứa ở trong nhà, càng không được bán hoặc đổi lấy lúa, đổi lấy muối, mà phải đối xử tử tế, phải chăm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn, vì nuôi trẻ

mồ côi không tử tế là mang tội Theo quan niệm trong luật tục M’Nông, nếu nuôi

những đứa trẻ mồ côi thì điều may mắn, tốt lành sẽ đến với người làm phúc.“Ta xem thường người mồ côi là có tội/Ta từ chối con nuôi sẽ nghèo/Ta đem nó về nuôi sẽ giàu/Ta đem nó về nuôi sẽ sang” 13 Do đó dù gia đình có không nuôi nổi thì cũng không được cho người khác, việc làm đó là có tội:“Không được bán đổi lúa/Không được bán đổi muối/Bán trẻ mồ côi là có tội/Bán con mồ côi là có tội nặng” 14

Không giống như những gia đình khó khăn phải đem bán con cho người khác làm con nuôi do không nuôi nổi hoặc trước mắt có được tiền, được của để nuôi sống

cả gia đình và phần nào giảm bớt gánh nặng về nhiều mặc, tập tục cho-nhận con nuôi được ghi nhận trong luật tục của một số dân tộc cho phép cha mẹ có quyền đem con mình cho người khác làm con nuôi Nhưng luật tục cấm việc cha mẹ nuôi bán con nuôi của mình cho người khác Vốn dĩ giá trị của tục nhận con nuôi là khuyên bảo

12

Ngô Đức Thịnh: Luật tục Ê Đê, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nôi, 1996, Tr 120-121.

13 Ngô Đức Thịnh: Luật tục M’Nông, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, Tr 512

14 Ngô Đức Thịnh: Luật tục M’Nông, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, Tr 510

Trang 32

những người có lòng tốt hãy ra tay làm phúc cứu vớt những trẻ mồ côi không nơi nương tựa, nếu gia đình đã nhận con nuôi mà còn đem chúng cho người khác là đã đi ngược với mục đích của việc nhận con nuôi, đi trái với những giá trị đạo đức mà con người đã đặt ra, trái với đạo lý xã hội, không mang lại được một gia đình thật sự cho đứa con nuôi, ngoài ra còn tạo tâm lý lo ngại, e dè đối với đứa con khi bản thân không có được một nơi ăn chốn ở ổn định và điều quan trọng là có được tình thương của cha mẹ nuôi

Có thể thấy rõ trong phong tục tập quán nuôi con nuôi cũng như luật tục một

số dân tộc đã ghi nhận trường hợp cấm bán con nuôi của mình cho người khác, một người có thể nuôi nhiều đứa con nhưng luật tục không cho phép một người được cho làm con nuôi của nhiều gia đình Bên cạnh đó tuy tập tục không có quy định rõ về điều kiện này nhưng suy rộng ra khi đứa trẻ được nhận làm con nuôi chính thức như: con lập tự hoặc con nối dõi tức đứa trẻ sẽ về sống chung với gia đình cha mẹ nuôi, cha mẹ nuôi phải đối xử với con nuôi như chính con ruột của mình, con nuôi phải có quyền lợi và nghĩa vụ đối với cha, mẹ nuôi như chính cha mẹ ruột Tập tục nhận con nuôi ở một số nơi khi nhận con nuôi về sẽ làm lễ nhận con rồi nhập họ, đối với người dân tộc tiểu số thì họ làm lễ cúng ma nhà, báo cáo tổ tiên cho đứa bé trở thành con mình, đứa con nuôi sau khi cúng ma được coi như con đẻ trong nhà Đối với quan hệ con nuôi chính thức này, một đứa trẻ không thể nào cùng lúc cho làm con nuôi của nhiều người được bởi nếu một người làm con nuôi của hơn một người độc thân hoặc

cả hai vợ chồng thì rất dễ dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, xảy ra nhiều tranh chấp phát sinh, xét về mặt thực tiễn như trường hợp con lập tự, con nối dõi đảm nhận vai trò quan trọng trong việc thờ phụng tổ tiên ông bà, duy trì nòi giống gia đình thì chỉ được thờ duy nhất một dòng họ trong gia đình, nếu cùng làm con nuôi của nhiều người thì việc nhận con nuôi để lập tự hoặc nối dõi không còn ý nghĩa nữa Ngoài ra việc thực hiện các quan hệ về nhân thân, tài sản, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi – con nuôi trên thực tế diễn ra sẽ gặp nhiều bất lợi, gây nên sự đùng đẩy hoặc tranh giành Do đó một đứa trẻ chỉ có thể làm con nuôi của một người độc thân hoặc cả hai

vợ chồng trong trường hợp con nuôi chính thức Có một số ngoại lệ trong trường hợp này là người được nhận làm con nuôi chính thức vẫn có thể làm con nuôi của người khác dưới hình thức con nuôi danh nghĩa hoặc con nuôi giả vờ, do quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi dưới hình thức trên chỉ tồn tại về mặt hình thức Ví dụ như trường hợp một đứa trẻ được một gia đình hiếm muộn nhận nuôi, do khó nuôi, hay ốm đau cha mẹ nuôi có thể tìm người làm cha, mẹ đỡ đầu theo quan niệm dân gian để cầu cho đứa trẻ được khỏe mạnh Hoặc nếu gia đình vì cảm mến cái tài, cái đức của một người nào đó cũng muốn sau này con mình cũng giống vậy nếu quan hệ tình cảm thân thiết thì vẫn có thể cho đứa con nuôi của mình nhận người đó làm cha, mẹ nuôi trên danh nghĩa Đối với trường hợp nhận con nuôi trên danh nghĩa, con nuôi giả vờ

Trang 33

không giới hạn việc người được nhận làm con nuôi được nhận hơn một người độc thân hoặc cả hai người là vợ chồng làm cha mẹ nuôi

Theo luật nuôi con nuôi năm 2010 người được nhận làm con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi Việc quy định độ tuổi cụ thể là nhằm đảm bảo có sự chênh lệch và khoảng cách cần thiết giữa hai thế hệ tạo điều kiện cho người được nhận làm con nuôi được chăm sóc, giáo dục một cách toàn diện về thể chất và tinh thần, phù hợp với đạo đức xã hội Ngoài ra luật quy định người trên 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được nhận làm con nuôi có hai trường hợp: được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi hoặc được cô, cậu, dì, chú bác ruột nhận làm con nuôi với điều kiện này không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1, Điều 14 luật nuôi con nuôi 2010 So với pháp luật độ tuổi của đứa trẻ được nhận làm con nuôi theo phong tục tập quán không được quy định cụ thể rõ ràng, người được nhận làm con nuôi có thể ở nhiều độ tuổi khác nhau nhưng tập tục ở nhiều nơi cũng ghi nhận trường hợp nhận con nuôi là trẻ

sơ sinh hoặc ưu tiên nhận con nuôi là người trong họ hàng, tạo điều kiện cho đứa trẻ được sống trong gia đình gốc, gần gũi với những người thân trong gia đình, dòng họ hơn là người ngoài Bên cạnh đó các quy định của pháp luật về nuôi có quy định một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng, pháp luật không cho phép người con nuôi làm con nuôi hai lần nhằm tránh khả năng lạm dụng việc nuôi con nuôi để buôn bán trẻ em, quy định này phù hợp với việc nhận con nuôi theo tập tục ở một số nơi đặc biệt là đối với một số dân tộc thiểu

số sinh sống ở miền núi

2.2 THẨM QUYỀN XÁC LẬP QUAN HỆ NUÔI CON NUÔI THEO PHONG TỤC TẬP QUÁN

Nhà nước luôn khuyến khích việc đăng ký nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước

có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, không loại trừ trường hợp nhận con nuôi theo phong tục tập quán Hầu hết các trường hợp nhận con nuôi theo phong tục tập quán đều không đến đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hợp thức hóa quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi, mà chỉ thỏa thuận viết giấy tay về việc cho nhận con nuôi hoặc theo quan niệm còn tồn tại ở nhiều nơi mà người nhận con nuôi ngại đi đăng ký đó là do nhận thức pháp luật của người dân còn thấp, đặc biệt ở nhiều vùng miền núi, bị chi phối nhiều bởi phong tục tập quán như chỉ cần làm lễ buộc chỉ cổ tay, cúng ma hay đặt tên…được xem là xác lập quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi mà không cần đăng ký trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền Bên cạnh đó, việc đăng

ký con nuôi trên thực tế còn nhiều khó khăn do cha mẹ đẻ đi làm ăn xa, nhiều trẻ bố

mẹ đã mất Tại một số địa phương, phần lớn các trường hợp nhân con nuôi chính thức theo phong tục tập quán đều không đủ điều kiện nên không thực hiện đăng ký được, một số hình thức nhận con nuôi trên danh nghĩa, hay con nuôi giả vờ thì không

Trang 34

thực sự tồn tại mối quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi trên thực tế mà chỉ là hình thức, tín ngưỡng do đó chỉ cần làm lễ theo tập tục là xong

Theo quy định của pháp luật việc đăng ký nuôi con nuôi trong nước phải đăng

ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã khi đó quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi được xác lập về mặt pháp lý, còn theo phong tục tập quán nếu muốn quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi được xác lập thì theo tập tục địa phương trong gia đình phải cử hoặc nhờ người đại diện làm nghi lễ tiếp nhận con nuôi, thực chất của nghi lễ này là gia đình muốn báo với tổ tiên, ông bà hoặc thần linh biết về sự có mặc của thành viên mới trong gia đình Qua đó cũng xin sự đồng thuận, chấp nhận và phù hộ của tổ tiên, thần linh cho phép đứa con nuôi đó sống trong gia đình được khỏe mạnh Người tiến hành làm lễ ở đây có thể là cha, mẹ ruột hoặc cha, mẹ nuôi của đứa trẻ hoặc người uy tín trong gia đình, đối với người đồng bào dân tộc thiểu số có thể nhờ già làng, trưởng thôn là một người có uy tín cao trong buôn, làng để làm lễ, nhưng vài trò của người thầy cúng vẫn là quan trọng nhất Được ví như sợi dây nối hai thế giới, như sứ giả thay lời thần linh, từ ngàn xưa bên cạnh vai trò đặc biệt quan trọng của già làng, không thể thiếu được vị trí của ông thầy cúng người có thể đem thông điệp linh thiêng tới cộng đồng

và truyền tải những lời khẩn cầu của gia đình tới thần linh

Khác với phong tục, tập quán nuôi con nuôi chỉ có “Ủy ban nhân dân cấp xã, phường thị trấn (sau dây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước”15 Trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi hoặc có

sự thỏa thuận giữa người nhận con nuôi với cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ

em được nhận làm con nuôi, thì UBND cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì UBND cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi, trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì UBND cấp xã nơi có trụ

sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi Đối với trường hợp

“Việc nuôi con nuôi đã phát sinh trên thực tế giữa công dân Việt Nam với nhau mà chưa đăng ký trước ngày 01 tháng 01 năm 2011, nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Nuôi con nuôi, thì được đăng ký kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của cha mẹ nuôi và con nuôi” 16

Như vậy có thể thấy theo quy định của pháp luật chỉ có duy nhất chủ thể có thẩm quyền tiến hành việc đăng ký nuôi con nuôi là Ủy ban nhân dân cấp xã còn theo phong tục tập quán thì có nhiều chủ thể có thể tiến hành việc xác lập quan hệ

15 Xem khoản 1, Điều 9 Luật nuôi con nuôi 2010

Trang 35

cha mẹ nuôi - con nuôi Với ý nghĩa thiêng liêng và tính chất quan trọng của các buổi

lễ giao nhận con nuôi do đó không phải chủ thể nào cũng có quyền tiến hành việc xác lập quan hệ cha mẹ nuôi - con nuôi, mà chỉ có những người được nhiều người tôn trọng, kính nể, có tiếng nói, có uy tính cao trong làng hoặc gia đình trong nhiều trường hợp còn phải có sự tham gia của thầy cúng để truyền tải những thông điệp của gia đình tới được thần linh, đó là những người có thể thay mặc gia đình tiến hành việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi

2.3 THỦ TỤC XÁC LẬP QUAN HỆ CHA MẸ NUÔI – CON NUÔI

2.3.1 Hình thức xác lập quan hệ nuôi con nuôi

Hầu hết các trường hợp nhận nuôi con nuôi là do sự thỏa thuận của đôi bên, đối với các trường hợp nhận con nuôi theo phong tục tập quán, họ thường chỉ quan niệm nếu hai bên gia đình đồng ý thì sẽ viết giấy tay ký xác nhận việc cho và nhận con nuôi, cũng có thể gia đình cha mẹ nuôi hoặc cha mẹ đẻ đứa trẻ chỉ cần tiến hành làm lễ nhận con nuôi theo phong tục tập quán địa phương mà không cần phải ký giấy xác nhận như vậy là đã chính thức xác lập mối quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi Nhưng theo quy định của pháp luật đây chỉ là điều kiện cần, nhà nước luôn khuyến khích việc nhận con nuôi theo phong tục tập quán đến đăng ký tại cơ quan nhà nước

có thẩm quyền, nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của đôi bên trong mối quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi

Do là nhận con nuôi theo phong tục nên người ta thường không quan trọng việc đến đăng ký tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà chỉ tiến hành các nghi

lễ nhận nuôi con nuôi, cũng có ít trường hợp nhận nuôi con nuôi sau khi đã làm xong các nghi lễ theo phong tục địa phương, đến đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng chỉ thường thấy trong trường hợp nhận con nuôi thực tế như con nuôi

để lập tự, con nuôi để lấy phúc…theo quy định của pháp luật trước khi tiến hành việc đăng ký giao nhận con nuôi, phải tiến hành thủ tục nộp hồ sơ và kiểm tra hồ sơ có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật hay chưa Riêng với phong tục tập quán nuôi con nuôi các bước trên được thể hiện và tiến hành dưới dạng nghi lễ, hình thức tìm kiếm hay nhận cha mẹ nuôi ở từng vùng miền dân tộc

Trong một số nghi lễ nhận con nuôi hoặc cha mẹ nuôi của người đồng bào dân tộc thiểu số, thường bắt đầu bằng nghi lễ tìm cha mẹ nuôi cho trẻ, việc tìm cha

mẹ nuôi được tiến hành qua nhiều giai đoạn khác nhau theo từng tập tục của địa phương, sau khi tìm được người làm cha mẹ nuôi thì chính thức làm lễ nhận cha mẹ nuôi theo tập tục của dân tộc Việc tìm cha mẹ nuôi này là một phần quan trọng không thể thiếu trong nghi lễ nhận cha mẹ nuôi, xuất phát từ quan niệm truyền thống nghiêng vế yếu tố tâm linh, thần thánh nhiều hơn là yếu tố xã hội tùy từng dân tộc lại được thể hiện bằng nhiều cách thức khác nhau Với dân tộc Cờ Lao người ta lấy một bắt nước đầy, góc đôi đũa lên và đặt vào một chỗ khuất trong nhà rồi khấn xin các vị thần linh cho trẻ gặp được cha mẹ nuôi, trong vòng ba ngày, vị khách đến nhà đầu

Trang 36

tiên sẽ được nhận làm bố nuôi hoặc mẹ nuôi Khi tìm được cha, mẹ nuôi cho trẻ, cha

mẹ đẻ của trẻ sẽ đổ bát nước đi, xin cha mẹ nuôi một bát gạo, một quả trứng và một ống nước để gọi hồn về nhận cha mẹ nuôi cho trẻ

Dân tộc La Chí thì tìm được người làm bố mẹ nuôi cho đứa trẻ bố mẹ đứa trẻ phải nhờ một thầy cúng “pô mè nhù” là người đại diện cho người trần liên hệ với giới thần linh trong cộng đồng sẽ mách bảo cho bố mẹ đến một gia đình nào đó trong dòng họ, trong làng xin một bát gạo mang về nấu cháo cho đứa trẻ ăn Sau khi ăn cháo, đứa trẻ không còn hờn dỗi, khóc lóc hay đau ốm như trước thì bố mẹ đứa trẻ sẽ chọn một ngày tốt địu đứa trẻ, đồng thời mang một con gà, một bộ quần áo, một sợi chỉ màu để nhận gia đình nhà đó làm thông gia

Người dân tộc Mông từ bao đời nay có tục nhận cha mẹ nuôi cho trẻ, người được thầy cúng nhờ làm cha mẹ nuôi sẽ đợi thời cơ khi bố mẹ đứa trẻ vắng nhà sang

bế đứa trẻ về nhà nuôi hai, ba ngày Đến khi bố mẹ đứa trẻ về thấy mất con cả gia đình đi tìm, khóc than thể hiện sự mất mát, nhớ thương của cha mẹ với con cái Theo phong tục của người Mông, mặc dù là khóc giã nhưng bố mẹ phải khóc càng to càng tốt với ý nghĩa tiếng khóc đau thương của bố mẹ báo hiệu cho các loại ma biết là đứa trẻ đã bị người khác bắt đi và khi nghe thấy tiếng khóc thất thanh của bố mẹ, các con

ma dữ sẽ bỏ đi không về làm hại đứa trẻ nữa Ba ngày sau, bố mẹ nuôi sẽ thông báo cho bố mẹ đẻ biết để mang lễ vật đến xin con về Hoặc Đối với nghi lễ nhận cha mẹ nuôi cho đứa trẻ của người Mông được tiến hành qua các nghi thức sau, theo hướng dẫn của thầy mo, gia đình chọn trước một con suối, cái lạch hoặc con mương nhỏ, chiều ngang càng hẹp càng tốt, ở ngay ngã ba, đường chính vào bản Sau đó làm một cái cầu tượng trưng bắc qua suối, lạch, mương đã chọn Sau khi làm lễ vào tối hôm trước hoặc sáng sớm hôm sau, thầy mo hoặc bố mẹ đứa trẻ mang sẵn xôi thịt, bát đĩa, chén, mấy tấm giấy bản, một quả trứng sống, vòng hương và một chai nước sạch, mấy sợi chỉ vàng, thường là sợi ngũ sắc, đứng chờ sẵn ở ngã ba đường đã chọn Ai là người gặp đầu tiên sẽ được mời làm bố mẹ nuôi của đứa trẻ thầy mo hoặc bố gặp gỡ người mới gặp, trình bày ý định của mình và hướng dẫn người đó làm các thủ tục theo quy định riêng của địa phương Tập tục một số địa phương không tiến hành nghi lễ tìm cha mẹ nuôi, mà tùy theo ý nguyện của cha mẹ đẻ hoặc người muốn nhận con nuôi mà họ sẽ xem xét những điều kiện cần thiết để tiến hành việc nhận con nuôi Trường hợp tiến hành nghi thức tìm người thích hợp để làm cha mẹ nuôi cho trẻ trước khi làm nghi lễ nhận cha mẹ nuôi chính thức thường chỉ thấy xuất hiện nhiều trong cộng đồng người dân tộc thiểu số

Theo luật nuôi con nuôi 2010 quy định người muốn nhận nuôi con nuôi trước tiên phải tiến hành thủ tục nộp hồ sơ của mình và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú17 Điều 17 luật nuôi con nuôi

Trang 37

quy định hồ sơ của người nhận con nuôi gồm có: Đơn xin nhận con nuôi, bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế, phiếu lý lịch tư pháp, văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi theo điều 18 luật nuôi con nuôi gồm có: Giấy khai sinh, giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp, quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ

sở nuôi dưỡng

Trường hợp người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi không thuộc diện quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi và không cùng thường trú tại một địa bàn xã, thì việc xác nhận về hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ

ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi được hướng dẫn tại Điều 7 Nghị định

số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/03/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật nuôi con nuôi18 Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ19 Sau khi đã nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định của pháp luật Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra

hồ sơ, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP hướng dẫn việc lập ý kiến của những người quy định tại Điều 21 của Luật nuôi con nuôi là do công chức tư pháp – hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi trực tiếp thực hiện Trường hợp người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó thường trú nhưng không phải là nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi, thì việc lấy ý kiến của những người liên quan về việc nuôi con nuôi được thực hiện theo khoản 2 Điều 8 Nghị định số 19/2011/NĐ-

CP20 Việc lấy ý kiến phải lập thành văn bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến

Có thể thấy hình thức xác lập quan hệ nuôi con nuôi theo phong tục tập quán thường do cha mẹ đứa trẻ, thầy cúng hoặc cha mẹ nuôi tiến hành dưới dạng các nghi

lễ, hình thức còn mang nặng yếu tố tâm linh, thần thánh theo quan niệm truyền thống được truyền từ đời này sang đời khác, có khi là sự giao kết bằng miệng hoặc giấy viết tay thỏa thuận giữa cha mẹ đứa trẻ với người nhận nuôi Các hình thức này rất

đa dạng và phong phú chủ yếu là theo phong tục tập quán địa phương nhưng vẫn còn gói gọn ở phạm vi gia đình Khác với phong tục tập quán nuôi con nuôi, hình thức xác lập quan hệ nuôi con nuôi theo quy định pháp luật có phạm vi điều chỉnh rộng, không chỉ đơn giản là việc tiến hành các nghi lễ, tập tục địa phương như ở phong tục tập quán mà phải qua các bước nộp hồ sơ, kiểm tra và lấy ý kiến của những người liên quan So với phong tục tập quán các quy định này nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của đứa trẻ được cho làm con nuôi, loại trừ được những trường hợp nhận con nuôi không không đúng mục đích và không phù hợp với quy định của pháp luật

18 Xem Điều 7 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP

19 Xem Điều 19 Luật nuôi con nuôi 2010

20 Xem Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP

Trang 38

2.3.2 Việc giao nhận con nuôi theo phong tục tập quán

Việc tiến hành giao nhận con nuôi là bước cuối cùng và cũng là bước quan trọng để chính thức xác lập mối quan hệ cha mẹ con theo quy định của pháp luật Riêng đối với phong tục tập quán nhận con nuôi, việc tiến hành các thủ tục giao nhận con nuôi được thể hiện dưới những nghi lễ, tập tục riêng của từng vùng miền địa phương và dân tộc, không nơi nào giống nơi nào do đó đã tạo được nhiều nét văn hóa riêng đồng thời cũng là nét đẹp dân tộc ở nơi đó Một số nơi sau khi tiến hành xong nghi lễ tìm cha mẹ nuôi cho đứa trẻ thì bắt đầu tiến hành nghi lễ giao nhận con nuôi Việc nhận con nuôi có thể không cần phải tiến hành qua bước làm nghi lễ tìm cha mẹ nuôi cho trẻ, khi đã đủ điều kiện nhận con nuôi theo phong tục, gia đình sẽ tiến hành luôn lễ giao nhận con nuôi khi đó giữa cha mẹ nuôi và con nuôi sẽ chính thức xác lập quan hệ cha mẹ con làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa hai bên

Lễ nhận con nuôi của người Kinh được tiến hành khá đơn giản, không cầu kỳ phức tạp như đối với các vùng dân tộc thiểu số Một số nơi như làng Đại Từ ở Hoàng Mai, Hà Nội vốn nổi tiếng có truyền thống nhận con nuôi bắt nguồn từ tục xưa, gia đình nào có con muốn đem đến nhờ nuôi thủ tục rất đơn giản chỉ cần mang cơi trầu lạng thuốc đến nói chuyện, kèm theo một chút quà nhỏ Một số nhận làm cha mẹ đỡ đầu cho con nuôi, không phải ở hẳn bên cha mẹ nuôi, khi sinh nở xong họ thường mang chai rượu, cơi trầu đến nhà bố mẹ nuôi làm lễ gia tiên xin cho con mình ghé cửa nương nhờ, sau đó mời bố mẹ nuôi đến nhà xem mặt đứa trẻ và nhường quyền đặt tên con cho bố nuôi21 Một số nơi khác thì họ thường viết giấy tay xác nhận việc cho và nhận con nuôi, sau đó bên gia đình nhận nuôi chọn một ngày tốt tiến hành làm lễ cúng tổ tiên, các vị thần linh trong nhà, mâm lễ lớn hay nhỏ tùy theo điều kiện của từng gia đình, lễ vật dâng cúng cũng khác nhau có khi là chai rượu, con gà, trầu cau, một ít bánh trái…người đại diện trong gia đình tiến hành việc khấn vái xin tổ tiên, mời ông bà về chứng giám cho việc chấp nhận đứa con mới trong gia đình và cầu mong đứa trẻ được khỏe mạnh, trong lễ có sự tham dự của bà con dòng họ, sau khi cúng xong thì mọi người cùng nhau quay quần ăn uống vui vẻ

Với dân tộc Mông sau khi đã tìm bố mẹ nuôi cho đứa trẻ bố mẹ đứa trẻ cầm mấy sợi ngũ sắc bắc qua chiếc cầu tượng trưng rồi cầm quả trứng lắc đi lắc lại Thầy cúng hoặc bố đứa trẻ thắp hương rồi vẩy rượu lên cầu Sau đó vừa đốt giấy bản vừa cầu khấn thần linh, cuối cùng đứng thẳng thả quả trứng rơi xuống22 Sau thủ tục trên, gia chủ mời mọi người xé thịt gà, ăn xôi, uống rượu mừng đứa trẻ ngay bên cạnh nơi hành lễ, sau đó, bố mẹ đỡ đầu được mời về nhà để thực hiện các thủ tục tiếp theo Lễ nhận con nuôi của người Mông thường được tổ chức vào ngày Mão, ngày Sửu, ngày

21 Cuộc sống Việt: Đại Từ-Làng truyền thống nhận con nuôi, http://www.cuocsongviet.com.vn/index.asp?act=

detail &mabv=8953&/Dai-Tu-lang-truyen-thong-nhan-con-nuoi.csv, [ngày truy cập 15-2-2013]

22 Duy Chiến: Tục nhận cha mẹ nuôi cho trẻ của người Mông ở Sa Pa, tiet/tuc-nhan-cha-me-nuoi-cho-tre-cua-nguoi-mong-sa-pa-4719.html, [ngày truy cập 15/2/2013]

Trang 39

http://tindulich.vn/phong-tuc/chi-Thìn như vậy sau này đứa trẻ sẽ mới gặp được nhiều may mắn Địa điểm cúng có thể

tổ chức ngay tại nhà thầy cúng hoặc nhà bố mẹ nuôi hay ở ngoài nhà Kết thúc lễ cúng, thầy cúng mang chiếc áo đã khâu sẵn mang ra cho đứa trẻ mặc thể hiện sự tinh khiết, không có con ma xấu nào có thể làm hại đứa trẻ được, đồng thời lấy một chiếc bát và một chiếc thìa trao cho bé trai, một chiếc bát và một đôi đũa cho bé gái, mang

về ăn cơm với ý nghĩa đôi đũa sẽ tiếp thêm sức mạnh cho trẻ sống khoẻ khi ở bên nhà chồng Còn là con trai khi lớn lên lấy vợ thì vẫn ở nhà của mình và họ thường khỏe mạnh, nên thầy cúng cho chiếc thìa để ăn cơm Sau đó, thầy cúng sẽ đặt cho đứa trẻ một cái tên khác với ý nghĩa tên mới sẽ giúp cho đứa trẻ luôn khỏe mạnh, may mắn, rồi mọi người cùng ngồi vào mâm ăn uống vui vẻ Tham dự lễ nhận bố mẹ nuôi thường có một số người thân trong nội tộc, đặc biệt là chú bác của đứa trẻ Khi đứa trẻ đã trưởng thành những ngày làm lễ cưới hỏi phải có sự chứng kiến của bố mẹ nuôi Tuy cùng chung một làng nhưng nghi lễ nhận con nuôi của các dòng họ không giống nhau ở một số nơi thầy cúng lén gửi đứa trẻ ở một gia đình nào đó trong làng

mà không cha mẹ biết trước, ba ngày sau, bố mẹ nuôi sẽ thông báo cho bố mẹ đẻ biết

để mang lễ vật đến xin con về Lễ vật gồm một đôi gà (một trống, một mái), một lít rượu mang sang nhà bố mẹ nuôi để làm lễ xin con về Thầy cúng sẽ giúp gia đình gọi hồn đứa trẻ nhập vào gia đình của bố mẹ nuôi và từ đó đứa trẻ được đổi tên, đổi họ theo họ của cha mẹ nuôi, hàng năm vào ngày lễ tết, con nuôi đều phải mang lễ vật đến tạ ơn cha mẹ nuôi Sau ba năm, đứa trẻ khỏe mạnh hoàn toàn, bố mẹ đẻ của trẻ

sẽ mang đôi gà, hoặc lợn, vàng hương, giấy bản, quần áo để làm lễ tạ ơn cha mẹ nuôi Cha mẹ nuôi sẽ khâu một chiếc mũ có đính các vòng bạc tặng lại cho đứa trẻ với ý nghĩa để bảo vệ linh hồn cho con nuôi luôn được khỏe mạnh

Người Chăm H’roi có lễ ăn heo ký (hay còn gọi là Quai: Bưng P’pui ký) theo thông lệ sẽ tiến hành nhận cha mẹ nuôi bằng cách làm phép và nhờ một người thân thuộc với mình cha mẹ nuôi cho trẻ, sau nghi thức buộc chỉ lên cổ tay đứa trẻ nếu sợi chỉ không bị đứt thì có nghĩa là đứa trẻ đã nhận Lúc đó, họ sẽ mời Yàng đến chứng giám lễ nhận cha mẹ nuôi Trước đó, gia đình chọn một con heo đực ký gửi với ba nuôi, mẹ nuôi (hay còn gọi là ma pzo, mj pzo) Thời gian ký gửi thường là 3 năm nhưng cũng có thể sớm hơn hoặc muộn hơn vì còn tùy vào con heo sống hay chết Trước ngày tổ chức lễ, cha mẹ ruột đứa trẻ phải đi tết và ở lại nhà ba, mẹ nuôi một đêm Khi ấy, ba mẹ nuôi của đứa trẻ cũng chuẩn bị một bộ quần áo mới, một cái nồi đồng để làm quà tặng cho con Thông thường nghi lễ được tổ chức vào đêm trăng sáng, khi đứa trẻ đã được 16 tuổi, lễ vật gồm có: 3 ghè rượu, một con heo, một cái khót (giống như cái chén, thường làm bằng đồng), một cái nồi đồng, một bộ đồ mới, một sợi dây cườm…Đến giờ hành lễ, thầy cúng (tiếng Chăm H’roi gọi là: Oi quai) vừa khấn vừa vãi gạo với ngụ ý: kêu gọi thần linh về chứng giám Lời khấn có nội

dung như sau: “Ơi Yàng, ơi Mẹ Phương Mẫu! Hãy về đây chứng giám công ơn sinh

đẻ chín tháng mười ngày, được thần linh phù hộ, chở che Nay con trai của chúng tôi

Trang 40

đã khỏe mạnh, to lớn như trái núi sừng sững, mạnh như con suối chảy xiết, bay cao như con chim Ktang vỗ cánh…” 23

Sau lời cúng, Oi quai sẽ tung 2 đồng tiền để xin keo Nếu 2 đồng tiền có mặt

âm và dương thì có nghĩa là Yàng đã đồng ý Nếu 2 đồng tiền có cùng mặt âm hoặc mặt dương thì có nghĩa là chưa đồng ý, phải làm lại Sau đó, Oi quai cầm lấy con dao

đã được đặt lên đầu con heo, cắt 2 miếng thịt rồi đưa cho ba, mẹ nuôi và đứa trẻ ăn Sau đó Oi quai lấy sợi dây màu đỏ buộc vào tay ba mẹ nuôi và đứa trẻ, sau đó họ cùng nhau bưng lễ vật đi vào trong nhà để nấu chín con heo đó Điều này có nghĩa rằng: tình thân luôn được gắn kết lâu dài, đồng thời cầu sự may mắn Tiếp theo Oi quai lại làm phép xin keo Khi xin keo, Oi quai bước đến án cúng lấy sợi chỉ bông buộc lên đầu con heo rồi giăng chỉ lên đầu của mẹ nuôi và đứa trẻ Oi quai lại lấy đèn sáp ong đốt từng đoạn chỉ đã giăng Động tác này có ý nghĩa nói tới ân đức của người mẹ nuôi Nếu sợi chỉ cháy thì ân đức tốt, nếu sợi chỉ không cháy thì có ý nghĩa ngược lại Ngày nay nghi lễ của người Chăm H’roi đã giản đơn và tiết kiệm hơn để phù hợp với cuộc sống hiện tại, nhưng vẫn không mất đi ý nghĩa tốt đẹp và nét văn hóa dân gian vốn có của nó

Để tìm người làm bố mẹ nuôi cho đứa trẻ, người La Chí bố thường nhờ một thầy cúng “pô mè nhù” là người đại diện cho người trần liên hệ với giới thần linh trong cộng đồng sẽ mách bảo cho bố mẹ đến một gia đình nào đó trong dòng họ, trong làng xin một bát gạo mang về nấu cháo cho đứa trẻ ăn Sau khi ăn cháo, đứa trẻ không còn hờn dỗi, khóc lóc hay đau ốm như trước thì bố mẹ đứa trẻ sẽ chọn một ngày tốt địu đứa trẻ, đồng thời mang một con gà, một bộ quần áo, một sợi chỉ màu để nhận gia đình nhà đó làm thông gia24 Khi đến gia đình, bố mẹ đứa trẻ trình bày lý do

từ khi gia đình xin bát gạo về nấu cháo cho con, thấy hợp với cơm gạo nhà mình, không còn khóc, ốm đau như trước, hôm nay sang nhận làm bố mẹ nuôi cho cháu Sau đó chủ nhà mang gà đi mổ, luộc chín đặt lên mâm cúng báo cáo tổ tiên là từ nay gia đình có thêm một thành viên mới Rồi bố mẹ nuôi đứa trẻ lấy sợi chỉ màu buộc vào cổ tay đứa trẻ với ý nghĩa để giữ hồn không cho đi lang thang và mọi người cùng

ăn uống vui vẻ Rồi gia đình hẹn ngày đưa con, cùng lễ vật sang gia đình làm lễ chính thức vái nhận làm cha mẹ nuôi cho con mình

Dân tộc Ba Na vốn có truyền thống thương người từ lâu đã có tục kết nghĩa làm cha con hay mẹ con, còn được gọi là Lễ bú vú hay là Lễ uống mừng trở thành cha con, mẹ con Để được người kia đồng ý kết nghĩa với mình, họ phải nhờ người

có uy tín hỏi ý kiến trước Nếu người kia đồng ý thì họ sẽ tiến hành chuẩn bị làm Lễ uống mừng, trong lễ này bắt buộc phải có heo, gà và rượu Đối với lễ nhận làm cha con, mẹ con thì người con sẽ mang lễ vật đến nhà cha, mẹ để làm lễ trong sự chứng

23

Tin du lịch: Lễ ăn heo ký của người Chăm H’roi, Báo điện tử Báo mới, 2011,

http://www.baomoi.com/Le-an heo-ky-cua-nguoi-Cham-Hroi/54/6701009.epi, [ngày truy cập 18-2-2013]

24 Duy Chiến: Tục nhận cha mẹ nuôi của người La Chí, Báo điện tử Người lao động, 2011, http://nld.com.vn/

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w