Trong số đó, vấn đề về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp đang là vấn đề không chỉ được cơ quan quản lý mà cả hàng triệu cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất trên cả nước đặc biệt quan tâm bởi
Trang 1Cần Thơ, Năm 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN LUẬT (Niên khóa 2009-2013)
Đề tài:
PHÁP LUẬT VỀ THỜI HẠN GIAO ĐẤT
NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THỊ THANH XUÂN LÊ ANH VŨ
Bộ môn Luật Hành chính MSSV: 5095585
Trang 2
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích và phương pháp nghiên cứu 6
3 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THỜI HẠN GIAO ĐẤT NÔNG NGHIỆP CHO HỘ GIA ĐÌNH CÁ NHÂN 9
1.1 Một số khái niệm về đất nông nghiệp, thời hạn giao đất nông nghiệp, hộ gia đình, cá nhân 9
1.1.1 Khái quát về hộ gia đình, cá nhân 9
1.1.2 Khái niệm đất nông nghiệp 11
1.1.3 Khái quát về giao đất 12
1.1.4 Những quy định về thời hạn giao đất trước khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực 15
1.2 Những quy định của pháp luật hiện hành về thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân 16
1.2.1 Thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân 16
1.2.2 Quy định thời hạn sử dụng đất trong một số trường hợp cụ thể 19
1.2.2.1 Thời hạn sử dụng đất trong trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất 19
1.2.2.2 Thời hạn sử dụng đất khi nhận chuyển quyền sử dụng đất đối với các loại đất nông nghiệp 21
1.2.3 Gia hạn thời hạn sử dụng đất đối với đất nông nghiệp sử dụng có thời hạn 23
CHƯƠNG 2 NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỜI HẠN GIAO ĐẤT NÔNG NGHIỆP CHO HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN 26
2.1 Những bất cập trong các quy định của pháp luật về thời hạn giao đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân 27
2.1.1 Về vấn đề thời hạn giao đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân 27
2.1.2 Đối với đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất được giao cho hộ gia đình, cá nhân 31
2.1.3 Gia hạn thời hạn sử dụng đất 31
Trang 42.2 Hướng hoàn thiện pháp luật về thời hạn giao đất nông nghiệp đối với
hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật đất đai năm 2003 35
2.2.1 Các đề xuất về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia
đình, cá nhân 35 2.2.2 Những đề xuất về quy định gia hạn thời hạn sử dụng đất nông
nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân 38
KẾT LUẬN 41
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
tế Nước ta có nền nông nghiệp truyền thống với hơn 70% dân số sống bằng nghề nông, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới với kim ngạch hàng tỉ USD mỗi năm Ngành nông nghiệp cung cấp nguyên, vật liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp Nói đến nông nghiệp không thể không kể đến nguồn lực quan trọng, quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm đó là đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, điều đó đã được quy định rất rõ trong Hiến pháp1
- văn bản có giá trị cao nhất trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
Trước khi có Luật đất đai 1987, Nhà nước quản lý việc sử dụng đất đai hoàn toàn bằng các chính sách đất đai, khi có Luật đất đai 1987 ra đời nhưng do trong thời kỳ đầu đổi mới có rất nhiều những quan hệ pháp luật mới nảy sinh trong đó có quan hệ pháp luật đất đai, mặt khác có những quy định không còn phù hợp với thời cuộc, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi luật Do đó Luật đất đai 1993 và sau đó là Luật đất đai 2003 được ban hành với rất nhiều cái mới so với luật cũ như mở rộng các đối tượng được hưởng quyền sở hữu đất đai, cho phép người dân được chuyển quyền sử dụng đất, thế chấp quyền sử dụng đất và một số quy định về thời hạn sử dụng, giải quyết tranh chấp đất đai
Qua gần 10 năm áp dụng luật đất đai 2003 đã có những đóng góp to lớn trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả, bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế do những quy định không còn phù hợp với sự phát triển của xã hội như: thời hạn sử dụng đất nông nghiệp ngắn; hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất giới hạn dẫn đến đầu tư manh mún, nhiều trường hợp cần tích tụ đất đai đã nhờ
1 Điều 17 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001
Trang 6người thân đứng tên hộ nên dễ xảy ra tranh chấp, khiếu kiện; thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai còn rườm rà, kéo dài hàng chục năm gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống nhân dân Mặt khác các vấn đề về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư được hướng dẫn thực hiện bởi nhiều văn bản gây khó khăn cho cơ quan hành chính và thường xảy ra tiêu cực; các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật đất đai quá nhiều với gần 400 văn bản và chồng chéo mâu thuẫn lẫn nhau gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý lẫn người sử dụng đất Trong số đó, vấn đề về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp đang là vấn
đề không chỉ được cơ quan quản lý mà cả hàng triệu cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất trên cả nước đặc biệt quan tâm bởi lẽ thời điểm 15/10/2013 tới đây với quy định thời hạn sử dụng cho loại đất nông nghiệp thấp nhất là hai mươi năm thì hàng chục triệu thửa đất được Nhà nước giao từ năm 1993 sẽ hết thời hạn sử dụng
Trước hai câu hỏi “tiếp tục gia hạn quyền sử dụng đất” hay “thu hồi và tiến
hành chia lại đất đai” cơ quan quản lý đất đai hiện tại vẫn chưa có giải pháp
thiết thực trong khi hàng triệu người dân thấp thỏm, không dám đầu tư quy mô, lâu dài vào đất đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền nông nghiệp nước nhà Trong khi các quy định của luật về vấn đề gia hạn và xét duyệt còn nhiều thiếu sót dễ dẫn đến tiêu cực đã đặt ra vấn đề sửa đổi quy định về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp của cá nhân, hộ gia đình trong Luật đất đai 2003 Xuất thân từ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, người viết cũng có những băn khoăn và thấy rằng cần phải có những giải pháp hoàn thiện quy định về thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân Do đó với học phần Luận văn tốt nghiệp
người viết đã chọn Đề tài: “Thời hạn giao đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật đất đai năm 2003” nhằm đưa ra một số
ý kiến đề xuất góp phần giúp hoàn thiện được một số vướng mắc của pháp luật đất đai mà chủ yếu là thời hạn giao đất
2 Mục đích và phương pháp nghiên cứu
Tìm hiểu những quy định của pháp luật Đất đai về thời hạn giao đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân nhằm đưa ra những nhận xét, đánh giá về những mặt tích cực và những hạn chế Trên cơ sở những phân tích đánh giá đó nhằm đưa ra những đề xuất của người viết nhằm góp phần hoàn thiện quy định
về thời hạn giao đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân
Trang 7Đối chiếu những nhận xét, đánh giá, những đề xuất với các hoạt động giao đất nông nghiệp, quản lý đất đai của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai trong thực tế
Những đề xuất, kiến nghị là chính kiến của người viết và phù hợp với thực
tế đối với hiện trạng pháp luật trong nước, đảm bảo tính khả thi
Để thực hiên nghiên cứu đề tài “Thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia
đình, cá nhân theo quy định của Luật đất đai 2003”, người viết quan tâm tìm
hiểu các quy định của pháp luật về Đất đai và các quy định liên quan Từ những quy định của pháp luật người viết có những nhận xét đánh giá nhằm đưa ra những đề xuất có thể áp dụng trong thực tiễn Trong phạm vi kiến thức, điều kiện và thời gian có hạn của mình người viết chọn những phương pháp phân tích luật viết, phương pháp liệt kê, phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu nghiên cứu của các luật gia, các văn bản pháp luật liên quan, các giáo trình, quan điểm của những người nghiên cứu và áp dụng pháp luật trong lĩnh vực đất đai
3 Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn cũng như những hạn chế trong việc thu thập các tài liệu liên quan và khả năng có hạn của người viết nên đề tài chủ yếu nghiên cứu về lý luận về vấn đề thời hạn giao đất nông nghiệp đối với hộ gia đình và cá nhân trong nước theo quy định của luật đất đai 2003
4 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài “Thời hạn giao
đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật đất đai 2003” người viết cấu trúc luận văn thành hai chương như sau:
Chương 1: Khái quát về thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
Chương 2: Những hạn chế và hướng hoàn thiện pháp luật về thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
Sinh viên thực hiện
Lê Anh Vũ
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THỜI HẠN GIAO ĐẤT NÔNG NGHIỆP
CHO HỘ GIA ĐÌNH CÁ NHÂN 1.1 Một số khái niệm về đất nông nghiệp, thời hạn giao đất nông nghiệp, hộ gia đình, cá nhân
1.1.1 Khái quát về hộ gia đình, cá nhân
Hộ gia đình là một chủ thể đặc biệt trong Bộ luật dân sự năm 2005, tại
Điều 106 quy định: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung cùng đóng
góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” Như vậy theo định nghĩa
của luật chủ thể hộ gia đình có nhiều thành viên và có tài sản chung cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế
Quy định hộ gia đình là “các thành viên có tài sản chung cùng đóng góp
công sức để hoạt động kinh tế chung” những dấu hiệu này có thể làm người đọc
nhầm lẫn với một số chủ thể khác của Bộ luật dân sự như tổ hợp tác vì chủ thể
này cũng có dấu hiệu tương tự “đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những
công việc nhất định”
Ngoài ra theo định nghĩa của Luật Hôn nhân và Gia đình thì: “Gia đình là
tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc
do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này” 2
Định nghĩa gia đình theo quy định này chỉ bao
gồm “tập hợp người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do
quan hệ nuôi dưỡng” giữa các thành viên với nhau Gia đình được xây dựng trên
nền tảng của “hôn nhân”, “huyết thống” và “quan hệ nuôi dưỡng”
Hôn nhân là mối quan hệ giữa chồng và vợ với nhau về mặt tình cảm, hôn
nhân là kết quả hoàn hảo tình yêu trai gái và được đánh dấu về mặt xã hội bằng
lễ cưới Theo quy định pháp luật hiện hành quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ chỉ được pháp luật thừa nhận khi có đăng ký kết hôn Hôn nhân là khởi điểm của một gia đình, từ quan hệ hôn nhân mà sinh ra con cái - quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng Nước ta trước đây và một số quốc gia hiện nay vẫn thừa nhận hôn nhân đa thê, chế độ hôn nhân mà người chồng có thể có nhiều vợ Hiện nay sự bình đẳng giới được nâng cao hơn và nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ
và trẻ em, Luật Hôn nhân và Gia đình nước ta hôn nhân được gọi là hợp pháp nếu không vi phạm vào các điều kiện và trường hợp cấm kết hôn của Luật Hôn
2 khoản 10 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
Trang 10nhân và Gia đình3
bao gồm thừa nhận chế độ hôn nhân một vợ một chồng; giữa những người có năng lực hành vi dân sự; không cùng dòng máu trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời và những người cùng giới tính
Quan hệ huyết thống, theo Từ điển Tiếng Việt huyết thống nghĩa là cùng
dòng máu trong một họ bao gồm: ông bà; giữa cha, mẹ và các anh chị của cha,
mẹ; giữa anh chị em cùng cha mẹ và các anh chị em con cô, con chú, con bác, con dì, con cậu với nhau
Quan hệ nuôi dƣỡng là những mối liên kết giữa những người không cùng
huyết thống, giữa họ chỉ có những ràng buộc với nhau về mặt xã hội, kinh tế như: cha mẹ chồng và con dâu, cha mẹ vợ và con rể, cha mẹ nuôi và con nuôi, con riêng của vợ và bố dượng, con riêng của chồng và mẹ kế,…giữa những người này tuy không có quan hệ với nhau về mặt huyết thống nhưng luật pháp vẫn có những hạn chế về điều kiện kết hôn nhất định.4
Trước kia do tập quán canh tác cần nhiều sức lao động như làm thủy lợi, khai hoang, săn bắt nên những người có cùng huyết thống sống quây quần bên nhau, làm chung ăn chung, các gia đình thường sở hữu rất nhiều tài sản, trâu bò, ruộng đất, nhà cửa Khi con cái đến tuổi lập gia đình thường sống cùng cha mẹ, ông bà tạo nên một đại gia đình hoặc ra sống riêng tạo thành một gia đình mới Quy mô của gia đình phụ thuộc vào các thế hệ trong đó mà được chia ra thành: gia đình hai thế hệ, gia đình ba thế hệ (tam đại đồng đường), gia đình bốn thế hệ (tứ đại đồng đường) Ngày nay hộ gia đình không chỉ là chủ thể của xã hội mà còn là một chủ thể của pháp luật các Bộ luật dân sự quy định năng lực của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự thông qua người đại diện của hộ gia đình gọi
là chủ hộ Điều 107 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Chủ hộ đại diện các
thành viên thực hiện các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ; Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự; Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình”
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, nhiều gia đình tạo nên xã hội Trong khi
đó Hộ gia đình là chủ thể của pháp luật được quy định rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật Tên gọi, bản chất có khác nhau nhưng về hình thức giữa hai
3
Điều 9 Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
4 Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000
Trang 11khái niệm “Gia đình” và “Hộ gia đình” thể hiện giống nhau, họ cùng là một
cộng đồng người nhỏ, sống quây quần cùng nhau có tài sản chung và cùng nhau thực hiện các hoạt động kinh tế
Cá nhân là thuật ngữ dùng để chỉ từng người thường được dùng trong các
lĩnh vực kinh tế, pháp lý Hiện nay ở nước ta vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa một cách cụ thể về cá nhân Cá nhân là chủ thể chính của một số ngành luật: Dân sự, Hình sự, Hôn nhân và Gia đình Ở một số quốc gia như Hoa
Kỳ, Trung Quốc cá nhân còn được gọi là thể nhân
Năng lực chủ thể của cá nhân bao gồm: năng lực pháp luật và năng lực hành vi Năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng của cá nhân có các quyền
và nghĩa vụ từ khi sinh ra đến khi mất đi, năng lực pháp luật của các cá nhân là như nhau Năng lực hành vi của cá nhân là khả năng mà cá nhân bằng hành vi của mình xác lập các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, năng lực hành vi phụ thuộc vào độ tuổi và khả năng không mắc các bệnh về nhận thức, làm chủ hành vi của cá nhân Ở mỗi ngành luật có yêu cầu về năng lực hành vi của cá nhân là khác nhau
1.1.2 Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí
nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác5
Phân loại đất nông nghiệp 6
: Đất trồng cây hằng năm: là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian từ
khi gieo trồng, sinh trưởng đến khi thu hoạch không quá một năm bao gồm đất trồng lúa nước, lúa nương, đất cỏ dùng vào hoạt động chăn nuôi gia súc, hoặc trồng hoa màu và các loại cây hằng năm khác
Đất trồng cây lâu năm: là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian sinh
trưởng trên một năm từ khi gieo trồng đến nơi thu hoạch kể cả cây sinh trưởng như cây hằng năm nhưng cho thu hoạch nhiều năm: thanh long, dứa, nho,… và
5
Tiểu mục 2.2 Mục 2 Phần II Thông tư 28/2004 Bộ Tài nguyên &MT, Về việc thực hiện hướng dẫn thống
kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất
6 Khoản 1 Điều 13 Luật đất đai năm 2003
Trang 12bao gồm cả đất trồng các loại cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác
Đất rừng sản xuất là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo
quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản xuất, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất, đất trồng rừng sản xuất
Đất rừng phòng hộ là đất để sử dụng vào mục đích phòng hộ đầu nguồn,
bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái, chắn gió, chắn cát, chắn sóng ven biển theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên phòng hộ, đất có rừng trồng phòng hộ, đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ, đất trồng rừng phòng hộ
Đất rừng đặc dụng là đất để sử dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm
khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, vườn rừng quốc gia, bảo vệ
di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, bảo vệ môi trường sinh thái theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên đặc dụng, đất có rừng trồng đặc dụng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng, đất trồng rừng đặc dụng
Đất nuôi trồng thuỷ sản là đất (mặt nước) được sử dụng chuyên vào mục
đích nuôi, trồng thuỷ sản; bao gồm đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt
Đất làm muối là diện tích đất được sử dụng vào mục đích sản xuất muối Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ
1.1.3 Khái quát về giao đất
Giao đất là hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước trao quyền sử
dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất7
Có thể thấy giao đất là một hành vi pháp lý hành chính giữa các chủ thể là Nhà nước
mà đại diện là Ủy ban nhân dân và chủ thể sử dụng đất
Giao đất là một hoạt động có từ rất lâu đời, lịch sử cho thấy thời Văn Lang – Âu Lạc đã có những trường hợp chia ruộng đất công của làng xã, chiềng chạ Đến giai đoạn các triều đại phong kiến tập quyền Lí – Trần chế độ ban cấp ruộng đất, lộc điền cho công hầu, quý tộc hay chính sách quân điền của thời Lê sơ
7 Khoản 1 Điều 4 Luật đất đai năm 2003
Trang 13Ngoài ra còn có các Hương ước phân chia ruộng đất làng xã thời nhà Nguyễn cũng có thể được xem như một hoạt động giao đất ở địa phương, tuy không phổ biến và phân chia không đồng đều giữa những tầng lớp cũng như giữa các làng với nhau
Đến trước Cách mạng tháng 8/1945 vấn đề chia lại ruộng đất giao cho dân cày nghèo đã được đề cập trong các bản Luận cương từ khi Đảng ta mới thành lập, sau Cách mạng và đặc biệt từ Hội nghị trung ương Đảng mở rộng năm 1948
quyết định “đem ruộng đất và tài sản của bọn phản quốc tạm cấp cho dân cày
nghèo hoặc giao cho bộ đội cày cấy để tự cấp phần nào”8 Chia lại công điền cho hợp lí và công bằng hơn Đem ruộng đất đồn điền của địch cấp cho dân nghèo, chấn chỉnh các đồn điền do chính phủ quản lí” Các đợt cải cách ruộng đất từ năm 1953-1956 cũng góp phần phân phối lại sở hữu ruộng đất trong các tầng lớp nhân dân thực hiện đúng theo khẩu hiệu “người cày có ruộng” Tuy nhiên đất đai được giao trong giai đoạn này cũng chưa được triệt để, một số trường hợp người sử dụng đất chỉ được giao tạm thời và bị hạn chế một số quyền như không được chuyển nhượng, cầm cố hoặc bỏ hoang hóa, đất đai sau khi được chia vể mặt danh nghĩa thuộc quyền sử dụng của nông dân nhưng thực tế đều được đưa vào các Hợp tác xã nông nghiệp và thực hiện theo chế độ công điểm, đất đai vẫn nằm ở chế độ sở hữu tập thể Quá trình này kéo dài đến khi Đổi mới đất nước các chế độ “khoán 100”, “khoán 10” và đặc biệt từ khi Luật Đất đai 1987 ra đời đã từng bước giải phóng chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất, đất đai được giao lại cho nông dân thực hiện sản xuất, Nhà nước chỉ quản lý và tiến hành thực hiện chính sách thuế khóa đối với đất đai Qua các Luật Đất đai
1993 (sửa đổi bổ sung ở các năm 1998, 2001) Luật Đất đai 2003 (sửa đổi năm 2009) và hiện nay dự thảo Luật đất đai 2013 sắp được Quốc hội quyết định lấy ý kiến toàn dân trước khi được thông qua Qua các đạo luật này cho thấy Nhà nước ngày càng quan tâm đến chính sách pháp luật đất đai Về nền tảng đất đai là sở hữu toàn dân đã được quy định rõ trong Hiến pháp, Nhà nước cũng không thừa nhận việc đòi lại đất đai đã được giao trong các thời kỳ bởi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Công hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cũng như không tiến hành chia lại ruộng đất nhằm tránh những biến động lớn về đất đai có thể ảnh hưởng đến an ninh chính trị, an ninh lương thực
8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, trang 31-32
Trang 14Căn cứ để quyết định giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân bao
gồm:
Nhu cầu sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân được thể hiện trong đơn xin giao đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về nhu cầu sử dụng đất đối với trường hợp xin giao đất nông nghiệp trong hạn mức giao đất
Quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc quy hoạch của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền9
Thời hạn được định nghĩa theo Bộ luật dân sự năm 2005 là một khoảng
thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra
Đối với quy định về thời hạn sử dụng đất Luật Đất đai quy định theo năm, tuy nhiên quy định thời hạn sử dụng đất thể hiện trên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất phải ghi theo quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền10
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân điều này đã được quy định rõ ràng trong Hiến pháp do Nhà nước trực tiếp quản lý Sau khi giành được độc lập nước ta thực hiện các chính sách về ruộng đất, xóa bỏ giai cấp địa chủ bóc lột nông dân, tất cả đất đai đều được đưa vào các Hợp tác xã, đến đầu những năm 80 của thế
kỷ XX nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp không còn phù hợp với sự phát triển của xã hội, gây nên trì trệ, lạc hậu dẫn đến khủng hoảng về kinh tế
Trước tình hình đó nước ta đã thực hiện đổi mới trước hết về kinh tế, đầu tiên là thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, các hợp tác xã bị giải thể, đất đai được trả về cho người dân Vấn đề thời hạn giao đất nông nghiệp trồng cây hằng năm được đề cập đầu tiên ở Luật Đất đai năm 1993 với thời hạn là hai mươi năm và có đề cập khi hết thời hạn nếu người
sử dụng đất có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất, chấp hành tốt pháp luật về đất đai thì được tiếp tục giao đất đối với diện tích trong hạn mức và chuyển qua thuê đối với diện tích vượt hạn mức Quy định này nhằm đảm bảo việc đất đai được sử dụng đúng mục đích được giao, làm cho người sử dụng đất có trách nhiệm hơn
và đất đai phân phối người dân một cách công bằng, những người chưa có đất sản xuất sẽ có điều kiện nhận một phần đất đai tham gia sản xuất phát triển kinh
9 Điều 31 Luật đất đai năm 2003, Điều 30 Nghị định 181/2004/NĐ-CP, Về hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003
10
Điểm e khoản 1 Điều 5 Thông tư 17/TT-BTNMT, Quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất
Trang 15tế Công bằng không có nghĩa là mọi trường hợp đều nhận đất đai bằng nhau mà căn cứ vào những trường hợp cụ thể, trong quá trình khai hoang, nhận chuyển nhượng, thừa kế, cho tặng trước đây của người đang quản lý, sử dụng đất đai từ
đó được Nhà nước ra quyết định giao đất Tuy nhiên trong quá trình sản xuất có người sử dụng đất sản xuất không hiệu quả, không đúng mục đích hoặc sang nhượng phần đất đã được giao vô hình trung tạo nên tình trạng có cá nhân, hộ gia đình có rất nhiều diện tích đất đai và tư liệu sản xuất, ngược lại có hộ không
có hoặc có rất ít đất sản xuất làm manh nha hiện tượng đầu cơ đất đai, xuất hiện tầng lớp địa chủ mới Do đó để hạn chế tình trạng này pháp luật đất đai sử dụng công cụ hạn mức giao đất, hạn mức nhận chuyển quyền nhưng trong thực tế, người sử dụng đất vẫn cố tình lách luật bằng cách nhờ người thân đứng tên hộ khi đang ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ đó rất nhiều tranh chấp đất đai, khiếu kiện kéo dài phá sinh tạo nên sức ép cho bộ máy hành chính
1.1.4 Những quy định về thời hạn giao đất trước khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực
Pháp luật đất đai nước ta đã trải qua ba văn bản Luật Đất đai được ban hành các năm 1987, 1993, 2003 và Dự thảo Luật Đất đai 2013 đang được lấy ý kiến nhân dân để tiến hành thông qua tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khóa XIII
Luật Đất đai 1987 đã bắt đầu đề cập về thời hạn giao đất khi quy định Nhà nước giao đất sử dụng có thời hạn hoặc tạm thời.11
Tuy nhiên vấn đề thời hạn giao đất nông nghiệp tại Bộ luật này vẫn chỉ dừng lại ở mức độ lý luận, bắt đầu
từ Luật đất đai 1993 thời hạn sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình và cá nhân đã được quy định tại Điều 20: “thời hạn giao đất sử dụng ổn định lâu dài để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm”
Tại Điều 1 nghị định 64/1993/CP của Chính phủ Về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông
nghiệp quy định“Hộ gia đình cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để
sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp”
Theo quy định tại văn bản này thì: “Thời hạn giao đất nông nghiệp để trồng cây
hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm; để trồng cây lâu năm là 50 năm Thời hạn giao đất được tính đối với đất của hộ gia đình, cá nhân được giao từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 trở về trước, được tính thống nhất từ ngày 15 tháng
11 Điều 1 Luật Đất đai năm 1987
Trang 1610 năm 1993;Đối với đất của hộ gia đình, cá nhân được giao sau ngày 15 tháng
10 năm 1993, thì tính từ ngày giao” 12
1.2.1 Thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
Đối với chủ thể sử dụng đất nông nghiệp là hộ gia đình, cá nhân theo quy định của khoản 2 Điều 37 Luật đất đai năm 2003 thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giao đất là Ủy ban nhân dân cấp huyện
Đất nông nghiệp trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối: Luật đất đai năm 1993 ban hành theo đó bắt đầu quy định thời hạn giao đất nông nghiệp để trồng cây hằng năm là 20 năm, đất trồng cây lâu năm là 50 năm cho các hộ gia đình và cá nhân sản xuất nông nghiệp Ngày 01 tháng 7 năm 2004 Luật đất đai năm 2003 ban hành đã kế thừa thời hạn giao đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân Tuy nhiên có thêm loại đất làm muối theo phân loại tại Thông tư 28/2004/BTNMT Về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất Như vậy thời hạn giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho hộ gia đình cá nhân trong hạn mức13
cũng chỉ có thời hạn là 20 năm
Theo quy định của ngành Luật đất đai, thời hạn giao đất được tính bắt đầu khi có quyết định giao đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; trường hợp đất đai được giao bởi các chính sách qua các thời kỳ trước ngày 15 tháng 10 năm
1993 thì thời hạn giao đất được bắt đầu tính từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 Đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối tuy được quy định thời hạn chung là hai mươi năm, tuy nhiên còn phải căn cứ vào hạn mức đất được giao mà thời hạn có khác nhau Cụ thể đối với diện tích đất nông nghiệp được giao vượt quá hạn mức được giao trước ngày 01 tháng 01 năm 1999
12 Điều 4 nghị định 64/1993/CP, Về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp
13 Khoản 1, Khoản 4, Điều 70 Luật đất đai năm 2003
Trang 17thì thời hạn sử dụng đất bằng một nửa thời hạn quy định đối với đất trong hạn mức tức là thời hạn đối với những diện tích đất này là mười năm và sau khi hết thời hạn nếu người sử dụng đất tiếp tục có nhu cầu sử dụng thì được xem xét chuyển sang thuê đất
Mặc dù thời hạn quy định chung đối với thời hạn giao đất nông nghiệp trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho hộ gia đình và cá nhân là hai mươi năm nhưng xuất phát từ tư tưởng bảo vệ người nông dân, nhằm đảm bảo ruộng đất được phân phối một cách công bằng và rộng rãi đến toàn thể nhân dân, thực hiện tiêu chí “người cày có ruộng” khẩu hiệu đã được Đảng ta nêu cao từ những ngày đầu thành lập Ngoài ra tránh trường hợp tích tụ đất đai, làm xuất hiện những thành phần địa chủ mới không trực tiếp sản xuất nông nghiệp mà đầu cơ đất đai để phát canh thu tô– điều mà Đảng và Nhà nước đã hạn chế về thành phần và số lượng trong các đợt Cải cách ruộng đất ở những năm 50 của thế kỷ XX Do đó những diện tích đất vượt hạn mức quy định quá ba héc ta
có được do được giao, chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho, thừa kế,….chỉ được hưởng thời hạn bằng nửa thời hạn quy định tức là chỉ được sử dụng trong mười năm sau đó nếu hết hạn mà người sử dụng đất có nhu cầu sử dụng đất tiếp tục thì cũng chỉ được chuyển sang thuê đất
Thời hạn hai mươi năm khá dài, nhưng nhìn vào tổng thể của một quá trình đầu tư cải tạo đất đai để sản xuất nông nghiệp, trung bình người sử dụng đất cần đến năm năm để cải tạo đất đai, đầu tư hệ thống thủy lợi thau phèn, rửa mặn Với hai mươi năm thời gian mà người sử dụng đất được hưởng nguồn lợi từ đất là không dài, chưa kể nếu muốn đầu tư quy mô trang trại, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất thì thời gian thu hồi vốn của dự án còn dài hơn nữa Trong khi đó nhìn vào nền kinh tế nông nghiệp hiện nay với giá thành sản phẩm bán ra và những chi phí đầu vào có thể hiểu tại sao người nông dân Việt Nam vốn có kinh nghiệm thâm canh lúa nước chất lượng cao, những vườn cây ăn quả trù phú nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo, chí ít chỉ đủ ăn đủ mặc chứ chưa dám nghĩ đến một cuộc sống tiện nghi, không thể có điều kiện đầu tư cho con cái học hành đến nơi đến chốn, rốt cuộc trong một thời gian dài người giàu càng giàu, người nghèo vẫn không thể khá lên được Trong một thời gian dài Chính phủ có rất nhiều chính sách, chiến lược quốc gia để phát triển nông nghiệp, hỗ trợ người nông dân nhưng người nông dân vẫn loay hoay trong vòng lẩn quẩn vốn – kỹ thuật – con giống, cây trồng – hướng đầu ra cho sản phẩm Để khắc phục được
Trang 18những hạn chế trên không thể nói một ngày hoặc một năm mà cả một quá trình cần sự chung sức của cả Nhà nước , nhà nông, doanh nghiệp và toàn xã hội mà trước hết là những hoạch định chiến lược phát triển kinh tế trên cơ sở sửa đổi những vướng mắc pháp lý về pháp luật đất đai cản trở sự đi lên đầu tư sản xuất nông nghiệp theo tư duy mới chỉ có như thế mới có thể giúp nền kinh tế nông nghiệp nước nhà vững mạnh, người nông dân an tâm sản xuất làm giàu bằng sức lực và trí tuệ trên chính mảnh đất của mình
Đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất: Đối với đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời hạn quy định là năm mươi năm mà không phụ thuộc vào hạn mức giao đất, vị trí địa lý của nơi có đất
là đồng bằng hay trung du, miền núi
Thoạt nhìn có thể thấy sự chệnh lệch giữa thời hạn của các loại đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối với loại đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là khá lớn với hơn 30 năm Có thể chia ra hai nhóm riêng biệt là nhóm đất trồng cây lâu năm và nhóm đất rừng sản xuất Nhóm đất trồng cây lâu năm bao gồm đất trồng cây có thời gian sinh trưởng trên một năm hoặc sinh trưởng một năm nhưng cho thu hoạch nhiều năm như đã nói ở Chương 1 bao gồm các loại cây ăn quả: cam, nho, ổi, mận, xoài,…Nhóm đất rừng sản xuất bao gồm các loại rừng trồng trên đất được Nhà nước giao cho chủ thể là các cá nhân, hộ gia đình đầu tư trồng rừng nhằm phát triển kinh tế, phủ xanh đất trống đồi trọc Đặc thù của các loại đất này là cần thời gian đầu tư lâu dài, cần nhiều vốn trong khi thời gian sinh trưởng, phát triển và thu hoạch cần đến vài năm hoặc có thể lên đến hàng chục năm do đó luật cần phải quy định một thời hạn hợp lí để người sử dụng đất ngoài khoản thời gian đầu tư, cải tạo ban đầu còn có thời gian để thu hoạch những sản phẩm do mình làm ra
Mặt khác do rừng có vai trò rất quan trọng cho cuộc sống của con người, rừng giúp điều hòa khí hậu; rừng đầu nguồn điều tiết lượng nước nhằm làm giảm đỉnh lũ vào mùa mưa, giữ nước vào mùa khô và điều tiết dòng chảy tạo các mạch nước ngầm; ngoài ra đối với rừng phòng hộ rừng ngập mặn ven biển chống cát biển, bảo vệ đê điều, ngăn mặn Ngoài ra rừng có quan hệ mật thiết đến đời sống của con người trước vấn nạn diện tích rừng đang không ngừng giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng cho nên nước ta đều có những chính sách khuyến khích người dân trồng rừng Rất nhiều các chính sách như hỗ trợ gạo, tiền, công cụ sản
Trang 19xuất đối với những cá nhân, hộ gia đình nhận khoán đất rừng sản xuất14
Chính
vì vậy với quy định thời hạn sử dụng đất lên đến 50 năm dài hơn nhiều so với thời hạn giao đất nông nghiệp trồng cây hằng năm cũng giúp cho các hộ gia đình, cá nhân nhận đất có thể yên tâm đầu tư mở rộng sản xuất, phát triển các mô hình kinh tế VAC, VACR với quy mô lớn sản xuất nhiều sản phẩm nông nghiệp
có chất lượng, tạo ra việc làm cho lao động nhàn rỗi ở địa phương
1.2.2 Quy định thời hạn sử dụng đất trong một số trường hợp cụ thể
1.2.2.1 Thời hạn sử dụng đất trong trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất
Đi lên là quy luật tất yếu của xã hội, cùng với sự phát triển kinh tế thị trường năng động trong những năm qua đã làm cho bộ mặt các thành phố lớn có nhiều thay đổi, những công trình cao tầng, các khu phức hợp vui chơi giải trí, cơ
sở hạ tầng giao thông được đầu tư nâng cấp để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân Không chịu kém cạnh bộ mặt của nông thôn hiện nay đã thay da đổi thịt rất nhiều, những biểu tượng cây đa bến nước con đò ngày xưa giờ đây không còn nữa mà thay vào đó những ngôi nhà khang trang mọc lên bên những vườn cây ăn quả, trang trại quy mô và hiện đại Các khu công nghiệp cũng mọc lên ở những vùng quê hẻo lánh Từ khi Chính phủ phát động chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã kéo hơi thở của thành thị về tới nông thôn, giúp giảm sự phát triển chênh lệch giữa hai vùng Cũng từ sự đi lên đó, ở thành thị lẫn nông thôn nhu cầu về đất ở, đất phi nông nghiệp dùng làm cơ sở sản xuất, trụ sở cơ quan hành chính, cơ sở tôn giáo ngày càng cao, từ đó dẫn đến nhiều trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất thường từ loại đất có giá trị kinh
tế thấp sang loại đất có giá trị kinh tế cao hoặc tùy theo nhu cầu sử dụng như: chuyển mục đích từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, đất ở,…
Đối với những trường hợp chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân dựa vào Điều 68 Luật đất đai 2003 thì có thể tóm tắt bằng bảng sau:
Loại đất Loại đất sau Thời hạn Ghi chú
14
Mục 1 Phần III Quyết định 57/2012/QĐ-TTg; Phê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020
Trang 20trước khi chuyển
mục đích sử
dụng
khi chuyển mục đích sử dụng
sử dụng
Thời hạn tính
từ thời điểm chuyển mục đích
Sử dụng đất
ổn định lâu dài (không thời hạn)
Trường hợp chuyển mục đích sử
dụng giữa các loại đất trồng cây hằng
năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng
sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản, đất
làm muối
Hộ gia đình,
cá nhân được sử dụng đến hết thời hạn đã được giao
Đất nông
nghiệp
Đất phi nông nghiệp
Xác định theo thời hạn của loại đất sau khi chuyển mục đích
Thời hạn được tính từ thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất
Trong phạm vi đề tài của mình nên người viết chỉ đề cập đến các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất nộng nghiệp được giao cho hộ gia đình và cá nhân Có thể thấy rằng nếu hộ gia đình cá nhân có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất sang loại đất mới cùng loại thì thời hạn sử dụng đất chỉ được tính tiếp cộng dồn vào thời hạn của loại đất cũ đã sử dụng
Đối với việc chuyển mục đích sử dụng sang loại đất khác nhau, ví dụ như: Đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang đất khác hoặc chuyển mục đích từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp thì thời hạn lại được tính từ đầu theo thời hạn của loại đất sau khi chuyển mục đích sử dụng
Trang 211.2.2.2 Thời hạn sử dụng đất khi nhận chuyển quyền sử dụng đất đối với các loại đất nông nghiệp
Từ khi Luật đất đai năm 1993 ban hành thay thế cho Luật đất đai 1987 người sử dụng đất bắt đầu được tự do chuyển nhượng quyền sử dụng đất Tự do không có nghĩa là tùy tiện là áp dụng cho mọi trường hợp, mà là tự do chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khuôn khổ quy định của pháp luật đất đai Luật cũng quy định điều kiện để được chuyển quyền sử dụng đất cần phải thỏa mãn
những điều kiện bao gồm: (1) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là GCN QSDĐ); (2) Đất không có tranh chấp; (3) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; (4) Trong thời hạn sử dụng đất15
Ngoài ra một số loại đất cần phải thỏa mãn điều kiện về chủ thể nhận chuyển quyền mới được chuyển nhượng Nhằm bảo vệ vốn đất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp và đảm bảo an ninh lương thực trong nước tạo nguồn cho xuất khẩu ra thế giới, đất chuyên trồng lúa nước chỉ được chuyển nhượng cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp ngăn ngừa tình trạng người nông dân sống bằng nghề nông không có đất sản xuất, trong khi những người không trực tiếp sống bằng nghề nông lại nắm trong tay quá nhiều ruộng đất, như vậy sẽ tạo nên tình trạng người nông dân ngày càng túng quẫn, chênh lệch giàu nghèo sẽ càng bị nới rộng Những chính sách về cải cách phân chia ruộng đất xem như bất lực cũng như gánh nặng đối với ngân sách Nhà nước về xóa đói giảm nghèo, an sinh, phúc lợi xã hội Quy định về điều kiện chuyển nhượng và thời hạn được tính tiếp theo thời hạn đã sử dụng ở người chuyển nhượng trước như vậy góp phần tạo nên tính công bằng hơn với những hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất khác đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Tương
tự, đối với đất nông nghiệp trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, trong khu vực rừng phòng hộ chỉ được chuyển nhượng cho những hộ gia đình, cá nhân sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đó16 Theo như chúng ta đã biết vai trò của rừng là rất lớn đối với đời sống của không chỉ một quốc gia mà còn là mối quan tâm của toàn thể nhân loại Duy trì diện tích và bảo vệ rừng đã trở thành chiến lược quốc gia, theo số liệu cho thấy năm 1945 rừng Việt Nam có diện tích khoảng 14 triệu héc ta, đến
15
Điểm a, b, c, d Khoản 1 Điều 106 Luật đất đai năm 2003
16 Khoản 3 Khoản 4 Điều 103 Nghị định 181/2004/NĐ-CP, Về hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003
Trang 22năm 1976 còn khoảng 11 triệu héc ta và hiện nay là hơn 13,2 triệu hécta trong khi đó hơn 2 triệu hécta là rừng trồng, với diện tích rừng bị thiệt hại do cháy rừng, do bị tàn phá hàng nghìn hécta mỗi năm, thực tế con số đó có thể càng lớn hơn nhiều Con người phá rừng để lấy đất ở, để làm thủy điện, khai khoáng, nuôi trồng thủy sản và lấy gỗ để xuất khẩu17 Chính điều đó đã làm cho diện tích rừng của Việt Nam ngày càng thu hẹp về diện tích, giảm về chất lượng Do đó cần phải bảo vệ và phát triển nguồn lợi rừng bền vững lâu dài Quy định của pháp luật đất đai về những điều kiện chuyển nhượng đất rừng có thể thấy tính hợp lý
và hiệu quả Chỉ có những con người sinh sống lâu đời trong khu vực rừng phòng hộ đặc dụng đó có thể bám trụ, sinh sống bằng nghề rừng, đặc biệt những
hộ sống trong những khu vực đó có kinh nghiệm trồng và khai thác rừng một cách hợp lý đảm bảo hài hòa giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường, những hộ gia đình, cá nhân đó vừa là những người chăm sóc bảo vệ rừng vừa là những
“chiến sĩ kiểm lâm” giúp đỡ cơ quan chức năng ngăn chặn và phòng ngừa các hành vi xâm phạm đến tài nguyên rừng, vốn đã rất quý giá cần được bảo vệ nghiêm ngặt
Theo BLDS năm 2005: “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng còn bên nhận chuyển nhượng trả lại tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật này và pháp luật đất đai”
Bên cạnh đó tại Điều 106 Luật đất đai năm 2003 cũng quy định rõ người sử dụng đất được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các quyền khác theo luật định
Chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng nghĩa với việc thay tên đổi chủ
trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận), hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển
quyền cần có các bước làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận mới Căn cứ vào khoản 1 Điều 69 Luật đất đai năm 2003 khi hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp có thời hạn thì thời gian sử dụng đất là thời hạn
sử dụng đất còn lại trước khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất
17
Hương Thảo: Tài nguyên rừng và nguyên nhân gây suy thoái rừng ở Việt Nam, trang tin Tổng cục lâm nghiệp: http://tongcuclamnghiep.gov.vn/tin-tuc/157/a-195/56.html, [truy cập ngày 14-3-2013]