1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP PHÁP LUẬT về HOẠT ĐỘNG của CÔNG TY tài CHÍNH –THỰC TRẠNG và một số GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

58 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 839 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó công ty tài chính được định nghĩa đầy đủ: “ Công ty tài chính là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, huy động vốn và các nguồn vốn khác để cho v

Trang 1

Lớp: Luật tư pháp k32

Cần Thơ,05- 2010

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY TÀI CHÍNH 3

1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của công ty tài chính 3

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của công ty tài chính ở các nước trên thế giới 3

1.1.2 Sự ra đời của công ty tài chính ở Việt nam 4

1.2 Khái niệm về công ty tài chính 5

1.3 Đặc điểm của công ty tài chính 7

1.3.1 Đặc điểm chung của công ty tài chính 7

1.3.2 Đặc điểm riêng của công ty tài chính 9

1.4 Các loại hình của công ty tài chính 11

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH 16

2.1 Quy định về thành lâp, giải thể, phá sản, và thanh lý công ty tài chính 16

2.1.1 Quy định về thành lập công ty tài chính 16

2.1.2 Quy định về phá sản, giải thể và thanh lý công ty tài chính 19

2.1.2.1 Quy định về kiểm soát đặc biệt công ty tài chính 19

2.1.2.2 Phá sản và giải thể công ty tài chính 22

2.2 Quy định pháp luật về tổ chức, quản trị, điều hành và kiểm soát công ty tài chính 24

2.3 Quy định về hoạt động của công ty tài chính 26

2.3.1 Hoạt động huy động vốn 26

2.3.1.1 Huy động vốn bằng nhận tiền gửi 27

2.3.1.2 Huy động vốn bằng phát hành các giấy tờ có giá 30

2.3.1.3 Huy động vốn bằng cách vay vốn các tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, các tổ chức tài chính quốc tế 32

2.3.2 Hoạt động tín dụng 33

2.3.3 Các hoạt động khác 37

CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH 39

3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động của công ty tài chính 39

Trang 3

pháp hoàn thiện 40

3.2.1 Về thành lập, quản trị, điều hành công ty tài chính 40

3.2.2 Về hoạt động huy động vốn 42

3.2.3 Hoạt động cho vay 44

3.2.4 Hoạt động giám sát, kiểm tra 48

KẾT LUẬN 51

Trang 4

Trang 5

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Là quốc gia đang phát triển, nhu cầu về vốn của các thành phần kinh tế nước

ta đã gia tăng nhanh chóng Đây là tiền đề cho tài chính ngân hàng trở thành lĩnh vực kinh doanh đầy tiềm năng, hứa hẹn nhiều thời cơ, lợi nhuận và nhiều thách thức Hơn nữa sau hơn hai năm trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO (World Trade Orgnization ), Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng vào các lĩnh vực của nền kinh tế thế giới Mọi biến động trên thị trường quốc tế đều tác động trực tiếp, gián tiếp đến thị trường Việt Nam Một trong số những lĩnh vực

bị ảnh hưởng nhanh chóng và sâu sắc là tài chính- ngân hàng

Thị trường tài chính đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện của nước

ta đang thu hút được rất nhiều sự chú ý của các nhà đầu tư Xu hướng này hình thành nên một làn sóng xin thành lập các công ty trung gian tài chính Bên cạnh các ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán, các công ty bảo hiểm …, công ty tài chính là một định chế được rất nhiều các tổng công ty trong nước và các tập đoàn tài chính lớn trên thế giới quan tâm đầu tư và xin thành lập Vậy công ty tài chính là gì? Thực trạng pháp luật về công ty tài chính ở Việt nam hiện nay có phù hợp với thực tế, thuận lợi để công ty tài chính được thành lập và hoạt động hay không? Đối với những hạn chế còn tồn tại trong quy định này thì có thể khắc phục bằng cách sửa đổi, bổ sung những gì để góp phần hoàn thiện pháp luật, vì sự lớn mạnh và bền vững của các công ty tài chính và của cả nền kinh tế Việt Nam?

Tìm lời giải đáp cho những câu hỏi trên là lý do thúc đẩy người viết lựa chọn

và đề xuất hoàn thiện pháp luật về những lĩnh vực này

4.Phương pháp nghiên cứu

Đề tài đuợc nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các phương pháp cụ thể như: phân tích luật viết, tổng hợp, so sánh, quy nạp … cũng được kết hợp sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài

5.Kết cấu của đề tài

Trang 7

Đề tài được chia bố cục gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về công ty tài chính

Trong đó, người viết giới thiệu sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của công ty tài chính trên thế giới và ở Việt Nam, các thuật ngữ cơ bản về tổ chức tín dụng và công ty tài chính đồng thời nêu lên vai trò, đặc điểm cũng như các hình thức tồn tại của công ty tài chính theo quy định của pháp luật qua từng giai đoạn cụ thể

Chương 2: Pháp luật về hoạt động của công ty tài chính Ở chương này,

người viết trình bày về cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty tài chính như : hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính

Chương 3: Thực trạng pháp luật về hoạt động của công ty tài chính ở Việt Nam- một số giải pháp hoàn thiện

Trong đó, người viết nêu lên sự cần thiết của quy định pháp luật về hoạt động của công ty tài chính, một số thực trạng như điều kiện cấp giấy phép thành lập, điều kiện cho vay, hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay, kiểm tra, giám sát Qua đó, người viết đưa ra các giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động của công ty tài chính

“ Pháp luật về hoạt động của công ty tài chính- thực trạng và một số giải

pháp hoàn thiện” là đề tài mới khả năng nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế của

người viết có hạn, nguồn tài liệu tham khảo còn hạn chế, đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót Người viết rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô cũng như các bạn đọc khác để đề tài được hoàn thiện hơn

Người viết xin gởi lời cảm ơn chân thành đến cô Lê Huỳnh Phương Chinh đã trực tiếp hướng dẫn người viết thực hiện đề tài này đồng thời người viết cảm ơn quý thầy cô đã giúp người viết hoàn thành đề tài này Ngoài ra em xin cảm ơn các thầy

cô trong hội đồng bảo vệ luận văn đã đóng góp cho người viết thấy được những thiếu sót từ đó rút ra được những kinh nghiệm phục vụ cho học tập và nghiên cứu sau này

05/2010

Trang 8

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY TÀI CHÍNH 1.1.Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của công ty tài chính

1.1.1.Sự hình thành và phát triển của công ty tài chính ở các nước trên thế giới

Trên thế giới, thuật ngữ công ty tài chính đã xuất hiện từ rất lâu, các nhà tư bản đã quá quen với các hoạt động cũng như vai trò của nó trên thị trường tài chính tiền tệ Công ty tài chính cùng các trung gian tài chính khác có tầm quan trọng rất lớn và được coi như là xương sống của nền kinh tế Sự ra đời và phát triển của công

ty tài chính làm cho hệ thống tài chính trở nên phong phú, đa dạng, linh hoạt và hoàn chỉnh hơn, đặc biệt là trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường

Nền kinh tế thị trường luôn xuất hiện tình trạng trong cùng một thời điểm, tồn tại người thừa vốn và người thiếu vốn Trong khi người có vốn nhàn rỗi không

có khả năng sản xuất kinh doanh thì người thiếu vốn lại rất mong muốn được đầu tư kinh doanh mà tình trạng tài chính không cho phép Tuy ở hai đầu thái cực song họ gặp nhau ở một điểm đó là cùng hướng tới sự phát triển quy mô vốn và thu được lợi ích tối đa từ những gì mình nắm giữ Theo các quy luật khách quan của nền kinh tế hàng hoá, mối quan hệ cung cầu về vốn nảy sinh giữa người cho vay (người thừa vốn) và người đi vay (người thiếu vốn) Sự dịch chuyển ban đầu có tính tự phát diễn

ra trực tiếp giữa hai bên nên hiệu quả không cao, tốn kém cả về chi phí và thời gian Thêm vào đó là sự thiếu chuyên nghiệp trong qua trình chuyển giao nguồn vốn dễ dẫn rủi ro cho người có vốn cho vay Do vậy, thực tế khách quan đòi hỏi một tổ chức hoạt động chuyên nghiệp đóng vai trò trung gian giữa người có vốn và người

đi vay Từ yêu cầu khách quan này các trung gian tài chính đã được hình thành, hoạt động có tổ chức, với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Nó bao gồm các tổ chức nhận tiền gởi như: ngân hàng, công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, các công ty bảo hiểm các công ty đầu tư, quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí… sự ra đời và hoạt động của các trung gian tài chính trong đó có công ty tài chính là một tất yếu khách quan của nền kinh tế, với chức năng luân chuyển và điều tiết lượng vốn từ nơi thưa vốn đến nơi thiếu vốn, các trung gian tài chính đã góp phần khai thông dòng chảy, giúp nền kinh

tế vận động nhịp nhàng và có hiệu quả cao hơn

Ở các nước tư bản, các công ty tài chính xuất hiện rất sớm và phát triển với tốc độ nhanh chóng

Trang 9

Ở Thuỵ Điển, các công ty tài chính được thành lập giữa những năm 1960, phát triển mạnh vào những năm 1970 và hiện nay công ty tài chính là một trong những nhân tố quan trọng thực hiện chính sách tín dụng của Nhà nước

Ở Nhật Bản, các công ty tài chính được hình thành từ những năm 50 nhằm

hỗ trợ vốn cho các cơ sở kinh doanh nhỏ và đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ cho lợi ích tiêu dùng cho người dân Nhật Bản Cho tới nay đã có hàng loạt công ty tài chính

ra đời, nhiều công ty đã nổi lên và chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các tổ chức tài chính Nhật Bản, chi phối hoạt động của nhiều lĩnh vực kinh tế, không những trong phạm vi đất nước Nhật Bản mà còn vươn ra thế giới với tư cách là những tập đoàn tài chính khổng lồ

Ở Hoa Kỳ tồn tại 3 dạng công ty tài chính được phân theo các hoạt động chức năng của chúng, bao gồm:

- Công ty tài chính bán hàng thực hiện các món cho vay cho những người tiêu dùng để mua những hàng hoá từ một nhà bán lẻ hoặc một nhà sản xuất riêng

- Công ty tài chính người tiêu dùng thực hiện các món cho vay để người tiêu dùng mua sắm các hành hoá tiêu dùng như nhà của, xe cộ… và để giúp thanh toán các khoản nợ nhỏ Các công ty tài chính này có thể là các công ty riêng biệt hoặc thuộc sở hữu của ngân hàng

- Công ty tài chính kinh doanh cung cấp các khoản tín dụng đặt biệt cho các doanh nghiệp bằng cách mua lại những khoản tiền mà doanh nghiệp sẽ thu (các khoản nợ ) có triết khấu Việc cung cấp tín dụng này được gọi là bao thanh toán

Bên cạnh 3 loại hình công ty tài chính này còn có các công ty tài chính thuộc

sở hữu của ngân hàng Loại hình này ra đời sau nhưng có ảnh hưởng lớn đến toàn

bộ nền tài chính Hoa Kỳ 1

Như vậy có thể thấy tuỳ đặc điểm và tình hình nền kinh tế mỗi nước, công ty tài chính có thể mang các tên gọi khác nhau, với các phạm vi hoạt động khác nhau Tuy nhiên, hoạt động của công ty tài chính vẫn hướng đến việc huy động tiền gởi và

sử dụng số tiền đó để cho vay Các tổ chức này sẽ phải trả lãi suất cho người gởi tiền và tính lãi cao hơn đối với khách hàng cho vay tiền Khoảng chênh lệch giữa hai loại lãi suất này được sử dụng một phần để bù đắp chi phí hoạt động của các tổ chức, phần còn lại là lợi nhuận

1.1.2.Sự ra đời của công ty tài chính ở Việt Nam

Cũng giống công ty tài chính của các nước trên thế giới, công ty tài chính ở Việt Nam cũng được hình thành dưới tác động của điều kiện kinh tế thị trường Nghị quyết Đại hội Đảng VI (1986) đã mở ra hướng đi mới cho nền kinh tế nước ta,

1

www.vbcl.com.vn/index.php?cateid=41

Trang 10

chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, đa dạng hoá các hình thức sở hữu và khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển Từ đó một trong những vấn đề mới được nảy sinh là sự gia tăng quá trình điều tiết lượng vốn tiền tệ từ khu vực phi sản xuất vào khu vực sản xuất cũng như giữa các khu vực sản xuất với nhau

Những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX cho thấy mức

độ khát vốn của nền kinh tế Việt Nam Các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô, hình thức, thành phần đều thiếu vốn Nhu cầu điều tiết vốn trên thị trường làm nảy sinh hàng loạt các quỹ tín dụng với rất nhiều điểm tương đồng với mô hình công ty tài chính được thành lập về sau là huy động tiền gởi trong dân chúng và hổ trợ các doanh nghiệp nhỏ

Ở thời điểm này cũng đã xuất hiện các tổ chức hụi (miền Nam), họ (miền Bắc), đã thu hút đông đảo người dân tham gia với lượng vốn lên đến hàng tỷ đồng Các tổ chức này đã đáp ứng được một phần nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống của họ Sự tồn tại của các tổ chức này tuy là một hiện tượng khách quan nhưng do tự phát, không có sự quản lý của Nhà nước nên đã gây ra nhiều bất

ổn và lộn xộn trong nền kinh tế Đến những năm 90 của thế kỷ XX hầu hết các quỹ tín dụng, hụi, họ đều bị đổ vỡ ảnh hưởng mạnh đến các doanh nghiệp cũng như các tầng lớp dân chúng trong xã hội

Nền tài chính ngân hàng sau cú sốc lớn đó cần được tổ chức và quản lý lại một cách chặt chẽ Bên cạnh các ngân hàng, các công ty tài chính ra đời là trung gian tài chính tích cực giúp lưu thông nguồn vốn một cách nhanh chóng, hiệu quả

Ở Việt Nam, so với hệ thống ngân hàng, công ty tài chính là một hình thức trung gian tài chính khá mới mẻ Sự ra đời của hệ thống Ngân hàng tại Việt Nam được đánh dấu bằng sắc lệnh 15/SL ngày 06/5/1951 do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà kí Kể từ khi thành lập, trải qua nhiều giai đoạn phát triển, tới nay

hệ thống Ngân hàng đã được phân chia thành ngân hàng Nhà nước với chức năng quản lý điều tiết nền kinh tế tiền tệ và các Ngân hàng chuyên doanh khác Trong khi

đó công ty tài chính mới được chính thức thừa nhận thông qua Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính do Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 24/5/1990 Theo đó, công ty tài chính, công ty quốc doanh hoặc cổ phần hoạt động chủ yếu là cho vay để mua bán hàng hoá dịch vụ bằng nguồn vốn của mình hoặc cho vay trong dân chúng 2

1.2.Khái niệm về công ty tài chính

2

www.sacombank.leasing.com/index.php?module=news&action=news&menu_id=2&tipe=2&id=69

Trang 11

Hệ thống tổ chức tín dụng ở mỗi quốc gia do nhiều bộ phận hợp thành, mỗi

bộ phận có vị trí và vai trò khác nhau Ở nước ta hiện nay hệ thống tổ chức tín dụng gồm: tổ chức tín dụng là ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng Cùng với công ty cho thuê tài chính, công ty tài chính là một trong những hình thức phổ biến nhất của loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Căn cứ vào Luật Các tổ chức tín dụng 1997 ( sửa đổi, bổ sung năm 2004) tổ chức tín dụng được hiểu là :

“ Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập để hoạt động kinh doanh tiền tệ,

làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán 3 ”

Đối với loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng đây là tổ chức được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không được nhận tiền gởi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác 4.”

Tiếp đó để cụ thể hoá cách thức tổ chức và phạm vi hoạt động của công ty tài chính, năm 2002 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2002/NĐ-CP quy định về

tổ chức và hoạt động của công ty tài chính và Nghị định 81/2008/NĐ-CP ngày 29/07/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 70/2002 Theo đó công ty tài chính được định nghĩa đầy đủ:

“ Công ty tài chính là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng

vốn tự có, huy động vốn và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gởi dưới một năm” 5

Theo định nghĩa, công ty tài chính sử dụng vốn tự có là nguồn vốn bao gồm các giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Nguồn vốn này là căn cứ để tính toán các tỉ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng cùng với nguồn huy động vốn và các nguồn vốn khác để cung ứng các dịch vụ tín dụng tư vấn về tài chính tiền tệ và một

số dịch vụ khác như : tư vấn về bất động sản, tư vấn chứng khoán… cho các doanh

3

Khoản 1, điều 20 Luật Các Tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi, bổ sung 2004) Theo khoản 1, điều 4 dự thảo Luật Các Tổ chức tín dụng ngày 28/09/09 thì tổ chức tín dụng là doanh nghiệp có hoạt động chủ yếu và thường xuyên thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân

Trang 12

nghiệp6 Ngoài ra các công ty tài chính còn sử dụng vốn tự có, vốn huy động, các nguồn vốn khác mà công ty tài chính hiện đang nắm giữ để đầu tư vào các dự án trung hạn và dài hạn Tuy nhiên, công ty tài chính bị hạn chế ở một số hình thức tín dụng, chẳng hạn công ty tài chính không được thực hiện việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện các giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện thu

hộ, chi hộ Bên cạnh đó, công ty tài chính không được phép nhận tiền gửi có thời hạn dưới một năm

Mặc dù bị giới hạn về phạm vi hoạt động, công ty tài chính vẫn là một định chế tài chính không thể thiếu trong thị trường Đó là một kênh huy động vốn có tính chuyên nghiệp và hiệu quả Thông qua công ty tài chính luồng vốn của thị trường được lưu thông, những hoạt động nghiệp vụ của công ty tài chính góp phần thúc đẩy

sự chu chuyển, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế quốc dân Bên cạnh

đó, công ty tài chính còn là một kênh dẫn vốn quan trọng từ các dòng đầu tư nước ngoài, với khả năng chuyên nghiệp về kinh doanh vốn, công ty tài chính có thể thu xếp vốn cho các dự án lớn từ những nhà đầu tư trong nước, quốc tế…

Sự tồn tại của công ty tài chính trong hệ thống tài chính cũng tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các chủ thể của thị trường tài chính, mang lại xung lực mới cho

sự phát triển thị trường tài chính nói riêng và thị trường nói chung

Ở nước ta, công ty tài chính là một hình thức trung gian tài chính khá mới mẻ

và chỉ thực sự phát triển mạnh trong những năm gần đây Tuy nhiên, các công ty tài chính đã khẳng định được vai trò quạn trọng trong việc tạo lập thêm một kênh tài trợ tín dụng mới, hữu hiệu cho các đơn vị thành viên trong nội bộ tổng công ty, phục vụ sự phát triển của tổng công ty trong một ngành, lĩnh vực nhất định, sau này phát triển thành các tập đoàn kinh tế

Hoạt động của các công ty tài chính đồng thời còn góp phần làm phong phú thêm các dịch vụ tài chính- ngân hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của thị trường tài chính tiền tệ trong nền kinh tế thị trường Cá biệt, một số công ty tài chính đã đạt những kết quả khả quan, tạo được vị thế trên thị trường là các đối tác tin tưởng của các định chế tài chính lớn trong nước và quốc tế như công ty tài chính Dầu khí và công ty tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ

Như vậy, có thể thấy, khi nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của trung gian tài chính càng quan trọng Bên cạnh các trung gian tài chính khác, công ty tài chính cũng góp phần tạo thêm một kênh dẫn vốn, đáp ứng được nhu cầu vay vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế

1.3 Đặc điểm của công ty tài chính

6

Khoản 13, điều 20 Luật Các Tổ chức tín dụng 1997 ( sửa đổi, bổ sung 2004)

Trang 13

1.3.1 Đặc điểm chung của công ty tài chính

Công ty tài chính với bản chất là loại hình tổ chức tín dụng, mang đầy đủ các đặc trưng của một tổ chức tín dụng nói chung :

-Thứ nhất công ty tài chính là doanh nghiệp có đối tượng kinh doanh trực tiếp là tiền tệ

Tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hoá làm vật ngang giá chung thống nhất Nó được dùng để biểu hiện và đo lường giá tri của hàng hoá khác, làm phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ Chính do sản phẩm kinh doanh là tiền tệ đã tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa tổ chức tín dụng nói chung và công ty tài chính nói riêng với các doanh nghiệp khác

Do các chức năng của mình, tiền tệ là một sản phẩm kinh doanh có tính nhạy cảm với thị trường hơn bất cứ một lĩnh vực kinh doanh nào khác Mọi biến động của nền kinh tế ngay lập tức sẽ ảnh hưởng tới giá trị đồng tiền và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, trong đó có công ty tài chính

-Thứ hai, công ty tài chính là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh chính chủ yếu, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là hoạt động ngân hàng- hoạt động mang tính chất rủi ro cao

Trước hết hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Đây là dấu hiệu cơ bản để phân biệt doanh nghiệp là tổ chức tín dụng với các loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác, kể cả các doanh nghiệp có hoạt động ngân hàng không thường xuyên như các công ty bảo hiểm, công ty kinh doanh chứng khoán Đặc điểm này

có ý nghĩa quyết định đến cơ chế điều chỉnh của pháp luật đối với tổ chức và hoạt động của các công ty tài chính Các hoạt động ngân hàng mà công ty tài chính được phép thực hiện phần lớn là các hoạt động ngân hàng có thời hạn thanh toán trên một năm

Song song đó, hoạt động ngân hàng mà công ty tài chính thực hiện là hoạt động mang tính chất rủi ro cao Điều này xuất phát từ việc những tác động tích cực

và tiêu cực của hoạt động kinh doanh của các công ty tài chính có tính dây chuyền Chẳng hạn khi một công ty tài chính cho vay không thu hồi được vốn dẫn tới tình trạng không thể thanh toán cho khác hàng khi đến hạn Điều này có thể gây tâm lý hoang mang không chỉ cho khách hàng của công ty tài chính đó mà cả các khách hàng của các tổ chức tín dụng khác, dẫn đến hiện tượng khách hàng đồng loạt tới các tổ chức tín dụng rút tiền gửi, đẩy các tổ chức tín dụng vào tình trạng thiếu khả năng chi trả gây ra sự mất ổn định cho cả nền kinh tế

Trang 14

-Thứ ba, công ty tài chính là loại hình doanh nghiệp chịu sự quản lý nhà nước của ngân hàng nhà nước và thuộc pham vi áp dụng pháp luật ngân hàng

Theo phân cấp quản lý của nhà nước, các tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực nào sẽ chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ, Ban, Ngành chuyên trách lĩnh vực ấy Các

tổ chức tín dụng và các hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế chịu sự quản lý của ngân hàng nhà nước Đây cũng là dấu hiệu nhận dạng tổ chức kinh tế là công ty tài chính Tuỳ thuộc vào các đặc thù trong hoạt động kinh doanh, tính chất sở hữu của từng công ty tài chính nhà nước có các quy định pháp luật riêng cho từng loại hình công ty tài chính

Là một loại hình của tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tuy nhiên công ty tài chính có những đặc điểm riêng mà dựa vào đó có thể nhận biết, phân biệt chúng với các loại hình tổ chức tín dụng khác Sự phân biệt này là cần thiết và quan trọng trong nền kinh tế thị trường, để tránh sự chồng chéo, khiến cho hiệu quả mà chúng mang lại cho nền kinh tế bị giảm sút Sự phân biệt ranh giới, pham vi hoạt động nghiệp vụ của từng loại hình tổ chức tín dụng cũng giúp nhà nước dễ dàng hơn trong việc quản lí, có các biện pháp điều chỉnh phù hợp và kịp thời Từ đó đảm bảo cho một hệ thống tài chính lành mạnh, là cơ sở cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

1.3.2 Đặc điểm riêng của công ty tài chính

Có thể phân biệt công ty tài chính với các loại hình tổ chức tín dụng khác bởi các đặc trưng cơ bản sau:

- Thứ nhất, về bản chất và phạm vi hoạt động

Với tính chất là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng công ty tài chính được pháp luật qui định phạm vi thực hiện các giao dịch ngân hàng hẹp hơn so với tổ chức tín dụng là ngân hàng

Công ty tài chính sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một

số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, công ty tài chính không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm.Trong khi

đó, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan, cụ thể là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngân hàng có thể huy động vốn bằng tất cả các loại tiền gửi : tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm… mà không bị giới hạn như công ty tài chính Công ty tài chính cũng không được pháp luật cho phép cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện

Trang 15

dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng, tiến hành các dịch vụ thu hộ và chi

hộ Thay vào đó, những loại hình dịch vụ này chỉ tổ chức tín dụng là ngân hàng mới được pháp luật ghi nhận Tuy vậy, các công ty tài chính hiện nay đã khắc phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới như dịch vụ nhận ủy thác vốn, nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán, thu xếp vốn, v.v cho cả ngắn hạn, trung và dài hạn Những dịch vụ này đã giúp công ty tài chính thực hiện được các dịch vụ khác tương tự như một ngân hàng thương mại

- Thứ hai, về hình thức cấp tín dụng

Mỗi loại hình tổ chức tín dụng khi thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng đều có những đặc trưng riêng Các tổ chức tín dụng là ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng khi thực hiện hoạt động cấp tín dụng thì hình thức cấp tín dụng là không giống nhau Ngay trong các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, các hình thức thực hiện hoạt động cấp tín dụng cũng khác nhau Công ty cho thuê tài chính thực hiện cấp tín dụng thông qua phương thức cho thuê máy móc thiết bi, phương tiện vận chuyển và các động sản khác Các hoạt động này thực hiện trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê Trong khi đó, công ty tài chính cấp tín dụng dưới hình thức các khoản vốn vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, cho vay tiêu dùng bằng hình thức chi vay mua trả góp… những khoản tín dụng này được công ty tài chính cấp cho những khách hàng của mình thông qua các hợp đồng tín dụng

- Thứ ba, về vốn pháp định

Công ty tài chính và ngân hàng đều phải có vốn pháp định, song vốn pháp định của công ty tài chính thấp hơn ngân hàng Công ty tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày Nghị định 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ

có hiệu lực và trước ngày 31/12/2008 phải có mức vốn pháp định là 300 tỷ đồng Công ty tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày 31/12/2008 phải có mức vốn pháp định là 500 tỷ đồng 7

So sánh với ngân hàng, vốn pháp định đối với một ngân hàng áp dụng cho đến năm 2008 không thấp hơn 1.000 tỷ đồng, tùy theo loại hình ngân hàng và áp dụng cho đến năm 2010 trở đi không thấp hơn 3.000 tỷ đồng

- Thứ tư, về thời hạn hoạt động

Thời hạn hoạt động của công ty tài chính tối đa là 50 năm Trường hợp cần gia hạn thời hạn hoạt động, phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận, nhưng mỗi lần gia hạn không quá 50 năm 8 Trong khi đó, thời hạn hoạt động của

Trang 16

các ngân hàng không bị pháp luật khống chế Tuy nhiên tương tự như ngân hàng khi rơi vào trường hợp phá sản và giải thể, hoạt động của công ty tài chính sẽ chấm dứt

- Thứ năm, về cơ hội cạnh tranh và lợi ích mang lại

Các công ty tài chính sẽ chịu áp lực cạnh tranh ở mức độ thấp hơn so với ngân hàng Theo cam kết WTO, chỉ có ngân hàng thương mại nước ngoài và công

ty tài chính nước ngoài mới được thành lập công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài Tổ chức tín dụng nước ngoài chỉ được thành lập công ty tài chính liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư nước ngoài nhưng phải có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn

Trong khi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng thì công ty tài chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty Vì thế, rủi ro xảy ra đối với các công ty tài chính chủ yếu là do nội bộ tập đoàn hay nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng Khi các quan hệ kinh tế trong tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra rủi ro là không lớn

Như vậy, có thể thấy lợi ích của công ty tài chính mang lại cho các doanh nghiệp là rất lớn Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới, các tập đoàn lớn thường

có ít nhất một công ty tài chính Công ty tài chính là công cụ để tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả và thuận lợi nhất Trong phạm vi nội bộ tập đoàn hoặc nhóm công ty có quan hệ lợi ích gắn bó, công ty tài chính có thể dễ dàng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các công ty thành viên để tập trung vốn đầu tư Với tính nội bộ cao trong hoạt động nghiệp vụ công ty tài chính có thể kiểm soát rủi ro và tập trung vốn lớn cho các dự án quan trọng trong nội bộ tập đoàn

Tóm lại, do nhu cầu của nền kinh tế thi trường đã thúc đẩy sự hình thành của nhiều loại hình tổ chức tín dụng với tên gọi, phạm vi và mục tiêu hoạt động khác nhau Mỗi loại hình đều được pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động rõ ràng, tránh sự chồng chéo, tạo nên một hệ thống tín dụng thống nhất, giúp nhà nước kiểm soát có hiệu quả các hoạt động tài chính và các hoạt động kinh tế xã hội

1.4 Các loại hình của công ty tài chính

Theo pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính 1990 hình thức tồn tại của công ty tài chính là công ty quốc doanh hoặc công ty cổ phần Đến Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 và Nghị định 81/2008/NĐ-CP ngày 29/07/2008 sửa đổi, bổ sung Nghị định 79/2002 về tổ chức và hoạt động của công

ty tài chính quy định công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng,

là một pháp nhân Việt Nam, hạch toán độc lập, công ty tài chính không còn bị bó hẹp trong hai hình thức là công ty quốc doanh và công ty cổ phần mà đã được mở

Trang 17

rộng một cách đa dạng hơn với năm loại hình hoạt động là : công ty tài chính nhà nước, công ty tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng, công ty tài chính cổ phần, công

ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài

- Công ty tài chính nhà nước: là công ty tài chính do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh Công ty tài chính nhà nước được thành lập và hoạt động tại Việt Nam chủ yếu dưới hình thức là công ty tài chính thuộc tổng công ty nhà nước tức là hình thức doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ 9 được thành lập, tổ chức, quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp Nhà nước.10

- Công ty tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng : là công ty tài chính do một

tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình, làm chủ sở hữu theo qui định của pháp luật hạch toán độc lập và có tư cách pháp nhân

Hiện nay, hai loại hình này không còn được ghi nhận trong Nghị định 81/2008/NĐ-CP ngày 29/07/2008 Các hình thức công ty tài chính cổ phần, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài vẫn tiếp tục được thừa nhận và quy định một cách chi tiết, cụ thể

- Công ty tài chính cổ phần : là công ty tài chính do các tổ chức và cá nhân (gọi là cổ đông) cùng góp vốn được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, cổ đông có quyền và nghĩa vụ trong phạm vi số lượng vốn đã góp vào doanh nghiệp;

có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác theo quy định của pháp luật 11 Số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng cổ đông tối

đa Công ty tài chính có tư cách pháp nhân; có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn

Công ty tài chính cổ phần là một trong ba hình thức công ty tài chính được thành lập và tổ chức phổ biến nhất hiện nay ở nứoc ta theo quy định của pháp luật hiện hành

- Công ty tài chính liên doanh : là công ty tài chính được thành lập bằng vốn góp giữa bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh

“Công ty tài chính liên doanh là công ty tài chính được thành lập tại Việt Nam bằng vốn góp của bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh

Khoản 1, điều 3 Luật Doanh nghiệp Nhà nước quy định: “ công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước

sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật này Công

ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước”

11

Điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005

Trang 18

nghiệp Việt Nam) và bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh, trong đó phần góp vốn của bên nước ngoài không vượt quá 49% vốn điều lệ của công ty tài chính , phần vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam không được vượt quá 30% vốn góp của bên Việt Nam Công ty tài chính liên doanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên.” 12

Công ty tài chính liên doanh là loại hình doanh nghiệp có các đặc điểm cơ bản như : thành viên công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp Phần góp vốn của các thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, thành viên có thể là tổ chức hoặc cá nhân, số lượng thành viện không vượt quá

50 Loại hình công ty tài chính liên doanh có tư cách pháp nhân nhưng không được phát hành cổ phiếu 13

- Công ty tài chính 100% vốn nước ngoài: là công ty tài chính được thành lập bằng vốn của một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam Công ty tài chính 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn là công ty tài chính được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu của một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài

14

Do đó công ty tài chính 100% vốn nước ngoài có thể được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Ngoài ra loại hình công ty tài chính 100% vốn nước ngoài còn có thể được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tức là do một tổ chức tín dụng nước ngoài làm chủ sở hữu, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi vốn điều lệ của công ty tài chính; chủ sở hữu có quyền chuyển nhượng toàn

bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho cá nhân, tổ chức khác; không được phát hành cổ phiếu và có tư cách pháp nhân 15

Qua phân tích giữa công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty tìa chính trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên ta thấy rằng đây đều là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và đều không được quyền phát hành

cổ phiếu Tuy nhiên ở hai loại hình doanh nghiệp này có những khác biệt cơ bản đó

Trang 19

Công ty tài chính dưới hình thức công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu Đối với công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thì thành viên có thể là tổ chức hoặc cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá 50

- Về quyền và nghĩa vụ :

Chủ sở hữu công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác; chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi vốn điều lệ của doanh nghiệp Trong khi đó, phần vốn góp của các thành viên ở công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật 16 Các thành viên công ty chịu trách nhiệm các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp

Cách phân loại dựa trên cơ sở chủ sở hữu vốn Tuy nhiên, cách phân chia này hiện không còn tương thích với những quy định của pháp luật hiện hành Theo

đà phát triển chung, nền kinh tế thế giới trong những năm gần đây phát triển nhanh với nhiều biến động lớn, suy thoái và khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng mạnh đến kinh tế nước ta đặc biệt là thị trường tài chính Để khắc phục tình trạng

đó và giảm bớt áp lực cho các tổ chức tín dụng đồng thời để đơn giản hoá cho việc quản lý, Chính phủ đã ban hành Nghị định 81/2008/NĐ-CP ngày 29/07/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 79/2002 quy định các hình thức thành lập

và hoạt động của công ty tài chính chỉ bao gồm ba loại hình : công ty tài chính cổ phần, công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bên cạnh đó, tại điểm 2, khoản 1, điều 1 Nghị định 81/2008/NĐ-CP ngày 29/07/2008 đã bổ sung công ty tài chính bao gồm các loại hình công ty tài chính tổng hợp được thực hiện tất cả các chức năng, nghiệp vụ theo quy định và công ty tài chính chuyên ngành hoạt động chủ yếu trên một số lĩnh vực như ; tín dụng tiêu dùng hoặc phát hành thẻ tín dụng và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật Việc quy định này là rất cần thiết với tình hình tài chính tín dụng hiện nay, đã triệt tiêu những loại hình không còn phù hợp, chuyển hoá và thay đổi các loại hình công ty tài chính nhằm thích ứng xu hướng phát triển hiện nay mà không làm mất đi sự đa dạng của các loại hình công ty tài chính

Đây cũng là cơ sở quan trọng cho các công ty tài chính ở Việt Nam hoạt động thuận lợi hơn góp phần vào việc điều tiết nguồn tài chính trên thị trường tín dụng hiện nay

16

Điều 43, 44, 45 Luật Doanh Nghiệp 2005

Trang 20

Qua phần trình bày trên, người viết đã nêu lên một cách tổng quát lịch sử hình thành công ty tài chính trên thế giới và ở Việt Nam, đồng thời trình bày định nghĩa và đặc điểm của công ty tài chính cũng như các loại hình tồn tại của công ty tài chính ở nước ta qua từng giai đoạn nhất định.Qua đó, làm cơ sở cho việc phân tích pháp luật về hoạt động của công ty tài chính sẽ được người viết trình bày ở phần tiếp theo

Trang 21

CHƯƠNG II PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH

2.1 Quy định về thành lập, giải thể, phá sản và thanh lý công ty tài chính

Công ty tài chính là một trong những loại hình tổ chức tín dụng được pháp luật thừa nhận và tồn tại ở Việt Nam đã gần 20 năm Đó là kết quả sự đòi hỏi khách quan, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế Các văn bản pháp luật như Luật các tổ chức tín dụng 1997, Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 và Nghị định 81/2008/NĐ-CP ngày 29/07/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 79/2008 về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính đã quy định về thành lập, tổ chức, quản trị, điều hành và hoạt động của công ty tài chính Những văn bản này đã góp phần tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho các công ty tài chính đi vào hoạt động hiệu quả, khuyến khích các công ty tài chính thành lập, làm đa dạng hoá các loại hình tín dụng

2.1.1 Quy định về thành lập công ty tài chính

Trước đây theo quy định của Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng, công

ty tài chính1990, quy trình thành lập một công ty tài chính ở nước ta gồm 2 khâu tách biệt: cấp giấy phép thành lập và cấp giấy phép hoạt động Để đơn giản hoá các thủ tục hành chính, tránh sự chồng chéo, phiền hà trong việc cấp giấy phép thành lập, giấy phép hoạt động cho các tổ chức tín dụng trong đó có các công ty tài chính, pháp luật hiện hành quy định:

“ Ngân hàng Nhà nước là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành

lập và hoạt động cho các tổ chức tín dụng và cấp giấy phép hoạt động ngân hàng cho các tổ chức khác theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật” 17

Do tính chất phức tạp của các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh và sự cần thiết phải đảm bảo an toàn cho hệ thống các tổ chức tín dụng, pháp luật quy định các điều kiện về cấp giấy giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng chặt chẽ hơn so với các quy định áp dụng cho các loại doanh nghiệp khác Việc thành lập các công ty tài chính được quy định cụ thể trong Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 và Thông tư 06/2002/TT-NHNN ngày 23/12/2002, Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản có liên quan Theo đó một tổ chức muốn cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải đáp ứng các điều kiện:

- Địa bàn mà công ty tài chính xin thành lập có nhu cầu về hoạt động của công ty tài chính Đây là một điều kiện quan trọng, bởi vì, sự thoả mãn điều kiện này sẽ đảm bảo cho một tổ chức tín dụng nói chung và công ty tài chính nói riêng ra

17

Điều 21, Luật Các Tổ chức tín dụng 1997 ( đã được sửa đổi, bổ sung 2004)

Trang 22

đời có thể tồn tại và phát triển Đồng thời, thoả mãn điều kiện này cũng là một đảm bảo cho việc phát triển tổ chức tín dụng có quy hoạch, thích ứng với yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế và đời sống xã hội

- Phải có đủ mức vốn pháp định theo quy định của chính phủ (không thấp hơn mức vốn pháp định do Chính phủ quy định cho mọi loại hình tổ chức tín dụng ) Bất kì tổ chức kinh tế nào muốn kinh doanh đều cần phải có vốn Trong kinh doanh tiền tệ vốn không chỉ là cơ sở để thực hiện kinh doanh, trang trải chi phí, bù đắp tổn thất rủi ro trong kinh doanh mà vốn còn là thước đo lòng tin của khách hàng đối với tổ chức tín dụng Mức vốn tự có của tổ chức tín dụng là cơ sở quan trọng để xác định mức huy động vốn, khả năng cho vay vốn và là căn cứ để tính các tỉ lệ an toàn trong các hoạt động của tổ chức tín dụng

Theo danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 về Ban hành danh mục mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng 18, các công ty tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải có biện pháp bảo đảm có số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp định là 300 tỷ (chậm nhất vào ngày 31/12/2008) và 500 tỷ (chậm nhất vào ngày 31/12/2010)

- Thành viên sáng lập là các tổ chức, cá nhân có năng lực tài chính theo quy định của Ngân hàng nhà nước Kinh doanh tiền tệ là một nghề kinh doanh đòi hỏi người kinh doanh phải có uy tín cao Uy tín là khả năng tài chính của người sáng lập ra tổ chức tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của chính tổ chức tín dụng

đó Do đó, quy định của pháp luật về điều kiện uy tín và năng lực tài chính của thành viên sáng lập là cần thiết

- Người quản trị điều hành có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và trình độ chuyên môn phù hợp với hoạt động của công ty tài chính và quy định của Ngân hàng nhà nước Người quản lý là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến

sự thành bại trong kinh doanh của một tổ chức kinh tế Hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng là hoạt động phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro, cho nên đòi hỏi người quản trị, điều hành phải có trình độ chuyên môn cao Đây là một điều kiện đảm bảo cho hoạt động của tổ chức tín dụng an toàn, hiệu quả, hạn chế tình trạng phá sản trong hệ thống các tổ chức tín dụng

- Có điều lệ tổ chức hoạt động phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 Điều lệ chính là sự cụ thể hoá các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của một

18

Điều 1, Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 về ban hành danh mục mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng

Trang 23

công ty tài chính Điều lệ xác định cụ thể mục tiêu, phương hướng, phạm vi, nội dung hoạt động, cách thức tổ chức bộ máy quản ký, chế độ tài chính… của tổ chức tín dụng Nội dung của điều lệ của tổ chức tín dụng có giá trị pháp lý rất quan trọng đối với tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng Vì vậy, điều lệ của công ty tài chính chỉ được thực hiện sau khi được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y 19

- Có phương án kinh doanh khả thi Đây cũng là một điều kiện cần thiết đảm bảo cho một công ty tài chính ra đời, hoạt động có hiệu quả Bởi vì, tổ chức tín dụng ra đời, hoạt động có hiệu quả thì trước hết tổ chức đó phải có được phương án kinh doanh cụ thể, cơ sở khoa học và thực tiễn, xác định được hiệu quả và những lợi ích kinh tế mà nó sẽ mang lại

Ngoài các điều kiện nêu trên, bên nước ngoài trong công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn nước ngoài phải được cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cho phép thực hiện các hoạt động ngân hàng hoặc hoạt động của công ty tài chính và được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép hoạt động tại Việt Nam

Tổ chức muốn thành lập công ty tài chính sau khi đã đáp ứng đủ điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải nộp hồ sơ cấp phép và lệ phí giấy phép tới Ngân hàng Nhà nước.Thủ tục để cấp giấy phép thành lập và giấy phép hoạt động thực hiện theo yêu cầu được quy định của Luật Các Tổ chức tín dụng Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ, Ngân hàng Nhà nước phải nghiên cứu, thẩm tra, đối chiếu với những điều kiện đã quy định để cấp giấy phép hoặc từ chối cấp giấy phép cho tổ chức có yêu cầu thành lập công ty tài chính Trường hợp Ngân hàng Nhà nước từ chối cấp giấy phép phải có văn bản giải thích

lý do rõ ràng 20

Sau khi công ty tài chính đã được cấp giấy phép, muốn tiến hành khai trương hoạt động phải tiến hành các thủ tục như: có điều lệ được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có đủ vốn pháp định và có trụ sở phù hợp với yêu cầu hoạt động của công ty tài chính, phải thông báo các nội dụng chủ yếu về thành lập công ty Công ty tài chính có thể bị thu hồi giấy phép hoạt động nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

- Có chứng cứ là hồ sơ xin cấp giấy phép có những thông tin cố ý làm sai sự thật;

19

Điều 30 Luật Các Tổ chức tín dụng 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung 2004)

20

Điều 23,24 Luật Các Tổ chức tín dụng 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung 2004);Điều 8 Thông tư

06/2002/TT-NHNN ngày 23/12/2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính

Trang 24

- Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép mà tổ chức đó không hoạt động;

- Tự nguyện hoặc bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc giải thể;

- Chia tách, hợp nhất, sáp nhập, phá sản;

- Hoạt động sai mục đích;

- Không có đủ các điều kiện để hoạt động 21

Sau khi bị thu hồi giấy phép, công ty tài chính phải chấm dứt ngay mọi hoạt động đã ghi trong giấy phép

Như vậy, môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh của các công ty tài chính ở Việt Nam được xác lập khá cơ bản và đầy đủ Điều này đã tạo cơ sở pháp lý tốt cho các công ty khi tiến hành hoạt động Những điều kiện tiêu chuẩn pháp luật khá chi tiết, nhiều quy định đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi đối với loại hình kinh doanh này Chẳng hạn các quy định về vốn pháp định, tiêu chuẩn đối với thành viên sáng lập, quản trị, điều hành, biện pháp kiểm soát đặt biệt Qua đó đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước phát triển loại hình tổ chức tín dụng này, làm phong phú thêm các loại hình tổ chức tín dụng trong thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam 2.1.2 Quy định về phá sản, giải thể và thanh lý công ty tài chính

Nếu thành lập công ty tài chính là một thủ tục bắt buộc hình thành nên chủ thể mới thì giải thể, phá sản, thanh lý là nhằm chấm dứt tư cách pháp nhân của công

ty tài chính với những điều kiện và hệ quả khác nhau Theo quy định tại điều 37 của Nghị định 79/2002/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính thì việc phá sản, giải thể, thanh lý công ty tài chính được thực hiện theo các quy địmh của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của Ngân hàng nhà nước

2.1.2.1 Quy định về kiểm soát đặc biệt đối với công ty tài chính

Kinh tế thi trường là một nền kinh tế vận hành theo các quy luật khách quan,

nó tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng đối với tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Trong đó nếu muốn tồn tại được các doanh nghiệp vừa phải hợp tác vừa phải cạnh tranh với nhau một cách mạnh mẽ Điều này mang lại cơ hội phát triển rất lớn cho các doanh nghiệp có vốn, sự quản lý, hoạt động kinh doanh hiệu quả, song lại là sự đào thải vô cùng khắc nghiệt đối với các doanh nghiệp yếu kém, không có sức cạnh tranh trên thị trường và công ty tài chính cũng không năm ngoài quy luật đào thải này Do đặc thù các hoạt động tín dụng ngân hàng có độ rủi ro rất lớn và có ảnh hưởng dây chuyền, để đảm bảo lợi ích khách hàng và của nền kinh tế, ngoài các biện pháp bảo đảm an toàn, hạn chế rủi ro Nhà nước phải áp dụng cơ chế kiểm soát để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phá

21

Điều 21 Luật Các Tổ chức tín dụng 1997(sửa đổi, bổ sung 2004)

Trang 25

sản của các tổ chức tín dụng Khi lâm vào tình trạng chuẩn bị phá sản, các công ty này sẽ được áp dụng biện pháp kiểm soát đặt biệt Kiểm soát đặt biệt là hình thức công ty tài chính được đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước do

có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán Khi xuất hiện nguy cơ công ty tài chính mất khả năng chi trả cho khách hàng thì công ty tài chính phải báo cáo ngay với Ngân hàng Nhà nước thực trạng về tài chính, các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, các biện pháp đã được áp dụng và các phương hướng khắc phục sẽ thực hiện Trong khi đó Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm xem xét, kiểm tra giám sát và quyết định có đặt công ty tài chính vào tình trạng kiểm soát đặc biệt hay không

Việc công ty tài chính có thể được đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt khi rơi vào những trường hợp như có nguy cơ mất khả năng chi trả, nợ không có khả năng thu hồi có khả năng mất thanh toán hoặc khi số lũy kế của công ty tài chính lớn hơn 50% tổng số vốn điều lệ thực có và các quỹ

Mục đích chủ yếu của chế độ kiểm soát đặt biệt với công ty tài chính là nhằm giúp đỡ công ty tài chính đang gặp khó khăn về thanh toán, chi trả vượt qua khó khăn tài chính đó, bảo vệ sự an toàn cho công ty tài chính và cả hệ thống tín dụng Trong một thời gian cho phép ( thường khoảng 2 năm) các công ty tài chính cùng sự giúp đỡ của Ngân hàng nhà nước sẽ đề ra các biện pháp cần thiết để khắc phục khó khăn, khôi phục hoạt động bình thường Trong trường hợp xấu nhất khi mọi biện pháp khắc phục điều không hiệu quả thì công ty tài chính sẽ bị toà án mở thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản theo Luật phá sản, chấm dứt sự tồn tại của công ty

Quyết định đặt công ty tài chính vào tình trạng kiểm soát đặc biệt được Ngân hàng Nhà nước thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các cơ quan hữu quan trên địa bàn có công ty tài chính này để phối hợp thực hiện Ngoài những cơ quan trên thì việc công ty tài chính được áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt được giữ bí mật, không được đưa ra công luận, đồng thời Ngân hàng Nhà nước thành lập một Ban kiểm soát đặc biệt để thực hiện công việc này

Ban kiểm soát đăc biệt có nhiệm vụ chỉ đạo, xem xét thông qua phương án củng cố công ty tài chính đồng thời giám sát việc thực hiện các phương án này Sau

đó báo cáo Ngân hàng Nhà nước về tình hình hoạt động, kết quả thực hiện phương

án củng cố công ty tài chính cũng như những biến động của công ty tài chính bị đặt trong tình trạng kiểm soát Ban kiểm soát đặc biệt có quyền đình chỉ, tạm đình chỉ đối với những hoạt động không phù hợp với phương án củng cố hoặc những người

có hành vi vi phạm pháp luật, không chấp hành các phương án củng cố công ty tài chính đã thông qua Nếu xét thấy cần thiết, Ban kiểm soát đặt biệt có quyền tạm

Trang 26

đình chỉ hoặc đề nghị Thống đốc đình chỉ quyền quản trị, kiểm soát, điều hành tổ chức tín dụng của Chủ tịch và thành viên Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc ( Phó giám đốc)

Ban kiểm soát đặc biệt đề nghị công ty tài chính được đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt báo cáo, cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến tổ chức và hoạt động của công ty tài chính, kiểm kê tài sản hiện có, mời các khách nợ, chủ nợ đến đối chiếu công khai để xác định khả năng thu nợ, trả nợ

Ngoài ra, Ban kiểm soát đặc biệt có quyền kiến nghị với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về gia hạn hoặc chấm dứt thời hạn kiểm soát đặc biệt, về các khoản cho vay đặc biệt đối với công ty tài chính, kiến nghị Thống đốc về các biện pháp xử

lý đối với công ty tài chính bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt và quyết định những vấn đề phát sinh không có trong phương án củng cố công ty tài chính 22

Bên cạnh đó, công ty tài chính khi được áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt có trách nhiệm thực hiện biện pháp này cùng với Ban kiểm soát đặc biệt cụ thể

là : xây dựng phương án củng cố tổ chức và hoạt động trình Ban kiểm soát đặc biệt thông qua đồng thời tiếp tục quản trị, kiểm soát, điều hành, đảm bảo an toàn tài sản của công ty tài chính và chấp hành yêu cầu của Ban kiểm soát đặc biệt liên quan đến tổ chức, quản trị, điều hành, kiểm soát công ty tài chính

Tuy nhiên trong những trường hợp cấp thiết, công ty tài chính sẽ được các tổ chức tín dụng khác hoặc Ngân hàng Nhà nước cho vay đặc biệt để đảm bảo khả năng chi trả tiền gửi của khách hàng, với điều kiện các khoản vay này được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác của công ty tài chính 23

Khi hoạt động của công ty tài chính được phục hồi trở lại bình thường thì việc kiểm soát đặc biệt sẽ kết thúc Ngoài ra việc kiểm soát đặc biệt được kết thúc trong các trường hợp như hết hạn kiểm soát đặc biệt mà không được gia hạn hoặc trước khi kết thúc thời hạn kiểm soát đặc biệt, công ty tài chính được sáp nhập, hợp nhất, công ty tài chính lâm vào tình trạng phá sản

Việc kết thúc áp dụng biện pháp đặc biệt được thực hiện bằng một quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, quyết định này được thông báo cho các cơ quan có liên quan 24

2.1.2.2 Phá sản và giải thể công ty tài chính

Trang 27

Là một doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam nên khi công

ty tài chính lâm vào tình trạng phá sản được áp dụng theo quy định của Luật Phá Sản 2004

Khi công ty tài chính rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn cho khách hàng thì Ngân hàng Nhà nước sẽ có văn bản áp dụng biện pháp kiểm soát đặt biệt nhằm phục hồi khả năng thanh toán của công ty tài chính Sau đó, nếu công

ty tài chính vẫn mất khả năng thanh toán, không thể khôi phục hoạt động bình thường thì có thể bị Toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản

Giống như các loại hình doanh nghiệp khác, người đứng đầu công ty tài chính hoặc đại diện hợp pháp của công ty tài chính, các thành viên cổ đông, các chủ

nợ không có bảo đảm hoặc bảo đảm một phần, đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động là những người có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản

Công ty tài chính là một loại hình doanh nghiệp nên thẩm quyền giải quyết khi

có yêu cầu tuyên bố phá sản như sau :

Toà án Nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với công ty tài chính đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó

Đối với công ty tài chính có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì Toà án Nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của công ty tài chính có vốn đầu tư nước ngoài đó có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản 25

Sau khi có đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, Toà án phải xem xét khả năng thanh toán nợ đến hạn của công ty tài chính để ra quyết định mở hay không mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản công ty tài chính Tòa án sẽ ra quyết định mở thủ tục phá sản khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có văn bản về việc không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán hoặc có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt và công ty tài chính vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn

26

Tuy nhiên nếu xét thấy công ty tài chính chưa lâm vào tình trạng phá sản, Tòa án ra quyết định không mở thủ tục phá sản Quyết định không mở thủ tục phá sản phải được Tòa án gửi cho người làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Người làm đơn yêu cầu có quyền làm đơn khiếu nại với Chánh án Tòa án đó trong thời hạn bảy ngày

Trang 28

Sau năm ngày kể từ ngày nhận đơn khiếu nại đối với quyết định không mở thủ tục phá sản, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định là giữ nguyên quyết định không mở thủ tục phá sản hoặc huỷ quyết định không mở thủ tục phá sản và ra quyết định mở thủ tục phá sản

Trong trường hợp Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản thì quyết định này phải gửi cho công ty tài chính lâm vào tình trạng phá sản, Viện kiểm sát cùng cấp, đăng báo nơi công ty tài chính có địa chỉ chính Đồng thời, quyết định này cũng phải được thông báo cho các chủ nợ, những người mắc nợ của công ty tài chính lâm vào tình trạng phá sản

Trong trường hợp công ty tài chính bị tuyên bố phá sản, việc thanh lý công ty tài chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp27 Mọi chi phí liên quan đến việc thanh lý do công ty tài chính bị thanh lý chịu28

Khác với phá sản, giải thể công ty tài chính là việc chấm dứt sự tồn tại, xoá tên công ty tài chính đó trong sổ đăng ký kinh doanh Giải thể tổ chức tín dụng có bản chất pháp lý khác với phá sản tổ chức tín dụng về lý do, nguyên nhân, thủ tục tiến hành và hậu quả pháp lý Đây là một thủ tục hành chính, có thể xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan

Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng thì việc giải thể của tổ chức tín dụng được thực hiện trong các trường hợp sau:

Tự nguyện xin giải thể nếu có khả năng thanh toán nợ và được Ngân hàng nhà nước chấp nhận;

Khi hết hạn hoạt động mà tổ chức tín dụng không xin gia hạn hoặc xin gia hạn mà Ngân hàng Nhà nước không chấp nhận

Bị thu hồi giấy phép hoạt động 29

Công ty tài chính giải thể phải tiến hành thanh lý ngay dưới sự giám sát của Ngân hàng nhà nước, mọi chi phí liên quan đến hoạt động thanh lý do công ty tài chính chịu trách nhiệm

2.2 Quy định pháp luật về tổ chức, quản trị, điều hành và kiểm soát của công ty tài chính

Cơ cấu tổ chức của công ty tài chính bao gồm hội sở chính và đơn vị trực thuộc Trong đó, hội sở chính là cơ quan quản lý và chỉ đạo hoạt động của toàn hệ thống, đồng thời trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh Các đơn vị trực thuộc là các sở giao dịch, các chi nhánh, văn phòng đại diện độc lập ở những nơi có

Trang 29

nhu cầu hoạt động kể cả ở nước ngoài khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép Các đơn vị trực thuộc là đại diện của pháp nhân có con dấu riêng, trực tiếp giao dich với khách hàng, hạch toán kinh tế nội bộ tại trụ sở chính, chi nhánh của công ty tài chính có thể thiết lập các Phòng (Ban) chuyên môn, nghiệp vụ, văn phòng và các phòng giao dịch Ngoài ra, công ty tài chính được thành lập công ty trực thuộc, có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập bằng vốn tự có để hoạt động dịch vụ tài chính, tiền tệ, môi giới, bảo hiểm, chứng khoán và tư vấn theo quy định của pháp luật Công ty tài chính cũng có thể thành lập các đơn vị sự nghiệp trong tổ chức của mình nếu được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước 30

Công ty tài chính có thể mở chi nhánh, văn phòng đại diện, thành lập công ty khi có đủ các điều kiện như : Có thời gian hoạt động tối thiểu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; hoạt động kinh doanh có lãi, tình hình tài chính lành mạnh;

bộ máy quản trị, điều hành và hệ thống kiểm tra nội bộ hoạt động có hiệu quả; hệ thống thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý; không vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật 31

Tương tự các tổ chức tín dụng khác, công ty tài chính đều nằm dưới sự điều hành của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc(Giám đốc), Ban kiểm soát Mỗi bộ phận có chức năng nhiệm vụ riêng, tránh sự chồng chéo, tạo điều kiện cho công ty tài chính thực hiện tốt hoạt động của mình Hội đồng quản trị có chức năng quản trị công ty tài chính , có toàn quyền nhân danh công ty tài chính để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty tài chính, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông đối với công ty tài chính cổ phần hoặc chủ sở hữu đối với công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc thành viên góp vốn đối với công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn hai thành viên Hội đồng quản trị

có số thành viên tối thiểu là ba người gồm những người có uy tín, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết về hoạt động tài chính- ngân hàng Hội đồng quản trị và thành viên Hội đồng quản trị có nhiệm kỳ từ ba đến năm năm Thành viên Hội đồng quản trị có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế và có thể được bãi nhiệm, miễm nhiệm bất cứ lúc nào

Ban kiểm soát trong công ty tài chính có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chính, giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, sự an toàn trong hoạt động của công ty tài chính Thành viên Ban kiểm soát có tối thiểu là ba người, trong đó có một người là trưởng ban và ít nhất phải có một nữa thành viên là chuyên trách

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w