Tuy nhiên, hiện tại với việc những khu dân cư đô thị được hình thành một cách nhanh chóng và đi trước những quy định của pháp luật đã dẫn đến tình trạng những khu dân cư đô thị hình thàn
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHÓA 34: 2008 – 2012
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU DÂN CƯ
ĐÔ THỊ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI KHU DÂN CƯ ĐÔ THỊ 5A, TP SÓC TRĂNG
Ths Kim Oanh Na Dương Mỹ Tiên
Lớp: Luật Tư pháp 2- K34
Trang 2LỜI CẢM ƠN !
Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn trường Đại học Cần Thơ, Khoa
Luật đã tạo điều kiện cho em có cơ hội tham gia học tập, nghiên cứu và hoànthành luận văn tốt nghiệp lớp cử nhân luật
Cảm ơn quý thầy cô trong những năm qua đã tận tình truyền thụ nhữngkiến thức quý báo cho em trong suốt quá trình học tập Đặc biệt, em xin chânthành cảm ơn giảng viên hướng dẫn, người đã hỗ trợ, giúp đỡ em nghiên cứu
đề tài này Thầy nhiệt tình hướng dẫn em từ lúc tìm tài liệu tham khảo cho đếnlúc đào sâu nghiên cứu, với sự nhắc nhở, gợi mở vấn đề của thầy đã giúp em
hoàn thành luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của mình Một lần nữa em xinchân thành cảm ơn quý thầy cô
Mặc dù đã rất cố gắng trong việc nghiên cứu nhưng do chưa có điềukiện cọ sát nhiều với thực tế, kiến thức chuyên môn còn hạn chế nên trong quátrình tìm hiểu, phân tích, trình bày đề tài không tránh khỏi những khuyết điểmnhất định Rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cũng như cácbạn sinh viên để đề tài này được hoàn thiện hơn
Cần Thơ, ngày 27 tháng 04 năm 2012.
Người viết
Dương Mỹ Tiên
Trang 3 ……… ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
…
Trang 4 ……… ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
…
Trang 51.1 N HữNG KHÁI NIệM CHUNG -9
1.1.1 Khái niệm môi trường -9
1.1.2 Khái niệm khu dân cư đô thị - 11
1.1.3 Bảo vệ môi trường khu dân cư đô thị - 13
1.2 T ÌNH HÌNH KHU DÂN CƯ ĐÔ THị VÀ BảO Vệ MÔI TRƯờNG TRONG KHU DÂN CƯ ĐÔ THị V IệT N AM - 15
1.2.1 Tình hình hiện tại của khu dân cư đô thị Việt Nam - 15
1.2.2 Hướng phát triển và phân loại khu dân cư đô thị tại Việt Nam - 17
1.2.3 Tình hình bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị Việt Nam - 18
1.3 M ụC ĐÍCH CủA VIệC BảO Vệ MÔI TRƯờNG TRONG KHU DÂN CƯ ĐÔ THị - 20
1.4 S Ơ LƯợC QUI ĐịNH CủA PHÁP LUậT Về BảO Vệ MÔI TRƯờNG TRONG KHU DÂN CƯ ĐÔ THị - 23
CHƯƠNG 2 - 26
2.1 C ÁC QUY HOạCH Về ĐấT ĐAI - 26
2.1.1 Diện tích đất cho phép xây dựng - 26
2.1.2 Vị trí của khu dân cư đô thị và những công trình xung quanh - 28
2.1.3 Các quy định về sử dụng đất - 30
2.2 H ệ THốNG CÔNG TRÌNH THU GOM , Xử LÝ NƯớC THảI TậP TRUNG ; Hệ THốNG TIÊU THOÁT NƯớC MƯA ; Hệ THốNG CƠ Sở THU GOM , TậP KếT , Xử LÝ , TÁI CHế CHấT THảI RắN - 32
2.2.1 Hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống tiêu thoát nước mưa - 32
2.2.2 Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn - 37
2.3 H ệ THốNG CÔNG VIÊN , KHU VUI CHƠI , GIảI TRÍ , CÔNG TRÌNH CÔNG CộNG - 40
2.3.1 Hệ thống công viên, khu vui chơi, giải trí - 40
2.3.2 Công trình dịch vụ công cộng - 41
2.3.3 Cách bố trí công trình công cộng - 42
2.4 H ệ THốNG CÂY XANH , VÙNG NƯớC - 43
2.5 H ệ THốNG CấP NƯớC PHụC Vụ SINH HOạT , SảN XUấT - 45
2.6 K HU VựC MAI TÁNG - 48
2.7 T RÁCH NHIệM CủA CƠ QUAN QUảN LÍ CủA NHÀ NƯớC Về THựC TIễN THựC HIệN PHÁP LUậT BảO Vệ MÔI TRƯờNG TRONG KHU DÂN CƯ ĐÔ THị - 49
CHƯƠNG 3 - 53
3.1 G IớI THIệU Về KHU ĐÔ THị 5A TP S ÓC T RĂNG , TỉNH S ÓC T RĂNG - 53
3.2 T HựC TIễN MÔI TRƯờNG TạI KHU ĐÔ THị 5A TP S ÓC T RĂNG , T ỉNH S ÓC T RĂNG - 55 3.2.1 Các quy hoạch về đất đai - 55
3.2.2 Hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống tiêu thoát nước mưa; hệ thống cơ sở thu gom, tập kết, xử lý, tái chế thải rắn - 58
Trang 63.2.5 Khu vực mai táng - 63
3.3 T HựC TRạNG TồN TạI CủA VIệC THựC HIệN PHÁP LUậT BảO Vệ MÔI TRƯờNG TRONG
KHU DÂN CƯ ĐÔ THị VÀ BIệN PHÁP Xử LÝ VI PHạM PHÁP LUậT BảO Vệ MộI TRƯờNG TRONG KHU ĐÔT THị - 63
3.3.1 Thực trạng tồn tại của việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong
khu dân cư đô thị - 63
3.3.2 Xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị 67
3.4 H ƯớNG HOÀN THIệN CHO VIệC ÁP DụNG LUậT BảO Vệ MÔI TRƯờNG KHU DÂN CƯ ĐÔ
THị VÀO THựC TIễN - 69
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Việt Nam hiện nay đang là một quốc gia phát triển, quá trình đô thị hóa đangtiến hành mạnh mẽ trên cả nước, đặc biệt trong đó là việc tiến hành xây dựng khu
dân cư đô thị để giải quyết chỗ ở hiện tại cho người dân đô thị Theo ý kiến của các
chuyên gia thì việc hình thành những khu dân cư đô thị là một nhu cầu tất yếu hiệnnay đồng thời việc hình thành khu dân cư đô thị được xem là biện pháp ưu việt chovấn đề giải quyết chỗ ở cho người dân đô thị Chính vì thế những dự án, những khudân cư đô thị được hình thành hầu hết ở các tỉnh thành trên cả nước
Theo thực tiễn thì hiện nay những dự án khu dân cư đô thị chưa xây dựng,
đang xây dựng và những dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng đã cho thấy những
hiệu quả tích cực của các khu dân cư đô thị Khu dân cư đô thị ngoài là chỗ ở còn là
nơi sinh hoạt, giải trí, làm việc, kinh doanh cho người dân sống trong khu dân cư đô
thị, góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa tại các địa phương
Tuy nhiên, hiện tại với việc những khu dân cư đô thị được hình thành một
cách nhanh chóng và đi trước những quy định của pháp luật đã dẫn đến tình trạng
những khu dân cư đô thị hình thành nhưng không đáp ứng được mục đích đã đề ra,
người dân hoàn toàn không nhận được những lợi ích mà khu dân cư đô thị mang lại
mà phải sống trong tình trạng như “dùng nước khoan, không điện, không cơ sở dân
sinh” Chính vì thế việc điều chỉnh thực trạng này bằng những quy định pháp luật là
vô cùng cần thiết Tuy nhiên hiện nay pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu dân
cư đô thị còn nhiều bất cập, thiếu sót không đạt được sự song hành của pháp luật và
thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị Chính
vì những nguyên nhân này người viết lựa chọn đề tài “ Pháp luật bảo vệ môi trườngtrong khu dân cư đô thị và thực tiễn thực hiện tại khu dân cư đô thị 5A thành phố
Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng” làm đề tài luận văn nghiên cứu luận văn tốt nghiệp
2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về pháp luật bảo vệ môi trường khu dân cư đô thị vàthực tiễn thực hiện tại khu dân cư đô thị 5A Thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc trăng
Vì vậy tại đây người viết tập trung trình bày các quy định của pháp luật có liên quan
đến những quy định pháp luật bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị được quyđịnh trong luật bảo vệ môi trường năm 2005 và thực tiễn áp dụng tại khu dân cư đô
thị thực tế
Trang 83 Mục đích nghiên cứu
Mục đích ngiên cứu của đề tài là nhằm giúp bản thân hiểu rõ hơn các quy
định của pháp luật về bảo vệ môi trường đặc biệt là trong khu dân cư đô thị Bên
cạnh đó là phân tích các quy định về bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thịnhằm chỉ ra những điểm bất cập của pháp luật Việt Nam cùng với những khó khăntrong quá trình thực hiện các quy định đó, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiệnpháp luật về bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị Mục đích cuối cùng ngườiviết mong muốn là hoàn thành tốt kế hoạch học tập đề ra
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn người viết đã sử dụng các phương pháp
như phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh
tổng hợp, diễn giải suy luận logic để hoàn thành đề tài nghiên cứu
5 Thực tiễn đóng góp luận văn
Qua quá trình nghiên cứu ngưới viết đã trình bày sơ lược về những quy địnhcủa pháp luật bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị, đồng thời chỉ ra nhữngthực trạng và mong muốn trên những hướng hoàn thiện người viết đóng góp sẽ giúphoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị
6 Bố cục đề tài
Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm có ba
chương
Chương 1: Những vấn đề chung về môi trường và khu dân cư đô thị
Chương 2: Quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thịChương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị
5A Thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
Trang 9CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ KHU DÂN CƯ ĐÔ THỊ 1.1 Những khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm môi trường
Môi trường là một thuật ngữ đã xuất hiện rất lâu trong xã hội Thuật ngữ này
có nguồn gốc từ tiếng pháp “environner” có nghĩa là bao quanh hoặc chu trình khépkín thuật ngữ này được các quốc gia sử dụng khá phổ biến trong những năm đầuthập niên 60 của thế kỷ XX, cụ thể như: “Umwelt” (German-Đức); “Mileu” (Dutch-
Hà Lan); “Medioambinte” (Spanish- Tây Ban Nha); Meio ambient”
(Portuguese-Thổ Nhỉ Kỳ ); Al’biah” (Arabic-Ả rập); “Okruhayuchaia sreda” (Russian-Nga); và
“Kankyo” (Japanese-Nhật Bản)1
Ngoài ra thuật ngữ môi trường còn được dùng trong rất nhiều trường hợp
khác nhau như môi trường kinh tế, môi trường vật lý, môi trường pháp lý Trong
những lĩnh vực khác nhau thuật ngữ môi trường cũng được giải thích một cách khác
nhau nhưng cùng có một điểm chung “Môi trường là tập hợp các điều kiện và hiệntượng bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện nào đó” Chính đặcđiểm này chúng ta có thể nhận định rằng mỗi dạng đều có một môi trường mà
chúng tồn tại khác nhau
Chính điều này mà rất nhiều quốc gia, tổ chức đã đưa ra những khái niệm
cho Thuật ngữ này
“Môi trường” là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã
hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ con
người hay sinh vật ấy.2
Sau đó lại có cách giải thích khác cho thuật ngữ môi trường
“Môi trường” là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là
một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các sắc màu xã hội của một thời kì hay một xãhội3
Trang 10Hai khái niệm nêu trên đều cùng giải thích thuật ngữ “môi trường” nhưngcách giải thích này chỉ giải thích thuật ngữ môi trường ở tầm khái quát chưa bao
hàm được những vật chất cụ thể cần giải thích trong môi trường mà vật chất đó tồn
tại Nhưng đến khi có những khái niệm giải thích thuật ngữ “Môi trường” chi tiếtcho từng lĩnh vực
Môi trường tự nhiên: bao gồm các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học
tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người (đất, nước, không khí, sinh vật)
Môi trường xã hội: là tổng thể các mối quan hệ giữa người với người
tạo lên sự trở ngại hoặc thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Môi trường nhân tạo: là tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con
người tạo nên và chịu sự chi phối của con người
Nhưng khi giải thích thuật ngữ này ở tầm vi mô, ở mức độ cụ thể thì lại dẫnđến những hạn chế, những cách hiểu chưa đúng về môi trường trong một hoàn cảnh
cụ thể riêng biệt Để có một khái niệm tổng quát cho thuật ngữ môi trường, mộtcách hiểu đầy đủ về khái niệm này năm 1981 UNESCO đã đưa ra một khái niệm
môi trường: “Môi trường” là toàn bộ hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con
người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của
mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhầm thỏa mãn các nhucầu của con người4 Trong khái niệm này thuật ngữ môi trường bao gồm cả môi
trường tự nhiên, môi trường xã hội có mối quan hệ mật thiết và tương tác lẫn nhau
nhầm hướng tới và tạo ra một môi trường sống phù hợp
Sau đó khái niệm môi trường dần được giải thích qua những quốc gia riêng
biệt và ngày càng được tìm hiểu, quan tâm trở thành những qui định trong hệ thốngpháp luật của quốc gia
Tại Việt Nam “Môi trường” bắt đầu được ghi nhận bằng các quy phạm phápluật năm 1993 Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam được ban hành sau đó đượcsửa đổi hoàn chỉnh vào năm 2005 Đánh dấu sự quan tâm và nhận thức vai trò của
môi trường ngày càng quan trọng Cụ thể khái niệm môi trường được giải thích ở
khía cạnh luật học như sau:
Khái niệm môi trường trong Luật bảo vệ môi trường năm 1993: Tại Điều 1
đoạn 1 quy định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” Đây là văn bản ghi
4
Tuyên ngôn 1981 của UNESCO
Trang 11nhận sự hoàn chỉnh đầu tiên của hệ thống pháp luật môi trường trong hệ thống phápluật Việt Nam nên khái niệm môi trường được ghi nhận bao gồm yếu tố tự nhiên vàyếu tố vật chất nhân tạo có mối quan hệ mật thiết với nhau và bao quanh con người
có ảnh hưởng đến đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và
thiên nhiên Nhưng cách giải thích này lại chung chung khái quát tạo nên cách hiểumôi trường chỉ ở mức sơ lược Chính nhận thức được sự chưa hoàn chỉnh của Luật
bảo vệ môi trường năm 1993 nên đến năm 2005 Việt Nam đã ban hành Luật bảo vệ
môi trường thay thế cho Luật bảo vệ môi trường năm 1993 Trong Luật bảo vệ môi
trường 2005 lại đưa ra một khái niệm môi trường được giải thích trong Luật bảo vệ
môi trường:
Khái niệm môi trường nằm trong Luật bảo vệ môi trường 2005: Tại Điều 3
khoản 1 qui định: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất
bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật Chính khái niệm môi trường được giải thích trong Luật
bảo vệ môi trường 2005 nhận thức sự bao quanh của môi trường và có sự ảnh
hưởng tương tác đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh
vật Từ đó trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề đều nêu những khái niệm môi
trường cụ thể riêng biệt nhưng đều dựa trên những giải thích khái niệm môi trường
của Luật bảo vệ môi trường năm 2005
1.1.2 Khái niệm khu dân cư đô thị
Khu dân cư đô thị là một khái niệm được đặt ra rất sớm ở các nước phương
Tây khái niệm này bắt nguồn từ khái niệm một môn học Đô thị học mới, hiện chưa
có từ tương đương trong tiếng Việt Theo định nghĩa của TDM Encyclopediathì community livability có liên quan đến chất lượng môi trường và xã hội của mộtkhu vực mà cư dân tại chỗ, người đến làm việc, khách hàng và khách tham quancảm nhận được Nó bao gồm an toàn và sức khoẻ (an toàn giao thông, an ninh cánhân, sức khoẻ công cộng), các điều kiện môi trường địa phương (sạch sẽ, tiếng ồn,bụi, chất lượng của không khí và nước), chất lượng của các tương tác xã hội (quan
hệ láng giềng trung thực và tôn trọng nhau, nét đặc trưng và niềm tự hào của cộng
đồng), các cơ hội vui chơi và giải trí, cảm nhận thẩm mỹ, và sự tồn tại các tàinguyên văn hoá và môi trường độc nhất (như di tích lịch sử, cây cổ thụ, phong cách
kiến trúc truyền thống) Community livability có lợi ích trực tiếp cho những người
đang sinh sống, làm việc hoặc đến thăm khu vực đó, giúp gia tăng giá trị tài sản và
Trang 12hoạt động kinh doanh, và có thể giúp nâng cao sức khoẻ và sự an toàn Livabilityphụ thuộc nhiều vào các khu vực công cộng, các địa điểm mà ở đó con người tươngtác tự nhiên với nhau và với cộng đồng, bao gồm phố xá, công viên, đầu mối giaothông và các tiện ích công cộng khác, và cũng phụ thuộc vào chính sách công vàcác quyết định quy hoạch5.
Khu dân cư đô thị ở phương Tây chỉ được giải thích đầu tiên qua những môn
học sau đó dần được qui định thành pháp luật và loại hình này được dịch và hiểu là
Khu đô thị an cư tại trong pháp luật Hoa Kỳ quy định các quy tắc quy hoạch Khu đô
thị an cư trong Hiến chương đô thị học mới thông qua năm 1996
Khi du nhập vào phương Đông vào thập kỉ 30 tại Trung Quốc khái niệm khu
đô thị dân cư đầu tiên được hiểu là xã khu Từ xã khu có nghĩa là khu vực xã hội.
Sau đó trong Từ điển bách khoa về Công tác Xã hội của Trung Quốc định
nghĩa: “quy hoạch cộng đồng là sự sắp xếp tổng thể việc xây dựng cộng đồng” Mục
đích của nó là: sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội, hài hoà các loại quan hệ xã hội
trong cộng đồng, bố trí hợp lý sức sản xuất, phát triển theo kế hoạch các cơ sở phục
vụ đời sống của cư dân, từ đó mà nâng cao hiệu ích kinh tế và xã hội của toàn bộhoạt động xây dựng cộng đồng, bảo vệ môi trường sinh thái, thúc đẩy sự phát triểnkinh tế và xã hội của cộng đồng”
Tóm lại hầu hết các nước đều đưa ra một khái niệm chung cho đến khi đếnViệt Nam khái niệm này lại được tạm gọi là cộng đồng do được dịch từ các kháiniệm tồn tại tại nước ngoài Nhưng thật sự khái niệm cộng đồng cũng chỉ là cáchgọi dựa vào cách dịch vay mượn
Đến năm 1994, khái niệm khu dân cư đô thị mới bắt đầu xuất hiện ở nước ta
gắn liền với sự ra đời của một số khu đô thị điển hình như Định Công, Bắc Linh
Đàm, Trung Yên6 Và hiện nay trong Dự thảo Luật Quy hoạch Đô thị đang trìnhQuốc hội xem xét mới đưa ra một khái niệm chính thức cho Khu dân cư đô thị làmột khu vực trong đô thị, được đầu tư xây dựng theo dự án đồng bộ về hạ tầng kỹthuật, hạ tầng xã hội, và nhà ở Như vậy, khu dân cư đô thị là khái niệm được sửdụng hiện nay
5
Phạm Sỹ Liêm, Tổng hội xây dựng Việt Nam: Khu đô thị mới an,
http://www.tonghoixaydungvn.org/default.aspx?Tab=121&Tinso=1593,[ truy cập ngày 21/2/2012]
6 Lam Nguyên,Đô thị mới có làm thỏa mãn giấc mơ nhà ở, man-giac-mo-nha-o/148/7526960.epi,[ truy cập ngày 21/2/2012]
Trang 13http://www.baomoi.com/Do-thi-moi-co-lam-thoa-Dự thảo Luật Quy hoạch đô thị giải thích Khái niệm khu dân cư đô thị hiệnnay phải đảm bảo các điều kiện tiên quyết được đưa ra khi giải thích cho khu dân cư
đô thị; Đó là: được đầu tư xây dựng đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, và nhà ở” phân tích giải thích luật cho thấy:
Trước nhất, là xem xét khi xây dựng phải đảm bảo tính Đồng bộ như vậy
chúng ta tìm hiểu Đồng bộ là gì? Theo từ điển tiếng Việt giải thích đồng bộ là cócùng chu kì hoặc cùng tốc độ, được tiến hành trong cùng một thời gian, tạo ra một
sự phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp với nhau Từ đó cho thấy tất cả các công trình hạtầng xã hội – hạ tầng kỹ thuật – công trình nhà ở phải đảm bảo được sự đồng bộ nóitrên
Kế đến, là hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong khu dân cư được quy hoạch xây
dựng này được qui định tại Khoản 5 Điều 3 của Luật xây dựng năm 2003: “Hệ
thống công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống giao thông, thông tin liên lạc,
cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý các chấtthải và các công trình khác
Thứ ba, là hạ tầng xã hội: theo qui định tại Khoản 6 Điều 3 của Luật xây
dưng: “Hệ thống công trình hạ tầng xã hội bao gồm các công trình y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, mặt nước
và các công trình khác”.
Cuối cùng, là xét về công trình nhà ở Theo đoạn hai Điều 1 Luật Nhà ở năm
2005 qui định: “Nhà ở theo quy định của Luật này là công trình xây dựng với mục
đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”.
1.1.3 Bảo vệ môi trường khu dân cư đô thị
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch
sẽ, cải thiện môi trường, đảm bảo môi trường sinh thái, ngăn chặn, khắc phục hậuquả do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường khai thác và sử dụng hợp lý
và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
Phạm vi của môi trường có thể lớn, nhỏ khác nhau tuỳ thuộc vào quy mô vàvấn đề đề cập Có những vấn đề môi trường toàn cầu như vấn đề lỗ thủng tầng ôzôn
mà nguyên nhân là các chất khí thải công nghiệp và sinh hoạt do con người tạo ra
và hậu quả là làm ảnh hưởng đến hoạt động sống trên hành tinh; hoặc hiện tượngElninô là hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu Có những vấn đề
môi trường trong phạm vi của nhiều nước như vấn đề chất lượng nước và sử dụng
Trang 14nguồn nước sông Mêkông liên quan đến 6 nước: Việt Nam, Campuchia, Lào, TháiLan, Mianma, Trung Quốc hay nhỏ hơn là vấn đề môi trường trong một nướchoặc một khu vực như môi trường khu du lịch Hạ Long – Cát Bà, môi trường khu
mỏ Vàng Danh là những vấn đề môi trường hạn chế về phạm vi và nguyên nhân
tác động Khu dân cư đô thị cũng là một lĩnh vực trong môi trường mà cần phải có
sự quan tâm
Khu dân cư đô thị là gì? Đến nay vẫn chưa có một khái niệm có một định
nghĩa hay một khái niệm cụ thể mà chỉ có những cách hiểu mang tính xã hội Hiệnnay ở Hà Nội khái niệm khu dân cư đô thị thường được hiểu là một khu nhà ở mớixây dựng tập trung theo quy hoạch được duyệt, có đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, baogồm hệ thống nhà ở và các công trình công cộng khác để sử dụng vào mục đíchkinh doanh hoặc không kinh doanh
Tuy nhiên hiện nay khái niệm này đã xuất hiện trong dự thảo luật quy hoạch
đô thị trình Quốc hội xem xét “Khu dân cư đô thị là một khu vực trong đô thị, đượcđầu tư xây dựng mới đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở Chính vì
thế có thể hiểu bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị là việc tạo cho khu dân
cư đô thị môi trường trong lành, sạch sẽ, đảm bảo môi trường sinh thái, cho khu dân
cư đô thị Việc bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị được đảm bảo bằng chính
sách và nguyên tắt còn việc thực thi áp dụng trên thực tiễn thì cần phải luật định vàgiám sát Hiểu theo góc độ pháp luật bảo vệ môi trường trong khu đô thị bằng việc
đảm bảo tạo nên sự cân bằng, hài hòa giữa hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng cơ sở, và nhà ởtheo quy định của pháp luật
Nhưng muốn đạt được sự cân bằng, hài hòa và đảm bảo sự đồng bộ giữa hạ
tầng kỹ thuật, hạ tầng cơ sở, và nhà ở trong khu dân cư đô thị chính là đảm bảo tiêuchuẩn quy định Theo đó những quy định hiện nay khu dân cư đô thị mới được xâydựng phải được phê duyệt và kiểm tra Chính vì thế bảo vệ môi trường trong khu
dân cư đô thị tức là từng bước hoàn tất và được sự phê duyệt của cơ quan nhà nước
và đảm bảo sự cân bằng, hài hòa và đảm bảo sự đồng bộ hòa giữa hạ tầng kỹ thuật,
hạ tầng cơ sở, và nhà ở trong khu đô thị khi kể cả khi hoàn tất sử dụng
Trang 151.2 Tình hình khu dân cư đô thị và bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị Việt Nam
1.2.1 Tình hình hiện tại của khu dân cư đô thị Việt Nam
Theo thống kê của Bộ xây dựng, hiện cả nước có 2.500 dự án phát triển nhà
ở và khu dân cư đô thị trong đó có 635 dự án khu dân cư đô thị có quy mô từ 20 ha
trở lên đang được triển khai7 Theo tình hình hiện giờ khu dân cư đô thị đang giảiquyết phần lớn chỗ ở cho người dân đô thị Khi xã hội ngày càng muốn nâng caochất lượng cuộc sống và sự xã hội hóa, phát triển nền kinh tế như ở nước ta thì khu
dân cư đô thị đang góp phần giải quyết chỗ ở cho các khu vực thành phố của tất cả
các tỉnh thành
Chính vì thế hầu hết các tỉnh thành của Việt Nam đều có những dự án khu
dân cư đô thị Chúng ta sẽ phân tích rõ khu dân cư đô thị mang đến một môi trường
sống thế nào mà lại được xem là biệt pháp ưu việt cho việc giải quyết vấn đề nhà ởcủa đô thị trong khi người dân thành thị với các mức sống khác nhau
Nhìn chung khi nhận định về môi trường sống tốt đối với người Việt Namhiện nay còn khá chủ quan Con người chưa hiểu rõ thế nào là Môi trường sống tốt,hầu hết chỉ dựa trên nhận định chủ quan của bản thân Đặc biệt với việc đô thị hóahiện nay ngày một dẫn đến tình trạng tấc đất tấc vàng, nhà cửa san sát… tất cả đất
đai đều tận dụng triệt để thì muốn có môi trường sống lành mạnh, hợp với tiêu
chuẩn môi trường thật sự ngày một khó khăn để có được môi trường sống tốt vớithu nhập trung bình thì thật là một câu hỏi khó cho người dân thành thị
Chính vì thế khu dân cư đô thị là một giải pháp tốt Khu dân cư đô thị là mộtcông trình từ dự án đến khi lập dự án đến hoàn thành và sử dụng là một quá trình có
sự kiểm tra, giám sát và được quy hoạch rõ ràng Khu dân cư đô thị hoàn toàn cânbằng về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, nhà ở mang đến không gian sống hợp môi
trường hay chính xác là môi trường sống phù hợp cho con người trong hoàn cảnh xã
hội ngày càng có nhu cầu nâng cao cuộc sống
Song mô hình khu dân cư đô thị ở Việt Nam có sự khác biệt so khu dân cư
đô thị ở các nước khác Từ khi cụm từ “đô thị hóa” xuất hiện ở Việt Nam (khoảng
1992 đến 1996) khái niệm về thành phố mới, khu dân cư đô thị dần được xác định
rõ Việc phát triển các Khu dân cư đô thị theo quy hoạch được xem là một phần
7
Kiểm tra tiến độ dự án khu đô thị mới,
http://dothi.net/thi-truong/16434/kiem-tra-tien-do-du-an-khu-do-thi-moi.htm, [ truy cập ngày 24/2/2012]
Trang 16quan trọng trong chiến lược đô thị ở quy mô vùng, quốc gia hiện nay, là quy luậtkhông thể khác của tiến trình đô thị hóa đang diễn ra ở nước ta.
Các khu dân cư đô thị đều nằm trong 4 loại hình cơ bản sau
Phụ thuộc vào thành phố mẹ với những mức độ khác nhau Sự phụ
thuộc cơ bản nhất là việc làm, rồi đến hạ tầng công cộng, xả hội thông tin
Độc lập, ít nhất là “tự lo” về việc làm cho dân cư tại chỗ Mục đích
của khu dân cư đô thị này là muốn lập các thành phố vệ tinh hoặc phát triển ra ngoại
ô Dần dần chúng trở thành những đô thị chức năng (vui chơi – giải trí, công nghệcao, công nghiệp, thương mại, dịch vụ) hoặc đô thị tương đối hoàn chỉnh về quy
mô, phân bổ chức năng kể cả lập khu trung tâm mới Các đô thị kiểu này thường
được bố trí trong vùng ảnh hưởng của các thành phố lớn, những mối liên hệ về giao
thông và thông tin với thành phố mẹ không chặt chẽ lắm Đôi khi chúng lại là lợithế hơn thành phố mẹ do nằm gần các tuyến giao thông lớn Chúng có thể là đô thịlập độc lập tùy thuộc vào sự khai thác hợp lý của thành phố mẹ, hoặc tận dụng cơhội đầu tư cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế một vùng đô thị Sự khác nhau cơ bản
để phân biệt chúng với loại 1 và loại 2 là các đô thị loại 3 này mang tính chất hướng
đô thị nhánh Các khu đô thị Láng – Hòa Lạc, Dung Quất, Thủ dầu một, Biên Hòa
có thể phát triển dạng khu công nghiệp loại này
Theo hình tình hiện nay cho thấy Khu dân cư đô thị tại Việt Nam có những
điểm chung: khu dân cư đô thị lại tập trung và được quy hoạch chủ yếu ở các vùng
ngoại ô thành phố, đa phần lại vừa xây dựng vừa sử dụng Khi xây dựng lại thiếu sựkiểm tra giám sát, khi đưa vào sử dụng thì lại thiếu sự quản lí, theo ông Trần NgọcHùng- Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam
Mặt khác xem xét về mặt trái của khu dân cư đô thị Việt Nam hiện nay thểhiện rõ qua những tiêu đề trên mặt báo như: “Tính toán lại hạ tầng xã hội trong khu
đô thị mới”, “Cuộc sống của người dân tại nhiều khu dân cư đô thị ở Hà Nội: vẫn
trong tình trạng 3 không!”, “Nhiều khu đô thị mới tại Hà Nội: Nhếch nhác và thiếu
đủ thứ - Ăn nước giếng khoan, điện đấu nhờ, không để chủ đầu tư “làm mưa, làmgió”
Trang 17Chỉ trong những cụm từ trên mặt báo cũng thấy mặt trái của những khu dân
cư đô thị được xây dựng ồ ạt hiện nay là một vấn đề báo động cần giải quyết khiKhu dân cư đô thị không giải quyết được các yêu cầu về Đồng bộ, hệ thống hạ tầng
kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở Theo thống kê các khu dân cư đô thị hiện nay nếuxem xét chung về các tiêu chẩn thỉ đến hiện nay chỉ có hai khu đô thị đạt chuẩn:
Khu dân cư đô thị Linh Đàm – Hà Nội; Khu dân cư đô thị Phú Mỹ Hưng – Thành
phố Hồ Chí Minh
1.2.2 Hướng phát triển và phân loại khu dân cư đô thị tại Việt Nam
Theo tình hình xây dựng khu dân cư đô thị ở Việt Nam được phân loạitheo các tiêu chí sau:
1.2.2.1 Căn cứ vào diện tích xây dựng
Theo khảo sát trên địa bàn Hà Nội trong bài nghiên cứu của TS.KTS
Lương Tú Quyên, TS.KTS Đỗ Thị Kim Thành (Khoa Quy hoạch đô thị
-Nông thôn, Đại học Kiến trúc Hà Nội ) Dựa vào diện tích có thể chia ra làm
các loại sau
Khu đô thị mới loại nhỏ dưới 20 ha
Khu đô thị mới loại trung bình có quy mô từ 20 ha đến dưới 50
ha
Khu đô thị mới loại lớn từ 50 đến 100 ha
Khu đô thị mới loại rất lớn trên 100 ha
Khu đô thị mới có quy mô theo dự án chiếm
1.2.2.2 Căn cứ vào tính chất của khu dân cư đô thị
Theo hình hình hiên nay khu dân cư đô thị hình thành nhầm đáp ứngcho những mục đích khác nhau nên có những tính chất khác nhau được phânchia thành các loại
Khu dân cư đô thị mang tính chất thương mại
Ví dụ: Khu đô thị thương mại Phước Long – Vị trí: Xã Giang Điền, Trảng
Bom, Đồng Nai
Khu đô thị tái định cư
Trang 18Ví dụ: Khu dân cư đô thị tái định cư Phú An – Vị trí: Phú Thới, Cái Răng,Cần Thơ.
Khu dân cư đô thị vừa mang tính chất kinh doanh thương mại vừa táiđịnh cư
Ví dụ: Khu dân cư đô thị dầu khí Cửu Long hay còn gọi là khu dân cư 5A
1.2.2.3 Căn cứ theo đối tượng và cấp độ phục vụ
Theo thu nhập khác nhau của con người trong xã hội khu dân cư đô thị cũng
được phân chia nhầm đáp ứng theo nhu cầu của xã hội
Khu dân cư đô thị đạt chất lượng cao
Khu dân cư đô thị trung bình
Khu dân cư đô thị chất lượng thấp
1.2.3 Tình hình bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị Việt Nam
Theo tình hình hiện nay tại Việt Nam khu dân cư đô thị đang được xem là
phương pháp ưu tiên giải quyết vấn đề chỗ ở cho người dân đô thị Nhưng để đảm
bảo được lợi ích hàng đầu mà theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân,
“cái được lớn nhất khi ra đời các Khu dân cư đô thị là cải thiện nơi ở cho người dân
ở các đô thị phát triển lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh ”8 để mang lại lợi
ích này vấn đề trước nhất là các khu dân cư đô thị phải tuân theo qui định của phápluật Đặc biệt là các tiêu chuẩn môi trường đây là một trong những điều kiện bắtbuộc trong việc xem xét có hay không phê duyệt các dự án khu dân cư đô thị
Hiện nay khu dân cư đô thị được hình thành trên khắp các tỉnh thành trong cả
nước trong đó nổi bật là các khu dân cư đô thị tiện nghi, môi trường sống xanh –
sạch đảm bảo các tiêu chuẩn mà pháp luật quy định như Khu dân cư đô thị Phú Mỹ
Hưng (Tp Hồ Chí Minh), Khu dân cư đô thị Linh Đàm (Tp Hà Nội) Hầu hết cáckhu dân cư hiện nay đều hướng tới đảm bảo hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng cơ sở và nhà ở
tạo nên sự cân bằng trong không gian sống
Song tuy Khu dân cư đô thị đang được xây dựng tại tất cả các đô thị Việt
Nam và với những qui định của pháp luật ban hành các qui chuẩn Nhưng trong tình
8
Thanh Chung:Quản lý khu đô thị mới: Được và chưa được,
http://hanoimoi.com.vn/forumdetail/Quy-hoach/26455/qu7843n-ly-khu-273o-th7883-m7899i-2724327907c-va-ch432a-2734327907c.htm, [ truy cập ngày 26/2/2012]
Trang 19trạng hiện nay hầu hết các dự án khu dân cư đô thị được xây dựng đều là các dự án
tư nhân đa phần là các khu dân cư đô thị mang tính chất kinh doanh hướng tới lợi
nhuận thu được chính vì thế đã dẫn đến những quy chuẩn về môi trường không đảmbảo theo qui định của pháp luật hay đúng hơn là những quy định này đang bị viphạm
Thứ nhất là quy hoạch đất đai để thực hiện dự án khu dân cư đô thị đa phần
đây là đất được thu hồi, giải tỏa sau đó tiến hành qui hoạch đầu tư nhưng khi tất cả
dự án được phê duyệt thì có những trường hợp chủ đầu tư lại treo công trình không
có thời hạn Hay cũng có những trường hợp đất bị treo là một phần trong dự án xâydựng làm cho ảnh hưởng đến dự án và cũng ảnh hưởng đến cuộc sống và đã không
đảm bảo sự phê duyệt Điển hình: Bán đảo Thanh Đa (Quận Bình Thạnh – TP.Hồ
Chí Minh) là một trong những khu “đất vàng” tại TP Hồ Chí Minh Thế nhưng saugần 20 năm, kể từ khi Uỷ ban nhân dân TP Hồ Chí Minh có chủ trương xây dựng
khu “đất vàng” với diện tích 410 ha này thành khu dân cư đô thị, khu vui chơi giải
trí, du lịch, nghỉ dưỡng hiện đại, đến nay dự án vẫn chưa thấy nhúc nhích trong khi
đất vàng bị lãng phí, cuộc sống của nhiều doanh nghiệp, người dân ở đây bị xáo
trộn
Thứ hai là chính do những dự án khu dân cư đô thị đa phần đều do các là
các dự án đầu tư vì mục đích lợi nhuận Phần lớn những khu dân cư thương mạimang tính chất thương mại, mang nặng tính lợi nhuận, đề cao mục đích kinh tế cái
đích mà chủ đầu tư hướng đến khi đầu tư vào dự án Chính nguyên nhân này đã dẫnđến hiện tượng khi tiến hành xây dựng các chủ đầu tư chỉ chú trọng xây dựng nhà ở,
các dịch vụ thu phí hơn so với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội chính đây
đang là những điểm nóng trong quá trình tuân thủ quy chuẩn môi trường được quyđịnh cho dự án khu dân cư đô thị Điển hình cho những báo động về sự mất cân
bằng không đảm bảo được sự đồng bộ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
và nhà ở Chỉ cần nhìn thấy những tiêu đề trên báo cũng đã nhìn nhận phần nào củathực trạng này: với những tiêu đề “Tính toán lại hạ tầng xã hội trong khu đô thịmới”, “Cuộc sống của người dân tại nhiều khu dân cư đô thị ở Hà Nội: vẫn trongtình trạng 3 không!”, “Nhiều khu đô thị mới tại Hà Nội: Nhếch nhác và thiếu đủ thứ
- Ăn nước giếng khoan, điện đấu nhờ”
Trang 20Các dự án đầu tư khu dân cư đô thị, nhà ở đều có sự điều chỉnh so với quyhoạch ban đầu Việc điều chỉnh quy hoạch chủ yếu tăng mật độ xây dựng, chiều caocông trình, diện tích sàn xây dựng Đặc biệt, một số dự án còn ngang nhiên chuyển
đổi chức năng sử dụng đất, từ dịch vụ công cộng sang công trình hỗn hợp có chứcnăng nhà ở để kiếm lời Đa số các chủ đầu tư khu dân cư đô thị chú trọng đầu tư xây
dựng nhà ở, nhưng xem nhẹ hạ tầng xã hội, công viên cây xanh nên không đáp ứng
điều kiện sống cho người dân theo quy định Khu dân cư đô thị Sài Đồng (Long
Biên) còn ¾ lô xây dựng trường học, nhà trẻ theo quy hoạch vẫn bỏ trống; khu dân
cư đô thị Văn Quán- Yên Phúc mới có 2 trường tiểu học và 1 nhà trẻ, còn 1 trường
học và 1 nhà trẻ nữa không biết bao giờ mới được đầu tư Nguyên nhân dẫn đến
nhưng vi phạm này theo nhận định của Ông Nguyễn Quốc Tuấn- Phó giám đốc Sở
Xây dựng Hà Nội cho biết, việc vi phạm quy hoạch của các chủ đầu tư xuất phát từnhững bất cập trong quản lý Việc quản lý trong lĩnh vực khu dân cư đô thị còn
chưa được giải quyết và phân công rõ ràng thì những vấn đề trên không có câu trả
lời
Tất cả những trình bày trên đã phản ánh được tình trạng bảo vệ môi trường
trong khu dân cư đô thị hiện nay Việc bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị
trong những năm qua đã có những thực hiện được và chưa được Theo phát biểu củaThứ trưởng Bộ xây dựng Cao Lại Quang nêu rõ: Ngày nay, đô thị hóa là xu thế tấtyếu của phát triển xã hội trên toàn thế giới Tại Việt Nam trong những năm gần
đây, đô thị hóa cũng phát triển mạnh mẽ, trung bình mỗi tháng một đô thị mới được
hình thành Nhưng muốn cho sự phát triển này lâu dài thì cần có sự song hành giữphát triển và bảo vệ môi trường
1.3 Mục đích của việc bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị
Khi quá trình đô thị hóa ngày càng nhanh chóng, những khu dân cư đô thịngày càng hình thành trên tất cả các tỉnh thành nhầm đáp ứng nhu cầu giải quyếtnhà ở cho người dân đô thị Theo Bộ trưởng bộ xây dựng Theo Bộ trưởng Bộ Xâydựng Nguyễn Hồng Quân, cái được lớn nhất khi ra đời các Khu dân cư đô thị là cảithiện nơi ở cho người dân ở các đô thị phát triển lớn như Hà Nội, thành phố Hồ ChíMinh Xoá bỏ "mặc cảm" ở chung cư cao tầng, từng bước "giãn" dân số nội đô đãquá tải; xây dựng được quy hoạch và quản lý xây dựng theo quy hoạch dần vào nềnếp; xây dựng được các cơ chế chính sách trong việc quản lý đất đai, Thanh tra xây
Trang 21dựng; công tác giải phóng mặt bằng thu hồi đất, quản lý đầu tư xây dựng; huy động
được các nguồn lực trong xã hội, như: (đất đai, tài chính trong xã hội, các nhà đầu
tư trong và ngoài nước ); hình thành thị trường bất động sản; kích thích ngành kiến
trúc, xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, nội thất phát triển theo hướng hiện đại,chất lượng Các nhà quản lý ở trung ương cũng như địa phương thấy được tính cấpthiết việc xây dựng quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết ở địa phương cũng nhưgiữa các địa phương với nhau để xây dựng quy hoạch vùng, định hướng phát triểnkinh tế-xã hội trong 5, 10 năm và 20 năm tới
Muốn mang đến những lợi ích thiết thực và đúng như mong muốn thì việccần thiết là thực hiện đúng quy định của pháp luật bảo vệ môi trường về khu dân cư
đô thị Đây cũng chính là mục đích của việc bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô
thị hướng đến những mục đích sau
Thứ nhất: là việc hình thành khu dân cư đô thị cũng là việc giúp thực thi
quy hoạch cho các khu đô thị Khi mà hiện nay tình hình tại các khu đô thị đang làtình trạng “tấc đất tấc vàng” thì những người chỉ có mức sống trung bình, haynhững hộ thuộc diện giải tỏa theo dự án làm sao có thể tạo riêng cho mình một nơisinh hoạt với môi trường xanh sạch theo thu nhập của mình
Bên cạnh đó những người thu nhập cao thì lại cho mình nơi sinh hoạt tiện
nghi nhưng liệu nơi sinh hoạt này có đúng sẽ mang đến môi trường sống xanh sạch
không Sự chênh lệch trong cuộc sống sẽ dẫn đến những hình thức tạo dựng chỗ ởcho mình khác nhau có người vì thu nhập hạn chế họ lại sinh sống hay tự tạo nơi ởtùy tiện và không đảm bảo mội trường sống
Chính vì thế khu dân cư đô thị là một giải pháp hiệu quả cho tất cả các đối
tượng và cộng thêm khu dân cư đô thị là một dự án có sự phê duyệt của các cơ quannhà nước đảm bảo vấn đề quy hoạch trong đô thị mà mang lại môi trường sống lành
mạnh cho con người và đặc biệt là đúng quy hoạch của Đô thị và các tỉnh thànhnhằm tạo nên sự phát triển bền vững cho các đô thị lớn hiện nay
Thứ hai: khu dân cư đô thị sẽ đảm bảo môi trường sống cho con người đặc
biệt là ở các đô thị Hiện tại có thể nhận thấy môi trường sinh hoạt xung quanh con
người ngày một có chiều hướng suy thoái và xuống dốc tình trạng này càng đángbáo động tại các khu đô thị lớn.Trong đó môi trường sống tại các khu đô thị Việt
Trang 22Nam ngày càng bị ô nhiễm theo kết quả nghiên cứu vừa công bố tại Diễn đàn Kinh
tế thế giới Davos9, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khíthấp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe
Khu đặc trưng chỗ ở Việt Nam có những căn nhà sàn ven sông không hợp
qui hoạch mà ngày càng ô nhiễm môi trường, hay những khu nhà thiết kế “tất đất tất
vàng” của các đô thị hiện nay những khu nhà thiếu ánh sáng, những căn hộ thiếu
không gian sống dẫn đến sự ngột ngạt ảnh hưởng đến tâm trạng con người Khu dân
cư đô thị sẽ hướng đến mục đích là mang lại cuộc sống và không gian sống tốt –
xanh - sạch
Thứ ba mang lại lợi ích kinh tế cho xã hội: khu dân cư đô thị được xây dựng
theo dự án có những khu dân cư đô thị thuộc loại kinh doanh thương mại đây làdạng một loại hình kinh doanh và mục đích là lợi nhuận kinh tế Còn nếu khu dân
cư đô thị mang tính chất tái định cư nhầm giải quyết vấn đề chỗ ở cho các dự án thu
hồi tuy nó không mạng lại lợi nhuận kinh doanh như khu dân cư đô thị mang tínhchất lợi nhuận nhưng đặc điểm chung của khu dân cư đô thị là mang lại lợi ích kinh
tế tại nơi hình thành khu dân cư đô thị
Thứ tư dựa vào số lượng khu dân cư đô thị tại địa phương đó có thể cho thấy
mức sống nơi đó đang được nâng cao Có thể hiểu rằng khi mức sống của người dân
được nâng cao thì lúc đó con người mới lựa chọn cho mình cuộc sống tốt hơn về vật
chất lẫn không gian sinh hoạt và đây cũng chính là lý do vì sao người dân lựa chọnsống trong khu dân cư đô thị Chính vì vậy có thể kết luận rằng khi khu dân cư đôthị hình thánh cũng cho thấy mức sống của người dân được nâng cao Các dự án vàhình thành khu đô thị đa phần là ở vùng ngoại ô khi hình thành khu dân cư đô thị sẽ
thúc đẩy quá trình đô thị hóa tại địa phương đó ngày càng nhanh chóng từ đó cũng
dẫn đến thúc đẩy kinh tế địa phương đó phát triển
Thứ năm lợi ích kinh tế có thể nhận được rõ nét trong các khu dân cư đô thị
đó là phát triển dịch vụ trong khu dân cư đô thị các hệ thống công trình kỹ thuật, hệ
thống xã hội đặc biệt là sự phát triển lành mạnh các dịch vụ công cộng
Thứ sáu mang lại lợi ích xã hội: Trong tình hình phát triển kinh tế và quá
trình đô thị hóa hiện nay xuất hiện khu dân cư đô thị đã thúc đẩy sự phát triển cho
9
Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) là một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở chính tại Davos,
bang Geneva, Thụy Sỹ, nơi các lãnh đạo doanh nghiệp hàng đầu, các vị lãnh đạo các nước, các học giả và phóng viên thảo luận những vấn đề thời sự quốc tế, bao gồm các lĩnh vực y tế và môi trường.
Trang 23xã hội Việt Nam Với đặc trưng xây dựng ở ngoại ô thành phố đã thúc đẩy quá trình
đô thị hóa ở những vùng này nhanh chóng, khu dân cư đô thị đang là biện pháp tối
ưu giải quyết cho vấn đề nhà ở tại thành phố theo qui hoạch góp phần cho việc thayđổi qui hoạch đô thị phù hợp với môi trường đem lại cuộc sống tốt cho con người
nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
1.4 Sơ lược qui định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô
thị
Khi khu dân cư đô thị là một trong những biện pháp ưu việt để giải quyết vấn
để nhà ở và cuộc sống cho người dân khu vực đô thị Khu dân cư đô thị phù hợp tiêu
chuẩn môi trường thật sự cần thiết cho cuộc sống của người dân thì cần phải dựavào những qui định pháp luật và việc thực thi Song Luật Bảo vệ môi trường năm
1993 chưa có quy định riêng về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư Trong nhữngnăm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh
chóng Nhiều đô thị mới, khu dân cư ra đời đáp ứng nhu cầu của nhân dân Songbên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi trường ở đô thị và khu dân cư diễn ra phổ biến,nhiều nơi ở mức báo động Chính vì vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã cómột chương riêng quy định về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư Đây cũng chothấy sự nhận thức được sự song hành của pháp luật và thực tiễn xã hội
Tại chương IV của Luật bảo vệ môi trường năm 2005: Gồm 5 điều (từ Điều
50 đến Điều 54) quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư; yêu
cầu bảo vệ môi trường đối với đô thị, khu dân cư tập trung; bảo vệ môi trường nơicông cộng; yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với hộ gia đình và quy định về tổ chức
tự quản về bảo vệ môi trường Pháp luật vể bảo vệ môi trường trong khu dân cư đôthị được xem xét thông qua các mặt:
Thứ nhất là đảm bảo về Quy hoạch.
Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quang đôthị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạolập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thực hiệnthông qua qui hoạch đồ án đô thị
Thứ hai là hệ thống công trình thu gom xử lí nước thải.
Công trình xử lí nước thải là một khái niệm chung để chỉ một hệthống tổ hợp bao gồm các hạn mục công trình và thiết bị đi kèm để biến nước thải
thành nước sạch ở mức chấp nhận được
Trang 24Thứ ba là hệ thống tiêu thoát nước.
Theo khoản 10 Điều 3 Nghị định 88/2009/NĐ-CP: Hệ thống thoát
nước bao gồm mạng lưới cống, kênh mương thu gom và chuyển tải, hồ điều hoà,
các công trình đầu mối (trạm bơm, nhà máy xử lý, cửa xả) và phụ trợ khác nhằm mục đích thu gom, vận chuyển, tiêu thoát nước mưa, nước thải và xử lý nước thải.
Hệ thống thoát nước được chia làm các loại sau đây:
Hệ thống thoát nước chung là hệ thống trong đó tất cả mọi loại nướcthải, nước mưa được thu gom trong cùng một hệ thống
Hệ thống thoát nước riêng là hệ thống thoát nước mưa và nước thảiriêng biệt
Hệ thống thoát nước riêng là hệ thống thoát nước chung có tuyếncống bao để tách nước thải đưa về nhà máy xử lý
Thứ tư là hệ thống cơ sở thu gom, tập kết, xử lý, tái chế chất thải rắn
Theo Điều 3 Nghị định về quản lí chất thải rắn giải thích thu gom chất
thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắntạo điều kiện thu gom đến các địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan có thẩm quyền nhà
nước chấp thuận
Chất thải rắn: Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra
từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Chấtthải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại (theo khoản 2
Điều Nghị định về quản lí chất thải rắn)
Xử lí chất thải rắn: là quá trình sử dụng các biện pháp công
nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có íchtrong chất thải rắn; thu hồi tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chấtthải rắn
Thứ năm là hệ thống công viên
Theo dự thảo quy định về quản lý công viên và cây xanh đô thị trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giải thích Công viên: là khu cây xanh được trồng
tập trung trong một diện tích đất lớn nhằm mục đích phục vụ công cộng, là nơi sinhhoạt ngoài trời, nghỉ ngơi, thư giãn, vui chơi, giải trí, tập luyện thể dục, nơi tổ chứccác hoạt động văn hóa - xã hội đáp ứng nhu cầu của nhân dân Ngoài cây xanh,công viên có các công trình kiến trúc và công trình hạ tầng kỹ thuật đồng bộ Trong
Trang 25công viên có thể nuôi dưỡng, trưng bày một số loại động vật Phạm vi quản lý mộtcông viên bao gồm diện tích bên trong công viên và vỉa hè của công viên đó.
Thứ sáu là khu vực mai táng
Theo thông tư số 02/2009/TT-BYT tại khoản đ Điều 3 Thông tư giải thíchmai táng là “mai táng là hình thức lưu giữ thi hài hoặc hài cốt dưới mặt đất” từ đây
có thể hiểu khu mai táng là nơi đươc quy hoạch phục vụ cho việc lưu giữ thi hàihoặc hài cốt trong đất
Trang 26CHƯƠNG 2
QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG KHU DÂN CƯ ĐÔ THỊ
Quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường tại khu dân cư đô thị được quy
định tại Điều 50 của Luật bảo vệ môi trường: “Quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị,
khu dân cư” Vì vậy, để hiểu rõ vấn đề bảo vệ môi trường trong khu dân cư đô thị
chúng ta cần phân tích rõ những quy định trong Điều 50, cụ thể là tại khoản 2 “Nội
dung quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư bao gồm các quy hoạch về
đất đai cho xây dựng kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường và các hệ thống công trình
kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường sau đây:
Hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống tiêu thoát
nước mưa; hệ thống cơ sở thu gom, tập kết, xử lý, tái chế chất thải rắn;
Hệ thống cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất;
Hệ thống công viên, khu vui chơi, giải trí, công trình vệ sinh công cộng;
Hệ thống cây xanh, vùng nước;
Khu vực mai táng.”
2.1 Các quy hoạch về đất đai
Đất đai là điều kiện không thể thiếu trong sự hình thành và sử dụng khu dân
cư đô thị Và quy hoạch đất đai cũng là điều đầu tiên trong quy định pháp luật về
môi trường trong khu dân cư, đô thị Vì vậy, hiện nay “Việc lấy đất để thực hiện các dự án, hình thành các khu đô thị mới là việc không tránh khỏi trong xu thế hiện
nay” 10 Để xem xét về quy hoạch đất đai người viết phân tích các nội dung sau đây:
2.1.1 Diện tích đất cho phép xây dựng
Theo tình hình hiện nay mật độ dân sống trên các đô thị ngày càng hẹp, cácdiện tích đất khác như đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp cũng ngày một giảmchính vì thế việc sử dụng diện tích đất hiện nay làm sao có hiệu quả tốt nhất là rấtquan trọng Chính vì thế nguyên tắc sử dụng đất đai phải đảm bảo “Đúng quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất” đây cũng được xem là nguyên tắc
10
ông Nguyễn Trọng Ký, Phó Tổng Giám đốc công ty Techcovina nói, thuc-quotngoan-mucquot-cua-do-thi-vao-lang-nghe-03504389.html, [ truy cập ngày 27/2/2012]
Trang 27http://www.tinmoi.vn/Cuoc-xam-sử dụng đất quy định tại Điều 11 Luật đất đai năm 2003 áp dụng cho tất cả các quyhoạch khi sử dụng đất đai và trong quy hoạch khu dân cư đô thị.
Những vấn đề cần lưu ý trong quy hoạch đất
Thứ nhất, trong quy định về đất đai hình thành dự án khu dân cư đô thị cũng
có quy định tại khoản 1, Điều 9 quy chế khu dân cư đô thị (ban hành kèm theo Nghị
Định số 02/2006/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2006 của chính phủ quy định “Căn cứ vào quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết xây dựng và quy hoạch sử dụng đất đô thị
đã được phê duyệt” theo đó đất phát triển dự án khu dân cư đô thị phải tuân theo
quy hoạch đất đai và quy hoạch đó phải được phê duyệt thì nó mới đảm bảo đượcnguyên tắc quy hoạch quy định trong luật đất đai
Thứ hai, mục tiêu được đề ra trong sử dụng đất đai theo khoản 2 Điều 11 là
“Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh” và đất quy hoạch cho khu dân cư đô thị
cũng phải đảm bảo quy định này Việc bảo vệ môi trường trong quy hoạch đất đai
cho khu dân cư đô thị hiện nay là một vấn đề được đặt lên hàng đầu Vì phần lớnngười dân lựa chọn sống trong khu dân cư đô thị đều vì môi trường sống trong khudân cư đô thị, đồng thời việc hình thành khu dân cư hiện nay là nhằm sử dụng diệntích đất một cách tiết kiệm, có hiệu quả và đảm bảo môi trường trong khu dân cư đô
thị
Thứ ba, diện tích cho phép quy hoạch khu dân cư đô thị theo quy định tại
Điều 4 quy chế khu đô thị mới ban hành kèm theo Nghị định số 02/2006/NĐ-CP11
đã nêu rõ Theo đó, một khu dân cư đô thị muốn hình thành thì phải đảm bảo diện
tích là 50 ha Khi quy hoạch rơi vào những trường hợp “diện tích đất để dành cho
dự án nằm trong quy hoạch đất đô thị nhưng bị hạn chế bởi các dự án khác hoặc bởi khu đô thị đang tồn tại thì cho phép lập dự án khu đô thị mới có quy mô dưới 50 ha” nhưng không được nhỏ hơn 20 ha Tại quy định này chúng ta thấy rõ một điều
là luật chỉ quy định mức tối thiểu diện tích hình thành khu dân cư đô thị nhưng lại
không quy định tối đa là bao nhiêu Đây được cho là thuận lợi cũng là mặt khó khăn
cho tình trạng khu dân cư đô thị hiện tại
Khi chúng ta quy định như thế chính là nguồn thu hút đầu tư nước ngoài
Trong tình trạng bất động sản nước ta còn trong hoàn cảnh chưa có sức cạnh tranh
và đảm bảo trong thị trường như hiện nay, đồng thời cũng có thể kéo mức giá bất
11
Nghị định số 02/2006/NĐ – CP ngày 5 tháng 1 năm 2006 về việc ban hành Quy chế khu đô thị mới.
Trang 28động sản xuống tránh tình trạng đầu tư giá, đáp ứng theo thu nhập của người Việt
Nam
Nhưng đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng có những dự án
chiếm hàng trăm hecta như dự án khu dân cư đô thị Ecopark (Thị trấn Văn Giang –Huyện Văn Giang – Tỉnh Hưng Yên) với diện tích là 500 ha mà hiệu quả thì chỉ
được dự tính Nếu khi dự án hình thành mang lại hiệu quả như được dự đoán thì
không có vấn đề gì, nhưng nếu dự án chỉ mãi dừng lại ở dự án hoặc hoàn tất quyhoạch nhưng khi vận hành sử dụng lại không mang lại hiệu quả như ban đầu thìkhối bất động sản hàng trăm ha chúng ta sẽ giải quyết thế nào? Chưa kể đến tìnhtrạng đa phần đất hình thành những khu dân cư đô thị đều là đất phục vụ nôngnghiệp hay phục vụ cho các mục đích khác Vậy khi đó tất cả sẽ giải quyết thế nàothì vẫn còn chờ Chính đây là điểm hạn chế của quy định này
Mặt khác, quy hoạch đất đai xây dựng khu dân cư đô thị được Ủy ban nhândân cấp tỉnh thực hiện việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện từng dự án theo quyết
định cho phép đầu tư, kết quả đấu thầu dự án có sử dụng đất hoặc kết quả đấu giá
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai Việc giao đất được thựchiện một lần hoặc nhiều lần tuỳ thuộc vào việc phân kỳ đầu tư, kế hoạch thực hiện
đầu tư Nhưng lại không nói rõ khu dân đô thị nào sử dụng đất giao, khu dân cư đô
thị nào sử dụng đất thuê, nếu thuê thì trả tiền hàng năm hay một lần Nếu dự ánthuộc dạng nước ngoài đầu tư thì áp dụng thế nào? Bên cạnh đó, Luật đất đai năm
2003 quy định “Tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theocác dự án của nhà nước”12 vậy trường hợp này có áp dụng cho dạng khu dân cư đôthị mang tính chất tái định cư cho các dự án hay không thì luật vẫn chưa quy địnhrõ
2.1.2 Vị trí của khu dân cư đô thị và những công trình xung quanh
Trong quá trình quy hoạch đất đai cho khu dân cư đô thị thì vị trí của nó cũng làmột trong những nội dung quan trọng Tuy nhiên, vị trí khu dân cư đô thị hiện nay phápluật chưa có quy định Vì vậy, việc này phụ thuộc phần lớn vào cơ quan quản lý nhà nước
ở địa phương nhưng cũng một phần phụ thuộc vào chủ đầu tư Theo quy chế ban hành chỉquy định quy hoạch dự án khu dân cư đô thị phải phù hợp với quy hoạch chung, quy hoạchchi tiết xây dựng và quy hoạch sử dụng đất của đô thị đã được phê duyệt Chính vì thế, nộidung người viết trình bày ở đây là dựa vào khảo sát trên địa bàn Hà Nội theo nội dungtrình bày của TS.KTS Lương Tú Quyên, TS.KTS Đỗ Thị Kim Thành (Khoa Quy hoạch đô
12
Khoản 4 Điều 33 Luật đất đai 2003
Trang 29thị - Nông thôn, Đại học Kiến trúc Hà Nội)13 và thực tiễn người viết quan sát vị trí lựachọn quy hoạch những khu dân cư đô thị đa phần được chia làm các nhóm sau: Khu đô thịmới có vị trí độc lập, xây dựng tại những khu vực có diện tích đất rộng rãi và xa khu vực
Thứ nhất, cái lợi khi xây dựng theo nhóm này là đáp ứng theo đúng quy
hoạch của địa phương nơi hình thành khu dân cư đô thị đây là điều kiện tiên quyết
để các dự án khu dân cư đô thị được xem xét phê duyệt Nếu quy hoạch của địaphương là xây dựng các khu dân cư đô thị ngoài trung tâm đô thị nhằm thúc đẩy
kinh tế của địa phương
Thứ hai, giá đất ở xa trung tâm thành phố thấp, mặt bằng rộng liền kề Đất
tiến hành xây dự dự án khu dân cư đô thị đa phần đều do thu hồi theo quy hoạch.Chính vì thế đất ngoại ô xét về giá thu hồi thì có giá trị thấp hơn so với đất trongthành phố khi đó khi bất động sản hình thành thì giá bất động sản trong khu dân cư
đô thị sẽ thấp đáp ứng được với mức thu nhập hiện tại của người lao động Đây
cũng là lợi ích đầu tiên mà chủ đầu tư lựa chọn Bên cạnh đó, đất xa trung tâm thànhphố tạo điều kiện thu hồi nhanh thúc đẩy tốc độ công trình, dự án được hoàn thànhnhanh chóng
Thứ ba, không gian khu dân cư đô thị hình thành là ở vùng ngoại ô sẽ rộng
hơn ở trung tâm thành phố tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiến thiết không gian khikhu đô thị hình thành hạn chế chi phí, cũng như là thời gian thực hiện cộng thêmmôi trường xung quanh thuận lợi cho khu dân cư Xây dựng khu dân cư đô thị
nhóm này góp phần phát triển cho vùng ngoại ô tạo tiền đề cho quá trình đô thị hóahiện nay Theo thực tế cho thấy khi khu dân cư đô thị hình thành có thể thúc đẩy cơ
sở hạ tầng, xã hội trong và ngoài khu đô thị phát triển
Tuy việc xây dựng các khu dân cư đô thị theo nhóm Khu đô thị mới có vị trí
độc lập, xây dựng tại những khu vực có diện tích đất rộng rãi và xa khu vực trung
tâm thành phố mang lại nhiều thuận lợi nhưng cũng có nhiều mặt hạn chế như về di
13
http://khudothimoi.com/tintuc/dau-tu-quy-hoach/643-han-che-cua-cac-khu-do-thi-moi-tai-ha-noi.html
Trang 30chuyển quá tốn thới gian, xa các trục giao thông chính, xa các trung tâm thươngmại, dịch vụ phục vụ hàng ngày đây là những điểm dẫn đến nhiều người không lựa
khu dân cư đô thị có vị trí độc lập, xây dựng tại những khu vực có diện tích đất rộng
rãi và xa khu vực trung tâm thành phố
Khu dân cư đô thị nằm trong trung tâm thành phố thường được xây dựng
gần các trục giao thông chính Khi được quy hoạch trong thành phố, gần các trụcgiao thông chính thì nó cũng mang lại những lợi ích thiết thực riêng biệt
Thứ nhất, quy hoạch trong trung tâm thành phố ngay các trục giao thông
chính mang lại lợi ích đầu tiên là đúng quy hoạch hay nói đúng hơn là đảm bảo quyhoạch cho đô thị đó Khi đó sẽ giải quyết được tình trạng nhà ở cho người dân trongthành phố hay nói cách khác là xây dựng xen kẽ các khu dân cư cũ với mục tiêugiãn dân số tại chỗ
Thứ hai, những khu dân cư đô thị được lựa chọn xây dựng trong trung tâm
thành phố gần các trục giao thông chính đa phần là những khu dân cư cao cấp, khu
dân cư đô thị mang tính chất kinh doanh thương mại đem lại thuận lợi về nơi ở, nơi
làm việc, và các dịch vụ sinh hoạt cho người dân đáp ứng theo nhu cầu của xã hộihiện đại Khi khu dân cư đô thị xây dựng trong trung tâm thành phố, gần các trụcgiao thông chính sẽ tạo nhiều thuận lợi tham gia các hoạt động thương mại như muabán, thuê làm mặt bằng công ty hay các hoạt động thương mại dịch vụ khác trong
và ngoài khu dân cư
Thứ ba, các mục đích mà nhà đầu tư chú trọng là những khu dân cư đô thị
này thường có giá cao nhanh chóng đem lại lợi nhuận cho chủ đầu tư, tuy nhữngkhu dân cư đô thị này đầu tư chi phí cao, tiện nghi nhưng đối với các khu dân cư đô
thị mang tính kinh doanh thương mại thì đây là lựa chọn ưu tiên
Song song với các nhóm vị trí cho khu dân cư đô thị được phân tích đều cómặt thuận lơi và khó khăn riêng biệt nhưng tùy theo xu hướng mà các chủ đầu tư cóthể dựa vào quy hoạch của địa phương để lựa chọn vị trí thuận lợi nhất cho khu dân
cư đô thị hình thành Ngoài những vị trí đã nêu cũng có nhưng trường hợp ngoại lệ
đó là những khu dân cư đô thị thuộc dạng quy hoạch mang tính chất tái định cư thìtheo quy định của địa phương Vị trí hình thành khu dân cư đô thị dạng này hoàntoàn do cơ quan quản lí nhà nước tại địa phương đó quyết định theo quy hoạch
2.1.3 Các quy định về sử dụng đất
Đất không chỉ là “phương tiện” hay “tài sản”, mà hơn thế, nó là không gian
sống theo cả ý nghĩa vật chất lẫn tinh thần Không gian sống đó không chỉ là vật
Trang 31chất mà con người còn cần một không gian sống đảm bảo tiêu chuẩn môi trường
trong đó việc quy hoạch đất đai và tiến hành xây dựng theo từng mục đích khácnhau đã được quy định chi tiết nhằm mục đích mang lại lợi ích khi hình thành khu
dân cư đô thị Theo quy định tại chương 2 quy hoạch về không gian của QCXDVN 01: 2008/BXD quy hoạch xây dựng đã quy định diện tích đảm bảo
không gian sống trong khu dân cư đô thị mà khi xây dựng phải đảm bảo thực hiện
quy định cụ thể như sau:
Đầu tiên, diện tích đất đơn vị ở Đây là diện tích đất mà ngay cả chủ đầu tư
và người sử dụng đều quan tâm Theo quy định tại phần 2.4 quy hoạch các đơn vị
ở quy định diện tích không gian dành cho đất ở là 8m2/người Chỉ tiêu đất đơn vị ở
trung bình của toàn đô thị phải không lớn hơn 50m2/người Theo qui định thì diệntích đất ở ít nhất phải đáp ứng được tiêu chuẩn này mới coi là đảm bảo về không
gian sống Không gian sống ở đây chỉ thu hẹp trong khu viên đất ở cũng là diên tích
mà chủ đầu tư đáp ứng cao nhất khi thực hiện dự án khu dân cư đô thị
Tiếp theo, đất cây xanh sử dụng công cộng trong đơn vị ở tối thiểu phải đạt
2m2 người, trong đó đất cây xanh trong nhóm nhà ở tối thiểu phải đạt 1m2/người;quy chuẩn quy định là thế nhưng trên thực tế việc áp dụng vào thực tiển thì diện tích
này đang bị nhà đầu tư hạn chế nhằm mở rộng tối đa diên tích đất ở Loại đất cũngrơi vào tình trạng này là loại đất công trình giáo dục mầm non và phổ thông cơ sở
tối thiểu phải đạt 2,7m2/người Loại đất công trình công cộng là nhóm đất mà người
sống trong khu dân cư đô thị quan tâm nhất vì khi người dân lựa chọn sống trongkhu dân cư đô thị cũng chỉ mong mình sống trong đô thị những vẫn có môi trượngcông cộng tốt mà một một khu dân cư đô thị mang lại Đặc biệt tại các khu dân cư
đô thị mang tính chất thương mại, cao cấp thì diện tích này hầu như được đảm bảo
tối đa Tuy nhiên, đây là diện tích đất mà chủ đầu tư hạn chế nhất vì lợi ích kinh tế
cái mà người đầu tư chú trọng dẫn đến thực trạng là diện tích này lý thuyết thì đảm
bảo nhưng trên thực tiễn thì có nhiều sai lệch tức là khi quy hoạch diện tích đượctrình bày chi tiết trên quy hoạch để được xét duyệt, nhưng khi tiến hành xây dựnglại có nhiều sai lệch về diện tích hoặc tiến độ công trình Đối với các khu dân cư
mang tính tái định cư thì phần đất này có hay không cũng chưa được luật quy định
Tùy từng mục đích khác nhau mà diện tích đảm bảo tiêu chuẩn môi trườngkhông gian cũng khác nhau Tuy nhiên, những quy định này chỉ quy định tối thiểuchứ không quy định tối đa Nhằm đảm bảo không gian sống cần thiết phải đạt được.Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế trong việc áp dụng quy định này vào
Trang 32thực tiễn Thực tiễn người dân sống trong khu dân cư đô thị phụ thuộc vào thu nhậpcủa mình là chính nên đôi khi không đáp ứng theo quy định tối thiểu không giansống đảm bảo (đối với đất ở) tuy nhiên tình trạng này cũng chưa đáng kể Songnhững loại đất còn lại đang nằm trong tình trạng khác nhau nhưng phần lớn nhữngsai lệch là do chủ đầu tư vì lợi nhuận, vì tình trạng tài chính, vì mục đích riêng đãdẫn đến tình trạng hiện nay đất xây dựng công trình công cộng, bệnh viện, chợ,
trường học có thể nằm treo vô thời hạn dẫn đến những tình trạng “học ké”, thiếu
không gian cây xanh Tất cả những những sai lệch khi áp dụng vào thực tiễn này lạidẫn đến vấn đề chính là mất cân bằng sinh thái mất đi lợi ích mà người dân mongmuốn khi sống tại khu dân cư, đô thị
2.2 Hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống tiêu thoát
nước mưa; hệ thống cơ sở thu gom, tập kết, xử lý, tái chế chất thải rắn
2.2.1 Hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống
tiêu thoát nước mưa
Trong hệ thống khu dân cư đô thị hệ thống công trình thu gom, xử lý nướcthải tập trung; hệ thống tiêu thoát nước mưa cũng đóng một vai trò quan trọng vàbắt buộc khi lập trong quy hoạch khi lập dự án Đây cũng là vấn đề quan tâm hàng
đầu của người dân sinh sống trong và ngoài khu dân cư đô thị Theo quy định tại
quy chuẩn kỹ thuật tại QCVN 07:2010/BXD14 phần 3.1 Quy định chung của hệthống thoát nước yêu cầu phải đảm bảo được các chức năng:
Thu gom nước mưa trên toàn diện tích khu dân cư đô thị;
Thu gom nước thải từ nơi phát sinh;
Dẫn, vận chuyển nước thải đến các công trình xử lý, khử trùng;
Xử lý nước thải đạt quy chuẩn môi trường trước khi xả ra nguồn tiếp nhận;
Xử lý tái sử dụng cặn, các chất chứa trong nước thải và cặn;
Đảm bảo thoát nước một cách nhanh chóng tất cả các loại nước thải, nướcmưa khỏi phạm vi đô thị, khu dân cư để tránh ngập úng;
Đây là những chức năng cơ bản đòi hỏi hệ thống xử lí nước thải phải đảm
bảo trong quá trình xây dựng và vận hành khi sử dụng ngoài ra hệ thống thu gom,
14
Quy chuẩn QCVN 07:2010/BXD về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia củaBộ xây dựng được ban hành kèm
theo thông tư 02/ TT- BXD ngày 5/02/2010 Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình hạ tầng kỹ
thuật đô thị.
Trang 33xử lý còn phải đáp ứng đầy đủ trang thiết bị theo qui định tại mục 3.1.3 phần 3.1
chương 3 của quy chuẩn QCVN 07:2010/BXD khi đã đảm bảo về hai vấn đề này
thì hệ thống xử lý nước thải mới được xem xét và vận hành sử dụng
Hệ thống thoát nước đô thị bao gồm hệ thống thoát nước thải tập trung và hệthống thoát nước mưa
2.2.1.1 Hệ thống thu gom, xử lí nước thải tập trung
Theo quy định pháp luật tại Điều 12 của Nghị định 88/2007/NĐ-CP vàhướng dẫn chi tiết trong quy chế quy hoạch năm 2008 các khu đô thị xây dựng mới
phải xây dựng hệ thống thoát nước riêng Và việc thu gom được thực hiện như sau:
Thu gom nước thải sinh hoạt phải đạt ≥80% tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt
Thu gom nước thải công nghiệp phải đạt ≥80% tiêu chuẩn cấp nước cho
công nghiệp (tùy theo loại hình công nghiệp)
Nước thải công nghiệp phải được phân loại (nước nhiễm bẩn, không nhiễm
bẩn, nước độc hại ) trước khi thu gom và có giải pháp xử lý riêng
Khi việc thu gom tiến hành theo quy định thì hệ thống thu gom, xử lý nướcthải tập trung ngoài ra còn phải đảm bảo khoảng cách an toàn đối với các công trình
khác được quy định tại Bảng 3.1: Khoảng cách ly tối thiểu giữa trạm bơm, công
trình xử lý nước thải với khu dân cư, bệnh viện, trường học, công trình công cộng
và xí nghiệp thực phẩm Dựa vào khoảng cách an toàn về môi trường (ATVMT) hệthống xử lý nước thải phải đảm bảo được khoảng cách quy định nhằm đảm bảo môi
trường trường trong khu dân cư đô thị
2.2.1.2 Hệ thống tiêu thoát nước mưa
Theo quy định tại Điều của Nghị định 88/2007/NĐ-CP thoát nước đô thị và
khu công nghiệp hệ thống tiêu thoát nước mưa bao gồm thoát nước mưa và xả nước
Thoát nước mưa: Hệ thống thoát nước mưa bao gồm mạng lưới cống, kênh
mương thu gom và chuyển tải, hồ điều hoà, các công trình đầu mối (trạm bơm, cửa
xả ) Các hệ thống này được giải thích tại các Điểm 12, 13, 14, 15, 16 của Nghị
định 88/2007/NĐ-CP thoát nước đô thị và khu công nghiệp đây cũng được xem là
các khâu tiên quyết trong quá trình thoát nước mưa của hệ thống
Xả nước mưa: Theo QCVN 07:2010/BXD về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị quy định Khi không có nhu cầu sử dụng lại
thì cho phép xả vào nguồn nước (sông, hồ v.v ) hoặc vào hệ thống thoát nước mưa
Không được xả nước mưa vào:
Trang 34 Các khu vực dùng làm bãi tắm;
Các khu vực trũng không có khả năng tự thoát nước và dễ tạo thành đầm lầy;
Khu vực có nguy cơ xói mòn, không có biện pháp gia cố bờ
Thứ nhất, Vấn đề tiêu thoát nước mưa đóng một vai trò rất quan trọng theo
nền khí hậu của Việt Nam (một quốc gia mang nền khí hậu đặc trưng là nhiệt đới
gió mùa) Đặc biệt là khu vực phía Nam với hai mùa mưa nắng lượng nước mưatương đối cao để vấn đề tiêu thoát nước mưa được giải quyết triệt để đòi hỏi pháp
luật phải có những quy định chi tiết cho hệ thống này nhằm tăng cường bảo vệ môitrường thông qua mạng lưới thoát nước và bảo vệ lợi ích kinh tế Tuy nhiên, như đãphân tích về hệ thống tiêu thoát nước mưa trong khu dân cư đô thị hiện nay chỉ thựchiện chung theo nghị định Nghị định 88/2007/NĐ-CP chưa có quy định cụ thể riêngbiệt nào nhằm giải quyết được tình hình cho các khu dân cư đô thị nói chung và đôthị tại Việt Nam
Thứ hai, theo quy định này thì khi nước mưa được thu gom, vận chuyển nếu
không tái sử dụng sẽ được trực tiếp thải ra môi trường Có thể thấy đây là điểm khácbiệt cơ bản của hai hệ thống xử lý nước thải và hệ thống tiêu thoát nước mưa trong
khu dân cư đô thị Nhưng chính nguyên nhân này đã trở thành điểm cho các chủ đầu
tư lơi dụng, họ đã thực hiện việc xả thải của nước mưa để đồng loạt xả thải ra môitrường khi những nước thải không qua xử lý Điển hình chiều 11/10/2010, cảnh sátmôi trường đã bắt quả tang Công ty TNHH Fotai (thị xã Thủ Dầu Một, BìnhDương, chuyên sản xuất bao bì nhựa, vốn Đài Loan) xả lén chất thải ra hệ thốngthoát nước mưa của khu dân cư trong tình trạng xử lý nước thải Hiện nay việc thu
gom và xử lý nước thải ở đô thị Việt Nam được thực hiện (hay là chưa được thựchiện) trên cơ sở tập trung với quy mô lớn15
Quy trình thực hiện của hệ thống xử lý nước thải tập trung được thực hiệnbằng việc thu gom nước thải từ các khu đông dân cư và vận chuyển tới trạm xử lýtại các vùng ngoại ô thành phố Đây là mô hình đang được áp dụng phổ biến tại hầuhết các đô thị nơi có mật độ dân số cao, có điều kiện xây dựng đồng bộ Tuy nhiên,
mô hình này áp dụng với các khu dân cư phân tán, vùng ven đô, làng nghề hoặc hộ
gia đình… tỏ ra không thích hợp Hướng mới cho quá trình giải quyết tình trạng này
ngày 9/12 tại Hà Nội, Bộ Xây dựng đã phối hợp với Cơ quan Hợp tác kỹ thuật Đức
15
Minh Huân, VnExpress: Xả thải qua hệ thống thoát nước mưa khu dân cư, hoc/25843-Xa-thai-qua-he-thong-thoat-nuoc-mua-khu-dan-cu.html , [ truy cập ngày 1/3/2012].
Trang 35http://www.mine.vn/Khoa-GTZ tổ chức Hội thảo "Quản lý và xử lý nước thải phi tập trung tại các đô
thị" Đưa ra hướng giải được xem là giải pháp công nghệ tiên tiến được nhiều nước
áp dụng là quản lý nước thải phi tập trung Ưu điểm của phương pháp này là chi phí
đầu tư thấp do quy mô trạm xử lý nhỏ, khoảng cách vận chuyển nước thải tới trạm
ngắn hơn Do vậy, phương án quản lý nước thải phi tập trung phải được đưa vàovấn đề vệ sinh đô thị trong tương lai đây cũng là hướng giải quyết cho các khu dân
cư đô thị
2.2.1.3 Chủ thể sở hữu công trình hệ thống xử lí nước thải trong khu dân
cư đô thị
Một phần quan trọng trong hệ thống xử lí nước thải trong khu dân cư đô thị
đó là chủ sở hữu công trình Tại Điều 21 của Nghị định số 88/2007/ NĐ-CP ngày 28tháng 5 năm 2007 về thoát nước khu đô thị và khu công nghiệp quy định chủ sở hữu
công trình thoát nước khu dân cư đô thị có thể là Ủy Ban Nhân Dân đô thị nơi hình
thành khu dân cư đô thị hay Chủ đầu tư dự án khu dân cư đô thị Khi đó nghĩa vụ
của chủ đầu tư được thực thi tại Điều Điều 274, Điều 275 Bộ luật Dân Sự quy định
“Chủ sở hữu bất động sản là nhà ở, công trình xây dựng phải làm cống ngầm hoặc
rãnh thoát nước để đưa nước thải ra nơi quy định, sao cho nước thải không tràn sangbất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề, ra đường công cộng hoặc nơi sinhhoạt công cộng làm ô nhiễm môi trường Từ những quy định này cũng cho thấy họphải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình
Tại Nghị định của chính phủ số 88/2007/ NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2007
về thoát nước khu đô thị và khu công nghiệp quy định chủ đầu tư công trình thoát
nước trong khu dân cư đô thị cũng chính là “Đơn vị, doanh nghiệp được giao làm
chủ đầu tư kinh doanh, phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu đô thị mới là chủ
đầu tư công trình thoát nước trên địa bàn được giao quản lý”16
Theo quy định này thì hệ thống thoát nước tại khu dân cư đô thị do chủ đầu
tư dự án cũng là chủ sở hữu công trình, chủ đầu tư công trình, đây là quy định của
Luật nhằm tạo nên sự thuận lợi trong quá trình xây dựng và đưa vào sử dụng
Nhưng nó cũng là sự hạn chế khi áp dụng vào thực tiễn hiện nay khi họ tự thực
hiện, tự kiểm tra tất cả điều này dẫn đến thủ tục xét duyệt dự án khu dân cư đô thịhiện nay rơi vào tình trạng mà Theo Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội, khi quy
16
Điều 22, Nghị định của chính phủ số 88/2007/ NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2007 về thoát nước khu đô thị
và khu công nghiệp
Trang 36hoạch hoặc phê duyệt xây dựng các khu đô thị, cơ quan chức năng đều đã tính đến
phương án xử lý nước thải, tuy nhiên việc theo dõi quá trình này còn hình thức Ởkhu đô thị Mỹ Đình, tuy cũng có trạm xử lý nhưng hoạt động kém hiệu quả Nhiều
chủ đầu tư đã lờ đi việc xây trạm xử lý nước thải mà thay vào đó là bãi đỗ xe hay
một công trình thương mại “Lượng dân sống trong đô thị mới sẽ tăng rất nhanh
trong thời gian tới dẫn đến lượng chất thải, nước thải tại đây cũng tăng nhanh Nhiều chủ đầu tư thà chấp nhận nộp phạt hơn là đầu tư xây trạm xử lý chất thải”-
đại diện Chi cục Bảo vệ môi trường nói
2.2.1.4 Nguyên tắc kết hợp công trình thoát nước với các công trình hạ tầng kỹ thuật khác
Dựa trên quy định tại Điều 5 Nghị định của Chính phủ số 88/2007/ NĐ-CP
ngày 28 tháng 5 năm 2007 về thoát nước khu đô thị và khu công nghiệp có thể rút
ra các nguyên tắc kết hợp công trình thoát nước với các công trình hạ tầng kỹ thuật
khác trong khu dân cư đô thị phải đảm bảo các nguyên tắc
Thứ nhất, phải bảo đảm tính đồng bộ với các đồ án quy hoạch, dự án đầu tư
các công trình hạ tầng kỹ thuật khác (giao thông, thủy lợi, ) và hệ thống thoát nước
đô thị và khu công nghiệp có liên quan và được cơ quan quản lý nhà nước về thoátnước ở địa phương xem xét, thống nhất bằng văn bản trước khi trình cấp có thẩm
quyền phê duyệt
Thứ hai, khi cải tạo, mở rộng, xây dựng mới các công trình hạ tầng kỹ thuật,
đặc biệt là công trình giao thông có liên quan đến hệ thống thoát nước đô thị và khu
công nghiệp thì chủ đầu tư phải có phương án bảo đảm thoát nước bình thường và
có nghĩa vụ cải tạo, phục hồi hoặc xây dựng mới đồng bộ các hạng mục công trình
thoát nước có liên quan theo quy hoạch
Thứ ba, cơ quan quản lý nhà nước về thoát nước tại địa phương, đơn vị thoát
nước được giao quản lý, vận hành hệ thống thoát nước có quyền và nghĩa vụ tham
gia giám sát quá trình xây dựng các hạng mục công trình thoát nước của các dự án
đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật có liên quan Đơn vị thoát nước có
quyền từ chối nhận bàn giao công trình thoát nước nếu chất lượng xây dựng khôngbảo đảm theo quy định
Trang 372.2.2 Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn
Việt Nam đang trong quá trình đô thị hóa từ năm 1990, có khoảng 500 đô thịlớn nhỏ Tính đến tháng 6/2007 có tổng cộng 729 đô thị các loại17 Tốc độ đô thịhóa diễn ra rất nhanh đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế – xã hộicủa đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá
nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và
phát triển không bền vững Lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu côngnghiệp ngày càng nhiều với thành phần phức tạp Vấn đề xử lý chất thải rắn tại các
đô thị nói chung và tại các khu dân cư đô thị nói riêng đang cần nhanh chóng giải
quyết để tiến nhanh đô thị hóa đi đôi với sự bền vững của môi trường Đó là lý dopháp luật về môi trường đã ban hành quy định về thu gom, xử lý chất thải rắn nghị
định số 59/2007 về xử lý chất thải rắn tại đô thị
2.2.2.1 Hệ thống thu gom chất thải rắn
Phải tuân theo hướng dẫn của quy định quản lý chất thải rắn tại Nghị định số59/2007/NĐ-CP Để thu gom xử lý chất thải rắn nguyên tắc trước nhất là phải phânloại được chất thải rắn Đâu là chất thải rắn thông thường đâu là chất thải rắn nguyhại để có hướng thu gom và xử lý phù hợp theo tiêu chuẩn môi trường
Thu gom, lưu giữ, vận chuyển chất thải rắn thông thường được quy định tạiĐiều 24 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn quy định: Việc thugom, lưu giữ, vận chuyển chất thải rắn thông thường do các công ty dịch vụ, hợp tác
xã dịch vụ hoặc hộ gia đình (sau đây gọi tắt là chủ thu gom, vận chuyển chất thảirắn) thông qua hợp đồng thực hiện dịch vụ Tuy nhiên, Nghị định số 59/2007/NĐ-
CP về quản lý chất thải rắn quy định lại không quy định đối với khu dân cư đô thị sẽthu gom vận chuyển thế nào mà có thì chỉ nói theo các phương thức phù hợp vớiquy hoạch quản lý chất thải rắn đã được phê duyệt Vậy phù hợp là như thế nào thì
chưa quy định rõ Thời gian lưu giữ chất thải rắn không được quá 02 ngày
Thu gom, lưu giữ, vận chuyển chất thải rắn nguy hại quy định tại Điều 25
Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn quy định: Đối tượng thu gom,
lưu giữ vận chuyển chất thải rắn nguy hại là các tổ chức có năng lực phù hợp vàđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hành nghề quản lý chất thải nguy
17
Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở Việt Nam,
http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/tapchimt/PHONGSU/Pages/T%C3%8CNHH%C3%8CNHPH%C3%81TSI NHCH%E1%BA%A4TTH%E1%BA%A2IR%E1%BA%AENSINHHO%E1%BA%A0T%C4%90%C3%94 TH%E1%BB%8A%E1%BB%9EVI%E1%BB%86TNAM.aspx, [ truy cập ngày 10/3/2012]