1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP PHÁP LUẬT bảo HIỂM THẤT NGHIỆP ỞVIỆT NAM

100 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua việc tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi rộng, với nguyên tác “lấy số ñông bù số ít”, chia sẻ rủi ro, ILO quy ñịnh trong Công ước số 102 năm 1952 về an to

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Nguyễn Ánh Minh Trương Minh Hùng

Bộ môn Luật Hành chính MSSV: 5062398

Luật Tư pháp 3 – K32

Cần Thơ, 4/2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN



Cám ơn thầy cô Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ đã truyền thụ cho tôi những kiến thức quý báu về lý thuyết cũng như kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình học tập, để ngày nay tôi có thể sử dụng những kiến thức ấy vào việc hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Chân thành cám ơn cô Nguyễn Ánh Minh đã tận tình hướng dẫn và giúp

đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này một cách tốt nhất

Cảm ơn các anh chị và bạn bè luôn đóng góp ý kiến, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Trang 3

Cần Thơ, ngày … tháng … năm

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Cần Thơ, ngày … tháng … năm

Trang 5

MỤC LỤC

Lời mở ñầu 1

Chương 1: Mối tương quan giữa bảo hiểm thất nghiệp và kinh tế thị trường 1.1 Cơ sở lý luận về pháp luật bảo hiểm và bảo hiểm thất nghiệp 3

1.1.1 Sự cần thiết phải có bảo hiểm 3

1.1.2 Khái niệm về bảo hiểm 4

1.1.2.1 Đặc ñiểm của bảo hiểm xã hội 5

1.1.2.2 Phân loại bảo hiểm xã hội 6

1.1.3 Nguồn gốc hình thành bảo hiểm thất nghiệp 6

1.1.4 Sự cần thiết phải có bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường 8

1.1.5 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp 10

1.1.6 Bản chất của bảo hiểm thất nghiệp 11

1.1.7 Mối quan hệ giữa bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm xã hội 12

1.2 Những vấn ñề chung về thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường 14

1.2.1 Tính tất yếu khách quan của thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường 14

1.2.2 Khái niệm thất nghiệp 17

1.2.3 Khái niệm người thất nghiệp 20

1.2.4 Phân loại thất nghiệp 23

1.2.5 Ảnh hưởng của thất nghiệp ñến nền kinh tế - xã hội 26

1.3 Tham khảo chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ 28

1.3.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ 28

1.3.2 Các loại hình bảo hiểm thất nghiệp tại Mỹ 28

1.3.3 Lịch sử hình thành bảo hiểm thất nghiệp tại Mỹ 29

1.3.4 Luật ñiều chỉnh 30

Chương 2: Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 2.1 Cơ sở xây dựng và thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp cho người lao ñộng ở Việt Nam .33

2.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội 33

2.1.2 Cơ sở chính trị 37

2.1.3 Cơ sở pháp lý 38

2.2 Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 41

2.2.1 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp phải thể hiện tính xã hội, có sự chia sẻ rủi ro 43

2.2.2 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp phải thể hiện mối quan hệ giữa ñóng góp và hưởng thụ 43

Trang 6

2.2.3 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp phải ñược quản lý thống nhất, dân chủ, công

khai và hạch toán ñộc lập 44

2.2.4 Nhà nước thống nhất quản lý pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 44

2.2.5 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp phải góp phần lành mạnh hóa thị trường lao ñộng 45

2.3 Những quy ñịnh pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 46

2.3.1 Phạm vi và ñối tượng áp dụng bảo hiểm thất nghiệp 46

2.3.1.1 Phạm vi áp dụng bảo hiểm thất nghiệp 47

2.3.2 Điều kiện, thời gian hưởng và mức trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp 50

2.3.2.1 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp .50

2.3.2.2 Thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp 53

2.3.3 Về mức hưởng chế ñộ trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp 56

2.3.4 Nguốn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp 57

2.3.4.1 Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp 58

2.3.4.2 Sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp 63

2.3.5 Tạm dừng và chấm dứt hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp 65

2.3.5.1 Tạm dừng hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp 65

2.3.5.2 Chấm dứt hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp 65

2.3.6 Khiếu nại tố cáo về Bảo hiểm thất nghiệp 67

2.3.6.1 Người khiếu nại tố cáo 67

2.3.6.2 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại tố cáo 68

2.3.6.3 Trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại về bảo hiểm thất nghiệp 68

2.4 Quản lý và tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp 69

Chương 3: Thực trạng thi hành chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện 3.1 Thực trạng thi hành chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 77

3.2 Một số giải pháp cho chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 82

3.3 Kiến nghị 67

Kết luận 89 Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của ñề tài

Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp mang tính khách quan và ñược biểu hiện như một ñặt trưng vốn có của nó mà người ta chỉ có thể hạn chế chứ không thể loại bỏ nó ra khỏi ñời sống Thật vậy, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo

ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta ñã ñạt ñược những thành tựu to lớn về nhiều mặt

nhưng sự phát triển ñó cũng ñồng nghĩa với việc số lượng người thất nghiệp ngày càng gia tăng, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực ñến ñời sống kinh tế- chính trị - xã hội, cản trở quá trình công nghiệp hóa, hiện ñại hóa của ñất nước Điều ñó ñã trở thành một vấn

ñề xã hội bức xúc mà Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm Với tốc ñộ tăng dân số

khoảng 1,4%/năm) như hiện nay thì dự tính ñến cuối năm 2010, dân số nước ta sẽ có khoảng 85 triệu người, trong ñó có khoảng 56 triệu người ở ñộ tuổi lao ñộng - chiếm khoảng 65% (nguồn: dự báo dân số Việt Nam ñến cuối năm 2010 – Tổng Cục thống kê) Cùng với việc tăng dân số thì việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay ñổi công nghệ

sẽ dẫn ñến tình trạng người ở ñộ tuổi lao ñộng không có việc làm ngày càng cao - thất nghiệp xảy ra là ñiều tất yếu Trên thực tế, hậu quả mà thất nghiệp mang lại cho nền kinh tế là không hề nhỏ, thậm chí nó còn ảnh hưởng sâu sắc ñến ñời sống văn hóa xã hội Thất nghiệp là tiền ñề của các loại tội phạm như: trộm, cướp, giết người…và các

tệ nạn xã hội: cờ bạc, ma túy, mại dâm…làm băng hoại giá trị ñạo ñức, văn hóa của gia ñình, của dân tộc

Trước những tác hại vô cùng to lớn mà thất nghiệp gây ra thì ở nước ta cần phải

có những biện pháp thiết thực ñể ngăn chặn, hạn chế tình trạng này, như thế mới có thể giữ gìn ñược sự ổn ñịnh lâu dài về kinh tế - chính trị - xã hội của ñất nước Vì thế,

Đảng và Nhà nước ta cần nhanh chóng chủ trương xây dựng chính sách bảo hiểm thất

nghiệp nhằm hỗ trợ cho những người lao ñộng không may bị thất nghiệp ñể họ có thể

ổn ñịnh cuộc sống và sớm quay lại thị trường lao ñộng Chính sách này còn giúp cho

người thất nghiệp không trở thành gánh nặng cho gia ñình, bảo vệ ñược cộng ñồng ñịa phương, tránh khủng hoảng thất nghiệp dây chuyền và kinh tế chậm phát triển do ngân sách bị hao hụt vì thiếu nguồn thu nhập từ thuế Như vậy, sự ra ñời của chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong giai ñoạn hiện nay ở nước ta là hết sức cần thiết và sẽ là công

cụ pháp lý vừa giúp người lao ñộng vượt qua chướng ngại thất nghiệp vừa giúp Nhà nước bớt ñi phần gánh nặng và từ ñó thúc ñẩy nền kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ

hơn, nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế thế giới

Trang 8

2 Mục ñích nghiên cứu

Qua hơn một năm triển khai thực hiện thì chính sách bảo hiểm thất nghiệp ñã

ñạt ñược một số thành tựu nhất ñịnh, nhưng do mới ñược ban hành nên chính sách này

ñã gặp phải không ít khó khăn, vướng mắc nhất là khi bắt ñầu chi trả tiền trợ cấp bảo

hiểm thất nghiệp trong những tháng ñầu năm 2010 Việc chọn ñề tài “Pháp luật bảo

hiểm thất nghiệp ở Việt Nam”, người viết nhằm nghiên cứu sâu sắc hơn về bảo hiểm

nói chung và bảo hiểm thất nghiệp nói riêng ở Việt Nam và là cơ hội ñể nghiệm thu một mảng kiến thức ñược tích lũy trong quá trình học tập ở bậc ñại học Thông qua việc nghiên cứu này sẽ giúp người viết cũng như người ñọc biết và hiểu thêm những quy ñịnh về pháp luật bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, ñồng thời nhận thấy ñược thực trạng, bất cập và những hạn chế ñang xảy ra khi triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ỏ Việt Nam Qua ñó, ñóng góp ý kiến trên cơ sở xây dựng hoàn thiện hệ thống luật bảo hiểm xã hội nói riêng và chế ñịnh về bảo hiểm thất nghiệp nói

riêng

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi bài viết, do sự phức tạp nhiều mặt của vấn ñề bảo hiểm thất nghiệp nên người viết không thể ñề cập hết tất cả các khía cạnh của vấn ñề Do ñó, luận văn này chỉ ñề cập những nghiên cứu về vấn ñề lý luận cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp trong hệ thống pháp luật bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện hành, thực tiễn áp dụng quy ñịnh bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, từ ñó nêu ra những vướng mắc, giải pháp và kiến nghị xung quanh vấn ñề có liên quan

4 Phương pháp nghiên cứu

Bằng phương pháp nghiên cứu theo quan ñiểm lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà nước và pháp quyền, ñồng thời xác ñịnh ñược ñây là một vấn ñề mang tính chất lý luận, tổng hợp nên người viết ñi sâu vào phân tích, so sánh và tổng hợp các quy ñịnh về bảo hiểm thất nghiệp trong hệ thống pháp luật bảo hiểm xã hội, các tài liệu, văn bản hướng dẫn, các bài viết …nhằm làm rõ vấn ñề nghiên cứu

Trang 9

CHƯƠNG 1 MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là vấn ñề mà tất cả các quốc gia trên thế giới ñều phải ñương ñầu dù là nước công nghiệp phát triển hay các nước ñang phát triển Trong những năm gần ñây, tốc ñộ gia tăng số người ñi tìm việc làm ñã vượt

xa số việc làm mới ñược tạo ra mỗi năm Ngày 12/10/1999 ñược chọn là “Ngày dân số thế giới ñạt 6 tỷ người” thì cũng là lúc chính phủ các nước phải ñối mặt với nhiều vấn

ñề hết sức bức xúc trong ñó có vấn ñề thất nghiệp Khi chuyển sang cơ chế thị trường,

nền kinh tế nước ta ñã ñạt ñược những thành tựu ñáng kể, ñiểm nổi bậc nhất là tốc ñộ tăng trưởng kinh tế cao và tương ñối ổn ñịnh, lạm phát ñược kiểm soát, ñời sống nhân dân ñược cải thiện rõ rệt và từng bước nâng cao…Tuy nhiên, những mặt trái của nền kinh tế thị trường ñã bộc lộ khá rõ mà ñặc biệt là tình trạng thất nghiệp tăng lên ngày càng nhiều Nếu năm 1989, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta là 5,73% thì ñến năm 1999 là 7,40% Ngoài ra, tỷ lệ thất nghiệp cũng khác nhau giữa thành thị và nông thôn, ñồng thời có sự chênh lệch lớn giữa các vùng trong phạm vi cả nước Bên cạnh ñó, tình trạng thất nghiệp ở nước ta có những hình thức và biểu hiện khác nhau khá phức tạp Nếu tính cả số lao ñộng “thất nghiệp ẩn” như: về hưu non, trợ cấp một lần, thu nhập thấp của người lao ñộng thì tỷ lệ thất nghiệp còn cao hơn nhiều Có thể nói, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm ñang là vấn ñề rất bức xúc ñối với nước ta hiện nay – trong bối cảnh toàn cầu hóa và nước ta tham gia tự do hóa thương mại thì thị trường lao

ñộng của nước ta càng diễn biến phức tạp hơn

1.1 Cơ sở lý luận về pháp luật bảo hiểm và bảo hiểm thất nghiệp

1.1.1 Sự cần thiết phải có bảo hiểm

Như chúng ta ñã biết, con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải có cái

ăn, cái mặc, nhà ñể ở… Và ñể thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu này, con người phải

lao ñộng ñể làm ra những sản phẩm cần thiết phục vụ cho chính bản thân họ Từ ñó, dẫn ñến của cải xã hội ngày càng nhiều, mức ñộ thõa mãn nhu cầu càng cao Trong thực tế cuộc sống, không phải người lao ñộng nào cũng có ñủ ñiều kiện về sức khỏe, khả năng lao ñộng hoặc những may mắn khác ñể hoàn thành nhiệm vụ lao ñộng, công tác hoặc tạo ra cho mình và gia ñình một cuộc sống ấm no, hạnh phúc Sự thật, người nào cũng có thể gặp phải những rủi ro, bất hạnh như ốm ñau, tai nạn, thương vong hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những ñiều kiện sống

và ñiều kiện sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác… Khi rơi vào các trường hợp ñó, các nhu cầu thiết yếu của con người sẽ không vì thế bị mất ñi mà trái lại, có

Trang 10

cái cịn tăng lên, thậm chí cịn xuất hiện thêm nhu cầu mới Bởi vậy, muốn tồn tại, con người và xã hội lồi người phải tìm ra những cách giải quyết để khắc phục các rủi ro, bất hạnh nhằm giảm bớt khĩ khăn cho bản thân, gánh nặng cho gia đình của người gặp nạn Khi đĩ, thì ngồi việc tự mình khắc phục, người gặp nạn phải được sự bảo trợ của cộng đồng và xã hội

Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau Những yếu tố đồn kết, hướng thiện đĩ đã tác động tích cực đến ý thức và cơng việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng cơng nghiệp, hệ thống bảo hiểm xã hội

đã cĩ những cơ sở để hình thành và phát triển Quá trình cơng nghiệp hĩa làm cho đội

ngũ người làm cơng ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại Sự hụt hẫng về tiền lương trong các trường hợp bị

ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già…, đã trở thành mối đe doạ đối

với cuộc sống bình thường của những người khơng cĩ nguồn thu nhập nào khác ngồi tiền lương Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm cơng ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đồn…) đồng thời địi hỏi giới chủ và Nhà nước phải cĩ trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu cơng nhân phải đĩng gĩp để dự phịng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật Từ đĩ, xuất hiện hình thức bắt buộc đĩng gĩp Lúc

đầu chỉ cĩ giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các

trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật Đến cuối những năm 1880, bảo hiểm

xã hội đã mở ra hướng mới Sự tham gia là bắt buộc và khơng chỉ người lao động đĩng gĩp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình Tính chất đồn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, khơng phân biệt già - trẻ, nam -

nữ, lao động phổ thơng - lao động kỹ thuật, người khoẻ - người yếu mà tất cả đều phải tham gia đĩng gĩp vì mục đích chung

1.1.2 Khái niệm về bảo hiểm

Bảo hiểm xã hội cĩ lịch sử khá lâu và đã cĩ nhiều thay đổi về chất với nhiều mơ hình phong phú, được thực hiện ở hàng trăm nước trên thế giới Tuy nhiên, cho đến nay định nghĩa thế nào là bảo hiểm xã hội vẫn là vấn đề cịn nhiều tranh luận vì nĩ

được tiếp cận từ nhiều gĩc độ khác nhau với những quan điểm khác nhau, điều này

cho thấy được tính đa dạng và phong phú của bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, khái niệm

nhận được nhiều sự đồng tình nhất của các nhà nghiên cứu trên thế giới đĩ là:

“Bảo hiểm xã hội là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc

Trang 11

mất khả năng lao động hoặc sức lao động khơng được sử dụng, thơng qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đĩng gĩp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm gĩp phần đảm bảo an tồn kinh tế cho người lao động và gia đình họ; đồng thời gĩp phần bảo đảm an tồn xã hội”

1.1.2.1 Đặc điểm của Bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm cho người lao động trong và sau quá trình lao động Nĩi cách khác, khi đã tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội, người lao động được bảo hiểm cho đến lúc chết Khi cịn làm việc, người lao động được đảm bảo khi bị ốm đau, lao động nữ

được trợ cấp thai sản khi sinh con; người bị tai nạn lao động được trợ cấp tai nạn lao động; khi khơng cịn làm việc nữa thì được hưởng tiền hưu trí, khi chết thì được tiền

chơn cất và gia đình được hưởng trợ cấp tuất… Đây là đặc trưng riêng của bảo hiểm

xã hội mà khơng một loại hình bảo hiểm nào cĩ được

Các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro xã hội của người lao động trong bảo hiểm xã hội liên quan đến thu nhập của họ gồm: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết… Do những sự kiện và rủi ro này mà người lao

động bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc khả năng lao động khơng được sử

dụng, dẫn đến họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập Vì vậy, người lao động cần phải

cĩ khoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống và sự bù đắp này được thơng qua các trợ cấp bảo hiểm xã hội Đây là đặc trưng rất cơ bản của bảo hiểm xã hội Bên cạnh đĩ, người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội cĩ quyền được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, tuy nhiên quyền này chỉ cĩ thể trở thành hiện thực khi họ thực hiện

đầy đủ nghĩa vụ đĩng bảo hiểm xã hội Người chủ sử dụng lao động cũng phải cĩ trách

nhiệm đĩng bảo hiểm xã hội cho người lao động mà mình thuê mướn

Sự đĩng gĩp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, bao gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước là nguồn hình thành cơ bản của quỹ bảo hiểm xã hội Ngồi ra nguồn thu của quỹ bảo hiểm xã hội cịn cĩ các nguồn khác như lợi nhuận

từ đầu tư phần nhàn rỗi tương đối của quỹ bảo hiểm xã hội; khoản nộp phạt của các doanh nghiệp, đơn vị chậm nộp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các nguồn thu hợp pháp khác Quỹ bảo hiểm xã hội dùng để chi trả các trợ cấp bảo hiểm

xã hội và chi phí cho các hoạt động quản lý của bộ máy bảo hiểm xã hội Như vậy, cĩ thể thấy quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ xã hội nhưng vừa là quỹ tài chính và vừa là quỹ phát triển

Các hoạt động bảo hiểm xã hội được thực hiện trong khuơn khổ pháp luật, các chế độ bảo hiểm xã hội cũng do luật định Nhà nước quản lý và bảo hộ các hoạt động của bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội cịn chịu sự giám sát chặt chẽ của người lao

động (thơng qua tổ chức cơng đồn) và người sử dụng lao động (thơng qua tổ chức của

Trang 12

giới chủ) theo cơ chế ba bên Đây cũng là ñặc trưng rất riêng của bảo hiểm xã hội Tất

cả những khía cạnh ñã nêu trên, một lần nữa cho thấy, bảo hiểm xã hội ñược lập ra là

ñể tác ñộng vào thu nhập theo lao ñộng của người lao ñộng tham gia bảo hiểm xã hội

Nói cách khác, bảo hiểm xã hội là hệ thống bảo ñảm khoản thu nhập thay thế cho người lao ñộng trong trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao ñộng hay mất việc làm, do ñó bị mất hoặc giảm khoản thu nhập ñược thay thế, nhằm bảo ñảm thỏa mãn

những nhu cầu sinh sống thiết yếu cho họ

1.1.2.2 Phân loại Bảo hiểm xã hội

Chính sách bảo hiểm xã hội hiện hành quy ñịnh hai loại hình bảo hiểm cơ bản

là bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện Mỗi loại ñược áp dụng ñối với từng loại ñối tượng và từng loại doanh nghiệp

a Bảo hiểm xã hội bắt buộc

Bảo hiểm xã hội bắt buộc ñược áp dụng ñối với những doanh nghiệp sử dụng từ

10 người lao ñộng trở lên Trong những doanh nghiệp này, người sử dụng lao ñộng và người lao ñộng phải ñóng bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo hiểm xã hội theo tỷ lệ (%) quy

ñịnh Khi tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao ñộng ñược hưởng các chế ñộ

trợ cấp bảo hiểm xã hội như ốm ñau, tai nạn lao ñộng, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí, tử tuất

b Bảo hiểm xã hội tự nguyện

Chế ñộ này ñược áp dụng ñối với người lao ñộng làm việc ở nơi sử dụng dưới

10 lao ñộng hoặc người lao ñộng làm những công việc có thời hạn dưới ba tháng, theo mùa vụ hoặc làm các công việc có tính chất tạm thời khác Các khoản bảo hiểm xã hội

ñược tính vào lương do người sử dụng lao ñộng trả ñể người lao ñộng tham gia bảo

hiểm xã hội theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm

1.1.3 Nguồn gốc hình thành Bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp xuất hiện ñầu tiên ở Châu Âu và nó xuất phát từ một nghề khá phổ biến ở Thụy Sỹ là nghề thuỷ tinh và gốm xây dựng Nghề này ñòi hỏi những người sử dụng lao ñộng phải chọn ñược những người thợ lành nghề và ñược tổ chức ở phạm vi nhỏ hẹp khoảng 20-30 công nhân Tuy nhiên, nó lại mang tính thời vụ bởi vậy người công nhân làm ở những ngành nghề này thường hay bỏ việc vì không ổn ñịnh Năm 1893 ở Thụy Sỹ các ông chủ ñã tập hợp nhau lại và lập ra một loại quỹ ñể trợ cấp cho những người nghỉ việc vì lý do thời vụ và ngay lập tức công nhân gắn bó hơn với ngành nghề của mình Từ kinh nghiệm của Thuỵ Sỹ, năm 1900-1910 Na Uy và Đan Mạch ban hành một ñạo luật quốc gia về bảo hiểm thất nghiệp tự nguyện có sự hỗ trợ của Nhà nước Sau chiến tranh thế giới thứ II rất nhiều nước triển khai bảo hiểm thất

Trang 13

nghiệp tự nguyện ñộc lập với bảo hiểm xã hội Do kết quả mang lại nhiều lợi ích, nên

từ ñó vấn ñề trợ cấp thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp ñã ñược các nước ñã trên thế giới vận dụng rất rộng rãi

Ở nước ta, trong thời kỳ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp thì quan hệ lao ñộng ñược xác lập giữa một bên là cơ quan của nhà nước và một bên là người lao ñộng Theo ñó, công việc sẽ ñược phân phối theo chỉ tiêu ñã ñược duyệt Ở thời kỳ

này, tình trạng thất nghiệp vẫn diễn ra nhưng người ta gọi nó với thuật ngữ “việc ít”,

“biên chế nhiều người”, “dư thừa lao ñộng” Khi chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường thì thất nghiệp ngày càng hiện hữu và vấn ñề giải quyết thất nghiệp cũng ñược

ñặt ra Nhà nước ta ñã ban hành nhiều văn bản pháp luật ñể giải quyết vấn ñề này như:

Quyết ñịnh số 176/HĐBT ngày 09/10/1989 về sắp xếp lại lao ñộng trong các ñơn vị kinh tế quốc doanh, Quyết ñịnh số 11/HĐBT ngày 12/04/1991 về một số chính sách trong việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước…, Pháp lệnh hợp ñồng lao ñộng

ñược Hội ñồng nhà nước ban hành ngày 30.08/1990, Nghị ñịnh số 165/HĐBT ngày

12/05/1992 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh hợp ñồng lao ñộng, Bộ luật Lao ñộng và một số thông tư hướng dẫn thực hiện của ngành Lao ñộng Thương binh và Xã hội Có thể nói các văn bản pháp luật này ñã bước ñầu tạo khung pháp lý ñể ñiều chỉnh vấn ñề thất nghiệp nhưng vẫn chưa ñáp ứng ñược nhu cầu của nền kinh tế thị trường, còn mang nặng dấu ấn của thời kỳ bao cấp nên bất lợi cho cả người lao ñộng, người sử dụng lao ñộng và Nhà nước Theo các văn bản pháp luật trên thì các chế ñộ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm ñược thực hiện ñối với người lao ñộng khi mất việc làm trong các doanh nghiệp Nhà nước và sau này ñược mở rộng ra các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Ngoài ra, Nhà nước còn dành một khoản tiền lớn từ ngân sách

ñể cho vay hỗ trợ việc làm với lãi xuất ưu ñãi, cùng với các nguồn vốn ñầu tư phát

triển sản xuất khác nên hàng năm ñã giải quyết ñược trên 1 triệu người có việc làm mới Tuy nhiên, ñây chỉ là biện pháp tình thế tạm thời chưa giả quyết ñược những nội dung thuộc về bản chất của thất nghiệp Vì vậy, Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp ñáp ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường Chủ trương ñó ñã ñược ghi nhận trong Nghị quyết Trung ương 7 khóa VII của Đảng cộng sản Việt Nam; Nghị quyết Đại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng và trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ñã nêu: “Sớm xây dựng và thực

Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ñã ghi rõ: “Khẩn trương

bổ sung chính sách bảo hiểm xã hội, ban hành chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo

(1)

Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị

quốc gia, Hà Nội trang 33

Trang 14

hướng Nhà nước, doanh nghiệp và người lao ñộng cùng ñóng góp”(1) Chủ trương này của Đảng ñã ñược kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa X thể chế bang việc thông qua Luật sửa ñổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Lao ñộng, trong ñó có quy ñịnh: “Chính phủ quy ñịnh cụ thể ñiều kiện và mức lương trợ cấp thất nghiệp” (Điều 40) Ngoài ra, ngày 26/06/2006, tại lỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI ñã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội

Đây là một ñạo luật quan trọng ñược Đảng, Nhà nước và người lao ñộng hết sức quan

tâm Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2007, riêng bảo hiểm xã hội tự nguyện thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 và Bảo hiểm thất nghiệp thực hiện từ ngày 01tháng 01 năm 2009 Đây là văn bản pháp luật ñầu tiên quy

ñịnh về vấn ñề bảo hiểm thất nghiệp của nước ta Tiếp theo ñó, ngày 12/12/2008

Chính phủ ñã ban hành Nghị ñịnh 127/2008/NĐ-CP Quy ñịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số ñiều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Và hiện nay, một văn bản mới nhất vừa ñược Bộ lao ñộng Thương binh và Xã hội ban hành quy ñịnh về bảo hiểm thất nghiệp là Thông tư 04/2009/TT – BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số ñiều của Nghị ñịnh 127/2008/NĐ – CP quy ñịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số ñiều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp

1.1.4 Sự cần thiết phải có Bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Bảo hiểm thất nghiệp là một loại hình phúc lợi tạm thời dành cho những người

ñã ñi làm và bị cho nghỉ việc ngoài ý muốn Là bảo hiểm bồi thường cho người lao ñộng bị thiệt hại do bị mất việc làm ñể họ ổn ñịnh cuộc sống và có ñiều kiện tham gia

vào thị trường lao ñộng, trợ giúp về mặt tài chính cho người lao ñộng bị thất nghiệp

ñặc biệt giúp cho họ sớm quay lại thị trường lao ñộng Sự có mặt của bảo hiểm thất

nghiệp vì thế không những là nhu cầu riêng của lao ñộng mà còn là sự sống còn và phát triển của cộng ñồng ñịa phương Bảo hiểm thất nghiệp vừa giúp cho người thất nghiệp không trở thành gánh nặng cho gia ñình và cộng ñồng vừa giúp bảo vệ ñược cộng ñồng ñịa phương, tránh khủng hoảng thất nghiệp dây chuyền và chậm phát triển

do ngân sách bị hao hụt vì thiếu nguồn thu nhập từ thuế và vì phải trả cho những khoản chi phí ngoài dự toán hàng năm Bảo hiểm thất nghiệp giúp người lao ñộng có thời gian tìm việc khác ñồng thời giúp giới chủ giữ chân ñược những người lao ñộng lành nghề, từ ñó gắn bó giữa họ với người lao ñộng, góp phần ổn ñịnh chính trị, kinh

tế, xã hội và giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước Lịch sử ñã chứng minh, nhờ có bảo hiểm thất nghiệp mà một số nước trên thế giới ñã bớt ñi một phần gánh nặng về vấn ñề lao ñộng trong nước khi phải ñối mặt với biến cố, thiên tai, bệnh dịch… Điển hình như ở Hoa kỳ, nhờ có các quỹ bảo hiểm thất nghiệp mà nhiều người mất việc

(1)

Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ IX Sñd, Hà Nội,

trang 25

Trang 15

tránh ñược khỏi bị phá sản, các cơ sở làm ăn buôn bán và các cộng ñồng ñịa phương vẫn giữ ñược tốc ñộ phát triển bình thường Khủng hoảng tài chính ñầu thập niên 1930 tại Hoa kỳ ñã làm hàng triệu lao ñộng bị mất việc và nhờ vào chương trình bảo hiểm thất nghiệp ñược thành lập ngay sau ñó mà năm 1935, Hoa Kỳ ñã tránh ñược khủng hoảng xã hội và thất nghiệp dây chuyền Nếu không có chương trình và các quỹ bảo hiểm thất nghiệp này thì nhiều doanh nghiệp thời ñó sẽ bị phá sản vì người lao ñộng khi bị mất việc không có khả năng mua bán và thanh toán nợ như trước, kéo theo tình trạng thất nghiệp rộng lớn hơn trong cả nước Dịch cúm gia cầm và bệnh SARS ở các nước trên thế giới những năm vừa qua là một thí dụ ñiển hình tiếp theo Hậu quả của cơn bão sẽ khủng khiếp hơn nếu người dân thành phố New Orleans, bang Louisiana ở Hoa kỳ không có sự trợ giúp thêm của quỹ bảo hiểm thất nghiệp vì thiên tai này Các hiệp ñịnh thương mại song phương, các liên minh kinh tế, các hiệp ñịnh thương mại tự do… cũng thường gây ra tình trạng thất nghiệp ở nhiều ñịa phương lệ thuộc vào những ngành nghề bị ảnh hưởng, thí dụ dệt may, thủy sản… Sự có mặt của các chương trình hay quỹ bảo hiểm thất nghiệp ñã ñảm bảo cho sự sống còn của lao ñộng cũng như cộng ñồng bị ảnh hưởng Thất nghiệp là một thực tế của nền kinh tế thị trường thường

ñem ñến nhiều hậu quả tiêu cực cho xã hội như gia tăng nghèo ñói và tội phạm, bất ổn

chính trị, các vấn ñề sức khoẻ tâm thần,…Bảo hiểm thất nghiệp vì vậy là một công cụ của xã hội ñể chống trả lại những tiêu cực trên Bảo hiểm thất nghiệp không thể giải quyết hết mọi khó khăn nhưng giúp vào việc ổn ñịnh xã hội và giúp phần vào việc duy trì và phát triển xã hội bền vững

Ngoài các quỹ bảo hiểm thất nghiệp, Chính phủ ở nhiều nước còn ñưa ra các chương trình ứng phó khẩn cấp giúp người lao ñộng khi bị nghỉ việc ñược trợ giúp ngay, tránh tình trạng bị tổn thất kinh tế và tâm lý lâu dài Các chương trình này ngoài việc giúp phối hợp việc trả lương thất nghiệp còn giúp huy ñộng các nguồn tài nguyên trong cộng ñồng khác ñể giúp ñưa người bị thất nghiệp mau trở lại làm việc Các dịch

vụ của chương trình này có thể gồm có: cố vấn tìm việc làm mới, thông tin thị trường, ngành nghề mới, giúp cách ñi phỏng vấn tìm việc làm, tìm nguồn cho vay ngắn hạn, cơ hội tái ñào tạo…Bảo hiểm thất nghiệp là một loại hình phúc lợi tạm thời nên thường chỉ trả một phần lương của người bị thất nghiệp tránh cho họ lạm dụng và sống nhờ vào bảo hiểm này Chính vì thế các chương trình ứng phó khẩn cấp nêu trên rất ñược nhiều quốc gia áp dụng

Bảo hiểm thất nghiệp là một nhu cầu cấp thiết của xã hội cần ñược thể chế hoá

và là ñiều kiện cần ñược ñề ra cho các công ty Nhà nước và tư nhân khi thành lập doanh nghiệp Bảo hiểm thất nghiệp phải là một phần quan trọng trong Luật Lao ñộng hay Luật Doanh nghiệp nhằm giúp cho người thất nghiệp sớm ñược làm việc trở lại, duy trì ñược tâm lý ổn ñịnh và có cảm giác an toàn trong cuộc sống Bảo hiểm thất

Trang 16

nghiệp không những giúp cho người thất nghiệp không trở thành gánh nặng cho gia

ñình và cộng ñồng mà còn giúp bảo vệ ñược cộng ñồng ñịa phương tránh khủng hoảng

thất nghiệp dây chuyền và chậm phát triển do ngân sách bị hao hụt vì thiếu nguồn thu nhập từ thuế và vì phải trả cho những khoản chi phí ngoài dự toán hàng năm

1.1.5 Khái niệm Bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phận của bảo hiểm xã hội nhằm bảo vệ người lao ñộng trong trường hợp bị mất việc làm Ngoài việc chi trả trợ cấp cho người thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp còn có sự gắn kết giữa người thất nghiệp với thị trường lao ñộng như: việc ñào tạo, ñào tạo lại, môi giới việc làm, tư vấn nghề nghiệp, hỗ trợ kinh phí cho người thất nghiệp lập nghiệp…Do ñó, hầu hết các nước ñều hướng tới xây dựng và hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp ñể ñảm bảo cuộc sống cho người thất nghiệp

Ngày nay, bảo hiểm thất nghiệp không chỉ ñược coi là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia mà còn ñược xem xét, ñiều chỉnh trong phạm vi quốc tế (ILO), là một tổ chức Liên chính phủ có vai trò to lớn trong lĩnh vực lao ñộng

và xã hội Thông qua việc tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi rộng, với nguyên tác “lấy số ñông bù số ít”, chia sẻ rủi ro, ILO quy ñịnh trong Công

ước số 102 (năm 1952) về an toàn xã hội, trong ñó bảo hiểm xã hội ñóng vai trò trụ cột

và gồm có các chế ñộ: chăm sóc y tế; trợ cấp ốm ñau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp tai nạn lao ñộng – bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia ñình; trợ cấp thai sản; trợ cấp tàn tật; trợ cấp mất người nuôi dưỡng Công ước 102 cũng khuyến nghị các nước căn cứ vào ñiều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ñể triển khai thực hiện nội dung của chương trình an toàn xã hội

Nhiều nước ñã xếp trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp là một chế ñộ của hệ thống bảo hiểm xã hội Cũng phải thấy rằng cho dù chế ñộ trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp có những

ñặc ñiểm chung của bảo hiểm xã hội nhưng nó cũng có những ñặc ñiểm riêng khác với

các chế ñộ khác trong cùng hệ thống Đó là, chế ñộ trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp gắn liền với vấn ñề việc làm và tạo việc làm, do vậy, về ñối tượng, mục ñích, quỹ, công tác quản lý…ñều có những nét riêng biệt

Như vậy, ta có thể ñịnh nghĩa bảo hiểm thất nghiệp thất nghiệp như sau:

“Bảo hiểm thất nghiệp (một dạng thuộc hệ thống bảo hiểm xã hội) là tổng hợp những quy ñịnh của Nhà nước nhằm ñiều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực lao ñộng, là một biện pháp hỗ trợ người lao ñộng trong nền kinh tế thị trường

về mặt tài chính nhằm ñảm bảo ổn ñịnh cuộc sống thiết yếu cho người lao ñộng trong thời gian mất việc và thông qua các hoạt ñộng ñào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc

Trang 17

làm, sớm ñưa những lao ñộng thất nghiệp tìm ñược một việc làm mới thích hợp và ổn

ñịnh”

1.1.6 Bản chất của bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa Khi trình

ñộ phát triển kinh tế của một quốc gia ñạt ñến một mức ñộ nào ñó thì bảo hiểm thất

nghiệp có ñiều kiện ra ñời và phát triển Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra ñời và phát triển của bảo hiểm thất nghiệp phản ánh sự phát triển của nền kinh tế Một nền kinh tế chậm phát triển, ñời sống nhân dân thấp kém không thể có một hệ thống bảo hiểm thất nghiệp vững mạnh ñược Kinh tế càng phát triển, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp càng ña dạng, các chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp ngày càng mở rộng, các hình thức bảo hiểm thất nghiệp ngày càng phong phú

Thực chất bảo hiểm thất nghiệp là sự tổ chức ñền bù hậu quả của những rủi ro

xã hội Sự ñền bù này ñược thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền

tệ tập trung hình thành do sự ñóng góp của các bên tham gia bảo hiểm thất nghiệp và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ bảo hiểm thất nghiệp Xét trên phạm vi toàn xã hội, bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phận của bảo hiểm xã hội, ñược xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu Xét trong nội tại bảo hiểm xã hội, sự phân phối của bảo hiểm thất nghiệp ñược thực hiện theo chiều ngang Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối của chính bản thân người lao ñộng theo thời gian (nghĩa là

sự phân phối lại thu nhập của quá trình làm việc và quá trình không làm việc)

Qua ñây có thể thấy, bảo hiểm thất nghiệp góp phần thực hiện mục tiêu bảo

ñảm an toàn kinh tế cho người lao ñộng và gia ñình họ Bảo hiểm thất nghiệp là quá

trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước (GDP) ñể thoả mãn nhu cầu an toàn kinh tế của người lao ñộng và an toàn xã hội Bảo hiểm thất nghiệp mang cả bản chất kinh tế và bản chất xã hội Về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập, ñời sống của người lao ñộng và gia ñình họ luôn ñược bảo ñảm trước những bất trắc, rủi ro xã hội Về mặt xã hội, do có sự “san sẻ rủi ro” của bảo hiểm thất nghiệp, người lao ñộng chỉ phải ñóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ bảo hiểm thất nghiệp, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất ñủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra Ở ñây, bảo hiểm thất nghiệp ñã thực hiện nguyên tắc

“lấy của số ñông bù cho số ít”

Tuy nhiên, tính kinh tế và tính xã hội của bảo hiểm thất nghiệp không tách rời

mà ñan xen lẫn nhau Khi nói ñến sự bảo ñảm kinh tế cho người lao ñộng và gia ñình

họ là ñã nói ñến tính xã hội của bảo hiểm thất nghiệp, ngược lại, khi nói tới sự ñóng góp ít nhưng lại ñủ trang trải mọi rủi ro xã hội thì cũng ñã ñề cập ñến tính kinh tế của bảo hiểm thất nghiệp

Trang 18

Dưới góc ñộ kinh tế, bảo hiểm thất nghiệp là sự bảo ñảm thu nhập, bảo ñảm cuộc sống cho người lao ñộng khi họ mất công ăn sở làm Có nghĩa là tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho người lao ñộng khi họ gặp phải các rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm thất nghiệp

Dưới góc ñộ chính trị, bảo hiểm thất nghiệp góp phần liên kết giữa những người lao ñộng xuất phát từ lợi ích chung của họ

Dưới góc ñộ xã hội, bảo hiểm thất nghiệp ñược hiểu như là một chính sách xã hội nhằm ñảm bảo ñời sống cho người lao ñộng khi thu nhập của họ bị giảm sút hay mất ñi Thông qua ñó bảo vệ và phát triển lực lượng lao ñộng xã hội, lực lượng sản

xuất, tăng năng suất lao ñộng, góp phần ổn ñịnh trật tự xã hội

1.1.7 Mối quan hệ giữa bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm xã hội

Quyền ñược bảo hiểm xã hội là một quyền quan trọng của con người Bảo hiểm

xã hội ñược coi là một công cụ quan trọng ñể thực hiện và ñiều chỉnh một vấn ñề xã hội luôn ñược ñặt ra ñối với người lao ñộng nhằm ñáp ứng phần nào nhu cầu chính

ñáng của người lao ñộng, bảo ñảm sự ổn ñịnh và phát triển xã hội

Khi nói về bảo hiểm xã hội, ILO cũng ñưa ra Công ước 102 (năm 1952) nhằm hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội trong ñó có bảo hiểm xã hội, khuyến khích các nước thành viên phải thực hiện một số chế ñộ bảo hiểm nhất ñịnh Tại Điều 2 của Công ước quy ñinh: “ít nhất là 3 phần trong 9 phần của bảo hiểm xã hội, bao gồm ít nhất là một trong các phần: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao

ñộng, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất” Như vậy, trợ cấp bảo hiểm

thất nghiệp là một trong những chế ñộ của bảo hiểm xã hội Với việc ban hành và việc thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp sẽ giúp cho hệ thống bảo hiểm xã hội thêm

ñầy ñủ, toàn diện hơn và quyền lợi của người lao ñộng ñược quan tâm hơn Cũng có

không ít quốc gia thành công với chế ñộ này từ rất sớm Ví dụ như Vương quốc Anh, ngay từ năm 1911 ñã thông qua Đạo luật quốc gia về bảo hiểm thất nghiệp theo loại hình bắt buộc và là quốc gia ñầu tiên thực hiện loại hình này Tiếp ñến là Italia, vào năm 1919, là nước thứ hai thực hiện chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp Sau ñó, trong thập

kỷ 20 có thêm một số nước Châu Âu Sang ñến ñầu năm 30 có them Canada, Hoa Kỳ, Thụy Điển…Có thể nói, ñây là những quốc gia ñầu tiên nhận thức ñúng ñắn về vấn ñề thất nghiệp Họ ñã nhanh chóng nghiên cứu ñể ban hành và thực hiện chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp là một nhánh trong bảo hiểm xã hội

Tuy nhiên, ở một số nước phát triển không coi bảo hiểm thất nghiệp chỉ là một biện pháp giải quyết hậu quả của thất nghiệp một cách thụ ñộng mà coi bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách của thị trường lao ñộng tích cực, không chỉ ñơn thuần việc

Trang 19

chi trả trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp mà còn phải thực hiện các chức năng chủ yếu là thúc ñẩy sự chuyển ñổi cơ cấu ngành nghề, ngăn chặn thất nghiệp, bảo vệ việc làm, nâng cao năng lực nghề nghiệp cho người lao ñộng, tìm việc làm cho người thất nghiệp Các hoạt ñộng này gắn liền với thị trường lao ñộng, với các hoạt ñộng tạo việc làm Do vây, nhiều nước ñã ban hành luật việc làm (hay Luật Bảo hiểm việc làm) thay thế cho luật bảo hiểm thất nghiệp như: Ba Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc…

Cũng như các chế ñộ bảo hiểm xã hội hiện hành, bảo hiểm thất nghiệp mở rộng khả năng khống chế và khắc phục hậu quả ñối với các rủi ro, nó ñảm bảo duy trì mức sống tối thiểu cho người lao ñộng và ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm các bên tham gia quan hệ lao ñộng Tuy thế, bảo hiểm thất nghiệp còn là một chính sách năm trong hệ thống các chính sách kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia Xét về bản chất, cũng như các chế ñộ bảo hiểm xã hội khác, bảo hiểm thất nghiệp cũng bù ñắp những rủi ro cho người lao ñộng trong quan hệ lao ñộng nhưng bảo hiểm thất nghiệp có ñối tượng, mục

ñích, cách thức giải quyết riêng so với bảo hiểm xã hội Những ñiểm khác nhau cơ bản

là:

- Về ñối tượng, bảo hiểm thất nghiệp là những người trong ñộ tuổi lao ñộng, có

sức lao ñộng, bị mất việc làm nhưng luôn sẵn sàng trở lại làm việc Ngược lại, trong bảo hiểm xã hội, ñối tượng ñược hưởng trợ cấp là những người ñang làm việc và cả những người nghỉ hưu…

- Về mục ñích, bảo hiểm thất nghiệp trợ giúp tài chính cho người lao ñộng bị

thất nghiệp ñể họ sớm ổn ñịnh cuộc sống Bên cạnh ñó, mục ñích không kém phần quan trọng là tìm mọi cách ñưa người thất nghiệp trở lại với thị trường lao ñộng Trong khi ñó, bảo hiểm xã hội có mục ñích là nhằm bù ñắp cho người lao ñộng khi gặp phải các trường hợp bị ngừng hoặc bị mất thu nhập

- Về cách giải quyết, bảo hiểm thất nghiệp không chỉ dừng lại ở việc thu và chi

bảo hiểm mà còn gắn liền với thị trường cung cầu trên thị trường lao ñộng, với các dòng di chuyển lao ñộng Bảo hiểm thất nghiệp ñòi hỏi phải vừa nhận ñăng ký thất nghiệp, kiểm tra các ñiều kiện nhận bảo hiểm thất nghiệp của người ñăng ký, vừa phải nắm chắc thông tin về thị trường lao ñộng ñể môi giới, giới thiệu việc làm, ñào tạo và

ñào tạo lại nghề hoặc tổ chức việc làm tạm thời cho người thất nghiệp Bên cạnh ñó

còn thực hiện các chính sách hỗ trợ người thất nghiệp tự hành nghề, hỗ trợ các doanh nghiệp nhận người thất nghiệp vào làm việc Chỉ khi ñã làm ñủ mọi biện pháp mà vẫn không bố trí ñược việc làm cho người lao ñộng thì mới trả trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp Đây là ñiểm khác biệt của hoạt ñộng quản lý bảo hiểm thất nghiệp so với các hoạt ñộng bảo hiểm khác

Trang 20

- Ngồi ra, bảo hiểm thất nghiệp cịn liên quan đến nhiều văn bản pháp luật

khác như: luật lao động, luật doanh nghiệp, luật phá sản, luật việc làm và chống thất nghiệp…khác với bảo hiểm xã hội tuy cùng xuất phát từ lĩnh vực xã hội, nhưng khi thực hiện chủ yếu thuộc lĩnh vực việc làm

Chính vì sự khác nhau này mà hầu hết các nước trên thế giới đã tổ chức bảo hiểm thất nghiệp thành một hệ thống riêng độc lập với hệ thống bảo hiểm xã hội (các nước EU, OECD), chỉ cĩ một số ít các nước thực hiện như một nhánh của bảo hiểm xã hội (Thái Lan, Cơng hịa Liên bang Đức) Một số nước như: Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Italia thì bên cạnh hệ thống bảo hiểm thất nghiệp cịn cĩ hệ thống trợ cấp thất nghiệp Cĩ những nước trợ cấp thất nghiệp do tổ chức người đại diện của người lao động (cơng đồn) thực hiện và cả Nhà nước cũng cĩ trách nhiệm thực hiện Cơng đồn thực hiện việc trợ cấp cho thành viên của mình là những người lao động làm việc trong các doanh nghiệp khơng may bị thất nghiệp, cịn Nhà nước thực hiện với những đối tượng là những người đã hết thời gian hưởng bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa tìm được việc làm và những người chưa đủ điều kiện để hưởng bảo hiểm thất nghiệp

1.2 Những vấn đề chung về thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1.2.1 Tính tất yếu khách quan của thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Trong cơ chế thị trường, sản phẩm hàng hĩa và sự phát triển của doanh nghiệp suy cho cùng là do thị trường quyết định Do vậy, việc tuyển dụng lao động cũng chịu

sự tác động của thị trường, trong đĩ cĩ tổng quan cung và cầu lao động Nếu cung lớn hơn cầu về lao động sẽ dẫn tới thất nghiệp Chính sự mâu thuẫn giữa nhu cầu cĩ việc làm và khả năng giải quyết việc làm là tiềm tàng dẫn đến thất nghiệp, nhất là những nước phát triển tỷ lệ thất nghiệp là biểu hiện rõ nét nhất của sự chênh lệch cung cầu lao động Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, đại bộ phận các quan điểm đều cho rằng: thất nghiệp là hiện tượng tất yếu khách quan, người ta chỉ hạn chế chứ khơng thể loại trừ được nĩ Như vậy, cũng cĩ nghĩa rằng quan hệ cung cầu trong thị trường sức lao động khơng bao giờ cĩ thể cân bằng Và đương nhiên, sự thay đổi của quan hệ cung cầu lao động ảnh hưởng rất lớn đến việc làm của người lao động Tại thời điểm thỏa thuận, nếu cung lao động lớn hơn cầu lao động thì dẫn đến thiếu việc làm và ngược lại nếu cung nhỏ hơn cầu thì việc làm trở nên sẵn cĩ, người lao động cĩ quyền lựa chọn cho mình cĩ một cơng việc thích hợp Mặt khác, ở đây cần lưu ý: tăng nhu cầu về hàng hĩa, sản phẩm của xã hội cũng là yếu tố tăng việc làm Khi nhu cầu

về một loại dịch vụ, hàng hĩa sản phẩm của xã hội đột ngột tăng lên hay giảm đi cũng

là một nhân tố đáng kể tác động đến tăng hay giảm việc làm Tuy việc làm chịu ảnh hưởng rất lớn của quy luật cung cầu nhưng nĩ cũng cĩ tác động ngược lại Nếu cầu lao

Trang 21

ñộng cao thì số người có việc làm sẽ lớn, nếu cầu lao ñộng thấp thì số người ñược làm

việc ít ñi và lúc ñó nhu cầu sử dụng lao ñộng thường chênh lệch theo hướng cung lớn nên cầu nên thất nghiệp xảy ra như một quy luật tất yếu Sự gia tăng về dân số và người lao ñộng cùng với quá trình hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế cũng có những mặt tác ñộng tiêu cực ñến thị trường lao ñộng làm một số bộ phận người lao ñộng bị thất nghiệp

Kinh tế thi trường còn chịu sự chi phối của quy luật cạnh tranh Cạnh tranh là thuộc tính ñồng thời cũng là ñộng lực của thị trường Cạnh tranh trong thị trường trường ñược thực hiện bởi các chủ thể tham gia quan hệ có sự ñộc lập về kinh tế và khác nhau về lợi ích Sự cạnh tranh này trong nhiều trường hợp lệ thuộc vào tương quan cung cầu Chẳng hạn giữa người bán (người lao ñộng), khi cầu lớn hơn cung, họ vẫn cạnh tranh với nhau bởi ai cũng muốn ñược làm trong ñiều kiện tốt hơn, tiền lương cao hơn Còn giữa những người mua (người sử dụng lao ñộng), khi cung lớn hơn cầu,

họ cũng có thể cạnh tranh với nhau ñể có ñược lực lượng lao ñộng rẻ nhất, tốt nhất Do

có quy luật cạnh tranh khắc nghiệt trong nền kinh tế thị trường nên dẫn ñến lao ñộng trong những doanh nghiệp có vốn ít, kinh doanh nhỏ, khó trụ lại trên thương trường và buộc phải ñóng cửa, giải thể hoặc phá sản dẫn ñến nhiều lao ñộng bị thất nghiệp Sự suy thoái của ngành này, sự hưng thịnh của ngành kia cuốn theo sự thay ñổi về cơ cấu lao ñộng, làm cho hiện tượng thất nghiệp phát triển Việc áp dụng kỹ thuật hiện ñại,

ñổi mới công nghệ ñã giúp cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất mà không cần

tuyển dụng thêm công nhân hoặc thậm chí giảm số lượng lao ñộng hiện có mà vẫn duy trì và phát triển sản xuất Do có sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, ñặc biệt là sự tự

ñộng hóa, cơ giới hóa nên quá trình sản xuất diễn ra nhanh chóng, vì vậy trong một

chừng mực nhất ñịnh nào ñó thì máy móc ñã thay thế con người Các nhà sản xuất luôn tìm cách mở rộng kinh doanh, ñưa những dây chuyền tự ñộng hóa vào quá trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm ñể tăng sức cạnh tranh Một cỗ máy, một dây chuyền sản xuất tự ñộng có thể thay thế hàng chục, thậm chí hàng trăm công nhân Số lượng công nhân bị máy móc thay thế lại tiếp tục bổ sung vào ñội quân thất nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, do có cạnh tranh nên các ñơn vị kinh tế luôn phải tính tới việc giảm chi phí sản xuất, trong ñó có giảm chi phí về công nhân, sử dụng ít lao ñộng thì thất nghiệp tất yếu sẽ xảy ra Ngoài ra, do cạnh tranh là thuộc tính của nền kinh tế thị trường nên người lao ñộng dễ bị ñào thải, dễ mất việc, nhất là lao ñộng yếu thế (lao ñộng nữ, lao ñộng tàn tật…) rất khó tìm việc làm và họ sẽ trở thành người thất nghiệp Như ñã trình bày, canh tranh là ñộng lực của thị trường, vì vậy, duy trì cạnh tranh là cần thiết ñể thúc ñẩy và phát triển nền kinh tế Tuy nhiên, trong thực tế, các chủ thể có xu hướng muốn ñộc quyền trên thương trường Chính vì vậy, ñể duy trì và

Trang 22

ñảm bảo sự phát triển lành mạnh của nền kinh tê thị trường Nhà nước cần can thiệp ñưa ra các tiêu chí nhằm duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế Sự can

thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực này thể hiện thông qua các quy ñịnh pháp luật về cạnh tranh và chống ñộc quyền

Hiện tượng nhiều người có sức lao ñộng trong ñộ tuổi lao ñộng muốn tìm việc làm nhưng không tìm ñược, người thất nghiệp xuất hiện một cách ñịnh kỳ sau những khoảng thời gian nhất ñịnh ñược gọi là chu kỳ kinh tế (1) Mỗi chu kỳ kinh tế ñều gồm bốn giai ñoạn: khủng hoảng, tiêu ñiều, phục hồi và hưng thịnh Trong giai ñoạn khủng hoảng và tiêu ñiều thì việc ñầu tư không còn thích hợp nữa, nền kinh tế bị ñình ñốn, trì trệ, sản phẩm làm ra thấp, tiền lương người lao ñộng, lãi suất, lợi nhuận ñều giảm dẫn

ñến sức mua của xã hội cũng giảm Mặt khác, trong giai ñoạn này, thất nghiệp tăng

nhanh, các nhà máy, doanh nghiệp, công ty bị ñóng cửa ngày càng nhiều làm cho tâm

lý xã hội là tiết kiệm hơn bằng cách giảm bớt chi tiêu Do ñó, nhiều doanh nghiệp, ñơn

vị sản xuất kinh doanh phải cạnh tranh nhau, nhiều doanh nghiệp, công ty…làm ăn thua lỗ sẽ bị giải thể, phá sản làm cho người lao ñộng bị ñẩy ra khỏi quan hệ lao ñộng Chu kỳ kinh doanh có thể mở rộng hay thu hẹp do sự ñiều tiết của thị trường Khi sản xuất mở rộng thì thu hút thêm lao ñộng, nhưng khi thu hẹp lại dư thừa lao ñộng Chính

ñiều này có tác ñộng ñến cung và cầu lao ñộng trên thị trường dẫn ñến tình trạng thất

nghiệp Vì thế, tình trạng thất nghiệp thường xảy ra do chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế và khả năng hoạt ñộng, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Sự phát triển của nền kinh tế sẽ dẫn ñến sự chuyển dich cơ cấu kinh tế giữa các vùng, miền; giữa khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, từ ñó cũng gây ra hiện tượng thất nghiệp Đây là ñiều không thể tránh khỏi ñối với sự phát triển kinh tế của các nước ñang phát triển trong ñó có Việt Nam Ngoài ra, khi thay ñổi một thể chế chính trị thường dẫn ñến các chính sách vĩ mô, các giải pháp kinh tế của Nhà nước cũng thay ñổi theo làm cho nhu cầu sử dụng lao ñộng có sự thay ñổi ít nhiều và hiện tượng thất nghiệp xuất hiện

Tính tất yếu khách quan của thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường còn phải

kể ñến là do người lao ñộng không ưa thích công việc ñang làm hoặc ñịa ñiểm làm việc nên họ phải ñi tìm một công việc mới hay ñịa ñiểm làm việc khác; do mâu thuẫn giữa người sử dụng lao ñộng và người lao ñộng về quyền lợi và nghĩa vụ nên dẫn ñến người lao ñộng từ chối làm việc hoặc người sử dụng lao ñộng không chấp nhận người lao ñộng, thất nghiệp tất yếu xảy ra

(1)

Lương Xuân Quỳ (1994), Cơ chế thị trường và vài trò Nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam, NXB

Thống kê, Hà Nội, trang 16

Trang 23

Như vây, trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp xảy ra là tất yếu khách quan

do yếu tố thị trường lao ñộng luôn có xu hướng cung nhiều hơn cầu, do áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, do cạnh tranh…Các nhà nước ñã nhận thức ñược quy luật này và có những biện pháp nhằm hạn chế những tiêu cực của hiện tượng thất nghiệp Trong quá trình quản lý của mình, Nhà nước luôn tăng cường ñiều chỉnh và quản lý vĩ

mô nền kinh tế một cách cương quyết, khôn khéo ñể ñưa mọi hoạt ñộng vào khuôn khổ và tuân theo pháp luật

Ở Việt Nam, khi chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường thì vấn ñề thất

nghiệp cũng ñã và ñang ñược ñặt ra Cùng với thị trường hàng tiêu dùng, thị trường tư liệu sản xuất, thị trường tiền tệ…thị trường sức lao ñộng ở nước ta ñang trong quá trình tìm tòi, hình thành và phát triển Nhà nước ñã tạo ra môi trường pháp lý ñể thị trường sức lao ñộng phát triển thuận lợi Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường mọi hoạt ñộng ñều tuân theo quy luật cung cầu nên vấn ñề lao ñộng không thể nằm ngoài quy luật ñó Ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường ñối với lĩnh vực lao ñộng là rất lớn

Do vậy, việc nhận thức ñúng ñắn mối quan hệ của nền kinh tế thị trường với vấn ñề thất nghiệp ñể từ ñó có những chính sách về nền kinh tế và xã hội ñúng ñắn nhằm hạn chế thất nghiệp, giải quyết thất nghiệp là hết sức cần thiết ở Việt Nam

1.2.2 Khái niệm thất nghiệp

a Khái niêm thất nghiệp của Tổ chức lao ñộng quốc tế (ILO)

Do ảnh hưởng của ý thức hệ và nhận thức xã hội nên vấn ñề thất nghiệp ñược các nhà kinh tế học lý giải rất khác nhau Người ñược coi là nghiên cứu khá thành công về thất nghiệp ñó là nhà kinh tế học Keynes trong “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” Ông ñã nghiên cứu rất sâu về thất nghiệp trên cơ sở phân tích cung cầu về lao ñộng, thị trường và các mối quan hệ kinh tế và xã hội khác Keynes thừa nhận vấn ñề thất nghiệp không phải là hiện tượng ñộc lập của ñời sống kinh tế mà

là kết quả của các quy luật nhất ñịnh trong việc ñạt ñược những cân bằng của hệ thống kinh tế Theo ông, nạn thất nghiệp sẽ tồn tại dưới dạng bắt buộc, là một trạng thái mà

trong ñó “tổng cung về lao ñộng của những người lao ñộng muốn làm việc với tiền

lương danh nghĩa tại một thời ñiểm lớn hơn khối lượng việc làm sẵn có” (1) Theo ông,

thất nghiệp là cung lao ñộng lớn hơn cầu tại một thời ñiểm Quan niệm này ñã lột tả

ñược bản chất của thất nghiệp, tuy nhiên quan ñiểm mà ông ñưa ra còn hạn chế là

không phân biệt ñược người không có việc làm và người mất việc làm Lý thuyết của

(1)

John Maynand Keynes (1994), Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ, NXB Giáo dục,

Hà Nội, Tr.53

Trang 24

Keynes mặc dù còn nhiều phiến diện và hạn chế của lịch sử nhưng những luận ñiểm

mà ông ñưa ra vẫn còn có ý nghĩa cho ñến ngày nay (1)

Khi nền kinh tế thị trường phát triển ở mức cao, các lý thuyết về việc làm và thất nghiệp của Keynes và các nhà kinh tế học trước ñó tỏ ra bất lực trước tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng mà các biện pháp nêu trong lý thuyết của họ không thể khắc phục ñược Nhiều nhà kinh tế học ñã ñưa ra những lý thuyết mới về thất nghiệp, phân tích những nguyên nhân và tác ñộng kinh tế và xã hội ñối với thất nghiệp Lúc

Ông cho rằng: “thất nghiệp là một vấn ñề trung tâm trong các xã hội hiện ñại” Khi mức thất nghiệp cao, tài nguyên bị lãng phí và thu nhập của người dân giảm Trong những thời kỳ như vậy, nền kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng ñến tình cảm và

ñời sống gia ñình của mọi người

Từ ñiển kinh tế học hiện ñại cho rằng thất nghiệp là những người lao ñộng không có việc làm, bao gồm cả những người ñang trong giai ñoạn tìm việc làm mới và

vậy, so với ñịnh nghĩa thất nghiệp của Keynes thì ñịnh nghĩa này cụ thể hơn Theo ñó, thất nghiệp bao gồm ba loại ñối tượng: người lao ñộng không có việc làm, người trong giai ñoạn tìm việc và người không thể tìm ñược việc làm

Công ước số 102 (năm 1952) của Tổ chức lao ñộng quốc tế (ILO) ñịnh nghĩa về thất nghiệp như sau: “thất nghiệp là sự ngừng thu nhập không có khả năng tìm ñược

một việc làm thích hợp trong trường hợp người ñó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc” So với hai ñinh nghĩa nêu trên thì ñịnh nghĩa này không chỉ nêu ra các trường hợp cụ thể của thất nghiệp mà khái quát ở tiêu chí “ngừng thu nhập” của người lao ñộng Định nghĩa này có tính khái quát nhưng khó khăn khi xác ñịnh trong thực tế

Vì vậy, Tại Hội nghị quốc tế lao ñộng lần thứ 13 tại Geneva năm 1983 về thống kê

dân số, hoạt ñộng kinh tế, việc làm, thất nghiệp và thiếu việc làm ñã cụ thể hóa khái niệm thất nghiệp như sau:

Thất nghiệp bao gồm toàn bộ số người ở ñộ tuổi quy ñịnh mà trong suốt thời gian khảo sát không có việc làm, có khả năng làm việc và ñang ñi tìm việc làm Trong

Trang 25

- Có khả năng làm việc nghĩa là hiện tại có khả năng làm bất kỳ một công việc

ñược trả công hoặc công việc tự làm

- Đang ñi tìm việc nghĩa là, trong thời gian khảo sát ñã có những hoạt ñộng tìm kiếm việc làm ñược trả công hoặc công việc tự làm Những hoạt ñộng tìm việc gồm:

ñăng ký tại các cơ quan dịch vụ việc làm, nộp ñơn cho các chủ doanh nghiệp, ñưa tin

lên các phương tiện thông tin ñại chúng, nhờ sự trợ giúp của bạn bè, người thân…

b Khái niềm thất nghiệp ở Việt Nam

Trong khoảng 10 năm trở lại ñây, ở Việt Nam ñã quan tâm nhiều hơn ñến vấn

ñề thất nghiệp, nhất là từ khi tiến hành nghiên cứu xây dựng Bộ luật Lao ñộng Nhiều

ñề tài nghiên cứu khoa học hoặc sách tham khảo ñã bước ñầu tiếp cận ñến vấn ñề này

Theo Nguyễn Lê Minh: “Thất nghiệp là hiện tượng người có sức lao ñộng, có nghề

nghiệp, muốn ñi làm việc, ñã ñăng ký với cơ quan có thẩm quyền nhưng vẫn chưa có việc làm” (1) Khái niệm này tương ñối khái quát, bao hàm các ñối tượng thất nghiệp trong xã hội Tuy nhiên, ñể xác ñịnh ñối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy

ñịnh của pháp luật thì không thể áp dụng ở khái niệm này Ở ñây, người lao ñộng ñã

có việc làm, nếu bị mất việc làm nhưng chưa ñăng ký với cơ quan có thẩm quyền thì không ñược coi là thất nghiệp theo như quan ñiểm trên Bởi lẽ, cơ quan có thẩm quyền

ñể ñăng ký tìm kiếm việc làm ở nước ta mới ñược thành lập thời gian gần ñây, hơn

nữa, người lao ñộng Việt Nam chưa có thói quen ñăng ký tìm việc làm cho cơ quan chuyên trách mà họ tự tìm kiếm là chính

Theo Phạm quý Thọ: “Thất nghiệp là một trạng thái trong ñó người lao ñộng

trong ñộ tuổi lao ñộng, có khả năng và nhu cầu lao ñộng mà không có việc làm Người thất nghiệp là người hiện không có việc làm hoặc ñang tìm việc làm” (2) Định nghĩa

này cũng rất khó phân biệt thất nghiệp và thiếu việc làm

Để có thể ñưa ra một khái niệm chính xác, khoa học về thất nghiệp thì theo tôi

cần phải xuất phát từ khái niệm việc làm Bởi vì, việc làm và thất nghiệp là hai hiện tượng ñối lập nhau Người có việc làm tức là người không thất nghiệp và ngược lại Việc làm là trạng thái trong ñó diễn ra các hoạt ñộng lao ñộng mang lại thu nhập và không bị pháp luật cấm Trong thực tế có hai loại việc làm: một là việc làm thuê hưởng tiền lương hoặc tiền công, hai là việc làm tự thân có thể là cá nhân hoặc gia

ñình, có thể là chủ doanh nghiệp Việc làm có thể phân chia theo thời gian như: việc

làm với thời gian ñầy ñủ, việc làm tạm thời và việc làm cố ñịnh, việc làm thường

Phạm Quý Thọ (2003), Thị trường lao ñộng Việt Nam-Thực trạng và các giải pháp phát triển, NXB

Lao ñộng và Xã hội, Hà Nội, trang 28

Trang 26

xuyên và việc làm thời vụ…Trong Bộ luật Lao ñộng năm 1995 ñã sửa ñổi bổ sung

2002,2006 thì việc làm ñược ñịnh nghĩa như sau: “Mọi hoạt ñộng lao ñộng tạo ra

nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm ñều ñược thừa nhận là việc làm” (Điều 13)

Có thể nói rằng, ñây là quan niệm tương ñối ñầy ñủ và chính xác về việc làm, nó phù hợp với ñiều kiện kinh tế Việt Nam, với quan niệm chung của nhiều nước trên thế giới

Do vậy, khái niệm việc làm chỉ tồn tại và ñúng khi nó bao hàm ñầy ñủ các nội dung sau:

- Việc làm là nhưng hoạt ñộng lao ñộng Các hoạt ñộng lao ñộng này thể hiện

sự tác ñộng của sức lao ñộng vào tư liệu sản xuất ñể tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ Tuy nhiên, hoạt ñộng lao ñộng chỉ là dấu hiệu cơ bản của việc làm mà không thể ñồng nhất việc làm với lao ñộng

- Các hoạt ñộng ñó phải tạo ra thu nhập

- Các hoạt ñộng lao ñộng ñó phải phù hợp với pháp luật

Như vậy, việc làm luôn gắn liền với thu nhập và những hoạt ñộng không bị pháp luật cấm Những hoạt ñộng không mang lại thu nhập thì không ñược coi là việc làm Thất nghiệp là tình trạng mà trong ñó người lao ñộng không có công việc ñược trả công hoặc không có công việc do mình tự thu xếp ñược nhưng vẫn có khả năng lao

ñộng và hiện ñang tìm kiếm việc làm

Từ những phân tích trên, ta có thể ñưa ra khái niệm thất nghiệp như sau: thất nghiệp là hiện tượng xã hội phản ánh tình trạng toàn bộ số người có khả năng lao

ñộng, ở ñộ tuổi do pháp luật quy ñịnh mà không có việc làm hoặc ñang tìm việc mà

không có việc làm hoặc ñang tìm việc mà không có thu nhập nên nhà nước phải có chính sách hỗ trợ

Với cách tiếp cận ñó, theo tôi trong pháp luật bảo hiểm thất nghiệp nên thể hiện quan ñiểm: thất nghiệp là hiện tượng những người lao ñộng bị mất việc làm, có nhu cầu lao ñộng và ñang tích cực tìm việc

1.2.3 Khái niệm người thất nghiệp

a Khái niệm người thất nghiệp ở một số nước trên thế giới

Dưới góc ñộ của thị trường lao ñộng, khái niệm người thất nghiệp ñược ñịnh nghĩa rất khác nhau ở mỗi nước Chẳng hạn:

Trang 27

- Luật Bảo hiểm thất nghiệp ở Cộng hòa Liên bang Đức có nêu: “Người thất nghiệp là người lao ñộng tạm thời không có quan hệ lao ñộng hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn” (Điều 101)(1)

- Luật về việc làm và thất nghiệp của Ban Lan có quy ñịnh: “Người thất nghiệp

là người có khả năng làm việc nhưng bị mất việc làm và không ñi học ở các trường,

ñược cơ quan việc làm ở cấp Huyện ñăng ký vào sổ dành cho người ñang sống trong

vùng và kèm theo các ñiều kiện khác về ñộ tuổi và tình hình tài sản” (Điều 2)(2)

- Ở Pháp người ta quan niệm: người thất nghiệp là người có ñủ ñiều kiện ñể làm việc nhưng không có việc làm và ñang tìm việc Hay ở Nhật Bản người ta lại cho rằng: người thất nghiệp là người hiện ñang có khả năng làm việc nhưng không có việc làm

và ñang tích cực ñi tìm việc làm hoặc ñang chờ kết quả xin việc làm(3)

- Theo Luật Bảo hiểm xã hội ở Thái Lan quy ñịnh: “thất nghiệp là một người

ñược bảo hiểm ngừng việc do sự chấm dứt các quan hệ pháp lý giữa một người sư

- Ở Trung Quốc, người thất nghiệp ñược hiểu là người trong ñộ tuổi lao ñộng,

có sức lao ñộng, mong muốn có việc làm nhưng không có việc bao gồm 2 bộ phận: một là lao ñộng ở ñộ tuổi mới lớn, hai là sau khi ñi làm mất việ phải ñi tìm việc lại Bộ phận thứ hai là ñối tượng của bảo hiểm thất nghiệp(5)

- Văn phòng lao ñộng quốc tế (BIT) cho rằng: người thất nghiệp là người trong

ñộ tuổi lao ñộng, có khả năng lao ñộng nhưng không việc làm Họ có thể là người

chưa có việc làm, hoặc ñã có việc làm nhưng ñã thôi việc và ñang cần tìm việc làm có tiền công” Sau ñó, ñịnh nghĩa này ñược thông qua tại Hội nghị thống kê lao ñộng quốc tế lần thứ 8 năm 1954 tại Geneva và ñược ghi lại trong khuyến nghị về thống kê lao ñộng của ILO năm 1975, trong ñó có chỉ rõ, người thất nghiệp là những người trong ñộ tuổi lao ñộng và thuộc trong những trường hợp sau: 1) Người có việc làm nhưng hợp ñồng lao ñộng ñã hết hạn hoặc tạm thời bị gián ñoạn nên hiện không có việc làm và ñang cần tìm việc làm có trả công 2) Người chưa bao giờ có việc làm hoặc chưa bao giờ có làm công ăn lương (có thể là chủ doanh nghiệp) và ñang cần việc làm 3) Người bị “treo giò” tạm thời hoặc không thời hạn mà không có tiền công

Bộ Lao ñông-Thương binh và Xã hội (1997), Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án mô hình chính sách

ñể thực hiện bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, Hà Nội, trang 23-24

Trang 28

Cũng theo kiến nghị này, không coi là người thất nghiệp những trường hợp sau: 1) Người có dự ñịnh lập doanh nghiệp hoặc khai thác nông nghiệp nhưng chưa tiến hành mà không tìm việc làm có trả công 2) Những lao ñộng gia ñình không có tiền công ñã không làm việc mà không tìm việc làm có trả công

Như vậy, trên thế giới tuy có những quan niệm rộng hẹp khác nhau về người thất nghiệp nhưng ñều tựu chung ở 3 tiêu thức cơ bản sau: 1) Có khả năng lao ñộng 2)

Đang không có việc làm 3) Đang tìm việc làm Ngoài ra, ñể gắn với quản lý lao ñộng

của mỗi quốc gia, thực hiện tốt cơ chế bảo hiểm thất nghiệp và khuyến khích người thất nghiệp tích cực tìm việc, các nước thường nêu ra các ñiều kiện bổ sung như: ñăng

ký tìm việc làm, không có nguồn thu nhập nào khác, giới hạn ñộ tuổi, luôn sẵn sàng ñi tìm việc làm

b Khái niệm người thất nghiệp ở Việt Nam

Ở Việt Nam, ñể kiểm soát tình tạng thất nghiệp, Nhà nước phải nắm ñược số

lượng người thất nghiệp Theo ñiều tra về thực trạng lao ñộng việc làm của Bộ Lao

ñộng Thương binh và Xã hội, người bị coi thất nghiệp là: “Người ñủ 15 tuổi trở lên

trong nhóm dân số hoạt ñộng kinh tế, hiện tại ñang:

- Có hoạt ñộng di tìm việc trong bốn tuân lễ ñã ua, hoặc không ñi tìm việc ở

ñâu,hoặc tìm nhưng chưa có;

- Trong tuần lễ trước ñó (tính từ thời ñiểm ñiều tra) có tổng số giờ làm việc

Ngoài ra, trong cuốn “Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao ñộng ở Việt

Nam” người thất nghiệp ñược ñịnh nghĩa như sau: “Là người trong ñộ tuổi lao ñộng,

có khả năng lao ñộng, trong tuần lễ tham khảo không có việc làm, ñang có nhu cầu tìm việc làm và có ñăng ký tìm việc làm theo quy ñịnh” (2)

Qua các khái niệm trên ta thấy việc nhìn nhận người thất nghiệp chủ yếu theo hai giác ñộ: người nghiên cứu về việc làm nói chung thì tập trung vào yếu tố có khả năng lao ñộng và nhu cầu tìm việc làm, ñăng ký tìm việc Nhà thống kê về dân số, việc làm thì nhấn mạnh về khoảng thời gian thất nghiệp trước lúc ñiều tra Nhìn chung, hai cách tiếp cận này tuy có những ñiểm hác nhau song cùng gặp nhau ở một ñiểm là ñều nhằm vào người không có việc làm hoàn toàn., nhưng tùy theo mục ñích nghiên cứu, quản lý của từng lĩnh vực mà nhấn mạnh ñiểm này hay ñiểm khác Như vậy, những người tròn ñộ tuổi lao ñộng có sức lao ñộng mà không làm việc, không có nhu cầu tìm

(1)

Bộ Lao ñông-Thương binh và Xã hội (2000), Thực trạng lao ñộng-việc làm ở VN, NXB Thống

kê,tr.17

(2)

Bộ Lao ñông-Thương binh và Xã hội (1997), Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án mô hình chi hs sách

ñể thực hiện bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, Hà Nội, trang 60

Trang 29

việc làm, những người làm việc ít giờ theo quy ñịnh, nhưng không có nhu cầu làm nhiều hơn ñều không ñược coi là người thất nghiệp

Từ sự phân tích trên, dưới góc ñộ pháp lý ta nhận thấy rằng: người thất nghiệp

là người trong ñộ tuổi lao ñộng, có khả năng lao ñộng, hiện ñang không có việc làm và

ñang ñi tìm việc làm Tuy nhiên, do ñiều kiện kinh tế xã hội và bảo hiểm thất nghiệp là

một vấn ñề mới ở Việt Nam nên trong luật Bảo hiểm xã hội (2006) ñã ñưa ra khái niệm người thất nghiệp như sau: “Là người ñang ñóng bảo hiểm thất nghiệp mà mất việc làm hoặc chấm dứt hợp ñộng lao ñộng, hợp ñồng làm việc nhưng chưa tìm ñược việc làm” (Khoản 4, Điều 3) Từ quy ñịnh này cho thấy, người thất nghiệp và người hưởng bảo hiểm thất nghiệp là pháp nhân

Ngoài ra cũng cần phân biệt giữa người không làm việc với người thất nghiệp

Về vấn ñề này, tôi tán thành với ý kiến của Đỗ Năng Khánh(1): khái niệm “người không làm việc” rộng hơn khái niệm “người thất nghiệp” Trong số người không làm việc có số người có thể bao gồm cả người thất nghiệp Người không làm việc bao gồm

cả những người có khả năng lao ñộng, trong ñộ tuổi lao ñộng nhưng không có nhu cầu tìm việc làm

Như ñã trình bày, khái niệm : “người thất nghiệp” và “thất nghiệp” không hoàn toàn giống nhau mặc dù chúng có cùng cơ sở và một số ñiểm chung như: ñều chỉ ra tình trạng không có việc làm, trong khi người lao ñộng có khả năng lao ñộng, không

có thu nhập và ñang tìm kiếm việc làm…Tuy nhiên, hai khái niệm này khác nhau về bản chất: Khái niệm “thất nghiệp” dùng ñể chỉ một hiện tượng xã hội mà ở ñó một số lượng lao ñộng bị dư thừa mặc dù có khả năng lao ñộng và ñang tìm kiếm việc làm; còn khái niệm “người thất nghiệp’ ñể chỉ ra một cá nhân ñơn lẻ không có việc làm,

trên cơ sở ñó Nhà nước có những hỗ trợ cần thiết ñể họ tồn tại và tìm kiếm việc làm

1.2.4 Phân loại thất nghiệp

Thất nghiệp là một hiện tượng xã hội phức tạp nên tìm hiểu bản chất của nó luôn ñược các nhà kinh tế, các nhà luật học quan tâm Một trong những hướng nghiên cứu ñể tiếp cận bản chất của hiện tượng thất nghiệp là tìm cách phâm loại chúng Việc phân loại này không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn giúp cho các nhà hoạch

ñịnh chính sách lao ñộng, thất nghiệp, hỗ trợ thất nghiệp ñưa ra những quyết ñịnh ñúng, phù hợp với thực tế khách quan Tuy nhiên, việc phân loại thất nghiệp là công

việc khó mà cho ñến nay còn nhiều ý kiến chưa thống nhất nhau

trường ở Việt Nam, Hà Nội, trang 29

Trang 30

Không phải ở tất cả các quốc gia, thất nghiệp ñều xuất hiện với dạng thống nhất

và ngươc lại thất nghiệp ñược thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Vì vậy, tiến hành phân loại chúng là một việc hết sức cần thiết, vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn Hơn nữa, qua việc phân loại, chúng ta sẽ hiểu thêm bản chất của vấn ñề,

từ ñó có những quy ñịnh thích hợp

Thất nghiệp ñược phân loại dựa trên những tiêu chí khác nhau, ở mỗi tiêu chí

ñưa lại cho chúng ta những nhận thức ở những khía cạnh khác nhau của thất nghiệp

Tiêu chí thứ nhất, căn cứ vào ý chí của người lao ñộng thì thất nghiệp ñược chia ra làm hai loại:

Thất nghiệp tự nguyện là loại thất nghiệp tạm thời do người lao ñộng chỉ ñi làm việc với mức lương cao hay nói cách khác, những người thất nghiệp tự nguyện là những người không chấp nhận với mức lương hiện hành trên thị trường nên không ñi làm và trở nên thất nghiệp

Thất nghiệp không tự nguyện là những người mong muốn làm việc với mức lương hiện hành vào thời ñiểm ñó nhưng vẫn không tìm ñược việc làm

Phân loại thất nghiệp dựa trên căn cứ ý chí của người lao ñộng giúp chúng ta phân ñịnh một cách rạch ròi các ñối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp, từ ñó bảo ñảm cho quá trình giải quyết việc làm, quản lý và chi trả trợ cấp cho ñối tượng này một cách chính xác, ñáp ứng ñược nhu cầu của người lao ñộng

Tiêu chí thứ hai, căn cứ vào thời gian thất nghiệp, người ta chia thất nghiệp ra làm ba loại:

Thất nghiệp tạm thời là loại thất nghiệp trong một khoảng thời gian nhất ñịnh,

do thay ñổi về nghề nghiệp, nơi làm việc, nơi ở…hoặc trong thời gian mới tốt nghiệp

ra trường chưa xin ñược việc làm Thất nghiệp tạm thời xảy ra ngay cả khi nền kinh tế

ñó ñang hoạt ñộng hiệu quả Phần lớn những người thất nghiệp thất nghiệp tạm thời là

người thất nghiệp tự nguyện

Thất nghiệp tiềm tàng là tình trạng người lao ñộng ở nông thôn không có việc làm trong một thời gian vì không ñúng mùa nông nghiệp Loại thất nghiệp tiềm tàng này ñang ngày càng phát triển ở các nước ñang phát triển, trong ñó có Việt Nam

Thất nghiệp dai dẳng là tình trạng thất nghiệp thường xuyên ñối với những người lao ñộng có khả năng lao ñộng nhưng do bị tàn tật, bị mắc các bệnh xã hội, những ngươi mãn hạn tù về khó tìm ñược việc làm

Phân loại dựa vào thời gian thất nghiệp tạo ñiều kiện ñể nhà nước xây dựng

ñược kế hoạch sắp xếp, bố trí thêm công việc cho người lao ñộng dần dần ñảm bảo hạn

Trang 31

chế quỹ thời gian trống của họ Đây là một việc hết sức cần thiết, vì có như vậy, chúng

ta mới tránh ñược những tiêu cực trong xã hội do thất nghiệp là nguyên nhân chính gây ra

Tiêu chí thứ ba, căn cứ vào nguyên nhân thất nghiệp thì có hai loại:

Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi có sự mất cân ñối giữa cung và cầu lao ñộng ở một số ngành hay một số vùng kinh tế

Thất nghiệp chu kỳ xảy ra khi tổng mức cầu về lao ñộng của toàn bộ nền kinh

tế quốc dân thấp hơn mức cung về lao ñộng tương ứng với từng thời kỳ suy thoái của nền kinh tế

Với phân loại này, Nhà nước có thể ñưa ra những chính sách ưu tiên, ưu ñãi với một số loại ngành nghề ñang cần thu hút lao ñộng, hoặc nâng cao một số yêu cầu ñối với người lao ñộng làm việc trong một số ngành nghề ñã quá dư thừa về nhân công, từ

ñó lấy lại thế cân bằng giữa các ngành nghề và tránh sự suy thoái của nền kinh tế Nếu

Nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ này thì thất nghiệp chu kỳ và thất nghiệp cơ cấu sẽ

ñược hạn chế một bước

Ở Việt Nam hiện nay, trong bối cảnh thị trường sức lao ñộng ngày càng ñang

trong quá trình hình thành và phát triển, ngoài những loại thất nghiệp theo tiêu chí trên thì thất nghiệp còn có những hình thức biểu hiện khác mang tính ñặc thù ñó là: 1) Thất nghiệp hữu hình tích cực là những người thất nghiệp tích cực tìm việc làm Tỷ lệ thất nghiệp phụ thuộc vào nhiều thời ñiểm ñiều tra Chẳng hạn, ñiều tra các trường day nghề, cao ñẳng, ñại học…khi ñang duy trì khóa học, tỷ lệ thất nghiệp hữu hình có thể

ít những sau khi kết thúc khóa học khoảng vài tháng thì tỷ lệ này có thể tăng mạnh 2)Thất nghiệp hữu hình thụ ñộng là những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm việc mặc dù họ có khả năng lao ñộng Họ không tích cực làm việc bởi họ nghĩ rằng không thể có việc làm hoặc có việc nhưng họ sẽ không ñáp ứng ñược về trinh ñộ tay nghề, nghiệp vụ Đối tượng này thường tập trung vào những người có học vấn thấp

và ñặc biệt là nhóm người “yếu thế” trong xã hội 3) Thất nghiệp trá hình là hiện tượng người lao ñộng ñược sử dụng dưới mức khả năng mà người ñó vẫn sẵn sàng làm việc Loại thất nghiệp này rất khó thống kê, có thể bao gồm toàn phần hoặc từng phần 4) Thất nghiệp toàn phần là trường hợp người lao ñộng hoàn toàn không có việc làm và

họ vẫn có nhu cầu làm thêm 5) Thất nghiệp từng phần là hiện tượng người lao ñộng vẫn có việc làm nhưng khối lượng công việc ít hay thời gian lao ñộng thực tế trong ngày thấp và họ vẫn có nhu cầu làm thêm 6) Thất nghiệp thời vụ là loại hình thất nghiệp xuất hiện ñịnh kỳ trong một khoảng thời gian nhất ñịnh do tính mùa vụ của quá trình sản xuất, kinh doanh gây ra

Trang 32

Với các hình thức biểu hiện trên, cho thấy thất nghiệp ñang hiện hữu trong nền kinh tế ở nước ta Mỗi loại thất nghiệp có những tác ñộng khác nhau ñến nền kinh tế Chính vì thế, nhà nước cần phải kiểm soạt thất nghiệp ở tỷ lệ cho phép Để giảm bớt tỷ

lệ thất nghiệp và hạn chế hậu quả của nó, ngoài những biện pháp hiện hành, nhà nước nên sớm ban hành chế ñộ hõ trợ người lao ñộng khi họ bị mất việc làm thông qua trợ

cấp bảo hiểm thất nghiệp

1.2.5 Ảnh hưởng của thất nghiệp ñến nền kinh tế - xã hội

Kinh tế thị trường tất yếu nảy sinh ra thất nghiệp Đó là một vấn ñề nóng bỏng

ñược các quốc gia trên thế giới quan tâm Nó ảnh hưởng rất lớn ñến sự phát triển và ổn ñịnh kinh tế, chính trị, xã hội của từng nước

a Ảnh hưởng của thất nghiệp về mặt kinh tế

Đối với cá nhân người lao ñộng, thất nghiệp ñã làm mất nguồn thu nhập chủ

yếu, thậm chí duy nhất của người lao ñộng (tiền lương, tiền công) cũng có nghĩa là cắt

ñứt phương tiện sống của người lao ñộng và gia ñình họ, ñẩy những người này vào

cảnh túng quẫn không có khả năng thanh toán cho các chi phí thường ngày Do thất nghiệp ma có khi người lao ñộng trở thành vô gia cư Họ phải vật lộn với cuộc sống ñể duy trì sự tồn tại của mình và gia ñình

Đối với quốc gia, thất nghiệp là sự lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong

những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị ñình ñốn, chậm phát triển Hậu quả kinh tế của thất nghiệp ñối với mỗi quốc gia còn phụ thuộc vào chi phí liên quan ñến thất nghiệp của quốc gia ñó Những chi phí này bao gồm từ ngân sách nhà nước, từ các quỹ của doanh nghiệp cũng như của xã hội chi cho bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp mất việc làm, chi phí cho ñào tạo, ñào tạo lại…

Xem xét các khaoản chi cho thất nghiệp của tổ chức hợp tác và phát triển kinh

tế (OECD) như Bỉ, Pháp, Phần Lan, Đức, Hy Lạp, Ý, Ban Lan… bao gồm tiền bảo hiểm và trợ cấp thất nghiệp cùng những chương trình thị trường lao ñộng tích cực cho thấy ñó là những khoản chi rất lớn, chẳng hạn: ở Thụy Điển chi trung bình cho một người thất nghiệp một năm là 35.570 USD, Đan Mạch: 26.693 USD, Đức: 23.063 USD, Pháp: 12.153 USD, Thụy Sỹ: 18.371 USD, Phần Lan: 10.884 USD, Áo, Bỉ, Hà Lan và Na Uy từ 8.500 ñến 9.500 USD (số liệu năm 1993) Ở các nước này ngân sách dành cho chương trình thị trường lao ñộng thường từ 2% - 6% GDP(1) Chi phí liên quan ñến thất nghiệp dẫn ñến việc giảm sút ngân sách quốc gia Người thất nghiệp không có thu nhập, không ñóng thuế, chỉ ñóng ít hoặc không ñóng vào quỹ bảo hiểm

(1)

Nhuyễn Bá Ngọc (1999), Hậu quả kinh tế xã hội của thất nghiệp, NXB Lao ñộng và Xã hội, trang 38

Trang 33

xã hội Chi phí của chính phủ cho tình trạng thất nghiệp lớn sẽ dẫn ñến hậu quả là gia tăng thâm hụt ngân sách

b Ảnh hưởng của thất nghiệp về mặt xã hội

Tăng nhanh số lượng người thất nghiệp trở thành một rong những vấn ñề nhức nhối nhất của xã hội Thất nghiệp không chỉ ñồng nghĩa với tình trạng vật chất ngày càng xấu ñi mà còn kèm theo những hậu quả tâm lý xã hội mà người thất nghiệp cũng như xã hội phải gánh chịu Những kết quả ñiều tra xã hội học và nghiên cứu kinh nghiệm chỉ ra rằng:

- Điều khó khăn nhất mà người thất nghiệp là gặp phải sự chấn thương tinh thần hơn là mất (hoàn toàn theo phần lớn) thu nhập của mình Người thất nghiệp sống với tâm trạng nặng nề như “bị tách ra khỏi ñời sống xã hội”, bị coi như “người ăn bám”,

họ luôn luôn có mặc cảm, tự ti với ñồng nghiệp ñang ñi làm và với cả gia ñình, do ñó

dễ bị kích ñộng và rơi vào những hành vi thiếu tự chủ(1)

Điều này cho thấy, người mất việc làm sẽ trải qua giai ñoạn diễn biến tâm lý

nhất ñịnh Giai ñoạn ñàu là sự lạc quan và tin tưởng tìm ñược chỗ làm mới, giai ñoạn này thường ngắn Giai ñoạn tiếp theo là thời kỳ bi quan và mất dần hy vọng Thời gian thất nghiệp kéo dài dẫn ñến vô vọng và buông xuôi số phận, người thất nghiệp mặc cảm với chính mình, suy giảm tinh thần và khả năng tự tìm việc làm, phôi phai dần những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ñã có Mất việc làm sẽ dẫn ñến không thể thõa mãn những nhu cầu cơ bản như: nhu cầu hoạt ñộng trong một tổ chức, tiếp xúc với môi trường ngoài gia ñình, có cơ hội so sánh ñánh giá với những thành viên khác của tổ chức…Ngoài ra, phải kẻ ñến những vấn ñề xã hội cơ bản ñi kèm với thất nghiệp

là suy sụp thể lực và tinh thần, mâu thuẫn gia ñình tăng, số người tự tử gia tăng cùng với việc gia tăng tệ nạn xã hội Thất nghiệp tạo ra các ñiều kiện ñể phát triển các loại tội phạm khác nhau: trộm cướp, hãm hiếp, giết người…và các tệ nạn xã hội khác làm băng hoại giá trị ñạo ñức của gia ñình, của dân tộc Các ñiều tra xã hội và tội phạm ở hầu hết các nước ñều xác nhận ñối với thanh niên rất dễ xảy ra tình trạng “Tam giác

ñen” (thất nghiệp – nghiện hút – tội phạm) Để thoát khỏi tình trạng này là rất khó

khăn Đối với quố gia, khi có nhiều các nhân thất nghiệp thì toàn xã hội sẽ bị ảnh hưởng rất lớn, xã hội sẽ phải ñối ñầu với nhiều tệ nạn hơn Tác ñộng của thất nghiệp

ñối với xã hội thật sự ñáng lo ngại, nó ảnh hưởng lâu dai ñến ñời sống mỗi cá nhân và

cộng ñồng dec dẫn ñến xáo ñộng xã hội và biến ñộng về chính trị

c Ảnh hưởng của thất nghiệp ñến hệ thống chính trị quốc gia

(1)

Viện thông tin khoa học xã hội (1999), Thị trường lao ñộng trong kinh tế thị trường, Thông tin khoa

học xã hội- Chuyên ñề, Hà Nội, trang 22

Trang 34

Thất nghiệp vốn là vấn ñề hết nhạy cảm với chính trị Người dân có cuộc sống

ấm no thì tình hình chính trị xa hội sẽ ổn ñịnh và ngược lại Dưới góc ñộ chính trị, thất

nghiệp cũng là một trong những nguyên nhân dẫn ñến sự bất ổn của hệ thống chính trị mỗi nước Nếu thất nghiệp gia tăng, kéo dài còn làm cho tình hình chính trị, xã hội mất

ổn ñịnh, hiện tượng bãi công, biểu tình có thể xảy ra Người lao ñộng giảm niềm tin

vào chế ñộ và khả năng lãnh ñạo của nhà cầm quyền

Do thất nghiệp có ảnh hưởng sâu rộng ñến nhiều lĩnh vực nên hiện nay chính phủ các nước ñều coi thất nghiệp là mối quan tâm hàng ñầu và thực hiện nhiều biện pháp ñể giải quyết tình trạng này, trong ñó có việc nghiên cứu, quy ñịnh chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp

1.3 Tham khảo chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ

1.3.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ

Bảo hiểm thất nghiệp ñược tổ chức như một hệ thống liên bang - bang ñể cung cấp hỗ trợ cơ bản cho người lao ñộng bị mất việc làm Đây là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc mà ñáp ứng ñủ yêu cầu theo Luật của bang, thường lấy tiền từ khoản nộp thuế của các chủ doanh nghiệp thuộc hệ thống chính quyền liên bang - bang

Đối tượng ñược nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc không

do lỗi của cá nhân họ Họ vẫn ñang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp Những người này sẽ

ñược hỗ trợ một khoản tiền theo tỉ lệ nhất ñịnh so với khoản thu nhập cũ nhận trong

những thời kì cụ thể

1.3.2 Các loại hình bảo hiểm thất nghiệp tại Mỹ

chương trình hỗ trợ tài chính của Liên bang ñối với hầu hết người lao ñộng bị thất nghiệp ñáp ứng yêu cầu của luật của Liên bang và bang, không tính những người bị

ñuổi việc do lỗi cá nhân

Compensation for Federal Employees): là chương trình hỗ trợ cho những nhân viên của bang bị mất việc có ñủ ñiều kiện do chính quyền từng bang quản lý

Compensation for Ex-Servicemembers): là chương trình hỗ trợ dành cho các cựu quân nhân ñủ ñiều kiện và cả những cựu nhân viên của Ban NOAA (the National Oceanographic and Atmospheric Administration) và Tổ chức USPHS (U.S Public Health Service)

Trang 35

• Khoản lợi ích mở rộng (Extended Benefits): là chương trình của chính quyền bang/liên bang dành cho các khu vực có tỉ lệ thất nghiệp cao

• Hỗ trợ thất nghiệp do thiên tai (Disaster Unemployment Assistance): là chương trình ñặc biệt dành cho những người lao ñộng bị mất việc làm hoặc ñột ngột phải ngừng công việc do hậu quả của thiên tai

• Phụ cấp ảnh hưởng thương mại (Trade Readjustment Allowances): là khoản phụ cấp thu nhập dành cho những người lao ñộng ñã hết hưởng bồi thường thất nghiệp

và công việc của họ bị ảnh hưởng bởi hoạt ñộng nhập khẩu

trình tự nguyện ñặc biệt của nhà nước ở một số vùng dành cho những người lao ñộng

tự tổ chức hoạt ñộng kinh doanh

Ở Mỹ, bảo hiểm thất nghiệp ngoài tên gọi là Unemployment Insuarance còn có

tên gọi khác nữa là Unemployment Compensation Vì thế lúc làm tiểu luận nhóm cứ nhầm lẫn lung tung giữa bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp Nên phải có một phần phân biệt riêng

Bảo hiểm thất nghiệp tại Mỹ có mục ñích chính là hỗ trợ cho những người lao

ñộng ñang trong tình trạng bị thất nghiệp tạm thời hoặc trong thời kì khủng hoảng kinh

tế Do vậy nếu người lao ñộng bị thất nghiệp trong thời gian dài hoặc ñã nhận bảo hiểm thất nghiệp quá thời gian quy ñịnh mà vẫn chưa tìm ñược công việc làm mới thì

họ sẽ bị cắt chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp và nếu gặp khó khăn về tài chính, người thất nghiệp lúc này có quyền xin hưởng trợ cấp thất nghiệp

Ngoài ra, trong trường hợp trợ cấp thất nghiệp, các ñối tượng hưởng trợ cấp phải trải qua kiểm tra thu nhập và tài sản Họ phải chứng minh ñược bản thân ñang trong hoàn cảnh khó khăn, không thể tự nuôi bản thân bằng bất kỳ nguồn thu nhập nào ngoài tiền trợ cấp thất nghiệp Điều này không có trong bảo hiểm thất nghiệp

Các khoản tiền mà người lao ñộng nhận ñược từ bảo hiểm thất nghiệp hay trợ cấp thất nghiệp cũng khác nhau tùy quy ñịnh của mỗi bang hoặc của nhà nước

Một ñiểm khác biệt nữa là bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp ñược tài trợ từ các nguồn khác nhau Bảo hiểm thất nghiệp thường ñược lấy từ khoản nộp thuế của các chủ doanh nghiệp, ở một số bang còn lấy từ ñóng góp của người lao ñộng và nếu quỹ này gặp tình trạng thâm hụt sẽ ñược nhà nước cho vay có lãi suất Trong khi

ñó, trợ cấp thất nghiệp là một dạng phúc lợi xã hội, do chính quyền bang và liên bang

tài trợ

1.3.3 Lịch sử hình thành bảo hiểm thất nghiệp tại Mỹ

Chương trình bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ ñã ñược thực hiện từ hơn 70 năm nay Năm 1932, Wisconsin là tiểu bang ñầu tiên tại Mỹ ñã thông qua chương trình bảo

Trang 36

hiểm thất nghiệp liên bang để đối phĩ với cuộc Đại suy thối khi mà cĩ đến 25% người lao động bị mất việc làm

Sau đĩ, vào ngày 14 tháng 8 năm 1935, Tổng thống Franklin D Roosevelt đã kí thơng qua một dự luật An sinh xã hội ghi rõ các điều khoản về bảo hiểm thất nghiệp Bản dự luật này là một sự chuẩn bị quan trọng cho việc thành lập hệ thống bảo hiểm thất nghiệp tại Mỹ

Trong vịng 2 năm, các bang ở Mỹ đã tiến hành thơng qua luật bảo hiểm thất nghiệp và tất cả các tiểu bang đều thực hiện chương trình này với sự tài trợ là các khoản thuế thất nghiệp của liên bang và bang Tuy vậy, bảo hiểm thất nghiệp chỉ được các cơng đồn và các doanh nghiệp chấp nhận một cách tự nguyện nên khi đĩ chỉ cĩ khoảng 235 nghìn người lao động nhận được khoản bảo hiểm này khi bị mất việc

Trong thập kỉ 70, Quốc hội Mỹ đã thơng qua một số qui định mới về an sinh xã hội và xem đĩ như là một phần trong chương trình “Đại Xã hội” (Great Society) Với những qui định mới này, đã cĩ ngày càng nhiều người lao động được nhận tiền và khoảng thời gian họ được nhận số tiền ấy cũng dần tăng lên Lúc này, đã cĩ hơn 10 triệu người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Vào những năm 80, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, nhiều qui

định về bảo hiểm thất nghiệp đã thay đổi và khoản lợi ích cho người lao động cũng đã

bị cắt giảm Đến thập kỉ 90, dưới thời Tổng thống Clinton, đã cĩ thêm nhiều thay đổi mới nhằm thu hẹp trách nhiệm của chính phủ và làm tăng trách nhiệm đĩng gĩp của các cá nhân Bằng cách giảm khoản lợi ích cũng như rút ngắn thời gian được hưởng tiền hỗ trợ, người thất nghiệp sẽ cĩ động lực để nhanh chĩng tìm việc làm mới

1.3.4 Luật điều chỉnh

Như đã nĩi ở trên, nguồn luật chính điều chỉnh bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ là

Đạo luật An sinh Xã hội ra đời năm 1935 Đạo luật này gồm cĩ 11 điều khoản, trong

đĩ điều khoản III và IX điều chỉnh các vấn đề liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp Cụ

thể như sau:

Điều khoản IX quy định nững nội dung cơ bản mà luật về bảo hiểm thất nghiệp

mỗi bang cần cĩ để được Hội đồng An sinh Xã hội (thành lập trên cơ sở đạo luật này) thơng qua Chẳng hạn như các nội dung về việc điều khoản chống phân biệt đối xử về giới tính hay tơn giáo giữa những người được nhận bảo hiểm thất nghiệp là các điều khoản bắt buộc trong luật bảo hiểm thất nghiệp mỗi bang

Điều khoản III quy định những nội dung bắt buộc cần cĩ trong luật mỗi bang để được nhận chi phí quản lý hành chính hệ thống bảo hiểm thất nghiệp từ ngân quỹ Liên

bang Bởi vì theo quy định của luật pháp Mỹ, chi phí quản lý hành chính trong các quỹ bảo hiểm thất nghiệp của mỗi bang khơng được lấy từ tiền thuế của doanh nghiệp hay người lao động

Trang 37

Theo Đạo luật An sinh Xã hội 1935, nếu một bang có thể tự soạn thảo luật của riêng bang mình và ñược Hội ñồng An sinh Xã hội thông qua thì doanh nghiệp của bang ñó, thay vì phải trả toàn bộ tiền thuế cho Quỹ thất nghiệp của Liên bang, sẽ chỉ phải trả 10% cho Liên bang 90% còn lại sẽ ñược ñóng vào quỹ của chính bang ñó ñể giải quyết vấn ñề thất nghiệp tại ñịa phương Chính vì thế mà cho ñến năm 1937, mỗi bang ở Mỹ ñều có luật riêng về bảo hiểm thất nghiệp

Luật Liên bang Mỹ chỉ bao gồm những ñiều khoản mang tính ñịnh hướng chương trình bảo hiểm thất nghiệp còn việc thực hiện chi tiết là do luật mỗi bang quy

ñịnh Chẳng hạn như mỗi bang có quyền quyết ñịnh những ñiều kiện cụ thể mà người

lao ñộng cần ñáp ứng ñể có thể nhận ñược bảo hiểm thất nghiệp cũng như số tiền và thời gian người lao ñộng ñược hưởng Luật bang còn quyết ñịnh tỷ lệ thuế mà doanh nghiệp phải trả vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với thu nhập của họ, cũng như có quyền thay ñổi những ñiều khoản này khi cần thiết Chính vì vậy ñiều kiện ñể

ñược hưởng bảo hiểm thất nghiệp, số tiền và thời gian hưởng bảo hiểm cũng như tỷ lệ

thuế doanh nghiệp phải trả là khác nhau tại các bang của Mỹ

Để tạo nên một cơ chế hoạt ñộng thống nhất trong việc quản lý bảo hiểm thất

nghiệp giữa chính quyền Liên bang và từng bang cũng như cụ thể hóa những ñiều khoản ñã ñược nêu ra trong Đạo luật An sinh Xã hội 1935, Luật thuế thất nghiệp Liên bang (FUTA) ñã ñược ra ñời năm 1939 với những mức thuế cơ sở áp dụng cho từng

ñối tượng doanh nghiệp có những mức thu nhập khác nhau trên toàn nước Mỹ

Riêng ñối với lao ñộng trong ngành ñường sắt bị mất việc thì sẽ nhận bảo hiểm thất nghiệp theo những quy ñịnh cụ thể trong Luật bảo hiểm thất nghiệp ñường sắt ra

Trang 38

Tóm lại, từ nhưng phân tích trên ta thấyở chương1 những ảnh hưởng rất lớn của thất nghiệp trong nền kinh tế và qua ñó, ta thấy ñược sự cần thiết phải có bảo hiểm thất nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế cua mỗi quốc gia Chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp ra ñời sẽ ñáp ứng nhu cầu tất yếu của xã hội, ñồng thời xác lập sự cần thiết, chín muồi của việc triển khai chế ñộ bảo hiểm xã hội ở nước ta Trong ñiều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, việc chuyển ñổi các thành phần kinh tế, việc sáp nhập, giải thể các loại hình doanh nghiệp dẫn ñến người lao ñộng rơi vào tình trạng thất nghiệp, ñời sống khó khăn và khi ñó người lao ñộng bị thất nghiệp, bị mất việc làm sẽ là nguyên nhân dẫn ñến nhiều hậu quả tiêu cực cho xã hội như: gia tăng nghèo

ñói và tội phạm, bất ổn chính trị Bên cạnh ñó, người lao ñộng không còn khả năng ñể

mua bán, hàng loạt các dịch vụ cũng không có khách hang, chính quyền ñịa phương mất ñi nguồn thuế thu nhập cá nhân và thuế doanh nghiệp Do vậy, chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp cũng có ý nghĩa là tạo thêm công cụ ñảm bảo xã hội, nhằm bù ñắp những rủi ro do mất việc làm của người lao ñộng trong nền kinh tế thị trường Đồng thời, chế

ñộ bảo hiểm thất nghiệp là một loại hình phúc lợi tạm thời giúp cho họ ổn ñịnh cuộc

sống trong thời gian tìm việc khác hoặc cơ hội ñược ñào tạo ngành nghề

Trong thời gian tới với sự triển khai của các ngành chức năng, chế ñộ chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp sẽ ñi vào cuộc sống Những người lao ñộng có tham gia chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp không may bị mất việc làm sẽ ñược nhận trợ cấp thất nghiệp,

ñược ñào tạo nghề ñể sớm có việc làm trở lại, gia ñình ñược giảm gánh nặng về chi

phí kinh tế, duy trì ñược tâm lý ổn ñịnh và cảm giác an toàn trong cuộc sống, góp phần cho cộng ñồng tránh khủng hoảng thất nghiệp dây chuyền và ñảm bảo phát triển kinh tể bền vững

Trang 39

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách an sinh xã hội có vai trò quan trọng trong hệ thống luật bảo hiểm xã hội nhằm ñảm bảo thu nhập cho người lao ñộng trong tình trạng thất nghiệp không tự nguyện Từ góc ñộ kinh tế vĩ mô, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp là một loại hình tự ñộng ổn ñịnh, hỗ trợ tiêu dùng trong tình trạng kinh tế suy thoái Các chế ñộ bảo hiểm thất nghiệp do ñó góp phần duy trì sức tiêu dùng ở cả góc ñộ cá thể và kinh tế vĩ mô, thúc ñẩy tìm việc làm hiệu quả, tạo ñiều kiện kết nối tốt hơn giữa cung và cầu trong thị trường lao ñộng

Thông qua việc chuyển rủi ro xã hội từ từng cá nhân sang cho cộng ñồng gánh vác, bảo hiểm thất nghiệp ñóng vai trò quan trong nâng cao phúc lợi cho cộng ñồng một cách tổng thể Chính sách về bảo hiểm thất nghiệp ñược thực hiện thể hiện sự quan tâm, cố gắng lớn của Đảng, Nhà nước ta về công tác an sinh xã hội, ñời sống và việc làm của người lao ñộng; song trong bối cảnh của khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, nền kinh tế của nước ta cũng bị tác ñộng không nhỏ; nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã tình hình sản xuất, ñời sống, việc làm của người lao ñộng cũng

ñang gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy, khi ban hành những chế ñịnh về lĩnh vực này,

các nhà làm luật nước ta cần phải chú ý nhiều ñến tình hình kinh tế - xã hội của ñất nước ñể từ ñó ban hành những quy ñịnh phù hợp tạo cơ sở vững chắc ñể từng bước

nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện ñời sống của mọi người

2.1 Cơ sở xây dựng và thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp cho người lao ñộng ở Việt Nam

2.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội

Qua hơn hai mươi năm ñổi mới, nền kinh tế nước ta ñã có những thay ñổi cơ bản Từ một nền kinh tế tự cung, tự cấp, khép kín với cơ chế quản lí tập trung, bao cấp, chúng ta ñã chuyển sang nền kinh tế thị trường ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa, không những ñã thoát khỏi khủng hoảng và lạm phát mà ñã có sự tăng trưởng khá cao, phát triển tương ñối toàn diện: “Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm sau cao hơn năm trước, bình quân trong 5 năm 2001 – 2005 là 7,51%, ñạt mức kế hoạch ñề ra Kinh tế

vĩ mô tương ñối ổn ñịnh, các quan hệ và cân ñối chủ yếu trong nền kinh tế (tích lũy – tiêu dùng, thu – chi ngân sách…) ñược cải thiện; việc huy ñộng các nguồn nội lực cho phát triển có chuyển biến tích cực, tỉ lệ huy ñộng GDP vào ngân sách Nhà nước vượt

dự kiến Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện ñại hóa Đến năm 2005, tỉ trọng giá trị nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp trong GDP còn 20,9% (kế hoạch 20 – 21%), công nghiệp và xây dựng 41% (kế hoạch 38 – 39%), dịch vụ 38,1% (kế hoạch 41 – 42%) Như vậy, nhìn chung các thành phần kinh tế ñều

Trang 40

phát triển Từ khi thực hiện ñường lối ñổi mới, nền kinh tế nước ta ñã có những ñổi khác to lớn Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, GDP bình quân ñầu người chưa ñến 200 USD ñến nay chúng ta ñã tăng ñược gấp ñôi, lên 400 USD/ñầu người và chỉ tiêu này sẽ tăng lên trong vòng 5 ñến 10 năm nữa(1)

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực xảy ra cuối năm 1997 ñã tác

ñộng tiêu cực ñến nền kinh tế nước ta Năm 2000 chúng ta chặn ñược sự giảm sút về

tốc ñộ tăng trưởng và năm 2001 ñã ñưa tổng sản phẩm trong nước tăng 6,89%; năm

2002 tăng 7,04%; năm 2003 ñạt tốc ñộ tăng 7,24%; năm 2004 là 7,8% và năm 2005 là 8,43% (2) Như vậy, tính ra trong 5 năm 2001 – 2005, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nước tăng 7,51% trong ñó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,4%/năm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%/năm, khu vực dịch vụ tăng

ñộ tương ñối cao, năm sau cao hơn năm trước Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch

theo hướng công nghiệp hóa, hiện ñại hóa Nếu phân chia nền kinh tế thành 3 khu vực: Nông, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ, thì tỉ trọng giá trị tăng thêm theo giá thực tế chiếm trong tổng sản phẩm trong nước của khu vực công nghiệp

và xây dựng ñã không ngừng tăng lên qua các năm: “Năm 2000 chiếm 36,73%; 2001 chiếm 38,13%, 2002 chiếm 38,55%, năm 2003 chiếm 40% và năm 2005 chiếm 41%” Ngoài ra, trong những năm vừa qua do chúng ta ñẩy mạnh việc tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước nên mặc dù số lượng doanh nghiệp giảm ñi ñáng kể nhưng tỉ trọng của khu vực này vẫn duy trì ở mức cao (trên 38%)

Cùng với sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong những năm qua ñã ñạt ñược những thành tựu rất lớn Nhiều sản phẩm công nghiệp như dầu khí, thủy sản, dệt may ñã trở thành những sản phẩm mũi nhọn của nền kinh tế, tạo ra giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn “Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 5 năm ñạt gần

111 tỷ USD, tăng 17,5%/năm (kế hoạch 16%/năm); năm 2005, xuất khẩu bình quân

ñầu người ñạt 390, gấp ñôi năm 2000 Xuất khẩu dịch vụ 5 năm ñật trên 21 tỷ USD,

tăng 15,7%/năm, bằng 19% tổng kim ngạch xuất khẩu Thi trường xuất khẩu ñược mở rộng sang một số nước và khu vực, nhất là Hoa Kỳ Bên cạnh việc thúc ñẩy tăng trưởng kinh tế, các ngành công nghiệp mũi nhọn còn thu hút một lực lượng lao ñộng rất lớn, ñặc biệt là tạo ra một ñội ngũ lao ñộng có trình ñộ kỹ thuật cao Đây là tiền ñề

to lớn ñể lao ñộng nước ta ñáp ứng ñược nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, tiếp thu công nghệ mới và có thể hòa nhập với thị trường lao ñộng thế giới

(1)

Bộ lao ñộng thương binh và Xã hội (2001), Báo cáo kết quả nghiên cứu ñề tài xác ñịnh những nội

dung cơ bản của Luật Bảo hiểm xã hội, Hà Nội, trang 34

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w