Cho nên, đối với Thuế thu nhập cá nhân - một loại thuế trực thu, người dân trực tiếp thấy sự "mất mát" trong thu nhập của mình nên đối với loại thuế này dễ bị sự phản ứng từ phía người d
Trang 1vụ cho sự thống trị của mình Từ đó tư tưởng chống sưu cao thuế nặng hằn sâu vào tâm trí của người dân và trở thành phản xạ khi nói đến việc nộp thuế Cho nên, đối với Thuế thu nhập cá nhân - một loại thuế trực thu, người dân trực tiếp thấy sự "mất mát" trong thu nhập của mình nên đối với loại thuế này dễ bị sự phản ứng từ phía người dân nhất dẫn đến nhiều tranh luận kể cả chỉ trích và sẽ không bao giờ chấm dứt nếu không
có một cơ sở chung để giữ tính định hướng thì có thể dẫn đến những nhận định cảm tính, phiến diện từ đó người dân không chấp hành hoặc chấp hành miễn cưỡng chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Điều đó có thể thấy ở chỗ, Luật Thuế thu nhập cá nhân ngay từ khi bắt đầu soạn thảo đến khi chính thức đi vào đời sống xã hội
đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của đông đảo nhân bởi một lẽ hiển nhiên nó có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ, với nhiều luồng ý kiến trái chiều nhau, thế nhưng
để những tranh luận đó mang tính xây dựng thì cơ sở chung mang tính định hướng đó
là cần nắm vững một số nguyên tắc cơ bản khi Nhà nước xây dựng luật thuế Từ đó có thể hiểu hơn về mục tiêu, chính sách cũng như ý đồ của Nhà nước trong quá trình vận hành nền kinh tế, đời sống xã hội của một quốc gia thông qua luật
Một luật thuế ra đời trên cơ sở nhiều nguyên tắc để làm sao có thể cân bằng một cách tốt nhất có thể được lợi ích của người nộp thuế và một chủ thể đặc biệt là Nhà nước Nhằm góp phần vào việc tìm hiểu mục tiêu, chính sách mà Nhà nước đặt ra trong thuế thu nhập cá nhân từ đó có thể có câu trả lời cho những tranh luận xung
quanh luật thuế này, người viết quyết định chọn đề tài "Nguyên tắc công bằng trong luật thuế thu nhập cá nhân" để nghiên cứu trong khuôn khổ của một luận văn Do đó
người viết chỉ xoay quanh vấn đề chính là tìm hiểu, chỉ ra và đi sâu phân tích nguyên tắc công bằng trong thuế thu nhập cá nhân thông qua cách xác định từng thành phần của luật thuế trên cơ sở phân tích những quy định của pháp luật so sánh đối chiếu với thực tiễn để đưa ra những đánh giá ban đầu góp phần làm tư liệu tham khảo để có thể
Trang 2nâng cao tính công bằng trong thuế - một đòi hỏi quan trọng để một luật thuế có thể thực thi một cách tốt nhất Đó cũng chính là mục đích sau cùng mà luận văn mong muốn đạt được Tuy nhiên giữa mong muốn và thực tế đạt được luôn tồn tại khoảng cách, mặc dù có sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Cô Lê Thị Nguyệt Châu - giáo viên hướng dẫn và sự nỗ lực hết mình của bản thân nhưng do kiến thức còn hạn chế, cách diễn đạt có thể chưa thể hiện được hết suy nghĩ của người viết vì vậy mong được
sự góp ý của Thầy, Cô cũng như người đọc để người viết có thể thực hiện tốt hơn những nghiên cứu sau này
Trong quá trình nghiên ở góc độ lý luận người viết đã sử dụng phương pháp phân tích luật viết: phân tích câu chữ, so sánh, tổng hợp, suy lý ngược để tiếp cận vấn đề Cấu trúc của luận văn gồm:
Lời mở đầu: Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Chương 1: Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân
Nêu khái quát lược sử phát triển về thuế thu nhập cá nhân, tìm hiểu bản chất, vai trò cũng như những nguyên tắc chung khi xây dựng một luật thuế
Chương 2: Phân tích nguyên tắc công bằng trong luật thuế thu nhập cá nhân Chương này đi sâu nghiên cứu việc vận dụng nguyên tắc công bằng trong luật mà
cụ thể là phân tích tính công bằng trong việc xác định đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, giảm trừ gia cảnh, biểu thuế, thuế suất và miễn giảm thuế, từ đó đưa ra các giải pháp góp phần tăng tính công bằng cho luật thuế thu nhập cá nhân
Kết luận
Trang 3CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1 Lược sử sự phát triển Thuế thu nhập cá nhân
Về danh nghĩa, từ trước năm 2007 Việt Nam chưa có Thuế thu nhập cá nhân mà chỉ có những sắc thuế mang tính chất của thuế thu nhập cá nhân như thuế Lợi tức lương bổng được áp dụng ở Miền Nam nước ta từ năm 1962 sau đó đươc cải cách vào năm 1972
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất (30/4/1975) đến năm 1990 Nhà nước ta chưa chú trọng việc thu thuế, chưa nhận thấy rõ vai trò và vị trí của thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước do vào thời kỳ này các khoản thu chủ yếu của Nhà nước là các khoản vay, khoản viện trợ từ các nước Xã hội chủ nghĩa, thực hiện chế độ thu quốc doanh (gián thu) và chế độ trích nộp lợi nhuận (trực thu), chỉ thực hiện chế
độ thuế đối với các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh
Sau sự sụp đổ của hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô và cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế, Nhà Nước ta quyết định cải cách hệ thống thuế để trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà Nước Việc Hội đồng Nhà nước ban hành hàng loạt luật thuế mới trong thời gian này (trong đó có Pháp lệnh về thuế đối với người có thu nhập cao ban hành ngày 27/12/1990, có hiệu lực ngày 01/04/1991) được xem là cuộc cải cách toàn diện, sâu sắc và căn bản bởi hệ thống thuế
đã bao trùm mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, mọi doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, tư nhân), bên cạnh đó việc cải tổ và hoàn thiện tổ chức ngành thuế, bộ máy hành thu, tăng cường tính cưỡng chế của thuế, nộp thuế là một nghĩa vụ luật định thực sự, mở ra một hướng mới trong việc dùng thuế như một công cụ sắc bén và hữu hiệu điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Qua quá trình tổ chức thực hiện Pháp lệnh về thuế đối với người có thu nhập cao Quốc Hội đã sửa đổi bổ sung nhiều lần vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 2001,
2004 Đến ngày 21 tháng 11 năm 2007 một sắc thuế chính thức mang tên Thuế thu nhập cá nhân ra đời (tại kỳ họp thứ 2 Quốc Hội khóa 12) có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2009 Đây là bước tiến quan trọng của nền lập pháp nước ta, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà Nước, đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập
Trang 41.2 Khái niệm
Thu nhập là số tiền hoặc số sản phẩm nhận được do sức lao động của mình1; là khoản tiền bạc của cải thu nhập được trong khoảng thời gian nhất định (tháng hoặc năm)2
Trong lĩnh vực kinh tế, thu nhập được hiểu là tổng đại số các giá trị trên thị trường của các nguồn lợi được hưởng dưới dạng tiêu dùng và những thay đổi giá trị thuộc các nguồn sở hữu trong một khoảng thời gian nhất định3, như vậy thu nhập hoàn chỉnh là thu nhập bằng tiền thực tế nhận được và cả thu nhập tiềm năng như lãi cho vay, lãi từ
sự tăng giá tài sản, được đo bằng sự tăng lên thuần túy về sức mua của mỗi cá nhân trong một thời kì nhất định
Trong lĩnh vực thuế, các văn bản pháp quy về thuế thu nhập không có một định nghĩa chung về thu nhập một cách đầy đủ, chính xác mà chỉ có quy định danh mục các khoản thu nhập thuộc diện đánh thuế vì vậy khi muốn xác định một khoản thu nào đó
có phải là thu nhập hay không thì phải dựa vào nhiều yếu tố cụ thể trong từng trường hợp, đó có thể là các khoản thu bằng tiền, bằng hiện vật có được từ hoạt động kinh doanh, từ lao động dịch vụ hoặc từ một quan hệ xã hội nào đó mà mỗi cá nhân nhận được trong một khoảng thời gian nhất định hoặc theo từng lần phát sinh, theo đó người
có thu nhập cao đóng thuế nhiều, người có thu nhập thấp đóng thuế ít
Như vậy, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách Nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoản thu nhập từ đầu tư, kinh doanh 4
1.3 Đặc điểm của Thuế thu nhập cá nhân
Nếu như thuế nói chung xuất hiện trong xã hội loài người khi thỏa mãn hai điều kiện cần và đủ là sự xuất hiện của Nhà nước và thu nhập xã hội thì Thuế thu nhập cá nhân không chỉ dừng lại ở đó mà nó xuất hiện khi thu nhập xã hội đạt đến một mức độ tạo nên khoảng cách chênh lệch giữa các cá nhân trong xã hội Điều đó thể hiện ở chỗ Thuế thu nhập cá nhân có tác dụng phân phối lại thu nhập trong xã hội trên cơ sở xem xét đến hoàn cảnh cụ thể của người nộp thuế đảm bảo người có thu nhập thấp thì chưa
1 Từ điển từ và ngữ Việt Nam, trang 1760 – Nguyễn Lân, NXB TP HCM
2 Đại từ điển tiếng Việt, trang 1593 – Nguyễn Như Ý, NXB VHTT
3 Bản chất của thuế thu nhập cá nhân , Tạp chí Thuế nhà nước số 37 (107) kỳ 1 tháng 10/2006
4
Giáo trình luật thuế, trang 25 – TS Lê Thị Nguyệt Châu, Tủ sách ĐH Cần Thơ
Trang 5nộp thuế, người có thu nhập cao hơn thì nộp thuế nhiều hơn, những người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khó khăn hơn thì nộp thuế ít hơn;
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu vì vậy nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế, người chịu thuế thu nhập cá nhân không thể chuyển gánh nặng về thuế cho người khác tại thời điểm đánh thuế nên người nộp thuế cảm nhận rõ những “mất mát” trong thu nhập, do
đó thuế thu nhập cá nhân dễ bị phản ứng từ phía người dân;
Về nguyên tắc, thuế phải có tính trung lập, không nhằm những mục tiêu khác nhau, tuy nhiên thuế thu nhập cá nhân được xây dựng có một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế, việc xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế ít nhiều cho thấy thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của quốc gia nhưng ở mức độ đảm bảo cuộc sống của người nộp thuế, công bằng giữa các khoản thu nhập phải chịu thuế và tính hiệu quả trong việc thu thuế;
Phạm vi điều chỉnh của Thuế thu nhập cá nhân rất rộng: thứ nhất, đối tượng chịu thuế trong Thuế thu nhập cá nhân là toàn bộ thu nhập không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài; thứ hai, đối tượng phải kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân là toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân;
Do là loại thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân nên các yếu tố kỹ thuật của một sắc thuế như: xác định các khoản thu nhập nằm trong phạm vi xác định thu nhập chịu thuế, các chi phí được khấu trừ, thuế suất, biểu thuế, miễn giảm thuế thu nhập sẽ phản ánh các chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định;
Thuế thu nhập cá nhân là một khoản đóng góp bắt buộc mang tính không hoàn trả trực tiếp Nếu như các khoản đóng góp bắt buộc như phí, lệ phí người đóng sẽ nhận được những dịch vụ trực tiếp tương ứng với từng loại phí theo tên gọi còn đối với thuế thu nhập cá nhân người nộp thuế không hề nhận được một dịch vụ đối ứng trực tiếp nào mà chỉ có thể nhận được một cách gián tiếp thông qua việc tiêu dùng hàng hóa công cộng: an ninh xã hội, môi trường, chăm sóc sức khỏe Thông qua đó thể hiện mối quan hệ khắng khít giữa công dân và Nhà Nước;
Thuế thu nhập cá nhân đảm bảo chính sách điều tiết công bằng thông qua biểu thuế lũy tiến từng phần đối với các thu nhập chủ yếu như từ kinh doanh, tiền lương, tiền công với mức độ tăng dần về thu nhập tính thuế và thuế suất Do đó Thuế thu nhập cá
Trang 6nhân điều tiết mạnh từ người có thu nhập cao, động viên sự góp vốn từ người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình để góp phần thực hiện công bằng xã hội Điều này thể hiện ở chỗ: trong nền kinh tế thị trường người giàu ngày càng giàu lên nhanh chóng, người nghèo ngày càng nghèo hơn, để giảm bớt sự phân cực đó và không làm mất đi những thành quả mà nền kinh tế thị trường mang lại, đảm bảo xã hội phát triển ổn định;
Thuế thu nhập cá nhân ra đời từ yêu cầu đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập Nói như vậy không có nghĩa là không khuyến khích người dân làm giàu mà ngược lại thông qua sắc thuế, Nhà nước có thể hiện ý chí của mình cũng như mục tiêu quản lý như: đâu là mức thu nhập mà người lao động có thể tự nuôi sống bản thân, những người phụ thuộc (không đánh thuế); đâu là mức để người dân có thể tích lũy (đánh thuế với mức thuế suất hợp lý); đâu là mức mà Nhà Nước khuyến khích người dân nghỉ ngơi (đánh thuế ở mức cao) và cuối cùng đảm bảo được người có thu nhập cao hơn thì trước và sau khi nộp thuế họ vẫn còn một khoản thu nhập cao hơn so với người có thu nhập thấp khi chưa nộp thuế Tuy nhiên vì tính chất của thuế trực thu (người chịu thuế cũng là người nộp thuế) nên không thể chuyển gánh nặng thuế cho người khác mà người nộp thuế dễ có phản ứng tiêu cực như trốn thuế, tránh thuế Vì vậy để quản lý thuế thu nhập cá nhân một cách chặt chẽ thì cơ chế quản lý phức tạp, việc quản lý thuế đòi hỏi phải có trình độ, kỹ thuật cao, sự nghiêm chỉnh, chính xác từ khâu sổ sách kế toán, chứng từ do đó đưa chi phí quản lý thuế thu nhập cá nhân thường lên rất cao;
Thu nhập thông thường được xác định mỗi năm một lần, do đó thuế thu nhập cũng được tính toán xác định chung cho cả năm theo năm dương lịch Tuy nhiên, để có số thu vào ngân sách kịp thời, tùy từng nước qui định chế độ tạm thu hàng tháng, quý hoặc 6 tháng một lần
Việc thiết kế, xây dựng chính sách thuế thu nhập cá nhân luôn đặt trong mối liên hệ khăng khít với thuế thu nhập doanh nghiệp Vì xét cho cùng cả hai loại thuế này đều đánh vào lợi tức do các cá nhân trong các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế sáng tạo ra
Do đó cần phải phối hợp khi xây dựng biểu thuế suất sao cho thuế suất bình quân của thuế thu nhập cá nhân cao hơn thuế suất thu nhập doanh nghiệp nhằm khắc phục tình trạng tránh thuế dưới hình thức phân tán bớt lợi tức công ty chuyển sang thu nhập cá nhân để giảm bớt nghĩa vụ thuế Do đó thu nhập cá nhân tăng lên đến một mức nào đó
sẽ làm tăng số thuế thu nhập cá nhân
Trang 7Như vậy, một xã hội nếu có điều chỉnh chi tiết về thuế thu nhập cá nhân không chỉ
là một xã hội công bằng mà còn thể hiện được tính nhân văn cao Một cách tự nhiên,
đó là một xã hội có tính ràng buộc hữu cơ giữa nhà nước và công dân một cách mật thiết
1.4 Vai trò của Thuế thu nhập cá nhân
Trong nền kinh tế thị trường quá trình phân phối thu nhập luôn không bình đẳng, người giàu lại càng giàu thêm, người nghèo lại càng nghèo, hai thái cực “giàu”,
“nghèo” ngày càng cách xa nhau, nguy cơ tạo ra sự đối lập giữa các tầng lớp dân cư làm cho xã hội không ổn định Nhà nước với một trong những chức năng là can thiệp, điều chỉnh kinh tế, thiết lập khuôn khổ pháp luật để lập lại trật tự trong phân phối thu nhập, ổn định kinh tế và xã hội bằng cách thông qua Thuế thu nhập cá nhân điều tiết một cách hợp lý, người có thu nhập càng cao đóng thuế càng nhiều, người có thu nhập thấp sẽ đóng thuế ít hơn hoặc không phải đóng thuế Sử dụng thuế thu nhập cá nhân Nhà nước đóng vai trò trung tâm phân phối thu nhập trong xã hội, một mặt huy động thu nhập của người có thu nhập cao để chi cho các chương trình phúc lợi công cộng phục vụ trở lại xã hội, mặt khác chuyển sang những người nghèo, người có mức sống thấp
Nhà nước có vai trò quản lý xã hội, thế nhưng không thể dùng các mệnh lệnh hành chính để can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh tế, xã hội mà chỉ có thể đưa ra các chuẩn mực mang tính định hướng lớn trên diện rộng và bằng các công cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động kinh tế xã hội đi theo nhằm đạt được mục tiêu kinh tế đề ra, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế, xã hội thực hiện trong khuôn khổ pháp luật5, và thuế thu nhập cá nhân là công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện chức năng này, thể hiện ở chỗ thông qua việc tăng cường hay giảm bớt điều tiết thu nhập làm cho tổng cầu xã hội tăng hoặc giảm, từ đó có tác dụng co hẹp hay kích thích kinh tế Thông qua cơ chế điều tiết trực tiếp thu nhập của cá nhân mà nhà nước có thể chủ động điều chỉnh nền kinh tế Khi nền kinh tế “quá nóng” đến mức có thể gây lạm phát cao, khó làm chủ được, Nhà nước có thể tăng thêm gánh nặng thuế khoá trực tiếp lên người dân, làm giảm sức mua của dân cư dẫn tới thu hẹp sản xuất Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái Nhà nước có thể kích thích tăng sức mua của dân cư, kích thích phục hồi kinh tế
5 Thuế – Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, Quách Đức Pháp
Trang 8Thuế thu nhập cá nhân mang lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước, là một
bộ phận trong hệ thống chính sách thuế Sở dĩ như vậy là do thuế TNCN có diện đánh thuế rộng, mọi người dân có thu nhập vượt trên mức khởi điểm chịu thuế đều nộp thuế thu nhập cá nhân đảm bảo chi tiêu nội bộ của bộ máy hành chính
Thuế thu nhập cá nhân còn là công cụ để Nhà nước thực hiện việc kiểm soát, thống
kê thu nhập của các tầng lớp dân cư Nhà nước có thể nắm được tương đối chính xác thu nhập của cá nhân thông qua cơ chế quỹ tiền lương và những quy định báo cáo bắt buộc như báo cáo kế toán, quyết toán kinh doanh, kê khai tình hình lãi cổ phần, lãi tín dụng…để hạn chế tham nhũng, thực hành tiết kiệm
Qua phân tích trên có thể nói Thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp đến tiết kiệm và khả năng thanh toán của các cá nhân, thông qua thuế thu nhập cá nhân nhà nước đã chi phối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng cho phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của chính phủ Thuế thu nhập cá nhân là một cơ chế định hướng kinh tế
1.5 Các nguyên tắc cơ bản trong luật thuế
Nguyên tắc đánh thuế của Nhà nước là hệ thống quan điểm chỉ đạo, chi phối sâu sắc việc đề ra hoặc xóa bỏ hệ thống thuế của một quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình vận hành của hệ thống pháp luật thuế Thuế liên quan đến quyền lợi trực tiếp của người nộp thuế và Nhà nước Dù là trực thu hay gián thu người nộp thuế cũng phải trích một phần tài sản để chuyển cho Nhà Nước mà không thể khước từ hay trì hoãn Ngược lại, Nhà Nước nào cũng phải mong chờ nguồn thu từ thuế để đảm bảo nguồn vật chất đầu vào cho việc thực hiện chức năng nhiệm vụ Rõ ràng, việc thu nộp thuế ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cả hai loại chủ thể Yêu cầu đặt ra là việc thu nộp thuế phải đạt tới mục tiêu sao cho lợi ích của cả hai bên đều đạt được hoặc có thể chấp nhận được (về phía người nộp thuế) Nếu không xác định hoặc xác định không đúng nguyên tắc đánh thuế, Nhà nước sẽ không nhận được sự ủng hộ của dân chúng, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như chống thuế hoặc trốn thuế Có rất nhiều nguyên tắc để đảm bảo cho sắc thuế có thể thực thi một cách tốt nhất nhưng tựu trung lại có các nhóm nguyên tắc cơ bản sau:
1.5.1 Nguyên tắc khả thi
Thuế thu nhập cá nhân với đặc điểm là loại thuế trực thu, người nộp thuế cũng là người chịu gánh nặng về thuế, vì vậy mà đây là sắc thuế dễ gặp phản ứng từ phía người dân nhất Từ đó muốn thuế thu nhập cá nhân có thể đi vào cuộc sống và được
Trang 9người dân chấp nhận đòi hỏi khi xây dựng luật phải cân nhắc cẩn thận đến khả năng đóng thuế để có cách thức điều chỉnh thích hợp Nhà nước không thể bắt người dân đóng thuế khi họ không có khả năng đóng góp
Thuế là một khoản thu bắt buộc, người dân chỉ có thể thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước mà không có quyền đòi hỏi một lợi ích trực tiếp hay thương lượng, mặc
cả, do đó khả năng đóng góp thể hiện ở chỗ người dân chỉ phải đóng thuế khi mà thu nhập chịu thuế của họ là khoản thu nhập còn dư ra sau khi chi cho những nhu cầu cần thiết đối với bản thân, người thân (có đủ điều kiện theo luật định) và khoản đóng góp không bắt buộc đối với vai trò là một công dân trong xã hội Do đó Nhà nước đặt ra một ngưỡng nhất định, là khoản chi tiêu cần thiết cho mọi người dân Nếu thu nhập của họ không vượt qua ngưỡng mà Nhà nước đặt ra, họ không phải đóng thuế thậm chí được nhận một khoản trợ cấp nhất định Bởi suy cho cùng thu nhập chưa đủ phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của bản thân, để có thể tái tạo sức lao động mà Nhà nước vẫn thu thuế thì có hai khả năng xảy ra: thứ nhất, người dân tìm đủ mọi cách trốn thuế làm cho chi phí quản lý về thuế tăng lên, nguy hiểm hơn lòng tin của nhân dân vào một xã hội công bằng dân chủ không còn dẫn đến những Chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước ban hành khó được người dân nghiêm chỉnh thực hiện Thứ hai, nếu Nhà nước thu được thuế, người dân lao động nhưng không có đủ chi phí để tái tạo sức lao động, không có cơ hội nuôi sống bản thân thì chuyện tích lũy tài sản là điều không tưởng, vô hình chung họ trở thành gánh nặng cho xã hội, đến lúc đó số thuế mà Nhà Nước thu được liệu có thể gánh vác đươc hậu quả của một chính sách thuế tận thu? Tính khả thi còn thể hiện ở chỗ cần xác định khoản thu nhập nào có thể đưa vào chịu thuế để vừa đảm bảo bao quát được hết nguồn thu vừa có thể đảm bảo không xảy
ra vấn đề thuế chồng lên thuế đối với một đối tượng nộp thuế, ngoài ra việc xác định đúng đối tượng chịu thuế, người nộp thuế và số thuế phải thu để chi phí Nhà nước bỏ
ra để quản lý thuế luôn đảm bảo phải nhỏ hơn số thuế thu được
1.5.2 Nguyên tắc rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu
Đóng thuế là nghĩa vụ và đã là nghĩa vụ thì bắt buộc phải thực hiện, tuy nhiên để việc thực hiện được nhanh chóng thì dựa vào ý thức của người dân Ý thức đó được hình thành khi người nộp thuế hiểu rõ nghĩa vụ thuế của mình Đóng thuế tức là người dân đã trích một phần thu nhập của mình nộp vào ngân sách Nhà Nước theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ công dân do đó người dân có quyền được hiểu pháp luật về thuế của Nhà Nước
Trang 10Thuế không đơn thuần là công cụ tạo nguồn thu cho ngân sách mà thông qua thuế
có thể thấy rõ ý đồ của nhà cầm quyền, có thể thông qua sắc thuế nói lên bản chất của một Nhà nước Thế nhưng, đối với người dân một sắc thuế nói chung hay thuế thu nhập cá nhân nói riêng ra đời họ không quan tâm đến cái vĩ mô như Nhà Nước mà vấn
đề quan trọng đối với họ khi đứng trước luật thuế xem mình có phải là đối tượng chịu thuế không? Thu nhập bao nhiêu mới phải nộp thuế? Nếu có, số thuế phải nộp là bao nhiêu? Nếu không nộp hay nộp trễ thì sẽ như thế nào? Thế nhưng để tự tìm được câu trả lời cho những câu hỏi trên sẽ không dễ dàng đối với người dân nếu luật thuế không được xây dựng một cách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu:
Rõ ràng: có nghĩa là mỗi người nộp thuế phải được biết một cách minh bạch số tiền thuế phải nộp, thủ tục nộp thuế như thế nào? Các ưu đãi về thuế Ngoài ra, nguyên tắc
rõ ràng còn được thể hiện ở quá trình làm luật thuế, nó phải chặt chẽ từ khâu soạn thảo đến khâu tổ chức thực hiện;
Đơn giản: là không quá rườm rà, phức tạp “Không quá” có nghĩa là có cân nhắc lựa chọn phương án đơn giản nhất trong điều kiện có thể nhưng phải đảm bảo được yêu cầu về nội dung của luật thuế Vì thường thì nguyên tắc đơn giản và công bằng mâu thuẫn nhau, cho nên cần lựa chọn phương án tối ưu nhất;
Yêu cầu dễ hiểu thường thuộc về kỹ thuật, được thể hiện qua cách trình bày nội dung của luật thuế sao cho logic, mạch lạc, rõ ràng bằng các từ phổ thông để hiểu rõ, hiểu đúng
Nếu xây dựng một luật thuế đơn giản, dễ hiểu thì dễ làm, dễ kiểm tra, giám sát việc thực hiện trong thực tế, là điều kiện để đạt được những mục tiêu mà Nhà nước đề ra
1.5.3 Nguyên tắc ổn định
Trong các loại thuế thì thuế thu nhập cá nhân có ảnh hưởng mạnh mẽ đến người dân và xã hội vì đây là loại thuế có đối tượng chịu thuế rộng, tác động trực tiếp đến sinh hoạt của người dân, chỉ cần một biến động nhỏ trong việc tính thuế sẽ kéo theo hàng loạt thay đổi trong đời sống của người nộp thuế Luật thuế thu nhập cá nhân ra đời không những là nhu cầu tất yếu của quá trình phát triển, là nguồn thu cho ngân sách quốc gia mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội Vì vậy luật thuế thu nhập cá nhân được ban hành và thực thi khi đến một thời điểm thích hợp, việc sửa đổi hoặc bổ sung cần phải có kế hoạch và thời hạn đủ để các đối tượng liên quan chuẩn bị, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của từng người dân cũng như xã hội trước sự thay đổi của một sắc thuế sẽ là điều kiện quan trọng để ổn định môi trường đầu tư kinh doanh, đảm bảo cho các cá nhân lựa chọn và quyết định hình thức đầu tư Sự biến động của
Trang 11giá cả thị trường, yếu tố trượt giá làm cho sức mua của đồng tiền thay đổi trong từng giai đoạn nhất định đòi hỏi nhà làm luật phải tính đến để đảm bảo tính khả thi trong một thời gian hợp lý Không phủ nhận luật ra đời để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nhưng không có nghĩa luật luôn “chạy” theo sau các quan hệ xã hội, mà các nhà làm luật cần có tầm nhìn, dự đoán được sự phát triển của xã hội để xây dựng một luật thuế
ổn định bảo đảm cho người dân yên tâm lao động để có thể đóng góp vào ngân sách Nhà nước thông qua con đường thuế thu nhập bởi không ai có thể yên tâm làm việc một khi không biết chính xác mình được giữ lại bao nhiêu trong toàn bộ thu nhập sau khi thực hiện xong nghĩa vụ đối với Nhà nước
1.5.4 Nguyên tắc hiệu quả
Để xây dựng được một văn bản luật Nhà nước đã phải đầu tư nhiều công sức, tiền bạc, luật thuế thu nhập cá nhân ra đời cũng không ngoại lệ Dù mang trên mình tên gọi nào hay mục tiêu gì thì thuế cũng không loại trừ mục tiêu tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, vì vậy một sắc thuế mà chi phí xã hội bỏ ra để thu được thuế nhiều hơn số thuế thu được, được xem là không có hiệu quả Một luật thuế được xem là có hiệu quả khi mọi tác dụng của thuế được khai thác một cách tối đa, thể hiện ở chỗ không chỉ giới hạn ở việc tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước mà có tác dụng đến nhiều mặt hoạt động của đời sống xã hội, điều tiết vĩ mô nền kinh tế
1.5.5 Nguyên tắc công bằng
Trong tiếng Việt khi nói đến công bằng người ta thường liên tưởng đến sự bằng
nhau tức sự bình đẳng Thật ra công bằng và bình đẳng có liên quan tới nhau nhưng đó
là hai khái niệm khác nhau Công bằng có khía cạnh bình đẳng đồng thời có khía cạnh bất bình đẳng Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân trước pháp luật hay sự bất bình đẳng về hưởng thụ do sự không ngang nhau về phẩm chất và năng lực trong lao động là một trong những yếu tố của công bằng xã hội
Có thể nói công bằng là một khái niệm thuộc phạm trù nhân quyền - một quyền cơ bản nhất đối với mọi công dân ở bất kì quốc gia nào Muốn công bằng thì mọi vấn đề phải được thực thi theo đúng lẽ phải, đúng pháp luật, không ưu tiên thiên vị cá nhân nào Sở dĩ người ta coi công bằng là rường cột của một thể chế văn minh pháp quyền
vì từ đây mọi hoạt động xã hội mới có cơ hội duy trì theo kỷ cương, nền nếp, quy củ Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong tất cả các nguyên tắc, là yêu cầu quan trọng trong việc xây dựng luật mà đặc biệt là luật thuế Công bằng nói ở đây không có nghĩa
là mọi người phải nộp một số thuế giống nhau mà là công bằng hợp lý, công bằng xã
Trang 12hội Các nhà kinh tế cho rằng tính công bằng của thuế thể hiện ở hai nguyên tắc, đó là công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc:
Công bằng theo chiều ngang là mọi đối tượng có năng lực chịu thuế đều phải nộp thuế và mọi người có điều kiện liên quan đến thuế như nhau phải được đối xử thuế như nhau Điều này thể hiện ở chỗ, nếu có điều kiện khác nhau thì những đối tượng khác nhau nhưng cùng loại phải được đối xử về thuế tương xứng, các đối tượng có điều kiện như nhau phải nộp loại thuế giống nhau, những đối tượng được khuyến khích, ưu đãi khi có đủ điều kiện họ cũng được đối xử ưu đãi tương ứng
Công bằng theo chiều dọc là người có khả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn những người khác, đó là sự đối xử về thuế khác nhau đối với các đối tượng có tình trạng và khả năng đóng thuế khác nhau
Xét ở khía cạnh khác, công bằng trong thuế là yêu cầu Nhà nước đáp ứng một tỉ lệ tương ứng các dịch vụ, hàng hóa công cộng của Nhà nước mà người nộp thuế nhận được sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế Xét ở khía cạnh lý luận, quan điểm này rất hợp
lý, thể hiện quan điểm nhân văn cũng như dân chủ của chính sách thuế, tránh được tình trạng tận thu thuế cũng như đòi hỏi Nhà nước phải chú ý đến việc cung cấp các lợi ích công cộng tương ứng với sự đóng góp của nhân dân Tuy nhiên, trên thực tế có một số khó khăn khi vận dụng quan điểm này Xuất phát từ sự hoàn trả không trực tiếp của thuế, rất khó cân đo đong đếm sao cho một người nhận được những lợi ích công cộng tương đương với đóng góp của họ hay không, ở những trường hợp mà mục tiêu của thuế là điều tiết thu nhập, rút ngắn khoảng cách giữa người giàu và người nghèo thì việc xác định là rất khó
Như vậy, công bằng trong pháp luật thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau6:
- Công bằng nhưng không có nghĩa là cào bằng, tức là nội dung quy định pháp luật thuế phải căn cứ vào thu nhập, căn cứ và sự hưởng lợi của người dân lên đối tượng chịu thuế để có mức thu thuế phù hợp;
- Công bằng trong thuế cần phải đảm bảo mức điều tiết từ thuế là hợp lý dựa trên khả năng chi trả của các đối tượng nộp thuế có tính đến các yếu tố chi phí và điều kiện sống;
- Công bằng không chỉ được thể hiện ở nội dung quy định của pháp luật thuế mà còn thể hiện trong quá trình áp dụng và thi hành Nếu công bằng chỉ dừng lại ở các quy định của pháp luật thì tính công bằng lúc này chỉ là công bằng hình thức, tô điểm cho
6 Vận dụng nguyên tắc công bằng trong ban hành thuế thu nhập cá nhân – Nguyễn Thị Thủy, Phan Phương Nam, Nghiên cứu lập pháp số 2 (93) T2/2007
Trang 13những ý tưởng cao đẹp, những nguyện vọng, những mục tiêu xa vời của pháp luật Điều này có thể tạo nên một mối nguy hiểm cho sự tồn tại và phát triển của pháp luật
và có thể làm cho tính pháp chế của Nhà nước sẽ bị phá vỡ nghiêm trọng Cho nên khi
và chỉ khi sự công bằng được thể hiện cả trong công tác thu, nộp thuế và hành thu thuế trên thực tế thì mới có thể đáp ứng yêu cầu công bằng trong pháp luật thuế
Tóm lại, công bằng trong thuế là một đòi hỏi khách quan, tuy nhiên cũng không thể yêu cầu công bằng một cách tuyệt đối mà chỉ có thể dựa trên những nguyên tắc mang tính định hướng để luật thuế đạt đến một mức độ công bằng cao nhất có thể được
1.6 Các yếu tố cơ bản cấu thành luật Thuế thu nhập cá nhân
Để bao trùm mọi mặt của hoạt động kinh tế xã hội, mỗi quốc gia xây dựng cho mình một hệ thống thuế gồm nhiều loại thuế Tuy nhiên các loại thuế có nhiều đến đâu đi chăng nữa thì cũng được cấu thành từ các yếu tố căn bản giống nhau Bởi khi bất kỳ một luật thuế nào ra đời, trước tiên Nhà nước cần xác định: Luật thuế này đánh vào cái gì? Ai là người phải nộp số thuế đó vào ngân sách Nhà nước? Mức thuế phải nộp là bao nhiêu? Có loại trừ trong trường hợp nào không? Và khi người nộp thuế rơi vào một số trường hợp đặc biệt không thể thực hiện nghĩa vụ thuế thì hướng giải quyết ra sao?
Thuế thu nhập cá nhân cũng là một loại thuế, qua tên gọi của nó đã bao hàm nội dung, phạm vi và mục đích điều chỉnh tuy nhiên muốn luật thuế được thực thi thì cần phải cụ thể hơn thông qua việc trả lời các câu hỏi trên - những yếu tố cơ bản trong luật thuế:
1.6.1 Đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là người trực tiếp chuyển thuế vào kho bạc Nhà nước từ các thu nhập mà cá nhân đó có được ghi trong luật phải chịu thuế Do tồn tại cơ chế chuyển gánh nặng thuế nên trong luật thuế thường gặp hai thuật ngữ “người nộp thuế” và “người chịu thuế”, tuy nhiên hầu hết các luật thuế đều xác định rất rõ người nộp thuế mà thường không thể hiện người chịu thuế bởi một điều “tế nhị” - người chịu thuế chính là người chịu gánh nặng của thuế, trực tiếp thấy sự “mất mát” trong thu nhập của mình, trong thuế gián thu hai đối tượng này thường được thấy một cách rõ ràng Còn đối với Thuế thu nhập cá nhân, một loại thuế trực thu, người nộp thuế cũng chính là người chịu thuế nên cảm nhận rõ gánh nặng thuế Vì vậy việc xác định đối tượng nộp thuế sao cho có thể kiểm soát tất cả các thu nhập có thể phát sinh
và người nộp thuế không thể tránh thuế
Trang 14Mặt khác đối tượng nộp thuế còn phải được xác định là đối tượng cư trú theo quy định của pháp luật vì vậy cần có tiêu chí để phân biệt đâu là cá nhân cư trú, đâu là cá nhân không cư trú
1.6.2 Đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế trong một luật thuế là cơ sở để chỉ rõ luật thuế đó đánh vào cái
gì, và cái đó là duy nhất Từ tên gọi Thuế thu nhập cá nhân ta có thể hiểu đây là loại thuế nhằm vào thu nhập mà cá nhân có được, do đó xác định đúng thu nhập chịu thuế
là cơ sở quan trọng để tính thuế chính xác, như đã phân tích ở mục 1.5.1 Nhà nước chỉ
có thể đánh thuế khi thu nhập vượt qua một ngưỡng nhất định, như vậy thu nhập chịu thuế của đối tượng nộp thuế trong kỳ tính thuế là tổng thu nhập trừ đi các khoản chi phí sử dụng để tạo ra thu nhập Tuy nhiên mỗi nguồn thu nhập lại có những đặc thù riêng về cách thức nhận thu nhập và chi phí được sử dụng để tạo ra thu nhập, vì vậy việc xác định nguồn gốc của thu nhập là điều rất quan trọng do sự đa dạng của nó: thu nhập từ lao động, thu nhập từ tài sản, từ đầu tư vốn, từ quà tặng từ đó mà xác định khoản chi phí nào được khấu trừ hoặc không được khấu trừ
1.6.3 Cơ sở để tính thuế
Cơ sở để tính thuế trong thuế thu nhập cá nhân thực chất là một phần trong đối tượng chịu thuế, bởi lẽ không phải một cá nhân có phát sinh bất kì một thu nhập nào cũng phải nộp thuế trên tất cả khoản thu nhập đó vì còn tồn tại mức tối thiểu không phải nộp thuế, được miễn giảm thuế Hay nói cách khác cơ sở tính thuế hẹp hơn rất nhiều so với đối tượng chịu thuế Vì vậy khi xây dựng một luật thuế, sau khi xác định xong thuế đánh vào cái gì (đối tượng chịu thuế) thì phải tiếp tục xác định thu như thế nào (cơ sở để tính thuế)
1.6.4 Thuế suất, biểu thuế
Mức thuế, thuế suất là yếu tố quan trọng nhất của một sắc thuế, có thể nói, đó là
“linh hồn” của một sắc thuế, phản ánh yêu cầu và mức độ động viên của Nhà nước trên một cơ sở tính thuế, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế
Vì vậy khi xác định thuế suất trong luật thuế phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích của quốc gia vừa chú ý thích đáng đến lợi ích của người nộp thuế
Căn cứ vào mục tiêu, vai trò của từng loại thuế mà áp dụng các phương thức đánh thuế khác nhau tương ứng với nhiều mức nộp thuế khác nhau, thuế thu nhập cá nhân
áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần Và biểu thuế lũy tiến từng phần là biểu thuế
Trang 15trong đó các mức thuế được quy định tăng lên theo từng phần thu nhập tăng thêm do
đó biểu thuế suất lũy tiến từng phần được coi là đảm bảo công bằng vì không có sự chênh lệch quá nhiều về số tiền thuế phải nộp giữa các mức thu nhập, muốn vậy khi xây dựng biểu thuế cần phải đảm bảo:
- Mức thuế suất không quá cao làm ảnh hưởng đến nỗ lực lao động, tiết kiệm và đầu
tư Mặt khác thuế suất cao gây cảm giác nặng nề của gánh nặng thuế, đối tượng nộp thuế sẽ tìm mọi cách để trốn thuế, tránh thuế
- Khoảng cách giữa các mức thuế trong biểu thuế không quá chênh lệch nhau đảm bảo điều tiết thu nhập một cách hợp lý;
- Xây dựng mức thuế suất ưu đãi linh hoạt đối với một số khoảng thu nhập nhất định phù hợp với các mục tiêu, yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước trong từng thời kỳ
Nói tóm lại, việc thiết kế một biểu thuế nói chung hay biểu thuế thu nhập nói riêng không chỉ mang yếu tố kỹ thuật đơn thuần là tính toán sao cho thu được thuế nhiều nhất và tiết kiệm chi phí nhất, mà chứa đựng những nội dung kinh tế, xã hội nhất định, đồng thời phản ánh thái độ của Nhà nước trong điều tiết và quản lý thu nhập
1.6.5 Miễn, giảm thuế
Miễn, giảm thuế là yếu tố ngoại lệ được quy định trong một số sắc thuế, theo đó, quy định cụ thể các trường hợp, đối tượng nộp thuế được phép miễn thuế hoặc giảm bớt nghĩa vụ thuế so với thông thường (vì một số lý do khách quan bất khả kháng như thiên tai, địch họa hoặc tai nạn bất ngờ, hoặc vì một số lý do nhằm thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước ) Do đó khi áp dụng chính sách miễn giảm thuế đồng nghĩa với giảm số thu vào ngân sách Nhà nước, đồng thời đó là những ngoại lệ trong công tác quản lý thuế Xét về phương diện pháp lý thì miễn giảm thuế có thể ảnh hưởng đến sự công bằng giữa các chủ thể thực hiện nghĩa vụ thuế, tuy nhiên xét về phương diện kinh tế thì miễn, giảm thuế thể hiện sự công bằng theo chiều dọc như đã phân tích ở trên việc thiết kế thuế suất trong biểu thuế bị chi phối bởi các yếu tố kinh
tế, xã hội
Khi thực hiện chế độ miễn, giảm thuế không đồng nghĩa với giảm nhẹ tính cưỡng chế của thuế mà ngược lại nó cho thấy rõ tính linh hoạt của Nhà nước khi dùng thuế Chính ở đây, chính sách dùng thuế như một công cụ kích thích sự vận hành của nền kinh tế, điều hòa lợi ích giữa các tầng lớp xã hội theo các định hướng của Nhà nước, được thể hiện tập trung và rõ nét
Như vậy, muốn đánh giá luật thuế thu nhập cá nhân không còn cách nào khác là phải xem xét từng phần cấu tạo nên nó Chính từ những bộ phận này sẽ phản ánh mục
Trang 16tiêu, chủ trương của Nhà nước cũng như khả năng đi vào thực tế của một văn bản
luật Một luật thuế sẽ được nhân ủng hộ khi nó đảm bảo được xây dựng dựa trên các
nguyên tắc cơ bản mà trong đó nguyên tắc công bằng giữ tính chủ đạo Và vấn đề này
sẽ được làm rõ trong chương tiếp theo
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH NGUYÊN TẮC CÔNG BẰNG TRONG LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới, việc cắt giảm dần các khoản thuế nhập
khẩu để thực hiện cam kết quốc tế đã gây ảnh hưởng không nhỏ cho nguồn thu của
ngân sách Nhà nước Thuế thu nhập cá nhân ra đời không chỉ đáp ứng yêu cầu tăng
cường các khoản thu từ thuế khác để bù đắp cho khoản giảm đó mà còn phù hợp với
xu hướng chung của thế giới Việc thực hiện nghĩa vụ thuế của công dân đối với Nhà
nước là một nghĩa vụ hiến định, tại điều 80 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: Công dân
có nghĩa vụ đóng thuế theo quy định của pháp luật Đây là điều khoản thể hiện sự
cưỡng chế của Nhà nước buộc các cá nhân thực hiện nghĩa vụ và nghĩa vụ này phải
tuân theo các văn bản pháp luật về thuế Do đó để tránh việc đánh thuế trở thành gánh
nặng đối với người dân thì luật thuế khi được ban hành phải hợp lý, trong đó yếu tố
công bằng phải được ưu tiên hàng đầu Quán triệt nguyên tắc công bằng trong luật
thuế nói chung hay luật thuế thu nhập cá nhân nói riêng là sự phù hợp với thông lệ
quốc tế và phù hợp với mục tiêu xây dựng xã hội công bằng Theo thông lệ quốc tế thì
việc ban hành luật thuế thu nhập cá nhân phải theo nguyên tắc đóng thuế theo khả
năng, tức là người có thu nhập nhiều phải nộp nhiều, người có thu nhập ít thì nộp ít và
có tính đến điều kiện sống của từng chủ thể nộp thuế Bên cạnh việc xác định nghĩa vụ
của người nộp thuế, Nhà nước có trách nhiệm cung ứng các dịch vụ công cộng cho
toàn xã hội mà trong đó người nộp thuế được hưởng (nhưng không phải là đối giá), có
nghĩa là người dân thực hiện nghĩa vụ đóng thuế, song song đó họ phải được hưởng
những dịch vụ công cộng mà Nhà nước đem lại Một cách khái quát thì nguyên tắc
công bằng trong pháp luật thuế là các định hướng về việc xác định những nội dung,
yêu cầu trong các quy định của pháp luật thuế nhằm đảm bảo việc thu thuế là hợp lý
dựa trên khả năng chi trả của đối tượng nộp thuế, trên cơ sở có xem xét, cân nhắc đến
các yếu tố hoàn cảnh, điều kiện sống nhằm bảo đảm những người có thu nhập khác
nhau sẽ có nghĩa vụ nộp thuế khác nhau, người có thu nhập cao hơn sẽ phải nộp thuế
cao hơn và những người có điều kiện, hoàn cảnh như nhau có thu nhập ngang nhau sẽ
phải nộp thuế như nhau
Trang 17Do đó để đánh giá một luật thuế có công bằng hay không không thể nói chung chung mà phải xem xét từng điều khoản cụ thể được quy định trong luật, trong khuôn khổ nghiên cứu của mình người viết chỉ phân tích những vấn đề mà theo người viết chưa đảm bảo nguyên tắc công bằng hoặc vì lý do nào đó mà nguyên tắc công bằng không thể được vận dụng một cách triệt để cũng như lý giải để làm sáng tỏ một số vấn
đề có thể ảnh hưởng đến tính công bằng của luật thuế từ đó đưa ra những giải pháp góp phần tăng cường tính công bằng của luật thuế thu nhập quan trọng này
2.1 Trong việc xác định đối tượng nộp thuế
Một trong những mục đích của việc Nhà nước ban hành và áp dụng luật Thuế thu nhập cá nhân là nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ở Việt Nam, trong số những bất cập đó là việc xác định đối tượng nộp thuế Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao thì xác định đối tượng nộp thuế dựa trên hai tiêu chí là quốc tịch và nơi cư trú Trong đó, có sự phân biệt người nộp thuế là người Việt Nam với nhau, giữa người Việt Nam với người nước ngoài và giữa người nước ngoài với nhau Như vậy, tiêu chí quốc tịch được áp dụng với người Việt Nam, còn tiêu chí “cư trú” áp dụng đối với người nước ngoài Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần cho công dân Việt Nam có mức khởi điểm chịu thuế suất dương thấp hơn, đồng thời độ dốc lũy tiến cao hơn so với người nước ngoài Điều đó
có nghĩa cùng một mức thu nhập công dân Việt Nam nộp thuế nhiều hơn người nước ngoài Quy định này từng được lý giải là nhằm khuyến khích người nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam để mang theo kinh nghiệm quản lý, kỹ thuật tiên tiến Tuy nhiên lý do đó không đủ thuyết phục và không thể làm nhòa đi sự bất công trong nghĩa
vụ thuế giữa các đối tượng nộp thuế, đồng thời cho thấy Nhà nước đã vô tình làm thay hoặc làm mất đi khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong việc thu hút mọi nguồn lực cho sự phát triển Bên cạnh đó cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới, Việt Nam chính thức xóa bỏ chế độ "hai giá" để phân biệt mức chi tiêu của người Việt Nam
và người nước ngoài Mặt khác, theo thông lệ quốc tế việc xác định đối tượng nộp thuế dựa trên đối tượng cư trú và không cư trú, người có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập bao gồm cá nhân không phân biệt quốc tịch, ngành nghề kinh doanh, nguồn phát sinh thu nhập, người làm công ăn lương, người hành nghề độc lập, cá nhân có thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ tài sản cho thuê, đầu tư vốn Xuất phát từ những lý do trên nên thuế thu nhập cá nhân được Quốc hội khóa 12 kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007 quy định như sau:
Trang 181 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tai Điều 3 của luật này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam
2 Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;
b Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn
3 Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 điều này 7
Như vậy, đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú Tình trạng cư trú của cá nhân có ảnh hưởng lớn đến việc xác định nghĩa vụ thuế phải nộp của mỗi cá nhân cả
về phạm vi thu nhập chịu thuế và mức thuế suất cụ thể trong biểu thuế đối với toàn bộ thu nhập trong kỳ tính thuế Vấn đề đặt ra là việc phân biệt cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú dẫn đến việc đối xử khác nhau về thuế có ảnh hưởng đến nguyên tắc công bằng không khi mà đều là thu nhập, cụ thể là:
- Những người được xác định là đối tượng cư trú của Việt Nam sẽ phải nộp số thuế đối với thu nhập toàn cầu, nghĩa là họ phải tính thuế trên thu nhập nhận được có nguồn gốc tại Việt Nam và thu nhập nhận được ngoài Việt Nam Ví dụ, một người Singapo làm việc có thu nhập tại Việt Nam trong năm tính thuế được xác định là cá nhân cư trú tại Việt Nam và trong cùng thời gian này người đó có ngôi nhà riêng tại Singapo đang được sử dụng để cho thuê thì ông ta phải tính thuế theo biểu thuế lũy tiến tại Việt Nam đối với nguồn thu nhập cho thuê nhà tại Singapo (có tính đến giảm trừ gia cảnh) Đương nhiên Hiệp định tránh đánh thuế trùng giữa Việt Nam và Singapo sẽ được áp dụng để xem xét giảm bớt một phần số thuế phải nộp tại Việt Nam vì khoản thu nhập cho thuê nhà của ông ta đã nộp thuế tại nước Singapo theo luật của nước này
- Đối với những người được xác định là cá nhân không cư trú tại Việt Nam thì chỉ phải tính nộp thuế theo luật thuế của Việt Nam đối với khoản thu nhập có được do làm việc tại Việt Nam
Để lý giải vấn đề trên cần xem xét các khía cạnh sau: thứ nhất, việc xác định đối tượng nộp thuế theo tiêu chí cư trú bảo đảm mọi đối tượng có năng lực chịu thuế đều
7 Điều 10, khoản 4 Luật thuế thu nhập cá nhân
Trang 19phải nộp thuế và mọi người có điều kiện liên quan đến thuế như nhau phải được đối xử thuế như nhau vì dù là người Việt Nam hay người nước ngoài thì suy cho cùng số thuế
mà họ nộp cũng xuất phát từ thu nhập do lao động, do đó nếu xét trên một địa bàn cư trú, điều kiện lao động, sinh sống như nhau thì thu nhập của người Việt Nam hay người nước ngoài không chênh lệch nhau, vì vậy nếu đánh thuế khác nhau giữa hai đối tượng này sẽ tạo nên sự bất công cho người nộp thuế; thứ hai, nếu một người được xác định là cá nhân không cư trú thì thu nhập chịu thuế của họ không được giảm trừ bất kỳ khoản nào khi tính thuế và được áp dụng một mức thuế suất nhất định tùy vào từng loại thu nhập dẫn đến cùng một mức thu nhập nhưng người được xác định là cá nhân không cư trú có thể nộp thuế nhiều hơn cá nhân cư trú, bởi lẽ bất luận thu nhập được tạo ra bởi công dân mang quốc tịch nào, hễ phát sinh trong lãnh thổ của quốc gia nhất định thì cũng đã được cung cấp sự bảo hộ, đảm bảo về tiện ích công cộng của nước chủ nhà Đó là cơ sở để buộc một cá nhân không cư trú phải nộp thuế khi thu nhập đó phát sinh ở Việt Nam, tuy nhiên cá nhân này không được xem xét để giảm trừ gia cảnh như cá nhân cư trú bởi thời gian có mặt của họ ở Việt Nam không đủ dài để ràng buộc Nhà nước đảm bảo cũng như chăm lo đến hoàn cảnh cá nhân thông qua việc giảm trừ gia cảnh trước khi tính thuế
Như đã nói ở trên, tình trạng cư trú của cá nhân có ảnh hưởng lớn đến nghĩa vụ thuế cho nên việc xác định thế nào là cá nhân cư trú là rất quan trọng Theo mục I phần A thông tư của Bộ tài chính số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành nghị định số 100/2009/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân thì việc xác định tình trạng cư trú của cá nhân dựa vào một trong hai tiêu chí, đó là:
- Hiện diện tại Việt Nam 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, hoặc;
- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, trong đó người nước ngoài có nhà thuê để ở tại Việt Nam trong thời hạn 90 ngày trở lên trong năm tính thuế
Vấn đề phát sinh ở chỗ tiêu chí "nơi ở thường xuyên" của người nước ngoài bao gồm các trường hợp: thuê nhà ở nhiều nơi, cá nhân ở khách sạn, tại nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, ở tại nơi làm việc, ở tại trụ sở cơ quan không phân biệt cá nhân tự thuê hay người lao động thuê hoặc bố trí cho cá nhân người lao động Theo logic của vấn
đề có thể nói việc xác định cá nhân nước ngoài có phải là cá nhân cư trú hay không suy cho cùng chỉ căn cứ vào một tiêu chí duy nhất là 90 ngày, lý do là vì bất cứ ai cũng sẽ có "nhà ở" như trên
Trang 20Quan sát ở một khía cạnh khác, trong thực tế do đòi hỏi của công việc buộc cá nhân phải có mặt thường xuyên 24/24 để túc trực và đảm bảo các hoạt động được liên tục, việc nghỉ ngơi sau giờ trực diễn ra tại nơi làm việc như công nhân kỹ thuật viên hoạt động trên giàn khoan dầu khí hoặc tàu biển ngoài khơi Với những đối tượng này cơ quan sử dụng lao động không thể bố trí được khách sạn, nhà nghỉ hay bất cứ nơi nào
để họ nghỉ ngơi sau giờ làm việc và thay đổi luân phiên theo ca Những đối tượng này nếu có tổng số thời gian từ 90 ngày trở lên ở tại nơi làm việc, khi đó căn cứ vào câu chữ của Thông tư 84 thì được xác định là cá nhân cư trú dẫn đến tình trạng không công bằng đối với những đối tượng này bởi khi đối chiếu với luật nhà ở ngày 29/11/2005 thì nhà ở là "công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân" càng không công bằng hơn so với những nhân viên khác được cơ quan thu xếp cho ở khách sạn, biệt thự hoặc ở những nơi thuận tiện hơn
Như vậy việc quy định đối tượng nộp thuế theo tiêu chí cư trú làm cho người Việt Nam và người nước ngoài cùng được điều chỉnh trong một biểu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện luật định Một mặt cho thấy chế độ đãi ngộ công dân, thực hiện nguyên tắc công bằng khi xây dựng luật thuế của Nhà nước Việt Nam, tạo cho cá nhân không phải
là người Việt Nam nhận thấy mình không bị “phân biệt, đối xử” về thuế khi đến Việt Nam đầu tư, hợp tác Mặt khác việc quy định tiêu chí để xác định đối tượng là cá nhân
cư trú vẫn còn một số bất cập có thể dẫn đến mất công bằng như đã phân tích ở trên
Do đó theo người viết, đối với những đối tượng có công việc đặc thù buộc phải ở lại ngay nơi làm việc chỉ nên áp dụng tiêu chí 183 ngày để xác định có phải là cá nhân cư trú hay không, như vậy sẽ phù hợp với quy định của Luật nhà ở 2005 Bên cạnh đó cũng sẽ dễ dàng hơn trong công tác quản lý thuế đối với các đối tượng này so với quy định hiện tại, bởi nếu theo tiêu chí 90 ngày thì thực tế những đối tượng này do yêu cầu tính chất của công việc sẽ không ổn định khi ở Việt Nam nên việc đăng ký thuế, cấp
mã số thuế, đăng ký kê khai, hồ sơ người phụ thuộc, giảm trừ gia cảnh rất khó để xác định đúng
2.2 Trong việc xác định thu nhập chịu thuế
Có thể hiểu thu nhập là số của cải thu được của một cá nhân trong khoảng thời gian nhất định Trong nền kinh tế thị trường thì thu nhập của cá nhân rất đa dạng, có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau, tùy theo tiêu chí phân chia mà có thể có các loại thu nhập như: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên; thu nhập thực tế phát sinh và thu nhập tiềm năng; thu nhập phát sinh ở trong nước và thu nhập phát sinh
Trang 21ở nước ngoài; thu nhập hợp pháp và thu nhập bất hợp pháp Theo đó, pháp lệnh về thuế thu nhập cao đã chia thu nhập chịu thuế của cá nhân thành hai loại là thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên để áp dụng biểu thuế và mức thuế suất với hai loại thu nhập là khác nhau Đối với thu nhập thường xuyên được tạm nộp hàng tháng và được quyết toán vào cuối năm, trong khi đó đối với thu nhập không thường xuyên phải nộp ngay khi nhận thu nhập cuối năm không nhận quyết toán Dẫn đến sự mất công bằng trong điều tiết thu nhập dễ gây ra hiện tượng trốn thuế Để khắc phục tình trạng đó cũng như cùng với quá trình phát triển kinh tế toàn cầu làm cho số lượng người đầu tư vào thị trường tăng lên đặt ra vấn đề kiểm soát thu nhập đối với tất cả nguồn thu, thông qua việc mở rộng diện điều chỉnh, áp dụng hầu hết đối với cá nhân
có thu nhập, không phân biệt cá nhân kinh doanh hay không kinh doanh, cá nhân là người nước ngoài hay công dân Việt Nam mà theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần IX và
X đã xác định "Áp dụng thuế thu nhập cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển" và "Hoàn thiện
hệ thống thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp
lý thu nhập" Cần xác định, Thuế thu nhập cá nhân không phải là thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao cho nên hễ cá nhân có thu nhập là phải chịu thuế thu nhập cá nhân, dĩ nhiên thu nhập tính thuế là sau khi trừ đi các khoản thiết yếu để tạo ra thu nhập đó như: chi phí sinh hoạt bình quân của người nộp thuế; chi phí nuôi dưỡng người phụ thuộc; chi phí tạo ra thu nhập (tiền đầu tư vốn, chi phí kinh doanh); chi phí phục hồi sức lao động hoặc bồi thường (tiền khám chữa bệnh không do bảo hiểm chi trả, tiền bồi thường thiệt hại đồng nghĩa với việc người có thu nhập thấp cũng có thể phải nộp thuế, đây không phải là tận thu mà là mở rộng và tạo nguồn cho ngân sách Nhà nước, bởi để tồn tại và hoạt động, nhà nước cần phải chi tiêu, chi cho: duy trì quân đội để bảo vệ đất nước; duy trì công an để bảo vệ trật tự trị an; duy trì bộ máy nhà nước để cung cấp các dịch vụ khác cho công chúng, rồi giáo dục, y tế, đầu tư cơ
sở hạ tầng, chi trả gốc và lãi vay Nói cách khác, nhà nước cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho đời sống, mà chúng ta vẫn coi là nghiễm nhiên và chỉ khi thiếu chúng thì mới thấy hết tầm quan trọng (như khi có cướp bóc, rối loạn, bất ổn xã hội, ) Tiền cho các khoản chi đó được lấy ra từ đâu? Những khoản thu chính của nhà nước có thể phân thành các loại sau: các khoản thuế và có tính chất thuế; thu từ bán tài sản nhà nước (bán nhà công, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, và nhiều nhất hiện nay là bán tài
nguyên thiên nhiên); vay trong và ngoài nước Tài nguyên bán mãi rồi cũng hết Vay
Trang 22thì thế hệ sau phải trả Nợ nước ngoài của ta hiện nay khoảng 18 tỉ USD, cộng với nợ trong nước thì khoản nợ cũng không phải nhỏ và nhiều món đã bắt đầu phải trả gốc Nói như thế để thấy về lâu dài nguồn thu chính của ngân sách là từ các khoản thuế của nhân dân và các doanh nghiệp Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế quan trọng Có thể nói Nhà nước là người cung cấp dịch vụ, người dân, các doanh nghiệp là những người hưởng dịch vụ, và thuế là cách họ “trả tiền” cho các dịch vụ đó, trình bày như thế để thấy nghĩa vụ đóng thuế và việc mở rộng đối tượng chịu thuế trong thuế thu nhập cá nhân có cái lí của nó Mặt khác bản chất của thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của cá nhân phát sinh từng lần hoặc trong khoảng thời gian nhất định từ một nguồn thu xác định Vấn đề đặt ra trong luật thuế thu nhập cá nhân là xác định khoản thu nhập chịu thuế để đảm bảo lợi ích của Nhà nước và người nộp thuế, đảm bảo công bằng giữa các cá nhân nộp thuế
Về nguyên tắc công bằng trong luật thuế thu nhập cá nhân thì bất cứ cá nhân cư trú
có thu nhập phát sinh trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam đều phải tính đó là khoản thu nhập chịu thuế, nên đòi hỏi các quy định về thuế thu nhập cá nhân nêu được hết các nguồn thu nhập thường xuyên hay không thường xuyên hợp pháp của cá nhân, vì vậy mà tại Điều
3 Luật thuế thu nhập cá nhân có quy định thu nhập chịu thuế bao gồm từ: kinh doanh; tiền lương, tiền công; đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn; từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng; từ bản quyền; nhượng quyền thương mại; từ nhận thừa
kế là chứng khoán; phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh; bất động sản
và các tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng Nhưng điều quan trọng là để thu được thuế và tạo ra sự công bằng giữa các cá nhân nộp thuế thì Nhà nước phải quản lý và kiểm soát được tất cả các thu nhập phát sinh của đối tượng nộp thuế Nếu khả năng kiểm soát các khoản thu nhập cá nhân của Nhà nước tốt thì việc
mở rộng các khoản thu nhập của cá nhân phải chịu thuế mà vẫn đảm bảo tính khả thi của luật và nguyên tắc công bằng trong việc cá nhân thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước Thế nhưng đối với nước ta khả năng kiểm soát thu nhập còn hạn chế, cá nhân vẫn còn thói quen dùng tiền mặt thì để đảm bảo nguyên tắc công bằng và khả thi thì nên quy định thu nhập chịu thuế phải là những khoản thu nhập hợp pháp thực tế đã phát sinh và Nhà nước có thể kiểm soát được, cụ thể như:
2.2.1 Thu nhập từ kinh doanh
Theo khoản 1 Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân:
Thu nhập từ kinh doanh bao gồm:
Trang 23a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ;
b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật
Việc mở rộng các thu nhập chịu thuế góp phần tạo bình đẳng, công bằng trong nghĩa
vụ thuế giữa các cá nhân, nếu cùng là thu nhập do cá nhân tạo ra phải được đối xử như nhau, bảo đảm nguyên tắc Thuế thu nhập doanh nghiệp điều tiết vào thu nhập của doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân điều tiết vào thu nhập của cá nhân không phân biệt nguồn tạo ra thu nhập từ kinh doanh hay làm công ăn lương Tuy nhiên theo Luật doanh nghiệp 2005 quy định có đến bốn loại hình doanh nghiệp là: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh Như vậy, các khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động đầu tư vốn vào các loại hình doanh nghiệp trên đây phải được đánh thuế như thế nào để đảm bảo công bằng, điều tiết chính xác thu nhập của cá nhân vào Thuế thu nhập cá nhân? Để trả lời cho câu hỏi này thì cần nhớ lại nguyên tắc xác định đối tượng nộp thuế, thuế thu nhập là thuế trực thu, đánh trực tiếp trên thu nhập của tổ chức, cá nhân nên chủ thể nào có thu nhập thì chủ thể ấy
là đối tượng chịu thuế đồng thời là đối tượng nộp thuế hay nói cách khác doanh nghiệp chịu thuế thu nhập doanh nghiệp thì chủ sở hữu của nó chỉ phải chịu thuế thu nhập cá nhân khi chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp là những chủ thể độc lập nhau
Về mặt pháp lý, doanh nghiệp được xem là độc lập khi có tư cách pháp nhân mà theo quy định tại Điều 84 BLDS 2005 quy định bốn tiêu chí xác định tư cách pháp nhân của một tổ chức, theo đó một tổ chức có tư cách pháp nhân nếu: thứ nhất, được thành lập hợp pháp; thứ hai, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; thứ ba, có tài sản độc lập với
cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; thứ tư, nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Doanh nghiệp nếu thỏa mãn đồng thời các dấu hiệu trên được coi là pháp nhân kinh doanh, tuy nhiên trong phần phân tích về nghĩa vụ thuế của cá nhân này yếu tố quan trọng có vai trò quyết định đến tư cách pháp nhân của một tổ chức là tổ chức đó phải có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình Từ các lập luận trên đối chiếu với mô hình của bốn danh nghiệp hiện nay ta thấy:
Thứ nhất, đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân Hiểu theo luật doanh nghiệp
2005, đây là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ sở hữu, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp hay nói cách khác chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ phát sinh trong mọi hoạt động của doanh nghiệp Với nguyên tắc mỗi khoản thu nhập phát sinh chỉ chịu một lần
Trang 24thuế thu nhập nên việc đưa chủ doanh nghiệp tư nhân vào đối tượng nộp loại thuế nào
là tùy thuộc vào chủ trương khuyến khích của Nhà nước Nếu như Pháp lệnh về thu nhập đối với người có thu nhập cao quy định thu nhập của cá nhân kinh doanh thuộc diện điều chỉnh của Thuế thu nhập doanh nghiệp dẫn đến tình trạng cũng cùng là thu nhập do cá nhân tạo ra nhưng thu nhập từ kinh doanh không được trừ khởi điểm mà nộp theo thuế suất 28% và không được chiết giảm trừ gia cảnh, trong khi đó thu nhập
từ tiền lương, tiền công trên mức khởi điểm 05 triệu đồng mỗi tháng mới nộp thuế và
áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần từ 0% đến 40% và có tính đến giảm trừ gia cảnh Quy định này dẫn đến hệ quả là cùng với một mức thu nhập 10 triệu đồng/ tháng, cá nhân có thu nhập từ kinh doanh phải nộp thuế 28% trên tổng thu nhập tương đương 2,8 triệu đồng, cá nhân có thu nhập từ tiền lương nộp 0,5 triệu đồng tức 5% trên thu nhập Ngược lại cá nhân có mức thu nhập đến 100 triệu đồng/ tháng thì người có thu nhập từ tiền lương nộp thuế 31,5% trên thu nhập, người có thu nhập từ kinh doanh chỉ nộp 28% trên tổng thu nhập Do đó nếu so sánh tương quan giữa các cá nhân thì thấy
rõ mâu thuẫn phát sinh đó là chính sách thuế đang điều tiết cao đối với người có thu nhập thấp, điều tiết thấp đối với người có thu nhập cao Chính những bất cập này mà việc đưa cá nhân kinh doanh vào diện nộp Thuế thu nhập cá nhân, áp dụng thống nhất biểu thuế lũy tiến từng phần, được giảm trừ gia cảnh, được trừ các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo như cá nhân có thu nhập từ tiền công, tiền lương là hợp lý Do đó, xét
về bản chất pháp lý thì áp dụng luật Thuế thu nhập cá nhân đối với những đối tượng như chủ doanh nghiệp tư nhân mới công bằng giữa các đối tượng chịu thuế Tuy nhiên hiện nay chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp với lý do hiện nay hầu hết doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, vốn ít, là một loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Vì vậy, Quốc hội đã biểu quyết tiếp tục áp dụng Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân mà không chuyển sang thu thuế thu nhập cá nhân, thực hiện chủ trương khuyến khích người dân trực tiếp đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh, thành lập doanh nghiệp mới Nhưng điều này chưa hoàn toàn hợp lý bởi theo lý luận trên thì dù doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn đến đâu đi chăng nữa thì cũng không thể nào thu được thuế thu nhập cá nhân
Thứ hai, đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Luật doanh nghiệp 2005 quy định công ty trách nhiện hữu hạn một thành viên là do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn đã đưa vào kinh doanh, tức là có sự
Trang 25tách bạch về mặt tài sản của chủ sở hữu công ty với bản thân công ty Trở lại với nguyên tắc trực thu, chủ thể nào phát sinh thu nhập chịu thuế thì chủ thể đó trở thành đối tượng nộp thuế thu nhập, do đó công ty phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và chủ sở hữu của nó phải nộp thuế thu nhập cá nhân
Luật Doanh nghiệp 2005 còn quy định hai loại hình doanh nghiệp khác mà ở đó chủ
sở hữu doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của doanh nghiệp, đó
là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty cổ phần Theo đó thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty, còn cổ đông công ty cổ phần chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Như vậy
dù có sự khác biệt về cách thức góp vốn và giới hạn trách nhiệm của thành viên (cổ đông) công ty với các khoản nợ của công ty nhưng cả hai loại hình này chủ sở hữu doanh nghiệp đều không phải trả nợ thay cho doanh nghiệp, tức là có sự tách bạch giữa doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp Do đó đối với hai loại hình này thì đồng thời với việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp thì chủ sở hữu công ty vẫn phải nộp thuế thu nhập cá nhân bởi công ty và chủ sở hữu công ty là những chủ thể độc lập với nhau Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của cổ đông công ty cổ phần là cổ tức nhận được
từ việc góp vốn cổ phần và đối với thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn là phần lợi tức nhận được trên vốn góp
Ngoài ra còn loại hình doanh nghiệp nhiều chủ khác mà việc xác định thu nhập chịu thuế khá phức tạp đó là công ty hợp danh Theo quy định tại điều 130 Luật doanh nghiệp 2005 thì công ty hợp danh là loại hình doanh nghiệp có ít nhất hai cá nhân hợp danh, ngoài ra có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty, trong khi đó thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Mặt khác có hai loại công ty hợp danh, một là công ty chỉ có thành viên hợp danh; hai là công ty vừa có thành viên hợp danh vừa có thành viên góp vốn Do đó điểm đặc biệt ở công ty hợp danh loại hai cần phân tích về trách nhiệm thuế ở chỗ công ty có hai loại thành viên với địa vị pháp lý hoàn toàn khác nhau Thu nhập của công ty cũng chính là thu nhập của các thành viên hợp danh, do vậy nếu công ty đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp thì thành viên hợp danh không phải nộp thuế thu nhập
cá nhân để tránh tình trạng đánh thuế trùng mặt khác tạo công bằng cho đối tượng nộp thuế Trong khi đó thu nhập từ việc góp vốn vào công ty hợp danh của thành viên góp vốn vẫn phải chịu thuế thu nhập cá nhân bởi họ và công ty có sự độc lập về tài sản
Trang 26Tuy nhiên luật thuế thu nhập cá nhân không quy định rõ thu nhập của thành viên hợp danh có phải chịu thuế hay không nhưng tại Thông tư 84/ 2008/ TT- BTC ngày 30/9/2008 hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân cho rằng lợi tức góp vốn vào công ty hợp danh được coi là thu nhập chịu thuế Như vậy thành viên hợp danh vẫn phải nộp thuế thu nhập cá nhân đồng thời với việc công ty nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Rõ ràng có sự bất hợp lý trong nghĩa vụ thuế của các thành viên hợp danh bởi tình cảnh "một cổ, hai tròng", phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty, vừa phải nộp thuế thu nhập cá nhân, trong khi khoản thu nhập
đó cũng phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
Khi cá nhân có thu nhập từ kinh doanh thì thu nhập chịu thuế được Luật thuế thu nhập cá nhân xác định như sau:
Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh được xác định bằng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế từ kinh doanh trong kỳ tính thuế 8
Việc xác định doanh thu, chi phí dựa trên cơ sở định mức tiêu chuẩn, chế độ về chứng
từ, sổ sách kế toán theo quy định của pháp luật 9
Đối với cá nhân kinh doanh chưa tuân thủ đúng chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ
mà không xác định được doanh thu, chi phí và thu nhập chịu thuế thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu, tỷ lệ thu nhập để xác định thu nhập chịu thuế phù hợp với từng ngành, nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật về quản lý thuế
Như vậy có hai cách xác định thu nhập chịu thuế của cá nhân kinh doanh tương ứng với hai trường hợp: thứ nhất, đối với cá nhân kinh doanh chấp hành đúng chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ; thứ hai, đối với cá nhân kinh doanh không chấp hành đúng chế độ hóa đơn chứng từ sẽ được ấn định (khoán) doanh thu, thu nhập chịu thuế Việc
ấn định doanh thu trong trường hợp này nếu được nghĩ theo hướng là một biện pháp tạo ra sự đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng, tránh thất thu với đối tượng này thì cũng tạo ra
sự phân biệt đối xử về thuế giữa các cá nhân kinh doanh, đó là việc xác định số thuế phải nộp Có thể trong cùng một điều kiện kinh doanh như nhau nhưng số thuế phải nộp đối với hai đối tượng trên là khác nhau, mặc dù việc ấn định thuế được xây dựng phù hợp với từng ngành nhưng vẫn mang tính tương đối
Việc đưa đối tượng là cá nhân hành nghề độc lập có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật có hoặc không có văn phòng hoặc địa điểm hành
8 Điều 10, khoản 4 luật thuế thu nhập cá nhân
9 Điều 3, khoản 2 – Luật thuế thu nhập cá nhân
Trang 27nghề cố định như: ca sĩ, nghệ sĩ, nhạc sĩ, luật sư, bác sĩ, kế toán, kiểm toán, kiến trúc sư vào đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân có thu nhập chịu thuế từ kinh doanh đòi hỏi những đối tượng này phải có giấy phép chứng chỉ hành nghề không chỉ là nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế mà còn là trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế bởi có thể nói đối với điều kiện hiện tại của Việt Nam, khó khăn lớn nhất trong việc đảm bảo tính công bằng khi thực thi Luật thuế thu nhập cá nhân là tình trạng kém minh bạch về thu nhập của đại bộ phận dân cư10 Từ trước đến nay, ai cũng biết là mức lương chính thức (theo bảng lương) của người lao động là không đủ sống Cụ thể số người đóng thuế thu nhập cá nhân từ tiền công, tiền lương năm 2009 chỉ 300.000 người chiếm 0,65% lực lượng lao động Thế nhưng cuối cùng nói chung ai cũng sống và không những thế, một
bộ phận không nhỏ sống hết sức sung túc với nhà cửa, xe cộ và dịch vụ đắt tiền Từ
đó cho thấy vấn đề lớn đặt ra là phải kiểm soát kiểm soát được thu nhập của dân cư, muốn được vậy thì cần có sự tham gia tích cực, đồng bộ từ hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan chi trả thu nhập đến mỗi người dân trong xã hội, trong đó:
- Giải pháp kiểm soát thu nhập hữu hiệu hàng đầu là mở tài khoản bắt buộc để tiếp nhận các khoản thu nhập phát sinh Mặc dù hiện nay Ngân hàng Nhà nước đang triển khai thực hiện chiến lược thanh toán không dùng tiền mặt tầm nhìn đến năm 2020 trên phạm vi cả nước và đã thực hiện qua ba giai đoạn: giai đoạn 2007 – 2008 thực hiện ở một số cơ quan trung ương và địa phương có điều kiện như Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chi Minh; giai đoạn 2008 – 2010 triển khai trên cả nước và giai đoạn sau 2010 áp dụng đối với tất cả các cơ quan, đơn vị hưởng lương ngân sách Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại những giải pháp này chỉ tỏ ra có hiệu quả và triển khai thuận lợi tại khu vực thành thị, nơi dịch vụ ngân hàng phát triển Do đó khi mà quy trình quản lý thu nhập qua ngân hàng chưa hoàn thiện thì biện pháp để hạn chế thấp nhất những rủi ro, thất thoát thì cơ quan thuế chỉ có thể căn cứ vào những thông tin, dữ liệu của các cơ quan chi trả thu nhập, bên cạnh đó có thể dựa vào chính quyền, hội đồng tư vấn thuế của xã, phường – lực lượng có thể nắm rõ tình hình ở địa phương để có được những thông tin về thu nhập của cá nhân một cách chính xác, nhất là cá nhân kinh doanh Tuy nhiên đối với các khoản thu nhập từ quà tặng thì ngoài những khoản thu thêm mang tính chất tập thể ở cơ quan, đơn vị công tác (thu nhập hợp pháp), những cán bộ có chức quyền, tùy thuộc vào chức vụ, phạm vi quản lý còn có thu nhập từ đơn vị, cá nhân dưới quyền ở dạng "quà tặng" Món này có thể dưới dạng "phong bì" trong các
10
Bản chất của Thuế thu nhập cá nhân – TS Trần Đình Thiên, TS Vũ Thành Tự Anh, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 12 (76) tháng 6/2006
Trang 28dịp người có chức tới dự lễ, hội họp với các đơn vị dưới quyền hoặc khi cấp dưới đến thăm viếng cấp trên hoặc có thể là những khoảng đất, cổ phiếu không ghi danh với nhiều lợi lộc thì giải pháp tài khoản trong trường hợp này cũng không thể nào phát huy tác dụng Và do đó cần bổ sung trách nhiệm kê khai các khoản thu nhập bằng hiện vật hoặc tài sản Nội dung này cần phải được thể hiện đầy đủ trong bảng kê khai thu nhập hàng quý bên cạnh danh mục thu nhập bằng tiền kê từ tài khoản ngân hàng
- Với điều kiện hiện tại của nước ta khi mà thói quen mua sắm, thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ chủ yếu sử dụng tiền mặt thì phương pháp khấu trừ tại nguồn sẽ phát huy hiệu quả bởi theo phương pháp này thì pháp luật buộc các cơ quan, tổ chức chi trả thu nhập khi trả thu nhập cho cá nhân có nghĩa vụ khấu trừ số tiền thuế thu nhập của cá nhân trước khi trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế để nộp thay số tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước Và nếu các cơ quan này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì cần có chế tài đủ mạnh để buộc cơ quan chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ một cách nghiêm túc với vị thế của một "người" trong cuộc (trong quan hệ pháp luật thuế có hai chủ thể tham gia là đối tượng nộp thuế và Nhà nước với đại diện
là cơ quan thuế, cơ quan chi trả thu nhập chỉ là đối tượng hỗ trợ để Nhà nước thu được thuế) bởi cũng như các quan hệ xã hội khác được quy phạm pháp luật điều chỉnh, cá
cơ quan, cá nhân tổ chức khi rơi vào những tình huống như pháp luật dự định mà không đưa ra những cách thức xử sự theo dự liệu của Nhà nước thì sẽ bị xử lý Trong trường hợp này, để đảm bảo pháp luật thuế thu nhập cá nhân được thực hiện có hiệu quả, pháp luật đã quy định nguyên tắc khấu trừ tại nguồn Nguyên tắc này có phát huy được tác dụng hay không phụ thuộc nhiều vào cơ quan chi trả thu nhập Lúc này vai trò của các cơ quan này rất quan trọng do đó trong luật thuế thu nhập cá nhân cần phải
có những điều luật quy định về nguyên tắc khấu trừ tại nguồn nhằm làm cơ sở cho công tác hành thu, bên cạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tổ chức có liên quan để có thể kiểm soát được nguồn thu nhập của cá nhân là đối tượng nộp thuế thì
cơ quan thuế phải có được trong tay đầy đủ thông tin liên quan đến cá nhân này Có ý kiến cho rằng nếu thực hiện theo đúng quy định tại Điều 16, Luật quản lý thuế thì sẽ vi
phạm nghĩa vụ về bảo mật thông tin của khách hàng: "Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khác trong việc tham gia quản lý thuế:
a) Cung cấp thông tin có liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế;
b) Phối hợp thực hiện các quyết định xử lý vi phạm các pháp luật về thuế;
Trang 29c) Tố giác các hành vi vi phạm pháp luật về thuế;
d) Yêu cầu ngưòi bán hàng, người cung cấp dịch vụ phải giao hóa đơn, chứng từ bán hàng hóa, dịch vụ đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực khi thanh toán mua hàng hóa dịch vụ" Tuy nhiên theo người viết việc cung cấp thông tin của các cá nhân
tổ chức có liên quan không hề vi phạm pháp luật bởi mục đích của việc lý thông tin là nhằm phục vụ cho nhu cầu quản lý của Nhà nước, không làm phương hại đến quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Mặt khác, tính công bằng của luật thuế thu nhập cá nhân thể hiện ở mức độ tuân thủ và các loại thu nhập thuộc diện chịu thuế Người ta sẽ so sánh và cho là không công bằng nếu họ có thu nhập đến một mức nhất định thì phải nộp thuế nhưng người khác có thu nhập cao hơn thì không phải nộp thuế chứ ít ai so sánh tại sao người khác có thu nhập thấp hơn lại không phải chịu thuế
2.2.2 Thu nhập từ tiền lương, tiền công
Khi nói đến thu nhập cá nhân, có lẽ thu nhập từ tiền lương, tiền công là đối tượng được nghĩ đến đầu tiên bởi sự liên quan mật thiết của khoản thu nhập này đến mỗi cá nhân trong xã hội Và để xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương tiền công Luật thuế thu nhập cá nhân quy định như sau:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản thu nhập có tính chất tiền lương, tiền công; b) Các khoản phụ cấp, trợ cấp trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc theo quy định của Bộ luật lao động, các khoản trợ cấp khác do bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội
c) Tiền thù lao dưới các hình thức;
d) Tiền nhập được từ tham gia các hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức;
đ) Các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền;
e) Tiền thưởng, trừ các khoản tiền thưởng có kèm theo danh hiệu Nhà nước phong tặng, tiền kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, giải thưởng về
Trang 30cải tiến kỷ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận, tiền thưởng về việc phát hiện khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước 11
Như đã đề cập ở phần đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân là khi xây dựng Luật thuế thu nhập cá nhân phải xét đến các chính sách xã hội Tuy nhiên nếu đưa quá nhiều chính sách vào trong Luật thì khó đảm bảo công bằng theo chiều ngang, phân tích các quy định về miễn thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công sẽ thấy được điều này
Tại Điều 4 khoản 9 Luật thuế thu nhập cá nhân có quy định miễn thuế đối với: Phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật Trong khi đó pháp luật lao
động không khuyến khích người sử dụng lao động yêu cầu người lao động làm thêm giờ, cụ thể Luật lao động năm 1994 (được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007) quy định người lao động làm thêm không quá 4 giờ trong một ngày và 200 giờ trong một năm Thời gian làm thêm giờ là sự thỏa thuận giữa người lao động và người
sử dụng lao động Do đó, việc quy định miễn thuế đối với phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật sẽ tạo ra sự bất bình đẳng với những người làm việc ban đêm, làm thêm giờ như: học tập, nghiên cứu để công việc ban ngày được hiệu quả, chất lượng hơn thì phần thu nhập tăng thêm của đối tượng này không thể tính được do đó không tính được miễn thuế Nên để đảm bảo nguyên tắc công bằng giữa các đối tượng lao động khi tạo ra thu nhập và không phức tạp trong quá trình tính thuế thì không nên quy định miễn thuế đối với phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật
2.2.3 Thu nhập từ đầu tư vốn
Bao gồm các khoản thu nhập sau:
a)Tiền lãi cho vay;
11 Điều 3 khoản 3 – luật thuế thu nhập cá nhân
12 Điều 4 khoản 7 – luật thuế thu nhập cá nhân
Trang 31cùng một hình thức là đầu tư vốn nhưng Luật thuế thu nhập cá nhân chưa thu thuế đối với thu nhập từ tiền lãi gửi các tổ chức tín dụng, lãi từ bảo hiểm hợp đồng nhân thọ 13, tiền lãi từ trái phiếu Chính phủ Như vậy Luật thuế thu nhập cá nhân có đảm bảo công bằng khi phân biệt các thu nhập trên hay không?
Thứ nhất, đối với tiền lãi gửi các tổ chức tín dụng, phần lớn tiền gửi là của người có thu nhập thấp, người gửi tiền thường với mục đích là bảo toàn giá trị đồng tiền gửi tiết kiệm trong bối cảnh trượt giá trên thị trường, người không có khả năng đầu tư vốn để kinh doanh Mặt khác việc đánh thuế vào tiền gửi tiết kiệm có thể gây ra các hậu quả: giảm hiệu quả huy động vốn trong xã hội, tác động đến người gửi tiết kiệm dùng khoản lãi chi cho tiêu dùng, việc đánh thuế còn ít ý nghĩa khi nước ta vẫn còn trong tình trạng lạm phát cao tuy những hậu quả này có thể ảnh hưởng ít nhiều đến các chủ thể khác nhau là ngân hàng, người nộp thuế và nền kinh tế nói chung nhưng nếu sử dụng linh hoạt công cụ thuế suất để điều chỉnh hợp lý thì có thể giảm tác động tiêu cực, tạo nguồn thu cho ngân sách và quan trọng hơn là tạo công bằng giữa các đối tượng chịu thuế bằng cách không điều chỉnh vào khoản tiền của người dân mang tính gom góp để dành mà chỉ thu thuế khi khoản tiền gửi đó đạt đến mức độ nhất định nghĩa là nhằm vào tiền đầu tư bằng tiền gửi tiết kiệm của người dân thì sẽ đảm bảo công bằng hơn là loại hẳn khoản thu nhập này ra khỏi đối tượng chịu thuế Bên cạnh
đó việc xác định thu nhập của cá nhân từ tiền gửi tiết kiệm trên thực tế là rất khó nhưng với tư cách là đơn vị chi trả phải có trách nhiệm tính, kê khai và khấu trừ tại nguồn, khi đó mọi tổ chức tín dụng đóng vai trò là đại lý cho cơ quan thuế Với phương pháp này sẽ đảm bảo thu đúng, thu đủ đảm bảo được nguyên tắc công bằng của mọi đối tượng có thu nhập phát sinh
Như vậy đối với thu nhập từ tiền lãi gửi các tổ chức tín dụng nếu đảm bảo được phương pháp tính thuế, quản lý thuế với chi phí nhỏ nhất, đảm bảo được công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế, đồng thời không làm ảnh hưởng đến việc huy động vốn của
hệ thống ngân hàng, không làm tăng lãi suất huy động và mức lạm phát, đảm bảo người gửi tiền được hưởng phần lãi suất thực thì việc đưa khoản thu nhập này vào đối tượng nộp thuế vẫn khả thi, là nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Thứ hai, đối với tiền lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: về lý thuyết bảo hiểm nhân thọ là một hình thức bảo hiểm kết hợp với tiết kiệm Người tham gia bảo hiểm vừa nhằm mục đích hạn chế thiệt hại do rủi ro có khả năng phát sinh đồng thời nhằm tạo ra một khoản thu nhập cho người thụ hưởng trong tương lai khi tham gia bảo hiểm và
13 Điều 3 khoản 5 – Luật thuế thu nhập cá nhân
Trang 32thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, người được bảo hiểm được tiền bảo hiểm khi hợp đồng đáo hạn, khi đó tiền bảo hiểm được công ty bảo hiểm cam kết chi trả được tính trên khoản tích lũy từ phí bảo hiểm nhân thọ cùng với một khoản lãi do công ty kinh doanh mà có được Thực tế mức lãi suất trả thấp hơn lãi suất huy động của hoạt động thương mại và không phải mọi hợp đồng bảo hiểm đều có sự tách bạch rõ ràng giữa khoản tích lũy và khoản tiền lãi Do đó đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể không đưa tiền lãi từ hợp đồng bảo hiểm vào đối tượng chịu thuế nhưng có thể quy định khoản tiền bảo hiểm nhận được từ công ty bảo hiểm khi đáo hạn vào đối tượng chịu thuế trên cơ sở xác định mức thuế suất hợp lý dựa trên chỉ số tiền lãi do công ty bảo hiểm trong nước dự kiến
Thứ ba, đối với lãi từ trái phiếu chính phủ: Nếu hoạt động kinh doanh trái phiếu Chính phủ phải chịu thuế, hiển nhiên lãi suất trái phiếu phải tăng lên tương ứng, sẽ không có lợi trong điều hành kinh tế vĩ mô vì sẽ thúc đẩy mặt bằng lãi suất Ngân hàng lên và từ đó thúc đẩy lạm phát cao Thế nhưng không thể vì vậy mà đưa khoản thu nhập này vào đối tượng miễn thuế nếu xét ở góc độ công bằng so với những hình thức đầu tư khác Bởi lẽ, Nhà nước trong mối quan hệ với những người nắm giữ trái phiếu cũng giống như những tổ chức phát hành khác, đây là quan hệ dân sự nên không thể có đặc quyền dành riêng cho Nhà nước Thiết nghĩ, Nhà nước cần thu hút nguồn vốn đầu
tư thông qua uy tín và niềm tin từ nhà đầu tư, chứ không phải tạo ra vị thế cao hơn so với những tổ chức khác trong việc phát hành các công cụ vay nợ Tuy nhiên nếu đánh thuế vào chênh lệch giá mua, giá bán thì ai sẽ là người đóng thuế Đi sâu vào bản chất vấn đề thì không phải người đầu tư đóng thuế mà chính là Chính phủ phải đóng thuế Như vậy, một điều có thể thấy rõ là bên cạnh nguyên tắc công bằng, khi Nhà nước xây dựng luật thuế cũng phải xem đến tính lợi ích, khả thi của từng loại thu nhập Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là nguyên tắc công bằng trong trường hợp này không còn nữa mà như phân tích ở trên, để cân bằng lợi ích về thuế giữa các chủ thể, đến chính sách vĩ mô của nề kinh tế thì tính công bằng vẫn có nhưng ở mức độ tương đối
2.2.4 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn
Bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế
b) Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán
c)Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác