1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP mức cấp DƯỠNG NUÔI CON KHI CHA mẹ LY hôn TRONG LUẬT hôn và GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH lý LUẬN và THỰC TIỄN

82 495 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 616,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, dựa theo quy định tại khoản 11 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về khái niệm cấp dưỡng: “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác

Trang 1

Đề tài:

MỨC CẤP DƢỠNG NUÔI CON KHI CHA MẸ LY HÔN TRONG LUẬT HÔN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

- -

Cần Thơ, ngày tháng năm 2012

Giảng viên hướng dẫn

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

- -

Cần Thơ, ngày tháng năm 2012 Hội đồng phản biện

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MỨC CẤP DƯỠNG NUÔI CON KHI CHA MẸ LY HÔN 4

1.1 Tìm hiểu chung về cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn 4

1.1.1 Khái niệm cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn 4

1.1.2 Đặc điểm cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn 5

1.2 Tìm hiểu chung về mức cấp dưỡng 9

1.2.1 Khái niệm mức cấp dưỡng 9

1.2.2 Đặc điểm của mức cấp dưỡng 11

1.3 Sự cần thiết của pháp luật quy định mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn 15

1.4 Lịch sử phát triển của pháp luật quy định về mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn 17

1.4.1 Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 17

1.4.1 Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 18

1.4.1 Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 20

CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ MỨC CẤP DƯỠNG NUÔI CON KHI CHA MẸ LY HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH 23

2.1 Chủ thể của quan hệ cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn 23

2.1.1 Người có nghĩa vụ cấp dưỡng 23

2.1.2 Người được cấp dưỡng 25

2.2 Căn cứ xác định mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn 30

2.2.1 Khả năng, thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng 30

Trang 5

2.2.2 Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng 34

2.3 Cách thức xác định mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn 36

2.3.1 Do vợ chồng thỏa thuận khi ly hôn 36

2.3.2 Do Tòa án quyết định 39

2.4 Thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn 40

2.4.1 Căn cứ thay đổi mức cấp dưỡng 40

2.4.2 Người có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng 42

2.4.3 Trình tự, thủ tục thay đổi mức cấp dưỡng 44

2.4.4 Hiệu lực của việc thay đổi mức cấp dưỡng 46

2 5 Các biện pháp chế tài thi hành thực hiện nghĩa vụ đóng góp mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn 47

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ MỨC CẤP DƯỠNG NUÔI CON KHI CHA MẸ LY HÔN 51

3.1 Thực tiễn áp dụng quy định mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn 51 3.1.1 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về căn cứ xác định mức cấp dưỡng nuôi con 51

3.1.2 Thực tiễn khi Tòa án xác định mức cấp dưỡng nuôi con tại thời điểm xét xử vụ ly hôn 56

3.1.3 Thực tiễn về việc đóng góp tiền cấp dưỡng khi có sự thay đổi người trực tiếp nuôi con 58

3.1.4 Thực tiễn vi phạm của cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc khấu trừ khoản tiền lương, tiền công của người có nghĩa vụ cấp dưỡng 60

3.2 Một số giải pháp góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật về mức cấp dưỡng nuôi con 63

3.2.1 Giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về căn cứ xác định mức cấp dưỡng nuôi con 63

3.2.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện về thời điểm làm định khung xác định mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn 65

3.2.3 Giải pháp khắc phục tình trạng không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ đóng góp mức cấp dưỡng khi có thay đổi người trực tiếp nuôi con 66

Trang 6

3.2.4 Giải pháp đảm bảo khấu trừ khoản tiền cấp dưỡng từ các cơ quan, tổ chức trả tiền lương, tiền công, thu nhập khác của người có nghĩa vụ cấp dưỡng 68

3.3 Một số kiến nghị 70 KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi cuộc sống vợ chồng rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được như ý nguyện thì ly hôn là lối thoát cho cuộc sống bế tắc của hai vợ chồng Nhưng hậu quả pháp lý và xã hội mà nó để lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến một đối tượng vốn là niềm hạnh phúc của hai vợ chồng - đó là những đứa con Những đứa trẻ ngây thơ vốn cần sự yêu thương, chăm sóc của cả cha và mẹ trong mái ấm gia đình, nhưng nay phải chịu cảnh gia đình tan nát, nếu không có sự bảo vệ sẽ rất dễ đánh mất cả tuổi thơ

và tương lai Vì vậy, vấn đề rất được xã hội quan tâm hiện nay khi vợ chồng ly hôn là bảo vệ quyền lợi của những đứa con thông qua ý nghĩa của mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn

Mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn là một chế định pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của con cái khi cha, mẹ ly hôn Việc đóng góp mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn là nghĩa vụ bắt buộc đối với người không trực tiếp nuôi con khi ly hôn, nhằm đảm bảo mức cấp dưỡng có thể đáp ứng chi trả cho các chi phí

về nhu cầu thiết yếu của con Qua đó, còn thể hiện mối quan hệ huyết thống, yêu thương, chăm sóc, của cha, mẹ đối với con Nó còn góp phần nâng cao tình đoàn kết, giúp đỡ giữa mọi người lẫn nhau trong xã hội

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời đã góp phần tích cực và quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn với những nội dung

cơ bản quy định về mức cấp dưỡng Tuy nhiên, bên cạnh những tác dụng lớn lao

từ quy định về mức cấp dưỡng đem lại, trên thực tế vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khiến quyền lợi của con cái chưa được đảm bảo khi cha, mẹ ly hôn Một trong những nguyên nhân khiến quyền lợi của con cái chưa thật sự được bảo đảm là do hiện tại Luật hôn nhân và gia đình cùng các văn bản hướng dẫn có liên quan chỉ có quy định về mức cấp dưỡng áp dụng cho các nghĩa vụ cấp dưỡng mà chưa có quy định cụ thể,

rõ ràng về mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn Từ đó gây ra không ít khó khăn,

Trang 8

lúng túng cho các bên và Tòa án khi quyết định mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn, việc xác định mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn vẫn chưa đảm bảo được quyền lợi của con Do đó, việc đảm bảo quyền và lợi ích của con khi cha, mẹ ly hôn là rất quan trọng và có ý nghĩa thiết thực

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn của mình, người viết tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành, vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn Trên cơ sở đó người viết đưa ra giải pháp, kiến nghị góp phần hạn chế những vấn đề bất cập, thiếu sót còn tồn tại trong quá trình áp dụng những quy định pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trong luận văn của mình, người viết mong muốn tìm hiểu rõ hơn những quy định của pháp luật về liên quan đến mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn Dựa trên

cơ sở lý luận và thực tế tìm hiểu vấn đề, người viết sẽ đưa ra đánh giá về thực trạng đề tài mình nghiên cứu và quan điểm của bản thân về cách giải quyết thực trạng đó Đồng thời đưa ra một số giải pháp và kiến nghị mong góp phần hoàn thiện hơn quy định về mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn

4 Phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, người viết đã sử dụng một số phương pháp như: Phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp… nhằm giải quyết vấn đề một cách rõ ràng và hợp lý

5 Bố cục của đề tài

Bố cục của đề tài gồm lời nói đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo và ba chương với nội dung như sau:

Chương 1 Khái quát chung về mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn

Chương 2 Những quy định về mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn trong pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành

Chương 3 Thực tiễn và giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do kiến thức còn hạn chế, một phần do thời gian nghiên cứu không được nhiều nên luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót Người viết rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy, cô và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 9

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MỨC CẤP DƯỠNG NUÔI CON

KHI CHA MẸ LY HÔN

1.1 Tìm hiểu chung về cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn

1.1.1 Khái niệm cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn

Ly hôn là một hiện tượng xã hội xuất hiện ngày càng phổ biến và ngày càng được cộng đồng quan tâm vì những hậu quả nặng nề, không mong muốn của nó Nhưng hậu quả pháp lý và xã hội mà nó để lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến một đối tượng vốn là niềm hạnh phúc của hai vợ chồng - đó là những đứa con Những đứa trẻ ngây thơ vốn cần sự yêu thương, chăm sóc của cả cha và mẹ trong một gia đình êm ấm phải chịu cảnh gia đình tan nát, nếu không có sự bảo vệ sẽ rất dễ đánh mất cả tuổi thơ và tương lai Vì vậy, vấn đề cấp dưỡng nuôi con rất được xã hội quan tâm khi vợ chồng ly hôn nhằm bảo vệ quyền lợi của những đứa con Pháp luật đã đóng vai trò không thể thiếu để bảo vệ những đứa trẻ vô tội này Đó

là việc bảo vệ những đứa trẻ chưa thành niên, đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động, không có tài sản tự nuôi mình sau khi cha mẹ ly hôn

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con, đặc biệt trong trường hợp khi cha mẹ ly hôn Cụ

thể tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Khi ly hôn, cha

hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng lao động và không có tài sản

để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con” Như vậy, có thể thấy nghĩa vụ

cấp dưỡng của cha mẹ khi ly hôn là rất quan trọng đối với con Sau ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con Đó vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau khi ly hôn Việc cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con khi ly hôn là rất cần thiết đối với cuộc sống của con do đó nên cần có một khái niệm về cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn để hiểu rõ hơn việc cấp dưỡng nuôi con trong trường hợp

Trang 10

này, thế nhưng Luật hôn nhân và gia đình hiện hành và các văn bản hướng dẫn

có liên quan vẫn chưa có giải thích cụ thể về khái niệm này

Tuy nhiên, dựa theo quy định tại khoản 11 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia

đình năm 2000 về khái niệm cấp dưỡng: “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa

vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này” Khái niệm trên về

cấp dưỡng đã nêu được những nội dung chủ yếu của quan hệ cấp dưỡng như: Đối tượng được cấp dưỡng, điều kiện cấp dưỡng, mục đích của việc cấp dưỡng… Có thể nói đây là định nghĩa khá hoàn chỉnh về cấp dưỡng dưới góc độ pháp lý Từ khái niệm trên về cấp dưỡng, theo người viết hiểu về khái niệm cấp dưỡng nuôi

con khi ly hôn như sau: “đó là việc cha hoặc mẹ đóng góp bằng tiền hoặc tài sản

để nuôi con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất khả năng lao động hoặc đã thành niên mà không có tài sản để tự nuôi mình, khi cha hoặc mẹ không sống chung với con, không trực tiếp thực hiện việc nuôi con sau ly hôn” Qua

khái niệm trên cho thấy, việc đóng góp tiền hoặc tài sản của cha, mẹ khi ly hôn là rất quan trọng nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu của con khi con không thể tự nuôi sống bản thân mình Qua đó còn cho thấy, nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản để nuôi dưỡng con khi không trực tiếp nuôi con là nghĩa vụ bắt buộc của cha, mẹ

đối với con khi ly hôn

Như vậy, khi cha mẹ ly hôn con đã phải đứng trước tình cảnh thiếu thốn tình yêu thương, chăm sóc của cha mẹ, do đó việc cấp dưỡng của cha mẹ là rất cần thiết nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho con

1.1.2 Đặc điểm cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn

Qua sự phân tích về khái niệm cấp dưỡng và cấp dưỡng nuôi con khi cha

mẹ ly hôn có thể thấy, đặc điểm của quan hệ cấp dưỡng nuôi con có những đặc điểm của quan hệ cấp dưỡng như:

Thứ nhất, quan hệ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn là mối quan hệ nhân thân

gắn liền với tài sản của người cấp dưỡng Quan hệ cấp dưỡng nói chung và quan

Trang 11

hệ cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn nói riêng là một loại quan hệ nhân thân gắn liền với tài sản vì nó liên quan đến những lợi ích về tài sản của người cấp dưỡng khi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, đồng thời nó còn liên quan đến quyền

và lợi ích của con khi con nhận được tiền cấp dưỡng từ cha, mẹ Quan hệ nhân thân gắn liền với tài sản còn thể hiện ở chỗ: cha, mẹ người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con phải chu cấp một số tiền hoặc tài sản nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con Theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 thì việc cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi

ly hôn mà cụ thể khi thỏa thuận để xác định mức cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ

phải “căn cứ vào mức sinh hoạt trung bình tại địa phương nơi người được cấp

dưỡng cư trú, bao gồm các chi phí thông thường cần thiết về ăn, ở, mặc, học, khám chữa bệnh và các chi phí thông thường cần thiết khác để bảo đảm cuộc sống của người được cấp dưỡng” Vì lẽ đó, khi cấp dưỡng cho con cha mẹ cần

đặt biệt quan tâm đến nhu cầu cuộc sống của con mà có một thỏa thuận về mức cấp dưỡng cho phù hợp Hơn thế nữa, khi tìm hiểu về nghĩa vụ cấp dưỡng, có thể

thấy quan hệ cấp dưỡng là một quan hệ tài sản đặc biệt, “không thể thay thế bằng

nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác”1 vì nó gắn liền với nhân thân của người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng

là loại nghĩa vụ không bù trừ theo quy định của pháp luật2 Vì vậy, khi cấp dưỡng cho con cũng vậy, việc cấp dưỡng phải do chính người có nghĩa vụ thực hiện

bằng tiền hoặc tài sản của mình mà không phải là bất cứ ai khác

Thứ hai, quan hệ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn chỉ phát sinh giữa các

thành viên trong gia đình trên cơ sở huyết thống Khi ly hôn, mối quan hệ về hôn nhân giữ cha và mẹ chấm dứt, việc chăm sóc, giúp đỡ giữa vợ chồng có thể không như trước nữa Tuy nhiên, mối quan hệ về huyết thống giữa cha-con, mẹ-con là không bao giờ thay đổi, việc chăm sóc, nuôi dưỡng con là nghĩa vụ bắt buộc của cha mẹ đối với con, đặc biệt là đối với người không trực tiếp nuôi con Sau ly hôn người không trực tiếp nuôi con do không còn sống chung mái ấm với con, không trực tiếp thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng con nên phải có nghĩa

1

Trang 12

vụ chu cấp bằng một tiền hoặc tài sản khác (ví dụ: thuốc mem, quần áo, lương thực…) nhằm đảm bảo cho cuộc sống của con Đó là một trong những cơ sở để hình thành, tồn tại và phát triển mối quan hệ giữa cha, mẹ và con, đồng thời cũng

là nền tảng xây dựng quan hệ cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn

Như vậy, có thể thấy chính từ đặc điểm này của quan hệ cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn mà quan hệ cấp dưỡng được hình thành một cách tự nhiên trên

cơ sở đạo đức và nhu cầu tình cảm giữa con người với con người với nhau Đặc biệt là mối quan hệ mật thiết về huyết thống giữa cha, mẹ - con theo phong tục, tập quán Sau đó, quan hệ cấp dưỡng mới được điều chỉnh bởi các quan hệ pháp luật và trở thành quan hệ pháp luật

Thứ ba, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn là nghĩa vụ không mang

tính chất có đi có lại nhưng đồng thời và tuyệt đối Nghĩa vụ không mang tính chất có đi có lại nhưng đồng thời ở chỗ: đối với các quan hệ cấp dưỡng khác (ví dụ: cấp dưỡng giữa vợ chồng, cấp dưỡng giữa anh chị em với nhau…) các chủ thể đều có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau nếu một bên chủ thể rơi vào tình trạng khó khăn, túng thiếu cần được cấp dưỡng Nhưng trong quan hệ cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn trong cùng một thời điểm thì chỉ có thể một bên cấp dưỡng cho bên kia, không thể ngược lại là bên kia cấp dưỡng lại cho bên này Tiêu biểu

là trường hợp cấp dưỡng nuôi con khi con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự hoặc con đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình khi cha mẹ ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ được thực hiện bởi cha, mẹ đối với con chứ không thể là ngược lại con cấp dưỡng nuôi cha, mẹ, vì con còn qua nhỏ hoặc con mất năng lực hành vi dân sự, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động… người con trong trường hợp này không có khả năng cấp dưỡng cho cha, con cũng không có nghĩa

vụ cấp dưỡng cho cha và người cha cũng không cần con cấp dưỡng

Nghĩa vụ cấp dưỡng không mang tính chất tuyệt đối vì nghĩa vụ chỉ phát sinh khi có điều kiện nhất định Nó chỉ phát sinh khi người được cấp dưỡng gặp khó khăn, túng thiếu, không có khả năng lao động, không có tài sản tự nuôi mình… Riêng đối với trường hợp cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn thì điều kiện đó là con chưa thành niên, con mất năng lực hành vi dân sư, con đã thành

Trang 13

niên nhưng không có tài sản nuôi mình hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động…

Thứ tư, cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con

khi ly hôn Khi người người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng cùng sống chung thì người cấp dưỡng đã trực tiếp thực hiện những hành vi chăm sóc, nuôi dưỡng người được cấp dưỡng bằng hành vi của mình, do đó việc cấp dưỡng không đặt ra Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh khi người có nghĩa vụ nuôi dưỡng vì những hoàn cảnh nhất định không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người kia Khi vợ chồng ly hôn, do người có nghĩa vụ cấp dưỡng không trực tiếp thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng con, do đó, người này phải chu cấp một số tiền hoặc tài sản nhất định (ví dụ như: lương thực, thực phẩm, quần áo, thuốc men…) để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con, bảo đảm sự sống còn của con Trong quan hệ cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn khái niệm “không trực tiếp nuôi con” có thể hiểu do cha hoặc mẹ không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Không có đời sống chung giữa người này và con trong gia đình,

do phải sống xa nhau vì sự tan vỡ của gia đình Lúc đó, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của người không trực tiếp nuôi con sẽ được đặt ra

Theo quy định tại Điều 56 và Điều 92 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

thì “Khi ly hôn cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho

con” Theo tinh thần của nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP thì “đây là nghĩa vụ của cha, mẹ; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con” Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không

trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án

không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con” (Theo hướng dẫn tại mục 11 Nghị

quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)

Trang 14

Thứ năm, cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa

thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không

có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình khi ly hôn Đều đó đã được khẳng định tại Điều 56 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn

và Điều 92 Luật hôn nhân và gia đình 2000 về nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau ly hôn

Mối quan hệ cha mẹ - con không lệ thuộc vào tính chất của quan hệ riêng giữa cha và mẹ, bởi vậy, sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con vẫn luôn

có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con Tuy nhiên, Luật không quy định việc phân biệt con được cấp dưỡng là con ruột hay con nuôi mà chỉ đề cập con phải là con chung của vợ và chồng

Luật còn quy định về đối tượng được cha mẹ cấp dưỡng bao gồm tất cả các con chưa thành niên, hoặc con thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân

sự, không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình Điều 18 Bộ

luật dân sự 2005 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành

niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” Do đó, cần chú ý,

khi ly hôn con chưa thành niên thuộc diện được quy định tại Điều 18 Bộ luật dân

sự 2005 được xem là đối tượng được cấp dưỡng từ cha hoặc mẹ khi ly hôn Đối với con đã thành niên phải thõa mãn một số điều kiện nhất định như: con bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản

tự nuôi mình… thì mới được cấp dưỡng từ cha, mẹ Cha, mẹ cần cấp dưỡng nuôi con bằng việc chu cấp một số tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con, đảm bảo cuộc sống của con

1.2 Tìm hiểu chung về mức cấp dưỡng

1.2.1 Khái niệm mức cấp dưỡng

Thực tế trong đồi sống thường ngày ta vẫn rất thường nghe cụm từ “mức cấp dưỡng”, ai khi nắm bắt được một vài kiến thức về Luật hôn nhân và gia đình cũng có thể hiểu một khi nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh thì mức cấp dưỡng cũng

sẽ được đặt ra Có thể nói mức cấp dưỡng là điều kiện cần thiết để nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện Trong trường hợp vợ chồng ly hôn cũng vậy, việc cấp

Trang 15

dưỡng được thực hiện trên mức cấp dưỡng đã thỏa thuận của cha mẹ nhằm đảm bảo nghĩa vụ của người cấp dưỡng đồng thời cũng đảm bảo quyền lợi của con khi không còn sống chung với một trong hai người nữa Lúc này đòi hỏi phải tìm một định nghĩa cụ thể về mức cấp dưỡng để hiểu rõ hơn về mức cấp dưỡng nuôi con khi vợ chồng ly hôn

Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội nên nhu cầu của cá nhân cũng được nâng cao hơn, giá cả thị trường cũng tăng vọt theo bước tiến của xã hội, chính vì vậy khi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng các chủ thể ngày càng quan tâm đến mức cấp dưỡng sẽ được đặt ra Do đó, cần có khái niệm về mức cấp dưỡng

để hiểu rõ hơn về vấn đề này, từ đó góp phần giúp người nghiên cứu luật hiểu hơn về khái niệm mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn Hiện nay qua tìm hiểu một

số ý kiến về khái niệm mức cấp dưỡng của một số học giả thì theo quan điểm của

tiến sĩ Ngô Thị Hường đưa ra khái niệm về mức cấp dưỡng như sau: “Mức cấp

dưỡng là một khoản tiền, lương thực hoặc tài sản khác mà bên phải cấp dưỡng đóng góp cho bên cấp dưỡng để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng” 3

Theo định nghĩa trên thì một số tiền hoặc tài sản khác sử dụng vào việc

thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được xem là mức cấp dưỡng Mức cấp dưỡng được

ghi nhận một cách cụ thể và chi tiết

Đó là định nghĩa về mức cấp dưỡng được người viết tìm hiểu thông qua quan điểm luật gia Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa tìm thấy khái niệm cụ thể nào về mức cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con khi vợ chồng ly hôn được quy định tại Luật hôn nhân và gia đình hiện hành và các văn bản hướng dẫn liên quan Tuy nhiên, từ một số quy định có liên quan đến mức cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi vợ chồng ly hôn tại Điều 53, Điều 56, Điều 92 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và giải thích về khái niệm mức cấp dưỡng của tiến sĩ Ngô Thị Hường, theo người viết có thể hiểu khái niệm mức cấp dưỡng và

mức cấp dưỡng nuôi con khi vợ chồng ly hôn như sau: “Mức cấp dưỡng là số

tiền hoặc tài sản khác có thể định giá bằng tiền, số tiền này được định ở mức

3 Ngô Thị Hường: Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, tr

Trang 16

khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh của người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng nhằm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của người cấp dưỡng đối với người được cấp dưỡng” Từ khái niệm mức cấp dưỡng có thể hiểu

“mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn là số tiền hoặc tài sản khác mà cha mẹ sau

ly hôn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, khi họ không trực tiếp nuôi con, đó là số tiền được đặt ra nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con, là số tiền được cha hoặc mẹ chu cấp nhằm trang trải cho các chi phí thông thường của con nhằm đảm bảo cuộc sống của con” Theo quy định tại Mục 11 điểm b Nghị quyết số

02/2000/NQ-CP hướng dẫn áp dụng Điều 92 Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 quy định thì số tiền cấp dưỡng trên phải đảm bảo cho những chi phát sinh trong việc nuôi dưỡng, học hành và các chi phí khác của con

Mỗi người đều có hoàn cảnh sống khác nhau, do đó khi đưa ra quy định về mức cấp dưỡng luật đã có quan tâm đến vấn đề này nên theo quy định tại Điều

53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì việc xác định mức cấp dưỡng phải căn cứ trên khả năng, thu nhập thực tế của người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng Mức cấp dưỡng có thể cao hay thấp còn tùy thuộc vào hoàn cảnh của người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của người được cấp dưỡng Như vậy, mức cấp dưỡng mới đảm bảo cuộc sống của người được cấp dưỡng, đồng thời mức cấp dưỡng sẽ đảm bảo tính khả thi

1.2.2 Đặc diểm của mức cấp dưỡng

Việc xác định mức cấp dưỡng hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc sống của người được cấp dưỡng Xác định mức cấp dưỡng hợp lý không chỉ đáp ứng được nhu cầu của người được cấp dưỡng mà còn giúp người cấp dưỡng khi thực hiện nghĩa vụ không trái với quy định của pháp luật Dựa vào đặc điểm của mức cấp dưỡng các bên có thể dùng làm căn cứ để xác định mức cấp dưỡng cho phù hợp Tương tự, việc xác định mức cấp dưỡng nuôi con trong trường hợp vợ chồng ly hôn vẫn cần lưu ý đến đặc điểm của mức cấp dưỡng Qua quy định tại

khoản 1 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 “mức cấp dưỡng do người

có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người

đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp

Trang 17

dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng…” có thể nhận thấy các

đặc điểm của mức cấp dưỡng như sau:

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

thì mức cấp dưỡng sẽ do hai bên thỏa thuận Nói chung, đó là sự thỏa thuận giữa người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người cấp dưỡng hoặc người giám hộ với nhau

về mức cấp dưỡng Riêng trong trường hợp vợ chồng ly hôn thông thường đó là

sự thỏa thuận giữa cha và mẹ với nhau về mức cấp dưỡng nuôi con, nhằm đảm bảo cuộc sống của con

Thông thường khi cha, mẹ thỏa thuận với nhau về mức cấp dưỡng nuôi con

sẽ dựa vào cơ sở cả hai đều tự nguyện, nếu họ thuận tình ly hôn Sự tự nguyện đó thể hiện ở chỗ, người trực tiếp nuôi con sẽ thỏa thuận với người không trực tiếp nuôi con để đưa ra mức cấp dưỡng nuôi con cho phù hợp với nhu cầu thiết yếu của con Hai người sẽ thống nhất với nhau về mức cấp dưỡng nuôi con Khi đã thỏa thuận dựa trên sự đồng tình về ý chí của cả hai về mức cấp dưỡng, thì người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn phải có trách nhiệm tự nguyện đóng góp tiền hay tài sản khác để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con Hành vi tự nguyện thỏa thuận và thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng này là do người có nghĩa vụ cấp dưỡng hoàn toàn chủ động mà không có bất kỳ một yêu cầu nào từ phía người được cấp dưỡng hoặc từ người đại diện theo pháp luật của họ4.Ví dụ: con chưa thành niên nhận được đầy đủ tiền cấp dưỡng hàng tháng từ cha Do đã thỏa thuận về mức cấp dưỡng nuôi con và nhận thức được mình không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con nên người cha tự nguyện đóng góp tiền đầy đủ vào mỗi tháng nhằm bảo đảm cuộc sống của con mà không cần bất

kỳ yêu cầu nào từ người khác

Khi nhận được đề nghị thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng mà người cấp dưỡng không bày tỏ ý chí phản đối mà nhận thấy đó là trách nhiệm của mình nên thực hiện nghĩa vụ thì đó cũng được xem là tự nguyện thực hiện nghĩa vụ Ví dụ: tuy

đã thỏa thuận với nhau về mức cấp dưỡng là 500.000 đồng/tháng để thực hiện cấp dưỡng nuôi con nhưng chị B chỉ nhận được 350.000 đồng/tháng nên chị đề

4

Trang 18

nghị anh A phải thực hiện đóng góp đủ số tiền là 500.000 Vì lợi ích của con anh

A đã đồng ý đóng góp đúng mức cấp dưỡng đã thỏa thuận lúc đầu với chị B Đối với trường hợp thỏa thuận mức cấp dưỡng đã nêu trên, mức cấp dưỡng được thực hiện đầy đủ từ người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn mà không cần một biện pháp cưỡng chế thi hành nào Trong trường hợp giữa các bên không có sự thỏa thuận cần thiết về mức cấp dưỡng, thì một trong các bên hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết5 Tất nhiên Tòa án cũng sẽ dựa trên nguyên tắc căn cứ vào nhu cầu thiết yếu của con và khả năng đáp ứng nhu cầu của người không trực tiếp nuôi con để xác mức cấp dưỡng khả thi

Khi đã có thỏa thuận với nhau về mức cấp dưỡng nuôi con, các bên có thể thỏa thuận về cách thức thực hiện việc đóng góp mức cấp dưỡng Việc thỏa thuận

về cấp dưỡng có thể là thỏa thuận bằng miệng hoặc lập bằng văn bản Nếu lập thành văn bản thì ghi rõ ngày bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, cụ thể mức cấp dưỡng đã thỏa thuận, phương thức thực hiện cấp dưỡng Nếu cần thiết, khi lập văn bản cũng có thể ghi nhận kết quả thỏa thuận với nhau về thay đổi mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng…

Thứ hai, việc xác định mức cấp dưỡng phải căn cứ vào khả năng, thu nhập

thực tế của của người có nghĩa vụ cấp dưỡng Người cấp dưỡng có khả năng thực hiện nghĩa vụ là một trong những điều kiện phát sinh quan hệ cấp dưỡng Thu nhập và khả năng kinh tế của người cấp dưỡng có được là nhờ vào thành quả lao động của người này Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp thu nhập thực tế không do chính sức lao động của người cấp dưỡng, như trường hợp họ trúng xổ

số, trúng thưởng với giá trị tài sản lớn Nhưng cho dù vì nguyên nhân gì mà người cấp dưỡng có được thu nhập hay khả năng kinh tế đi chăng nữa thì việc xác định mức cấp dưỡng cũng được xác định dựa vào hoàn cảnh, thu nhập của người cấp dưỡng Theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy

định thì “người có khả năng thực tế là người có thu nhập thường xuyên hoặc tuy

không có thu nhập thường xuyên nhưng còn tài sản sau khi đã trừ đi chi phí thông thường cần thiết cho cuộc sống của người đó” Như vậy, đánh giá khả

5

Nguyễn Ngọc Điện: Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam tập I-Gia đình, Nhà xuất

bản trẻ TP HỒ CHÍ MINH, tr 436

Trang 19

năng thực tế của người cấp dưỡng có thể dựa vào hai yếu tố đó là: thu nhập thường xuyên và tài sản hiện có Một người tuy không có thu nhập thường xuyên nhưng còn tài sản sau khi đã trừ chi phí cần thiết cho bản thân thì cũng được coi

là có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Thực tế không phải bất kỳ người nào cũng có thu nhập cao, không phải ai cũng có kinh tế ổn định Vì vậy, Luật quy định việc xác định mức cấp dưỡng dựa trên thu nhập của người có nghĩa vụ cấp dưỡng đã tạo điều kiện để người này hoàn thành nghĩa vụ cấp dưỡng Mặt khác, quyền lợi của người được cấp dưỡng cũng được đảm bảo

Thứ ba, việc xác định mức cấp dưỡng cần phải căn cứ vào nhu cầu thiết yếu

của người được cấp dưỡng Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng đó là những nhu cầu cần thiết đảm bảo cho cuộc sống của một người Nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người không giống nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện sống, sức khỏe, ăn uống… và còn nhiều yếu tố khác có thể chi phối Đối với người lớn nhu cầu của họ là ăn uống, đi lại, sức khỏe, làm việc… còn với trẻ em cần được giáo dục, học hành và những nhu cầu khác phù hợp với lứa tuổi Như vậy, tùy theo yêu cầu cuộc sống cá nhân của mỗi người, mỗi lứa tuổi mà từng người sẽ có nhu cầu thiết yếu khác nhau Do đó, khi xác định mức cấp dưỡng cần căn cứ vào từng nhu cầu thiết yếu của mỗi cá nhân được được cấp dưỡng là điều rất trọng để đảm bảo mức cấp dưỡng được đưa ra hợp lý Trong trường hợp cha, mẹ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn cũng vậy, những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống thường ngày của con đã được quy định tại Điều 16 Nghị

định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 đó là nhu cầu được “ăn, ở, mặc, học

hành, khám chữa bệnh và các chi phí thông thường cần thiết khác để bảo đảm cuộc sống” của con cần được cha, mẹ quan tâm đến có thỏa thuận về mức cấp

dưỡng đảm bảo nhu cầu thiêt yếu của con, đây được xem là một trong những căn

cứ quan trọng để xác định mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn Luật quy định về căn cứ xác định mức cấp dưỡng dựa vào nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng để đảm bảo tốt nhất lợi ích của người được cấp dưỡng Pháp luật cho phép các bên có thỏa thuận về mức cấp dưỡng sao cho phù hợp với nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng

Trang 20

Thứ tư, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“Khi có ly do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi Việc thay đổi mức cấp

dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết” Việc thay đổi mức cấp dưỡng có thể theo hướng tăng hoặc giảm mức

cấp dưỡng, tùy theo hoàn cảnh cụ thể của người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng Hơn nữa, việc thay đổi mức cấp dưỡng phải trên cơ sở có lý do chính đáng Lý do chính đáng để yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng có thể là người cấp dưỡng (hoặc người được cấp dưỡng) lâm vào tình trạng khó khăn hơn so với lúc thỏa thuận mức cấp dưỡng ban đầu hoặc do nhu cầu thiết yếu của con thay đổi trong qua trình thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Các bên cũng có thể thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng khi một trong các bên bị bệnh tật nặng, tai nạn, không còn việc làm, không có lương hoặc các thu nhập hợp pháp khác… để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo mức cấp dưỡng thỏa thuận ban đầu

Căn cứ vào đặc điểm của mức cấp dưỡng sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các bên thỏa thuận về mức cấp dưỡng được hợp lý với hoàn cảnh của các bên cũng như đảm bảo không trái với quy định của Luật về nghĩa vụ cấp dưỡng, các bên có thể thỏa về mức cấp dưỡng nhằm bảo vệ quyền lợi thiết yếu nhất của con

1.3 Sự cần thiết của pháp luật quy định mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ

ly hôn

Khi vợ chồng ly hôn, trên phương diện pháp luật, các quyền và nghĩa vụ của

họ đối với nhau sẽ chấm dứt, nhưng các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con vẫn không hề thay đổi Trên thực tế, có thể vợ chồng không trực tiếp chăm sóc, giúp đỡ nhau khi họ đã ly hôn nhưng cha mẹ là người sinh thành ra các con, cha mẹ phải luôn có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng các con khi con chưa thể

tự lo cho cuộc sống của bản thân mình ngay cả khi cha mẹ đã ly hôn Vì vậy, về nguyên tắc, khi ly hôn cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con

Luật pháp nói chung, Luật hôn nhân và gia đình nói riêng ra đời đã góp phần bảo vệ quyền lợi của con cái trong gia đình Đặc biệt Luật hôn nhân và gia đình

đã có những quy định về nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn Cụ thể, đối với việc xác định mức cấp dưỡng nói chung và xác định mức cáp dưỡng nuôi con

Trang 21

khi ly hôn nói riêng, Luật đã quy định việc xác định mức cấp phải căn cứ vào khả năng, thu nhập thực tế của người cấp dưỡng (khoản 1 Điều 16 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP) và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng (khoản 2 Điều

16 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP) Từ quy định của luật cho thấy nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng được xem là tiêu chí quan trong để xác định mức cấp dưỡng Mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn cũng vậy, việc xác định mức cấp dưỡng phải đảm bảo các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của con (nhu cầu về

ăn, ở, mặc, học hành, khám chữa bệnh và các chi phí khác)

Tuy nhiên, do hiện tại Luật hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn liên quan chưa quy định cụ thể mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn, mà chỉ quy định về mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận hoặc nếu không thỏa thuận thì mức cấp dưỡng sẽ do Tòa án quyết định Thông thường các bên và Tòa án chỉ đa phần dựa vào lời khai chủ quan, thiếu trung thực của các bên về khả năng, thu nhập thực tế của người cấp dưỡng và do chính vì chữ dựa vào “khả năng thực tế” của người cấp dưỡng làm căn cứ xác định mức cấp dưỡng nên thực tế đã đến tình trạng bất cập, Tòa án xác định mức cấp dưỡng nuôi con không phù hợp với nhu cầu thiết yếu của con

Bởi vì, người trực tiếp thực hiện việc chăm sóc con thì lúc nào cũng hy vọng

sẽ nhận được số tiền cấp dưỡng đầy đủ và cao, trong khi đó, người có nghĩa vụ cấp dưỡng lại mong muốn mức cấp nên việc cung cấp lời khai về khoản thu nhập của người cấp dưỡng do các bên đưa ra sẽ không đảm bảo chính xác Do đó, việcTòa án căn cứ vào “khả năng thực tế” của người có nghĩa vụ cấp dưỡng làm căn cứ xác định mức cấp dưỡng nuôi con trở nên không khả thi Một vẫn đề nữa, tại thời điểm xét xử vụ ly hôn, do con chưa thành niên, nhu cầu cuộc sống của con còn thấp nên mức cấp dưỡng Tòa án đưa ra tại thời điểm xét xử vụ ly hôn có thể xem là hợp lý Nhưng qua một thời gian dài cùng với sự phát triển của con nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của con cũng thay đổi, mặc khác, giá cả thị trường cũng luôn biến dộng, do đó có thể thấy mức cấp dưỡng Tòa án đã đưa ra tại thời điểm xét xử vụ ly hôn là không hợp lý đến độ nào Vì lẽ đó, để bảo vệ quyền lợi của con cái khi cha mẹ ly hôn, Luật hôn nhân và gia đình hiện hành

Trang 22

nên bổ sung về quy định cách tính mức cấp dưỡng nuôi con cụ thể để góp phần giải quyết bất cập này trên thực tế

Một số quan điểm cho rằng Luật nên quy định bổ sung mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn theo hướng sau:

Thứ nhất, nên quy định mức cấp dưỡng nuôi con căn cứ vào mức thu nhập

của từng người, từng vùng để xác định mức cấp dưỡng

Thứ hai, quy định mức cấp dưỡng nuôi con tối thiểu bằng 1/2 hoặc 1/3 mức

lương cơ bản của nhà nước cho một người con trưởng thành

Thứ ba, nên quy định mức cấp dưỡng tính trên phần trăm thu nhập của

người phải cấp dưỡng hoặc lấy mức tiền lương tối thiểu vào từng thời điểm để làm định khung quy định mức cấp dưỡng

Đó là một số quan điểm tiến bộ nhằm góp phần bổ sung chế định mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn của một số nhà nghiên cứu luật học Tuy nhiên, việc đồng tình và thống nhất với quan điểm nào để chọn ra phương án tính mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn hợp lý là yêu cầu hết sức cấp thiết của Luật hôn nhân

và gia đình hiện hành Đó cũng là vấn đề quan trọng cần được các nhà làm luật đặc biệt quan tâm để đưa ra giải thích, hướng dẫn, bổ sung quy định cụ thể về mức cấp dưỡng nuôi con khi vợ chồng ly hôn Khi có quy định cụ thể về mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn, thực trạng về nhu cầu thiết yếu của con chưa được đảm bảo trên thực tế sẽ được giải quyết, khắc phục hiệu quả, đồng thời góp phần hoàn thiện quy định của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành Đó là vấn đề tất yếu khách quan cần Luật xem xét

1.4 Lịch sử phát triển của pháp luật quy định về mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn

1.4.1 Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1959

Vào thời gian Bản hiến pháp thứ hai ra đời (Hiến pháp năm 1959), cũng là thời điểm Sắc lệnh số 97 – SL và sắc lệnh số 159 – SL về chế độ hôn nhân và gia đình đã một thời góp phần xóa bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu trở nên không còn phù hợp với tình hình phát triển của xã hội Trước tình đó việc ban hành một đạo luật mới về hôn nhân và gia đình là một đòi hỏi cấp bách

Trang 23

lúc bấy giờ Vì vậy, sau khi khảo sát tình hình thực tế các quan hệ hôn nhân và gia đình (từ năm 1951 đến năm 1958) ở 11 vùng kinh tế khác nhau và sau khi lấy

ý kiến thảo luận, đóng góp, bổ sung của nhân dân; Dự luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đã được Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 11 chính thức thông qua ngày 29/12/1959 và được chủ tịc nước ký lệnh công bố ngày 13/1/1960 theo sắc lệnh

số 02 SL.Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 là công cụ pháp lý của Nhà nước nhằm xóa bỏ tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình lạc hậu đồng thời xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa

Luật gồm 6 chương, 35 điều quy định về những nguyên tắc chung; kết hôn; nghĩa vụ quyền lợi của vợ chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; ly hôn Trong đó, nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái đã được Luật chú trọng Dù vậy, nhưng Luật vẫn chưa có quy định nào liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con khi vợ chồng ly hôn Tuy nhiên, chương V (chương về Ly hôn)

Điều 31 Luật hôn nhân và gia đình năm này có nhắc đến “Vợ chồng đã ly hôn

vẫn có mọi nghĩa vụ và quyền lợi đối với con chung” và theo quy định tại Điều

32 thì khi “Vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi nấng và giáo

dục con, mỗi người tùy theo khả năng của mình” Đó cũng có thể được xem là

quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ phải thực hiện cho con khi ly hôn Tuy nhiên nó không thể hiện đầy đủ bản chất của nghĩa vụ cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn Đó là một hạn chế của Luật hôn nhân và gia đình năm này

Tuy đã phần nào xóa bỏ chế độ hôn nhân gia đình phong kiến lạc hậu nhằm xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa, có bước vượt bậc khi xây dựng nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em nhưng Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 vẫn chưa có quy định cụ thể nào về mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn

1.4.2 Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986

Quá trình thực hiện Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần xóa bỏ nhừng tàn dư của chế độ hôn nhân và gia

Trang 24

đình phong kiến Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đang phát triển mạnh mẽ Tình hình xã hội nước ta cũng thay đổi căn bản so với những năm 1959, vì vậy việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 không còn phù hợp nữa Việc ban hành luật hôn nhân và gia đình mới là một đòi hỏi tất yếu khách quan để thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước Ngày 25/10/1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã quyết định thành lập Ban

dự thảo luật hôn nhân và gia đình mới (Luật hôn nhân và gia đình năm 1986); Dự luật đã được Quốc hội khóa VII kỳ họp thứ mười hai thông qua ngày 29/12/1986

và hội đồng nhà nước công bố ngày 03/01/1987

Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 gồm 10 chương, 57 điều được xây dựng

và thực hiện dựa trên các nguyên tắc tiến bộ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của

xã hội Một trong các nguyên tắc, thì ngyên tắc bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ

em đã được Luật chú trọng hơn so với Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị , em trong gia đình, giữa ông bà và cháu chưa được quy định cụ thể, Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 chỉ quy định:

“Ông, bà có nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục cháu chưa thành niên trong trường hợp cháu không còn cha mẹ Cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng ông bà trong trường hợp ông bà không còn con Anh chị em có nghĩa vụ đùm bọc lẵn nhau trong trường hợp không còn cha mẹ”

Luật hôn nhân và gia đình năm này đã có nhiều quy định tương tự về cấp dưỡng tại các Điều 19, 20, 21 về quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con; Điều

27 về quan hệ giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em ruột thịt như đã nêu trên; Điều 43 quy định về cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn; Điều 45 quy định về đóng góp phí tổn nuôi dưỡng con khi cha mẹ ly hôn…

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, khi cha mẹ ly hôn có

nghĩa vụ “đóng gớp phí tổn nuôi dưỡng” con Cụ thể đó tại Điều 45 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định sau khi vợ chồng ly hôn“Người không

nuôi giữ con có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con và phải đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con Nếu trì hoãn hoặc lẩn tránh việc đóng góp, thì Toà án nhân dân quyết định khấu trừ vào thu nhập hoặc buộc phải nộp những

Trang 25

khoản phí tổn đó” Quy định trên một mặt xác định nghĩa vụ bắt buộc đối với

cha, mẹ khi ly hôn phải “có mọi nghĩa vụ và quyền đối với con chung” và việc đóng góp phí tổn cho việc nuôi dạy con cũng phải dựa trên tinh thần vì “quyền

lợi về mọi mặt của con” Đó là nền tảng góp phần xây dựng, hoàn thiện hơn các

quy định riêng về cấp dưỡng, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và đặc biệc là các chế định khác liên quan mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn cho Luật hôn nhân và gia đình tiếp sau

Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã kế thừa, đồng thời phát huy chế định liên quan đến nghĩa vụ “đóng góp phí tổn nuôi dưỡng” con khi cha mẹ ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Đó có thể xem là chế định tương tự chế định mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 vẫn chưa có quy định đặc biệt, cụ thể, rõ ràng nào về mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn Nên

có thể nói quyền lợi của con cái chưa thật sự được đảm bảo tại thời điểm Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 điều chỉnh

1.4.3 Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Sau hơn mười năm thực hiện luật hôn nhân và gia đình năm 1986, bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tế áp dụng cho thấy những quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 1986 còn mang tính khái quát, định khung, chưa cụ thể; việc giải quyết các vấn đề về tranh chấp từ các quan hệ hôn nhân và gia đình gặp nhiều vướng mắc Trước tình hình đó đòi hỏi Nhà nước ta phải sửa đổi, bổ sung luật hôn nhân và gia đình năm 1986 một cách toàn diện Hiến pháp năm 1992 ra đời là cơ sở pháp lý của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam Sau quá trình soạn thảo, lấy ý kiến đóng góp của toàn dân, dự luật đã được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ bảy chính thức thông qua ngày 09/06/2000 và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 22/06/2000 (theo Lệnh số 08L/CTN) Theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội, Luật này gọi là Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2001 Luật hôn nhân

Trang 26

và gia đình năm 2000 tiếp tục kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật hôn nhân

và gia đình Việt Nam

Luật gồm 13 chương, 110 điều được xây dựng và thực hiện dựa trên một số nguyên tắc về hôn nhân tiến bộ, một vợ, một chồng, tự nguyện, bình đẳng… Ngoài ra, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã dành một chương riêng (chương VI) quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn cũng được khái quát tại một số quy định tại chương này Qua đó, quyền lợi của trẻ em, quyền lợi của con cái trong gia đình ngày càng được quan tâm hơn, đặc biệt là sự quan tâm bảo vệ quyền lợi của trẻ em khi cha mẹ ly hôn Cụ thể tại Điều 53 với Điều 56, Điều 92 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về một số chế định liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn

“Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho

con”(Điều 56, 92) kết hợp với Điều 53 của cùng luật này quy định về mức cấp

dưỡng như sau: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người

được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết” và cũng tại Điều này quy định: “Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng

có thể thay đổi Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết” Những quy định trên nhằm mục

tiêu bảo vệ quyền và lợi ích của con khi cha mẹ ly hôn

So với Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có quy định cụ thể hơn và mở rộng phạm vi quan hệ cấp dưỡng tại chương VI về cấp dưỡng, không chỉ phát triển về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn mà còn khái quát hơn về nghĩa vụ cấp dưỡng

nuôi con khi vợ chồng ly hôn

Đối với quy định về mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn có thể thấy, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 chưa có quy định về mức cấp dưỡng nuôi con khi vợ chồng ly hôn Đến Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có bước tiến

Trang 27

hơn khi quy định về việc “đóng góp phí tổn nuôi dưỡng” con khi vợ chồng ly

hôn, nhưng vẫn chưa quy định cụ thể về mức cấp dưỡng nuôi con trong trường hợp này Cho đến khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời, chế định cấp dưỡng được quy định tương đối hoàn thiện hơn Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 đã dành một chương riêng về cấp dưỡng, đánh dấu cho bước hoàn thiện hơn về quy định nghĩ vụ cấp dưỡng và quy định tại Điều 53, Điều 56, Điều 92 có liên quan đến mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn Có thể nói đây là sự thành công trong việc bảo vệ quyền lợi con cái, quyền lợi của trẻ em qua các thời

kỳ lập pháp của nước ta

Dù rằng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định về mức cấp dưỡng tại Điều 53 của luật này Nhưng đó là quy định mức cấp dưỡng được áp dụng chung cho các nghĩa vụ cấp dưỡng Hiện tại, Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan vẫn chưa có quy định cụ thể nào về mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn, dẫn dến quyền lợi hợp pháp của con cái chưa thật sự được đảm bảo trên thực tế Đó cũng được xem là một trong những hạn chế của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn tuy chưa được xem là hoàn thiện nhất theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nhưng đã được khái quát tương đối hơn so với các Luật hôn nhân và gia đình trước đó Thông qua mức cấp dưỡng đã được quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cho thấy, Luật này đã có quan tâm đến lợi ích của con cái khi cha mẹ ly hôn nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của con Tuy nhiên, so với tình hình phát tiển xã hội hiện nay thì mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn như theo quy định của

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 vẫn chưa thể xem là giải pháp tối ưu

Trang 28

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ MỨC CẤP DƯỠNG NUÔI CON KHI CHA MẸ LY HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

HIỆN HÀNH

2.1 Chủ thể của quan hệ cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn

Theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, chủ thể của quan hệ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn được xác định gồm có:

2.1.1 Người có nghĩa vụ cấp dưỡng

Theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 “Khi ly hôn,

cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con” Như vậy, theo quy

định trên có thể nhận thấy người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn Người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn có nghĩa

vụ cấp dưỡng nuôi con có thể là cha hoặc mẹ sau khi có thỏa thuận giữa họ với nhau về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Trường hợp cha mẹ không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn sẽ là người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con

Khi người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng cùng chung sống dưới một mái nhà thì người cấp dưỡng đã trực tiếp thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng người được cấp dưỡng bằng chính tiền hoặc tài sản của mình Do đó, nghĩa vụ cấp dưỡng không đặt ra đối với người này Ngược lại, nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh khi người có nghĩa vụ nuôi dưỡng vì những hoàn cảnh nhất định không thể nuôi dưỡng người kia Do đó người có nghĩa vụ nuôi dưỡng phải chu cấp một

số tiền hoặc tài sản nhất định để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người được cấp

Trang 29

dưỡng Đặc biệt, khi vợ chồng ly hôn, do người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn, không còn chung sống dưới một mái nhà với con, không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Vì vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sẽ đặt ra đối với người này Người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn phải có nghĩa vụ chu cấp một khoản tiền hoặc tài sản nhất định của mình như: lương thực, thực phẩm, quần áo, thuốc men… để cấp dưỡng nuôi con

Tuy nhiên, không phải lúc nào nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cũng sẽ đặt ra với người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của người không trực tiếp nuôi con chỉ được đặt ra khi người này có đủ điều kiện, khả năng kinh tế để thực hiện việc cấp dưỡng Khả năng kinh tế của người không trực tiếp nuôi con có thể được đánh giá qua hai yếu tố: thu nhập thường xuyên và tài sản hiện có Một người có thu nhập thường xuyên ổn định, thu nhập đó khi so sánh với mức sinh hoạt trung bình tại địa phương sinh sống được xem là cao thì người này được xem là có khả năng kinh tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn Cũng được xem là có khả năng để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng khi người cấp dưỡng tuy không có thu nhập thường xuyên nhưng có tài sản sau khi trừ các chi phí cần thiết cho bản thân, sau khi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Như vậy, khi người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn có đủ điều kiện kinh tế để thực hiện việc cấp dưỡng đồng thời việc cấp dưỡng cũng không ảnh hưởng quá lớn đến cuộc sống thì nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sẽ đặt ra với người này

Ngược lại, đành rằng sau khi có thỏa thuận giữa các bên hoặc khi Tòa án có giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn nhưng người không trực tiếp nuôi con không có đủ điều kiện, khả năng để thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con trong khi con có đủ điều kiện tự nuôi sống bản thân mình thì người không trực tiếp nuôi con không phải bắt buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con

Ví dụ: trường hợp người không trực tiếp nuôi con bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, mất khả năng lao động và không có tài sản… Cũng không thể nói rằng mọi trường hợp người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn đều bắt buộc phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Chẳng hạn như trường hợp sau ly hôn tuy đã có sự

Trang 30

con, nhưng sau đó người không trực tiếp nuôi con không có đủ khả năng tài chính để thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con, trong khi đó người trực tiếp nuôi con vừa có đủ khả năng tài chính để thực hiện việc nuôi dưỡng, giáo dục con vừa

có đủ khả năng tài chính để đảm trách cả vai trò cấp dưỡng và không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con Trường hợp này người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn không bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Đây là tình huống điển hình vẫn thường xảy ra trên thực tế, nhưng hiện tại luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng như các văn bản hướng dẫn chưa có điều chỉnh cụ thể nên quyền lợi của người trực tiếp nuôi con sau ly hôn và cả quyền lợi của con cái cũng sẽ không được đảm bảo một cách tốt nhất Như vậy, khi xác định người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì các bên và Thẩm phán nên chú ý dựa trên các cơ sở về điều kiện, khả năng của người này để đảm bảo cho nghĩa vụ cấp dưỡng được khả thi, đồng thời quyền lợi của con cái cũng được đảm bảo khi cha, mẹ ly hôn

Để quyền lợi của con cái được thật sự đảm bảo thì việc thỏa thuận về nghĩa

vụ cấp dưỡng, đặc biệt là việc thỏa thuận về mức cấp dưỡng nuôi con phải dựa trên sự thỏa thuận dựa trên ý chí tự nguyện của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người trực tiếp nuôi con sau ly hôn Việc dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận về nghĩa vụ và mức cấp dưỡng nuôi con các bên sẽ chủ động nhiều hơn để xem xét đến quyền, lợi íchcủa con Mặc khác, người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cũng sẽ tự nguyện thực hiện việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con, hành vi tự nguyện cấp dưỡng này là do người có nghĩa vụ cấp dưỡng hoàn toàn chủ động

mà không cần bất kì một yêu cầu nào tự phía người được cấp dưỡng hoặc người đại diện của họ

Sau khi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con trên cơ sở tự nguyện thì bên

có nghĩa vụ cấp dưỡng và bên người đại diện cho lợi ích của con sẽ thoả thuận với nhau về phương thức cấp dưỡng, mức cấp dưỡng… Các bên có thể thỏa thuận miệng hoặc lập thành văn bản Nếu lập thành văn bản thỏa thuận thì phải ghi rõ ngày bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng, mức cấp dưỡng và các nội dung khác như: thay đổi phương thức cấp dưỡng, mức cấp

Trang 31

dưỡng… đảm bảo cho văn bản thỏa thuận này phù hợp với khả năng của bên có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu tối thiểu của người được cấp dưỡng

2.1.2 Người được cấp dưỡng

Theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “Khi ly

hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con” Như vậy,

theo quy định trên ta thấy có bốn nhóm đối tượng được xem là chủ thể được cấp dưỡng trong quan hệ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn như sau:

Thứ nhất, con chưa thành niên được xem là một trong những đối tượng

được cha hoặc mẹ cấp dưỡng khi ly hôn Vậy, con phải thõa mãn điều kiện nào thì mới được xem là chưa thành niên theo quy định của pháp luật và khi đã thõa mãn điều kiện về người chưa thành niên thì có phải mọi trường hợp con đều được cấp dưỡng từ cha, mẹ sau ly hôn? Đầu tiên người viết sẽ tìm hiểu quy định của pháp luật về khái niệm người chưa thành niên Theo Điều 18 Bộ luật dân sự

năm 2005 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên

Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” Như vậy, với quy định

trên thì người nào rơi vào trường hợp từ đủ mười tám tuổi trở lên thì được xem là người thành niên Một số nhà phân tích luật học giải thích rằng “từ đủ mười tám tuổi trở lên” đó là 17 tuổi cộng thêm 365 ngày (tức một năm) Đó được xem giới hạn để hiểu thế nào là người từ đủ 18 tuổi Ngược lại, người nào chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên và được xem là chủ thể được cha, mẹ cấp dưỡng sau ly hôn Đó là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn, không cần biết là người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không thì người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên Tuy nhiên, không phải lúc nào nghĩa vụ này cũng xem là bắt buộc đối với người không trực tiếp nuôi con khi ly hôn Đó là trường hợp ngoại lệ khi người con tuy chưa thành niên nhưng có tài sản riêng như: tài sản thừa kế, tiền nhận học bổng hàng quý, trúng xổ số… đủ để nuôi sống bản thân mình, trong khi người cấp dưỡng thì lại không có khả năng để nuôi sống bản thân cũng không có khả năng

Trang 32

cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên Nhưng để quyền lợi của con cái được đảm bảo thì các bên và Tòa án nên có hướng giải quyết thỏa đáng trong trường hợp này

Thứ hai, chủ thể là con đã thành niên nhưng bị tàn tật cũng là một trong

những đối tượng được cha, mẹ cấp dưỡng khi ly hôn Thế nào là tàn tật theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình? Vấn đề này khá quan trọng để áp dụng xem xét về đối tượng được cấp dưỡng là con khi cha, mẹ ly hôn Ta thấy rằng, thông thường một người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận trên thân thể hoặc suy giảm một hay nhiều chức năng nào đó trên cơ thể làm giảm hoặc mất hẳn khả năng đi lại, suy giảm lao động khiến cho việc đi lại, lao động, sinh hoạt, học tập và các hoạt động bình thường khác gặp nhiều khó khăn Chẳng hạn như một người bị cụt tay, cụt chân, mù mắt, bại liệt,… Đó có thể xem là người bị tàn tật Trong ngữ cảnh của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 người tàn tật cũng có thể hiểu như giải thích trên Tuy nhiên, thế nào là tàn tật thì chưa được cụ thể trong các văn bản hướng dẫn cũng như Luật hôn nhân và gia đình hiện hành vẫn chưa có quy định thế nào là tàn tật Vấn đề này cần được luật giải

thích cụ thể hơn

Thứ ba, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự là chủ thể kế

tiếp được cha, mẹ cấp dưỡng khi ly hôn Vậy, con đã thành niên phải thỏa mãn điều kiện gì thì được xem là mất năng lực hành vi dân sự? Theo quy định tại

Điều 17 Bộ luật dân sự năm 2005 thì: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là

những khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” Ngược lại, nếu một cá nhân thuộc diện được quy định tại Điều

22 Bộ luật dân sự năm 2005: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc các

bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định”, khi đó cá

nhân này bị coi là mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật vì hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc xem xét năng lực chủ thể theo pháp luật hôn nhân và gia đình nên khi xảy ra tranh chấp về nghĩ vụ cấp

Trang 33

dưỡng nuôi con thì các bên và Tòa án có thể căn cứ vào Điều 22 của Bộ luật dân

sự năm 2005 để giải quyết

Thứ tư, chủ thể cuối cùng được xem là đối tượng được cha, mẹ cấp dưỡng

sau ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Đó là chủ thể con đã thành niên nhưng không có khả nảng lao động và không có tài sản

tự nuôi mình Thế nào là người không có khả năng lao động? Người thất nghiệp, người tàn tật chưa chắc là người không có khả năng lao động Người thất nghiệp

có thể bằng đôi tay và sức lực của mình mà lao động Nhưng vì một số điều kiện nhất định họ không thể tạo thu nhập nuôi sống bản thân Ví dụ: không được công

ty tuyển dụng, lười biếng… Một người mặc dù bị tàn tật nhưng họ vẫn có thể lao động tìm việc làm nuôi sống bản thân Ví dụ: người mù làm tâm tre, người tàn tật đôi chân làm nghề bán vé số … Như vậy, nếu suy đoán người thất nghiệp, người tần tật là người không có khả năng lao động Thì đó không phải là một suy đoán hoàn toàn đúng để có thể lý giải một cách chính xác về người không có khả năng lao động Nhưng có thể suy đoán được rằng khả năng lao động của một người là khả năng về sức khỏe, vóc dáng, cơ bắp và các kỹ năng khác cho phép người đó thực hiện một công việc thường xuyên hoặc không thường xuyên với tư cách một

cá nhân lao động độc lập cá thể Tuy nhiên, một người có đủ năng lực để lao động, họ có thể chấp nhận làm bất cứ việc gì trong khuôn khổ pháp luật để có thu nhập, nhưng không ai chịu thuê Do đó, họ không có tiền để trang trải cho các chi phí phát sinh trong cuộc sống Có thể suy đoán rằng người đó không có khả năng lao động

Khác với các cách lý giải trên, theo định nghĩa của pháp luật lao động và pháp luật y tế thì khả năng nói chung, khả năng lao động của một người nói riêng không thể phân biệt đơn giản bằng mắt thường, chỉ khi có kết luận, xét nghiệm, chuẩn đoán của cơ quan y tế thì mới chứng minh một cách khoa học về khả năng lao dộng của một người Theo pháp luật lao động và pháp luật y tế thì khi có giấy chứng nhận của cơ quan y tế để chứng minh khi có yêu cầu thì một người mới được công nhận thật sự là không có khả năng lao động

Còn theo quan điểm của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện khi bình luận về Luật

Trang 34

năng lao động trong khung cảnh các quy định của Luật hôn nhân và gia đình như

sau: “đó là tình trạng của một người đã làm tất cả những gì có thể được trong

phạm vi sức lực, trí lực, kỹ năng của mình mà vẫn không đủ thu nhập cần thiết cho cuộc sống của mình và của gia đình mình”6 Người viết đồng tình với quan điểm của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện, một người dù đã làm tất cả những gì bằng chính đôi tay và trí óc nhưng vẫn không đủ để nuôi bản thân mình cũng như không thể nuôi thêm một người nào khác Khi đó, có thể hiểu người này không

có khả năng lao động để được cấp dưỡng khi cha, mẹ ly hôn

Nhưng để thật sự được xem là đối tượng được cha, mẹ cấp dưỡng khi ly hôn, ngoài điều kiện không có khả năng lao động thì người con thành niên phải thõa mãn đồng thời không có tài sản tự nuôi mình Như vậy, căn cứ vào điều kiện nào

để xác định một người không có tài sản nuôi tự nuôi mình? Đó là trường hợp người được cấp dưỡng có thể có tài sản gốc, nhưng tài sản không sinh lợi (ví dụ: chiếc xe đạp, xe gắn máy… nhưng không thể bán, không thể cho ai thuê) hoặc có sinh lợi nhưng đã được khai thác của bởi người khác, nhưng không đủ khả năng

để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của chính mình Ngoài ra, có thể xem là không có tài sản để tự nuôi mình khi người được cấp dưỡng có thu nhập thường xuyên hoặc không thường xuyên do lao động, thậm chí còn được các khoản thu nhập được hưởng khác (trợ cấp lao động, mất sức, thương tật…), dù đã huy động tất cả các nguồn thu nhập của mình mà vẫn không đủ khả năng thỏa mãn các yêu cầu

về chi tiêu tối thiểu trong cuộc sống của mình Như vậy, nếu con chưa thành niên

mà thõa mãn đồng thời hai điều kiện là không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì sẽ được cha, mẹ cấp dưỡng sau ly hôn Tuy nhiên, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của cha, mẹ nói chung và riêng trường hợp cấp dưỡng cho con không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình thì đều vẫn phải cần xem xét đến khả năng tài chính của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, cũng nên xem xét đến khả năng về tài sản của người được cấp dưỡng Giả

sử, trong trường hợp khả năng tài chính của người có nghĩa vụ cấp dưỡng là rất hạn chế, trong khi tài sản mà người được cấp dưỡng đang nắm giữ là rất cao để

6

Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam tập I-Gia đình, T.s Nguyễn Ngọc Điện, NXB trẻ TPHCM

Trang 35

có thể tự lo cho cuộc sống mình mà không cần người cấp dưỡng phải cấp dưỡng Ngược lại, nếu khi người có nghĩa vụ cấp dưỡng mà giàu có, khả năng, thu nhập

về kinh tế của người này khá cao và ổn định thì người này phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người được cấp dưỡng

Đó là một số cách hiểu về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình Nhưng vấn đề đáng quan tâm là hiện tại cụ thể về khái niệm không có khả năng lao động

và không có tài sản tự nuôi mình vẫn chưa được giải thích cụ thể tại các văn bản hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình hiện hành nên gây một số khó khăn cho các bên, Tòa án khi xác định chủ thể của quan hệ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn Vì vậy, theo người viết Luật hôn nhân và gia đình hiện hành nên chú

2.2 Căn cứ xác định mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn

2.2.1 Khả năng, thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng

Theo quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “Mức cấp

dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thoản thuận được thì yêu cầu Tòa án giải” Như vậy, về nguyên tắc,

nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ có thể thực hiện được khi người có nghĩa vụ cấp dưỡng

có khả năng kinh tế, đủ đảm bảo cuộc sống của chính mình Do đó, việc xác định

Trang 36

mức cấp dưỡng hợp lý phải căn cứ vào khả năng, thu nhập thực tế của người cấp dưỡng

Khi xem xét đến thu nhập thực tế của người cấp dưỡng thì thu nhập của người được cấp dưỡng bao gồm toàn bộ thu nhập của người đó, gồm có thu nhập theo lương và thu nhập khác ngoài lương, tức là thu nhập thực tế của người cấp dưỡng Trong trường hợp thu nhập thực tế của người được cấp dưỡng không ổn định thì mức thu nhập của họ được xác định là mức thu nhập bình quân hàng tháng của người đó7 Ví dụ: Thu nhập hàng ngày của người bán dạo vé số bấp bênh, số tiền lời được từ công việc bán vé số không ổn định Khi đó, thu nhập của họ được tính bằng bình quân tất cả số tiền người đó bán được trong tháng Trên cơ sở thu nhập kết hợp với các điều kiện cụ thể khác có thể đánh giá khả năng thực tế của người cấp dưỡng Khả năng thực tế của người cấp dưỡng phản ánh khả năng kinh tế cụ thể của người đó Khả năng kinh tế của người được cấp dưỡng cơ bản phụ thuộc vào thu nhập thực tế của người đó, tức là thu nhập do lao động của họ mà có Song khả năng kinh tế của người cấp dưỡng còn bao gồm

cả những thu nhập hợp pháp khác nhưng không do lao động của họ làm ra Ví dụ: Thu nhập do được hưởng tài sản thừa kế, do trúng xổ số, do được lợi tự nhiên

trên, người có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng con được hiểu

là người có thu nhập thường xuyên, ổn định hoặc tuy không có thu nhập thường xuyên nhưng sau khi trừ đi các chi phí thông thường cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của người này (chi phí thông thường cần thiết gồm các chi phí về ăn uống, đi lại, nhà ở, làm việc, khám chữa bệnh và các chi phí khác được xác định

7

Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình năm Việt Nam – Trường ĐH Luật Hà Nội, NXB CAND Hà Nội năm 2006

Trang 37

căn cứ vào mức sinh họat trung bình tại địa phương nơi người phải cấp dưỡng cư trú) thì họ còn tài sản để thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con

Vậy thu nhập như thế nào thì được xem là khoản thu nhập thường xuyên và không thường xuyên theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Nghị định trên? Theo Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp thì khái niệm thu nhập thường xuyên được hiểu như

sau: “là khoản thu nhập được lập đi lập lại thường xuyên, đều đặn có tính ổn

định trong một thời gian dài nhất định 8 ” Một người có các khoản tiền thu nhập

hàng tháng như: tiền lương, tiền công, phụ cấp… thì có thể hiểu người này đang

có khoản thu nhập mang tính chất thường xuyên, lâu dài Ngược lại, khái niệm

thu nhập không thường xuyên được Luật gia giải thích ngắn gọn như sau: “đó là

khoản thu nhập không ổn định, lúc có lúc không, phát sinh đột xuất nhất thời”

Một người do một sự việc bất ngờ nên có được một khoản tiền Khoản tiền này

có thể chỉ được nhận đột xuất, một lần, ví dụ như: thu nhập từ tiền thưởng, tiền trúng xổ số, thu nhập về chuyển giao công nghệ - thiết kế kỹ thuật… thì khoản thu nhập của người này được xem là có tính chất nhất thời, không thường xuyên Tùy thuộc vào khoản thu nhập mỗi người, nếu thỏa mãn thu nhập được giải thích như trên thì có thể được xem là khoản thu nhập thường xuyên, không thường xuyên Từ đó, có thể suy ra người đó có hay không khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Tuy nhiên, đó chỉ là khái niệm theo giải thích mang tính chuyên môn của Luật gia, còn hiện tại thế nào là thu nhập thường xuyên và không thường xuyên thì vẫn chưa được giải thích cụ thể theo Luật hôn nhân và gia đình hiện hành cũng như các văn bản hướng dẫn kèm theo Luật này nên đã gây khó khăn cho các bên và Tòa án khi xác định căn cứ mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn, cũng từ đó mà quyền lợi thiết yếu của con không được đảm bảo Hơn thế nữa, do

không có giải thích cụ thể về cụm từ “còn tài sản sau khi đã trừ chi phí thông

thường cần thiết cho cuộc sống của người đó” theo quy định tại khoản 1 Điều 16

Nghị định 70/2001/NĐ-CP nên thực tế đã gây khó khăn cho các bên và Tòa án khi xác định mức cấp dưỡng mà dựa vào căn cứ là thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng Chẳng hạn, sau khi trừ các chi phí thông thường

Trang 38

cần thiết cho cuộc sống của người cấp dưỡng thì tài sản thực tế của người cấp dưỡng chỉ còn lại 50.000 đồng hay 100.000 đồng Đó cũng được xem là còn tài sản sau khi thực hiện việc cấp dưỡng, nhưng với số tài sản ít ỏi như vậy liệu người cấp dưỡng có đủ điều kiện đáp ứng các chu cầu thiết yếu của con và có đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, do đó quyền lợi của con không được đảm bảo trong trường hợp này Vì vậy, theo người viết pháp luật về hôn nhân và gia đình nói chung, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên có giải thích thêm về các khái niệm thu nhập thường xuyên, thu nhập không thường xuyên và tài sản sau khi đã trừ chi phí thông thường cần thiết cho cuộc sống của người có nghĩa vụ cấp dưỡng Từ đó, sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn khi các bên có thỏa thuận hay Tòa án có quyết định mức cấp dưỡng nuôi con, đồng thời sẽ đảm bảo mức cấp dưỡng được xác định hợp lý với khả năng, thực tế của người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng

Mặc dù, theo nguyên tắc được xác định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì việc xác định mức cấp dưỡng cần phải dựa vào thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng để đảm bảo mức cấp dưỡng được xác định phù hợp với hoàn cảnh của người này Tuy nhiên, khi căn cứ theo Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/01/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 tại mục 11 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con như sau: “Đây là

nghĩa vụ của cha mẹ do đó không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án cần giải thích cho

họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con” Như vậy, theo quy

định trên cho thấy, đó là trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc được quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về việc xác định nghĩa vụ cấp dưỡng nói chung, mức cấp dưỡng nuôi con nói riêng phải dựa trên khả năng thu

Trang 39

nhập của người cấp dưỡng Theo quy định tại Nghị quyết thì vì quyền, lợi ích hợp pháp của con nên người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con trong mọi trường hợp Mặc dù không có thỏa thuận giữa các bên

về nghĩa vụ cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con và cho dù bên có nghĩa vụ cấp dưỡng cũng không có khả năng, thu nhập thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đi chăng nữa thì người này vẫn phải thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con Ngoại lệ là thế nhưng khi Tòa án giải quyết các vụ việc ly hôn thông thường

sẽ áp dụng theo tinh thần của Luật hôn nhân và gia đình để xét xử nên đôi khi đã dẫn đến quyền lợi của con không được bảo đảm Bởi vì Luật quy định việc xác định mức cấp dưỡng căn cứ vào khả năng, thu nhập thực tế của người cấp dưỡng nhưng khi xét xử các Tòa án lại không trực tiếp điều tra các khoản thu nhập của người cấp dưỡng mà đa phần là dựa vào lời tự khai của các bên Trong khi đó, người cấp dưỡng thì luôn mong muốn mức cấp dưỡng sẽ thấp, ngược lại người đang trực tiếp nuôi con lại muốn mức cấp dưỡng sẽ rất cao Do đó, khi Tòa án dựa vào lời tự khai của các bên để xác định mức cấp dưỡng thì mức cấp dưỡng được đưa ra sẽ không đảm bảo tính khách quan, trung thực và chính xác Như vậy, vấn đề này cần được pháp luật quan tâm hơn

Tóm lại, pháp luật quy định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng để đảm tính khả thi của nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền lợi của con cái trong quan hệ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn Nhưng để quyền lợi của con thật sự được bảo đảm thì pháp luật cần có điều chỉnh bổ sung cho phù hợp với thực tế

2.2.2 Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng

Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Mức cấp dưỡng do

người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa

vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thoản thuận được thì yêu cầu Tòa án giải” Theo quy định trên thì việc xác định mức

cấp dưỡng nuôi con sau khi vợ chồng ly hôn cần căn cứ vào hai điều kiện đó là khả năng, thu nhập thực tế của người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người

Trang 40

dưỡng dựa vào nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng Cũng có nghĩa là phân tích căn cứ xác định mức cấp dưỡng dựa vào nhu cầu thiết yếu của con Như thế nào được xem là nhu cầu thiết yếu? Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu thiết yếu Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt nhưng không có giải thích cụ thể về khái niệm này Nhưng theo khoản 2 Điều 16 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 đã cụ thể một số

nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng như sau: “Nhu cầu thiết yếu của

người được cấp dưỡng theo quy định tại các điều 51, 52 và 53 của Luật này được xác định căn cứ vào mức sinh hoạt trung bình tại địa phương nơi người được cấp dưỡng cư trú, bao gồm các chi phí thông thường cần thiết về ăn, ở, mặc, học, khám chữa bệnh và các chi phí thông thường cần thiết khác để bảo đảm cuộc sống của người được cấp dưỡng” Từ quy định trên có thể thấy, nhu cầu thiết

yếu của người được cấp dưỡng đó là các nhu cầu về ăn, ở, mặc, học hành, khám chữa bệnh và các nhu cầu khác trong cuộc sống của người này và khi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng người cấp dưỡng phải đảm bảo số tiền cấp dưỡng của mình phải chi trả được các chi phí phái sinh từ các nhu cầu thiết yếu đó của người được cấp dưỡng Hơn nữa, khi dựa trên các nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng mà khi các bên có thỏa thuận hoặc Tòa án có quyết định về mức cấp dưỡng sẽ đảm bảo mức cấp dưỡng được đưa ra sẽ phù hợp với nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng Cụ thể đó là việc đảm bảo việc xác định mức cấp dưỡng đáp ứng chi trả cho các chi phí cần thiết về ăn, ở, mặc, học hành, khám chữa bệnh và các chi phí thông thường cần thiết khác của con

Chính vì các chi phí cho các nhu cầu thiết yếu trên của con cái là không giống nhau, các chi phí cho nhu cầu thiết yếu phải phụ thuộc vào lứa tuổi, tâm lý, hoàn cảnh sống, sinh hoạt, điều kiện sức khỏe của con cái Nhu cầu thiết yếu của người khỏe mạnh lại khác với người bị ốm đau, tàn tật, người sống ở thành thị có nhu cầu khác với người sống ở nông thôn, nhu cầu của người đi học khác với người đang làm việc, người không đi học… Cho nên các chi phí về ăn, ở, mặc, học hành, khám chữa bệnh và các chi phí thông thường cần thiết khác của con phải được căn cứ trên bình quân mức thu nhập của người có nghĩa vụ cấp dưỡng

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w