Là một trong số nhiều nguyên tắc xác định luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng, tự do chọn luật áp dụng được xem như là m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Ths Diệp Ngọc Dũng Trần Thu Trang
Bộ môn: Luật Thương Mại MSSV: 5095481
Cần Thơ, 11/2012
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 4
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 4 1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 4
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 9
1.1.3 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 12
1.1.4 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 13
1.1.4.1 Điều ước quốc tế 13
1.1.4.2 Pháp luật quốc gia 14
1.1.4.3 Tập quán thương mại 15
1.1.4.4 Án lệ 17
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 17
1.2.1 Quyền chọn luật của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế…17 1.2.2 Nội dung quyền 20
1.2.2.1 Phạm vi chọn luật áp dụng 20
1.2.2.2 Thời điểm lựa chọn luật áp dụng 20
1.2.2.3 Việc chọn đồng thời nhiều hệ thống pháp luật trong một hợp đồng .21
1.2.3 Cơ sở pháp lý xác định tính hợp pháp của thỏa thuận chọn luật 22
Trang 31.2.4 Ý nghĩa của quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng trong sự phát triển của
thời đại 24
CHƯƠNG 2: QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 26
2.1 NHỮNG GHI NHẬN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 26
2.1.1 Bộ luật dân sự năm 2005 27
2.1.2 Luật Thương mại năm 2005 30
2.1.3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 31
2.2 SỰ GHI NHẬN CỦA MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ TRONG TƯƠNG QUAN SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM 33
2.2.1 Phạm vi quyền chọn luật 34
2.2.2 Việc lựa chọn luật áp dụng không phải luật quốc gia 37
2.2.3 Hình thức thể hiện điều khoản chọn luật của các bên trong hợp đồng 40
2.2.4 Hạn chế quyền chọn luật trong một số hợp đồng nhất định 42
2.2.5 Hạn chế sự áp dụng pháp luật được lựa chọn bởi các bên 44
CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRONG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 48
3.1 NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN BẢN PHÁP LUẬT 49
3.1.1 Về phạm vi điều chỉnh 49
3.1.2 Việc chọn nhiều hệ thống pháp luật áp dụng cho hợp đồng 50
3.1.3 Về hình thức ghi nhận thỏa thuận chọn luật 52
3.1.4 Về thời điểm chọn luật áp dụng và thay đổi thỏa thuận chọn luật 53
Trang 43.1.5 Vấn đề chọn luật thực chất 56
3.1.6 Việc chọn và áp dụng pháp luật nước ngoài và điều ước quốc tế 58
3.1.7 Về quan hệ giữa hợp đồng và pháp luật được lựa chọn 61
3.2 NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỰC TẾ XÉT XỬ 62
3.2.1 Mối quan hệ giữa cơ quan tài phán và thỏa thuận chọn luật của các bên trong hợp đồng 62
3.2.2 Thực tế áp dụng quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng trong xét xử 65
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5
LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đến nay, các quan hệ thương mại quốc tế giữa thương nhân trong nước và ngoài nước được thiết lập ngày càng nhiều và tỷ lệ thuận với nó là số lượng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên, do bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế liên quan đến hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau, và hợp đồng này có khả năng được điều chỉnh bởi tất cả các hệ thống pháp luật có liên quan nên việc xác định luật nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một trong những vấn đề mà các chủ thể kinh doanh rất quan
tâm
Là một trong số nhiều nguyên tắc xác định luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng, tự do chọn luật áp dụng được xem như là một quyền của các bên giao kết hợp đồng được ghi nhận trong quy định pháp luật của nhiều quốc gia và nhiều điều ước quốc tế
Với mong muốn thực hiện “mở cửa” nền kinh tế, việc ghi nhận quyền chọn luật
trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là điều không thể thiếu được trong hệ thống pháp luật Việt Nam Những ghi nhận này phần nào đáp ứng được những đòi hỏi khách quan, tạo đà phiển triển cho quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các chủ thể trong và ngoài nước tăng cường giao lưu mua bán hàng hóa, là cơ sở thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, trong nội tại những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vẫn còn tồn tại những quy định bất cập, nhiều thiếu sót, chưa phù hợp với tình hình pháp luật chung của thế giới và đòi hỏi của các nhà kinh doanh quốc tế, tạo tâm lý lo ngại khi tham gia giao kết các quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế của các chủ thể kinh doanh trong và ngoài nước, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế nước nhà nói chung, sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế nói riêng
Chính vì vậy, để góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế ngoại thương cũng như đưa hệ thống pháp luật Việt Nam tiến gần hơn đến các chuẩn mực pháp lý chung của quốc tế, việc hệ thống lại các quy định của pháp luật Việt Nam,
Trang 6qua đó xác định những quy định còn tỏ ra bất cập, chưa phù hợp hay những vấn đề còn bị bỏ ngỏ về quyền chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp thực tế nhằm nâng cao hiệu quả quyền chọn luật là một điều cần thiết Đó là lý do mà người viết
chọn đề tài “MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục đích và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ hệ thống lại một cách rõ ràng, cụ thể các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các bên trong hợp đồng Hơn nữa, người viết sẽ so sánh, đối chiếu với một số quy định khác có liên quan của pháp luật quốc tế nhằm nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện hơn về những quy định của pháp luật Việt Nam trong vấn đề này Qua đó, chỉ ra những mặt còn hạn chế và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật hiện hành về quyền chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Để giải quyết những vấn đề được đặt ra, người viết sẽ sử dụng kết hợp một số phương pháp như: phương pháp phân tích luật viết, liệt kê, diễn dịch, quy nạp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp phân tích, tổng hợp…
3 Phạm vi nghiên cứu
Các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được tự do thỏa thuận chọn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng giữa họ là một nguyên tắc chung của luật hợp đồng và được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Do đó, ngoài việc tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật trong nước, người viết còn mở rộng phạm
vi tìm hiểu các điều ước quốc tế điển hình làm cơ sở cho việc nghiên cứu của mình
4 Bố cục luận văn
Ngoài lời nói đầu và phần kết luận, luận văn được kết cấu gồm ba chương:
- Chương 1: Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và quyền chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trang 7Trong chương này, chủ yếu người viết tập trung phân tích, làm sáng tỏ vấn
đề như thế nào là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, quyền thỏa thuận chọn luật
áp dụng trong loại hợp đồng này là gì và những vấn đề liên quan đến hai vấn đề trên
- Chương 2: Quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc
Những quy định của pháp luật Việt Nam và của một số điều ước quốc tế điển hình về quyền chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ được
người viết tập trung trình bày trong chương này
- Chương 3: Những vấn đề tồn tại trong quy định của pháp luật Việt Nam về quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Ở chương này, người viết sẽ phân tích những bất cập còn tồn tại trong quy định của pháp luật Việt Nam về quyền chọn luật phát sinh từ thực tiễn áp dụng Qua
đó, đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện những quy định này
Mặc dù đã làm việc với thái độ hết sức nghiêm túc nhưng do những hạn chế
về kiến thức, kinh nghiệm thực tiển và quỹ thời gian nghiên cứu hạn hẹp, mặt khác đây là lần đầu tiên người viết nghiên cứu một đề tài mang tính khoa học về pháp lý nên luận văn khó tránh khỏi có những sai sót, nhiều nội dung chỉ mang tính chất lý thuyết suông Người viết rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô giáo cũng như bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn
Người viết xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Diệp Ngọc Dũng đã tận tình
hướng dẫn để người viết có thể nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Trang 8CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
VÀ QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC
TẾ
1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trong xu thế phát triển chung của toàn cầu, các hoạt động thương mại quốc
tế đang từng ngày từng giờ góp phần tích cực làm thay đổi diện mạo của các quốc gia, của các khu vực và trên toàn thế giới Các quốc gia đều mong muốn và cố gắng
thực hiện chính sách “mở cửa” nền kinh tế và như vậy, hầu hết các lĩnh vực kinh tế
đều tham gia vào hoạt động kinh tế đối ngoại, mở rộng quan hệ ngoại giao Do đó,
sự phát triển của buôn bán hàng hóa quốc tề là một điều tất yếu Hoạt động mua bán hàng hoá nói chung và hoạt động mua bán quốc tế nói riêng là một lĩnh vực vô cùng phức tạp đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý nhất định thể hiện dưới một hình thức nhất định, đó là hợp đồng Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là dạng hợp đồng được các chủ thể của quan hệ thương mại quốc tế sử dụng phổ biến và thường xuyên nhất trong các hoạt động thương mại của mình.1
Cũng như tất cả các loại hợp đồng khác, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải tuân theo các quy định của pháp luật để các điều khoản thỏa thuận của các bên chủ thể trong hợp đồng được pháp luật bảo vệ Về nguyên tắc, một hợp đồng nói chung chỉ có thể được coi là hợp pháp khi nó đảm bảo các nguyên tắc chung đó là: chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực chủ thể; các bên tham gia hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện; hình thức hợp đồng phải phù hợp với qui định của pháp luật; mục đích của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang những đặc điểm cơ bản của một
hợp đồng mua bán tài sản, với đặc trưng là sự thỏa thuận giữa các bên Theo đó,
1
Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Trường đại học luật Hà Nội năm 2008, tr 206
Trang 9“bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu cho bên mua và nhận thanh toán; còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán” 2 Trên
cơ sở quy định này có thể thấy hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của họ trong việc mua bán hàng hóa
Về nguyên tắc, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có nội dung tương tự như hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước Điểm khác biệt cơ bản của 2 loại hợp đồng này chính là sự xuất hiện của yếu tố nước ngoài trong hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế Vì vậy, việc xác định “tính quốc tế” trong hợp đồng mua bán hàng hóa
có yếu tố nước ngoài là điều cần thiết Điều này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận
mà còn có ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý Bởi vì nếu là hợp đồng nội địa sẽ hoàn toàn do pháp luật trong nước điều chỉnh, còn nếu là hợp đồng quốc tế thì sẽ liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau và khi đó vấn đề lựa chọn pháp luật áp dụng sẽ đặt ra như là một yêu cầu bắt buộc Tuy nhiên, tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa đã được pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế quy định khác nhau
Đối với Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được biết đến trong nhiều văn bản với các tên gọi khác nhau như hợp đồng mua bán ngoại thương (được ghi nhận trong Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK ngày 31/07/1991 của Bộ Thương nghiệp - nay là Bộ Công Thương), hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài (ghi nhận trong Luật Thương mại Việt Nam năm 1997), hợp đồng xuất, nhập khẩu hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa (Luật Thương mại Việt Nam năm 2005)
Trước thời điểm ban hành Luật Thương mại năm 1997, khái niệm “hợp đồng mua bán ngoại thương” được ghi nhận trong Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK
về hướng dẫn việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương do Bộ Thương nghiệp
(nay là Bộ Công Thương) ban hành ngày 31/07/1991: “hợp đồng mua bán ngoại thương là hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế” với ba tính chất sau: thứ nhất,
chủ thể của hợp đồng là những pháp nhân có quốc tịch khác nhau; thứ hai, hàng hóa
là đối tượng của hợp đồng được dịch chuyển từ nước này sang nước khác; thứ ba,
2
Điều 428 Bộ luật dân sự 2005
Trang 10đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ đối với một bên hoặc cả hai bên ký kết hợp đồng
Đến thời kì ra đời Luật Thương mại Việt Nam năm 1997, lần đầu tiên khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được thể hiện chính thức trong một văn bản luật Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 1997 của Việt Nam không sử dụng thuật
ngữ “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “Hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài” Dưới góc độ pháp lý hai thuật ngữ “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” và “Hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài” có cùng một bản chất, đó là có sự tham gia của thương
nhân nước ngoài hay nói cách khác hợp đồng có yếu tố quốc tế Tại đây, Luật Thương mại năm 1997 không chỉ rõ như thế nào là một hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế mà quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài”.3 Theo quy định này, rõ ràng luật Việt Nam xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệu quốc tịch của thương nhân Cách hiểu này đã được hiểu và áp dụng rộng rãi trong thực tiễn hoạt động ngoại thương của Việt Nam trong nhiều năm qua
Tuy nhiên, trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, việc xác định tính quốc tế của hợp đồng thương mại quốc tế dựa trên dấu hiệu quốc tịch của thương nhân gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp và trong một số trường hợp là không thể được, bởi vì: thứ nhất, pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau xác định quốc tịch của pháp nhân không giống nhau; thứ hai, nếu xác định tính quốc tế của hợp đồng dựa trên dấu hiệu quốc tịch trong một số trường hợp sẽ gặp khó khăn trong việc xác định luật áp dụng
Hiện nay, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chủ yếu được điều chỉnh bởi Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, không
có điều luật nào trong Luật Thương mại năm 2005 xác định cụ thể, trực tiếp về khái niệm và phạm vi nội hàm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tại khoản 1 Điều 27 Luật Thương mại 2005 quy định: “Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức: xuất khẩu, nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất; tạm xuất, tái
Trang 11nhập và chuyển khẩu Như vậy, khoản 1 Điều 27 Luật Thương mại 2005 đã nêu ra định nghĩa bằng cách liệt kê các hình thức cụ thể của việc mua bán hàng hóa quốc
tế, bao gồm 5 hình thức: xuất khẩu; nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất; tạm xuất, tái nhập; chuyển khẩu Sau khi liệt kê như vậy, Luật Thương mại 2005 đã xác định rõ thế nào là xuất khẩu; nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất; tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu tại các điều 28, 29 và 30 tiếp đó
Từ đó có thể suy luận rằng, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam là văn bản thỏa thuận của các cá nhân, tổ chức trong việc xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu hàng hóa Hai hay nhiều bên tham gia giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế có thể là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài; có nơi cư trú hoặc trụ sở ở Việt Nam hoặc nước ngoài Cũng với các khái niệm nhập khẩu, xuất khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu có thể thấy Luật Thương mại 2005 lấy tiêu chí hàng hóa phải là động sản, hàng hóa có thể được vận chuyển qua biên giới Việt Nam hoặc qua biên giới của một nước (một lãnh thổ); hoặc di chuyển qua khu chế xuất, khu vực hải quan riêng… để xác định một quan hệ mua bán hàng hóa là mua bán hàng hóa quốc tế, mà không phụ thuộc vào nơi cư trú, trụ sở hay quốc tịch của các chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế
Khác với quy định của pháp luật Việt Nam, văn bản của nhiều nước cũng như các văn bản pháp lý của quốc tế điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không dựa trên quốc tịch của pháp nhân mà dựa trên các dấu hiệu khác
Lần đầu tiên tiêu chí trụ sở thương mại được sử dụng để xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy định trong điều 1 Công ước La Haye năm 1964
về mua bán hàng hóa quốc tế Khoản 1 điều 1 Công ước La Haye 1964 quy định, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải thỏa mãn hai điều kiện sau đây:
Thứ nhất, được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau;
Thứ hai, phải thỏa mãn ít nhất một trong ba yếu tố sau đây: a, Hàng hóa được chuyên chở hoặc phải được chuyên chở từ lãnh thổ của quốc gia này đến lãnh
Trang 12thổ của quốc gia khác; b, Khi mà những hành vi thể hiện sự chào hàng và chấp nhận chào hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau; c, Khi việc giao hàng phải được thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia khác không phải là nơi thực hiện những hành vi chào hàng và chấp nhận chào hàng
Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods – gọi tắt là CISG) không đưa ra định nghĩa nào về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhưng
Điều 1 quy định: “Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau”
Như vậy, theo quy định tại Điều 1 của CISG thì yếu tố quốc tế của hợp đồng
mua bán hàng hoá quốc tế được xác định bởi một yếu tố duy nhất là trụ sở thương mại của các bên phải đặt tại các quốc gia khác nhau hay gọi cách khác là dựa vào
tiêu chí lãnh thổ, mà không phụ thuộc vào địa điểm ký kết hợp đồng và cũng không xét đến việc hàng hoá có được dịch chuyển qua biên giới hay không So với việc xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo tiêu chí quốc tịch của pháp nhân thì việc xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên yếu tố lãnh thổ cho phép xác định tính quốc tế của hợp đồng trở nên đơn giản hơn Tuy nhiên theo tiêu chí này sẽ gặp khó khăn trong trường hợp khi các bên có nhiều trụ sở thương mại Để giải quyết vấn đề này, Điều 10 CISG quy định, trong trường hợp nếu một trong các bên có nhiều trụ sở thương mại thì cần phải chú ý đến trụ sở thương mại liên quan mật thiết với hợp đồng và với việc thực hiện nó xuất phát từ những hoàn cảnh mà các bên đã biết trước và đã có dự liệu trước khi hay trong thời điểm ký kết hợp đồng, còn nếu các bên không có trụ sở thương mại thì cần phải xác định địa điểm thường trú của họ
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong các giao dịch thương mại quốc tế, đặc biệt là mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài Trong khi đó, pháp luật Việt Nam lại chưa có một khái niệm cụ thể, rõ ràng nào về vấn đề này Bởi thế, để tương thích với tinh thần của CISG nói riêng và pháp luật thương mại thế giới nói chung, người viết xin được đưa ra một kiến nghị
về khái niệm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như sau: “Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chí giữa các thương nhân có trụ sở thương mại
Trang 13đặt ở các quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là Bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho một bên khác gọi là Bên mua và nhận thanh toán; và Bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho Bên bán, nhận hàng và quyền
sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là loại văn bản giao dịch chủ yếu, quan trọng và phổ biến nhất trong hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu Vì là một loại
hợp đồng mang tính “quốc tế” nên hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có những
khác biệt nhất định so với hợp đồng mua bán thông thường và có một số đặc điểm
cơ bản sau:
Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Chủ thể của hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế là các chủ thể hoạt của hoạt động kinh doanh quốc tế, có thể là các thể nhân hay cũng có thể là pháp nhân Tính quốc tế của các chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác định căn cứ vào dấu hiệu quốc tịch, nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở thương mại trong từng trường hợp Trên thực tế thì pháp luật thương mại quốc tế không có sự điều chỉnh đặc biệt nào đối với chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bởi chủ thể của quan hệ hợp đồng này có được quyền ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hay không là phụ thuộc vào pháp luật quốc gia áp dụng đối với các chủ thể đó
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là hợp pháp khi chủ thể của hợp đồng là hợp pháp, tức là có năng lực pháp luật
và người ký kết có năng lực hành vi và thẩm quyền ký kết hợp đồng.4 Việc giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế không được quy định chuyên biệt trong Luật Thương mại 2005 Do đó, về nguyên tắc sẽ áp dụng các hệ thuộc như đối với năng lực chủ thể của hợp đồng trong Tư pháp quốc tế nói chung (tức là sử dụng các Điều 761, 762 và 765 Bộ luật dân sự 2005) với hệ thuộc luật chủ đạo được sử dụng cho cá nhân là luật quốc tịch, cho pháp nhân là luật nơi thành lập pháp nhân
4
Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005, tr
11
Trang 14Hình thức của hợp đồng: Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế cũng được quy định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia và điều ước quốc
tế Trong đó có những hệ thống pháp luật đòi hỏi hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế chỉ hợp pháp khi được lập thành văn bản, nhưng cũng có hệ thống không có bất
kỳ một yêu cầu nào về hình thức hợp đồng Bên cạnh đó lại có những nước đòi hỏi một cách chặt chẽ về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Theo pháp luật các nước này, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được phê chuẩn hay công chứng, mới được coi là hợp pháp về hình thức Ví dụ, ở Pháp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được công chứng tại Pháp.5
Pháp luật Việt Nam quy định hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.6 Trong đó, hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật7
Theo Điều 11 của CISG thì không yêu cầu các bên phải ký, xác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân thủ bất kỳ yêu cầu nào về mặt hình thức của hợp đồng mua bán Điều đó có nghĩa, không có quy định bắt buộc về mặt hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Các bên có thể dùng bất kỳ phương tiện nào, kể cả lời khai nhân chứng, để chứng minh về sự tồn tại của hợp đồng Tuy vậy, tại Điều 12
Công ước quy định: “bất kỳ quy định nào của Điều 11, Điều 29 hoặc phần thứ hai công ước này cho phép hợp đồng mua bán, việc thay đổi hoặc đình chỉ hợp đồng theo sự thoả thuận của các bên hoặc đơn chào hàng và chấp nhận chào hàng hoặc bất kỳ sự thể hiện ý chí nào của các bên được lập và không phải dưới hình thức viết
mà bất kỳ hình thức nào sẽ không được áp dụng khi dù chỉ một trong số các bên có trụ sở thương mại đặt ở nước là thành viên của công ước mà nước đó tuyên bố bảo lưu theo Điều 96 công ước này”, tức là “nếu nước thành viên mà trong pháp luật
Trang 15nước đó đòi hỏi hợp đồng phải được ký kết hoặc phê chuẩn dưới hình thức văn bản thì điều quy định này của pháp luật nước thành viên đó phải được tôn trọng”.8
Đối tượng của hợp đồng: Về nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng cũng giống với đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường vì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế về bản chất cũng là một loại hợp đồng mua bán, đó là hàng hóa Dưới góc độ kinh tế, hàng hóa được phân thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình; dưới góc độ pháp luật, hàng hóa được phân thành động sản và bất động sản Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định hàng hóa bao gồm tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và các vật gắn liền với đất đai
Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải thỏa mãn các quy định về quy chế hàng hóa được phép trao đổi, mua bán theo pháp luật của nước bên mua và bên bán Nhìn chung, phần lớn các loại hàng hóa đều được phép tự do đem ra trao đổi, mua bán ngoại trừ một số loại hàng hóa nhất định mà thông thường, theo cách quy định trong pháp luật các nước, đó là các nhóm hàng bị cấm xuất khẩu, nhập khẩu, các nhóm hàng bị hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu được quản lý theo hạn nghạch (quota) hoặc phải đáp ứng các yêu cầu về kĩ thuật, về điều kiện chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm,…9 CISG chỉ loại trừ đối với việc mua bán chứng khoán, giấy bảo đảm chứng từ và tiền lưu thông, điện năng, phương tiện vận tải đường thủy, đường hàng không…10 Theo quy định của pháp luật Việt Nam,
có một số hàng hóa không được phép trở thành đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.11
Bên cạnh những đặc điểm trên, hợp đồng mua bàn hàng hóa quốc tế còn có đặc điểm: đồng tiền thanh toán toán trong hợp đồng là ngoại tệ đối với một bên hoặc cả hai bên ký kết hợp đồng; cơ quan giải quyết tranh chấp có thể là Tòa án, cũng có thể là Trọng tài thương mại, tùy thuộc vào ý chí lựa chọn của các bên
Trang 161.1.3 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Ngày nay, sự phát triển của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đã và đang ngày càng khẳng định tầm quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài Với những vai trò nhất định, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trở thành một công cụ không thể thiếu trong giao dịch thương mại quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là công cụ pháp lý bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên: Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là kết quả của sự tự
do thỏa thuận của các bên chủ thể trong hợp đồng Ý chí của các bên chủ thể trong hợp đồng được thể hiện thông qua nội dung mà các bên đã cùng nhau xây dựng nên Trong đó quyền và nghĩa vụ của họ đối với nhau được xác định Tuy nhiên, những quyền và nghĩa vụ này chỉ có thể được bảo đảm khi nó được thể hiện trong hợp đồng giữa các bên Nói cách khác, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là công cụ
để các bên bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình và làm cơ sở để cơ quan tài phán
giải quyết khi có tranh chấp
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giúp các cơ quan chức năng của Nhà nước trong việc kiểm soát hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu: Trên cơ
sở những hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết, các cơ quan chức năng của Nhà nước kiểm soát được hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Thông qua các hoạt động kiểm tra các hợp đồng, các giao dịch của chủ thể trong thương mại quốc tế, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước có thể nắm bắt kịp thời các hoạt động kinh doanh, đồng thời điều chỉnh các hoạt động này bằng cách ban hành chính sách
và pháp luật phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế quốc dân
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế góp phần phát triển giao thương quốc tế: Khi hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trở thành công cụ để các bên
tham gia giao dịch thương mại quốc tế bảo vệ mình thì nó giữ vai trò chủ đạo trong giao dịch thương mại quốc tế Có thể thấy thương mại là khâu gắn kết giữa sản xuất với tiêu dùng Do đó, vai trò của nó là hết sức quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia Vì vậy, khi hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được coi là công cụ đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể thì nó tạo ra môi trường thuận lợi cho
Trang 17việc mở rộng, phát triển quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi phát triển thương mại quốc tế
1.1.4 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là loại hợp đồng đặc biệt, nó không chỉ được điều chỉnh bằng pháp luật quốc gia mà còn được điều chỉnh bởi các nguồn luật sau:
1.1.4.1 Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế là một loại nguồn luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng có yếu
tố nước ngoài nói chung Đó là tên gọi chung của nhiều văn bản có tính pháp lý khác nhau điều chỉnh hợp đồng và các vấn đề khác có liên quan, bao gồm Công ước, Hiệp định, Nghị định thư, Hiệp ước, … Hiện nay trên thế giới có nhiều điều ước quốc tế khác nhau điều chỉnh nhiều loại hợp đồng có yếu tố nước ngoài khác nhau, trong đó, đối với hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài được tập trung điều chỉnh bởi Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ký tại Viên (Áo) năm 1980 Việc áp dụng các điều ước quốc tế làm cơ sở pháp lý điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài mang đến nhiều thuận lợi cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng: nhanh chóng, thuận tiện, giải quyết được các bất đồng, mâu thuẫn khi các hệ thống pháp luật quy định khác nhau về cùng một vấn đề… Ngoài ra, việc tăng cường ký kết hay tham gia các điều ước quốc tế còn góp phần thúc đẩy quá trình thống nhất hóa các quy định mang tính nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hợp đồng, làm cơ sở cho các quốc gia soạn thảo và ban hành các quy định tương ứng trong hệ thống pháp luật của quốc gia mình Điều này sẽ góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia vào quá trình hội nhập của các quốc gia, quan hệ thương mại quốc tế sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển
Khi đề cập đến điều ước quốc tế trong quá trình điều chỉnh quan hệ hợp đồng, một vấn đề nữa cũng cần phải giải quyết triệt để là trong trường hợp nào điều ước quốc tế sẽ được áp dụng bởi vì điều ước quốc tế không phải là pháp luật quốc gia và không phải tất cả các điều ước quốc tế đều được tất cả các nước trên thế giới
Trang 18tham gia ký kết hoặc gia nhập Theo nguyên tắc chung, điều ước quốc tế được áp dụng điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi:
- Các điều ước quốc tế mà quốc gia nơi các chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cư trú hoặc có quốc tịch là thành viên là nguồn đương nhiên điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và có giá trị pháp lý cao nhất Các bên trong hợp đồng có thể mặc nhiên áp dụng các điều ước này mà không cần bất cứ sự thỏa thuận lựa chọn nào
- Đối với các điều ước quốc tế mà quốc gia nơi các chủ thể của hợp đồng mang quốc tịch hoặc có nơi cư trú chưa là thành viên thì các quy định của các điều ước này vẫn có thể được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nếu các bên trong hợp đồng thỏa thuận lựa chọn để điều chỉnh hợp đồng, vì nguyên tắc tự do thỏa thuận chọn luật áp dụng là một trong những nguyên tắc cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, việc chọn điều ước quốc tế phải đáp ứng các điều kiện chọn luật Bên cạnh đó, việc áp dụng điều ước
quốc tế phải không được trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc gia
1.1.4.2 Pháp luật quốc gia
Khi không có điều ước quốc tế, hoặc có nhưng điều ước quốc tế không có đề cập hoặc đề cập không đầy đủ về quyền và nhĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các chủ thể của hợp đồng có thể dựa vào pháp luật của một quốc gia nào đó để giải quyết các vấn đề phát sinh Luật pháp quốc gia là một trong
số những nguồn luật cơ bản điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế Pháp luật quốc gia được áp dụng là nguồn luật điều chỉnh cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi:
- Thứ nhất, khi các bên quy định về luật áp dụng ngay từ giai đoạn đàm phán,
ký kết hợp đồng, bằng cách chỉ rõ trong hợp đồng rằng luật của một nước nào đó sẽ được áp dụng cho hợp đồng Thỏa thuận chọn luật áp dụng của các bên trong trường hợp này thường được ghi nhận thành một điều khoản trong hợp đồng gọi là điều khoản chọn luật
Trang 19- Thứ hai là khi các bên thoả thuận lựa chọn luật quốc gia là luật áp dụng cho hợp đồng sau khi ký kết hợpđồng, thậm chí khi tranh chấp phát sinh Cách này được các bên áp dụng khi trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế mà các bên đã
ký trước đó không có điều khoản về luật áp dụng
Các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể lựa chọn luật của nước người bán, luật của nước người mua hay luật của một nước thứ ba bất kỳ nào
đó để điều chỉnh hợp đồng Tuy nhiên, thông thường, để đảm bảo việc hiểu và áp dụng hiệu quả pháp luật được lựa chọn, các bên thường chọn pháp luật của nước mà mình am hiểu và có mối quan hệ gần gũi, gắn bó với quan hệ hợp đồng để điều chỉnh hợp đồng mà họ tham gia ký kết
Ngoài ra, luật quốc gia cũng được áp dụng khi có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến Trong trường hợp này, cho dù các bên trong hợp đồng không có thỏa thuận về chọn luật áp dụng nhưng trong các nguồn luật liên quan có quy phạm xung đột dẫn chiếu một hệ thống pháp luật của một quốc gia nào đó thì pháp luật của quốc gia này sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng
1.1.4.3 Tập quán thương mại
Trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế thường được sử dụng với tư cách là cơ sở pháp
lý của hợp đồng
Tập quán thực chất là thói quen được hình thành trong hoạt động thương mại
và hàng hải Do chúng được lặp đi lặp lại nhiều lần và được thừa nhận như một nguyên tắc mặc nhiên phải tuân thủ Một thói quen chỉ được coi là tập quán khi đáp ứng các tiêu chuẩn: là thói quen duy nhất được áp dụng tại một khu vực nhất định, được hình thành và tôn trọng trong cùng khu vực; thói quen đó được áp dụng phổ biến nhiều lần, lặp đi lặp lại thường xuyên và được công nhận một cách rộng rãi; thói quen đó chứa đựng một nội dung cụ thể về một vấn đề cụ thể có tính hướng dẫn Khi áp dụng nó để giải quyết một số quan hệ cụ thể không có sự giải thích khác nhau, trái ngược nhau
Trang 20Theo nguyên tắc, bản thân của tập quán thương mại quốc tế không có hiệu lực pháp lý như quy phạm pháp luật của hệ thống pháp luật quốc gia, nó chỉ có hiệu lực áp dụng khi:
- Được các chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thỏa thuận chấp nhận trở thành nguồn luật điều chỉnh đối với hợp đồng giữa các bên
- Khi các điều ước về mua bán hàng hóa quốc tế có quy phạm quy định áp dụng các tập quán quốc tế, thì các tập quán quốc tế sẽ được đương nhiên áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa các chủ thể của hợp đồng nếu như các chủ thể ấy mang quốc tịch hoặc có nơi cư trú tại các nước là thành viên của các điều ước quốc tế đó
- Nếu pháp luật trong nước về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cho phép
áp dụng tập quán quốc tế thì tập quán quốc tế cũng có thể được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng
- Đặc biệt, trong trường hợp các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế không có thỏa thuận cụ thể, rõ ràng nào về việc áp dụng các tập quán quốc tế, các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia có liên quan cũng không có bất kỳ quy định nào về việc này thì tập quán quốc tế vẫn có thể được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng, nếu như cơ quan xét xử có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng các bên tham gia hợp đồng đã mặc nhiên áp dụng tập quán quốc tế trong quan hệ hợp đồng giữa họ Trong thực tiễn thương mại quốc tế, có rất nhiều tập quán liên quan đến mua bán quốc tế Tuy nhiên, tập quán được áp dụng phổ biến và rộng rãi, trở thành một quy tắc thông dụng trong buôn bán quốc tế là Các điều kiện giao dịch thương mại quốc tế (INCOTERMS) được Phòng Thương mại quốc tế (ICC) tập hợp và ban
hành từ năm 1936, và được sửa đổi cuối cùn g vào n ăm 20 10 nhằm giải thích
thống nhất các điều kiện thương mại, thông qua đó tạo điều kiện cho các giao dịch thương mại quốc tế diễn ra thuận lợi, trôi chảy.Theo nguyên tắc chung, Incorterms chỉ được áp dụng khi các bên trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài trực tiếp thỏa thuận việc áp dụng Incorterms trong hợp đồng
Trang 211.1.4.4 Án lệ
Pháp luật của nhiều nước trên thế giới (thông thường là các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ) thừa nhận án lệ là nguồn giải thích pháp luật và là nguồn của pháp luật trong lĩnh vực pháp luật hợp đồng Theo pháp luật các nước này, án lệ đựơc hiểu là đường lối áp dụng của toà án về một vấn đề pháp lý đã trở thành tiền lệ mà các thẩm phán có thể theo đó để xét xử trong các trường hợp tương
tự Án lệ có hai nhiệm vụ: một là giải thích và áp dụng pháp luật; hai là dự bị các cải cách pháp luật.12
Ở Việt Nam, ph áp lu ật Việt Nam nó i chung cũng như pháp luật về hợp đồng nói riêng chưa thừa nhận án lệ như là nguồn của luật Tuy nhiên, thực tiễn án
lệ đang ngày càng khẳng định vai trò của mình Do đó, mặc dù không chính thức thừa nhận án lệ là một nguồn của pháp luật, nhưng hiện nay các nước vốn vẫn không công nhận án lệ là nguồn chính thức của pháp luật, trong đó có cả Việt Nam,
đã bắt đầu tham khảo án lệ khi giải quyết các tranh chấp hợp đồng quốc tế
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
1.2.1 Quyền chọn luật của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Do hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang trong mình tính chất “quốc tế”
nên nó thường không chỉ chịu sự điều chỉnh của một quốc gia mà ít nhất liên quan đến hai quốc gia, hai hệ thống pháp luật Về lý luận, nếu một quan hệ xã hội liên quan đến bao nhiêu quốc gia thì pháp luật của bấy nhiêu quốc gia đều có thể được
áp dụng Sở dĩ như vậy là vì các quốc gia bình đẳng với nhau, thì đương nhiên pháp luật của các quốc gia cũng phải bình đẳng với nhau trong việc điều chỉnh các quan
hệ xã hội liên quan đến quốc gia đó.13 Nếu không có quy phạm thực chất thống nhất điều chỉnh mối quan hệ phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải chọn ra một hệ thống pháp luật thích hợp nhất điều chỉnh
Trang 22Mặt khác, đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, dù được giao kết hoàn chỉnh, chi tiết đến đâu thì bản thân nó cũng không thể dự kiến, chứa đựng tất
cả những vấn đề, những tình huống có thể phát sinh trong thực tế Những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là điều mà các bên không ai mong muốn Mặc dù vậy, đó là điều không tránh khỏi trong thương mại quốc tế, và khi tranh chấp phát sinh thì việc xác định hệ thống pháp luật nào sẽ được áp dụng để giải quyết tranh chấp là điều vô cùng phức tạp Do đó, cần phải bổ sung cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế một cơ sở pháp lý cụ thể bằng cách lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng đó Tuy nhiên, vì hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế nên luật điều chỉnh hợp đồng này cũng có thể là luật nước người bán, cũng có khi là luật nước người mua hoặc luật của bất kỳ một nước thứ ba nào, thậm chí phải chịu sự điều chỉnh của điều ước quốc
tế, tập quán thương mại quốc tế hoặc cả án lệ Vấn đề đặt ra ở đây là trong số các nguồn luật trên thì luật nào được lựa chọn để áp dụng cho hợp đồng, luật nào sẽ được áp dụng khi có tranh chấp xảy ra?
Vào thế kỷ 19, khi mà ý chí của con người được đề cao thì việc các cá nhân,
tổ chức khi xác lập giao dịch có quyền lựa chọn pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa
họ với nhau dần dần được thừa nhận và điều đó trở nên bình thường Quyền lựa chọn luật áp dụng của các bên chủ thể bắt đầu được áp dụng ở nhiều nước châu Âu
và châu Mỹ vào nửa cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 Tuy nhiên, không phải trong mọi loại quan hệ xã hội các cá nhân, tổ chức đều có quyền lựa chọn pháp luật áp dụng Những quan hệ xã hội trong nội bộ các quốc gia, chỉ giữa các cá nhân, tổ chức đó với nhau mà không có yếu tố nước ngoài, thì pháp luật quốc gia không quy định cho cá nhân, tổ chức có quyền lựa chọn pháp luật của một nước nào đó để áp dụng Quyền lựa chọn pháp luật được áp dụng cho các quan hệ có yếu tố nước ngoài (có tính quốc tế), trong đó có hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Nhưng không phải trong tất cả các quan hệ có yếu tố nước ngoài các cá nhân, tổ chức đều
có quyền lựa chọn luật áp dụng Chẳng hạn, trong các quan hệ công như: quan hệ hành chính, hình sự, tố tụng tòa án… (là những quan hệ mà trong đó có một bên là
cơ quan, người có thẩm quyền để thực hiện quyền lực công và đó cũng là những quan hệ có liên quan, gắn bó chặt chẽ với trật tự, lợi ích công cộng, với thủ tục, thẩm quyền của cơ quan công quyền), pháp luật của nhà nước không cho phép cá
Trang 23nhân, tổ chức lựa chọn pháp luật áp dụng Trong những trường hợp này, pháp luật của nước sở tại sẽ đương nhiên được áp dụng
Quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các bên chủ thể trong hợp đồng bắt
nguồn từ nguyên tắc “tự do ý chí” Tự do ý chí của các bên được coi như là khả
năng của các bên tự thiết lập nội dung của hợp đồng và những điều kiện có hiệu lực của nó và tất nhiên là trong khuôn khổ của pháp luật.14 Trong giao kết hợp đồng, tự
do ý chí được xem là nguyên tắc hàng đầu Do đó, các bên trong hợp đồng không những chỉ thỏa thuận các vấn đề về xác lập, thực hiện hợp đồng mà còn có thể lựa chọn hệ thống nào sẽ được áp dụng để áp dụng cho hợp đồng
Thông thường, việc thỏa thuận việc lựa chọn một hệ thống pháp luật nào sẽ điều chỉnh hợp đồng được thể hiện thành một điều khoản cụ thể trong hợp đồng và
nó được gọi là “điều khoản chọn luật” Bằng cách này các bên của hợp đồng đã
minh thị cho biết luật nào sẽ được áp dụng Phần lớn các hợp đồng quốc tế đều có điều khoản chọn luật và điều khoản này đến nay đều được Tòa án xem xét khi có tranh chấp xảy ra Tuy nhiên, trên thực tế, không phải mọi vấn đề phát sinh trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế các bên đều có quyền thỏa thuận chọn luật Pháp luật các nước thường chỉ cho phép các bên lựa chọn luật để điều chỉnh quyền
và nghĩa vụ của họ trong hợp đồng mà thôi
Trong thực tiễn thương mại quốc tế, quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một giải pháp hữu hiệu và được sử dụng phổ biến để giải quyết xung đột pháp luật trong mối quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Từ những quy định và sự áp dụng trong thực tiễn về quyền lựa chọn
pháp luật áp dụng, có thể hiểu: “quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là quyền của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được tự do thỏa thuận lựa chọn hệ thống pháp luật để điều chỉnh các quan hệ trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà họ tham gia”
14
Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005,
tr 21
Trang 241.2.2 Nội dung quyền
1.2.2.1 Phạm vi chọn luật áp dụng
Khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các chủ thể của hợp đồng có thể tự do thỏa thuận với nhau trong việc lựa chọn một hệ thống pháp luật thuộc một quốc gia bất kỳ nào mà họ muốn (có thể là pháp luật nơi giao kết hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng hoặc nơi một trong các bên có trụ sở chính ) Pháp luật của đa
số các quốc gia cũng như các điều ước quốc tế thường không hạn chế phạm vi không gian của việc lựa chọn luật của các bên, dĩ nhiên là phải đáp ứng yêu cầu không vi phạm những nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước đó, tức là không vi phạm trật tự công của quốc gia đó, và trừ một số trường hợp ngoại lệ khác Ví dụ pháp luật Việt Nam không thừa nhận giá trị pháp lý của các hợp đồng liên quan đến các loại văn hóa phẩm đồi trụy… Trên thực tế, các bên trong hợp đồng thường lựa chọn hệ thống pháp luật có mối quan hệ với hợp đồng, hệ thống pháp luật mà các bên am hiểu và gần gũi với lợi ích của các bên
Trong trường hợp các bên chủ thể không muốn áp dụng pháp luật quốc gia thì họ có thể chọn áp dụng pháp luật của nước thứ ba, điều ước quốc tế liên quan (như CISG), hay thậm chí cũng có thể áp dụng tập quán quốc tế (như INCOTERMS 2010) Một khi chọn luật của nước thứ ba hay các điều ước quốc tế, các bên phải tìm hiểu kỹ các quy định pháp luật đó, vì trong nhiều trường hợp, nếu không tìm hiểu kỹ, hậu quả của việc áp dụng pháp luật được lựa chọn không phù hợp với mong muốn của các bên, hoặc cũng có thể không có giá trị pháp lý vì lý do bảo lưu trật tự công cộng
1.2.2.2 Thời điểm lựa chọn luật áp dụng
Trên nguyên tắc, xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng tự do ý chí của các bên trong hợp đồng, việc chọn luật áp dụng vào thời điểm nào do các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tự do thỏa thuận Pháp luật các nước thường không có những quy định mang tính bắt buộc các bên phải đưa ra thỏa thuận chọn luật vào một thời điểm cụ thể Các bên hoàn toàn có thể lựa chọn pháp luật áp dụng trong thời điểm giao kết hợp đồng, hoặc cũng có thể muộn hơn, thậm chí còn có thể phát sinh trong quá trình tố tụng
Trang 25Theo tinh thần chung của Công ước Rome 1980 các bên có thể tự do lựa chọn luật áp dụng vào thời điểm giao kết hợp đồng bằng một điều khoản trong hợp đồng như đã nói ở trên, hoặc cũng có thể sửa đổi điều khoản đó trong hoặc sau quá trình thực hiện hợp đồng, hoặc cũng có thể thay đổi việc chọn luật áp dụng bằng hệ thống pháp luật khác so với sự lựa chọn ban đầu.15 Quy định này khẳng định thêm quyền tự do của các bên trong việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng Thiết nghĩ, khi đã tôn trọng tự do ý chí của các bên và cho phép các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng mà họ tham gia thì việc không ràng buộc các bên phải đưa ra quyết định lựa chọn luật ở một thời điểm cụ thể là một điều hợp lý Điều đó bảo đảm tôn trọng tự do ý chí của các bên một cách triệt để, đồng thời cũng đảm bảo an toàn cho quyền lợi của các bên
Thời điểm lựa chọn pháp luật áp dụng tuy không bị quy phạm bắt buộc của pháp luật các nước điều chỉnh nhưng thời điểm đưa ra sự lựa chọn đó vẫn phải đảm bảo sự hợp lý trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định Theo Công ước Rome
1980, sau khi ký hợp đồng các bên mới chọn luật áp dụng hoặc có sự thay đổi thì điều khoản luật áp dụng này vẫn có hiệu lực tính từ khi giao kết hợp đồng, trừ khi: nếu hợp đồng đã có hiệu lực về hình thức thì việc chọn hệ thống pháp luật khác phải không làm ảnh hưởng tới hiệu lực về hình thức của hợp đồng, việc chọn luật áp dụng mới không làm ảnh hưởng tới quyền lợi của bên thứ ba.16
1.2.2.3 Việc chọn đồng thời nhiều hệ thống pháp luật trong một hợp đồng
Do tính chất của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường là những hợp đồng lớn, nội dung rất nhiều, có sự đan xen của nhiều nghĩa vụ nhỏ hoặc là tổng hợp của nhiều hợp đồng nhỏ khác nhau, điều này làm phát sinh nhu cầu thực tế là các bên cần thỏa thuận chọn nhiều hệ thống pháp luật và một hệ thống pháp luật chỉ
áp dụng điều chỉnh một phần của hợp đồng Thậm chí ngay cả khi thỏa thuận chọn luật áp dụng cho toàn bộ hợp đồng vẫn có trường hợp các bên lựa chọn nhiều luật
áp dụng cho hợp đồng để phòng ngừa tình huống một hệ thống pháp luật không
điều chỉnh hết các vấn đề của hợp đồng Hoàn cảnh này dẫn đến hiện tượng “nhiều
Trang 26pháp luật áp dụng cho hợp đồng” trong Tư pháp quốc tế Đây là vấn đề tương đối
phổ biến trong thực tế
Đối với vấn đề này, Công ước Rome 1980 và Quy tắc Rome I có quy định giống nhau về cả câu chữ, đều cho phép các bên chọn luật áp dụng cho chỉ một phần hoặc toàn bộ hợp đồng Điều 3 của cả hai văn bản đều quy định: “Bằng thỏa thuận của mình, các bên có thể chọn luật áp dụng cho toàn bộ hoặc chỉ một phần của hợp đồng” Quan điểm này được các chuyên gia châu Âu về tư pháp quốc tế chấp nhận và đã được ghi nhận tại văn bản pháp luật của nhiều quốc gia, điều này là hợp lý và hiện nay được áp dụng nhiều trên thực tế. 17 Như vậy, các bên trong hợp đồng, để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hợp đồng hoàn toàn có thể chọn nhiều hệ
thống pháp luật để điều chỉnh cho một hợp đồng
1.2.3 Cơ sở pháp lý xác định tính hợp pháp của thỏa thuận chọn luật
“Tự do trong khuôn khổ của pháp luật” – mọi thỏa thuận của các bên chủ thể
hợp đồng, trong đó bao hàm việc chọn luật vẫn phải nằm trong phạm vi mà pháp luật cho phép Pháp luật cho phép là những quy định nào? Câu trả lời không quá khó cho những hợp đồng trong nước, nhưng sẽ phức tạp hơn nhiều đối với các hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi mà tính chất “quốc tế” của chúng đưa lại hệ quả
là khả năng tham gia chi phối của nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau Lúc đó, chúng ta phải soi rọi vào pháp luật nào để tìm kiếm tính hợp pháp cho việc chọn luật?
Để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung, trong đó bao hàm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì mỗi nước có những quy phạm xung đột riêng Nhưng như đã nói về cơ quan giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tranh chấp về hợp đồng này có thể được giải quyết bởi
cơ quan tài phán nước này nhưng cũng có thể bằng cơ quan tài phán nước khác Về nguyên tắc, cơ quan tài phán một nước sẽ áp dụng Tư pháp quốc tế của nước mình
để xem xét vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Vì thế, Tư pháp quốc tế của nước
có cơ quan tài phán thụ lý tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ là nguồn pháp luật xác định thỏa thuận chọn luật áp dụng của các bên chủ thể là hợp
Trang 27pháp hay không Phân tích này cho thấy, việc xác định hệ thống pháp luật giữa các bên chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phụ thuộc vào việc cơ quan tài phán thụ lý vụ việc tranh chấp thuộc nước nào Do đó, xem xét thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần phải đặt trong sự gắn kết với từng con đường giải quyết tranh chấp:
- Trường hợp cơ quan giải quyết tranh chấp là Trọng tài: pháp luật các nước, các điều ước quốc tế về Trọng tài và quy tắc Trọng tài của các tổ chức Trọng tài trên thế giới đều cho phép, khuyến khích các bên chủ thể thỏa thuận về luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung khi sử dụng con đường giải quyết tranh chấp là Trọng tài Tuy nhiên, hệ thống pháp luật được lựa chọn không
có nghĩa là tự do mà vẫn phải tuân thủ quy định pháp luật trong nước, điều ước quốc tế có liên quan Như vậy, khi lựa chọn trọng tài nước nào, các bên chủ thể cần phải xem xét cả pháp luật nước đó, điều ước quốc tế mà nước đó là thành viên có liên quan và quy tắc Trọng tài (trong trường hợp đây là Trọng tài quy chế) để biết được loại hợp đồng giữa họ có được phép thỏa thuận lựa chọn luật không và hệ thống pháp luật được lựa chọn có hợp pháp hay không
- Trường hợp cơ quan giải quyết tranh chấp là Tòa án: Tư pháp quốc tế của nước có Tòa án sẽ là cơ sở để xem việc thỏa thuận chọn luật áp dụng của các bên có hợp pháp hay không Tư pháp quốc tế Việt Nam cũng như các nước trên thế giới hiện nay đều đi theo hướng cho phép các bên có quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung Tuy nhiên, quyền tự do thỏa thuận này cũng bị tước bỏ trong một số trường hợp đăc biệt Ví dụ theo Điều
769 của Bộ luật dân sự 2005, hợp đồng được giao kết và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam và hợp đồng liên quan đến bất động sản ở Việt Nam thì Tòa án Việt Nam khi thụ lý sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam vô hiệu hóa thỏa thuận chọn luật áp dụng (nếu có) của các chủ thể Vì thế, khi thỏa thuận chọn luật áp dụng, cần thiết phải tìm hiểu một cách thấu đáo Tư pháp quốc tế của nước có Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hợp đồng
Trang 28
1.2.4 Ý nghĩa của quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng trong sự phát triển của thời đại
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng có yếu tố nước ngoài nên
có liên quan tới nhiều hệ thống pháp luật khác nhau Chính vì vậy, việc xác định pháp luật điều chỉnh loại hợp đồng này phải tuân theo những nguyên tắc riêng mà một trong những nguyên tắc quan trọng nhất là sự thỏa thuận lựa chọn của các bên chủ thể tham gia hợp đồng Theo người viết, việc thừa nhận và thực hiện theo sự lựa chọn luật áp dụng của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có những ý nghĩa sau:
Thứ nhất, khả năng được lựa chọn luật áp dụng tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong việc chọn luật điều chỉnh phù hợp với ý chí của mình khi có tranh chấp xảy ra Bên cạnh đó, nó còn là cơ sở định hướng hành vi của các bên tham gia quan hệ hợp đồng Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau nhưng quy định của các hệ thống pháp luật này
về cùng một vấn đề thường là không giống nhau Như vậy, việc cùng nhau thỏa thuận và thống nhất được luật điều chỉnh hợp đồng sẽ giúp các bên định hướng được hành vi của mình sao cho phù hợp về mặt pháp lý và từ đó sẽ bảo vệ được lợi ích chính đáng của mình, tránh tình trạng vi phạm hợp đồng do không am hiểu pháp luật
Thứ hai, điều khoản chọn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng Thực tiễn cho thấy không có bất cứ một hợp đồng nào mà trong quá trình đàm phán các bên có thể dự liệu hết tất cả mọi tình huống có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng và dự liệu trước cách thức xử lý những vấn đề sẽ xảy ra
đó Chính vì vậy, khi có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, các bên vẫn phải dựa vào pháp luật đã được chọn để giải quyết và cơ quan tài phán cũng phải căn cứ vào đó
để xem xét giá trị pháp lý của hợp đồng và giải quyết tranh chấp
Ngoài ra, đối với Việt Nam, trong khi hầu hết pháp luật các nước cũng như các điều ước quốc tế về thương mại đều ghi nhận quyền thỏa thuận chọn luật của các bên chủ thể trong hợp đồng thương mại quốc tế nói chung, hợp đồng mua bán
Trang 29hàng hóa quốc tế nói riêng thì việc pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận và bảo đảm thực hiện các điều khoản chọn luật thể hiện một xu thế phát triển tất yếu trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế nói chung, tạo môi trường pháp lý ngày càng thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, làm bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước, góp phần thực hiện chính sách hội nhập kinh tế của quốc gia
Trang 30CHƯƠNG 2 QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ
ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
Các chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có quyền tự do lựa chọn luật áp dụng để điều chỉnh các quan hệ trong hợp đồng Việc này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong việc chọn luật điều chỉnh phù hợp với ý chí của mình khi có tranh chấp xảy ra Đây là nguyên tắc lựa chọn luật được áp dụng rộng rãi trong các điều ước quốc tế và được luật của nhiều quốc gia thừa nhận, trong đó có Việt Nam Nguyên tắc này cũng được coi là nguyên tắc được ưu tiên số 1 khi chọn luật điều chỉnh nội dung hợp đồng
2.1 NHỮNG GHI NHẬN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
Quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng là quyền hết sức cơ bản của
quyền tự do kinh doanh, vì đây là yếu tố cơ bản nhất tác động đến lợi ích của các bên giao kết hợp đồng Các bên hoàn toàn có quyền lựa chọn đối tượng hàng hóa để mua bán hoặc dịch vụ để cung cấp, thỏa thuận giá cả, cách tính giá, phương thức thanh toán, điều kiện giao nhận hàng, vận chuyển, đóng gói bao bì và các nội dung khác trong hợp đồng trên cơ sở đảm bảo hài hòa quyền và lợi ích của hai bên Đặc biệt, đối với hợp đồng thương mại quốc tế nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng, phù hợp với xu thế chung của thời đại, nhiều quy định của pháp luật Việt Nam còn cho phép các bên chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên khi thực hiện quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng đó Điều đó có nghĩa là, theo các quy định này, điều khoản về pháp luật áp dụng cho hợp đồng có giá trị pháp lý và được bảo vệ
Trang 312.1.1 Bộ luật dân sự năm 2005
Đối với vấn đề thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, Bộ luật dân sự 1995 được thay thế bởi Bộ luật dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2006 kế thừa và tiếp tục khẳng định quyền lựa chọn pháp luật áp dụng trong hợp đồng của các chủ thể bằng
quy định: “Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thoả thuận khác” tại khoản 1
Điều 769 Đây là quy phạm xung đột chỉ ra luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Mặc dù Điều 769 không khẳng định một cách rõ ràng quyền tự do thỏa thuận
của các bên nhưng khi “suy ra” từ cụm từ “nếu không có thỏa thuận khác” ta có thể
thấy luật Việt Nam ưu tiên việc xác định luật áp dụng trong hợp đồng dân sự có yếu
tố nước ngoài trước hết sẽ do chính các bên của hợp đồng thỏa thuận lựa chọn, tức
là nếu các bên có thỏa thuận về pháp luật áp dụng, pháp luật được chọn sẽ điều chỉnh hợp đồng Hay nói cách khác, Bộ luật dân sự Việt Nam cho phép các bên lựa chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng Tuy nhiên, Điều 769 Bộ luật dân sự 2005 chỉ đưa ra quy định về việc lựa chọn pháp luật để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng, chứ không áp dụng cho các vấn đề khác của hợp đồng như: điều kiện hiệu lực của hợp đồng, giao kết hợp đồng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, diễn giải hợp đồng Các vấn đề khác có liên quan như hình thức ghi nhận thỏa thuận chọn luật, thời điểm mà các bên đưa ra quyết định về việc lựa chọn hệ thống pháp luật nào sẽ áp dụng cho hợp đồng… đã không được bộ luật đề cập đến
Theo Điều 758 Bộ luật dân sự 2005, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài Như vậy, theo nghĩa rộng, quy định tại khoản 1 Điều 769 Bộ luật dân sự cũng được áp dụng đối với những quan hệ hợp
Trang 32đồng kinh tế - thương mại có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng
Bên cạnh việc cho phép các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được phép lựa chọn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng của mình, Bộ luật dân sự
2005 còn đưa ra một số quy định hạn chế quyền chọn luật của các bên
- Thứ nhất, không phải trong mọi trường hợp, pháp luật nước ngoài do các bên lựa chọn đều được áp dụng Điều này được thể hiện trong khoản 3 Điều 759 Bộ
luật dân sự 2005: “Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng, nếu sự thỏa thuận đó không trái với quy định của Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Như vậy, các bên trong hợp đồng được phép thỏa thuận lựa chọn pháp luật
nước ngoài điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa giữa họ nhưng việc lựa chọn
việc áp dụng pháp luật nước ngoài không được “trái với quy định của Bộ luật này
và các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Phân tích điều luật trên, với cụm từ “nếu sự thỏa thuận đó không trái với quy định của Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” ta
thấy, luật không chỉ yêu cầu hệ thống pháp luật nước ngoài được chọn không trái với các quy định của pháp luật Việt Nam mà còn đòi hỏi ngay chính bản thân việc chọn luật cũng không được trái với các quy định của pháp luật, tức là phải thỏa mãn các điều kiện về chọn luật theo pháp luật Việt Nam Khi ấy, việc chọn pháp luật nước ngoài mới được chấp nhận và có thể áp dụng Nếu như các bên chọn pháp luật nước ngoài khi pháp luật Việt Nam không cho phép thì thoả thuận chọn pháp luật nước ngoài không có giá trị pháp lý Tuy nhiên, với cách quy định như vậy, có quan
điểm cho rằng: “quy định này cho thấy quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các bên chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khó có thể thực hiện được vì quy định: sự thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài (ngầm hiểu ở đây là nội dung pháp luật do các bên thỏa thuận) phải không trái với quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản khác của Việt Nam Quy định kiểu này dễ dẫn đến vô hiệu hóa quyền lựa chọn pháp luật nước ngoài áp dụng của các bên chủ thể hợp đồng
Trang 33Bởi vì nội dung cụ thể của pháp luật nước ngoài trái với quy định của Bộ luật dân
sự và các văn bản khác của pháp luật Việt Nam là khá phổ biến và bình thường”.18
- Thứ hai, khi có quy phạm xung đột của Việt Nam xác định hệ thống pháp luật của nước nào sẽ được sử dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng Quy phạm đó
có thể đưa ra hướng xác định luật điều chỉnh, hoặc xác định rõ pháp luật được áp dụng sẽ là pháp luật Việt Nam Chẳng hạn, Điều 770 Bộ luật dân sự 2005 quy định:
“Hình thức của hợp đồng phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng”, hay theo Điều 771, vấn đề xác định nơi giao kết hợp đồng trong trường hợp
giao kết hợp đồng vắng mặt thì phải tuân theo pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi có trụ sở chính của pháp nhân là bên đề nghị giao kết hợp đồng Hoặc đối với hợp đồng được ký kết và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam và hợp đồng liên quan đến bất động sản ở Việt Nam thì luật áp dụng sẽ là luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khi này, các bên trong hợp đồng bắt buộc, theo từng trường hợp mà áp dụng pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật mà điều luật đã hướng tới Các bên không được chọn luật cho hợp đồng nữa, hoặc nếu có thì thỏa thuận chọn luật trong những trường hợp này coi như không có hiệu lực và không được Tòa án hoặc Trọng tài xét đến khi giải quyết tranh chấp Ví dụ: Thương nhân Việt Nam ký kết hợp đồng mua bán với chủ thể nước ngoài Hợp đồng được ký kết tại Việt Nam Các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng luật áp dụng cho hợp đồng là pháp luật quốc gia của chủ thể nước ngoài Theo quy định của pháp luật quốc gia đã được thỏa thuận lựa chọn, hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài có thể được ký kết theo mọi hình thức: văn bản, lời nói, … Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam, trong trường hợp này hợp đồng bắt buộc phải tuân theo hình thức phải bằng văn bản Do đó, nếu hợp đồng có phát sinh tranh chấp, cơ quan quan tài phán của Việt Nam sẽ không thừa nhận giá trị pháp lý của các bên về thoả thuận chọn luật đối với hình thức của hợp đồng
18
Nguyễn Bá Chiến, Quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2/2006, tr 76
Trang 342.1.2 Luật Thương mại năm 2005
Trong lĩnh vực quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài, quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các bên trong hợp đồng là rất quan trọng, bởi nó không những thể hiện sự tôn trọng tự do ý chí của các bên giao kết hợp đồng, mà qua đó còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của giao thương quốc tế Vì thế, ngay từ Luật
Thương mại 1997 đã có quy định: “các bên trong hợp đồng được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài nếu pháp luật nước ngoài không trái với pháp luật Việt Nam…”19, hay “các bên trong hợp đồng được thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tế nếu tập quán thương mại quốc tế đó không trái với pháp luật Việt Nam”20 Điều này cho thấy Luật Thương mại 1997 thừa nhận quyền thỏa thuận chọn luật của các bên trong hoạt động thương mại với các nước Luật thể hiện một cách rõ ràng việc cho phép các bên chọn pháp luật nước ngoài, thậm chí là các tập
quán thương mại quốc tế để điều chỉnh hợp đồng Tuy nhiên, cách quy định “không trái với quy định của pháp luật Việt Nam” được đánh giá là “quy định này cũng giống như nhiều quy định trong các văn bản khác của pháp luật Việt Nam là rất khó áp dụng, đó là: pháp luật nước ngoài không được áp dụng nếu trái với pháp luật Việt Nam một cách chung chung Quy định này cũng làm cho quyền lựa chọn pháp luật của các bên trong hợp đồng khó có thể thực hiện được”.21
Để khắc phục điểm bất cập của Luật Thương mại 1997, Luật Thương mại
2005 đã có quy định về quyền chọn luật tại khoản 2 Điều 5 như sau: “Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” Như vậy, Luật Thương mại 2005 kế thừa tinh thần của Luật Thương mại
1997 về việc cho phép các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quyền chọn luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế áp dụng Theo quy
định, điều kiện để việc chọn luật có hiệu lực đã tiến bộ hơn, “không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” chứ không phải “không trái với quy
Trang 35định của pháp luật Việt Nam” như trước nữa Quy định như vậy giúp cho quyền lựa
chọn luật áp dụng của các bên trở nên khả thi hơn rất nhiều Tuy nhiên, cả hai văn bản Luật Thương mại 1997 và Luật Thương mại 2005 chỉ cho phép các bên được lựa chọn pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế để điều chỉnh hợp đồng mà không hề đề cập đến các điều ước quốc tế Với vai trò ngày càng quan trọng và khả năng giải quyết các vấn đề khá cao của các điều ước quốc tế thì việc thừa nhận hay không việc được lựa chọn các điều ước quốc tế của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dường như lại bị bỏ ngỏ trong chính những quy định của Luật Thương mại
2.1.3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010
Khi mà tố tụng Trọng tài thương mại ngày càng được ưa chuộng trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại thì tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật Trọng tài thương mại vào ngày 17 tháng 6 năm 2010 để thay thế cho Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 Luật Trọng tài thương mại 2010 ra đời được đánh giá là có những tiến bộ đáng kể
so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại trước đó, nhưng về vấn đề chọn luật áp dụng cho hợp đồng thì nhìn chung không có gì thay đổi nhiều
Cũng như Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, tại Điều 14 Luật Trọng tài thương mại 2010 không cho phép các bên của hợp đồng được chọn pháp luật để áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các bên là Việt Nam Trong trường hợp các bên tranh chấp đều là Việt Nam, Trọng tài sẽ áp dụng luật Việt Nam để giải quyết Mặc
dù luật không sử dụng từ ngữ mang tính bắt buộc “phải” nhưng có thể hiểu ở đây,
Trọng tài ngoài việc áp dụng luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp thì không còn
sự lựa chọn nào khác Ngược lại, đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng, Hội đồng Trọng tài áp dụng pháp luật
do các bên lựa chọn Điều này có nghĩa là trong các vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, việc xác định pháp luật áp dụng trước tiên sẽ dựa vào sự lựa chọn của các bên của tranh chấp Hay nói cách khác, trong tố tụng Trọng tài, Luật Trọng tài thương mại 2010 cho phép các bên chọn pháp luật áp dụng, và khi các bên không lựa chọn thì Trọng tài mới tự mình quyết định
Trang 36Một câu hỏi đặt ra là như thế nào là tranh chấp có yếu tố nước ngoài? Khoản
4 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010 đã đưa ra khái niệm về tranh chấp có yếu
tố nước ngoài “là tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại, quan hệ pháp luật khác có yếu tố nước ngoài được quy định tại Bộ luật dân sự” Mà theo Điều
758 Bộ luật dân sự 2005 thì “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân
sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” Như vậy, Luật Trọng tài thương mại 2010
không trực tiếp giải quyết vấn đề như thế nào là tranh chấp có yếu tố nước ngoài mà dẫn chiếu tới quy định của Bộ luật dân sự Theo đó, những tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại, quan hệ pháp luật khác mà có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các tranh chấp thương mại giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài thì các bên trong hợp đồng thương mại có phát sinh tranh chấp ấy được quyền chọn luật để điều chỉnh hợp đồng
Về việc chọn và áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc
tế, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 thì cho phép các bên có quyền lựa chọn
pháp luật nước ngoài Tuy nhiên “việc lựa chọn pháp luật nước ngoài và việc áp dụng pháp luật nước ngoài không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.22 Như vậy, cũng giống như hầu hết các quy định khác của pháp luật Việt Nam, Pháp lệnh không cho phép chọn pháp luật nước ngoài nếu việc chọn và
áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Tuy nhiên ở đây pháp luật không cho biết là có cấm các bên lựa chọn tập quán thương mại quốc tế, nếu việc lựa chọn và áp dụng tập quán thương mại quốc
tế trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Đến Luật Trọng tài
Trang 37
thương mại 2010, luật lại không đề cập một cách cụ thể tới việc có cho phép các bên lựa chọn pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế hay không, luật chỉ quy
định: “Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.23
Theo đó, có thể thấy quy định trên tuy không cho phép nhưng cũng không cấm các bên của hợp đồng lựa chọn pháp luật nước ngoài, tập quán quốc tế để điều chỉnh hợp đồng của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tức
là, các bên trong hợp đồng vẫn có quyền lựa chọn luật nước ngoài và tập quán quốc
tế để giải quyết các vấn đề phát sinh từ hợp đồng Tuy nhiên, nếu trước đó, các bên
đã có thỏa thuận chọn luật rồi nhưng pháp luật được chọn trước đó không có những quy định cụ thể liên quan đến nội dung các tranh chấp thì lúc này việc có áp dụng tập quán thương mại quốc tế hay không không phụ thuộc vào ý chí của các bên nữa
mà tùy thuộc vào Hội đồng trọng tài
Như vậy có thể khẳng định lại lần nữa, pháp luật Việt Nam cho phép các bên trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng được phép lựa chọn pháp luật để điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa họ Tuy nhiên, khả năng lựa chọn luật không phải là vô hạn mà bị giới hạn trong một khuôn khổ nhất định mới được coi là có giá trị pháp luật như những vấn
đề lựa chọn luật phải nằm trong phạm vi chọn luật mà pháp luật cho phép hay việc chọn và áp dụng pháp luật nước ngoài không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
2.2 SỰ GHI NHẬN CỦA MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ TRONG TƯƠNG QUAN SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Hệ thống pháp luật các quốc gia khác nhau khi ban hành đều tuân thủ theo một số quy định chung thống nhất, đặc biệt là pháp luật về hợp đồng Tuy nhiên,
23
Khoản 3 điều 14 Luật Trọng tài thương mại 2010
Trang 38xuất phát từ sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán, chế độ chính trị mà giữa các hệ thống pháp luật khác nhau có sự không giống nhau khi điều chỉnh về cùng một vấn đề Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia hay các
tổ chức quốc tế thường cùng nhau soạn thảo các điều ước quốc tế, trong đó quy định thống nhất cách thức giải quyết các vấn đề liên quan mà các quốc gia quy định khác nhau Hiện nay, xuất phát từ tầm quan trọng của quyền chọn luật áp dụng trong các giao dịch mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài, cho nên pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia đã thừa nhận quyền lựa chọn pháp luật của các bên chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và ngày càng quan tâm hơn đến vấn đề này nhằm thúc đẩy hơn nữa giao dịch thương mại quốc tế
Chẳng hạn: “Hợp đồng mua bán chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật của nước được chỉ định bởi các bên giao kết”24 hay “hợp đồng được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn”25 Mặc dù cùng điều chỉnh về vấn đề quyền chọn luật của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhưng giữa những quy định của các điều ước quốc tế và quy định của pháp luật Việt Nam vẫn có những khác biệt nhất định
2.2.1 Phạm vi quyền chọn luật
Đối với việc xác định rõ phạm vi những vấn đề trong hợp đồng mà pháp luật cho phép các bên thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng Tư pháp quốc tế các nước trên thế giới đều xác định phạm vi những vấn đề mà các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng và như vậy, những vấn đề khác các bên không được phép thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng mà phải tuân theo sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật bắt buộc áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đó Thông thường, điều khoản về luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường có nội
dung mang tính chất khuôn mẫu như “mọi tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng pháp luật nước X” Giả sử tranh chấp được đưa ra
xét xử tại tòa án nước Y và việc lựa chọn hệ thống pháp luật này là hợp pháp thì có
phải “mọi vấn đề của hợp đồng” đều được xem xét bằng pháp luật nước X hay
không? Câu trả lời phụ thuộc vào Tư pháp quốc tế nước Y Nếu như Tư pháp quốc
tế nước Y cho phép các bên có thể thỏa thuận luật áp dụng cho mọi vấn đề của hợp
24
Điều 2 Công ước La Haye 1955
Trang 39đồng, câu trả lời là có Nhưng đặt trường hợp Tư pháp quốc tế của nước Y không cho phép thỏa thuận chọn luật áp dụng cho một vấn đề nào đó của hợp đồng, câu trả lời là không Do đó, khi sử dụng quyền chọn luật áp dụng cho hợp đồng, các bên cũng nên tìm hiểu kỹ những vấn đề mà mình được quyền chọn luật Nếu không cẩn thận, rất có thể dẫn đến một số nội hàm của thỏa thuận chọn luật bị vô hiệu do không thuộc phạm vi những vấn đề được quyền chọn luật
Theo nguyên tắc, sự lựa chọn luật áp dụng của các bên chỉ có thể đối với một
số vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên, tức là liên quan đến nội dung của hợp đồng Tuy nhiên nó không tồn tại một danh mục cụ thể chung cho tất cảc các vấn đề được đề cập đến, đặc biệt là trong pháp luật quốc gia Theo khoản 1 Điều 769 Bộ luật dân sự 2005 của Việt Nam, các bên trong hợp đồng chỉ được phép chọn luật để điều chỉnh quan hệ về quyền và nghĩa vụ của mình, các vấn đề khác như năng lực chủ thể, hình thức hợp đồng, diễn giải hợp đồng… thì không nằm trong phạm vi luật cho phép các bên được lựa chọn luật Trở lại với ví dụ trên, Điều
770 của Bộ luật dân sự 2005 của Việt Nam quy định:
“1 Hình thức của hợp đồng phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng Trong trường hợp hợp đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước đó, nhưng không trái với quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hình thức hợp đồng được giao kết ở nước ngoài đó vẫn được công nhận tại Việt Nam
2 Hình thức hợp đồng liên quan đến việc xây dựng hoặc chuyển giao quyền sở hữu công trình, nhà cửa và các bất động sản khác trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Như vậy, pháp luật của Việt Nam không mở ra cơ hội thỏa thuận luật áp dụng về hình thức của hợp đồng Do đó, khi nước Y là Việt Nam thì rõ ràng vấn đề hình thức hợp đồng sẽ không được áp dụng theo hệ thống pháp luật mà các bên chủ thể đã thỏa thuận
Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Liên Bang Nga cũng có đề cập đến vấn đề lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng Khoản 1 Điều 36 của Hiệp
Trang 40định quy định: “Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước do các bên lựa chọn, nếu điều đó không trái với pháp luật của các Bên ký kết” Theo quy định này thì các bên trong hợp đồng cũng được lựa chọn luật để điều
chỉnh các vấn đề nhất định, nhưng dường như phạm vi lựa chọn luật được cho phép
ở đây không rộng bằng phạm vi cho phép của Bộ luật dân sự 2005 của Việt Nam,
khi mà điều này chỉ đề cập đến “nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng”, các vấn đề khác, thậm chí là “quyền” của các bên không được nhắc đến Điều đó cho phép ta suy
luận, phạm vi mà các bên trong hợp đồng được phép lựa chọn pháp luật áp dụng chỉ gói gọn trong nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mà thôi Những vấn đề còn lại, các bên phải tuân thủ theo những quy định của hệ thống pháp luật mà hiệp định dẫn chiếu
Khác với cả luật Việt Nam và Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và
Liên Bang Nga, Công ước Rome 1980 có vẻ “mềm dẻo” hơn khi cho phép chủ thể
của hợp đồng được lựa chọn luật áp dụng điều chỉnh tất cả các vấn đề phát sinh từ hợp đồng, chỉ ngoại trừ hai vấn đề không được phép chọn luật đó là hình thức của hợp đồng và địa vị pháp lý của các bên mà thôi.26 Quy định này mở ra nhiều cơ hội lựa chọn luật hơn cho các bên của hợp đồng Qua đó, các bên có thể lựa chọn luật
áp dụng để điều chỉnh nhiều vấn đề khác nhau, không bị quá bó hẹp trong khuôn
khổ “quyền và nghĩa vụ” như pháp luật Việt Nam
Ngoài những quy định của các công ước trên còn phải kể đến Công ước La Haye 1986 về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Có thể nói danh mục các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ mà các bên của hợp đồng được phép lựa chọn luật được quy định khá đầy đủ trong Công ước La Haye 1986 Điều 12 Công ước La Haye quy định các bên có thể tự do lựa chọn luật áp dụng để: giải thích hợp đồng, quy định quyền và nghĩa vụ của các bên và việc thực hiện chúng, thời điểm chuyển rủi ro, tính hợp pháp và và hiệu lực pháp lý của các điều khoản của hợp đồng về bảo vệ quyền sở hữu đối với hàng hóa, hậu quả của việc không thực hiện hợp đồng, phương thức thực hiện nghĩa vụ, thời hạn tố tụng Bên cạnh đó, điều 5 của công ước La Haye quy định các bên không thể áp dụng nguyên