Nguyên tắc bảo ựảm ựể các nước không là thành viên Liên Hiệp Quốc cũng hành ựộng theo các nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc trong một mức ựộ cần thiết ựể duy trì hòa bình và an ninh quốc tế
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG đẠI HỌC CẦN THƠ
Sinh viên thực hiện:
Huỳnh Thị đông Hải Lớp: Luật Tư Pháp 2 Ờ K29
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Trang 3Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Trang 4Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI CẢM ƠN!
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ựến Thầy giáo Ờ Thạc sỹ Kim Oanh Na, người ựã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành bài luận văn này và ựã cho tôi những bài giảng bổ ắch trong môn học Công pháp Quốc tế Chắnh những bài giảng của thầy ựã giúp tôi có ựịnh hướng tìm hiểu ựề tài ỘLiên Hiệp Quốc và vấn ựề vũ khắ hạt nhânỢ đồng thời tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành ựến quý thầy, cô trong Khoa Luật cũng như các khoa khác trong Trường đại học Cần Thơ ựã tạo nền tảng kiến thức cho tôi trong suốt khóa học qua Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn ựến Thư viện Khoa luật đại học Cần Thơ, Thư viện Thành phố Cần Thơ ựã giúp tôi có ựược những tài liệu tham khảo có giá trị trong quá trình thực hiện ựề tài
Cuối cùng, tôi xin biết ơn gia ựình, những người thân và bạn bè ựã hết lòng ựộng viên và giúp ựỡ tôi trong quá trình viết luận văn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, tháng 06 năm 2007 Sinh viên thực hiện
Huỳnh Thị đông Hải
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
BẢNG CHÚ THÍCH NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ABM Anti- Ballistic Missile Tên lửa chống tên lửa ựạn ựạo CTBT Comprehensive Test Ban Treaty
Hiệp ước cấm thử vũ khắ hạt nhân tòan diện
vũ khắ hạt nhân SALT Strategic Arms Limitation Talks
đàm phán hạn chế vũ khắ tiến công chiến lược
START Strategic Arms Reduction Treaty
Hiệp ước cắt giảm vũ khắ tiến công chiến lược
ICBM Inter- Continental Ballistic Missile Tên lửa ựạn ựạo xuyên lục
ựịa ALBM Air- Launched Ballistic Missile
Tên lửa ựạn ựạo phóng từ máy bay chiến lược
dân
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
Lời nói ựầu -1
Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của Liên Hiệp Quốc về vấn ựề vũ khắ hạt nhân -4
1.1 Lược sử ra ựời và tồn tại của Liên Hiệp Quốc -4
1.2 Mục ựắch và các nguyên tắc cơ bản của Liên Hiệp Quốc -9
1.2.1 Mục ựắch của Liên Hiệp Quốc -9
1.2.2 Nguyên tắc cơ bản của Liên Hiệp Quốc - 11
1.2.2.1 Nguyên tắc chủ quyền bình ựẳng giữa các quốc gia và quyền dân tộc tự quyết - 11
1.2.2.2 Nguyên tắc tôn trọng và làm tròn những nghĩa vụ quốc tế - 13
1.2.2.3 Nguyên tắc các tranh chấp quốc tế sẽ ựược giải quyết hòa bình - 15
1.2.2.4 Nguyên tắc từ bỏ dùng vũ lực hoặc ựe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế chống lại toàn vẹn lãnh thổ và ựộc lập chắnh trị của các quốc gia - 16 1.2.2.5 Nguyên tắc các nước hợp tác với Liên Hiệp Quốc trong mọi hành ựộng tiến hành phù hợp với Hiến chương - 17
1.2.2.6 Nguyên tắc bảo ựảm ựể các nước không là thành viên Liên Hiệp Quốc cũng hành ựộng theo các nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc trong một mức ựộ cần thiết ựể duy trì hòa bình và an ninh quốc tế - 17
1.2.2.7 Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia - 18
1.3 Sự tác ựộng của Liên Hiệp Quốc về vấn ựề vũ khắ hạt nhân - 19
1.3.1 Sự ra ựời của Ủy ban năng lượng nguyên tử (IAEA) - 19
1.3.2 đàm phán giữa Mỹ- Liên Xô về giới hạn vũ khắ chiến lược - 21
1.3.2.1 Hiệp ước chống tên lửa ựạn ựạo(ABM) - 21
1.3.2.2 Hiệp ước hạn chế vũ khắ chiến lược(SALT) - 23
1.3.2.3 Hiệp ước cắt giảm vũ khắ hạt nhân(START) - 24
1.3.3 Hiệp ước hạn chế thử vũ khắ hạt nhân (LTB) - 26
1.3.4 Hiệp ước không phổ biến vũ khắ hạt nhân (NPT) - 27
1.3.5 Hiệp ước cấm thử vũ khắ hạt nhân toàn diện (CTBT) - 32
1.4 Vai trò của vũ khắ hạt nhân chiến lược trong quan hệ giữa các quốc gia có sở hữu vũ khắ hạt nhân - 34
1.4.1 Nhân tố răn ựe Ờ kiềm chế lẫn nhau - 35
Trang 7Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.4.2 Nhân tố thúc ựẩy hợp tác - 37
Chương 2: Tình hình và triển vọng giải quyết vấn ựề vũ khắ hạt nhân của Liên Hiệp Quốc - 39
2.1 đánh giá về khả năng duy trì hòa bình, an ninh quốc tế của Liên Hiệp Quốc về vấn ựề vũ khắ hạt nhân - 39
2.1.1 Liên Hiệp Quốc và vấn ựề giải trừ quân bị hạt nhân, chống chiến tranh bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế - 39
2.1.2 Sự trông chờ của cộng ựồng quốc tế vào những giải pháp của Liên Hiệp Quốc về vấn ựề vũ khắ hạt nhân ựể duy trì hòa bình và an ninh quốc tế - 44
2.2 Thực trạng Việt Nam tham gia và ựóng góp vào Hiệp ước không phổ biến vũ khắ hạt nhân - 50
2.2.1 Quan ựiểm của Việt Nam khi tham gia vào Hiệp ước không phổ biến vũ khắ hạt nhân - 50
2.2.2 Sự ựóng góp của Việt Nam vào việc ngăn ngừa phổ biến vũ khắ hạt nhân - 52 2.3 Tình hình và triển vọng giải quyết vấn ựề khủng hoảng hạt nhân ở một số quốc gia trong giai ựoạn hiện nay - 53
2.3.1 Vấn ựề khủng hoảng hạt nhân trên Bán đảo Triều Tiên Ờ Triển vọng giải quyết - 53
2.3.1.1 Nguyên nhân dẫn ựến khủng hoảng hạt nhân trên Bán đảo Triều Tiên - 58
2.3.1.2 Lợi ắch chiến lược của các bên có liên quan cũng như vai trò của các nước trong việc dàn xếp cuộc khủng hoảng - 63
2.3.1.3 Triển vọng giải quyết của cuộc ựàm phán - 71
2.3.2 Vấn ựề hạt nhân của Iran Ờ Thực trạng và triển vọng - 74
2.3.2.1 Nguồn gốc vấn ựề hạt nhân ở Iran - 74
2.3.2.2 Khả năng Mỹ tiến hành công kắch vào các cơ sở hạt nhân của Iran - 80
2.3.2.3 Triển vọng giải quyết cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Iran - 81
Kết luận - 84 Danh mục tài liệu tham khảo
PHỤ LỤC
- Số liệu cụ thể về trữ lượng Pluton và Urani có thể dùng ựể chế tạo vũ khắ hạt nhân của một số nước
- Hiệp ước không phổ biến vũ khắ hạt nhân (NPT)
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI NĨI ðẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay hịa bình là điều kiện thiết yếu để bảo vệ sự sinh tồn của lồi người
và của sự sống Cho nên, sự ra đời của một tổ chức quốc tế liên chính phủ - Liên Hiệp Quốc đã đánh dấu một sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế và mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc Liên Hiệp Quốc là một tổ chức quốc tế lớn nhất của các quốc gia cho nên chính hoạt động và quy mơ của tổ chức mà Liên Hiệp Quốc đã trở thành một diễn đàn đấu tranh và hợp tác trong điều kiện cùng tồn tại hịa bình giữa các quốc gia khơng tùy thuộc vào chế độ chính trị, xã hội Tuy nhiên, diễn biến phức tạp, căng thẳng ngày càng leo thang của vấn đề vũ khí hạt nhân đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích an ninh chiến lược các quốc gia và là một trong những nguyên nhân dẫn đến mối nghi kỵ mâu thuẫn lẫn nhau trong quan hệ song phương, đa phương quan trọng trên thế giới Chính tình hình bất ổn của vấn đề vũ khí hạt nhân đã gây ảnh hưởng lớn đến an ninh, ổn định và phồn vinh chung của nhân loại Trong khi xem xét vai trị cũng như nổ lực của Liên Hiệp Quốc đối với vấn đề duy trì hịa bình, an ninh quốc tế nĩi chung, một vấn đề luơn thu hút sự quan tâm, theo dõi của thế giới là tác động của Liên Hiệp Quốc đến tình hình khủng hoảng hạt nhân ở một số quốc gia trong giai đoạn hiện nay như thế nào? ðây là một yếu tố cấu thành quan trọng nên sức mạnh và địa vị của Liên Hiệp Quốc trên thế giới
Ngày 26/06/1945 trong cuộc họp tại thành phố San Francisco các đồn đại biểu của các quốc gia là thành viên đầu tiên của Liên Hiệp Quốc đã ký tên vào bản Hiến chương Liên Hiệp Quốc và cùng nhau cam kết tuân thủ những mục đích và nguyên tắc cơ bản của Liên Hiệp Quốc là “ Duy trì hịa bình và an ninh quốc tế” Trong giai đoạn đầu mới ra đời, Liên Hiệp Quốc phải đối mặt với những vấn
đề chính trị và quân sự chưa từng cĩ, mâu thuẫn với quy định trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc và khơng phù hợp với nguyện vọng của các quốc gia là để cho các thế hệ mai sau thốt khỏi những thảm họa chiến tranh Bởi vì vào ngày 16/07/1945 Mỹ đã cho thử quả bom nguyên tử đầu tiên tại sa mạc New Mexico để đánh dấu lần đầu tiên con người đã giải phĩng được một nguồn năng lượng mạnh chưa từng thấy, đĩ là năng lượng hạt nhân Sự việc càng trở nên nghiêm trọng hơn
là sau khi thử thành cơng trái bom nguyên tử đầu tiên, người Mỹ đã bắt tay vào sản xuất trái bom tiếp theo, và lần này khơng phải nhằm mục đích thí nghiệm nữa Ngày 06/08/1945 quân đội Mỹ đã ném trái bom này xuống thành phố Hirơshima
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trên ñất Nhật Bản, và ba ngày sau ñó, ngày 09/08/1945 một trái bom nguyên tử tương tự cũng ñược ném xuống một thành phố khác của ñất nước Mặt trời mọc, thành phố Nagasaki ñã giết chết mấy trăm ngàn dân thường vô tội Cho nên, lĩnh vực mà Liên Hiệp Quốc quan tâm hàng ñầu là dành những cố gắng to lớn của tổ chức ñối với vấn ñề giải trừ quân bị, chống chiến tranh, kiểm soát vũ trang ñể tiến tới thành lập một hệ thống an ninh quốc tế Nguy cơ nước Mỹ có thể sẽ tiếp tục sử dụng loại vũ khí giết người hàng loạt (WMD) ñó chống các dân tộc khác ñã làm cho vấn ñề giải trừ quân bị hạt nhân mang tính thời sự cấp bách hơn bao giờ hết Trong bối cảnh hiện nay, hoạt ñộng của Liên Hiệp Quốc trong lĩnh vực duy trì hòa bình và an ninh quốc tế ngày càng ñược cũng cố và tăng cường Mà một trong những chiến lược an ninh hàng ñầu của Liên Hiệp Quốc là ngăn chặn việc phổ biến vũ khí hạt nhân và mục tiêu cơ bản cần ñạt ñến trong tương lai là vấn ñề giải trừ quân bị toàn diện và triệt ñể Bởi vì số lượng các quốc gia bị tình nghi tìm cách sở hữu vũ khí hạt nhân vẫn cố tình tìm cách trang bị vũ khí hạt nhân cho quốc gia mình Trước tình hình khủng hoảng hạt nhân ở một số quốc gia mà vẫn chưa tìm ra một giải pháp thích hợp ñể sớm thực hiện mục tiêu phi hạt nhân hóa thì nỗi sợ hãi của cộng ñồng quốc tế về một cuộc chiến tranh hạt nhân cục bộ sẽ xảy ra trong tương lai chưa hoàn toàn bị ñẩy lùi
ðể hiểu rõ hơn về bản chất của những văn kiện mang tính chất pháp lý quốc
tế về vấn ñề vũ khí hạt nhân cũng như tình hình khủng hoảng hạt nhân ở một số quốc gia trong thời gian qua Tôi ñã chọn ñề tài “ Liên Hiệp Quốc và vấn ñề vũ khí hạt nhân” ñể làm luận văn tốt nghiệp Bản luận văn tập trung ñi sâu tìm hiểu những thành tựu ñạt ñược cũng như tồn tại của Liên Hiệp Quốc trong vấn ñề giải trừ quân bị hạt nhân tiến tới loại trừ vũ khí hạt nhân và tất cả các loại vũ khí có khả năng hủy diệt hàng loạt ra khỏi lực lượng vũ trang của các nước Yếu tố kỹ thuật quân sự không ñược ñề cập nhiều mà phần lớn trình bày những tác ñộng của cuộc khủng hoảng hạt nhân ñến mặt an ninh - chính trị và tâm lý của các quốc gia trên cơ sở những thỏa thuận ñạt ñược qua các vòng ñàm phán
2.Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu ñề tài nhằm các mục ñích chính sau:
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
-Vai trò và ý nghĩa của Liên Hiệp Quốc ñối với vấn ñề duy trì hòa bình, an ninh quốc tế và tác ñộng của Liên Hiệp Quốc tới nỗ lực cấm phổ biến vũ khí hạt nhân trên thế giới
-Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới khủng hoảng hạt nhân ở Bắc Triều Tiên và Iran
-Tìm hiểu những khó khăn trong việc tìm ra giải pháp thương lượng ổn thỏa
ñể ñạt ñược thỏa thuận giữa các bên cho vấn ñề phi hạt nhân
3.Nội dung nghiên cứu
ðề tài tập trung nghiên cứu các vấn ñề cơ bản bao gồm những nội dung chủ yếu sau ñây:
Lời nói ñầu
Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của Liên Hiệp Quốc về vấn ñề
vũ khí hạt nhân
Chương 2: Tình hình và triển vọng giải quyết vấn ñề vũ khí hạt nhân của Liên Hiệp Quốc
Kết luận
4.Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu ñề tài, người viết ñã vận dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp so sánh ðồng thời dựa trên những văn kiện mang tính chất pháp lý quốc tế về vấn ñề vũ khí hạt nhân ñể làm sáng tỏ vấn ñề cần nghiên cứu
5.Phạm vi nghiên cứu
ðây là một ñề tài mới mẻ và khó ñối với trình ñộ cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của sinh viên, ñồng thời do ñiều kiện hạn chế về nguồn tài liệu thực tiễn cũng như kiến thức khoa học về các lĩnh vực có liên quan ñến ñề tài, cho nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu những vấn ñề cơ bản mang tính chất gợi mở,
do ñó sẽ không tránh khỏi thiếu sót hạn chế Rất mong nhận ñược sự phê bình góp
ý của quý thầy cô, các bạn sinh viên và bạn ñọc ñể ñề tài ñược hoàn thiện hơn
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ VẤN đỀ VŨ KHÍ HẠT NHÂN
1.1 Lược sử ra ựời và tồn tại của Liên Hiệp Quốc
Liên Hiệp Quốc ra ựời bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân có tắnh chất kinh tế, chắnh trị, xã hội khác nhau Nhưng nhìn một cách tổng thể thì Liên Hiệp Quốc ra ựời là một thắng lợi to lớn của tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tự do và công lý, chống chủ nghĩa phát xắt và chủ nghĩa ựế quốc trong chiến tranh thế giới thứ hai
Với cuộc tiến công xâm lược ồ ạt của nước đức phát xắt vào Ba Lan ựầu tháng 09 năm 1939, cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai ựã bùng nổ Ngọn lửa chiến tranh lan nhanh ra toàn Châu Âu rồi bao trùm cả khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đến cuối 1941, hai trận tuyến của cuộc chiến ựã hình thành: tập ựoàn các nước phát xắt đức, Italia, Nhật Bản và khối các nước đồng minh chống phát xắt gồm Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc và nhiều nước khác Do các nước trong Mặt trận đồng minh có chung kẻ thù là Chủ nghĩa phát xắt nên ngay trong những ngày ựầu tiên phát xắt đức tấn công Liên Xô, cả Anh và Mỹ ựều tuyên bố sẽ ựứng về phắa Liên Xô chống phát xắt Như vậy, sự hình thành Mặt trận đồng minh ựã tạo tiền ựề cho sự hợp tác giữa các nước lớn ựể tiến hành cuộc chiến tranh diệt phát xắt và tiến tới thành lập Liên Hiệp Quốc
Cuộc chiến ngày càng ác liệt và mở rộng quy mô nên ựòi hỏi các quốc gia chống phát xắt phải hợp tác chặt chẽ với nhau hơn nữa bằng những cam kết mang tắnh chất pháp lý quốc tế ựó là lý do dẫn tới cuộc gặp của ựại diện 26 nước gồm: Liên Xô, Mỹ, Anh, Trung Quốc, Australia, Bỉ, Ấn độ, Canada, Côxta Rica, Cuba, Tiệp Khắc, đôminica, Xanvado, Hy Lạp, Goatêmala, Haiti, Ônđurat, Ba Lan, Cộng hoà Nam Phi, Nam Tư, Hà Lan, Luxămbua, NewZeaLand, Nicaragoa,
Na Uy, Panama tại Oashingtơn ngày 01-01-1942 Một tuyên bố quan trọng ựã ựược cam kết: Một là, mỗi quốc gia sẽ dốc tất cả lực lượng quân sự và kinh tế vào cuộc chiến tranh chống các nước phát xắt; Hai là, hợp tác chặt chẽ với nhau và không ựược ựàm phán hoặc ký kết hòa ước riêng rẽ với kẻ thù chung
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
đó là ỘTuyên ngôn của 26 nướcỢ hoặc còn ựược gọi là Tuyên ngôn liên hiệp các dân tộc, ựánh dấu sự hình thành khối đồng minh chống phát xắt Danh từ
ỘLiên Hiệp QuốcỢ ựã xuất hiện lần ựầu tiên từ bản Tuyên ngôn này
Sự hình thành Mặt trận đồng minh bao gồm nhiều quốc gia trên thế giới như
là một ựảm bảo vững chắc trong việc ựánh bại các nước phát xắt, cứu cả loài người thoát khỏi những thảm họa man rợ của chúng Nhưng khối đồng minh ựó không phải là một khối nhất trắ hoàn toàn bởi vì giữa các nước tham chiến bên cạnh mục ựắch chung là chiến thắng chủ nghĩa phát xắt lại theo ựuổi những mục tiêu không giống nhau do bản chất chế ựộ chắnh trị và nhà nước của họ khác nhau
Trong giai ựoạn này, vai trò của ba cường quốc Liên Xô, Mỹ, Anh có ý nghĩa quyết ựịnh trong việc tiến hành kế hoạch chiến tranh ựể cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xắt kết thúc thắng lợi và tổ chức lại trật tự thế giới sau chiến tranh là duy trì một nền hoà bình, công bằng và bền vững
Tháng 10 năm 1943 Hội nghị Ngoại trưởng Xô-Mỹ-Anh ở Matxcơva ựã nhấn mạnh sự cần thiết của việc hợp tác và phối hợp hành ựộng của ba cường quốc không những là ựiều kiện có ý nghĩa quyết ựịnh trong việc nhanh chóng ựánh bại phát xắt xâm lược mà còn thiết lập một nền hòa bình và an ninh vững chắc sau chiến tranh cho tất cả các dân tộc Hội nghị còn nhấn mạnh sự cần thiết phải thành lập trong một thời hạn ngắn nhất một tổ chức quốc tế chung ựể duy trì hòa bình và
an ninh thế giới dựa trên cơ sở nguyên tắc bình ựẳng, chủ quyền của tất cả các quốc gia yêu chuộng hòa bình mà thành viên của nó là tất cả các nước lớn và nhỏ Như vậy, Hội nghị ựã ựánh dấu bước tiến thực tiễn ựầu tiên trong việc thành lập tổ chức Liên Hiệp Quốc bởi vì nó ựã xác ựịnh ựược những nguyên tắc cơ bản làm cơ
sở hoạt ựộng của Liên Hiệp Quốc Bản Tuyên bố của hội nghị Matxcơva còn ghi rõ: ỘNhững nguyên tắc bình ựẳng, chủ quyền của tất cả các quốc gia lớn và nhỏ không phụ thuộc vào chế ựộ chắnh trị, kinh tế, xã hội của họỢ Và trong tuyên bố ngày 04/12/1941, Chắnh phủ Liên Xô chủ trương Ộmột tổ chức quốc tế mới ựảm bảo ựược một nền hòa bình vững chắc và chân chắnh sau khi ựánh bại bọn xâm lượcỢ Và ựiều ựó chỉ có thể ựạt ựược khi dựa trên cơ sở thống nhất của các nước dân chủ trong sự liên minh vững chắc và nhân tố quyết ựịnh ựể thành lập một tổ chức quốc tế như thế là cần phải tôn trong luật pháp quốc tế, bảo ựảm bằng sức mạnh vũ trang tập thể của tất cả các nước liên minh
đường lối chung thống nhất và sự hợp tác giữa ba nước lớn về việc thành lập một hệ thống quốc tế ựảm bảo hòa bình và an ninh lâu dài ựã ựược tiếp tục ghi nhận và xác ựịnh ngày càng cụ thể hơn qua các hội nghị gặp gỡ quốc tế giữa ba
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nước trong những năm 1943- 1945 Tại cuộc gặp lần ñầu tiên kể từ khi chiến tranh xảy ra, những người ñứng ñầu ba cường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh là Xtalin, Rudơven và Sơcsin ở thủ ñô Teheran của Iran từ ngày 28/11 ñến ngày 01/12/1943
ñã ra một tuyên bố chung quan trọng Cùng với việc ñề ra một kế hoạch tiến hành chiến tranh nhằm nhanh chóng ñánh bại nước ðức phát xít, bản Tuyên bố ñã biểu thị sự quyết tâm của ba nước lớn sẽ cùng nhau cộng tác trong thời gian chiến tranh cũng như trong hòa bình sau này, ñặc biệt nhấn mạnh tới tầm quan trọng của sự hợp tác của ba nước và vai trò của một tổ chức quốc tế ñối với hòa bình, an ninh lâu dài của các dân tộc Hội nghị ñã ra Tuyên bố chung của ba vị nguyên thủ và nhấn mạnh rằng: “Chúng tôi nhận thức một cách ñầy ñủ trách nhiệm cao cả ñặt lên vai chúng tôi và Liên hiệp các dân tộc vì một nền hòa bình như thế, một nền hòa bình sẽ ñược hoan nghênh của tuyệt ñại ña số quần chúng trên trái ñất và nó
sẽ xóa bỏ mọi tai họa khủng khiếp và chiến tranh ñối với nhiều thế hệ”
Trên cơ sở ñạt ñược những thỏa thuận ñầu tiên, ñại diện ba nước Liên Xô, Mỹ
và Anh ñã gặp nhau tại Dumbarton Oaks ở ngoại ô Oashingtơn từ ngày 21 tháng
08 ñến ngày 07/10/1944 Hội nghị chia ra làm hai giai ñoạn: Giai ñoạn ñầu từ ngày 21/08 ñến ngày 28/09 gồm các ñại diện Liên Xô, Mỹ và Anh; Giai ñoạn sau bắt ñầu từ ngày 28/09 ñến ngày 07/10 gồm các ñại diện Mỹ, Anh và Trung Hoa Dân Quốc Hội nghị Dumbarton Oaks không mang tính chính thức mà là sự chuẩn
bị của các chuyên gia ñể xây dựng một văn bản thành lập tổ chức Liên Hiệp Quốc, văn bản ñó còn ñược gọi là “Những ñề nghị Dumbarton Oaks” Các chuyên gia ñề nghị tên gọi của tổ chức quốc tế mới là “Liên Hiệp Quốc” (tên gọi này ñã có từ Tuyên ngôn của 26 nước ñầu năm 1942 và trở thành tên gọi của khối ðồng minh các nước chống phát xít) Hội nghị ñã ñạt ñược thỏa thuận với nhau về hầu hết các vấn ñề căn bản của việc thành lập Liên Hiệp Quốc như: mục tiêu và nguyên tắc, các cơ quan chính yếu, cơ chế ñảm bảo an ninh, hòa bình quốc tế, hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tiêu chuẩn thành viên …Về Hội ñồng Bảo an (HðBA) Liên Hiệp Quốc, Hội nghị Dumbarton Oaks ñạt ñược thỏa thuận về chức năng chủ yếu là ñảm bảo hòa bình và an ninh quốc tế; Liên Xô, Anh, Mỹ, Pháp, Trung Hoa là năm Uỷ viên thường trực Chỉ còn vấn ñề biểu quyết ở HðBA là chưa giải quyết xong, phải chờ ñến Hội nghị Yalta sẽ diễn ra ở Liên Xô vào tháng 02/1945 mới ñược quyết ñịnh theo nguyên tắc nhất trí giữa năm cường quốc Ủy viên thường trực ở HðBA
Nhưng nhìn chung những kết quả ñạt ñược ở Hội nghị Dumbarton Oaks ñã ñược chính phủ và dư luận các nước hoan nghênh và ñánh giá cao
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Tiếp đĩ, vào đầu tháng 02/1945 Hội nghị Yalta đã được triệu tập, ba vị đứng đầu của các nước Liên Xơ, Mỹ và Anh đã giải quyết những vấn đề thực tiễn trong việc thành lập Liên Hiệp Quốc và những vấn đề về cơ cấu và thủ tục của tổ chức Liên Hiệp Quốc Hội nghị Yalta nhất trí một lần nữa sự khẳng định của việc thành lập một tổ chức quốc tế liên chính phủ - Liên Hiệp Quốc và thỏa thuận vấn đề quan trọng nhất là vấn đề biểu quyết ở HðBA mà Hội nghị Dumbarton Oaks cịn phải gác lại Hội nghị Yalta quy định rằng: Ở HðBA ngồi những vấn đề thủ tục
cĩ liên quan đến hịa bình, an ninh quốc tế, các vấn đề khác muốn được giải quyết nhất thiết phải cĩ sự thỏa thuận giữa năm cường quốc Ủy viên thường trực của HðBA là Liên Xơ, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc Như vậy, Hội nghị Yalta đã thiết lập một hệ thống an ninh - một trật tự thế giới mới dựa trên sự nhất trí của năm cường quốc và đĩ cũng chính là cơ sở cùng tồn tại hịa bình giữa hai hệ thống
tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa
Hội nghị Yalta cịn thỏa thuận triệu tập hội nghị quốc tế thành lập Liên Hiệp Quốc vào tháng 04 năm 1945 và soạn thảo một bản Hiến chương dựa trên những
đề nghị của Hội nghị Dumbarton Oaks trước đây
Từ ngày 25 tháng 04 đến ngày 26 tháng 06 năm 1945 tại thành phố ven biển San Francisco đã tiến hành hội nghị quốc tế để thành lập Liên Hiệp Quốc Hội nghị đã làm việc kéo dài trong hai tháng với sự tham gia của đại diện 50 quốc gia, trên 850 đại biểu cùng cố vấn, chuyên gia, nhân viên kỹ thuật; tất cả gồm tới 3500 người1 Một nhiệm vụ quan trọng nhất của Hội nghị là soạn thảo và thơng qua bản Hiến chương của Liên Hiệp Quốc nhằm thiết lập và duy trì một nền hịa bình, an ninh cho các dân tộc mà họ vừa trải qua những năm tháng chiến tranh cực kỳ khĩc liệt và đầy đau thương mất mát Hội nghị thành lập ban chỉ đạo gồm 50 vị trưởng đồn của 50 nước Giúp việc cho ban chỉ đạo cĩ ban chấp hành gồm 14 vị trưởng đồn do Hội nghị bầu ra Vấn đề chủ yếu của chương trình nghị sự là soạn thảo chi tiết và thơng qua bản Hiến chương ðể tiến hành cơng việc, Hội nghị đã thành lập bốn ban chuyên mơn Bốn ban lại chia thành 12 tiểu ban kỹ thuật để làm việc Trong hai tháng làm việc, Hội nghị đã họp tất cả chín phiên tồn thể, gần 400 cuộc họp của các ban và tiểu ban Ngồi ra, những vấn đề quan trọng gây cấn nhất được xem xét tại các phiên họp thường kỳ của trưởng đồn các nước lớn Từng phần một của Hiến chương được thơng qua bằng đa số phiếu 2/3 Do để soạn thảo
và thơng qua được một văn kiện quan trọng này nên trong các cuộc họp đã diễn ra
1 B.P Prơcơphiép: LHQ – 25 năm NXB – Quan hệ quốc tế Maxcơva năm 1970
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
những cuộc thảo luận sơi nổi và tranh luận gay gắt về từng điều khoản, từng từ của Hiến chương, thậm chí cĩ cả những bất đồng sâu sắc, nhưng với lịng yêu chuộng hịa bình và mong muốn thành lập một tổ chức quốc tế hoạt động cĩ hiệu quả, các đồn đại biểu tham dự Hội nghị đã cĩ những nhân nhượng để giảm bớt bất đồng
Ngày 25/06/1945 các đồn đại biểu đã họp phiên cuối cùng tại nhà hát Opera San- Francisco Chủ tịch hội nghị trao cho các đồn đại biểu bản “Dự thảo Hiến chương Liên Hiệp Quốc” Hơm sau, ngày 26/06/1945 tại Tồ nhà cựu chiến binh
ở San Francisco, các đồn đại biểu đã long trọng tiến hành lễ ký kết vào văn kiện Hiến chương Liên Hiệp Quốc
Những quốc gia được mời tham gia soạn thảo và ký vào bản Hiến chương Liên Hiệp Quốc để trở thành những thành viên đầu tiên của tổ chức quốc tế rộng lớn này bao gồm: Bốn cường quốc Liên Xơ, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Hoa và 42 nước đã ký vào Tuyên bố của các quốc gia Liên Hiệp ngày 01/01/1942 hoặc những nước đã tuyên chiến với ðức hoặc Nhật trước ngày 01/03/1945 Ngồi ra chính phủ của Belarussia, Ukraina, Argentina và ðan Mạch cũng được mời dự Tổng cộng cĩ 50 quốc gia Riêng trường hợp của Ba Lan do tình hình bất ổn định trong nước và chưa thống nhất chính phủ nên khơng được Mỹ cấp thị thực nhập cảnh, đồn đại biểu Ba Lan đã khơng tới tham dự được, nhưng vẫn được xem là một trong số 51 thành viên đầu tiên của Liên Hiệp Quốc Trong văn kiện Hiến chương, chỗ ký của Ba Lan tạm thời bỏ trống, sau đĩ nước này đã ký vào Hiến chương Như vậy, tổng số thành viên đầu tiên của Liên Hiệp Quốc là 51 Danh sách 51 nước thành viên đầu tiên như sau:
- 15 nước Châu Âu: Bỉ, Belarussia, Liên Xơ, Tiệp Khắc, ðan Mạch, Pháp, Hy Lạp, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỹ, Ukraina, Anh, Nam Tư
- 8 nước Châu Á: Trung Hoa, Ấn ðộ, Iran, Irắc, Liban, Philippines, Ảrập Xêut, Syria
- 22 nước Châu Mỹ: Argentina, Bolivia, Brazil, Canada, Colombia, Costa Rica, Cuba, Cộng Hịa Dominica, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Haitee, Honduras, Mêhicơ, Nicaragoa, Panama, Paraguay, Venezuela, Chilê
- 4 nước Châu Phi: Ai Cập, Ethiopia, Liberia, Nam Phi
- 2 nước Châu ðại Dương: Úc, Newzealand 2
2 B.P Prơcơphiép: LHQ- 25 năm NXB- Quan hệ quốc tế Maxcơva năm 1970
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bốn tháng sau, ngày 24/10/1945, sau khi ñược phê chuẩn và chuyển giao các chứng thư phê chuẩn ñó vào lưu trữ ở Chính phủ Mỹ, Hiến chương Liên Hiệp Quốc bắt ñầu có hiệu lực Từ ñó, hằng năm ngày 24/10 trở thành ngày kỷ niệm của Liên Hiệp Quốc
Như vậy, việc ra ñời của tổ chức Liên Hiệp Quốc là một sự kiện to lớn trong ñời sống chính trị quốc tế, ñánh dấu một cái mốc quan trọng trong cuộc ñấu tranh của các lực lượng yêu chuộng hòa bình chống chiến tranh vì sự phát triển của những quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc Liên Hiệp Quốc là một cơ quan hợp tác quốc tế nhằm duy trì hoà bình và an ninh thế giới, thúc ñẩy và giúp
ñỡ những tiến bộ về phát triển về kinh tế, xã hội của các dân tộc ðiều ñó không chỉ do những ñòi hỏi cấp bách của tình hình thế giới và bài học tích cực rút ra từ cuộc ñấu tranh chung của các quốc gia dân tộc chống chủ nghĩa phát xít sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai mà còn từ những kinh nghiệm cần phải tránh của Hội quốc liên trước ñây
1.2.Mục ñích và các nguyên tắc cơ bản của Liên Hiệp Quốc
1.2.1.Mục ñích của Liên Hiệp Quốc
Hiến chương Liên Hiệp Quốc gồm 19 chương với 111 ñiều khoản ngắn gọn, xác ñịnh mục ñích, nguyên tắc cơ bản của Liên Hiệp Quốc Hiến chương mở ñầu bằng Lời nói ñầu ñầy sức thuyết phục: “Chúng tôi, nhân dân các nước liên hợp lại, quyết tâm phòng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm họa chiến tranh ñã hai lần trong một ñời người, gây ra cho nhân loại ñau thương không kể xiết”;
“Cùng góp sức chung ñể giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế” ðối với thế giới ngày nay thì ñây vẫn là mục tiêu trước hết, nóng bỏng nhất bởi liên quan tới sự tồn tại của chính cuộc sống loài người
Ngay trong ñiều 1, Hiến chương ñã xác ñịnh mục ñích chủ yếu nhất của Liên Hiệp Quốc là “ Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế” Cho nên ñể ñạt ñược mục ñích trên, các nước “phải tiến hành những biện pháp tập thể có hiệu quả ñể phòng ngừa và loại trừ mối ñe dọa hòa bình, cấm mọi hành vi xâm lược hoặc phá hoại hoà bình khác, ñiều chỉnh và giải quyết hoà bình, phù hợp với nguyên tắc của công lý và luật pháp quốc tế, những tranh chấp hoặc tình hình quốc tế có thể dẫn ñến sự phá hoại hoà bình”
Trong hơn 5500 năm qua, trong lịch sử loài người ñã xảy ra hơn 14000 cuộc chiến tranh lớn, nhỏ, làm chết gần 4 tỷ người Cuộc chiến tranh với vũ khí càng hiện ñại tối tân thì số người bị tàn sát càng khủng khiếp Từ khi Chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai ñoạn tột cùng của nó là Chủ nghĩa ñế quốc, ñã trút lên ñầu nhân
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
loại hai cuộc chiến tranh tàn khĩc, cĩ quy mơ tồn thế giới Trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cĩ 32 nước đã tuyên bố tình trạng chiến tranh Chiến tranh đã làm chết 10 triệu người và làm bị thương 20 triệu người khác Chiến tranh thế giới lần thứ hai ác liệt hơn nhiều, cuộc chiến kéo dài trong sáu năm và đã
nổ ra ở 61 nước ở Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu ðại Dương, đã lơi kéo 1 tỷ 700 triệu người và 22 triệu kilơmét vuơng lãnh thổ vào cuộc chiến Lãnh thổ của 40 nước chủ yếu ở Châu Âu đã trở thành chiến trường 110 triệu người được huy động vào cuộc chiến tranh, nhiều hơn 40 triệu so với cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất 3 Chúng ta khơng thể tính hết được những thiệt hại do Chiến tranh thế giới thứ hai gây ra cho các dân tộc Riêng số người chết đã lên đến con số 50 triệu Từ nhiều thập kỷ qua, các dân tộc trên thế giới đã và đang phải chịu đau thương cực kỳ nặng nề từ những cuộc chạy đua vũ trang vơ cùng tốn kém mà các nước đã gây ra
Chiến tranh kết thúc và hồ bình được lập lại ở các dân tộc Hịa bình là thành quả vĩ đại của nhân dân tất cả các nước yêu chuộng hồ bình đã anh dũng đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít dã man Muốn bảo vệ hồ bình, các dân tộc phải đồn kết lại, cho nên ngay sau khi thốt khỏi chiến tranh các dân tộc xiết chặt nhau lại để cùng bảo vệ hồ bình Một đội ngũ đơng đảo các dân tộc đã tập hợp nhau lại trong Liên Hiệp Quốc - một tổ chức được sinh ra sau chiến tranh để từng bước lớn lên và trưởng thành
Mục tiêu bảo vệ hồ bình và an ninh quốc tế của các dân tộc đã được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc- một văn bản pháp lý quốc tế phổ cập nhất, đặt cơ sở hợp tác quốc tế giữa các dân tộc để bảo vệ hồ bình bằng chính cơ chế
và nguyên tắc hoạt động cơ bản của Liên Hiệp Quốc
Giờ đây, quyết tâm và nguyện vọng bảo vệ hồ bình và an ninh quốc tế của nhân dân các nước thành viên Liên Hiệp Quốc vẫn giữ nguyên giá trị, thiết tha, và cháy bỏng hơn bao giờ hết Bởi vì chủ nghĩa đế quốc đã sử dụng những thành tựu đạt được của khoa học kỹ thuật là những phương tiện cĩ khả năng huỷ diệt hàng loạt, huỷ diệt nền văn minh nhân loại và sự sống nĩi chung để đe dọa nền hồ bình thế giới Cho nên nỗi lo của nhân dân thế giới về cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân
và chiến tranh hạt nhân chưa được đẩy lùi hồn tồn bởi vì các cường quốc hạt nhân hiện đang sở hữu số đầu đạn hạt nhân sẵn sàng bấm nút cĩ khả năng huỷ diệt
3 Cuộc chạy đua vũ trang- mối hiểm họa to lớn đối với nhân loại- TLTK- TTXVN phát hành 01/1984, trang 2
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
toàn bộ sự sống của của loài người Chính do ñòi hỏi của tình hình khách quan mà vai trò và trách nhiệm to lớn của Liên Hiệp Quốc ngày càng ñược ñề cao hơn
Ngoài mục ñích chủ yếu nhất là “Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế”, Liên Hiệp Quốc còn có những mục ñích chủ yếu sau ñây:
- Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình ñẳng và tự quyết của các dân tộc và áp dụng những biện pháp phù hợp khác ñể cũng cố hoà bình thế giới
- Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn ñề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân ñạo; khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền tự do của con người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo
- Trở thành trung tâm phối hợp hành ñộng của các dân tộc nhằm ñạt ñược những mục ñích nói trên
Nhìn một cách tổng quát những mục ñích của Liên Hiệp Quốc gắn liền chặt chẽ với nhau nhưng bao trùm và nổi bật lên hàng ñầu là mục ñích duy trì hoà bình
và an ninh quốc tế
Sự thành lập Liên Hiệp Quốc ñã thuộc về lịch sử, nhưng tinh thần, nội dung của những mục tiêu của Liên Hiệp Quốc không chỉ là di sản thắng lợi của các dân tộc yêu chuộng hòa bình lúc tổ chức ra ñời, mà nó vẫn còn nguyên giá trị hiện thực ở hiện tại và cả trong tương lai
1.2.2.Các nguyên tắc cơ bản của Liên Hiệp Quốc
ðể thực hiện những mục ñích chủ yếu của mình, Liên Hiệp Quốc ñược thành lập và hoạt ñộng theo những nguyên tắc cơ bản sau ñây, ñược thể hiện qua Hiến chương, ñó là:
1.2.2.1.Nguyên tắc chủ quyền bình ñẳng giữa các quốc gia và quyền dân
tộc tự quyết
ðiều 2, khoản 1 Hiến chương Liên Hiệp Quốc xác nhận: “Liên Hiệp Quốc ñược xây dựng trên nguyên tắc bình ñẳng chủ quyền của tất cả các nước thành viên”
Trong Lời nói ñầu Hiến chương ghi nhận các dân tộc tuyên bố sự tin tưởng “ở quyền bình ñẳng giữa các nước lớn và nhỏ”
Nguyên tắc bình ñẳng về chủ quyền giữa các nước là một trong những nguyên tắc cơ bản có tầm quan trọng bậc nhất trong tổ chức và hoạt ñộng của Liên Hiệp Quốc, trong quan hệ quốc tế và luật quốc tế hiện ñại
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Chủ quyền là một thuộc tính cơ bản của quốc gia Các quốc gia ñộc lập có chủ quyền là chủ thể của luật quốc tế và vì vậy mà các quốc gia bình ñẳng với nhau Bình ñẳng về chủ quyền có nghĩa là tất cả các nước không phân biệt chế ñộ chính trị, xã hội, trình ñộ phát triển kinh tế và văn hóa, vị trí ñịa lý, số dân, diện tích lãnh thổ… ñều bình ñẳng về mặt pháp lý; có các quyền và nghĩa vụ cơ bản như nhau trong quan hệ quốc tế Các quyền và nghĩa vụ cơ bản ñó phát sinh từ chủ quyền của quốc gia, là các quyền và nghĩa vụ có tính chất chủ quyền xuất hiện
từ khi thành lập quốc gia, ñặc trưng cho mỗi quốc gia Các quyền và nghĩa vụ cơ bản ñó khác với các quyền và nghĩa vụ mà quốc gia có ñược khi tham gia vào từng quan hệ quốc tế cơ bản, với tư cách là chủ thể của quan hệ quốc tế cụ thể
Nhìn chung, nội dung của các quyền và nghĩa vụ cơ bản của quốc gia do lịch
sử của từng thời ñại cụ thể quy ñịnh Hiện nay các quốc gia ñược thừa nhận có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau ñây 4:
- Quyền ñược ñộc lập hoàn toàn về mặt chính trị, kinh tế và phát triển về quyền chủ quyền quốc gia;
- Quyền bình ñẳng và hợp tác bình ñẳng trong quan hệ quốc tế;
- Quyền của các nước và các dân tộc tự quyết vận mệnh của mình;
- Quyền tự vệ cá thể hoặc tự vệ tập thể;
- Quyền tham gia vào tổ chức quốc tế và hợp tác quốc tế;
- Quyền ñược hưởng hòa bình và cùng tồn tại hòa bình với các quốc gia có chế ñộ chính trị, xã hội khác…
Khi các quốc gia có các quyền cơ bản thì các quốc gia cũng có những nghĩa vụ
cơ bản Những nghĩa vụ cơ bản ñó là:
- Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
- Giải quyết tranh chấp của mình với các nước khác bằng những biện pháp hoà bình ;
- Tôn trọng ñộc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau;
- Làm tròn những nghĩa vụ quốc tế mà mình ñã cam kết;
- Từ bỏ dùng vũ lực hoặc ñe doạ dùng vũ lực ñể chống lại nền ñộc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ của nhau
Các nước bình ñẳng với nhau về chủ quyền, cũng có nghĩa là bình ñẳng về các quyền và các nghĩa vụ cơ bản nêu trên Các nước ñều có quyền thực hiện các
4 Nội dung của Tuyên bố ngày 24/10/1970 của ðại hội ñồng LHQ về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc
tế
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
quyền và phải thi hành các nghĩa vụ ñó trên cơ sở những nguyên tắc của luật quốc
tế
Trong tổ chức quốc tế Liên Hiệp Quốc, các quốc gia bình ñẳng trong việc giải quyết mọi vấn ñề quốc tế có liên quan ñến lợi ích chung nhất và lợi ích chính ñáng của quốc gia mình, bình ñẳng về lá phiếu khi thông qua quyết ñịnh, tham gia bình ñẳng vào việc xây dựng những nguyên tắc và quy phạm của luật quốc tế…
Cùng với nguyên tắc bình ñẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, Hiến chương Liên Hiệp Quốc còn ghi nhận nguyên tắc dân tộc tự quyết
Theo ñiều 1, khoản 2 Hiến chương Liên Hiệp Quốc có mục ñích “phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình ñẳng
và tự quyết của các dân tộc”
ðiều 55 Hiến chương Liên Hiệp Quốc cũng nhắc lại nguyên tắc bình ñẳng về chủ quyền và quyền tự quyết của các dân tộc mà Liên Hiệp Quốc phải tuân theo trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội
Ngày nay, nguyên tắc bình ñẳng và tự quyết của các dân tộc ñược thừa nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của luật quốc tế hiện ñại và là một yếu tố
cơ bản của chính sách cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế ñộ chính trị, xã hội khác nhau
Vì mọi dân tộc ñều bình ñẳng cho nên mọi dân tộc ñều có các quyền cơ bản và quyền tự quyết Mọi dân tộc ñều có quyền tự quyết nên giữa các dân tộc bình ñẳng với nhau Các nguyên tắc này ñóng một vai trò quan trọng bậc nhất ñối với các dân tộc còn ñang ñấu tranh ñể tự giải phóng dân tộc mình Nếu theo các nguyên tắc về quyền tự quyết và các quyền cơ bản mà các quốc gia ñược hưởng thì các dân tộc thuộc ñịa và phụ thuộc của chủ nghĩa ñế quốc có quyền hợp pháp sử dụng bất cứ thứ vũ khí gì có trong tay ñể ñấu tranh chống lại bọn thực dân xâm lược vì ñộc lập, tự do của dân tộc mình Các dân tộc ñó có quyền nhận mọi sự giúp ñỡ, kể
cả giúp ñỡ và viện trợ về quân sự của các quốc gia khác ñể thực hiện quyền tự quyết thiêng liêng của mình
Như vậy, vấn ñề ñộc lập, tự do và quyền tự quyết của các dân tộc ñược gắn liền với sự nghiệp hoà bình của Liên Hiệp Quốc, thừa nhận ñộc lập và quyền tự quyết của các dân tộc là một trong những yếu tố quan trọng nhất của một nền hoà bình lâu dài và an ninh vững chắc trên toàn thế giới
1.2.2.2 Nguyên tắc tôn trọng và làm tròn những nghĩa vụ quốc tế
Nguyên tắc tôn trọng và làm tròn những nghĩa vụ quốc tế bắt nguồn nguyên tắc sơ ñẳng nhất của Luật quốc tế, có trong Luật La mã từ cách ñây 2000 năm và
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
còn gọi là nguyên tắc Pacta sunt servanda Nội dung pháp lý của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ, mọi cam kết quốc tế có giá trị ñều phải ñược tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh và triệt ñể, không phụ thuộc vào hình thức thể hiện của những cam kết ñó (ñiều ước, tập quán, hay những quyết ñịnh có hiệu lực pháp luật của tổ chức quốc tế)
Một nội dung nổi bật của nguyên tắc này là các ñiều ước quốc tế có giá trị ñều phải ñược thi hành Sở dĩ như vậy là vì, ñiều ước quốc tế là nguồn chủ yếu của luật quốc tế Hiến chương Liên Hiệp Quốc là một ñiều ước quốc tế ña phương Trong Hiến chương xác ñịnh tính chất của Liên Hiệp Quốc, nội dung hoạt ñộng, mục ñích và những nguyên tắc cơ bản của Liên Hiệp Quốc Ngoài ra, Hiến chương còn quy ñịnh chức năng, quyền hạn của các cơ quan chính của Liên Hiệp Quốc như ðại hội ñồng, Hội ñồng Bảo an, Hội ñồng kinh tế và xã hội, Hội ñồng quản thác, Ban thư ký và Tòa án quốc tế Xét về nội dung và ý nghĩa của những nguyên tắc ghi trong Hiến chương thì nó ñáp ứng nhu cầu phát triển của quan hệ quốc tế và luật quốc tế hiện ñại, ñảm bảo ñáp ứng các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các quốc gia thành viên Vì vậy, việc các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc nghiêm túc thực hiện theo những quy ñịnh trong Hiến chương có ý nghĩa rất to lớn Cho nên, ñiều 2, khoản 2 Hiến chương Liên Hiệp Quốc quy ñịnh rằng “Tất cả các nước thành viên Liên Hiệp Quốc phải làm tròn những nghĩa vụ mà họ ñã ñảm nhận chiếu theo Hiến chương”
Hiến chương Liên Hiệp Quốc là một văn bản pháp lý quốc tế rộng rãi nhất, quan trọng nhất của luật quốc tế hiện ñại Cho nên, hàng loạt các ñiều ước quốc tế nhiều bên, hai bên hay các nguồn khác của Luật quốc tế ñiều chỉnh các quan hệ quốc tế giữa các nước có chế ñộ chính trị, xã hội khác nhau từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai chủ yếu ñều ñược xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hiệp Quốc
Vì vậy, yêu cầu thi hành nghiêm chỉnh những nghĩa vụ quốc tế chiếu theo quy ñịnh trong Hiến chương ñược ñề ra rất cao ðiều 103 Hiến chương quy ñịnh
“Trong trường hợp có sự xung ñột giữa những nghĩa vụ của các nước thành viên Liên Hiệp Quốc theo Hiến chương này và những nghĩa vụ chiếu theo bất cứ một ñiều ước quốc tế nào khác, thì những nghĩa vụ của các nước thành viên chiếu theo Hiến chương phải ñược coi trọng hơn”
Do xác ñịnh ñược tầm quan trọng của việc tôn trọng và làm tròn những nghĩa
vụ phát sinh từ các ñiều ước và các nguồn khác của luật quốc tế có một ý nghĩa to lớn ñối với hòa bình và an ninh quốc tế Lời nói ñầu của Hiến chương ñã xác ñịnh
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nghĩa vụ của các nước thành viên Liên Hiệp Quốc là “tôn trọng những nghĩa vụ
do những ñiều ước và các nguồn khác của luật quốc tế ñặt ra” nhằm tạo ñiều kiện cần thiết ñể giữ gìn hoà bình và công lý
Nguyên tắc tôn trọng và làm tròn những nghĩa vụ quốc tế bắt nguồn từ Hiến chương Liên Hiệp Quốc, từ các ñiều ước quốc tế có giá trị và các nguồn khác của luật quốc tế ñã ñược gắn liền với sự nghiệp duy trì hoà bình và an ninh quốc tế Việc thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc này là ñiều kiện tiên quyết ñể các quốc gia hưởng quyền bình ñẳng về pháp luật, thực hiện chủ quyền quốc gia góp phần tích cực vào sự nghiệp chung là bảo vệ hòa bình an ninh quốc tế và hợp tác giữa các nước có chế ñộ chính trị - xã hội khác nhau trong mọi lĩnh vực
1.2.2.3.Nguyên tắc các tranh chấp quốc tế sẽ ñược giải quyết hòa bình
Nguyên tắc này ñược ghi nhận trong ñiều 2, khoản 3 Hiến chương: “Tất cả các thành viên Liên Hiệp Quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hòa bình, sao không cho tổn hại ñến hòa bình, an ninh quốc tế và công lý” Theo ñiều 33 Hiến chương Liên Hiệp Quốc, các biện pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế gồm có: ñàm phán, ñiều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng các tổ chức hoặc những hiệp ñịnh khu vực, các biện pháp hòa bình khác mà các bên lựa chọn
Nội dung của nguyên tắc này ñòi hỏi khi tranh chấp xảy ra, các bên phải thỏa thuận với nhau lựa chọn một biện pháp hòa bình thích hợp nhất với hoàn cảnh và tính chất của vụ tranh chấp ñể giải quyết một cách nhanh nhất và công bằng nhất Khi lựa chọn và áp dụng biện pháp này mà không mang lại kết quả thì các quốc gia phải lựa chọn biện pháp giải quyết hòa bình khác, tránh mọi hành ñộng làm phức tạp, nghiêm trọng thêm hơn tranh chấp quốc tế ñó
Hệ quả của nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế là các quốc gia không ñược dùng vũ lực hoặc ñe dọa dùng vũ lực, mà phải giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình thông qua con ñường hợp tác quốc tế
ðiều 1, khoản 3 Hiến chương quy ñịnh rằng “các nước thực hiện sự hợp tác quốc tế bằng cách giải quyết các vấn ñề về kinh tế, xã hội, văn hóa hoặc nhân ñạo…ñể duy trì hòa bình và an ninh quốc tế”
Cũng theo quy ñịnh của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, HðBA có trách nhiệm
và có ñầy ñủ thẩm quyền ñể xúc tiến giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế HðBA ñứng ra dàn xếp, giúp ñỡ các nước ñương sự giải quyết tranh chấp bằng mọi biện pháp hòa bình hoặc có thể mở những cuộc ñiều tra hoặc ñưa ra những kiến nghị giải quyết Nếu như cuộc tranh chấp dẫn ñến tình trạng chiến tranh xâm
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
lược, ñe dọa hòa bình an ninh quốc tế thì HðBA có quyền dùng vũ lực ñể khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế
Vì vậy, ñiều 2, khoản 7 Hiến chương Liên Hiệp Quốc quy ñịnh thêm rằng, Hiến chương hoàn toàn không cho phép Liên Hiệp Quốc ñược can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền nội bộ của các nước thành viên, không ñòi hỏi các nước thành viên ñưa những công việc thuộc loại này ra giải quyết theo quy ñịnh của Hiến chương Tuy nhiên, nguyên tắc này không liên quan ñến việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế quy ñịnh ở chương VII Hiến chương Liên Hiệp Quốc nói về hành ñộng của Liên Hiệp Quốc trong trường hợp hòa bình bị ñe dọa, bị phá hoại hoặc có hành vi xâm lược
Ngày nay nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện ñại, ñược ghi nhận trong Tuyên bố
về các nguyên tắc của luật quốc tế năm 1970 và trong nhiều văn bản quốc tế khác Nguyên tắc này cũng là một trong những nguyên tắc ñối ngoại cơ bản của nhà nước ta
1.2.2.4.Nguyên tắc từ bỏ dùng vũ lực hoặc ñe dọa dùng vũ lực trong quan
hệ quốc tế chống lại toàn vẹn lãnh thổ và ñộc lập chính trị của các quốc gia
Nguyên tắc này ñược xác ñịnh trong ñiều 2, khoản 4 Hiến chương “Tất cả các nước thành viên Liên Hiệp Quốc trong quan hệ quốc tế không ñược dùng vũ lực hoặc ñe dọa dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay nền ñộc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào hoặc những mục ñích khác không phù hợp với mục ñích của Liên Hiệp Quốc”
Ngày nay nguyên tắc này ñược phát triển và cụ thể hóa trong rất nhiều ñiều ước quốc tế hai bên và nhiều bên Trong số những văn bản ñó, quan trọng nhất là
“Tuyên bố về những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế năm 1970”, “ðịnh nghĩa xâm lược và hành vi xâm lược năm 1974” Trong tiến trình thông qua các văn bản
ñó, nguyên tắc từ bỏ dùng vũ lực hoặc ñe dọa dùng vũ lực ñể chống lại ñộc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia một cách trực tiếp hay gián tiếp ñều trái với Hiến chương Liên Hiệp Quốc và luật quốc tế hiện ñại
Mục ñích, ý nghĩa và giá trị của nguyên tắc này ñược thể hiện ở chỗ nó ñược
ñề ra nhằm ngăn chặn những hành ñộng ñe dọa dùng vũ lực, tấn công vũ trang, xâm lược hoặc can thiệp của các nước ñế quốc phản ñộng ñối với các nước khác Ngoài ra, theo nguyên tắc này, việc các nước ñế quốc dùng vũ lực hoặc ñe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế bị coi là hành ñộng xâm lược, bị lên án và kết tội Trong ðiều 1 của “ðịnh nghĩa xâm lược do ðại hội ñồng Liên Hiệp Quốc
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thông qua năm 1974” nêu rõ “ xâm lược là việc một nước sử dụng lực lượng vũ trang ñể chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc nền ñộc lập chính trị của một quốc gia khác hoặc bằng một số cách khác trái với Hiến chương Liên Hiệp Quốc” Bởi vì chiến tranh xâm lược là tội ác quốc tế lớn nhất gây ra cho nhân loại, cho nên kẻ xâm lược phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế Những nguyên tắc của Tòa án quốc tế khẳng ñịnh “kẻ nào phạm một hành vi bị coi là tội ác quốc tế
sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi ñó và bị trừng trị” ðồng thời nhấn mạnh rằng những người ñứng ñầu Nhà nước hoặc những quan chức chính phủ của quốc gia xâm lược cũng không ñược miễn trách nhiệm ñó”
1.2.2.5 Nguyên tắc các nước hợp tác với Liên Hiệp Quốc trong mọi hành ñộng tiến hành phù hợp với Hiến chương
ðiều 2, khoản 5 Hiến chương Liên Hiệp Quốc quy ñịnh “Tất cả các nước thành viên Liên Hiệp Quốc giúp ñỡ ñầy ñủ cho Liên Hiệp Quốc trong mọi hành ñộng mà nó áp dụng theo ñúng Hiến chương này và tránh giúp ñỡ bất cứ một quốc gia nào bị Liên Hiệp Quốc áp dụng các biện pháp phòng ngừa hoặc cưỡng chế” Các nước thành viên Liên Hiệp Quốc tham gia tự nguyện vào hoạt ñộng của cộng ñồng quốc tế nhằm ñạt ñược những mục tiêu ñã ghi nhận trong Hiến chương
Sự tham gia vào Liên Hiệp Quốc sẽ ñem lại lợi ích cho mỗi nước thành viên và mỗi nước thành viên phải ñóng góp nghĩa vụ của mình vào sự nghiệp chung trong cộng ñồng quốc tế
Vì vậy, tất cả các nước thành viên Liên Hiệp Quốc một mặt phải phối hợp chặt chẽ với nhau, mặt khác phải hợp tác với Liên Hiệp Quốc trong các vấn ñề quốc tế, làm cho Liên Hiệp Quốc thực sự trở thành một trung tâm chính trị quốc tế phối hợp hành ñộng cùng với cố gắng của các nước ñể duy trì hòa bình và an ninh quốc tế
1.2.2.6 Nguyên tắc bảo ñảm ñể các nước không là thành viên Liên Hiệp Quốc cũng hành ñộng theo các nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc trong một mức ñộ cần thiết ñể duy trì hòa bình và an ninh quốc tế
ðiều 2, khoản 6 Hiến chương Liên Hiệp Quốc ghi nhận “Liên Hiệp Quốc làm thế nào ñể các quốc gia không là thành viên cũng hành ñộng theo các nguyên tắc này (các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương) nếu như ñiều ñó cần thiết ñể duy trì hòa bình và an ninh quốc tế
Theo nguyên tắc này thì các nước không phải là thành viên Liên Hiệp Quốc là những nước không tham gia cam kết trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc Vì vậy, Hiến chương Liên Hiệp Quốc không có giá trị ràng buộc ñối với các nước không
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
phải là thành viên Liên Hiệp Quốc, không tạo ra các quyền và nghĩa vụ cho các nước ñó
Tuy nhiên, có trường hợp ngoại lệ Hiến chương Liên Hiệp Quốc có thể có hiệu lực pháp luật, tạo ra quyền và nghĩa vụ cho các nước không phải là thành viên Liên Hiệp Quốc với ñiều kiện các nước này ñồng ý chấp thuận những quyền
và nghĩa vụ bắt nguồn từ Hiến chương ñối với nước mình
Cho nên trong trường hợp này nghĩa vụ phát sinh từ Hiến chương Liên Hiệp Quốc ñối với các nước không phải là thành viên chỉ có thể bị thay ñổi, bị huỷ bỏ với ñiều kiện phải có sự thỏa thuận của các nước ñó
1.2.2.7 Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia
Nguyên tắc không can thiệp là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật
quốc tế hiện ñại, ñược ghi nhận trong ñiều 2, khoản 7 Hiến chương Liên Hiệp Quốc “Hiến chương này hoàn toàn không cho phép Liên Hiệp Quốc ñược can thiệp vào công việc, thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào và không ñòi hỏi các thành viên ñưa những công việc loại này giải quyết theo quy ñịnh của Hiến chương”
Nội dung của nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác ñược ghi nhận trong nhiều văn bản quốc tế khác như: “Tuyên bố về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia do ðại hội ñồng Liên Hiệp Quốc khóa
XX thông qua năm 1965”; “Tuyên bố về những nguyên tắc của luật quốc tế liên quan ñến những quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương do ðại hội ñồng Liên Hiệp Quốc khóa XXV thông qua năm 1970”
Nguyên tắc không can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền nội bộ của các quốc gia ñược ghi nhận trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc ñược hiểu dưới hai góc ñộ:
- Một là, Liên Hiệp Quốc không ñược can thiệp vào công việc nội bộ của bất cứ quốc gia nào ( bất kể quốc gia ñó là thành viên hay không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc)
- Hai là, các quốc gia không ñược can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền nội bộ của nhau
Ở ñây ñối tượng ñể Liên Hiệp Quốc hoặc một quốc gia bất kỳ can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia khác là “tất cả những công việc thuộc thẩm quyền của cơ quan Nhà nước của một quốc gia và không là ñối tượng ñiều chỉnh của luật quốc tế ñều là những công việc nội bộ của quốc gia ñó Quốc gia có
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
quyền không ñưa những công việc thuộc loại này ra ñể xem xét, giải quyết ở Liên Hiệp Quốc cũng như ở bất kỳ diễn ñàn quốc tế nào khác”
Lịch sử ñã chứng minh không ít dẫn chứng rằng: các nước ñế quốc phản ñộng thường xuyên vi phạm nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, bọn chúng ñã can thiệp một cách có hệ thống, trực tiếp hoặc gián tiếp dưới nhiều hình thức, bằng nhiều thủ ñoạn, kể cả việc núp dưới danh nghĩa hoặc sử dụng Liên Hiệp Quốc ñể can thiệp vào công việc nội bộ của các nước ñộc lập có chủ quyền Những hành ñộng can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác của chủ nghĩa ñế quốc là một trong những nguồn gốc nguy hại nhất gây ra tình trạng căng thẳng, tranh chấp, diễn ra những cuộc xung ñột gây gắt gây ra chiến tranh xâm lược, phá hoại hòa bình và an ninh quốc tế Do ñó, Hiến chương Liên Hiệp Quốc ñề cao nguyên tắc này, lên án những hành ñộng can thiệp vào công việc nội bộ của các nước
Trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc ngoài bảy nguyên tắc ñược trình bày ở trên, còn có một số nguyên tắc khác cũng không kém phần quan trọng ñối với tổ chức và hoạt ñộng của Liên Hiệp Quốc như: nguyên tắc tôn trọng các quyền cơ bản của con người, quyền tự vệ của các dân tộc, nguyên tắc nhất trí của các nước
Ủy viên thường trực Hội ñồng Bảo an…
Tóm lại, lịch sử ñề ra cho các dân tộc việc thành lập Liên Hiệp Quốc ñể duy trì hòa bình và an ninh quốc tế thì lịch sử cũng ñề ra cho các dân tộc những nguyên tắc cơ bản trong quá trình cùng hợp tác và ñấu tranh ñể tồn tại và hợp tác giữa các nước có chế ñộ chính trị - xã hội khác nhau Việc thực hiện những nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc tất yếu sẽ tác ñộng ñến hoạt ñộng Liên Hiệp Quốc và mối quan hệ giữa các quốc gia Cho nên, vai trò và ảnh hưởng của Liên Hiệp Quốc ngày càng ñược tăng cường thì mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày càng phát triển hơn, những nguyên tắc của Hiến chương sẽ phát huy ñược hết ý nghĩa của nó, ñể làm chỗ dựa pháp lý vững chắc cho hòa bình và an ninh quốc tế
1.3 Sự tác ñộng của Liên Hiệp Quốc ñối với vấn ñề vũ khí hạt nhân
1.3.1 Sự ra ñời của Ủy ban năng lượng nguyên tử quốc tế ( IAEA )
Ngay sau khi ñược thành lập, vấn ñề giải trừ quân bị, ngăn ngừa thảm họa chiến tranh hạt nhân ñã ñược vạch ra trong chương trình hoạt ñộng của Liên Hiệp Quốc Cho nên, trong khóa họp ñầu tiên của ðại hội ñồng Liên Hiệp Quốc năm
1946, theo sáng kiến của Liên Xô ñã thông qua Nghị quyết số 1 ñầu tiên về việc thành lập “Ủy ban nguyên tử lực” của Liên Hiệp Quốc ñể nghiên cứu tất cả các
Trang 27Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
khía cạnh của “những vấn đề nảy sinh do việc phát hiện năng lượng nguyên tử và các vấn đề cĩ liên quan khác” Ủy ban này thực hiện các chức năng sau:
- Trao đổi thơng tin khoa học cơ bản vì mục đích hịa bình giữa các quốc gia;
- ðảm bảo sự kiểm sốt cần thiết để năng lượng nguyên tử chỉ được sử dụng vào mục đích hịa bình;
- Loại trừ vũ khí nguyên tử và tất cả các loại vũ khí cĩ khả năng tàn sát hàng loạt khác;
- Tiến hành những biện pháp bảo vệ hữu hiệu, bằng những cuộc giám sát và biện pháp khác, nhằm bảo vệ các quốc gia tơn trọng cam kết, chống lại nguy cơ bị
tử, cũng như việc sản xuất và sở hữu các chất liệu phân hạch; tất cả các quốc gia phải dành cho cơ quan quyền lực quyền tiến hành mọi cuộc giám sát cần thiết; các
Ủy viên thường trực HðBA khơng được quyền phủ quyết đối với hoạt động của
Cơ quan quyền lực quốc tế Cịn trưởng đồn đại biểu của Liên Xơ đã đưa ra quan điểm ngược lại với Mỹ Liên Xơ đưa ra dự thảo “Cơng ước cấm sản xuất và sử dụng vũ khí nguyên tử” quy định cần thủ tiêu số vũ khí nguyên tử hiện cĩ trong thời gian ba tháng kể từ ngày cơng ước cĩ hiệu lực; mọi vi phạm Cơng ước sẽ bị coi như những tội ác xấu xa nhất chống nhân loại
Cuộc đấu tranh giữa các lực lượng yêu chuộng hịa bình và các thế lực hiếu chiến xâm lược diễn ra gay gắt do lập trường của Mỹ và Liên Xơ khác nhau hồn tồn Tháng 05 năm 1948, Ủy ban Năng lượng Nguyên tử kiến nghị tạm ngưng hoạt động do sau hơn hai năm hoạt động, Ủy ban đã khơng đạt được sự thỏa thuận thống nhất nào
Ngày 23/09/1949, lần đầu tiên Liên Xơ thử thành cơng vũ khí nguyên tử Từ
đĩ Liên Xơ trở thành cường quốc hạt nhân thứ hai trên thế giới và đã chấm dứt thế độc quyền hạt nhân của Mỹ
Ngày 11/01/1952 Ủy ban năng lượng nguyên tử chính thức giải tán theo Nghị quyết số 502 của ðại hội đồng Liên Hiệp Quốc
Cho đến năm 1961, cũng theo sáng kiến của Liên Xơ, khĩa họp 26 của ðại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã tán thành dự thảo “Tuyên ngơn về việc cấm sản xuất
Trang 28Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
và sử dụng vũ khắ hạt nhânỢ và coi ựó như một tội ác ựối với loàingười Tuyên ngôn ựược thông qua nó ựồng nghĩa với việc Liên Hiệp Quốc tuyên bố với cộng ựồng quốc tế Ộcấm sử dụng vũ khắ hạt nhânỢ như một khẳng ựịnh mang tắnh ựạo
lý và chắnh trị quốc tế
1.3.2 đàm phán giữa Mỹ - Liên Xô về giới hạn vũ khắ chiến lược
Bước vào ựầu thập niên 1960, cuộc chạy ựua vũ trang hạt nhân của các cường quốc hạt nhân diễn ra trên thế giới ngày càng trở nên quyết liệt Mỹ (1945), Liên Xô (1949), Anh (1952) và Pháp (1960) là những quốc gia ựã sản xuất ựược
vũ khắ hạt nhân, trong ựó Mỹ và Liên Xô là hai cường quốc hạt nhân hàng ựầu Trung Quốc ựến năm 1964 mới chế tạo ựược vũ khắ hạt nhân Từ năm 1963 ựến năm 1991, các cường quốc hạt nhân, chủ yếu là Mỹ và Liên Xô ựã ký với nhau một số văn kiện quan trọng về vũ khắ hạt nhân
Trong ngày bắt ựầu ký Hiệp ước NPT ngày 01/07/1968, Mỹ và Liên Xô tuyên bố ý ựịnh tiến hành những cuộc thảo luận song phương về việc Ộgiới hạn và cắt giảm những hệ thống tấn công và phòng thủ vũ khắ hạt nhân chiến lược và những hệ thống phòng thủ chống tên lửa ựạn ựạoỢ Sau khi hoàn tất những thỏa thuận song phương giữa hai quốc gia, tháng 05 năm 1972 tại cuộc gặp cấp cao Xô- Mỹ ở Mátxcơva, cả hai văn kiện quan trọng cùng ựược ký kết là: ỘHiệp ước chống tên lửa ựạn ựạoỢ nhằm mục ựắch giới hạn các hệ thống tên lửa chống tên lửa, gọi tắt là Hiệp ước ABM; và ỘCông ước tạm thời về hạn chế các loại vũ khắ chiến lược tiến côngỢ
1.3.2.1 Hiệp ước chống tên lửa ựạn ựạo (ABM)
Hiệp ước ựược ký kết ngày 26 tháng 05 năm 1972, bắt ựầu có hiệu lực ngày
03 tháng 10 năm 1972 Hiệp ước ABM gồm 16 ựiều khoản với nội dung chắnh là:
- Giới hạn số lượng khu vực phóng tên lửa chống tên lửa, số bệ phóng và số tên lửa trên bệ phóng của mỗi nước;
- Hai nước không thiết lập, thử nghiệm và triển khai các hệ thống bệ phóng chống tên lửa trên biển, trên không, trong vũ trụ và các căn cứ di ựộng trên mặt ựất;
- Hai nước không ựược triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa bên ngoài lãnh thổ của mình hoặc chuyển nhượng cho các nước khác
Nội dung chắnh của Hiệp ước quy ựịnh mức tối ựa số bệ phóng tên lửa ựường ựạn trên tàu ngầm thông thường và tàu ngầm mang tên lửa ựường ựạn của mỗi nước Bản Hiệp ước ghi nhận về mặt pháp lý quốc tế thế Ộcân bằng tương ựối về
Trang 29Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
vũ khí chiến lược” giữa Liên Xô và Mỹ theo nguyên tắc “bình ñẳng và an ninh ngang nhau” nhằm hạn chế ñược cuộc chạy ñua vũ trang mới
Hiệp ước ABM có giá trị vô thời hạn, cứ năm năm ñược xem xét lại một lần Hiệp ước cho phép mỗi bên chỉ có hai khu vực (mỗi khu vực có ñường kính 150 km) ñể bố trí tối ña 100 tên lửa chống tên lửa ñể bảo vệ thủ ñô, bảo vệ nơi cất giấu
bệ phóng tên lửa ñạn ñạo xuyên lục ñịa (ICBM) ðến ngày 03 tháng 07 năm 1974, hai bên ký Nghị ñịnh thư bổ sung, quy ñịnh giảm xuống chỉ còn một khu vực cho mỗi bên (Liên Xô chọn bảo vệ khu vực thủ ñô Mátxcơva, Mỹ chọn bảo vệ khu vực cất giấu ICBM)
Từ sau Chiến tranh lạnh, Mỹ ñã không ngừng tích cực ñẩy mạnh việc nghiên cứu, chế tạo và triển khai “Chương trình phòng thủ tên lửa quốc gia” gọi tắt là hệ thống NMD Ngày 13/12/2001, Tổng thống Mỹ George.W Bush ñã tuyên bố nước Mỹ chính thức rút khỏi Hiệp ước ABM, dọn ñường cho việc triển khai hệ thống NMD theo kế hoạch bắt ñầu từ năm 2004 Chế ñộ kiểm soát vũ khí duy trì trong 30 năm qua ñã bị phá vỡ do hành ñộng ñơn phương của chính quyền Mỹ Trước mắt, hành ñộng hủy bỏ Hiệp ước ABM và ñẩy mạnh kỹ thuật hạt nhân chiến thuật và chương trình NMD ñang ñe dọa nền an ninh quốc tế về một cuộc chạy ñua vũ trang hạt nhân mới sẽ xảy ra mà không biết bao giờ mới chặn ñứng ñược Hệ thống NMD một khi ñược triển khai sẽ làm thay ñổi sâu sắc các nhân tố vốn duy trì sự ổn ñịnh chiến lược trong quan giữa ba nước Mỹ-Nga-Trung Quốc Bởi vì Hiệp ước cho phép hai bên có quyền bảo vệ các căn cứ phóng tên lửa hạt nhân chiến lược của mình bằng một hệ thống lá chắn chống tên lửa của ñối phương Lá chắn này ngăn không cho kẻ thù có thể phá hủy hoàn toàn khả năng trả ñũa bằng một lần tấn công bất ngờ trước, và như vậy sẽ tạo ra một “thế cân bằng trên nỗi sợ hãi” mà Mỹ muốn phá bỏ bằng chương trình NMD Các nhà nghiên cứu chiến lược cho rằng Mỹ ñơn phương rút khỏi Hiệp ước ABM ñể rảnh tay triển khai chương trình NMD và sau này chỉ cần một ñòn tấn công phủ ñầu là
có thể tiêu diệt mọi ñối phương tiềm tàng mà không sợ bị trả ñũa
Hệ thống NMD không chỉ có thể ñối phó với một vài tên lửa tầm xa của những nước thù ñịch với Mỹ như Bắc Triều Tiên, Iran hay Irắc hoặc một tên lửa phóng ñi do nhầm lẫn, ngẫu nhiên, không ñúng thẩm quyền quyết ñịnh từ Nga, Trung Quốc hay bất cứ một nước ñối thủ nào khác mà Mỹ xem là “bất hảo”
Với hệ thống NMD, Mỹ có thể ñối phó với các khả năng tiềm ẩn của kẻ thù
Mỹ sẽ trở thành quốc gia duy nhất tin tưởng vào sự răn ñe hạt nhân của mình ñối với các ñối thủ bởi vì khi ñó cuộc tấn công hạt nhân vào Mỹ dù là ñánh trước hay
Trang 30Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trả ñũa ñều sẽ bị vô hiệu hóa Nhờ ñó mà nước Mỹ có cảm giác an toàn tuyệt ñối, không còn sợ bị báo thù và Mỹ có thể tự do hành ñộng sử dụng vũ lực, thậm chí
cả vũ khí hạt nhân trong các cuộc xung ñột hay khủng hoảng xảy ra Chính vì vậy,
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ D Rumsfeld ñã tuyên bố: “NMD dù không hoàn thiện nhưng cũng ñủ ñể buộc kẻ thù tiềm tàng phải do dự hơn trong hành ñộng” 5
1.3.2.2.Hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược (SALT)
Những cuộc thỏa thuận song phương giữa Liên Xô và Mỹ về hạn chế vũ khí chiến lược gọi tắt là SALT diễn ra trong ba giai ñoạn:
Giai ñoạn thứ nhất (SALT-I) bắt ñầu ñàm phán từ cuối năm 1969 và kết thúc vào tháng 05 năm 1976; bằng việc ký kết giữa Liên Xô và Mỹ “Công ước tạm thời” trong 5 năm tại Mátxcơva quy ñịnh hai nước ngưng thử, ngưng triển khai tên lửa ñạn ñạo vượt ñại châu (ICBM) cũng như tên lửa phóng từ các tàu ngầm Tháng 09 năm 1977, Liên Xô và Mỹ thỏa thuận tiếp tục tuân thủ SALT mặc dù thời hạn ñã hết
Giai ñoạn thứ hai (SALT-II ) bắt ñầu ñàm phán từ cuối tháng 11 năm 1972 Hai nước ñàm phán về “Những nguyên tắc cơ bản hạn chế hơn nữa vũ khí chiến lược tấn công” chẳng những về số lượng mà cả về chất lượng theo nguyên tắc
“bảo ñảm an ninh ñồng ñều” cho cả hai bên Ngày 18 tháng 06 năm 1979, Mỹ và Liên Xô ñã ký kết “Hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược giai ñoạn hai (SALT-II )” tại Vienna; quy ñịnh bắt ñầu từ ngày 01 tháng 01 năm 1975 mỗi nước giảm xuống còn 2.400 bệ phóng tên lửa và máy bay ném bom hạng nặng Trong lời nói ñầu của Hiệp ước, hai nước khẳng ñịnh “tiếp tục hạn chế vũ khí hạt nhân chiến lược, cải thiện quan hệ song phương, giảm nguy cơ một cuộc chiến tranh hạt nhân, cũng
cố hòa bình và an ninh thế giới” ðồng thời hai nước cũng mong muốn Hiệp ước SALT II sẽ tạo ñiều kiện cho các cuộc ñàm phán tiếp theo về cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược, tiến tới giải trừ quân bị toàn diện và triệt ñể
Nội dung chính của các ñiều khoản trong Hiệp ước quy ñịnh giới hạn tổng
số các phương tiện ñiều khiển vũ khí hạt nhân chiến lược của mỗi bên bao gồm các bệ phóng tên lửa ñường ñạn xuyên lục ñịa, máy bay ném bom chiến lược mang tên lửa ñường ñạn không ñối ñất Hiệp ước cũng hạn chế số lượng tên lửa mang ñầu ñạn hạt nhân của mỗi bên Cụ thể trong Hiệp ước quy ñịnh bắt ñầu từ ngày 01 tháng 01 năm 1975 mỗi nước giảm xuống còn 2.400 bệ phóng tên lửa và máy bay ném bom hạng nặng Ngòai ra còn quy ñịnh mức tối ña cho mỗi bên là
5 Phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tại trường ðại học Quốc phòng (Washingtơn D.C), ngày 01/05/2001
Trang 31Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.320 tên lửa ñạn ñạo vượt ñại châu và tên lửa ñạn ñạo phóng từ tàu ngầm với nhiều ñầu ñạn
Xét về lý thuyết, những quy ñịnh cắt giảm vũ khí của Hiệp ước SALT-II sẽ làm cho số lượng vũ khí hạt nhân chiến lược của Mỹ và Liên Xô bằng nhau ðây
là lần ñầu tiên trong quá trình thương lượng về cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược, Mỹ và Liên Xô ñạt ñược thỏa thuận hai nước có số lượng vũ khí hạt nhân chiến lược các loại bằng nhau Ngòai ra, Hiệp ước SALT II còn hạn chế việc thay thế và hoàn thiện các loại vũ khí ñó, ñồng thời ñưa ra một chế ñộ kiểm tra vũ khí hạt nhân tương ñối chi tiết Do ñó, những quy ñịnh của Hiệp ước SALT-II có khả năng kiềm chế cuộc chạy ñua vũ trang giữa hai cường quốc hạt nhân
Hiệp ước có hiệu lực ñến ngày 31 tháng 12 năm 1985 và không ñược phía
Mỹ phê chuẩn Các thành viên của Hiệp ước SALT II phải có thái ñộ tích cực tham gia các cuộc ñàm phán ñể nhanh chóng tìm ra biện pháp hạn chế hơn nữa vũ khí hạt nhân chiến lược trong thời gian tới
Chính phủ Liên Xô ñánh giá cao việc hạn chế vũ khí tiến công chiến lược thông qua Hiệp ước SALT II và cho rằng: “Hạn chế vũ khí tiến công chiến lược sẽ
mở ñường cho những biện pháp tiếp sau theo hướng này Nó có thể ñóng vai trò
rõ rệt trong việc cụ thể hóa quá trình làm dịu tình hình căng thẳng, cũng cố nền hòa bình chung”6 ðây là hành ñộng mới rất quan trọng của Mỹ và Liên Xô trên con ñường nhằm ñảm bảo một nền hòa bình vững chắc và an ninh của các dân tộc, loại trừ nguy cơ chiến tranh hạt nhân xảy ra
Giai ñoạn thứ ba (SALT III ) ñược các bên tính ñến từ năm 1977 với mục tiêu “ thực hiện cắt giảm ñáng kể các hệ thống vũ khí chiến lược của cả hai bên” Mặc dù, những cuộc ñàm phán SALT không ñạt ñược kết quả thực chất nào Tuy nhiên ðại hội ñồng Liên Hiệp Quốc thường xuyên quan tâm, thông qua một số nghị quyết nói lên sự ủng hộ của cộng ñồng quốc tế ñối với những cuộc ñàm phán song phương ñó và sự lo ngại về kết quả của cuộc ñàm phán
1.3.2.3 Hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân (START)
Tiếp theo các cuộc ñàm phán về SALT, Mỹ và Liên Xô có những cuộc ñàm phán và ký kết Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược, gọi tắt là START (Strategic Arms Reduction Treaty) ðây là một công ước quốc tế mà Liên Xô và Mỹ phải phân chia giai ñoạn ñể cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược của mình và ñã ký kết ñược ba Hiệp ước về vấn ñề này:
6 Báo Nhân Dân, ngày 16/06/1979
Trang 32Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cuộc ñàm phán bắt ñầu từ tháng 06 năm 1986 ñến ngày 31 tháng 07 năm
1991 tại Mátxcơva, Mỹ và Liên Xô ñã ký Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược giai ñoạn một (START-I) Hiệp ước START-I nêu rõ mục ñích của văn kiện này
là ñưa ra “các biện pháp cắt giảm vũ khí hạt nhân tiến công chiến lược ñể phòng ngừa cuộc chạy ñua vũ trang trong không gian, chấm dứt chạy ñua vũ trang trên trái ñất”
Nội dung chính của Hiệp ước START-I quy ñịnh cắt giảm 30% vũ khí hạt nhân chiến lược của mỗi nước Thời gian cắt giảm các loại tên lửa và ñầu ñạn hạt nhân là 7 năm kể từ khi Hiệp ước có hiệu lực và ñược chia làm ba giai ñoạn Hai nước không ñược phép hiện ñại hóa hoặc thay thế các loại vũ khí hạt nhân tiến công chiến lược ñược quy ñịnh trong Hiệp ước START-I Cụ thể START-I quy ñịnh phương tiện vận tải vũ khí hạt nhân không ñược vượt quá 1.600 ñơn vị (gồm: tên lửa ñạn ñạo xuyên lục ñịa và tên lửa ñạn ñạo bắn từ tàu ngầm, và các phương tiện phóng liên quan như máy bay oanh kích hạng nặng), và tổng số ñầu ñạn ñược chuyên chở không vượt quá 6.000 quả
Ngày 03 tháng 01 năm 1993, Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược giai ñoạn
2 (START-II) ñược Liên Xô và Mỹ ký kết Hiệp ước dự kiến một chương trình cắt giảm vũ khí chiến lược lớn nhất trong lịch sử Trong Hiệp ước hai bên ñã thỏa thuận cắt giảm trong vòng 10 năm một phần ba kho vũ khí hạt nhân tầm xa của mình ðồng thời tháo gỡ các hệ thống bệ phóng tên lửa bắn từ tàu ngầm oanh kích hạng nặng và trong bất cứ tình hình nào ñều không ñược vượt quá 4.250 ñơn vị Tổng số lượng ñầu ñạn kèm theo, muộn nhất là ñến ngày 01 tháng 01 năm 2003 (sau này kéo dài ñến ngày 01 tháng 01 năm 2007) phải cắt giảm xuống còn từ 3.000 ñến 3.500 quả, hoặc mỗi bên có thể xác ñịnh ít hơn Nhưng trong bất cứ tình huống nào không ñược vượt quá 3.500 quả Hiệp ước ñược Mỹ phê chuẩn vào tháng 01 năm 1996 và Nga phê chuẩn vào tháng 04 năm 2000 Sau ñó Nga và Mỹ
ñã thỏa thuận bằng văn bản hai bên sẽ có những cuộc ñàm phán mới nhằm mục ñích tiếp tục cắt giảm vũ khí chiến lược giai ñoạn ba
Tháng 03 năm 1997, tại hội nghị thượng ñỉnh Hensinki, Nga và Mỹ ñã nhất trí về phương hướng ñàm phán START-III với mục tiêu tiếp tục cắt giảm số ñầu ñạn hạt nhân của mỗi nước xuống còn khoảng phân nữa Ngày 24 tháng 05 năm
2002, Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Mỹ Bush chính thức ký Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược giai ñoạn ba Hiệp ước quy ñịnh ñến năm
2012 mỗi bên tiếp tục cắt giảm kho vũ khí chiến lược tiến công của mỗi nước
Trang 33Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
xuống còn 1.700 ñến 2.200 ñầu ñạn hạt nhân Nhưng Hiệp ước lại không có tính ràng buộc hai bên thực hiện và không quy ñịnh lộ trình cắt giảm cụ thể
Mặc dù, Hiệp ước START giữa Mỹ và Liên Xô ñàm phán qua các giai ñoạn còn nhiều hạn chế nhưng những kết quả ñạt ñược trong quá trình ñàm phán là một bước tiến trong quá trình giải trừ quân bị trên thế giới Các Hiệp ước này góp phần ñẩy lùi thêm một bước nguy cơ chiến tranh hạt nhân, cải thiện bầu không khí căng thẳng quốc tế, góp phần tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau giữa các quốc gia
1.3.3 Hiệp ước hạn chế thử vũ khí hạt nhân (LTB)
Tháng 10 năm 1952, Anh ñã tiến hành thử quả bom nguyên tử ñầu tiên ở ñảo Monte Bello ngoài khơi bờ biển Tây Bắc Australia Từ ñó, Anh trở thành cường quốc hạt nhân thứ ba trên thế giới Trong những năm 1957- 1958, các cường quốc hạt nhân như Mỹ, Anh, Liên Xô ñã tiến hành nhiều vụ thử hạt nhân; làm cho cộng ñồng quốc tế lo ngại sâu sắc về hậu quả phóng xạ hạt nhân do các cường quốc này gây ra Tháng 01 năm 1958, 9.000 nhà bác học của 43 quốc gia ñã trao cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc kiến nghị khẩn cấp yêu cầu cần ký ngay một hiệp ước quốc tế chấm dứt các cuộc thử vũ khí hạt nhân Liên Xô là cường quốc hạt nhân ñầu tiên ñơn phương ngừng thử hạt nhân từ tháng 03 năm 1958 và kêu gọi các cường quốc hạt nhân khác cũng hành ñộng như vậy Từ cuối năm 1958, Mỹ, Anh, Liên Xô tự nguyện ngưng thử cho ñến tháng 09 năm 1961 Trong thời gian ñó, Pháp ñã cho thử ba quả bom nguyên tử ở sa mạc Sahara vào tháng 02 và tháng 03 năm 1960 Pháp trở thành cường quốc hạt nhân thứ tư trên thế giới Ngày 16 tháng
10 năm 1961, Trung Quốc thử bom nguyên tử ñầu tiên ở Tân Cương và trở thành cường quốc hạt nhân thứ năm trên thế giới
Giữa tháng 07 năm 1963, các bên tham dự Hội nghị Matxcơva là Liên Xô,
Mỹ, Anh ñã ñạt ñược thỏa thuận về văn bản của Hiệp ước cấm thử hạt nhân trong khí quyển, trong khoảng không vũ trụ và dưới nước còn ñược gọi là Hiệp ước cấm thử hạt nhân trong ba môi trường Ngày 05 tháng 08 năm 1963 Mỹ cùng Anh và Liên Xô ký Hiệp ước LTB tại Matxcơva và ñược ñông ñảo các quốc gia trên thế giới hưởng ứng Hiệp ước có hiệu lực từ ngày 10 tháng 10 năm 1963 ðến cuối năm 1966, ñã có 116 nước là thành viên Liên Hiệp Quốc và ngoài Liên Hiệp Quốc tham gia ký Hiệp ước Pháp và Trung Quốc không ký Hiệp ước là bởi vì thời gian
ñó Pháp và Trung Quốc còn ñang ở giai ñoạn nghiên cứu, chế tạo và tiến hành những cuộc thử vũ khí hạt nhân Nếu tham gia Hiệp ước LTB, Trung Quốc và Pháp sẽ bị cản trở trong việc phát triển vũ khí hạt nhân của riêng mình
Trang 34Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trong Lời nói ựầu của bản Hiệp ước, các nước tham gia ký kết tuyên bố mục ựắch của họ là Ộthực hiện việc kiểm soát quốc tế chặt chẽ ựối với vấn ựề giải trừ quân bị phù hợp với những mục tiêu của Liên Hiệp Quốc, tiến tới chấm dứt chạy ựua vũ trang và xóa bỏ việc sản xuất cũng như thử nghiệm tất cả các loại vũ khắ,
kể cả vũ khắ hạt nhânỢ Nội dung chắnh của Hiệp ước là cấm thử vũ khắ hạt nhân trên không, trong vũ trụ và dưới nước Nhưng Hiệp ước LTB không quy ựịnh cấm thử vũ khắ hạt nhân dưới lòng ựất; mà lại quy ựịnh các vụ thử hạt nhân dưới ựất nếu chúng gây ra ô nhiễm phóng xạ vượt quá phạm vi lãnh thổ của nước tiến hành
vụ nổ thì phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế
Theo ựánh giá của các chuyên gia thì việc ký kết Hiệp ước LTB Ộtrở thành bước ựi hiện thực ựầu tiên trên con ựường tiến tới việc kìm hãm cuộc chạy ựua vũ trangỢ 7 Vì Hiệp ước có tác dụng hạn chế sự phát triển vũ khắ hạt nhân ở các nước mới ựạt ựược trình ựộ thử hạt nhân ở ba phương diện dưới nước, trên không và trong vũ trụ, ựối với các nước là thành viên của Hiệp ước Một ựiểm hạn chế của Hiệp ước LTB là chỉ cấm thử mà không cấm nghiên cứu, chế tạo vũ khắ hạt nhân thì khác nào lại chắnh thức hợp pháp hóa các cường quốc hạt nhân tiếp tục hiện ựại hóa kho vũ khắ hạt nhân của nước mình
1.3.4 Hiệp ước không phổ biến vũ khắ hạt nhân (NPT)
Một trong những cố gắng hàng ựầu của Liên Hiệp Quốc ngay từ khi mới thành lập là làm thế nào ựể ựảm bảo rằng năng lượng hạt nhân vừa mới phát hiện chỉ ựược sử dụng vào mục ựắch hòa bình (tức là các nhà sản xuất ựiện hạt nhân) và ngăn ngừa phổ biến vũ khắ hạt nhân Liên Hiệp Quốc ựã tiến hành một loạt các biện pháp nhằm ựạt mục tiêu ựó như: thành lập Ộcác khu vực phi hạt nhânỢ mà nơi
ựó vũ khắ hạt nhân bị cấm hoàn toàn, kắ hiệp ước không phổ biến vũ khắ hạt nhân
và hiệp ước cấm hoàn toàn các cuộc thử hạt nhân Hàm nghĩa cơ bản của việc cấm phổ biến vũ khắ hạt nhân là làm ựóng băng tình hình chiến lược vũ khắ hạt nhân ựang diễn ra phức tạp trên thế giới Có nghĩa là ngoài những quốc gia ựã có vũ khắ hạt nhân, nhân loại phải cố gắng phòng ngừa cho những quốc gia khác chưa có vũ khắ hạt nhân không ựược tìm cách sở hữu và phát triển vũ khắ hạt nhân
Hiệp ước không phổ biến vũ khắ hạt nhân ựược coi là Ộhòn ựá tảngỢ của các hiệp ựịnh quốc tế liên quan ựến lĩnh vực hạt nhân Hiệp ước gọi tắt theo tiếng Anh
là NPT (Treaty on the Non- Prolieration of Nuclear Weapors) ra ựời nhằm mục ựắch chủ yếu là ngăn cấm việc phổ biến vũ khắ hạt nhân từ các nước có vũ khắ hạt
7 Anatôli đôbrưnhin - Vị ựại sứ ở Oashingtơn qua sáu ựời Tổng thống Mỹ-NXB: Chắnh trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, trang 163
Trang 35Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nhân sang các nước không có vũ khí hạt nhân nhằm ñể giảm tình hình căng thẳng
và tiến tới xóa bỏ kho vũ khí hạt nhân trên thế giới Từ năm 1958, Liên Hiệp Quốc
ñã thông qua một loạt nghị quyết về không phổ biến vũ khí hạt nhân do Ireland ñề xướng Lập trường của các nước về vấn ñề này khác nhau cơ bản do mâu thuẫn lợi ích an ninh giữa các quốc gia Các cường quốc hạt nhân tham gia thương lượng về một “Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân” nhằm bảo vệ ưu thế hạt nhân của quốc gia mình Trong khi ñó, các nước không có vũ khí hạt nhân yêu cầu phải có
sự công bằng về quyền lợi và trách nhiệm giữa các quốc gia có và không có vũ khí hạt nhân, yêu cầu các quốc gia có vũ khí hạt nhân phải cam kết giải trừ quân bị hạt nhân ñể ñổi lại việc các nước không có vũ khí hạt nhân cam kết không tìm cách sở hữu ñể có loại vũ khí này
Dự thảo của bản Hiệp ước ñược thương lượng suốt 10 năm tại Ủy ban giải trừ quân bị Liên Hiệp Quốc (Ủy ban 18) và tại ðại hội ñồng Liên Hiệp Quốc Hiệp ước NPT ñược ðai hội ñồng Liên Hiệp Quốc phê chuẩn ngày 12 tháng 06 năm 1968 kèm theo nghị quyết số 2373 (XXII) Cuối cùng, Công ước quốc tế này
do Mỹ và Liên Xô cùng 59 quốc gia khác ñã ký vào ngày 01 tháng 07 năm 1968 tại thủ ñô Oashingtơn và có hiệu lực ngày 05 tháng 03 năm 1970 NPT cho phép năm quốc gia ñã có vũ khí hạt nhân là Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Quốc ñược duy trì các vũ khí này, nhưng lại cấm tất cả các quốc gia thành viên khác không ñược phép sở hữu hay phát triển các vũ khí ñó ðến nay ñã có 186 nước ký kết Tháng 03 năm 1992, Trung Quốc chính thức tham gia Hiệp ước này Mới ñầu, thời hạn có hiệu lực của Hiệp ước là 25 năm Ngày 11 tháng 05 năm 1995, tại cuộc họp của ðại hội ñồng Liên Hiệp Quốc về “Hiệp ñịnh không phổ biến vũ khí hạt nhân”, qua trao ñổi và thảo luận, toàn thể các quốc gia ñã nhất trí tán thành Hiệp ñịnh này kéo dài vô thời hạn
Ngay trong Lời nói ñầu của bản Hiệp ước, các quốc gia thành viên bày tỏ sự tin tưởng rằng: “Hiệp ước NPT sẽ góp phần chấm dứt chạy ñua vũ trang hạt nhân” ðồng thời khẳng ñịnh nguyên tắc các quốc gia phải ñược thừa hưởng các thành quả của việc ứng dụng các kỹ thuật hạt nhân vì mục ñích hòa bình Các nước thành viên cũng tuyên bố ý ñồ của các nước này nhằm ñạt tới việc ngưng cuộc chạy ñua vũ trang hạt nhân vào thời ñiểm sớm nhất có thể ñược và thực thi các biện pháp hữu hiệu nhằm mục ñích giải trừ quân bị hạt nhân” Các nước thành viên Hiệp ước mong muốn cùng hợp tác ñể sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục ñích hòa bình
Bản Hiệp ước bao gồm 10 ñiều khoản với nội dung chính sau:
Trang 36Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Theo ñiều khoản 1, các nước có vũ khí hạt nhân là thành viên Hiệp ước ñồng ý không chuyển giao vũ khí hạt nhân hoặc các bộ phận nổ hạt nhân cho bất
cứ thực thể nhận nào Các nước này cũng bị cấm không ñược chuyển giao việc quản lý những vũ khí và thiết bị nổ ñó cho bất cứ ai Các nước có vũ khí hạt nhân không ñược phép triển khai vũ khí hạt nhân của mình ra những khu vực ngoài lãnh thổ của mình mà không bị cấm bởi những hiệp ñịnh quốc tế Tuy nhiên, việc triển khai bất cứ vũ khí hạt nhân nào cũng phải nằm dưới sự ñiều khiển và kiểm soát của nước có vũ khí hạt nhân ñó Chỉ có Mỹ và Liên Xô là những nước thành viên NPT có vũ khí hạt nhân ñược triển khai ở ngoài lãnh thổ của nước mình
ðiều 2 quy ñịnh nghĩa vụ của các nước không có vũ khí hạt nhân không tìm cách sở hữu vũ khí hạt nhân Theo ñiều 2, các nước không có vũ khí hạt nhân phải cam kết không nhận hoặc kiểm soát bất cứ loại vũ khí hạt nhân hoặc các thiết bị
nổ khác; và không tìm kiếm hoặc nhận bất cứ sự trợ giúp nào ñể sản xuất các loại
vũ khí và thiết bị như vậy
ðiều 3, khoản 1 quy ñịnh các nước không có vũ khí hạt nhân là thành viên Hiệp ước phải chấp nhận quy chế ñảm bảo của IAEA nhằm ngăn chặn việc chuyển ñổi năng lượng hạt nhân vào mục ñích hòa bình sang sản xuất vũ khí hạt nhân và các thiết bị nổ khác ðiều 3, khoản 2 quy ñịnh “Mỗi quốc gia thành viên phải cam kết không cung cấp nguồn hoặc nguyên liệu nhiệt hạch ñặc biệt, hoặc chuẩn bị ñặc biệt cho việc ñiều chế, sử dụng hoặc sản xuất các loại nguyên liệu nhiệt hạch cho bất cứ một quốc gia không có vũ khí hạt nhân nào vì mục ñích hòa bình nếu không ñược tiến hành theo các biện pháp bảo ñảm của IAEA
ðiều 4, khoản 2 quy ñịnh: Tất cả các thành viên Hiệp ước cam kết tạo ñiều kiện và có quyền tham gia vào việc trao ñổi thiết bị, vật liệu và các thông tin khoa học kỹ thuật cho việc sử dụng hòa bình năng lượng hạt nhân ở mức ñộ ñầy ñủ nhất
có thể ñược Các nước thành viên Hiệp ước cũng sẽ hợp tác trong việc tự mình hoặc cùng với các quốc gia khác hoặc các tổ chức quốc tế nhằm phát triển hơn nữa việc ứng dụng năng lượng hạt nhân vì mục ñích hòa bình, ñặc biệt trên lãnh thổ của các nước thành viên Hiệp ước mà không có vũ khí hạt nhân
ðiều 5 quy ñịnh các biện pháp nhằm ñảm bảo việc các nước có vũ khí hạt nhân cung cấp cho các nước thành viên phi vũ khí hạt nhân những lợi ích có thể
có ñược của việc ứng dụng hòa bình các vụ nổ hạt nhân trên cơ sở không phân biệt ñối xử và mức phí những nước ñó phải trả cho các thiết bị nổ ñược sử dụng sẽ phải càng thấp càng tốt và sẽ không bao gồm việc trả chi phí nghiên cứu và phát triển
Trang 37Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ðiều 6 quy ñịnh các bên ký kết (chỉ những cường quốc hạt nhân) cam kết ñàm phán một cách thiện chí về việc chấm dứt chạy ñua vũ trang và giải trừ quân
bị toàn diện và triệt ñể
ðiều 7 tuyên bố: Không có ñiều khoản nào trong Hiệp ước này gây ảnh hưởng tới quyền của một nhóm nước nào ñược hoàn tất các Hiệp ñịnh khu vực nhằm ñảm bảo hoàn toàn không có vũ khí hạt nhân trên các lãnh thổ của nước mình (thực chất là việc thiết lập các khu vực phi vũ khí hạt nhân) Hiện ñã có ba khu vực trên thế giới hoàn tất Hiệp ñịnh như vậy và ñã thiết lập khu vực phi hạt nhân ở Châu Phi
ðiều 8 quy ñịnh sau khi Hiệp ước có hiệu lực, cứ năm năm một lần sẽ tổ chức hội nghị kiểm ñiểm hoạt ñộng của Hiệp ước
Theo ñiều 9, khoản 3 của Hiệp ước “Một quốc gia có vũ khí hạt nhân là nước ñã sản xuất và cho nổ vũ khí hạt nhân hoặc những ñầu ñạn hạt nhân khác trước ngày 01 tháng 01 năm 1967 Có năm quốc gia hội ñủ các ñiều kiện này là:
Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp, Trung Quốc Trong một thời gian dài các nước Trung Quốc và Pháp không ký Hiệp ước NPT Tuy nhiên, Trung Quốc khi tiến hành vụ
nổ hạt nhân ñầu tiên năm 1964 ñã tuyên bố trong bất cứ tình huống nào cũng sẽ không là nước sử dụng vũ khí hạt nhân Còn Pháp thì tuyên bố rằng, tuy không ký Hiệp ước NPT nhưng Pháp sẽ hành ñộng giống như các nước là thành viên của NPT Hai quốc gia này cùng chính thức gia nhập NPT năm 1992
ðiều 10 quy ñịnh các nứớc thành viên có quyền rút khỏi Hiệp ước nếu cho rằng có những tình huống bất thường phương hại lợi ích tối thượng của nước mình, phải báo trước 03 tháng 25 năm sau khi Hiệp ước có hiệu lực sẽ triệu tập một hội nghị ñể quyết ñịnh xem Hiệp ước sẽ tiếp tục có hiệu lực vô thời hạn hay chỉ trong một thời hạn nhất ñịnh nữa
Như vậy, mục ñích của các ñiều khoản chủ yếu của Hiệp ước có thể ñược tóm tắt như sau:
- Ngăn ngừa việc phổ biến vũ khí hạt nhân và các thiết bị nổ hạt nhân khác;
- ðảm bảo rằng các hoạt ñộng sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục ñích hòa bình không ñược chuyển sang sản xuất vũ khí hạt nhân hoặc các thiết bị nổ hạt nhân khác;
- Thúc ñẩy việc sử dụng hòa bình năng lượng hạt nhân;
- Thúc ñẩy việc giải trừ quân bị hạt nhân;
- Duy trì quyền của các nước ñược thành lập các khu phi vũ khí hạt nhân
Trang 38Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hiệp ước NPT có hai nguyên tắc ñược coi là tối quan trọng cho việc hiểu rõ ý nghĩa và mục ñích của Hiệp ước là:
- Thứ nhất là việc ứng dụng năng lượng hạt nhân vào mục ñích hòa bình cần ñược coi là quyền lợi chung của mọi quốc gia Cho nên, trong phần mở ñầu của Hiệp ước, các nước thành viên ñã khẳng ñịnh nguyên tắc rằng “nước có cũng như không có vũ khí hạt nhân ñều có quyền sử dụng vào mục ñích hòa bình các lợi ích của việc ứng dụng kỹ thuật hạt nhân, bao gồm cả những sản phẩm phụ của kỹ thuật ñó có thể có ñược của nước có vũ khí hạt nhân trong quá trình phát triển vũ khí hạt nhân của mình
- Nguyên tắc quan trọng thứ hai là việc phổ biến vũ khí hạt nhân sẽ làm phương hại ñến hòa bình và an ninh quốc tế Trong phần mở ñầu các nước thành viên bày tỏ sự tin tưởng rằng: “Việc phổ biến vũ khí hạt nhân sẽ làm tăng một cách nghiêm trọng hiểm họa chiến tranh hạt nhân”
Một vấn ñề gây lo ngại trên thế giới ngày nay là công nghệ sản xuất vũ khí hạt nhân không ngừng ñược phổ cập và không còn là ñiều bí mật ñược giữ kín ở nhiều nước, trong khi việc sở hữu vũ khí hạt nhân luôn ñược coi là niềm tự hào của nhiều dân tộc, là vũ khí răn ñe chiến lược có hiệu quả nhất Cho nên, nhìn chung tình hình ñối ñầu căng thẳng giữa các cường quốc hạt nhân ñã kết thúc, nhưng mối nguy hiểm lớn nhất hiện nay là khả năng gây ra khủng hoảng xung ñột
vũ khí hạt nhân và phát ñộng chiến tranh hạt nhân là ở những nước và tổ chức phi chính phủ mới giành ñược quyền sở hữu vũ khí hạt nhân Tổng giám ñốc IAEA M.ElBaradei cảnh báo rằng hiện nay có tới 30 quốc gia có hoặc ñang nghiên cứu chế tạo hạt nhân và ñủ công nghệ ñể phát triển hạt nhân “trong một thời gian rất ngắn” Do ñó, thế giới ngày càng phải ñối mặt với vấn ñề khủng bố hạt nhân mà khó xác ñịnh ñược cuộc khủng hoảng này ñến từ ñâu
ðối với thế giới nói chung, trước tình hình khủng hoảng hạt nhân ở một số quốc gia như CHDCND Triều Tiên và Iran, ñã dấy lên những câu hỏi nghiêm túc
về khuôn khổ pháp lý của cơ chế không phổ biến vũ khí hạt nhân của Hiệp ñịnh NPT và các biện pháp ngăn chặn phổ biến hạt nhân của IAEA thực sự ñược tuân thủ như thế nào thì vẫn chưa có câu trả lời chính thức Một ví dụ ñiển hình là Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Triều Tiên ñã ñưa thế giới ñến bờ vực của một cuộc khủng hoảng to lớn vào những năm 1993- 1994 khi các báo cáo tình báo cho thấy chương hạt nhân bề ngoài của nước này vì mục ñích hòa bình ñang ñược sử dụng ñể phát triển vũ khí hạt nhân, bất chấp thời gian ñó CHDCND Triều Tiên ñang tham gia Hiệp ước NPT Do ñó một trách nhiệm pháp lý cứng rắn
Trang 39Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
cần ñược ñặt ra ñể áp dụng ñối với những quốc gia vi phạm Hiệp ước Do ñó, việc sửa ñổi những ñiều khoản trong Hiệp ước NPT là một việc nên làm ñể Hiệp ước phát huy hết hiệu lực cũng như ñủ sức mạnh răn ñe các quốc gia có những hành ñộng lén lút tìm cách sở hữu vũ khí hạt nhân
Sau ñó, một số nước ñược biết ñến là sở hữu vũ khí hạt nhân nhưng không ký NPT Ixraen - một quốc gia không chịu thừa nhận có sở hữu vũ khí hạt nhân nhưng người ta có cơ sở ñể tin rằng nước này vẫn ñang sở hữu loại vũ khí này, ñã khẳng ñịnh rằng những lo ngại về an ninh ñã khiến việc ký NPT của họ là không thận trọng Nhìn chung, việc phát triển vũ khí hạt nhân ngấm ngầm không bị hạn chế bởi Hiệp ước NPT, cho nên số lượng các quốc gia tham gia ký kết Hiệp ñịnh không phải là yếu tố quyết ñịnh, hành ñộng lén lút phát triển vũ khí hạt nhân thì hiệp ñịnh không ngăn chặn ñược Mỗi quốc gia có cách nghĩ khác nhau về vấn ñề
vũ khí hạt nhân: nước này muốn ñảm bảo ưu thế hạt nhân, nước kia thì muốn hạn chế người khác, có nước lại muốn giảm gánh nặng hạt nhân của nước mình ñang
sở hữu
Hiện nay, nếu chỉ thực thi biện pháp không phổ biến vũ khí hạt nhân một cách ñơn thuần là không toàn diện, không ñủ khả năng giải quyết ñến cùng các vấn ñề gặp phải Chính ñiều ñó buộc phải phối hợp nhiều biện pháp khác nhau, tập trung giải quyết ñộng cơ ban ñầu và mối lo lắng của các nước tiến hành thử nghiệm vũ khí hạt nhân mới là hàng ñầu Nếu như không có cách nào giải quyết ñộng cơ tâm lý thật sự của nước chuẩn bị tiến hành vũ trang hạt nhân và các vấn
ñề quốc tế có liên quan ñến nước ñó, thì cơ chế không phổ biến vũ khí hạt nhân chỉ có thể ñủ sức ñạt ñược thành quả tạm thời, không ổn ñịnh
1.3.5 Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân tòan diện (CTBT)
Sau khi Hiệp ước LTB ñược ký kết, cộng ñồng quốc tế ñã nhấn mạnh sự cần thiết phải cấm thử vũ khí hạt nhân dưới lòng ñất, bên cạnh quy ñịnh cấm thử vũ khí hạt nhân ở ba phương diện, tức là cấm thử toàn diện và triệt ñể Cho nên, vấn
ñề chấm dứt hoàn toàn các vụ thử vũ khí hạt nhân lần ñầu tiên ñược ñưa vào chương trình nghị sự của ðại hội ñồng Liên Hiệp Quốc từ khóa họp lần thứ 9 (năm 1954)
ðến năm 1981, ðại hội ñồng Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết và ñược xem là một vấn ñề ưu tiên hàng ñầu cần tiến hành ñàm phán ñể ñi ñến ký kết một
“Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện và ñặt dưới sự kiểm soát quốc tế hữu hiệu”
Trang 40Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trước và trong thời gian ñàm phán ñể ñạt ñược thỏa thuận về Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện, các cường quốc hạt nhân vẫn tiếp tục cho tiến hành thử dưới ñất ñể hiện ñại hóa kho vũ khí hạt nhân của mình ðến năm 1996, các nhà khoa học cho biết tổng số vụ thử hạt nhân của năm cường quốc hạt nhân như sau: Mỹ là 1030, Liên Xô là 715, Pháp là 210, Anh là 45, Trung Quốc là 45 ðến ñầu tháng 8 năm 1996, tất cả năm nước trên ñều tuyên bố ngừng thử do dư luận thế giới phản ñối và lên án gây gắt
Hơn 40 năm tranh luận và ñàm phán, ngày 10 tháng 9 năm 1996 tại Hội nghị toàn thể ðại hội ñồng Liên Hiệp Quốc khóa 10, Hiệp ñịnh này ñược thông qua với
158 phiếu thuận, 3 phiếu chống là Ấn ðộ, Butan, Libi và 5 phiếu trắng ðến ngày
24 tháng 09 năm 1996 “Hiệp ước cấm thí nghiệm vũ khí hạt nhân toàn diện” gọi tắt là Hiệp ước CTBT ñược hoàn chỉnh và ñưa ra ñể các nước ký tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở Newyork Chỉ trong ngày ñầu, có 71 nước ký, trong số ñó có tất cả 5
Ủy viên thường trực HðBA
ðến tháng 10 năm 2000 ñã có 160 nước ký, 66 nước phê chuẩn Ba cường quốc hạt nhân là Anh, Pháp, Nga ñã phê chuẩn Mỹ và Trung Quốc chưa phê chuẩn Trong 44 quốc gia có lò phản ứng hạt nhân, có 4 quốc gia chưa ký là Triều Tiên, Ấn ðộ, Bănglañet và Pakixtan Hiệp ñịnh này làm cho xã hội quốc tế tiến thêm một bước quan trọng trên con ñường từ bỏ vĩnh viễn vũ khí hạt nhân
Nhưng ñiều ñáng tiếc là Hiệp ñịnh này phải có Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc là năm cường quốc hạt nhân và 3 nước có tiềm lực hạt nhân là Ixraen, Ấn
ðộ, Pakixtan cùng phê chuẩn thì Hiệp ước mới có hiệu lực
Trên thế giới ngày nay, sức mạnh quân sự vẫn là tiêu chí quan trọng ñể cân bằng thực lực quốc gia và an ninh quốc gia, còn vũ khí hạt nhân vẫn còn là thủ ñoạn uy hiếp cuối cùng ñể giải quyết tranh chấp quốc tế và là trụ cột chủ yếu của lợi ích an ninh quốc gia Cho nên, sau khi ký Hiệp ñịnh CTBT các cường quốc hạt nhân cũ ñã lợi dụng “lỗ hổng” của hiệp ước là các quốc gia ñó vẫn có thể sử dụng máy tính siêu cao tốc ñể mô phỏng vụ nổ hạt nhân và tiến hành thử nghiệm hạt nhân vi lượng trong phòng thực nghiệm ñể tiếp tục hiện ñại hóa kho vũ khí hạt nhân của quốc gia mình mà không vi phạm một ñiều khoản nào ñược quy ñịnh trong Hiệp ước CTBT
Ngày 11 và 13 tháng 05 năm 1998, Ấn ðộ thử 5 vụ nổ hạt nhân, sau ñó tuyên
bố ngừng thử Ngày 28 tháng 05 năm 1998, Pakixtan tuyên bố thử thành công 5
vụ nổ hạt nhân, và ngày 30 tháng 05 thử thêm một lần nữa, sau ñó tuyên bố ngừng thử Cho ñến nay trong kho hạt nhân của Ixraen ñã có khoảng 100 ñến 200 vũ khí