Đây là một loại hợp đồng mua bán có điều kiện và điều kiện là bên bán thỏa thuận với bên mua về quyền chuộc lại tài sản đã bán sau một thời hạn nhất định gọi là thời hạn chuộc lại và thờ
Trang 1BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
- -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHÓA 35 (2009-2012)
ĐỀ TÀIHỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN VỚI ĐIỀU KIỆN CHUỘC LẠI – LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Bộ môn: Luật Tư pháp Lớp: Luật Tư pháp 2-K35
Cần Thơ, Tháng 8/2012
Trang 2ĐỀ TÀI HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN VỚI ĐIỀU KIỆN CHUỘC LẠI – LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Bộ môn: Luật Tư pháp Lớp: Luật Tư pháp 2-K35
Cần Thơ, Tháng 8/2012
Trang 3
………
…….………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4
………
….………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 5Trang
LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Mục tiêu nghiên cứu……… 3
3 Phạm vi nghiên cứu……… 3
4 Phương pháp nghiên cứu……… 3
5 Bố cục đề tài……… 4
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN VỚI ĐIỀU KIỆN CHUỘC LẠI ……… 5
1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán tài sản……… 5
1.2 Khái niệm hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại 7
1.2.1 Khái niệm hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại 7
1.2.2 Các hình thức tồn tại chủ yếu hiện nay của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại 10
1.2.2.1 Các loại hợp đồng repo (Hợp đồng repo chứng khoán và Hợp đồng repo bất động sản) 11
1.2.2.2 Cố đất (hợp đồng cầm cố bất động sản) 14
1.3 Lịch sử phát triển của chế định hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại 15
1.3.1 Trên thế giới……… 15
1.3.2 Ở Việt Nam 16
1.3.2.1 Thời phong kiến (Thời Lý, Thời Hậu Lê, Thời Nguyễn) 17
1.3.2.2 Thời thuộc Pháp 20
1.3.2.3 Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công 21
1.3.2.4 Đất nước thống nhất (từ năm 1975 đến nay)……….22
1.4 Mối quan hệ giữa hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại với hợp đồng mua bán tài sản thông thường, hợp đồng repo chứng khoán và hợp đồng repo bất động sản 23
1.4.1 Mối quan hệ với hợp đồng mua bán tài sản thông thường 23
1.4.2 Mối quan hệ với hợp đồng repo chứng khoán, hợp đồng repo bất động sản .24
1.4.2.1 Sự khác nhau giữa hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại so với hợp đồng repo chứng khoán 24
1.4.2.2 Sự khác nhau giữa hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại so với hợp đồng repo bất động sản .26
Trang 61.5.1 Bản chất pháp lý của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc
lại……… 26
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại ……… 29
CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN VỚI ĐIỀU KIỆN CHUỘC LẠI……… 32
2.1 Xác lập hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại 32
2.1.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng 32
2.1.1.1 Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội 32
2.1.1.2 Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng 35
2.1.2 Điều kiện về nội dung của hợp đồng 36
2.1.2.1 Năng lực chủ thể giao kết hợp đồng 37
2.1.2.2 Đối tượng của hợp đồng 40
2.1.2.3 Thời hạn chuộc lại tài sản 43
2.1.2.4 Giá bán và giá chuộc lại tài sản trong hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại 43
2.1.3 Điều kiện về hình thức của hợp đồng 46
2.2 Hiệu lực của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại 50
2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của bên mua tài sản 51
2.2.1.1 Quyền của bên mua tài sản 51
2.2.1.2 Nghĩa vụ của bên mua tài sản 53
2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của bên bán tài sản 54
2.2.2.1 Quyền của bên bán tài sản 54
2.2.2.2 Nghĩa vụ của bên bán tài sản 55
2.3 Chấm dứt và hệ quả pháp lý của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại 56
2.3.1 Chấm dứt hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại 56
2.3.2 Hệ quả pháp lý của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc 56
Trang 73.1 Thực trạng áp dụng của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc
lại 58
3.1.1 Hình thức của hợp đồng 58
3.1.2 Thừa kế quyền chuộc lại 63
3.1.3 Giá chuộc lại tài sản 66
3.1.4 Quyền sở hữu của người bán đối với tài sản bán trong thời hạn chuộc lại 70
3.2 Kiến nghị hoàn thiện những bất cập của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại 71
KẾT LUẬN ……… 76
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày 14/6/2005 Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Bộ luật dân
sự 2005 (có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2006), đánh dấu bước phát triển
mới của kinh tế, xã hội Việt Nam Với vai trò là một đạo luật “gốc” trong hệ
thống pháp luật Việt Nam, Bộ luật đã quy định những nguyên tắc cơ bản mang
tính nền tảng, định hướng cho sự phát triển của các giao lưu dân sự và đặc trưng
của nó là chế định hợp đồng Có thể nói, hợp đồng là một trong những phương
tiện pháp lý chủ yếu để cá nhân, tổ chức trao đổi lợi ích nhằm thỏa mãn các nhu
cầu của mình Hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận hành của
nền kinh tế Có thể nói, những đóng góp của BLDS 2005 nói chung và hợp đồng
dân sự nói riêng trong những năm qua đối với sự phát triển của đất nước là
không thể phủ nhận Tuy nhiên, đứng trước những đòi hỏi của thực tiễn, đặc biệt
là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế một số nội dung của chế định hợp đồng
trong BLDS 2005 đã tỏ ra không phù hợp, trong đó phải kể đến chế định hợp
đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại tại Điều 462
Đây là một loại hợp đồng mua bán có điều kiện và điều kiện là bên bán
thỏa thuận với bên mua về quyền chuộc lại tài sản đã bán sau một thời hạn nhất
định gọi là thời hạn chuộc lại và thời hạn chuộc lại tài sản do các bên thỏa thuận
nhưng không quá một năm đối với động sản và năm năm đối với bất động sản, kể
từ thời điểm giao tài sản Trong thời hạn này bên bán có quyền chuộc lại bất cứ
lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên mua trong thời gian hợp lý Giá chuộc lại
theo giá thị trường tại thời điểm và địa điểm chuộc lại, nếu không có thỏa thuận
khác Với quy định này nhà lập pháp thiên về bảo vệ quyền lợi của bên bán, và
cho họ có cơ hội chuộc lại tài sản khi nguồn tài chính được phục hồi Tuy nhiên,
trong một quan hệ pháp luật thường thì quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ với bên
kia và hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại cũng vậy Nhằm bảo vệ
quyền chuộc lại của bên bán luật quy định nghĩa vụ của bên mua là: “Trong thời
hạn chuộc lại, bên mua không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, thế chấp,
cầm cố tài sản, phải chịu rủi ro đối với tài sản” Với quy định mệnh lệnh, áp đặt
này của luật rõ ràng đã hạn chế quyền định đoạt tài sản của người mua (vốn đang
là chủ sở hữu của tài sản trong thời hạn chuộc lại) một cách không cần thiết, điều
Trang 12này là không phù hợp nguyên tắc tự do thỏa thuận, tự do ý chí trong pháp luật
dân sự Đồng thời với quy định của luật thì quyền sở hữu của người mua chỉ
mang tính chất “tạm thời” và sẽ bị mất đi khi người bán thực hiện quyền chuộc
lại tài sản, nếu không muốn nói người mua là người “giữ” tài sản thay cho người
bán, điều này là không công bằng đối với người mua
Ngoài ra, trong thời gian người bán sở hữu tài sản có thể người bán phải
tốn các chi phí sửa chữa, bảo quản, nâng cấp làm tăng giá trị tài sản và giả thiết
là trong hợp đồng mua bán tài sản hai bên không có thỏa thuận về giá chuộc lại
tài sản thì khi chuộc lại tài sản nếu giá thị trường xuống quá thấp hoặc quá cao
thì với công thức “theo giá thị trường” này thì quyền lợi của cả người mua lẫn
người bán không được đảm bảo và mục đích của việc giao kết hợp đồng bị phá
vỡ Điều này sẽ là rào cản không nhỏ cho sự phát triển của một giao dịch vốn
được xem là có nhiều ý nghĩa thực tiễn như hợp đồng mua bán tài sản với điều
kiện chuộc lại
Thêm vào đó sự đa dạng, phức tạp của các quan hệ xã hội điều luật đã
không dự liệu được các tình huống phát sinh Đó là trường hợp trong thời hạn
chuộc lại mà một bên trong hợp đồng chết thì sẽ giải quyết hợp đồng mua bán tài
sản với điều kiện chuộc lại như thế nào? Tài sản là đối tượng chuộc lại có được
xem là di sản thừa kế hay không? Người thừa kế của các bên có được kế thừa
quyền và nghĩa vụ của các bên không? Đó là những vấn đề pháp luật còn bỏ ngõ,
cần sớm có giải pháp hoàn thiện
Vì những tồn tại trên của luật, nên khi thực tiễn rơi vào các trường hợp
như trên các cơ quan có thẩm quyền tỏ ra lung túng, quan điểm không thống
nhất,… khi giải quyết Trong khi đó thực tiễn tranh chấp về hợp đồng mua bán
tài sản với điều kiện chuộc lại trong lĩnh vực bất động sản dưới tên gọi hợp đồng
“cố đất” là khá phổ biến Và hiện nay, cùng với sự phát triển của thị trường
chứng khoán, giao dịch bất động sản thì hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại đã biến thiên, phát triển thành các hình thức như: hợp đồng repo chứng
khoán, hợp đồng repo bất động sản Các hợp đồng này có thể xem là các nhánh
phái sinh của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại với những điểm
giống và biến thiên khác biệt Với sự xuất của loại hình giao dịch mới này, pháp
luật chuyên ngành chưa có có những giải pháp điều chỉnh nên thiết nghĩ việc cấp
thiết hiện nay là hoàn thiện chế định chung – chế định hợp đồng mua bán tài sản
với điều kiện chuộc lại, từ đó hình thành một khung pháp lý cơ bản làm cơ sở
cho việc xây dựng những quy định đặc thù trong pháp luật chuyên ngành
Trang 13Trước thực trạng trên của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc
lại và những đòi hỏi khách quan của thực tiễn cần có những công trình nghiên
cứu để đưa ra những kiến nghị và giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp
luật, đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể, tạo cơ sở cho việc áp dụng pháp
luật của các cơ quan tiến hành tố tụng được thống nhất,… Chính vì vậy, người
viết chọn đề tài “Hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại – Lý luận
và thực tiễn” làm luận văn tốt nghiệp của bản thân
2 Mục tiêu nghiên cứu
Từ những lý do như trên, thông qua đề tài người viết tập trung nghiên làm
sáng tỏ các vấn đề lý luận chung về hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại, phân tích những quy định của pháp luật hiện hành từ đó làm bật lên
những thiếu sót, bất cập của chế định hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại để qua đó người viết đề ra hướng giải quyết, kiến nghị, góp phần vào
việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Đồng thời tạo cơ sở cho việc áp dụng
pháp luật của cơ quan tư pháp được dễ dàng, thống nhất, đảm bảo được quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân
3 Phạm vi nghiên cứu
Vì thời gian có hạn nên trong phạm vi đề tài này người viết tập trung
nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và chủ yếu là Bộ
luật dân sự năm 2005 về những vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán tài sản
với điều kiện chuộc lại và hình thức tồn tại chủ yếu của nó trong thực tiễn (hợp
đồng cố đất) Đó là, các quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng, điều kiện về
nội dung cũng như hình thức của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ cơ bản của bên
bán và bên mua khi hợp đồng có hiệu lực, các căn cứ chấm dứt và hệ quả pháp lý
của nó Ngoài ra, người viết còn đề cập đến hợp đồng repo chứng khoán, hợp
đồng repo bất động sản nhưng không phải ở góc độ tài chính mà nghiên cứu nó
trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại, với
những điểm giống và khác nhau Qua đó làm nổi bật lên việc các hợp đồng repo
này chính là các nhánh phái sinh của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại cũng như làm rõ những ưu điểm của nó so với hợp đồng mua bán tài
sản với điều kiện chuộc lại Từ đó làm cơ sở cho việc hoàn thiện chế định hợp
đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại trong Bộ luật dân sự
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu người viết chủ yếu vận dụng các phương
pháp sau: Thứ nhất, thông qua việc nghiên cứu, thu thập dữ liệu trên sách, báo,
Trang 14tạp chí, các giáo trình, các luận văn, các website,… kết hợp với phương pháp
phân tích luật viết truyền thống người viết làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, pháp lý
cũng như thực tiễn của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại; Thứ
hai, trong quá trình phân tích, đánh giá các đặc điểm pháp lý về hợp đồng mua
bán tài sản với điều kiện chuộc lại người viết có sử dụng phương pháp so sánh,
đối chiếu để làm rõ những điểm hạn chế, bất cập của hợp đồng mua bán tài sản
với điều kiện chuộc lại so với các sản phẩm phái sinh của nó và pháp luật của
Việt Nam trước đây về các vấn đề có liên quan; Cuối cùng người viết áp dụng
phương pháp quy nạp, tổng hợp và để rút ra kết luận thể hiện quan điểm của bản
thân về các vấn đề nghiên cứu
5 Bố cục đề tài
Ngoài các phần như: Lời nói đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu
tham khảo thì đề tài “Hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại – Lý luận
và thực tiễn” được bố cục thành ba nội dung chính như sau:
Chương 1: Lý luận chung về hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại
Chương 2: Chế định hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại
Chương 3: Thực tiễn áp dụng của hợp đồng mua bán tài sản với điều
kiện chuộc lại và kiến nghị hoàn thiện
Trang 15CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN
VỚI ĐIỀU KIỆN CHUỘC LẠI
Chương này người viết tập trung đi sâu làm rõ những vấn đề lý luận
chung xoay quanh hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện với điều kiện chuộc
lại, những đặc điểm pháp lý thuộc về bản chất của hợp đồng này cũng như đôi
nét khái quát về lịch sử phát triển và những đóng góp của nó đối với thực tiễn
Bên cạnh đó, người viết còn khái quát về hợp đồng mua bán tài sản, các hình
thức tồn tại chủ yếu hiện nay của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc
lại, từ đó làm bật lên mối quan hệ giữa chúng với hợp đồng mua bán tài sản với
điều kiện chuộc lại và lý giải tại sao khi hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại biến thiên, phát triển thành các hình thức khác (hợp đồng repo chứng
khoán, hợp đồng repo bất động sản) như hiện nay lại phát triển một cách nhanh
chóng, sôi động, hấp dẫn nhiều nhà đầu tư, phải chăng các hợp đồng này có
những gì ưu điểm hơn
1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán tài sản
Trong cuộc sống để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng và các lợi ích
chính đáng khác của mình các chủ thể trong xã hội đã thiết lập với nhau những
mối quan hệ nhất định thông qua đó trao đổi, chuyển giao cho nhau các lợi ích
vật chất từ đó hình thành quan hệ hợp đồng Hợp đồng mua bán chỉ thật sự hình
thành khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định Lúc đầu, để đáp ứng nhu
cầu của mình các chủ thể trong xã hội chỉ có một cách duy nhất đó là dùng vật
đổi vật, sự trao đổi vật này thường không tương xứng Quá trình phát triển lâu
dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa đã làm xuất hiện tiền tệ Tiền làm thước đo
giá trị vì bản thân nó cũng là một hàng hóa đặc biệt có giá trị như hàng hóa khác
Giá trị của mỗi hàng hóa được biểu hiện bằng một số tiền nhất định là giá cả Giá
cả của hàng hóa thay đổi lên xuống nhưng tổng số giá cả thì luôn bằng tổng số
giá trị của hàng hóa Do vậy, việc trao đổi hàng hóa và tiền tệ là một bộ phận của
nền sản xuất hàng hóa Quá trình trao đổi được thực hiện chủ yếu thông qua việc
mua bán Mua bán trong xã hội có giai cấp không những chỉ tuân theo quy định
của Nhà nước mà còn phải phù hợp với đạo đức xã hội Mua bán là một quan hệ
pháp luật mà người mua và người bán có những quyền và nghĩa vụ nhất định,
thông qua việc mua bán làm phát sinh, chấm dứt quyền tài sản của người mua và
Trang 16người bán Việc mua bán làm chấm dứt quyền sở hữu của người bán đối với vật
đem bán, đồng thời làm phát sinh quyền sở hữu của người mua đối với vật đó.1
Theo Điều 428 – Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS 2005), hợp đồng mua
bán tài sản được định nghĩa là: “sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có
nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận
tài sản và trả tiền cho bên bán” Đây là một hợp đồng chuyển quyền sở hữu tài
sản có đền bù quan trọng nhất, hợp đồng này có những đặc trưng pháp lý sau:
Thứ nhất, về nguyên tắc hợp đồng mua bán là một hợp đồng ưng thuận, nghĩa là
hợp đồng được giao kết vào thời điểm đạt được sự thỏa thuận giữa các bên về nội
dung chủ yếu của hợp đồng, không phải ở thời điểm giao tài sản hoặc thời điểm
ghi nhận sự thỏa thuận đó bằng văn bản Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại
lệ khi đối tượng của hợp đồng mua bán là những tài sản có giá trị lớn và phải
đăng ký quyền sở hữu (như quyền sử dụng đất, nhà ở,…) thì hợp đồng mua bán
tài sản là một hợp đồng trọng thức (contrat solennel) Thứ hai, hợp đồng mua bán
tài sản còn là một hợp đồng song vụ theo đó cả bên bán và bên mua đều có quyền
và nghĩa vụ đối với nhau, quyền của bên này sẽ tương ứng với nghĩa vụ của bên
kia và ngược lại: bên bán có nghĩa vụ chuyển giao tài sản thì bên mua có nghĩa
vụ chuyển giao tiền thanh toán Và thứ ba, hợp đồng mua bán là một hợp đồng
có đền bù – nghĩa là mỗi bên chủ thể sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ
nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng, cho nên tiền mà bên mua tài sản
phải trả cho bên bán tài sản là khoản tiền bù về việc mua bán tài sản, đây là điểm
khác biệt cơ bản so với hợp đồng tặng cho tài sản – một hợp đồng không có đền
bù
Hợp đồng mua bán tài sản là phương tiện pháp lý tạo điều kiện cho cá
nhân, tổ chức trao đổi hàng hóa, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, kinh
doanh Thông thường, hợp đồng mua bán được thực hiện ngay sau khi các bên
thỏa thuận xong về đối tượng và giá cả - bên mua trả tiền xong, thì bên bán
chuyển giao vật cho bên mua Nhưng cũng có thể được các bên thỏa thuận khác,
như nhận tiền trước – giao vật sau hoặc giao vật trước – trả tiền sau Nếu đối
tượng của hợp đồng mua bán là một số lượng lớn tài sản, thì các bên có thể
chuyển giao vật làm nhiều lần và mỗi lần theo một số lượng, khối lượng nhất
định Vì vậy, sau khi các bên thực hiện xong hợp đồng họ sẽ thỏa mãn được các
nhu cầu của mình
1
PGS.TS Đinh Văn Thanh, ThS Nguyễn Minh Tuấn (Chủ biên): Giáo trình Luật dân sự Việt Nam – tập 2, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, Tr 119 – 120
Trang 17Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, hợp đồng mua bán tài sản không chỉ
được điều chỉnh bởi những quy định chung mang tính nguyên tắc trong BLDS
2005 mà còn bị chi phối bởi các quy định riêng của pháp luật chuyên ngành như:
Luật đất đai, Luật thương mại, Luật nhà ở,… Bộ luật dân sự năm 2005 cũng như
Bộ luật dân sự năm 1995 (BLDS 1995) đều dành những quy phạm để điều chỉnh
về loại hợp đồng quan trọng này Trong BLDS 2005, đặc biệt là phần hợp đồng
thông dụng có 22 điều (từ Điều 428 đến 449) đề cập về hợp đồng mua bán trong
trường hợp tổng quát Ngoài ra, còn các Điều từ 450 đến 455 về hợp đồng mua
bán nhà, từ Điều 456 đến 462 về một số loại hình mua bán đặc biệt (như hợp
đồng trả chậm, trả dần; hợp đồng mua bán với điều kiện dùng thử; hợp đồng mua
bán với điều kiện chuộc lại,…) cùng các quy định về hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền tài sản của tác giả, quyền sở
hữu trí tuệ,…
1.2 Khái niệm hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại
1.2.1 Khái niệm hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại
Trước sự phát triển không ngừng của xã hội nhu cầu mua bán, trao đổi của
con người cũng đa dạng và phức tạp hơn nên ngoài các hợp đồng mua bán tài sản
thông thường BLDS 2005 còn quy định thêm về những loại hình mua bán tài sản
đặc biệt trong đó có hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc Thuật ngữ
“hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại” không phải là tên gọi chính
thức của luật và trong thực tiễn loại hợp đồng này còn có các tên gọi khác như:
hợp đồng mua bán tài sản có điều khoản chuộc lại, hợp đồng chuộc lại,… nhưng
xét về bản chất là giống nhau Vì vậy, xuất phát từ bản chất chuộc lại của loại
hợp đồng này mà người viết thống nhất cách gọi trong luận văn là hợp đồng mua
bán tài sản với điều kiện chuộc lại nhằm phân biệt với các loại hợp đồng mua bán
khác và thuận tiện cho việc phân tích
Trong BLDS 2005, chúng ta chỉ tìm thấy một điều luật duy nhất liên quan
cụ thể đến loại hợp đồng này, đó là Điều 462 – Chuộc lại tài sản đã bán 2, điều
Thời hạn chuộc lại tài sản do các bên thỏa thuận nhưng không quá một năm đối với động sản và năm năm đối
với bất động sản, kể từ thời điểm giao tài sản Trong thời hạn này bên bán có quyền chuộc lại bất cứ lúc nào, nhưng
phải báo trước cho bên mua trong một thời gian hợp lý Giá chuộc lại theo giá thị trường tại thời điểm và địa điểm
chuộc lại, nếu không có thỏa thuận khác
2 Trong thời hạn chuộc lại, bên mua không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản,
phải chịu rủi ro đối với tài sản
Trang 18luật này là sự kế thừa và phát triển của Điều 458 – BLDS 1995 Từ những quy
định tại điều luật này cho phép chúng ta hiểu hợp đồng mua bán tài sản với điều
kiện chuộc lại là: “một loại hợp đồng mua bán, mà theo đó bên bán thỏa thuận
với bên mua về quyền chuộc lại tài sản đã bán sau một thời hạn gọi là thời hạn
chuộc lại.” Thời hạn này do bên bán và bên mua thỏa thuận nhưng luật giới hạn
là không quá một năm đối với động sản và năm năm đối với bất động sản, kể từ
thời điểm giao tài sản
Có thể nói, nếu như trong hợp đồng mua bán với điều kiện dùng thử, bên
mua cần có một thời gian nhất định để quyết định có mua tài sản đó hay không
thì ngược lại trong hợp đồng mua bán với điều kiện chuộc lại, bên bán cần một
thời hạn để quyết định có bán tài sản đó hay không Cho nên “điều kiện chuộc
lại” của hợp đồng có tính chất quyết định đến việc người bán có đồng ý bán tài
sản hay không và điều kiện này chính là điểm đặc trưng của hợp đồng mua bán
tài sản với điều kiện chuộc lại so với các hợp đồng khác Bên cạnh đó, nếu xét về
phương diện pháp lý hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại là một
hợp đồng được ký kết dưới điều kiện hủy bỏ (theo Điều 125 – BLDS 2005)3, khi
người bán chuộc lại tài sản thì hợp đồng bị hủy bỏ hồi tố kể từ khi ký kết, giữa
hai bên coi như không có hợp đồng, người mua phải trả lại tài sản cho người bán,
quyền sở hữu coi như chưa hề được chuyển sang cho người mua
So với hợp đồng mua bán với điều kiện dùng thử, hợp đồng mua bán tài
sản với điều kiện chuộc lại có những khác biệt cơ bản sau:
Hợp đồng mua bán với điều kiện
dùng thử
Hợp đồng mua bán tài sản Với điều kiện chuộc lại
- Sử dụng thử là điều kiện làm phát
sinh hiệu lực của hợp đồng
- Chuộc lại là điều kiện làm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng
- Thời hạn sử dụng thử do các bên
thỏa thuận
- Thời hạn chuộc lại do các bên thỏa thuận nhưng không quá một năm đối với động sản và năm năm đối với bất động sản
3 Điều 125 Giao dịch dân sự có điều kiện:
1 Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều
kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ
2 Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi
cố ý cản trở của một bên hoặc của người thứ ba thì coi như điều kiện đó đã xảy ra, nếu có sự tác động của một bên
hoặc của người thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự xảy ra thì coi như điều
kiện đó không xảy ra
Trang 19- Trong thời hạn sử dụng thử quyền
sở hữu thuộc về bên bán
- Trong thời hạn chuộc lại quyền sở hữu tài sản thuộc về bên mua
- Bên bán phải chịu rủi ro đối với tài
Tiếp theo, một nội dung quan trọng, không thể thiếu của hợp đồng mua
bán tài sản với điều kiện chuộc lại là giá chuộc lại tài sản, theo đó giá chuộc lại
không phụ thuộc vào giá bán ban đầu mà được xác định theo giá thị trường tại
thời điểm và địa điểm chuộc lại, nếu bên bán và bên mua không có thỏa thuận
khác Trong thời hạn chuộc lại bên bán có quyền chuộc lại bất cứ lúc nào nhưng
phải báo trước cho bên mua trong một thời gian hợp lý, nhưng nếu bên bán
không thực hiện “quyền” chuộc lại tài sản (bao gồm không muốn chuộc lại hoặc
không có khả năng chuộc lại) thì hợp đồng mua bán đương nhiên được coi như
có hiệu lực tại thời điểm giao kết và quyền sở hữu đối với tài sản mua bán sẽ
vĩnh viễn chuyển sang cho bên mua
Và cũng giống như bản chất của các hợp đồng mua bán tài sản thông
thường khác, trong hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại quyền sở
hữu đối với tài sản bán cũng được công nhận cho bên mua, đồng thời bên mua
phải chịu rủi ro đối với tài sản đó trong thời hạn chuộc lại Tuy nhiên, điều kiện
chuộc lại đã hạn chế quyền sở hữu đối với vật mua của bên mua Trong thời hạn
chuộc lại bên mua không được xác lập bất kỳ giao dịch nào có liên quan đến tài
sản mua nếu có nguy cơ ảnh hưởng đến quyền chuộc lại tài sản của bên bán như
các giao dịch bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản
Hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại là một hình thức mua
bán có ý nghĩa tương trợ, bởi nó giúp bên bán có được khoản tiền khi cần nhưng
không phải từ bỏ vĩnh viễn quyền sở hữu đối với tài sản bán, nhất là đối với
những tài sản mang nhiều giá trị kỷ niệm và gắn bó với bên bán Bên cạnh đó,
hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại này cũng chứa đựng nhiều ưu
việt hơn so với việc dùng tài sản để cầm cố, thế chấp vay tiền Bởi vì khi bán tài
sản với điều kiện chuộc lại bên bán có được một số tiền tương đương với giá trị
Trang 20thực của tài sản, trong khi đó nếu đem tài sản đi cầm cố hay thế chấp thì khoản
tiền vay bao giờ cũng thấp hơn giá trị thực của tài sản Chính vì vậy, hình thức
mua bán này ngày càng trở nên phổ biến và thông dụng hơn trong điều kiện của
nền kinh tế thị trường hiện nay.4
Ngày nay, hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại – hay hợp
đồng chuộc lại là một khái niệm khá quen thuộc đối với các nước, nhất là các
nước có nền kinh tế, thương mại phát triển như các nước Châu Âu bởi vì hợp
đồng này được xem là một công cụ tài chính, một phương thức tiếp cận vốn linh
hoạt của các nhà đầu tư Ở Việt Nam, hợp đồng này đã hình thành từ khá lâu
trong tập quán dưới hình thức chủ yếu mang tên là “hợp đồng cố đất” (hợp đồng
cầm cố bất động sản) Tuy nhiên, hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc
lại này chỉ thật sự trở nên sôi động, hấp dẫn khi có sự ra đời của các loại hợp
đồng repo (Hợp đồng repo chứng khoán, Hợp đồng repo bất động sản) như sản
phẩm “phái sinh”, “thoát thai” của chính nó Các sản phẩm phái sinh này đã và
đang phát triển ở Việt Nam như một xu thế tất yếu của sự phát triển để đáp ứng
nhu cầu huy động vốn, sản xuất kinh doanh, đầu tư của xã hội Mặc dù sự ra đời
của các loại hợp đồng phái sinh này mang lại nhiều lợi ích hấp dẫn nhưng do sự
mới mẽ, luật viết chưa có quy phạm pháp luật cụ thể để điều chỉnh nên chính nó
cũng tìm ẩn không ít rủi ro Vì vậy, vấn đề cấp thiết và trước mắt hiện nay là cần
hoàn thiện những quy định chung về hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại trong bối cảnh các loại hợp đồng phái sinh chưa có quy phạm chuyên
ngành điều chỉnh, để các giao dịch này phát triển lành mạnh, có trật tự trong một
khuôn khổ pháp lý
1.2.2 Các hình thức tồn tại chủ yếu hiện nay của hợp đồng mua bán tài
sản với điều kiện chuộc lại
Trước nhu cầu phát triển và sự đòi hỏi của xã hội, hợp đồng mua bán tài
sản với điều kiện chuộc lại đã biến thiên, phát triển và tồn tại dưới nhiều hình
thức khác nhau như: hợp đồng cố đất (là một loại hợp đồng phổ biến theo tập
quán nông thôn miền Nam Việt Nam), hợp đồng repo chứng khoán, hợp đồng
repo bất động sản,… Các loại hợp đồng này một mặt chúng vẫn còn mang những
bản chất của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại, mặt khác chúng
đã có sự phát triển khác biệt
4
PGS TS Hoàng Thế Liên (Chủ biên): Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (Tập II) – Phần thứ ba: Nghĩa
vụ dân sự và Hợp đồng dân sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, Tr 400
Trang 211.2.2.1 Các loại hợp đồng repo (Hợp đồng repo chứng khoán và Hợp
đồng repo bất động sản)
Hợp đồng repo có tên tiếng Anh là Repurchase Agreement, hoặc tên đầy
đủ là Sale and Reppurchase Agreeme và tên tiếng Pháp khi vay mượn từ tiếng
Anh cũng là Le Repo, hoặc thuần Pháp hơn là Accord de Rachat Hợp đồng repo
này đã trở nên thông dụng ở hầu hết các nước, đến mức tất cả các chủ thể kinh
doanh, kể cả cá nhân, đều sử dụng phương thức này.5 Trong khung cảnh Việt
Nam loại hợp đồng repo này (phổ biến là repo chứng khoán, repo bất động sản)
còn khá mới mẽ và khi bắt đầu nhập cuộc nó đã trở nên sôi động, hấp dẫn nhiều
nhà đầu tư chứng khoán cũng như những nhà đầu tư bất động sản vì những điểm
ưu điểm của nó Sự ra đời non trẻ này, dẫn đến hệ thống pháp luật Việt Nam
chưa có một khung pháp lý đầy đủ để điều chỉnh về loại hợp đồng repo này Cho
nên, thực trạng là các loại hợp đồng repo chứng khoán, hợp đồng repo bất động
sản đã ra đời và cần có khung pháp lý để phát triển thì pháp luật vẫn còn đang để
ngõ Tuy nhiên, qua thực tiễn phát triển của các giao dịch này cho phép chúng ta
hiểu một cách khái quát về nó như sau:
Hợp đồng repo chứng khoán là một giao dịch mua bán chứng khoán có kỳ
hạn, theo đó nhà đầu tư có thể bán các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái
phiếu,…)6 của mình với cam kết mua lại chúng trong một khoảng thời gian nhất
định với giá cao hơn giá bán ban đầu (theo thỏa thuận với Công ty chứng khoán)
Cụ thể hơn như đối với repo cổ phiếu (một loại chứng khoán phổ biến), là việc
nhà đầu tư có cổ phiếu chưa niêm yết trên sàn chứng khoán nhưng đang cần tiền
thì có thể mang đến công ty chứng khoán để repo; cổ phiếu mang đi repo phải có
tên trong danh sách cổ phiếu mà công ty chứng khoán chấp nhận repo – danh
sách này được đưa ra tùy theo tình hình thị trường; nếu cổ phiếu của nhà đầu tư
được chấp nhận thì hai bên sẽ tiến hành ký kết hợp đồng (có kỳ hạn 03 tháng, 06
tháng hoặc 01 năm), đồng thời nhà đầu tư phải làm giấy chuyển nhượng cổ phiếu
cho công ty chứng khoán và khi hết hạn hợp đồng nhà đầu tư mang tiền đến
thanh lý hợp đồng, Công ty chứng khoán sẽ làm giấy chuyển nhượng sang tên lại
5 TS Nguyễn Thị Thu Vân, TS Trần Thị Thu Hà, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp: Hợp đồng repo chứng khoán và việc
sửa đổi chế định hợp đồng chuộc lại tài sản trong Bộ luật dân sự 2005,
Trang 22cho nhà đầu tư Nhà đầu tư phải trả lại số tiền bằng giá công ty mua ban đầu
cộng với lãi suất cho vay tùy theo thời hạn repo.7
Trong thực tiễn hợp đồng repo chứng khoán này rất dễ nhầm lẫn với hợp
đồng cho vay cầm cố chứng khoán, bởi lẽ cả hai hợp đồng này đều nhằm mục
đích vay tiền và đều có sự chuyển giao tài sản tạm thời từ người bán (hay người
cầm cố) sang người mua (hay người nhận cầm cố) Tuy nhiên, dưới góc độ pháp
lý, hợp đồng repo chứng khoán có những điểm khác biệt quan trọng so với một
hợp đồng cho vay cầm cố thông thường Chẳng hạn như: (1)-Đối với hợp đồng
repo chứng khoán, trong thời hạn repo người mua (Công ty chứng khoán và là
người cho vay) là chủ sở hữu của tài sản, người bán (nhà đầu tư và là người vay)
phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán cho người mua và
trong thời hạn này bên mua phải chịu rủi ro đối với tài sản và được hưởng những
lợi ích phát sinh từ tài sản; trong khi đó, với hợp đồng cầm cố chứng khoán
người vay vẫn là chủ sở hữu còn Công ty chứng khoán chỉ là người “giữ” chứng
khoán mà thôi; (2)-Nếu trong hợp đồng cho vay cầm cố, Công ty chứng khoán
được “giữ” chứng khoán của người vay nhưng không được phép dùng chứng
khoán này để kinh doanh, thì ở hợp đồng repo Công ty chứng khoán được sử
dụng chứng khoán để kinh doanh kiếm lời trong thời hạn hợp đồng.8
Từ những phân tích trên, chúng ta thấy rằng hợp đồng repo chứng khoán
thực chất là một nhánh “phái sinh” (biến thiên và phát triển) của hợp đồng mua
bán tài sản với điều kiện chuộc lại Vì thế, nó có những đặc điểm pháp lý của một
hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại, chẳng hạn như: luôn có sự
chuyển giao tài sản từ bên bán sang bên mua nhưng có thỏa thuận về quyền
chuộc lại của bên bán, ngoài ra các bên cũng thỏa thuận trong hợp đồng về thời
hạn chuộc lại tài sản cũng như mức giá chuộc lại tài sản Tuy nhiên, hợp đồng
repo chứng khoán này cũng đã có những biến thiên, phát triển nhất định để theo
kịp với nhu cầu mà thực tiễn đặt ra (sẽ được phân tích ở mục 1.2) Cho nên, sự
mới mẽ cùng với những lợi ích hấp dẫn (như: khách hàng có thể có được một
khoản tiền lớn hơn so với dịch vụ cho vay cầm cố chứng khoán mà thủ tục lại
đơn giản, thuận tiện, nhanh gọn)9 nên hợp đồng repo chứng khoán (cụ thể là repo
cổ phiếu) đã nhanh chóng dành được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư, nó cho
Trang 23phép các nhà đầu tư có thêm nguồn vốn để mở rộng danh mục đầu tư của mình
Vì vậy, trong những năm gần đây loại giao dịch này phát triển khá sôi động
Trong khi hợp đồng repo chứng khoán (cụ thể là repo cổ phiếu) vẫn đang
loay hoay chưa tìm được cho mình một vị thế pháp lý thích hợp để tồn tại trong
thị trường chứng khoán, thì tháng 7/2009 một số công ty kinh doanh bất động sản
lại chào bán với các nhà đầu tư một dịch vụ mới mang tên repo bất động sản và
cũng với lời chào mời về những ưu điểm tương tự như hợp đồng repo chứng
khoán
Hợp đồng repo bất động sản là một hợp đồng “hứa mua, hứa bán”, theo
đó khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp) bán bất động sản cho Công ty kinh doanh
bất động sản để lấy tiền trả nợ trước hạn cho ngân hàng và kèm theo “lời hứa” sẽ
mua lại bất động sản mà mình đã bán cho công ty Sau khi đã giải quyết được
khó khăn, tránh bị thanh lý hợp đồng vay, nhà đầu tư tiến hành ký kết hợp đồng
vay mới với ngân hàng với mức lãi suất thấp hơn để trở lại thực hiện “lời hứa”
mua bất động sản đã bán Với cách thực hiện này giúp nhà đầu tư tránh được việc
phải “gồng mình” trả lãi suất cao cho ngân hàng trong hợp đồng vay trước và
không phải mất đi quyền sở hữu đối với bất động sản Hợp đồng repo bất động
sản này thường được chào cho những khách hàng là cá nhân hay doanh nghiệp
trước đây thường vay vốn ngân hàng để mua bất động sản và trong hoạt động
repo này thường có sự liên kết giữa công ty kinh doanh bất động sản với một hay
nhiều ngân hàng Hợp đồng repo bất động sản ra đời trong bối cảnh khi các ngân
hàng thực hiện chính sách thắt chặt tín dụng, có nhiều khả năng ngân hàng từ
chối cho nhà đầu tư (cá nhân, doanh nghiệp) vay lại hoặc cho vay lại với mức
hạn tín dụng thấp hơn và khi tưởng chừng các cánh cửa ngân hàng đều đóng lại
với nhà đầu tư thì hợp đồng repo bất động sản ra đời đã kịp thời cứu nhà đầu tư
vượt qua khó khăn, cho nhà đầu tư một kênh huy động vốn khác ngoài kênh
truyền thống là ngân hàng Cho nên, sự ra đời của loại hợp đồng này đã kịp thời
đáp ứng sự kỳ vọng của nhiều nhà đầu tư Tuy nhiên, hợp đồng này cũng chứa
đựng không kém những rủi ro như repo chứng khoán vì có nhiều vấn đề còn
chưa rõ về khía cạnh pháp lý, đặc biệt là sự không rõ ràng liên quan đến việc
chuyển dịch quyền sở hữu, điều này khiến nhà đầu tư có nguy cơ bị đẩy vào tình
trạng mất đất một cách “hợp pháp” khi vào lúc đáo hạn hợp đồng, họ không đủ
tiền để mua lại tài sản Và khi đó, Công ty kinh doanh bất động sản sẽ mua đứt
bất động sản, quyền sở hữu đối với bất động sản giờ đây chính thức chuyển cho
bên mua Từ những điều trên có thể nói, nếu như hợp đồng repo chứng khoán là
Trang 24nhánh phái sinh thứ nhất của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại
thì hợp đồng repo bất động sản chính là nhánh phái sinh thứ hai Vì thế, hợp
đồng repo bất động sản này cũng mang những đặc điểm pháp lý của một hợp
đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại giống như hợp đồng repo chứng
khoán, nhưng chỉ khác ở chỗ hợp đồng repo chứng khoán có tài sản mua bán là
chứng khoán còn hợp đồng repo bất động sản có tài sản mua bán là bất động sản
mà thôi
1.2.2.2 Cố đất (hợp đồng cầm cố bất động sản)
Cầm cố là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
được pháp luật thừa nhận Theo Điều 326 – BLDS 2005, cầm cố là việc một bên
giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự Còn cố đất được hiểu là một tập quán, theo đó một người có
quyền sử dụng đất nông nghiệp (gọi là bên cố đất) dùng chính thửa đất nông
nghiệp này để làm vật bảo đảm cho việc vay một khoản tiền (vàng) từ người
khác (gọi là bên nhận cố đất) trong một thời gian thỏa thuận (gọi là thời hạn cố
đất) Trong thời hạn này, bên nhận cố đất có quyền sử dụng, khai thác thửa đất cố
theo đúng thỏa thuận Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên cố đất không
chuộc lại đất thì tùy theo thỏa thuận, bên nhận cố đất có thể tiếp tục sử dụng thửa
đất cố hoặc bên cố đất phải bán đứt thửa đất cố cho bên nhận cố đất, hoặc bên
nhận cố đất phải giao đất cố lại cho bên cố đất để người này chuyển nhượng hay
giao cho người khác cố và sau đó trả lại số tiền (vàng) đã vay ban đầu cho bên
nhận cố đất Với cách phân loại các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ của BLDS 1995
thì tài sản là “đất” (bất động sản) thì không thể là đối tượng của biện pháp cầm
cố mà chỉ được thừa nhận là đối tượng của biện pháp thế chấp, nhưng BLDS
2005 với việc dựa vào tiêu chí “chuyển giao tài sản” thì cầm cố bất động sản
(hay cố đất) có thể được chấp nhận và sự chuyển giao tài sản ở đây được xem là
sự chuyển giao tài sản về mặt pháp lý Tuy nhiên, so với cầm cố tài sản, “cố đất”
có những đặc trưng pháp lý như sau:10
Một là, mục đích của cầm cố tài sản là để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự thông thường được áp dụng đối với tài sản là động sản, người nhận cầm cố là
người quản lý tài sản (trừ những tài sản đặc biệt) Trong quan hệ “cố đất”, thông
10 Sỹ Hồng Nam, Trang tin trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát: Hợp đồng mua bán tài sản có điều kiện
chuộc lại và việc giải quyết tranh chấp tại tòa án,
http://tks.edu.vn/portal/detail/5480_64 Hop-dong-mua-ban-tai-san-co-dieu-kien-chuoc-lai-va-viec-giai-quyet-tranh-chap-tai-toa-an.html , [truy cập ngày 20-3-2012]
Trang 25thường bên cố đất vẫn là người quản lý, sử dụng đất, khai thác công dụng của
đất, thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất với Nhà nước
Hai là, tài sản cầm cố là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nên
giá trị có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các
bên Trong “cố đất”, mục đích của người nhận và người “cố đất” hướng tới
không hẳn là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự mà mục đích là lợi ích thông
qua việc cố và nhận “cố đất” Do vậy, giá cố đất thường tương đương với giá
chuyển nhượng tại thời điểm xác lập hợp đồng, giá chuộc lại đất có thể được thỏa
thuận ngay trong hợp đồng hoặc giá thị trường tại thời điểm chuộc cộng thêm
một giá trị nhất định Trên thực tế, thì giá chuộc lại đất bao giờ cũng lớn hơn giá
“cố đất” Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận người cố đất phải trả cho người
nhận cố đất một phần hoa lợi theo mùa Về thời hạn cố đất do các bên thỏa thuận
mà không phụ thuộc vào thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự như trong cầm cố tài
sản
Ba là, có thể chuyển hóa từ “cố đất” sang chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, nếu hết thời hạn “cố đất” bên cố đất không chuộc lại đất Tuy nhiên, để
chuyển hóa từ “cố đất” sang chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì các bên phải
thực hiện đầy đủ những quy định về hình thức hợp đồng Đây là đặc trưng cơ bản
thể hiện sự khác biệt giữa cố đất với cầm cố tài sản với tư cách là biện pháp bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, chứng tỏ “cố đất” là hợp đồng mua bán tài sản
(quyền sử dụng đất) có điều kiện chuộc lại
Từ những phân tích trên cho thấy, thực chất “cố đất” là một hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất có điều kiện chuộc lại (hay hợp đồng mua bán
với điều kiện chuộc lại) Hợp đồng “cố đất” này đã hình thành từ khá lâu trong
tập quán giao dịch ở nông thôn miền Nam Việt Nam và là một trong những hình
thức tồn tại chủ yếu hiện nay của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc
lại Tuy nhiên loại hợp đồng này đến nay vẫn chưa được pháp luật thừa nhận, cho
nên nó đã và đang tồn tại ngoài vòng pháp luật, việc giao kết không theo một quy
chuẩn nào và những rủi ro, tranh chấp phát sinh giữa các bên là khó tránh khỏi
1.3 Lịch sử phát triển của chế định hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại
1.3 1.Trên thế giới
Hợp đồng chuộc lại tài sản là một chế định đã có từ thời trung đại trong
tập quán thương mại của nhiều nước Châu Âu Trước tiên phải nhắc đến nước
Pháp, một quốc gia có nền pháp lý phát triển từ rất sớm và là một điểm sáng tiêu
Trang 26biểu trong hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil law) Trong Bộ luật Dân sự
Pháp, các điều luật quy định về hợp đồng chuộc lại phần lớn đều chịu ảnh hưởng
từ các quy định của cổ luật và tập quán thương mại của Pháp Chế định hợp đồng
mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại này trong Bộ luật Dân sự Pháp được quy
định tại Thiên VI, Chương VI, Mục I về Quyền chuộc lại vật (từ Điều 1659 đến
1673) Và không riêng gì nước Pháp, pháp luật dân sự của hầu hết các nước theo
hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa cũng đều quy định về hợp đồng chuộc lại
Từ khi mới xuất hiện, hợp đồng chuộc lại – hay còn gọi là hợp đồng mua
bán với điều khoản chuộc lại – được sử dụng như một sự trao đổi tài sản giữa các
ngân hàng với những thương nhân trong lĩnh vực thương mại, và khởi thủy nó
chỉ được áp dụng đối với các loại tài sản thông thường mà chủ yếu là bất động
sản Đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX, bán với điều khoản chuộc lại đã
không còn bó hẹp trong phạm vi các tài sản thông thường nữa, mà đã biến thiên
và phát triển thành một công cụ tài chính và được coi như một phương thức tiếp
cận vốn linh hoạt của các nhà đầu tư Hiện nay, bán chuộc lại – với sản phẩm
phái sinh của của nó mang tên repo – đã trở nên thông dụng ở hầu hết các nước
đến mức tất cả các chủ thể kinh doanh, kể cả cá nhân, đều sử dụng phương pháp
này.11
1.3.2 Ở Việt Nam
Mọi sự vật hiện tượng diễn ra hiện tại đều là sự liên tiến của những gì diễn
ra trước đó và là cơ sở cho những gì diễn ra sau này Cho nên, chế định về hợp
đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại không chỉ mới tồn tại ở nước ta từ
khi có BLDS 2005, mà trước đó trong các đạo luật cổ và BLDS 1995 đã có quy
định và Bộ luật dân sự hiện hành ít nhiều đã khai thác vốn quý đó Vì vậy, có
nghiên cứu lịch sử lập pháp của chế định hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại chúng ta mới thấy được bối cảnh toàn cục của vấn đề, những hạn chế,
tiến bộ,… của nó từ đó có những giải pháp sát hợp để hoàn thiện pháp luật hiện
tại Trong phần này người viết xem xét lịch sử pháp luật Việt Nam liên quan đến
chế định hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại trong giai đoạn từ thời
Lý đến nay và để thuận tiện cho phân tích người viết phân khúc thành bốn giai
đoạn như sau:
11
TS Nguyễn Thị Thu Vân, TS Trần Thị Thu Hà, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp: Hợp đồng repo chứng khoán và
việc sửa đổi chế định hợp đồng chuộc lại tài sản trong Bộ luật dân sự 2005,
http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/kinh-te-dan-su/hop-111ong-repo-chung-khoan-va-viec-sua-111oi-che-111inh-hop-111ong-chuoc-lai-tai-san-trong-bo-luat-dan-su-2005/article_view?b_start:int=0&-C =, [truy cập ngày
10-8-2012]
Trang 271.3.2.1 Thời phong kiến (Thời Lý, Thời Hậu Lê, Thời Nguyễn)
Từ thời Lý trở đi, khi cơ sở chính trị đã vững vàng Nhà Lý, Trần, Lê (Hậu
Lê), Nguyễn nối tiếp nhau trong thời gian dài nên có điều kiện xây dựng nền
pháp chế độc lập và đã có các công trình pháp luật đáng kể.12 Những quy định về
hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại được đề cập chủ yếu ở các bộ
luật thời Lý, Hậu Lê và Thời Nguyễn
Nhà Lý tồn tại từ năm 1010 đến năm 1225, bên cạnh việc củng cố bộ máy
cai trị các vua nhà Lý còn chú trọng đến việc thiết lập các triều nghi, điển chế
pháp luật Vào năm 1042, Lý Thánh Tông cho ban hành Bộ luật Hình thư, đây là
sách luật đầu tiên của một triều đại Việt Nam Cũng như pháp luật của các triều
đại phong kiến sau này, pháp luật thời Lý không có văn bản riêng điều chỉnh về
lĩnh vực dân sự, mà xen kẻ giữa các chế định hình sự, hành chính,… là các chế
định dân sự thuần túy Chế định về chuộc lại đã được Bộ luật Hình thư điều
chỉnh nhằm bảo vệ quyền lợi của người nông dân, nó giúp họ không phải từ bỏ
quyền sở hữu đối với một tư liệu sản xuất quan trọng đó là “ruộng nương” trong
lúc túng tiền bằng quy định: “người nông dân khi túng tiền phải cầm cố ruộng
nương được chuộc lại ruộng đất trong thời hạn 20 năm” Quy định này tỏ ra cần
thiết và phù hợp, đặc biệt là đối với nền kinh tế nông nghiệp nên những quy định
về chuộc lại này tiếp tục phát triển, cụ thể và đầy đủ hơn trong quy định pháp
luật của các triều đại tiếp theo
Thời Lê (1428 – 1788) là thời kỳ tồn tại dài trong lịch sử chế độ phong
kiến Việt Nam và cũng là thời kỳ mà tình hình chính trị, kinh tế, xã hội cũng như
pháp luật đạt được nhiều thành tựu Bên cạnh các chính sách ruộng đất thì nhà Lê
còn thực hiện chính sách “trọng nông, khuyến thương”, nhờ vào chính sách này
nên các giao dịch dân sự có điều kiện phát triển và đỉnh cao là sự ra đời của Bộ
Quốc triều hình luật Bộ Quốc triều Hình luật hay còn được gọi là Bộ luật Hồng
Đức được ban hành vào năm 1483 Đây là bộ luật đánh dấu thời hoàng kim trong
lịch sử phong kiến Việt Nam Bộ luật này đã phản ánh khá trung thực thực tiễn
xã hội Việt Nam thế kỷ XV, nó được giới nghiên cứu trong và ngoài nước đánh
giá cao không chỉ vì nó có quy mô lớn, có nội dung phong phú và phức tạp mà
còn có giá trị tư tưởng mang tính dân tộc, nhân đạo và tiến bộ.13 Và một phần
quan trọng góp phần tạo nên giá trị đó của bộ luật phải kể đến đó là các quy định
12 Phùng Thị Ánh Xuân: Luận văn tốt nghiệp Tập quán cố đất ở đồng bằng sông Cửu Long, năm 2010, trang 7
13
Bộ Tư Pháp – Viện nghiên cứu khoa học pháp lý: “Một số vấn đề về Pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến
thời thuộc Pháp”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, Tr 9
Trang 28về khế ước (mà ngày nay gọi là hợp đồng) Trong Quốc triều Hình luật không sử
dụng khái niệm khế ước mà dùng các khái niệm cụ thể như: mua, bán, cho,
cầm,… và khái quát hơn là văn khế Hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại đã được Quốc triều Hình luật điều chỉnh khá chi tiết với tên gọi là khế
ước cầm ruộng đất, trong đó các quyền, nghĩa vụ của các bên được cụ thể hóa và
thời hạn chuộc lại cũng dài hơn Quốc triều Hình luật quy định: “Một khi ruộng
đất đã được cầm thì chủ ruộng đất không được đem ruộng đất đó bán đứt cho
người khác trong khi chưa đem tiền chuộc trả cho người chủ cầm… Việc bán
ruộng đất phải được lập thành văn tự khác (Điều 383) Với khế ước cầm ruộng
đất này cho phép chủ đất trong lúc gặp khó khăn có thể “cầm” (bán tạm thời)
ruộng đất của mình cho người khác, việc cầm ruộng đất cho người khác đã hạn
chế quyền định đoạt của chủ ruộng đất, theo đó chủ ruộng đất không được bán
ruộng đất cho người khác Quyền này chỉ được khôi phục hoàn toàn khi chủ
ruộng đất đã trả tiền chuộc cho người chủ cầm Nếu chủ ruộng đất xin chuộc lại
mà chủ cầm không cho chuộc hoặc không muốn chuộc mà chủ cầm bắt buộc
phải chuộc lại thì chủ cầm đều bị phạt 80 trượng Việc chuộc lại chỉ được tiến
hành trong một thời hạn nhất định Cụ thể: Đối với ruộng mùa là ngày 15 tháng
3; ruộng chiêm là ngày 15 tháng 9 Đây là thời hạn do Quốc triều Hình luật quy
định (Đ384) Tuy nhiên, họ có thể thỏa thuận một thời hạn chuộc khác, nếu quá
kỳ hạn trên mà chủ ruộng cố đòi ruộng thì cũng bị phạt 80 trượng, đồng thời vẫn
không cho chuộc lại Nếu chuộc trong kỳ hạn và được quan xử cho chuộc mà chủ
cầm cố tình lần khân không cho chuộc, dẫn đến quá kỳ hạn, thì chủ cầm bị phạt
80 trượng, phải cho chuộc và trả lại tiền lãi những ngày để lần khân Việc trả lãi
đối với những ngày chậm cho chuộc là một chế tài luật định đã được sử dụng
cách đây hơn 5 thế kỷ nhằm bảo đảm đồng tiền không bị ngừng lưu thông
Quyền chuộc lại của người cầm được pháp luật bảo vệ trong niên hạn 30 năm
Nếu quá niên hạn này thì không được chuộc lại Niên hạn này có thể coi là thời
hiệu chấm dứt quyền yêu cầu Trong trường hợp người bán trái lý mà còn kêu lên
quan để đòi chuộc thì xử phạt 50 roi, biếm một tư.”14 Từ những quy định trên
cho thấy chế định về chuộc lại trong luật thời Lê đã có sự kế thừa và phát triển
các quy định thời Lý – Trần
Tiếp theo nhà Hậu Lê là nhà Nguyễn tồn tại từ năm 1802 đến năm 1945
nhưng thực chất chỉ tồn tại độc lập đến năm 1858, đây là triều đại phong kiến
14
Bộ Tư Pháp – Viện nghiên cứu khoa học pháp lý: “Một số vấn đề về Pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến
thời thuộc Pháp”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, Tr 59 – 60
Trang 29cuối cùng của Việt Nam Mặc dù nhà Nguyễn đã thực hiện nhiều biện pháp để
củng cố và xây dựng nhà nước phong kiến chuyên chế nhưng do chính sách “bế
quan, tỏa cảng” không phù hợp với thực tiễn khách quan nên những chính sách
đó ngược lại trở thành rào cản, kìm hãm nền kinh tế phát triển theo xu hướng
kinh tế - hàng hóa Thời kỳ đầu dưới triều Gia Long, Minh Mạng còn duy trì một
số quan hệ công thương với nước ngoài thuộc khu vực Đông Nam Á và một số
nước phương Tây nhưng từ thời Tự Đức trở về sau thì hầu như không còn một
quan hệ thông thương nào nữa Và hệ quả của chính sách đó là nền kinh tế kém
phát triển, sự phát triển của giao lưu dân sự bị hạn chế rất nhiều Dưới thời
Nguyễn một bộ luật quan trọng được ban hành theo chỉ dụ của vua Gia Long
mang tên Hoàng Việt Luật lệ (hay còn gọi là Bộ luật Gia Long) chúng ta cũng
tìm thấy sự ảnh hưởng ít nhiều của những chính sách trên Trong Hoàng Việt
Luật lệ các quy định về dân sự chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, nhiều vấn đề dân sự
không được ghi nhận và thiếu những quy định cụ thể, tính chất hướng dẫn trong
các quy phạm rất hạn chế, chủ yếu là những cấm đoán Trong quyển 6, 7, 8
Hoàng Việt Luật lệ gồm 66 điều luật hộ, tuy nhiên trong đó chỉ có 10 điều về
ruộng, nhà, 16 điều về hôn nhân, 3 điều về vay nợ là thuộc sự điều chỉnh của
pháp luật dân sự Mặc dù các quy định về dân sự chiếm rất ít nhưng Hoàng Việt
Luật lệ cũng dành những quy định để điều chỉnh về mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại, điều đó cho thấy sự cần thiết và quan trọng của loại hợp đồng chuộc lại
này đối với đời sống thực tiễn Hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại
trong Hoàng Việt Luật lệ được biết đến với cái tên “điển mại” – một trong hai
hình thức mua bán phổ biến thời bấy giờ được Hoàng Việt Luật lệ điều chỉnh
Nếu như với hình thức mua bán “đoạn mại” có nghĩa là mua đứt bán đoạn, người
mua có quyền sở hữu đồ vật ngay sau khi trả tiền và người bán không có quyền
lợi gì đối với tài sản đã bán thì với hình thức bán “điển mại” điều này gần như
ngược lại, có nghĩa là bán rồi một thời hạn sẽ chuộc lại tài sản đã bán hay nói
cách khác là “bán tạm thời, bán có thời hạn” và quyền sở hữu đối với tài sản
không bị vĩnh viễn mất đi sau lần bán đó như đối với hình thức đoạn mại Hình
thức “điển mại” này ngày nay gọi là bán chuộc lại Cụ thể, Điều 89 của Hoàng
Việt Luật lệ quy định: “Những ruộng đất, vườn rừng, đồ dùng mà người ta bán
có thời hạn đến mãn niên hạn, người chủ nô đem tiền đến chuộc lại Nếu người
làm chủ tạm thời thoái thác nọ kia không cho chuộc thì bị phạt 40 roi Ngoài ra,
huê lợi thu được trong năm ấy dư nhiều phải chu cấp cho chủ, vẫn cho chuộc
theo nguyên giá Còn như hạn năm đã hết mà chủ không có khả năng chuộc lại
Trang 30thì không ở trong luật này” Cũng trong điều luật này còn quy định: “người bán
không được bán hai lần đối với một tài sản” Lần bán thứ hai là phi pháp, vì bán
tài sản không còn thuộc quyền sở hữu của mình trong một thời hạn nhất định
Người mua đầu tiên trở thành chủ ruộng đất Người mua thứ hai được nhận lại
tiền Quy định này rất công bằng Yếu tố biết hoặc không biết của người mua
cũng quyết định mức độ trách nhiệm của người này Trong khế ước điển mại
phải ghi rõ thời hạn chuộc lại Trong thực tế có hai hình thức mua bán điển mại
sau đây:
Thứ nhất, hai bên thỏa thuận về việc người bán có quyền chuộc lại tài sản
sau một thời hạn ghi rõ trong văn khế Trong trường hợp này, người bán nhận lại
ruộng đất và phải trả lại cho người mua số tiền chuộc lại Hoa lợi mà người mua
đã thu được trong thời hạn chuộc lại được trừ vào tiền lời của giá bán
Thứ hai, người bán có thể chuộc lại tài sản đã ghi trong văn khế Nếu
người bán chuộc lại trước thời hạn thì phải hoàn trả tiền và trả cả lãi theo thỏa
thuận, nếu chuộc lại sau hạn chuộc thì chỉ phải hoàn trả tiền bán, vì người mua
đã được sử dụng tài sản thêm một thời gian nữa
Đất ruộng đã điển mại thì đương nhiên được chuộc lại và người bán
không phải trả tiền chuộc lại, vì người mua đã thu được hoa lợi do canh tác đất
ruộng Do đó giá chuộc lại không quan trọng và được coi là tương đương với hoa
lợi mà người mua thu được.15
1.3.2.2 Thời thuộc Pháp
Dưới thời Pháp thuộc nước ta bị chia cắt thành các vùng lãnh thổ có chế
độ chính trị khác nhau: Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Bắc Kỳ và Trung Kỳ là
đất bảo hộ Tương ứng với các chế độ chính trị khác nhau, các bộ luật riêng biệt
cũng được ban hành cho mỗi vùng lãnh thổ Các bộ luật này cả về hình thức lẫn
nội dung khác hẳn với các cổ luật và chịu ảnh hưởng sâu xa của kỹ thuật pháp lý
phương Tây
Tại Nam Kỳ, quyền lập pháp nằm trong tay người Pháp và được thực hiện
bằng Sắc lệnh của Tổng thống Pháp Sắc lệnh ngày 3/10/1883 đã cho ra đời Bộ
Dân luật giản yếu (Precis de legislation civile) Tuy nhiên, Bộ luật này không đề
cập gì đến hợp đồng
Bộ Dân luật Bắc Kỳ do viên Thống sứ Pháp tại đây ban hành vào năm
1931 với nhan đề chính thức là “Bộ Dân luật được thi hành tại các Tòa Nam án
15
Bộ Tư Pháp – Viện nghiên cứu khoa học pháp lý: Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến
thời thuộc Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, Tr 72 – 74
Trang 31Bắc Kỳ” (Bộ luật này còn được gọi là Bộ luật Morché – Thống sứ Bắc Kỳ) Bộ
Dân luật Bắc Kỳ gồm có 1455 điều chia thành một thiên sơ bộ và bốn quyển,
trong đó, quyển thứ nhất tỏ ra đặc sắc hơn cả vì nó thể hiện sự tiếp nhận có chọn
lọc một số nội dung của Bộ Dân luật Pháp trong sự kết hợp với giá trị văn hóa
truyền thống của Việt Nam Tuy nhiên, các quy định về hợp đồng trong Bộ Dân
luật Bắc Kỳ đã mượn hầu hết các điều khoản của Bộ Dân luật Pháp Vì vậy, mà
các quy định về hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại trong Bộ Dân
luật Bắc Kỳ về cơ bản cũng có sự kế thừa tinh thần của Bộ Dân luật Pháp, chẳng
hạn như ở điều 961, điều 963, điều 965, điều 966, điều 967,…
Bộ Dân luật Trung Kỳ được ban hành năm 1936 (còn gọi là Hoàng Việt
Trung Kỳ hộ luật 1936) Bộ luật này bao gồm 5 Quyển, 1709 Điều (nhiều hơn
Bộ Dân luật Bắc Kỳ 254 Điều) của tác giả Collet, cố vấn pháp luật của Chính
phủ bảo hộ Các quy định về hợp đồng được xây dựng giống với luật La Mã và
được quy định khá chi tiết; một số quy định trong bộ luật mang tính hiện đại và
tiến bộ Ngoài ra, một trong các chế định đặc thù là khế ước được quy định chi
tiết và chặt chẽ hơn các Bộ dân luật Nam Kỳ và Bắc Kỳ, về cơ bản, Bộ luật này
giống Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931.16
1.3.2.3 Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công
Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, trong điều kiện chưa xây dựng được
Bộ luật mới, Sắc lệnh ngày 10/10/1945 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban
hành cho phép áp dụng các luật lệ của chế độ cũ cho đến khi ban hành được các
văn bản luật thống nhất trong toàn quốc, với nguyên tắc: “nếu những luật lệ đó
không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng
hòa” Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơ-ne-vơ thắng
lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng Theo hiệp định, đất nước tạm thời chia làm
hai miền và sau hai năm hai miền sẽ thống nhất bằng tổng tuyển cử trong cả
nước do chính quyền hai miền hiệp thương tổ chức Nhưng sau khi hất cẳng
Pháp, đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã vi phạm hiệp định
Giơ-ne-vơ, từ chối hiệp thương tổng tuyển cử để thống nhất đất nước Vì vậy từ năm
1955 đến 1975, ở Việt Nam đã hình thành hai chính quyền: Việt Nam dân chủ
cộng hòa ở miền Bắc và Việt Nam cộng hòa ở miền Nam
Ở miền Bắc, ngày 1/7/1959, Tòa án nhân dân tối cao có chỉ thị số
772-TATC đình chỉ áp dụng những luật lệ của chế độ cũ và từ thời điểm đó chỉ áp
16
PGS, TS Thái Vĩnh Thắng: Văn hóa pháp luật Pháp và những ảnh hưởng tới pháp luật ở Việt Nam,
http://www.vnlawfind.com.vn/default.aspx?tabid=170&ID=5950&CateID=140 , [ngày truy cập 25/10/2008]
Trang 32dụng những luật lệ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Vì vậy, trong thời
gian này chúng ta thiếu hẳn một Bộ luật dân sự
Ở miền Nam, ngày 20/12/1977 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ký sắc
lệnh đồng thời ban hành 5 Bộ luật trong đó có Bộ luật dân sự Sài Gòn Bộ luật
này về cơ bản duy trì hệ thống pháp luật của Pháp tại Nam Kỳ trước đây và hợp
đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại cũng được bộ luật này dành sự quan
tâm điều chỉnh
1.3.2.4 Đất nước thống nhất (từ năm 1975 đến nay)
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng và thống nhất đất nước, các bộ
luật ở miền Nam trong đó có Bộ luật dân sự bị bãi bỏ, pháp luật miền Bắc được
áp dụng thống nhất trong phạm vi cả hai miền Nam Bắc Ngày 28/10/1995 Bộ
luật dân sự của Nhà nước thống nhất được ban hành và có hiệu lực từ ngày
1/7/1996 Bộ luật dân sự năm 1995 này có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với chính
sách đổi mới của Việt Nam và được coi là một trong các tuyên ngôn pháp lý
quan trọng nhất của Nhà nước về việc từ bỏ cơ chế quản lý tập trung kế hoạch
hóa, phát triển kinh tế thị trường, tôn trọng các nguyên lý cơ bản của đời sống
dân sự Trong phần các hợp đồng thông dụng, bộ luật này đã dành những quy
phạm điều chỉnh về hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại, đó là Điều
458 quy định về chuộc lại tài sản đã bán Đây là một trong các loại hợp đồng
mua bán tài sản đặc biệt, có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn
Sau 10 năm áp dụng, Bộ luật dân sự năm 1995 đã có những quy định tỏ ra
bất cập, không phù hợp với những đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu đặt ra là cần
sửa đổi, bổ sung Trên cơ sở kế thừa và phát triển, Bộ luật dân sự 2005 ra đời (có
hiệu lực từ ngày 01/01/2006) đã tạo khung pháp lý vững chắc cho các giao dịch
dân sự phát triển Chế định hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại của
BLDS 1995 cũng được BLDS 2005 kế thừa, tuy nhiên đã có một số sửa đổi nhỏ
ở quy định về nghĩa vụ của bên mua trong thời hạn chuộc lại Cụ thể là tại Khoản
2 – Điều 458 – BLDS 1995 quy định: “Trong thời hạn chuộc lại, bên mua không
được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, thế chấp, cầm cố, bảo lãnh tài sản, phải
chịu rủi ro đối với tài sản”, thì trong BLDS 2005 tại Khoản 2 – Điều 462 đã bỏ
cụm từ “bảo lãnh” và quy định rằng: “Trong thời hạn chuộc lại, bên mua không
được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản, phải chịu rủi ro
đối với tài sản
Trang 331.4 Mối quan hệ giữa hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại với
hợp đồng mua bán tài sản thông thường, hợp đồng repo chứng khoán và
hợp đồng repo bất động sản, hợp đồng cố đất
1.4.1 Mối quan hệ với hợp đồng mua bán tài sản thông thường
Có thể nói mối quan hệ giữa hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại với hợp đồng mua bán tài sản thông thường là mối quan hệ giữa “cái
riêng” và “cái chung”, giữa chúng có những điểm tương đồng và khác biệt
Ngoài những vấn đề thuộc về bản chất, đặc trưng của mình thì hợp đồng mua bán
tài sản với điều kiện chuộc lại về cơ bản giống với hợp đồng mua bán tài sản
thông thường từ việc xác lập, thực hiện, chấm dứt hợp đồng,…cho đến hình thức
hợp đồng,… Cho nên, khi không có một quy phạm chuyên biệt điều chỉnh về
hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại thì những quy phạm về hợp
đồng mua bán tài sản và giao dịch sẽ được áp dụng để điều chỉnh cho loại hợp
đồng này Từ những lý do trên, nên trong mối quan hệ giữa hợp đồng mua bán tài
sản với điều kiện chuộc lại với hợp đồng mua bán tài sản thông thường người
viết chỉ tập trung đi sâu vào những vấn đề thuộc về bản chất, tạo nên tính đặc
trưng, khác biệt của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại so với hợp
đồng mua bán tài sản thông thường
Điều kiện chuộc lại đã tạo cho hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại có sự khác biệt so với hợp đồng mua bán tài sản thông thường ở những
điểm sau đây:
Thời hạn chuộc lại tài sản: trong hợp đồng mua bán tài sản với điều
kiện chuộc lại bên bán và bên mua phải thỏa thuận về thời hạn chuộc lại tài sản
nhưng không quá một năm đối với động sản và năm năm đối với bất động sản, kể
từ thời điểm giao tài sản Trong thời hạn chuộc lại bên bán có quyền chuộc lại
bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên mua trong một thời gian hợp lý
Chính thời hạn chuộc lại này đã tạo cho bên mua chỉ có quyền sở hữu “tạm thời”
đối với tài sản, trong khi đó với hợp đồng mua bán tài sản (thông thường) quyền
sở hữu sẽ chuyển giao thực sự cho bên mua và bên bán không có quyền chuộc lại
cho nên càng không thể có thỏa thuận về thời hạn chuộc lại tài sản
Quyền sở hữu của bên mua: khi hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại được giao kết và phát sinh hiệu lực thì quyền sở hữu tài sản cũng được
chuyển từ bên bán sang bên mua, tuy nhiên, quyền sở hữu này cũng chỉ có tính
chất tạm thời nếu bên bán thực hiện quyền chuộc lại của mình Đồng thời, đối
với hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại thì quyền sở hữu của bên
Trang 34mua đối với tài sản mà mình đã mua cũng không tuyệt đối, vì sự ràng buộc của
điều kiện chuộc lại Theo đó, trong thời hạn chuộc lại bên mua không được thực
hiện các giao dịch như: bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài
sản, phải chịu rủi ro đối với tài sản vì các giao dịch đó có khả năng ảnh hưởng
đến quyền chuộc lại tài sản của bên mua
Giá chuộc lại tài sản: là một điều khoản quan trọng trong hợp đồng mà
các bên cần thỏa thuận, trong trường hợp không có thỏa thuận thì giá chuộc lại
tài sản là giá thị trường tại thời điểm và địa điểm chuộc lại
1.4.2 Mối quan hệ với hợp đồng repo chứng khoán, hợp đồng repo bất
động sản, hợp đồng cố đất
Hợp đồng repo chứng khoán, hợp đồng repo bất động sản và hợp đồng cố
đất là những hình thức biến thiên, phát triển từ hợp đồng mua bán tài sản với
điều kiện chuộc lại Vì vậy, chúng ta không khó để nhận thấy rằng các đặc thù
của những hợp đồng này cũng chính là những đặc điểm thuộc về bản chất của
hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại, đó là: các loại hợp đồng này
đều được bán với “lời hứa sẽ chuộc lại”, đều có sự chuyển giao nhưng vẫn bảo
lưu quyền sở hữu của bên bán và điều khoản quan trọng bắt buộc phải có của các
hợp đồng này là mức giá chuộc lại phải được xác định trước ngay trong hợp
đồng Ngoài ra, trong hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại cũng như
các hợp đồng biến thiên, phát triển của nó, thì thời hạn chuộc lại luôn là một điều
khoản cơ bản và quan trọng khi giao kết hợp đồng Mặc dù vậy, nhưng giữa các
hợp đồng này vẫn có những khác biệt nhất định Đặc biệt là các hợp đồng repo
chứng khoán, repo bất động sản đã biến thiên, phát triển với nhiều ưu điểm vượt
trội hơn so với hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại Cụ thể như sau:
1.4.2.1 Sự khác nhau giữa hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc
lại so với hợp đồng repo chứng khoán
Hợp đồng repo chứng khoán cùng với hợp đồng repo bất động sản với
tính chất là những sản phẩm “phái sinh” (biến thiên, phát triển) của hợp đồng
mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại nên ngoài việc kế thừa những đặc của
hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại thì các hợp đồng này có sự phát
triển khác đi so với hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại để phù hợp
với nhu cầu của xã hội
Quyền của bên bán đối với tài sản đã bán: Nếu như trong hợp đồng
mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại (theo Điều 462 – BLDS 2005) một khi
quyền sở hữu đối với tài sản đã được chuyển cho bên mua trong thời hạn chuộc
Trang 35lại, bên bán không còn được hưởng bất kỳ lợi ích phát sinh nào nữa từ tài sản đã
bán nhưng với hợp đồng repo chứng khoán (repo cổ phiếu, repo trái phiếu,…)
mặc dù đã chuyển quyền sở hữu chứng khoán cho bên mua nhưng người bán vẫn
tiếp tục được hưởng cổ tức và một số quyền lợi khác phát sinh trước đó (như
quyền tham dự đại hội đồng cổ đông, quyền bỏ phiếu,…)
Quyền của bên mua trong thời hạn chuộc lại: đối với hợp đồng mua
bán tài sản với điều kiện chuộc lại, trong thời hạn chuộc lại bên mua không được
thực hiện một số giao dịch có khả năng làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu của bên
mua, nghĩa là bên mua không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, thế chấp,
cầm cố tài sản,… Ngược lại, đối với hợp đồng repo chứng khoán bên mua được
sử dụng chứng khoán để kinh doanh kiếm lời trong thời hạn chuộc lại, nhưng
trong chừng mực không được làm ảnh hưởng đến quyền của bên bán (vì có điều
kiện chuộc lại) Điều này tạo nên tính linh hoạt cho hợp đồng repo chứng khoán,
nó cho phép khai thác được mọi khả năng sinh lời của tài sản, tăng hiệu quả của
đồng vốn kinh doanh để đem lại lợi ích tối ưu nhất có thể cho các bên
Giá chuộc lại tài sản: nếu như giá chuộc lại tài sản trong hợp đồng mua
bán tài sản với điều kiện chuộc lại là giá thị trường tại thời điểm và địa điểm
chuộc lại, nếu không có thỏa thuận khác mà không phụ thuộc vào giá bán ban
đầu thì với hợp đồng repo chứng khoán giá chuộc lại tài sản lại chịu ảnh hưởng
bởi giá bán ban đầu (giá repo) Theo đó trong thực tiễn giao dịch, giá chuộc lại
tài sản trong hợp đồng repo chứng khoán được tính bằng công thức: “Giá chuộc
lại = Giá bán ban đầu * (1 + lãi suất repo/365 * Số ngày thực sự sở hữu chứng
khoán)” 17
Ví dụ: Nhà đầu tư A ký hợp đồng repo để bán 10.000 cổ phiếu của mình
cho Công ty chứng khoán B với giá 20.000 đồng/cổ phiếu, lãi suất repo là
2%/tháng và thời hạn repo là 6 tháng, vậy tổng số tiền repo cổ phiếu (giá bán ban
đầu) A có được là 200 triệu đồng Đúng như thỏa thuận, 6 tháng sau A đem tiền
đến chuộc lại cổ phiếu Theo như công thức tính giá chuộc lại tài sản trong hợp
đồng repo chứng khoán (repo cổ phiếu) thì A phải trả cho Công ty chứng khoán
B số tiền là: 200 triệu * (1 + 2%/365 * 6 tháng) = 200 + 2/1095 = 200,001826
triệu đồng Vậy với giá chuộc lại trong hợp đồng repo này bên mua không phải
17
TS Nguyễn Thị Thu Vân, TS Trần Thị Thu Hà, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp: Hợp đồng repo chứng khoán và
việc sửa đổi chế định hợp đồng chuộc lại tài sản trong Bộ luật dân sự 2005,
http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/kinh-te-dan-su/hop-111ong-repo-chung-khoan-va-viec-sua-111oi-che-111inh-hop-111ong-chuoc-lai-tai-san-trong-bo-luat-dan-su-2005/article_view?b_start:int=0&-C =, [truy cập ngày
10-8-2012]
Trang 36chịu thiệt hại khi giá thị trường xuống thấp như ở công thức giá thị trường của
hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại Vì vậy, với việc linh hoạt
trong quy đinh giá bán và mức lãi suất repo thì bên mua đã tạo được ưu thế cạnh
tranh Chính đặc tính này đã tạo nên tính linh hoạt và cạnh tranh của hợp đồng
repo so với các hình thức cho vay khác, đồng thời điều này lý giải tại sao hợp
đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại khi tồn tại dưới hình thức hợp đồng
repo chứng khoán lại phát triển sôi động và hấp dẫn được nhiều nhà đầu tư
1.4.2.2 Sự khác nhau giữa hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc
lại so với hợp đồng repo bất động sản
Giá chuộc lại tài sản: cũng giống như hợp đồng repo chứng khoán giá
chuộc lại tài sản trong hợp đồng repo bất động sản có sự khác biệt so với hợp
đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại vì giá chuộc lại trong hợp đồng này
chịu sự ảnh hưởng rất nhiều bởi giá bán ban đầu Cụ thể, giá chuộc lại tài sản là
giá bán cộng với khoản phí 1% giá trị tài sản và một mức lãi suất nhất định quy
ra ngày Ngoài ra, trong pháp luật các nước còn quy định thêm rằng: giá chuộc
lại tài sản còn phải tính đến các chi phí liên quan đến việc mua bán, chi phí sửa
chữa và nâng cấp tài sản18, đây là điều mà chế định hợp đồng mua bán tài sản với
điều kiện chuộc lại trong luật dân sự Việt Nam chưa đề cập đến
1.5 Bản chất pháp lý và ý nghĩa thực tiễn của hợp đồng mua bán tài sản với
điều kiện chuộc lại
1.5.1 Bản chất pháp lý của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại
Hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại (hay hợp đồng chuộc lại
tài sản) là một hợp đồng mua bán tài sản đặc biệt, được pháp luật nhiều nước
dành sự quan tâm điều chỉnh Sự phổ biến này cho thấy tầm quan trọng và giá trị
của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại đối với thực tiễn Vì vậy,
việc hoàn thiện khung pháp lý cho loại hợp đồng này là cần thiết nhưng để làm
được điều đó trước hết phải hiểu đúng bản chất pháp lý của nó.19
18
Ví dụ Điều 1673 – Bộ luật Dân sự Pháp: “Trong trường hợp thực hiện quyền chuộc lại vật, bên bán phải hoàn lại
tiền bán và trả cho bên mua các chi phí liên quan đến việc bán, chi phí sửa chữa cần thiết và chi phí sửa chữa làm
tăng thêm giá trị bất động sản.”
19
TS Nguyễn Thị Thu Vân, TS Trần Thị Thu Hà, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp: Hợp đồng repo chứng khoán và
việc sửa đổi chế định hợp đồng chuộc lại tài sản trong Bộ luật dân sự 2005,
http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/kinh-te-dan-su/hop-111ong-repo-chung-khoan-va-viec-sua-111oi-che-111inh-hop-111ong-chuoc-lai-tai-san-trong-bo-luat-dan-su-2005/article_view?b_start:int=0&-C =, [truy cập ngày
10-8-2012]
Trang 37Trong pháp luật Pháp, hợp đồng chuộc lại tài sản được coi như một loại
hợp đồng mua bán có điều kiện và điều kiện đó là người bán được bảo lưu quyền
lấy lại tài sản của mình trong một thời hạn nhất định sau khi trả cho người mua
giá tài sản và các chi phí phát sinh Điều đó cũng có nghĩa là, hợp đồng mua bán
giữa người bán và người mua, khi có điều khoản chuộc lại, là một hợp đồng mà
bất cứ lúc nào – trong thời hạn hợp đồng – người bán cũng điều có quyền hủy bỏ
bằng việc chuộc lại tài sản của mình Vì vậy, trong hợp đồng này, quyền sở hữu
của người mua chỉ có tính chất tạm thời, bởi tư cách sở hữu ấy luôn bị đặt trong
tình trạng có thể bị mất bất cứ lúc nào (trong phạm vi thời hạn chuộc) theo ý chí
của người bán Thậm chí, tư cách sở hữu ấy còn bị coi như chưa bao giờ được
công nhận, nếu sự kiện chuộc lại xảy ra Pháp luật của nhiều nước đã quy định
rất minh thị về hệ quả này Ví dụ như: Điều 492 Bộ luật Dân sự và thương mại
Thái Lan quy định: “Nếu tài sản được chuộc lại trong thời hạn ấn định…, thì
quyền sở hữu tài sản coi như chưa bao giờ được trao cho người mua” hay ở Bộ
luật Dân sự Sài Gòn 1972 của Việt Nam trước đây cũng quy định: “Trong trường
hợp người bán chuộc lại thì việc điển mại bị tiêu trừ, và sự chuyển dịch quyền sở
hữu coi như không bao giờ có” (Điều 1071)
Mục tiêu ban đầu dẫn đến sự ra đời hợp đồng chuộc lại tài sản trong pháp
luật Pháp cũng như pháp luật của nhiều nước khác không phải nhằm tạo nên một
công cụ tiếp cận vốn trên thị trường tài chính như hiện nay mà nó được coi như
một biện pháp nhằm giúp những người thiếu vốn trong ngắn hạn có tiền để sử
dụng khi cánh cửa tiếp cận vốn của họ ở ngân hàng đã bị đóng chặt Nói cách
khác, nó được coi như một trong những biện pháp cuối cùng để “cứu” chủ sở hữu
tài sản phục hồi lại sản xuất kinh doanh, thoát khỏi tình trạng phá sản Vì vậy,
pháp luật các nước cũng như Việt Nam đã nhìn nhận việc bảo lưu quyền lấy lại
tài sản như một “quyền được chuộc” chứ không phải như một “nghĩa vụ phải
chuộc” của người bán.20 Cũng chính từ cách tiếp cận này mà trong pháp luật các
nước, điều kiện để hủy bỏ nghĩa vụ hợp đồng giữa hai bên trong hợp đồng chuộc
lại không nằm trong tay người mua mà nằm trong tay người bán Điều đó có
nghĩa là, chỉ trong trường hợp ý chí của người bán không muốn chuộc lại (bao
20
Chẳng hạn như trong Bộ luật Dân sự Pháp, hợp đồng này mang tiêu đề “Quyền chuộc lại vật – De la faculté de
rachat”, được quy định tại Thiên VI – Chương VI – Mục I với 15 điều từ điều 1659 đến 1673 Trong Bộ luật Dân sự
và thương mại Thái Lan, hợp đồng này cũng có tên gọi “Mua bán với quyền chuộc lại” và được quy định từ điều 491
đến 502 hoặc trong BLDS Việt Nam 2005 tại điều 462 quy định: “Bên bán có thể thỏa thuận với bên mua về quyền
chuộc lại tài sản đã bán…”
Trang 38hàm cả nghĩa muốn nhưng không thể chuộc lại), thì tài sản ấy mới trở thành sở
hữu đích thực của người mua.21
Quan điểm nghiêng về việc bảo vệ người bán của nhà làm luật trong chế
định chuộc lại tài sản rất rõ ràng và nhất quán, thể hiện ở một số quy định sau
đây:
Mặc dù trong hợp đồng chuộc lại có sự chuyển giao quyền sở hữu cho
người mua nhưng khi sự kiện chuộc lại xảy ra, thì người bán vẫn được coi như
chưa bao giờ bị ngắt quãng quyền sở hữu đối với tài sản của họ Ngược lại, nếu
sự kiện chuộc lại xảy ra, thì người mua bị coi như chưa bao giờ là chủ sở hữu tài
sản.22
Ngay cả trong trường hợp nếu người mua tài sản, với tư cách chủ sở
hữu tạm thời, bán tài sản đó cho một người khác, thì người bán đầu tiên vẫn có
quyền chuộc lại vật từ người mua thứ hai, “ngay cả khi quyền chuộc lại đó không
được ghi trong hợp đồng thứ hai.”
Quyền chuộc lại tài sản không chỉ được dành cho chính bản thân người
bán mà còn được dành cho cả người thừa kế và chủ nợ của người bán.23
Bên cạnh việc nghiêng hơn về việc bảo vệ quyền lợi của người bán, nhà
làm luật cũng có một số quy định bảo vệ quyền lợi của người mua, như: với tư
cách là chủ sở hữu tài sản trong thời hạn hợp đồng, người mua có đủ tất cả các
quyền đối với tài sản đó như quyền bán, cho thuê, thế chấp tài sản24, quyền
hưởng hoa lợi phát sinh từ tài sản Một số giao dịch của người mua với người thứ
ba trong thời hạn hợp đồng vẫn được bảo vệ, ví dụ, quyền cho thuê tài sản25,
nhưng với điều kiện việc cho thuê đó không làm tổn hại đến lợi ích của người
bán
Hợp đồng chuộc lại tài sản còn đặc trưng bởi bản chất “bán với lời hứa sẽ
chuộc lại”, có sự chuyển giao nhưng vẫn bảo lưu quyền sở hữu của người bán và
điều khoản quan trọng bắt buộc phải có của hợp đồng này là mức giá chuộc lại
phải xác định trước ngay trong hợp đồng Ngoài ra, trong hợp đồng chuộc lại tài
21 Điều 1662 – Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Nếu hết thời hạn quy định mà bên bán không chuộc lại vật, thì bên
mua chính thức trở thành chủ sở hữu tài sản.”
22 Điều 966 Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ: “Khi chuộc lại trong thời hạn đã định, thì việc bán trước bị tiêu, việc chuyển di
quyền sở hữu thuộc về việc bán ấy cũng bị tiêu Người bán coi như thủy chung vẫn là sở hữu chủ, và người mua thì
coi như không từng có quyền sở hữu bao giờ” Điều 1071 BLDS Sài Gòn: “Trong trường hợp người bán chuộc lại thì
điển mại bị tiêu trừ, và sự chuyển dịch tư hữu coi như không bao giờ có”
23
Điều 961 – Bộ luật Dân sự Bắc kỳ
24 Điều 1665 – BLDS Pháp, Điều 965 – BLDS Bắc Kỳ, Điều 1070 – BLDS Sài Gòn
25
Điều 966 – BLDS Bắc Kỳ: “…những khế ước cho thuê do người mua đã ký nhận, không có sự gian lậu gì, thì vẫn
cứ phải thi hành.”
Trang 39sản, thời hạn chuộc lại luôn là một điều khoản cơ bản và quan trọng khi hai bên
giao kết với nhau Thậm chí, nếu thiếu điều khoản về thời hạn, hợp đồng này sẽ
không còn tính chất của một hợp đồng chuộc lại tài sản nữa
Tóm lại, từ những vấn đề trên cho chúng ta một cái nhìn toàn diện và đầy
đủ về bản chất của hợp đồng chuộc lại tài sản trong pháp luật các nước Cho nên,
pháp luật Việt Nam cũng phải xuất phát từ những bản chất này khi xây dựng các
chế định hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại, nhất là hiện nay, khi
loại hợp đồng này đã có sự biến thiên và phát triển dưới các hình thức, tên gọi
khác với nhiều ưu điểm vượt trội hơn, điều này đã đặt ra yêu cầu là cần có sự
nhìn nhận và đánh giá lại những quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến
chế định này
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại
Trong thực tiễn của các nước, bán với điều kiện chuộc lại được sử dụng
đối với những khách hàng sắp lâm vào tình trạng phá sản hoặc khi họ gặp khó
khăn đối với việc tiếp cận các khoản cho vay của ngân hàng
Chế định bán với điều kiện chuộc lại hiện nay, một mặt, được nhìn nhận
như một phương thức thông dụng để tái cấu trúc lại những khoản nợ của những
công ty lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, nó cho phép chủ thể lâm vào
tình trạng khó khăn về tài chính tránh được việc thanh lý hợp đồng vay đã ký với
ngân hàng bằng cách bán tạm thời bất động sản của mình Chủ sở hữu bán tài sản
để lấy tiền phục hồi sản xuất kinh doanh nhưng bảo lưu khả năng lấy lại tài sản
nếu sau đó, vấn đề tài chính của họ được cải thiện Thông thường, số tiền chủ sở
hữu tài sản có được khi bán với phương thức chuộc lại lớn hơn nhiều so với việc
họ cầm cố hoặc thế chấp chính tài sản đó tại ngân hàng Đây chính là điểm ưu
việt của loại hợp đồng này, nó giải đáp cho lý do tại sao hình thức này ngày càng
trở nên phổ biến và thông dụng hơn trong điều kiện của nền kinh tế thị trường
hiện nay
Mặc khác, trên thị trường tài chính, chế định này đã biến thiên và phát
triển hơn nhiều so với mục tiêu ban đầu của nó, để trở thành một công cụ vay
hữu hiệu cho phép chủ sở hữu tài sản có được một khoản tiền trong ngắn hạn với
lãi suất hấp dẫn mà vẫn không phải từ bỏ vĩnh viễn quyền sở hữu của mình đối
với tài sản Tiêu biểu phải kể đến là hợp đồng repo cổ phiếu (một loại hợp đồng
biến thiên, phát triển từ hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại) cho
Trang 40chúng ta thấy rằng, hợp đồng này đã đáp ứng được sự kỳ vọng của nhiều bên
trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận, cho phép cả “ba bên” đều có lợi
Về phía nhà đầu tư, repo cổ phiếu cho phép họ không phải bán cổ
phiếu với giá thấp khi cần tiền, vẫn có quyền sở hữu đối với số cổ phiếu đã repo,
tăng hiệu quả kinh doanh nhờ vào việc có thêm một số tiền do repo cổ phiếu
Trong thời gian chuyển nhượng, nhà đầu tư vẫn được hưởng cổ tức và quyền lợi
phát sinh khác từ cổ phiếu (như quyền dự họp đại hội đồng cổ đông, quyền biểu
quyết,… ) So với việc vay cầm cố, với nghiệp vụ repo, nhà đầu tư sẽ có được
khoản tiền lớn hơn với lãi suất hấp dẫn hơn Đó là chưa kể đến việc nếu được
repo với giá cao, nhà đầu tư sẽ tận dụng được tối đa nguồn vốn đầu tư đã bỏ ra và
họ còn được các Công ty chứng khoán cung cấp thông tin đầy đủ, chi tiết liên
quan đến cổ phiếu mà họ đã repo
Về phía các Công ty chứng khoán, nghiệp vụ repo cho phép Công ty
chứng khoán có quyền kinh doanh chứng khoán đã mua trong suốt thời hạn của
hợp đồng, điều này sẽ làm tăng lợi nhuận cho chính công ty Đó là chưa kể đến
việc, với nghiệp vụ repo, một cách gián tiếp, Công ty chứng khoán đã trở thành
một chủ thể cho vay hợp pháp, điều mà trước đây chỉ có ngân hàng và các quỹ
tín dụng có được
Về phía thị trường tiền tệ nói chung, nghiệp vụ repo làm tăng tính
thanh khoản cho thị trường và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư tiếp cận vốn
vay từ các Công ty chứng khoán nhờ việc cạnh tranh giữa các công ty này trong
nghiệp vụ repo.26
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các loại hợp đồng repo này cũng có một số hạn
chế đối với cả “ba bên” khiến cơ quan quản lý Nhà nước lo ngại và đã sử dụng
đến biện pháp hành chính để can thiệp, bằng việc lần lược ra các công văn yêu
cầu các Công ty chứng khoán ngừng ký mới các hợp đồng repo
Vì vậy, bên cạnh những lợi ích mà các hợp đồng repo đóng góp cho thực
tiễn thì nó còn tồn tại một số hạn chế nhất định Cho nên, nếu có được những giải
pháp thích hợp để hạn chế đến mức thấp nhất mặt tiêu cực và phát huy tối đa
được mặt tích cực của loại hợp đồng này thì nó sẽ thực sự trở thành một công cụ
26
TS Nguyễn Thị Thu Vân, TS Trần Thị Thu Hà, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp: Hợp đồng repo chứng khoán và
việc sửa đổi chế định hợp đồng chuộc lại tài sản trong Bộ luật dân sự 2005,
http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/kinh-te-dan-su/hop-111ong-repo-chung-khoan-va-viec-sua-111oi-che-111inh-hop-111ong-chuoc-lai-tai-san-trong-bo-luat-dan-su-2005/article_view?b_start:int=0&-C =, [truy cập ngày
10-8-2012]