Trên cơ sở đó, Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.Vậy, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của quá t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
ThS MẠC GIÁNG CHÂU NGUYỄN ANH THỰC
MSSV: 5075306 Lớp: Luật Tư pháp 3 – K33
Cần Thơ, tháng 11/2010
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 4
1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.1 Khái niệm xét xử vụ án hình sự 4
1.1.2 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 5
1.1.3 Khái niệm xét hỏi tại phiên tòa 7
1.2 Tầm quan trọng của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 10
1.2.1 Vị trí pháp lý của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự .10
1.2.2 Hậu quả pháp lý của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự .12
1.3 Một số mô hình tố tụng hình sự tiêu biểu và hướng áp dụng ở Việt Nam 16
1.3.1 Các mô hình tố tụng hình sự 16
1.3.1.1 Mô hình tố tụng tranh tụng 16
1.3.1.2 Mô hình tố tụng xét hỏi 19
1.3.2 Mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam và hướng áp dụng các ưu việt của các mô hình tố tụng khác để hoàn thiện 21
1.3.2.1 Mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam 21
1.3.2.2 Hướng áp dụng những ưu việt của các mô hình tố tụng khác vào mô hình tố tụng của nước ta 23
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 25
2.1 Đọc bản cáo trạng 25
2.1.1 Những nội dung của bản cáo trạng và thẩm quyền đọc bản cáo trạng 25 2.1.2 Những hậu quả pháp lý liên quan đến bản cáo trạng sau khi Kiểm sát viên đọc xong bản cáo trạng và trình bày hết những ý kiến bổ sung 27
Trang 32.2 Trình tự xét hỏi tại phiên tòa 29
2.2.1 Những người tiến hành tố tụng xét hỏi 29
2.2.1.1 Xét hỏi bị cáo 29
2.2.1.2 Hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ 35
2.2.1.3 Xét hỏi người làm chứng 39
2.2.1.4 Xét hỏi người giám định 43
2.2.2 Quyền yêu cầu xét hỏi của những người tham gia tố tụng 46
2.2.2.1 Quyền yêu cầu xét hỏi của bị cáo 46
2.2.2.2 Quyền yêu cầu xét hỏi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ 47
2.3 Những thủ tục tố tụng khác trong hoạt động xét hỏi 49
2.3.1 Công bố lời khai tại Cơ quan điều tra, việc trình bày, công bố các tài liệu của vụ án và nhận xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức 49
2.3.1.1 Công bố lời khai tại Cơ quan điều tra 49
2.3.1.2 Việc trình bày, công bố các tài liệu của vụ án và nhận xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức 51
2.3.2 Xem xét vật chứng và xem xét tại chỗ 52
2.3.2.1 Xem xét vật chứng 52
2.3.2.2 Xem xét tại chỗ 53
2.4 Kết thúc xét hỏi 54
2.4.1 Các thủ tục và quyền tuyên bố kết thúc xét hỏi 54
2.4.2 Trở lại việc xét hỏi 55
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 56
3.1 Những vấn đề pháp lý 56
3.1.1 Bản cáo trạng và việc trình bày ý kiến bổ sung bản cáo trạng của Kiểm sát viên 56
3.1.2 Trình tự xét hỏi 60
Trang 43.1.3 Vấn đề đặt câu hỏi của những người tiến hành tố tụng đối với những
người tham gia tố tụng 63
3.1.4 Quyền được hỏi của bị cáo 65
3.2 Những vấn đề thực tiễn 66
3.2.1 Quyền được hỏi của bị cáo 67
3.2.2 Không cho người được hỏi trình bày ý kiến về vụ án trước khi hỏi 69
3.2.3 Vấn đề cách ly bị cáo, người làm chứng 70
3.2.4 Việc tham gia xét hỏi của người bào chữa bị hạn chế 71
3.2.5 Việc xét hỏi chưa bao hàm hết nội dung cần hỏi trong vụ án và không làm hết những thủ tục xét hỏi tại phiên tòa 73
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, giai đoạn xét xử là giai đoạn quan trọng nhất để tìm ra sự thật khách quan của vụ án một cách công khai tại Tòa án Nhằm góp phần tìm ra sự thật đó, hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là hoạt động trung tâm mang tính chất quyết định cho toàn bộ vụ án được giải quyết chính xác nhất Một phiên tòa
mà hoạt động xét hỏi được thực hiện hoàn hảo sẽ đảm bảo cho công tác xử lý vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không xử oan người vô tội, không ngừng phát huy quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Song song đó, cùng với tình hình phát triển chung của đất nước, pháp luật nói chung cần có sự đổi mới để điều chỉnh sao cho phù hợp với xu hướng của sự phát triển
xã hội Pháp luật tố tụng hình sự nói riêng cũng cần có những chuyển biến thích hợp để phục vụ cho công cuộc bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ, đảm bảo tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Hòa nhập vào xu thế đó, ngày 02 tháng 6 năm 2005 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đề ra những nhiệm vụ và phương hướng mới trong công tác cải cách tư pháp, trong đó có đề cập đến thủ tục tại phiên tòa
Trước đó, Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02 tháng 01 năm 2002, của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, có đoạn nói:
“Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định ” Mục tiêu cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW nêu trên đề ra là “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” Bên cạnh đó cũng đề cập “đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” Chính vì vậy, hoạt động xét hỏi tại phiên tòa cũng phải có những thay đổi nhất định nhằm phù hợp với công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần
đã đề ra
Trang 6Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa và nhiệm vụ mà Đảng đề ra trong quá trình cải cách tư pháp như đã nêu trên, người viết đã chọn nghiên
cứu đề tài: “Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự – lý luận và thực
tiễn”, nhằm phục vụ cho công tác xét xử vụ án hình sự có hiệu quả và thực hiện nhiệm
vụ đã đề ra
2 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, người viết đi sâu vào phân tích các hoạt động chủ yếu trong quá trình xét hỏi của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa Làm rõ việc đọc bản cáo trạng, giải quyết các vấn đề về việc bổ sung ý kiến sau khi đọc bản cáo trạng Trình tự xét hỏi của những người tiến hành tố tụng, việc tham gia vào xét hỏi của những người tham gia tố tụng Hoạt động xét hỏi cụ thể của những người tiến hành tố tụng đối với từng chủ thể tham gia tố tụng Đồng thời làm rõ những vấn đề nhằm phục vụ cho việc xét hỏi được thực hiện có hiệu quả Việc cách ly các bị cáo, người làm chứng với nhau trong vụ án Hoạt động xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ, việc trình bày công bố các tài liệu của vụ án và nhận xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức nhằm tạo căn cứ vững chắc cho chứng cứ đảm bảo cho chứng
cứ đó là cơ sở để ra quyết định, bản án đúng đắn
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự – lý luận và thực tiễn” góp phần nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự của Tòa án Đảm bảo việc xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm hay làm oan người vô tội Qua đó, góp phần tạo điều kiện cho cơ quan tư pháp, người tiến hành
tố tụng thực hiện đúng pháp luật, tránh xảy ra tình trạng oan sai, đồng thời giúp cho hoạt động tư pháp hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra Trên cơ sở đó, tìm ra phương hướng hoàn thiện những bất cập về mặt pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật, đảm bảo cho hoạt động xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện thống nhất và mang lại hiệu quả cao Bên cạnh đó, còn nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân có liên quan vào vụ án hình sự
Qua quá trình nghiên cứu đề tài này, người viết đi sâu vào phân tích luật thực định, những thiếu sót, hạn chế về mặt pháp lý cũng như những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật tố tụng vào hoạt động xét hỏi tại phiên tòa hình sự trên thực tế Trên cơ sở đó, người viết nêu ra hướng áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật hiện hành cũng như đề ra các phương hướng hoàn thiện những điểm mà luật hiện hành còn bất nhất, việc áp dụng chưa đồng bộ pháp luật trên thực tế nhằm đảm bảo cho hoạt
Trang 7động xét hỏi tại phiên tòa đạt hiệu quả cao nhất góp phần vào việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án.
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, người viết sử dụng các phương pháp: phân tích luật viết, phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách, báo cùng với phương pháp phân tích, tổng hợp Đồng thời vận dụng những tư tưởng chỉ đạo của Đảng trên tinh thần các Nghị quyết qua các kỳ đại hội, cụ thể là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị để làm phương hướng đề xuất những kiến nghị phù hợp với tình hình xã hội và yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta
5 Cấu trúc của đề tài
Để thuận tiện cho việc theo dõi, nghiên cứu cũng như tránh bỏ sót những vấn đề quan trọng cần đề cập, người viết phân chia luận văn làm ba chương, bao gồm:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ
án hình sự
Chương 2 Những quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 3 Một số bất cập và hướng hoàn thiện
Qua đây người viết xin gởi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể quý thầy cô Khoa Luật, trường Đại học Cần Thơ đặc biệt là cô Mạc Giáng Châu – người đã tận tình hướng dẫn cho người viết hoàn thành đề tài nghiên cứu này Mặc dù đã có nhiều cố gắng, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được của đề tài vẫn còn những thiếu sót nhất định do người viết còn hạn chế về trình độ, khả năng và điều kiện nghiên cứu chưa thuận lợi Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng bạn đọc!
Trang 8CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT HỎI
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Để nghiên cứu thành công một vấn đề cụ thể trong khoa học pháp lý, đặc biệt là trong khoa học luật tố tụng hình sự thì việc nghiên cứu vấn đề lý luận là một nền tảng vững chắc, làm cơ sở để nhận định luật thực định, có phương hướng đề ra cách thức giải quyết những vấn đề cần hoàn thiện về mặt pháp lý cũng như về thực tiễn một cách phù hợp nhất
1.1 Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy, phản ánh những thuộc tính chung,
bản chất của sự vật, hiện tượng, quá trình hiện thực Là kết quả của sự tổng hợp, khái quát biện chứng các tài liệu, kinh nghiệm thực tiễn Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu kỹ càng các khái niệm sẽ góp phần ngày càng hoàn thiện thực tế khách quan Đây chính là những tiền đề tạo ra các quy phạm pháp luật nói chung và quy phạm pháp luật tố tụng hình sự nói riêng mang tính phù hợp, bao quát và mang tính định hướng cho tương lai
1.1.1 Khái niệm xét xử vụ án hình sự
Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, từ khởi tố vụ án, điều tra và quyết định việc truy tố, đến xét xử, thi hành án, có thể nói hoạt động xét xử là đặc biệt quan trọng, là trung tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự Đây là quá trình chứng minh tội phạm một cách công khai trước Tòa án trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu được điều tra trước
đó cùng với những tài liệu chứng cứ được đưa ra trong quá trình xét xử Các giai đoạn trước từ khởi tố, điều tra và truy tố chỉ là các giai đoạn xác định và tìm kiếm thông tin, chứng minh sự việc phạm tội hoặc không phạm tội đã xảy nhằm phục vụ cho quá trình xét xử
Hoạt động xét xử vụ án hình sự chỉ do Tòa án thực hiện Điều 127 Hiến pháp năm
1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Tòa án Nhân dân Tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Hoạt động xét xử được tiến hành trên những nguyên tắc: công khai; bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; xét xử tập thể; bảo đảm cho bị can, bị cáo quyền bào chữa và các nguyên tắc khác Hoạt động xét
xử được tiến hành theo một trật tự do pháp luật quy định Hoạt động xét xử ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm có những nhiệm vụ cụ thể của mình
Xét xử là hoạt động của Tòa án nhân dân được tổ chức và tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định và theo một trật tự do luật định nhằm xem xét và giải quyết
Trang 9các vụ án hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình và những vụ việc khác do pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Hoạt động xét xử nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự
và nhân phẩm của công dân; bảo vệ pháp luật và trật tự xã hội; giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác
Theo Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (sau đây gọi là BLTTHS) thì:
“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật” Để xác định một người là có tội hay không có tội và chịu hình phạt như thế nào thì bắt buộc họ phải được đưa ra xét xử trước Tòa án Tại phiên xét xử,
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các bên tham gia tố tụng có điều kiện công khai đưa ra quan điểm, lập luận để bảo vệ pháp luật hoặc bảo vệ chính mình
Do đó, giai đoạn xét xử vụ án hình sự là giai đoạn tập trung cao nhất của quyền bào chữa đảm bảo thực hiện bằng phương thức tranh tụng Trong đó, vụ án hình sự là sự việc, hành vi được xác định mang dấu hiệu tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự và được cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của BLTTHS thụ lý để giải quyết
Như vậy, xét xử vụ án hình sự là hoạt động của Tòa án nhân dân, được tổ chức
và tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc và trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và làm oan người vô tội, góp phần phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm Hoạt động xét xử
vụ án hình sự cũng là hoạt động bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự xã hội, giáo dục công dân ý thức, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
1.1.2 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo pháp luật tố tụng của nước ta nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng, quá trình xét xử vụ án được chia làm hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm Trong giai đoạn
sơ thẩm, Tòa án xem xét giải quyết toàn diện vụ án nhằm xác định hành vi phạm tội, chủ thể thực hiện tội phạm cũng như các tình tiết liên quan đến vụ án để đưa ra kết luận
bị cáo có tội hay không có tội Nếu có tội thì tội gì, quy định tại Điều, khoản nào của
Bộ luật hình sự, vì vậy, có thể nói đây là giai đoạn tố tụng tập trung cao nhất các quyền
tư pháp Song song đó, Tòa án xác định các biện pháp tư pháp đối với bị cáo cũng như các trách nhiệm về dân sự do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra Ngoài ra, Tòa án còn
có nhiệm vụ kiến nghị với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội sửa chữa những thiếu
Trang 10sót trong công tác quản lý các vấn đề của đời sống xã hội; nếu có căn cứ, Tòa án còn phải có nhiệm vụ khởi tố vụ án đối với hành vi phạm tội mới mà Tòa án phát hiện.
Ở nước ta có các Tòa án: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Tòa án nhân dân tỉnh); Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Tòa án nhân dân huyện); Tòa
những vụ án mà các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực của Tòa án nhân dân cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục tố tụng Giám đốc thẩm những
vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tố tụng2 Tòa án nhân dân tỉnh có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm vụ án, phúc thẩm những
vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới trực tiếp chưa có hiệu lực, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án mà các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới3 Tòa án nhân dân huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án theo thủ tục
tố tụng chung4
Việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được thực hiện ở Tòa án cấp huyện và cả Tòa
án cấp tỉnh Tùy vào từng vụ án cụ thể mà thuộc về thẩm quyền xét xử của từng cấp xét
xử cũng như của từng tòa theo quy định tại Điều 171, Điều 172 và Điều 173 BLTTHS hiện hành
So với xét xử sơ thẩm thì xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét
xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ
án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án, quyết định của phiên tòa sơ thẩm chưa có hiệu lực ngay mà phải sau một thời hạn luật định bản án, quyết định đó mới có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành Bản án, quyết định của cấp sơ thẩm sẽ bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy nếu như sai thủ tụng tố tụng, không xét xử đúng người đúng tội… tuy nhiên sẽ có hiệu lực pháp luật khi không có kháng cáo, kháng nghị hoặc căn cứ kháng cáo, kháng nghị bị tòa phúc thẩm bác bỏ và ra quyết định giữ y án sơ thẩm Bởi vì, sơ thẩm là cấp xét xử đầu tiên, do đó ít nhiều sẽ có những sai sót, hạn chế trong quá trình điều tra, xét xử Việc pháp luật cho phép kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm bảo đảm cho quyền lợi của người tham gia tố tụng được đảm bảo một cách toàn diện, khách quan nhất
1 Xem: Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
2 Xem: Điều 20 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
3 Xem: Điều 28 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
4 Xem: Khoản 2 Điều 32 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
Trang 11Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng Dựa trên kết luận điều tra từ phía Cơ quan điều tra đã chứng minh được rằng có tội phạm xảy ra, Viện kiểm sát tiến hành ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng Đây là văn bản tóm tắt toàn bộ diễn biến của vụ án, xác định tội phạm, tội danh, khung hình phạt và các tình tiết khác có liên quan đến vụ án Việc ra quyết định truy tố bị can của Viện kiểm sát là quá trình chuyển tiếp từ giai đoạn điều tra sang giai đoạn xét xử Trên cơ sở đó, Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.
Vậy, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình
sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền sau khi xem xét hồ sơ vụ án lần đầu tiên đưa vụ án
ra xét xử nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội và người thực hiện phạm tội, từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà Viện kiểm sát
đã truy tố 5
1.1.3 Khái niệm xét hỏi tại phiên tòa
Hệ thống tư pháp nước ta được tổ chức và hoạt động theo truyền thống luật lục địa Mô hình tố tụng của nước ta được thực hiện theo hệ thống pha trộn thiên về xét hỏi, tức yếu tố xét hỏi trong tố tụng thể hiện rõ nét hơn Vì vậy, quá trình tố tụng được thực hiện bằng văn bản và bằng lời nói, bao gồm cả giai đoạn điều tra và xét xử tại phiên tòa Tòa án thực hiện việc chứng minh vụ án trên cơ sở sử dụng kết quả điều tra, xét hỏi đóng vai trò quyết định trong xác định sự thật khách quan tại phiên tòa Vì vậy, thủ tục tố tụng tại phiên tòa đơn giản hơn, ít khắt khe hơn về mặt hình thức: việc xét xử không nhất thiết phải có mặt tất cả những người tham gia tố tụng, chứng cứ thu thập chỉ cần thẩm tra lại tại phiên tòa, gánh nặng xét hỏi do Tòa án đảm nhận Phán quyết của Tòa án được đưa ra trên cơ sở là những chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án, phản ánh đúng sự thật khách quan, chứ không phải là kết quả của việc ai thuyết phục Hội đồng xét xử tốt hơn tại phiên tòa
Xét hỏi tại phiên tòa là hoạt động mà một số người còn gọi là thẩm vấn tại phiên tòa Tuy nhiên xét về mặt ngữ nghĩa thì thẩm vấn mới chỉ thể hiện được nội dung mà người thẩm vấn cần biết, xuất phát từ một phía cần biết những thông tin của phía bên kia chứ không thể hiện được sự trao đổi qua lại giữa các chủ thể Vì vậy, thẩm vấn chưa thể hiện sự kỹ càng, sâu sát trong hoạt động tố tụng, mà đặc biệt là trong hoạt động tố tụng hình sự
5Xem: Mạc Giáng Châu, Giáo trình Luật tố tụng hình sự, khoa Luật trường Đại học Cần Thơ, trang 111.
Trang 12Xét hỏi trong tố tụng hình sự là hành vi tố tụng quan trọng, được thực hiện tại phiên tòa nhằm phát hiện, củng cố và kiểm tra các chứng cứ có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án Xuất phát từ yêu cầu xác định sự thật của vụ án một cách công khai, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định
vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị cáo, vì vậy, các tài liệu, chứng cứ, lời khai liên quan đến vụ án trong quá trình điều tra phải được đưa ra xem xét trước tòa Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử không phụ thuộc vào kết luận có sẵn của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát mà tự mình phải chứng minh có tội phạm hoặc không có tội phạm6 Mặc khác, trong khi xét hỏi mà bị cáo nhận tội thì lời nhận tội đó có thể coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án7 Trong một số trường hợp, vì một lý do nào đó mà bị can, người bị hại, người làm chứng không khai tại Cơ quan điều tra nhưng lại khai trong lúc xét hỏi tại phiên tòa Do đó, việc xét hỏi bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người này, người làm chứng, người giám định ngay tại phiên tòa là thủ tục cần thiết và luôn luôn có vị trí quan trọng trong quá trình xét xử vụ án Chương XX, BLTTHS hiện hành quy định thủ tục xét hỏi tại phiên tòa Thủ tục này cho phép việc xét hỏi được thuận tiện, khách quan và khoa học Đối với người được hỏi thì ngoài cơ hội cung cấp trực tiếp cho hội đồng xét xử những chứng cứ có ý nghĩa để giải quyết đúng đắn vụ án, đây còn là dịp để họ trình bày
ý kiến, tham gia xét hỏi những người tham gia xét hỏi khác nhằm bảo vệ những lợi ích thiết thực của mình hoặc của những người mà mình quan tâm
Xét hỏi trong tố tụng hình sự là hoạt động điều tra và xét xử do những người tiến hành tố tụng thực hiện nhằm thu thập, ghi nhận và kiểm tra những tình tiết, chứng cứ có
ý nghĩa đối với vụ án Thủ tục xét hỏi do pháp luật tố tụng quy định Việc xét hỏi do những người có thẩm quyền tiến hành, ở giai đoạn xét xử do các thành viên của hội đồng xét xử tiến hành Nội dung xét hỏi phải được ghi thành biên bản theo Điều 95 BLTTHS Trình tự xét hỏi được quy định tại Điều 207 BLTTHS
Từ những phân tích trên, suy cho cùng xét hỏi và thẩm vấn là hai từ đồng nghĩa Nhưng xét hỏi đảm bảo sự sâu sát, mạnh mẽ trong ngôn từ tố tụng, đặc biệt thể hiện được bản chất của phiên tòa hình sự, bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án Chính vì vậy mà hai BLTTHS của nước ta đã sử dụng từ “xét hỏi” tại phiên tòa mà không phải
là “thẩm vấn” tại phiên tòa
Trang 13Theo pháp luật hiện hành thì xét hỏi tại phiên tòa là một phần của quá trình xét
xử vụ án tại phiên tòa, theo đó những người tiến hành tố tụng tiến hành việc nghiên cứu
và kiểm tra các chứng cứ, kết luận điều tra và những tình tiết của vụ án Việc xét hỏi được tiến hành sau khi Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu
có Hội đồng xét xử xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm nhân dân, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định Trong khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét những vật chứng có liên quan đến vụ
án Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa được quy định cụ thể trong Chương XX của BLTTHS hiện hành, từ Điều 206 đến Điều 216 Sau khi xét hỏi xong, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc xét hỏi và chuyển sang phần tiếp theo là tranh luận tại phiên tòa
Như vậy, xét hỏi tại phiên tòa là một giai đoạn của quá trình xét xử tại Tòa án, do những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng thực hiện nhằm thu thập, ghi nhận và kiểm tra những tình tiết, chứng cứ có ý nghĩa đối với vụ án.
Theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002, của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, có đoạn nói: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn
cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định ”
Vì vậy, việc xét hỏi tại phiên tòa phải theo hướng tranh tụng, khi đó Hội đồng xét xử
chỉ là người “cầm trịch”, việc xét hỏi chủ yếu do Kiểm sát viên (hỏi về những vấn đề
liên quan đến việc buộc tội và cả những tình tiết gỡ tội cho bị cáo) và người bào chữa (hỏi về những vấn đề nhằm gỡ tội cho bị cáo) thực hiện Hội đồng xét xử chỉ hỏi những vấn đề chung nhằm mục đích xét xử Khi đó, xét hỏi là cuộc điều tra chính thức tại phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án Đại diện cho bên công tố hỏi về những vấn đề liên quan đến việc buộc tội cũng như gỡ tội, bên bào chữa hỏi về những vấn đề liên quan đến việc gỡ tội cho bị cáo Trên cơ sở đó Tòa án đưa ra phán quyết chung cho vụ án Các bên tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đều có quyền điều tra dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa từ hỏi người khác đến xem xét các vật chứng, tài liệu Việc xét hỏi chỉ kết thúc khi Hội đồng xét xử nhận thấy rằng thông qua xét hỏi
Trang 14thì sự thật khách quan, đối tượng cần được chứng minh trong vụ án đã được xác định đầy đủ, các tình tiết liên quan đến vụ án đã được làm rõ.
Việc xét hỏi tại phiên tòa hình sự như lâu nay diễn ra theo trình tự và trách nhiệm là chủ tọa phiên tòa xét hỏi toàn bộ các chứng cứ, tình tiết của vụ án Tiếp đến là các Hội thẩm nhân dân Kiểm sát viên hỏi về những vấn đề mà bị cáo phủ nhận tội của
họ cũng như hỏi về những tình tiết gỡ tội cho họ Người bào chữa hỏi về những vấn đề
có lợi cho người được họ bảo vệ Với tinh thần cải cách như trên thì trách nhiệm xét hỏi tại phiên tòa cần được hiểu theo một chiều hướng khác Không loại bỏ vai trò xét hỏi
về toàn bộ vụ án của Hội đồng xét xử nhưng cần phải nâng cao vai trò của Kiểm sát viên và người bào chữa trong quá trình xét hỏi Có như vậy thì phiên tòa hình sự mới thật sự đi sâu vào tranh tụng
1.2 Tầm quan trọng của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Nhận định đúng giá trị của một vấn đề sẽ nhanh chóng tìm ra được những ưu thế
và những hạn chế mà nó mang lại Vì vậy, biết được vị trí và ảnh hưởng của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa có tác động như thế nào đối với toàn bộ quá trình xét xử vụ án sẽ giúp cho việc nghiên cứu vấn đề mang tính toàn diện và chính xác Bên cạnh đó còn xác định được sự ảnh hưởng của hoạt động này đến các hoạt động khác trong tố tụng hình sự
1.2.1 Vị trí pháp lý của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình
sự
Xét hỏi tại phiên tòa là giai đoạn trung tâm trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án, đây là giai đoạn quan trọng nhất để xác định sự thật vụ án, có tính chất quyết định chứng minh bị cáo phạm tội hay không phạm tội, nếu có thì phạm tội gì, hình phạt như thế nào Hoạt động điều tra ở giai đoạn điều tra cũng nhằm mục đích chứng minh tội phạm, nhưng nó được tiến hành bán công khai và mục đích chủ yếu là cung cấp chứng
cứ cho quá trình xét xử Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa cũng là một giai đoạn chứng minh tội phạm, có thể những câu hỏi và câu trả lời không khác gì ở giai đoạn điều tra nhưng được thực hiện hoàn toàn công khai và tập trung kiểm tra lại những chứng cứ do
Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra, nhằm bảo vệ hoặc phản bác lại những tình tiết, chứng cứ mà Cơ quan điều tra cung cấp Quá trình tranh luận tại phiên tòa là việc bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra các quan điểm của mình nhằm buộc tội hay gỡ tội, tuy nhiên việc đưa ra các lập luận để bảo vệ cho quan điểm của mình thì cả hai bên buộc tội và gỡ tội đều phải dựa vào các chứng cứ, tình tiết đã xem xét trong quá trình xét hỏi Nếu có thêm chứng cứ mới, tình tiết mới được đưa ra xem xét thì Hội
Trang 15đồng xét xử vẫn phải quyết định trở lại việc xét hỏi để làm rõ chứng cứ, tình tiết mới
đó Điều này cho thấy hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một hoạt động xuyên suốt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án
Bên cạnh việc xét hỏi, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và những người tham gia phiên tòa còn tiến hành các hoạt động khác như xem xét vật chứng, công bố những lời khai tại Cơ quan điều tra, xem xét tại chỗ, trình bày, công bố các tài liệu của vụ án… cùng với việc nhận xét, báo cáo của các cơ quan, tổ chức hữu quan Vì vậy, hoạt động xét hỏi tại phiên tòa không chỉ đơn thuần là xét hỏi mà còn bao gồm các hoạt động điều tra, chính vì lẽ đó có ý kiến cho rằng Chương XX của BLTTHS hiện hành nên có tên là: “Thủ tục điều tra, xét hỏi tại phiên tòa” Quan điểm này là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 273 BLTTHS về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, đó là:
“Việc điều tra xét hỏi phiến diện hoặc không đầy đủ” Có thể nói hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một hoạt động độc lập nhưng có mối quan hệ mật thiết đến các giai đoạn khác trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án
Việc ra các quyết định, bản án của Tòa án phải dựa trên các tài liệu, hồ sơ và chứng cứ đã được đưa ra xem xét trước tòa8 Các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án hoặc mới đưa ra khi xét hỏi đều phải được công bố tại phiên tòa Hội đồng xét xử không được dựa vào các kết luận của Cơ quan điều tra, kết quả giám định, các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án hoặc các chứng cứ mới để ra các quyết định, bản án cho vụ án khi các chứng cứ, tài liệu đó chưa được xem xét tại phiên tòa Việc xem xét này chỉ được thực hiện trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nếu trong quá trình tranh luận mà các bên đưa ra vật chứng, tài liệu mới thì như đã nói trên, chủ tọa phiên tòa phải quyết định trở lại xét hỏi để làm rõ các vật chứng, tài liệu mới được đưa ra
Xét hỏi thực chất là cuộc điều tra chính thức tại phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án Các bên tham gia tố tụng đều có quyền xét hỏi dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa từ hỏi bị cáo cho đến những người tham gia xét xử khác, xem xét vật chứng, tài liệu Việc xét hỏi này chỉ kết thúc khi Tòa án thấy rằng thông qua xét hỏi sự thật khách quan, đối tượng cần chứng minh trong vụ án đã được xác định đầy đủ, các tình tiết liên quan đến việc giải quyết vụ án đã được làm rõ Vì thế cho nên, thủ tục tố tụng hình sự quy định gánh nặng xét hỏi cho Tòa án, việc thu thập chứng cứ do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thực hiện Vụ án có được giải quyết đúng đắn hay không phụ thuộc phần lớn vào vai trò của Tòa án trong quá trình xét xử, trong
đó xét hỏi tại phiên tòa là một hoạt động góp phần quan trọng nhất
8 Khoản 1 Điều 184 BLTTHS quy định: “… Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa”.
Trang 16Như vậy, hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một hoạt động chính yếu trong quá trình xét xử tại phiên tòa, góp phần quan trọng vào việc tìm ra sự thật khách quan của
vụ án Là một hoạt động độc lập của quá trình xét xử tại phiên tòa, có ảnh hưởng đến tất cả các giai đoạn khác trong toàn bộ quá trình tố tụng, là nền tảng cho quá trình tranh luận, nghị án và đặc biệt là căn cứ để chứng minh tội phạm, đưa ra các quyết định đúng đắn Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa được pháp luật hình sự điều chỉnh ở Chương XX của BLTTHS hiện hành
Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc xét hỏi tại phiên tòa đòi hỏi Hội đồng xét
xử, Kiểm sát viên và những người tham gia phiên tòa, một mặt phải tuân theo những quy định của pháp luật, mặt khác phải định hướng trước một phương pháp xét xử phù hợp để xác định sự thật của vụ án Điều này tạo cho những người tham gia xét xử mà đặc biệt là Thẩm phán có một tư duy thật tốt để đưa ra một phương hướng phù hợp cho
cả quá trình xét xử vụ án Vì vậy, có thể nói hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một nghệ thuật mà không phải Thẩm phán nào cũng làm được Việc tìm ra sự thật của vụ án phụ thuộc rất lớn vào vai trò, bản lĩnh của Thẩm phán
Trong tiến trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng
01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp và theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị đề cập: “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo… để đưa ra những bản án, quyết định đúng pháp luật…” Từ đây, lại cho thấy rằng vai trò của hoạt động xét hỏi là không thể nào thiếu trong quá trình giải quyết vụ án Như đã biết, việc chứng minh tội phạm, xem xét các tài liệu chứng cứ của vụ án phải được diễn ra tại phiên tòa, đặc biệt là trong quá trình xét hỏi thì mới được xem là căn cứ cho việc định tội Vai trò của bên công tố và bên bào chữa được nâng lên nhưng việc thực hiện các quyền của họ có đi đúng hướng hay không lại phụ thuộc vào sự điều khiển của Hội đồng xét hỏi Việc tranh luận dựa trên kết quả của quá trình xét hỏi, vì vậy, nếu như hoạt động xét hỏi tại phiên tòa mờ nhạt thì tất nhiên vai trò của bên công tố và bên bào chữa sẽ không thể nào phát huy được
Trang 171.2.2 Hậu quả pháp lý của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Bất kỳ một hoạt động nào trong quá trình xét xử đều có một chức năng nhất định, mặc dù mục đích cuối cùng của tất cả các hoạt động đều phục vụ cho việc tìm ra
sự thật khách quan của vụ án Một hoạt động được diễn ra có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động trước và sau nó trong một quá trình xét xử, quyết định có hay không có các giai đoạn tiếp sau đó hoặc buộc phải quay về các hoạt động trước đó để xem xét, thực hiện lại Nói tóm lại, mỗi hoạt động diễn ra trong quá trình xét xử vụ án đều có những hậu quả pháp lý nhất định ảnh hưởng đến các hoạt động khác
Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một hoạt động trung tâm của toàn bộ quá trình xét xử, vì vậy những hậu quả pháp lý của nó tác động rất lớn đến các giai đoạn khác trong quá trình giải quyết vụ án Một trong những hậu quả pháp lý quan trọng nhất của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là đưa ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; quyết định hoãn hay không hoãn phiên tòa; quyết định chuyển sang giai đoạn kế tiếp của quá trình xét xử tại phiên tòa hay không Nếu trong quá trình xét hỏi Hội đồng xét xử nhận thấy còn có những vấn đề cần được chứng minh nhưng không thể làm rõ ngay tại phiên tòa hoặc phát hiện thêm những tình tiết mới liên quan đến vụ án thì Hội đồng xét
xử quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để yêu cầu điều tra bổ sung hoặc điều tra lại, song song với quyết định này là quyết định hoãn phiên tòa
Theo khoản 1 Điều 179 BLTTHS năm 2003 về quyết định trả hồ sơ để điều tra
bổ sung, quy định này nằm ở giai đoạn chuẩn bị xét xử Sẽ là hợp lý nếu trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử phát hiện cần phải xem xét thêm chứng
cứ quan trọng mà không thể bổ sung tại phiên tòa được (điểm a); có căn cứ cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm (điểm b); phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng (điểm c) thì Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung Tuy nhiên, thực tiễn xét xử có trường hợp đến khi xét hỏi tại phiên tòa Hội đồng xét xử mới phát hiện ra những vấn đề nêu trên nhờ bị cáo, người làm chứng hoặc những người tham gia tố tụng khác khai báo thêm mà trước đó họ không khai Khi đó, Hội đồng xét xử cũng phải ra quyết định tạm hoãn phiên tòa để yêu cầu điều tra bổ sung
Một hậu quả pháp lý quan trọng hơn cả là sẽ xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm nếu như hoạt động xét hỏi tại phiên tòa không thực hiện đúng chức năng của nó Như đã biết, xét hỏi tại phiên tòa không chỉ xét hỏi mà còn là việc kiểm tra làm rõ những chứng cứ ở giai đoạn điều tra và cả những chứng cứ mới được đưa ra Tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và cả những chứng cứ mới phải được đưa ra xem
Trang 18xét tại tòa, việc xem xét này chỉ được thực hiện trong quá trình xét hỏi Mặt khác, các quyết định, bản án của Tòa án phải dựa trên hồ sơ, chứng cứ của vụ án được đưa ra xem xét trước tòa Vì vậy, các lời khai, tài liệu, chứng cứ phải được xem xét một cách
kỹ càng, khoa học thì mới có thể đưa ra những quyết định đúng đắn Các quyết định, bản án được đưa ra phải dựa trên các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án không đồng nghĩa với quan niệm “án tại hồ sơ” và Thẩm phán ra tòa trong tư thế xử tội nhiều hơn là tìm ra sự thật Bởi lẽ, các tài liệu, chứng cứ nói trên không phải chỉ đem ra công
bố mà còn xem xét lại, việc xem xét này diễn ra một cách công khai cho nên sẽ toàn diện và chính xác hơn so với giai đoạn điều tra Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ
án chưa được đưa ra xem xét thì không thể xem đó là căn cứ để đưa ra các quyết định, bản án Trong quá trình xét hỏi có thể các chứng cứ, tài liệu này được chấp nhận, cũng
có thể bị bác bỏ Trong một số trường hợp, một tình tiết, chứng cứ ở giai đoạn điều tra
là căn cứ để tăng nặng (hoặc giảm nhẹ) trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo nhưng khi đến giai đoạn xét xử trong quá trình xét hỏi làm phát sinh những tình tiết mới mà tình tiết đó có thể trở thành tình tiết giảm nhẹ (hoặc tăng nặng) trách nhiệm hình sự cho
bị cáo Vì vậy nếu việc xét hỏi không kỹ càng, qua loa thì rất dễ dẫn đến oan sai do áp dụng các Điều, khoản của Bộ luật hình sự không phù hợp và bỏ lọt tội phạm
Thí dụ cho trường hợp trên là vụ án gây oan sai cho ba thanh niên ở Hà Tây (cũ)
mà sau gần mười năm mới được giải oan Đó là vụ án cướp tài sản và hiếp dâm xảy ra tối ngày 24 tháng 10 năm 2000 tại khu vực trạm bơm Yên Nghĩa, xã Dương Nội, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (cũ) Trải qua hai phiên tòa, các cấp xét xử cùng xác định: tối 24 tháng 10 năm 2000, Tình, Kiên, Lợi bàn nhau đi trấn lột Khi đến gần trạm bơm Yên Nghĩa, phát hiện một đôi trai gái đang ngồi tâm sự, họ lội qua mương đến gần Lợi dùng dao gí vào cổ, khống chế người đàn ông kéo xuống mương, cướp tài sản Sau đó, cả nhóm thay nhau hãm hiếp cô gái Hai phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm đã tuyên phạt Lợi 16 năm tù, Tình 14 năm tù và Kiên 11 năm tù Ông Nguyễn Hữu Thể - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã nêu lên nhiều nguyên nhân dẫn đến hậu quả oan sai cho vụ án, trong đó có nhiều nguyên nhân do lỗi của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên trong quá trình xét hỏi không làm rõ chứng cứ, lời khai của bị cáo Cụ thể, tại các phiên tòa xét xử, những bằng chứng ngoại phạm của các bị cáo chưa được Hội đồng xét xử quan tâm xem xét đúng mức, Tòa án đã không xem xét, đánh giá đầy
đủ, kỹ lưỡng, toàn diện, khách quan các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, các bị cáo có khai việc bị cán bộ điều tra ép cung trong quá trình điều tra, nhưng không được xem xét, xác minh, kết luận9
9Xem: Tuổi trẻ online, Lại hoãn xử ba thanh niên bị kết tội hiếp dâm, Minh Quang,
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Phap-luat/388563/Lai-hoan-xu-vu-3-thanh-nien-bi-ket-toi-hiep-dam.html, [truy cập ngày 11/8/2010].
Trang 19Từ vụ án trên, cho thấy việc xét hỏi tại phiên tòa có vai trò quan trọng trong quá trình tìm ra sự thật của vụ án Từ việc xét hỏi qua loa, chỉ dựa vào kết luận điều tra dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng người, đúng tội đã làm oan người vô tội, khi
đó đã bỏ lọt tội phạm thật sự của vụ án Trong một số trường hợp việc xét hỏi phiến diện, không đầy đủ sẽ làm sai lệch các nguyên tắc trong tố tụng hình sự cũng như những quy định cơ bản của BLTTHS
Về nguyên tắc, việc giải quyết các vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự10 Tuy nhiên, trong quá trình xét hỏi những người tham gia tố tụng về phần dân sự trong vụ án, nếu xét thấy còn nhiều vấn đề về bồi thường, bồi hoàn chưa có điều kiện chứng minh hoặc phát hiện thêm các vấn đề về dân sự nhưng không thể làm rõ tại phiên tòa mà không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì Hội đồng xét xử quyết định tách riêng thành một vụ án dân sự khác để xét xử sau đó Vì vậy, việc quyết định tách hay không tách vụ việc dân sự ra thành một vụ án riêng hay không còn phụ thuộc vào quá trình xét hỏi
Trong quá trình xét hỏi, nếu phát hiện có tội phạm mới thì Hội đồng xét xử quyết định khởi tố bị can hoặc đề nghị Viện kiểm sát khởi tố Nếu phát hiện bị cáo phạm tội mới thì ra quyết định yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung, đồng thời ra quyết định hoãn phiên tòa Trường hợp phát hiện bị cáo phạm tội mới mà không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Hội đồng xét xử phải chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết
Việc xét hỏi tại phiên tòa không đầy đủ, phiến diện còn là nguyên nhân dẫn đến bản án, quyết định của Tòa án bị hủy, vụ án phải đưa ra xét xử phúc thẩm, xem xét lại theo thủ tục tái thẩm hoặc giám đốc thẩm Vì là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình giải quyết vụ án: chứng minh tội phạm, xem xét tất cả các tài liệu, chứng cứ của
vụ án nên việc đưa ra các quyết định, bản án của Tòa án phụ thuộc hầu hết vào kết quả của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa Các quyết định, kết luận của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có được phát hiện là đúng hay không đúng phụ thuộc vào quá trình xét hỏi, bởi vì, chỉ ở đây các quyết định, chứng cứ ấy mới được đưa ra xem xét một cách toàn diện và công khai Trên cơ sở đó, như đã nói trên, các quyết định, bản án của Tòa án lại dựa trên hồ sơ, tài liệu được đưa ra xem xét trước tòa trong quá trình xét hỏi Do đó, nếu quá trình xét hỏi không đi sâu vào xem xét, tranh tụng sẽ dẫn đến việc đưa ra bản
Xem: Báo đời sống pháp luật online, Phiên tòa giám đốc thẩm 3 thanh niên phạm tội hiếp dâm, cướp tài sản ở
Yên Nghĩa, Hà Đông, Hà Nội: Dừng đến bao giờ?, http://www.doisongphapluat.com.vn/Story.aspx?lang=vn&zo
neparent=0&zone=4&ID=5175, [truy cập ngày 11/8/2010].
Xem: Trang tin Tin nhanh Việt Nam online (VnExpress), Vi phạm nghiêm trọng trong vụ xử ba thanh niên án
hiếp dâm, Anh Thư, http://vnexpress.net/GL/Phap-luat/2010/06/3BA1C714/?p=3, [truy cập ngày 11/8/2010].
10 Xem: Điều 28 BLTTHS 2003.
Trang 20án, quyết định không đúng đắn, không thuyết phục gây nên tình trạng oan sai, kéo dài trong công tác xét xử, có vụ án phải xét xử lại nhiều lần.
Xét hỏi tại phiên tòa trong một số trường hợp sẽ làm thay đổi tội danh hoặc thay đổi tư cách tham gia tố tụng đối với những người tham gia tố tụng Thí dụ, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về một tội nhưng trong quá trình xét hỏi, xem xét lời khai, chứng cứ Hội đồng xét xử nhận thấy người này không phải phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố
mà là một tội khác Hoặc trong bản cáo trạng của Viện kiểm sát chỉ nêu một người là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng khi xét hỏi tại phiên tòa đã làm
rõ những căn cứ cho rằng người đó không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà là đồng phạm với bị cáo, hoặc là người chủ mưu, cầm đầu Trong những trường hợp này, Hội đồng xét xử sẽ quyết định hoãn phiên tòa để yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung
1.3 Một số mô hình tố tụng hình sự tiêu biểu và hướng áp dụng ở Việt Nam
Mô hình tố tụng hình sự thể hiện cách ứng xử của Nhà nước đối với người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo và quyết định toàn bộ quy trình tố tụng Hướng tới sự tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tố tụng hay sự bảo vệ quyền lợi của công dân và nhiều nội dung quan trọng khác Nghiên cứu các mô hình tố tụng tiêu biểu nhằm mục đích tìm ra những tiến bộ hơn trong quá trình lập pháp cũng như áp dụng pháp luật vào thực tiễn Bên cạnh đó, đưa những ưu việt học hỏi được vào mô hình hiện tại nhằm hoàn thiện pháp luật phù hợp với tình hình xã hội
1.3.1 Các mô hình tố tụng hình sự
1.3.1.1 Mô hình tố tụng tranh tụng
Mô hình tố tụng tranh tụng có nguồn gốc từ mô hình tố tụng tố cáo và phát triển mạnh mẽ ở các nước theo hệ thống luật án lệ như Anh và Mỹ Với mô hình này, việc xét hỏi tại phiên tòa hầu như không được coi trọng Sự thật khách quan của vụ án được xác định thông qua sự tranh luận dựa trên những nguồn chứng cứ cho là chính xác nhất được thu thập trước đó Trong quá trình xét xử, Tòa án (mà đại diện là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa) chỉ là người quan sát bên buộc tội và bên gỡ tội đưa ra những lập luận, chứng cứ mà họ thu thập được Tòa án không xét hỏi mà quan sát các bên tranh tụng và cùng với kết luận của bồi thẩm đoàn sẽ đưa ra phán quyết cuối cùng là bên nào chiến thắng Với mô hình này, bên buộc tội và bên gỡ tội đều được sử dụng các quyền và nghĩa vụ pháp lý như nhau trong việc thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ, phân tích và đưa ra các kết luận đối với những việc cụ thể Vì vậy, ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình tố tụng đòi hỏi phải rất chính xác và tố tụng có vai trò đặc biệt quan
Trang 21trọng đến mức nhiều người cho rằng, tố tụng tranh tụng là hệ thống coi trọng luật tố tụng hơn luật nội dung.
Như đã nói, với mô hình này Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ là người “trọng tài” mà không tham gia vào xét hỏi Việc xem xét, đánh giá chứng cứ mà các bên đưa
ra tại cuộc tranh tụng sẽ dựa trên những tiêu chí hợp lệ của chứng cứ mà pháp luật đã quy định và phụ thuộc vào niềm tin nội tâm của người Thẩm phán Vì vậy, quá trình thu thập chứng cứ của hai bên buộc tội và gỡ tội không bắt buộc phải khách quan, công khai Họ có thể tiến hành theo nhiều cách để đạt được mục đích buộc tội hay gỡ tội, miễn sao khi tranh tụng trước Tòa, bên buộc tội phải đưa ra các chứng cứ nhằm chứng minh tính có lỗi của hành vi phạm tội và xác định rõ nguyên nhân, hậu quả của tội phạm phải được nằm trong mối quan hệ nhân quả Hành vi có lỗi đó đã vi phạm pháp luật và gây ra hậu quả nhất định cho người bị hại Còn bên gỡ tội, họ phải chứng minh được hành vi đó không có lỗi, không vi phạm luật hoặc chưa tới mức phải chịu trách nhiệm hình sự hay có căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Do bản án, quyết định được đưa ra chủ yếu phụ thuộc vào những chứng cứ mà phía buộc tội và gỡ tội đưa ra Chính vì lẽ đó, để đảm bảo cho các quyết định, bản án đưa ra là chính xác, khách quan, mô hình tố tụng này có những điều kiện nhất định để ràng buộc bên gỡ tội và bên buộc tội phải tuân theo Bên cạnh đó còn đảm bảo cho việc tranh tụng giữa hai bên được diễn ra bình đẳng, dân chủ, khách quan Các điều kiện này bắt buộc phải được thực hiện một cách đồng bộ, chính xác11
- Thứ nhất, bảo đảm sử dụng việc kiểm tra chéo, đối chất để xác định tính chính xác, có căn cứ của chứng cứ Các bên buộc tội và bên gỡ tội đều có quyền thẩm vấn các nhân chứng để kiểm tra tính trung thực trong lời khai của họ, kiểm tra tính xác thực, lô gíc và có căn cứ về những chứng cứ mà họ đã khai, nhằm bảo đảm rằng lời khai của nhân chứng là cái họ đã nhìn thấy, chứng kiến cụ thể chứ không phải do họ suy diễn hoặc họ nghĩ rằng sẽ diễn ra như vậy
- Thứ hai, bảo đảm quyền tranh tụng trước tòa cho cả phía buộc tội (đại diện của Nhà nước) và phía gỡ tội (các luật sư bào chữa) một cách bình đẳng, khách quan, không bên nào được lấn át hay áp đặt nhận thức đối với bên kia về quan điểm mà mình đưa ra Thẩm phán giữ vai trò trọng tài, điều khiển cuộc tranh tụng, bảo đảm cho các bên có đầy đủ các điều kiện và quyền hạn tranh tụng như nhau, buộc bên bị phản đối phải chấm dứt việc đưa ra các quan điểm suy diễn, áp đặt nếu sự phản đối của bên còn
11Xem: Website Văn phòng luật sư JVN, Tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn trong tư pháp hình sự thế giới,
ThS Nguyễn Hải Ninh - Nguyễn Hà Thanh, http://www.vanphongluatsujvn.vn/PrintPreview.aspx?ID=1138, [truy cập ngày 26/10/2010].
Trang 22lại là có căn cứ (phản đối hữu hiệu), đồng thời, ngăn chặn những phản đối không có căn cứ (phản đối vô hiệu).
Với mô hình này, tính trung lập của Tòa án được đề cao, Thẩm phán và bồi thẩm đoàn chỉ đưa ra kết luận cuối cùng và đứng ngoài mọi sự xét hỏi và tranh luận, họ cũng
bị cấm tham gia vào các thủ tục thu thập chứng cứ hay thuyết phục các bên có các thao tác hoà giải với nhau Trách nhiệm trình bày chứng cứ thuộc về các bên Lý luận của
mô hình tranh tụng này đòi hỏi rằng các bên phải có trách nhiệm đưa ra chứng cứ trước Tòa Nguyên tắc này bảo đảm cho Tòa án thoát khỏi mọi ảnh hưởng hay định kiến - nếu tham gia vào việc thu thập chứng cứ Họ không bị chi phối bởi yếu tố chủ quan là quy kết tội cho bị cáo khi có căn cứ cho rằng bị cáo phạm tội hay cho rằng bị cáo vô tội khi có căn cứ cho rằng bị cáo không phạm tội Điều này cũng khuyến khích các bên phải tận dụng hết mọi cơ hội hay khả năng để tìm tòi, đưa ra những chứng cứ thuyết phục nhất và qua đó Thẩm phán có điều kiện để suy xét, đưa ra phán quyết thích hợp nhất Bên cạnh đó, mô hình này cũng có những nguyên tắc ưu việt đảm bảo cho các bên nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, là một trong những vấn đề mà các mô hình tố tụng khác cần học hỏi:
- Quy tắc tố tụng gồm một loạt các quy định giúp các bên chuẩn bị chứng cứ trước khi bước vào xét xử chính thức và là một thủ tục tư pháp hành chính để Tòa án xem xét các chứng cứ đã đủ cho một phiên tòa chính thức hay chưa nhằm tránh những thủ tục điều tra có thể diễn ra không cần thiết tại Tòa
- Quy tắc về chứng cứ bảo đảm sự thống nhất của các yếu tố trong hệ tranh tụng
Nó ngăn chặn việc sử dụng những chứng cứ không đáng tin cậy có thể làm Tòa án đưa
ra phán quyết dựa trên những thông tin sai lệch Nó cũng nghiêm cấm sử dụng chứng
cứ có thể gây ra những định kiến không công bằng cho một trong các bên tham gia tố tụng Quy tắc về chứng cứ cũng tạo điều kiện ràng buộc luật sư để họ biết được những chứng cứ nào sẽ được chấp thuận tại Tòa sau này; đồng thời là cơ sở để xác định thẩm quyền của Thẩm phán chủ tọa phải điều hành diễn biến, thủ tục phiên tòa: ông ta không
có quyền chọn chứng cứ mà ông ta thấy thích hợp nhất mà phải tuân theo các quy tắc chứng cứ đã được xác định trước
- Quy tắc điều chỉnh đạo đức luật sư: Mô hình tranh tụng sử dụng một loạt các quy tắc về đạo đức nghề nghiệp để kiểm soát đội ngũ luật sư của cả hai bên Những thủ đoạn đe dọa hay che giấu, làm sai lệch thông tin có thể làm cho Tòa án có định kiến bị cấm và loại trừ Hơn nữa, quy tắc về đạo đức cũng đòi hỏi luật sư phải hành sự và trung thành vô điều kiện với quyền lợi của thân chủ của các bên như chính quyền lợi của họ
Trang 23Bất kỳ mô hình tố tụng nào, bên cạnh những ưu việt mà nó mang lại cho quá trình tìm ra sự thật khách quan của vụ án vẫn còn ít nhiều những hạn chế làm ảnh hưởng đến mục đích cao nhất của quá trình giải quyết vụ án.
- Thủ tục tố tụng của mô hình tố tụng này rất phức tạp, đòi hỏi một đội ngũ luật
sư chuyên nghiệp bảo vệ cho quyền và lợi ích của bị cáo Mọi vấn đề lẽ ra phải được thực hiện trong cả một quá trình điều tra lại chỉ được trình bày trong phiên xét xử và khi phiên tòa xét xử diễn ra thì chưa có gì thực sự được khẳng định chắc chắn cả
- Với thủ tục phức tạp như đã nói, mô hình tố tụng này hầu như xa rời thực tế, việc phán xét một người nào đó thực hiện như thế nào được xem là quan trọng hơn việc xem họ đã làm gì trên thực tế Vì vậy, cần có sự chuyên nghiệp cao cho nên có thể nói bên nào có nhiều tiền để thuê luật sư thì sẽ có nhiều khả năng giành thắng lợi hơn Từ đây đã không phản ánh được toàn bộ sự thật khách quan của vụ án mà có thể chỉ phản ánh được một phần nào đó
- Bồi thẩm đoàn không có trách nhiệm đưa ra lý do đối với các quyết định của họ, đôi khi còn là niềm tin nội tâm của họ, cho nên sự thật của vụ án trong một chừng mực nào đó bị ảnh hưởng bởi nhận thức trực quan của các thành viên bồi thẩm đoàn Họ có thể bị ảnh hưởng quá mức bởi thông tin đại chúng liên quan đến vụ việc và khi đó, khó
có thể ước định ngay thiệt hại cũng như phân tích những chứng cứ phức tạp tại phiên tòa
- Phiên tòa xét xử của mô hình này có thể nói là “phiên tòa của những người giàu”, bởi bên nào thuê được luật sư thì phần thắng nghiêng về bên đó Chi phí để mở phiên tòa là rất lớn
Tóm lại, phiên tòa xét xử của mô hình tố tụng tranh tụng đề cao vai trò của bên buộc tội (đại diện của Nhà nước) và bên gỡ tội (luật sư bào chữa), Tòa án không tham gia vào việc chứng minh tội phạm mà chỉ ra phán quyết dựa trên kết quả tranh luận giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Chính vì vậy, việc xét hỏi tại phiên tòa hầu như không được thực hiện, các chứng cứ của vụ án được chứng minh dựa trên những lý lẽ đưa ra sao cho có tính thuyết phục mà không cần phải điều tra trước đó
1.3.1.2 Mô hình tố tụng xét hỏi
Mô hình tố tụng xét hỏi xuất hiện vào thời kỳ chiếm hữu nô lệ, trong các Tòa án tôn giáo và thâm nhập dần vào các Tòa án thường Tố tụng xét hỏi được sử dụng hầu hết ở các quốc gia trước đây không phải là thuộc địa của Anh Bao gồm cả các nước châu Âu lục địa, các nước Mỹ La tinh, một số nước châu Á và châu Phi
Trang 24Nếu như mô hình tố tụng tranh tụng vai trò của Thẩm phán hoàn toàn bị động thì
ở mô hình tố tụng này, vai trò Thẩm phán được đề cao Thẩm phán là người đưa ra quyết định điều tra khi xảy ra một vụ án nào đó Có trách nhiệm tìm ra sự thật trên cơ
sở các sự việc, chứng cứ Cũng chính Thẩm phán là người chỉ đạo toàn bộ quá trình tố tụng, kể cả giai đoạn điều tra Trong quá trình điều tra, Thẩm phán góp phần tích cực trong việc tìm ra sự thật và phục vụ với tư cách là người thẩm tra Bên cạnh việc thực hiện chức năng xét xử, Thẩm phán còn thực hiện cả chức năng điều tra, chức năng buộc tội và một phần nào đó của chức năng bào chữa
Phiên tòa trong tố tụng xét hỏi không phải là cuộc tranh tụng giữa các bên buộc tội và gỡ tội, mà thực chất vẫn là sự tiếp tục của việc điều tra, thẩm định chứng cứ, tìm chứng cứ, làm rõ sự thật khách quan của vụ án Vì vậy, có thể nói đây là một cuộc xét hỏi, điều tra công khai tại phiên tòa Khi vai trò của Thẩm phán được đề cao và nắm giữ vai trò quyết định, thì các chức năng buộc tội và bào chữa bị mờ nhạt Vai trò Công
tố viên buộc tội và luật sư bào chữa gần như thụ động Xét hỏi là hoạt động chủ yếu, tranh luận được thực hiện rất ít, có thể nói trong phiên tòa này, việc tranh luận giữa Công tố viên và người bào chữa hầu như không được thực hiện Các bên có trách nhiệm cung ứng tất cả các chứng cứ thích hợp, có liên quan đến vụ án cho Tòa án Các Thẩm phán sẽ thực hiện trực tiếp việc xét hỏi các nhân chứng một cách tích cực chứ không phải Công tố viên và luật sư bào chữa
Trong mô hình tố tụng này, Viện Công tố có những quyền hạn lớn hơn so với trong tố tụng tranh tụng Tuy nhiên, tại phiên tòa việc xét hỏi chủ yếu do Thẩm phán thực hiện, Công tố viên chỉ tham gia vào kiểm sát quá trình hoạt động của Tòa án, tham gia vào tranh luận nhưng rất mờ nhạt Viện công tố tham gia vào giải quyết vụ án chủ yếu là trong giai đoạn điều tra (chỉ đạo điều tra), truy tố (ra quyết định truy tố) Đối với các vụ án phức tạp thì sau giai đoạn điều tra sơ bộ còn có giai đoạn thẩm cứu do một Thẩm phán điều tra đảm nhiệm Đây là một Thẩm phán độc lập, không tham gia vào giai đoạn điều tra sơ bộ ban đầu và có nhiệm vụ xác định sự thật Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, nhiệm vụ của Thẩm phán điều tra là làm cho sự thật được thể hiện rõ Như vậy, mọi chứng cứ đều do một Thẩm phán điều tra độc lập và khách quan tập hợp, cho dù đó là chứng cứ cho phép kết tội bị can hoặc cho phép chứng minh sự
vô tội của bị can Chính vì điều này càng làm củng cố hơn nguồn chứng cứ nhằm buộc tội hoặc gỡ tội cho bị cáo
Mô hình tố tụng xét hỏi nhấn mạnh vào giai đoạn điều tra, thẩm tra của quá trình
tố tụng, bởi vậy, việc điều tra, thẩm tra chứng cứ trong các vụ án được yêu cầu khắt khe và kỹ lưỡng, bảo đảm sự chính xác, khách quan trong việc xác định sự thật của vụ
Trang 25án và xác định chính xác kẻ phạm tội Giai đoạn xét hỏi tại phiên tòa nhằm cũng cố lại nguồn chứng cứ, đảm bảo tính công khai và giải quyết những vấn đề phát sinh tại phiên tòa Chính vì vậy, việc xét xử các vụ án bởi mô hình tố tụng này đảm bảo được tính khách quan, dựa trên những chứng cứ tuyệt đối chứ không phải là niềm tin nội tâm như của mô hình tranh tụng.
Việc tham gia trực tiếp của Thẩm phán trong tố tụng thẩm vấn với ý nghĩa quan trọng, tích cực, trái ngược với sự ảnh hưởng gián tiếp của Thẩm phán trong quá trình tố tụng ở mô hình tố tụng tranh tụng Bởi vì, tố tụng thẩm vấn đề cao vai trò của Thẩm phán trong suốt quá trình tố tụng Thẩm phán không chỉ thể hiện quyền năng tại phiên tòa hay giai đoạn xét xử mà còn có quyền và nghĩa vụ tham gia tích cực trong quá trình điều tra, thẩm tra chứng cứ Đặc biệt là hoạt động xét hỏi tại phiên tòa
Phiên tòa trong tố tụng xét hỏi gồm hai Thẩm phán: một là Thẩm tra viên, một là Thẩm phán có quyền quyết định vụ việc Phần lớn nhiệm vụ xét hỏi để bổ sung, làm rõ, đánh giá chứng cứ vụ án thuộc về Thẩm phán Các câu hỏi chủ yếu đối với các nhân chứng và các bên liên quan là do Thẩm phán đặt câu hỏi và phát triển sự kiện theo hướng làm rõ sự thật khách quan của vụ án Các luật sư chủ yếu chỉ tranh luận để giải thích về các chứng cứ liên quan đến vụ án mà có thể các chứng cứ này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc đưa ra phán quyết của Thẩm phán
Cũng như mô hình tố tụng tranh tụng, mô hình tố tụng xét hỏi cũng bộc lộ những khiếm khuyết của nó Vì chứng cứ do Thẩm phán điều tra, tập hợp, các bên đương sự không có nghĩa vụ chứng minh chứng cứ, nên đôi khi đi ngược lại nguyên tắc vô tư, khách quan và trong nhiều trường hợp, Thẩm phán đã có sẵn trong đầu quyết định xét
xử trước khi diễn ra giai đoạn xét xử Nhìn từ góc độ này, việc tranh luận tại phiên tòa trở nên vô nghĩa
1.3.2 Mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam và hướng áp dụng các ưu việt của các mô hình tố tụng khác để hoàn thiện
Mô hình tố tụng nước ta gắn liền với từng thời kỳ lịch sử, ở mỗi giai đoạn tương ứng với một mô hình tố tụng nhất định Trước năm 1945 tố tụng hình sự nước ta có nhiều dấu hiệu thể hiện áp dụng mô hình tố tụng xét hỏi Đặc điểm cơ bản là quan cai trị hành chính là Thẩm phán và Điều tra viên, việc điều tra được tiến hành bí mật,
12Xem thêm: Nghiên cứu lập pháp – Văn phòng Quốc hội, Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu
cầu cải cách tư pháp, TS Lê Hữu Thể - ThS Nguyễn Thị Thủy, http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap _
luat/ly-luan-ve-nha-nuoc/hoan-thien-mo-hinh-to-tung-hinh-su-viet-nam-theo-yeu-cau-cai-cach-tu-phap, [truy cập ngày 28/10/2010].
Trang 26chứng cứ chủ yếu là lời khai của người làm chứng và sự nhận tội của người bị buộc tội, việc xét xử không công khai, tra tấn, gông cùm là biện pháp chủ yếu Sau năm 1945, cùng với việc xây dựng hệ thống pháp luật kiểu mới, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản, đã loại bỏ dần các quy định của loại hình tố tụng xét hỏi vì chúng không còn phù hợp với bản chất của Nhà nước ta Yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm đặt nền móng cho việc hình thành một loại hình tố tụng hình sự tiến bộ hơn, xét về mặt bản chất cũng như trình tự, thủ tục, phương thức tiến hành BLTTHS năm 1988 được ban hành đánh dấu một bước cải cách, đổi mới pháp luật tố tụng hình sự nước ta theo hướng dân chủ hóa tố tụng hình sự, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, tăng cường tính công khai, đưa ra và thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, khắc phục những định kiến theo hướng buộc tội, bảo đảm sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử BLTTHS năm
2003 ra đời thay thế cho BLTTHS năm 1988, đánh dấu một bước phát triển mới trong cải cách hệ thống pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta Bộ luật mới đã thể chế hoá quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một
số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp Trong Bộ luật này, pháp luật tố tụng hình sự
đã có những thay đổi, bổ sung cơ bản: bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng; chức năng buộc tội – chức năng bào chữa – chức năng xét xử được phân định khá rõ ràng và được giao cho các cơ quan khác nhau và những người có thẩm quyền khác nhau thực hiện; nguyên tắc suy đoán vô tội đã được ghi nhận Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan và những người tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Mọi nghi ngờ đều được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội… Vì vậy, trong một chừng mực nào đó, có thể nói rằng mô hình tố tụng của nước ta có tính chất tranh tụng, nhưng vẫn mang đậm nét của loại hình tố tụng xét hỏi Đây là mô hình tố tụng pha trộn giữa hai mô hình tranh tụng và xét hỏi và thiên về xét hỏi nhiều hơn
BLTTHS năm 2003 với những quy phạm pháp luật phản ánh bản chất tố tụng hình sự nước ta mang đậm dấu ấn của hình thức tố tụng xét hỏi bằng việc xây dựng, sử dụng hồ sơ vụ án với các chứng cứ, tình tiết liên quan đến vụ án để xét xử là đặc trưng
cơ bản; phương pháp tìm kiếm chứng cứ để buộc tội người bị tình nghi thực hiện tội phạm chủ yếu bằng việc bắt, tạm giữ, tạm giam để thiết lập hồ sơ vụ án chứ không phải
có đầy đủ chứng cứ buộc tội rồi mới bắt, tạm giữ, tạm giam; các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền hạn lớn trong việc điều tra, truy tố, xét xử bằng việc có toàn quyền quyết
Trang 27định khởi tố, truy tố, xét xử người phạm tội ra trước Tòa án; mọi hành vi của những người tham gia tố tụng đều phải chịu sự cho phép của các cơ quan tiến hành tố tụng…Bất kỳ mô hình tố tụng nào cũng có mặt tích cực và những hạn chế của nó, hình thức tố tụng xét hỏi có những ưu điểm nhất định, như tạo thế chủ động cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm và người phạm tội nhằm góp phần quan trọng vào quá trình giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, đất nước Việc kết tội được thực hiện dựa trên nguồn chứng cứ vững chắc, được điều tra, thu thập một cách kỹ lưỡng và được đưa ra xem xét công khai tại tòa Nhưng nhược điểm cơ bản của hình thức tố tụng này là thời gian giải quyết vụ án thường kéo dài (dẫn đến vi phạm thời hạn
tố tụng); chưa tạo cơ hội để những người tham gia tố tụng đưa ra được những chứng cứ chứng minh về việc mình bị buộc tội, xét xử; vai trò của luật sư, của những người tham gia tố tụng khác chưa được tôn trọng, bảo vệ và bị chi phối bởi các cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng; việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, nhất là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị hạn chế; việc tranh tụng thường chưa được bảo đảm dẫn đến tình trạng, các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng chuẩn bị trước các quyết định của mình liên quan đến quá trình giải quyết vụ án Trong quá trình xét hỏi, quyền được tham gia vào xét hỏi của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chưa được bảo đảm Điều này làm cho tố tụng hình sự nước ta mang tính hình thức, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội nói chung và yêu cầu cải cách tư pháp nói riêng
1.3.2.2 Hướng áp dụng những ưu việt của các mô hình tố tụng khác vào mô
Mỗi mô hình tố tụng hình sự đều có những thế mạnh và đồng thời đều có những
hạn chế của nó Không có mô hình tố tụng hình sự nào là tuyệt đối hoàn hảo Vì vậy,
để tạo ra một mô hình tố tụng phù hợp với yêu cầu của một quốc gia thì cần có sự chọn lọc, học hỏi những ưu việt từ các mô hình tố tụng khác Bên cạnh đó, loại bỏ đi những những yếu tố không còn phù hợp và xem xét sự phù hợp của yếu tố mới đối với điều kiện thực tế của quốc gia mình, bởi vì, đôi khi một mô hình tố tụng là ưu việt của một quốc gia này nhưng lại là sự bất hợp lý đối với một quốc gia khác
Trên cơ sở xác định mô hình tố tụng hình sự hiện nay của nước ta là mô hình pha trộn thiên về xét hỏi, vấn đề cần đặt ra là cần hoàn thiện theo hướng nào để phù hợp với tình hình thực tế của đất nước Có cần phải chuyển sang một mô hình tố tụng hình
13Xem thêm: Nghiên cứu lập pháp – Văn phòng Quốc hội, Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu
cầu cải cách tư pháp, TS Lê Hữu Thể - ThS Nguyễn Thị Thủy, http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap _
luat/ly-luan-ve-nha-nuoc/hoan-thien-mo-hinh-to-tung-hinh-su-viet-nam-theo-yeu-cau-cai-cach-tu-phap, [truy cập ngày 28/10/2010].
Trang 28sự mới hay chỉ cần thay đổi những yếu tố đã lỗi thời không còn phù hợp, thay vào đó là những yếu tố mới phù hợp hơn Với những ưu điểm mà mô hình tố tụng hiện tại có được, còn có những khuyết điểm nhất định cần được giải quyết, vì vậy, với những phân tích về mô hình tố tụng tranh tụng nêu trên, thấy rằng mô hình tố tụng hình sự hiện tại của nước ta cần bổ sung thêm những yếu tố tích cực mà mô hình tố tụng tranh tụng mang lại Cần mở rộng tối đa tính tranh tụng của phiên tòa sơ thẩm và điều này được xem là khâu đột phá Phiên tòa sơ thẩm tranh tụng không chỉ thay đổi hoạt động của những người tham gia phiên tòa, tạo tiền đề khách quan nhất, cần thiết nhất cho bản án công minh mà còn tác động lan tỏa tích cực đến các chủ thể tố tụng khác, đến các giai đoạn tố tụng khác Là con đường duy nhất để lấy lại niềm tin của nhân dân về công lý,
về cơ quan tư pháp Đó cũng chính là một trong những mục tiêu của cải cách tư pháp đang được tiến hành ở nước ta hiện nay Tuy cải cách tư pháp đã triển khai được nhiều năm nhưng dường như chưa tạo được những thay đổi cần thiết trong hoạt động tố tụng hình sự Tố tụng tranh tụng không phân biệt cơ quan, người tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng mà tất cả đều là người tham gia tố tụng, nhưng có chia ra thành chủ thể tham gia tố tụng thuộc bên buộc tội và chủ thể thuộc bên gỡ tội Tòa án không thuộc bên nào mà chỉ là “trọng tài” nghe các bên tranh tụng và phán quyết dựa vào kết quả tranh tụng Việc quy định Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng là đã làm mất đi tính khách quan khi giải quyết vụ án Tòa án phải là “người đứng giữa” hai bên – bên buộc tội và bên gỡ tội Việc quy định cơ quan, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong mô hình tố tụng hiện tại đã dẫn đến cách hiểu là chỉ có cơ quan, người tiến hành tố tụng mới được thu thập chứng cứ, mới tiến hành mọi hoạt động tố tụng, còn người tham gia tố tụng chỉ là người bị xét hỏi, tham gia với tư cách trợ giúp những người tiến hành tố tụng, phụ thuộc hoàn toàn vào hồ sơ mà cơ quan tiến hành tố tụng
đã lập Vì vậy, nếu như mô hình pha trộn giữa xét hỏi và tranh tụng hiện tại ở nước ta thiên về tranh tụng thì sẽ khắc phục được những khuyết điểm của mô hình này
Tranh tụng nhưng không hoàn toàn xóa bỏ xét hỏi, mà việc tranh tụng dựa trên
cơ sở những chứng cứ đã được xét hỏi công khai, khách quan đã được điều tra trước đó hoặc phát sinh ngay tại phiên tòa Với mô hình tố tụng pha trộn thiên về tranh tụng, vai trò của Viện kiểm sát cũng như người bào chữa sẽ được nâng lên bảo đảm tính khách quan, dân chủ xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án Vai trò của Tòa án trong mô hình mới này được củng cố, đảm bảo được tính khách quan khi ra các quyết định, bản
án Việc xét hỏi tại phiên tòa chủ yếu do bên buộc tội (Viện kiểm sát) và bên gỡ tội (người bào chữa) tham gia là chủ yếu Tuy nhiên, do tình hình cụ thể của nước ta chưa
có một đội ngũ người bào chữa hùng hậu về nhân lực cũng như kiến thức cho nên,
Trang 29trong một chừng mực nào đó vai trò của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên còn có nghĩa
vụ bảo gỡ tội cho bị cáo Do đó, việc xét hỏi phải song song tồn tại với tranh luận mà không được tách rời
Trang 30CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG
XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Trong bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học luật nào, việc nghiên cứu luật thực định
là phần quan trọng nhất Từ việc phân tích những quy định của pháp luật hiện hành, cùng với việc xem xét những bản án, quyết định đã được giải quyết đã đưa ra hướng giải quyết chung cho các quy định hiện hành, tạo nên một nền tảng pháp lý thống nhất, góp phần vào việc áp dụng pháp luật một cách đồng bộ Cũng trong quá trình nghiên cứu vấn đề này, đã hé mở ra những bất cập cần được thay thế bởi những quy định mới phù hợp hơn, đồng thời giữ lại những ưu điểm mà luật hiện hành đang có
2.1 Đọc bản cáo trạng
Bản cáo trạng là văn bản đặc thù của pháp luật tố tụng hình sự Đây còn là văn bản thể hiện sự chuyển tiếp trong quá trình giải quyết vụ án từ giai đoạn điều tra sang giai đoạn xét xử Việc đọc bản cáo trạng trước Tòa án của đại diện Viện kiểm sát thể hiện quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong quá trình tố tụng Tòa án xét xử
vụ án trên cơ sở định hướng của Viện kiểm sát Do đó, bản cáo trạng truy tố trước tòa
là căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết vụ án, mọi sai sót về nội dung và thủ tục tống đạt bản cáo trạng mang tính chất quyết định diễn tiến của phiên tòa và kết quả của
vụ án
2.1.1 Những nội dung của bản cáo trạng và thẩm quyền đọc bản cáo trạng
Theo Điều 206 BLTTHS năm 2003 quy định về việc đọc bản cáo trạng thì Kiểm sát viên là người đọc bản cáo trạng Theo khoản 1 Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 thì việc đọc bản cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa là nghĩa vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát Vì vậy, việc đọc bản cáo trạng theo quy định của BLTTHS hiện hành được hiểu là chỉ có đại diện Viện kiểm sát mới có quyền đọc bản cáo trạng tại phiên tòa và Kiểm sát viên
là người đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, nhân danh Viện kiểm sát chứ không phải thực hiện trách nhiệm của cá nhân Kiểm sát viên đó
Theo Điều 167 BLTTHS năm 2003 về bản cáo trạng quy định:
“1 Nội dung bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng
Trang 31nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật hình
và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ; thân nhân của bị can và mọi tình tiết khác có
ý nghĩa đối với vụ án; phần kết luận ghi rõ tội danh và điều khoản Bộ luật hình sự được
áp dụng Phải ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên, chữ kí chức vụ người lập văn bản Bản cáo trạng xác định giới hạn của việc xét xử và tạo khả năng cho bị can tìm hiểu các chứng cứ khẳng định việc phạm tội và các lí lẽ buộc tội đã được kiểm tra để có điều kiện chuẩn bị bào chữa tại phiên tòa.14”
BLTTHS không định nghĩa bản cáo trạng là gì mà chỉ nêu nội dung của bên trong của bản cáo trạng Từ định nghĩa nói trên, có thể nói ngắn gọn bản cáo trạng là văn bản của Viện kiểm sát nhân dân, trình bày và lập luận theo các điều trong Bộ luật hình sự để buộc tội bị can trong vụ án hình sự và để truy tố bị can trước tòa án; nội dung bản cáo trạng tuân theo Điều 167 BLTTHS hiện hành Cùng với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 166 BLTTHS năm 2003 thì Viện kiểm sát phải ra quyết định truy
tố bị can trước Tòa án Từ đây, có thể nhận thấy rằng chỉ có Viện kiểm sát mới có quyền truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng và việc lập bản cáo trạng là trách nhiệm của Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia quá trình giải quyết vụ án trong tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án, bản cáo trạng là sự đúc kết của toàn bộ quá trình điều tra vụ án mà Kiểm sát viên là người xem xét toàn bộ quá trình đó Thực tiễn xét xử, trong nhiều trường hợp bản cáo trạng cần có sự giải thích của Kiểm sát viên để cho mọi người hiểu rõ ràng và chính xác Vì vậy, việc đọc bản cáo trạng bởi Kiểm sát viên quy định tại Điều 206 BLTTHS là sự nhất quán, phù hợp với thực tiễn
14Xem: Viện từ điển học và bách khoa thư Việt Nam, Bản cáo trạng, http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/de
fault.aspx?param=1496aWQ9Mjc4OTMmZ3JvdXBpZD0xMCZraW5kPSZrZXl3b3JkPQ==&page=1, [truy cập ngày 21/7/2010].
Trang 32xét xử Điều 189 BLTTHS năm 2003 quy định Kiểm sát viên cùng cấp phải tham gia phiên tòa, trong trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt hoặc bị thay đổi mà không có Kiểm sát viên dự khuyết thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, từ quy định này có thể nhận thấy rằng việc tham gia phiên tòa hình sự của Kiểm sát viên là bắt buộc Do đó, không thể giao việc đọc Bản cáo trạng cho một chủ thể nào khác khi Kiểm sát viên lại
có mặt tại phiên tòa
Việc Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng chỉ được quy định từ khi có BLTTHS năm 1988 (Điều 180), trước đó việc đọc bản cáo trạng thuộc về Thư ký tòa án15 Đây là một bước tiến đáng kể trong công tác lập pháp ở nước ta Điều này đã nâng cao vị trí của Viện kiểm sát trong quá trình xét xử vụ án Việc xét xử vụ án hình sự trước đây hầu hết phụ thuộc vào Tòa án, vì vậy, việc giao cho Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố trước tòa bước đầu thể hiện sự tranh tụng trong quá trình xét xử vụ án Một trong những cải cách về tư duy lập pháp bắt đầu từ BLTTHS năm 1988, có sự phân định giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Bên cạnh đó, việc đọc bản cáo trạng trước Tòa án
do Kiểm sát viên thực hiện còn tăng thêm quyền công tố của Viện kiểm sát Suy cho cùng, bản cáo trạng cũng là lời luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo, vì vậy, không một chủ thể nào có thể thay thế một cách hợp lý cho vai trò của Kiểm sát viên Điều này cũng là hợp lý, bởi vì, khi đọc xong bản cáo trạng Kiểm sát viên còn phải trình bày
ý kiến bổ sung khi thấy cần thiết Nếu như một chủ thể nào đó thay thế Kiểm sát viên trình bày bản cáo trạng trước tòa, thì họ không thể trình bày ý kiến bổ sung phù hợp với tình hình cụ thể của vụ án vì họ không phải là người theo suốt quá trình điều tra vụ
án và cũng không phải là người ra bản cáo trạng
Việc truy tố bị can ra trước Tòa án thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện Kiểm sát16 Kiểm sát viên là người được Viện trưởng ủy quyền tham gia phiên tòa để bảo vệ bản cáo trạng Chính vì vậy, Kiểm sát viên phải đọc nguyên văn bản cáo trạng, giống với bản cáo trạng tống đạt cho bị cáo, sau đó trình bày ý kiến bổ sung, nếu có Ý kiến bổ sung ở đây chỉ có thể là những giải thích nhằm làm rõ bản cáo trạng, sửa chữa những sai sót về lỗi chính tả, những số liệu do tính toán sai nói chung là không làm thay đổi nội dung của bản cáo trạng nhằm đảm bảo quyền bào chữa cho bị cáo
2.1.2 Những hậu quả pháp lý liên quan đến bản cáo trạng sau khi Kiểm sát viên đọc xong bản cáo trạng và trình bày hết những ý kiến bổ sung
15Xem: Đinh Văn Quế, Thủ tục xét xử các vụ án hình sự xét xử sơ thẩm – phúc thẩm – giám đốc thẩm – tái thẩm,
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003, trang 179 – 180.
16 Xem: Điểm a khoản 2 Điều 36 BLTTHS 2003.
Trang 33Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trước tòa bằng bản cáo trạng là giai đoạn bắt đầu của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa Hoạt động này được tiến hành sau khi đại diện Viện kiểm sát đọc xong bản cáo trạng và trình bày hết những ý kiến bổ sung.
Việc Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày những ý kiến bổ sung (nếu thấy cần thiết) trước Tòa án là quyền và trách nhiệm thực hành quyền công tố, vì vậy, Tòa án phải tạo mọi điều kiện cho Kiểm sát viên thực hành quyền và trách nhiệm đó, không ai được quyền cản trở Tuy nhiên, quyền và trách nhiệm của Kiểm sát viên phải
là những quyền và trách nhiệm mà pháp luật cho phép, Tòa án có quyền xem xét bản cáo trạng của Viện kiểm sát và tất nhiên có quyền kiến nghị về bản cáo trạng đó nếu như chưa phản ánh đúng người, đúng tội và chưa đầy đủ các tình tiết của vụ án Những vấn đề liên quan đến bản cáo trạng có ảnh hưởng trực tiếp đến phiên tòa, Hội đồng xét
xử có thể tiếp tục việc xét xử hay tạm hoãn phiên tòa hoặc ra những quyết định liên quan khác
Sau khi Kiểm sát viên trình bày xong bản cáo trạng, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa tiến hành kiểm tra bản cáo trạng mà Kiểm sát viên đọc trước tòa có đúng với bản cáo trạng bị cáo được tống đạt hay không thông qua việc xét hỏi bị cáo Thực tiễn xét
xử có không ít trường hợp bản cáo trạng mà Kiểm sát viên công tố trước tòa có nội dung khác với bản cáo trạng mà bị cáo được tống đạt Do đó, việc kiểm tra này nhằm bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo, phát hiện những sai sót của Viện kiểm sát trong quá trình tống đạt bản cáo trạng cho bị cáo Nếu bản cáo trạng mà Kiểm sát viên công
tố trước tòa có nội dung khác với bản cáo trạng mà bị cáo được tống đạt thì tùy thuộc vào sự khác biệt là hoàn toàn hay chỉ một phần hoặc có ảnh hưởng ít hay nhiều đối quyền bào chữa của bị cáo mà Hội đồng xét xử phải xem xét quyết định hoãn hay không hoãn phiên tòa Nếu việc tống đạt bản cáo trạng cho bị cáo sai trình tự, thủ tục thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa Suy cho cùng, việc xét hỏi bị cáo trước tòa nhằm chứng minh bị cáo có phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố trong cáo trạng hay không, vì vậy, bước kiểm tra bản cáo trạng giúp Hội đồng xét xử đề ra những nội dung cần thiết phải hỏi để chứng minh bị cáo phạm tội hoặc không phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố Người bào chữa định hướng được nội dung cần thiết phải xét hỏi để gỡ tội cho bị cáo Kiểm tra bản cáo trạng là một thủ tục tố tụng bắt buộc tại phiên tòa Do đó,
để phiên tòa được diễn ra liên tục, tránh xét xử không đúng người đúng tội trong toàn
bộ quá trình giải quyết vụ án thì việc kiểm tra tính đúng đắn của bản cáo trạng là một việc làm cần thiết
Trang 34Một thí dụ cho trường hợp phải hoãn phiên tòa do sai thủ tục tống đạt bản cáo trạng mà Kiểm sát viên thực hiện đối với bị cáo như đã nói trên: ngày 19 tháng 7 năm
2010 Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đưa ra xét xử vụ án Vũ Văn Thiếp tội giết người, trong lúc xét hỏi bị cáo về bản cáo trạng thì Hội đồng xét xử phát hiện bị cáo chưa được tống đạt cáo trạng, việc ký nhận tống đạt bản cáo trạng là do một người
“bạn tù” của bị cáo ký thay Chính từ việc làm sai này của Kiểm sát viên mà Hội đồng xét xử phải quyết định hoãn phiên tòa17 Từ vụ việc này, nếu như việc kiểm tra bản cáo trạng không được xem xét, Hội đồng xét xử giải quyết toàn bộ vụ án thì kết quả đó vẫn không được công nhận do sai thủ tục tố tụng gây mất thời gian, công sức Bên cạnh đó còn ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo, làm mất lòng tin của nhân dân vào pháp luật cũng như các cơ quan thực thi pháp luật
Việc rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn trong cáo trạng của Viện kiểm sát chỉ được tiến hành sau khi xét hỏi18 Vì vậy, nếu thấy cần thiết chủ tọa phiên tòa có thể quyết định quay lại xét hỏi để Hội đồng xét xử xem xét việc rút quyết định của Viện kiểm sát là có căn cứ hay không, nếu như không có căn cứ thì kiến nghị lên Viện kiểm sát cấp trên Tuy nhiên, việc rút một phần hay toàn
bộ quyết định truy tố của Viện kiểm sát trong trường hợp này không ảnh hưởng đến diễn tiến của phiên tòa, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử toàn bộ vụ án
2.2 Trình tự xét hỏi tại phiên tòa
Theo khoản 2 Điều 206 BLTTHS, khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định Như vậy, theo quy định này ngoài người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng có quyền xét hỏi thì người tham gia phiên tòa cũng có quyền yêu cầu xét hỏi
2.2.1 Những người tiến hành tố tụng xét hỏi
2.2.1.1 Xét hỏi bị cáo (Điều 209)
Nhằm đảm bảo cho tính khách quan trong quá trình xác định lời khai của bị cáo tại phiên tòa, trong trường hợp vụ án có nhiều bị cáo thì Hội đồng xét xử phải hỏi riêng
17Xem: Báo Tiền Phong online, Thưa tòa cáo trạng này do bạn tù ký thay, Bảo Thắng, http://www.tienphong.vn/
Phap-Luat/193790/Thua-Toa-cao-trang-nay-do-ban-tu-ky-thay.html, [truy cập ngày 08/10/2010].
Xem: Trang tin Truyền hình cáp Việt Nam (VTC), Đâm chết anh trai bên huyệt mộ, em đi tù chung thân, Ngọc
Linh, http://vtc.vn/7-254862/phap-luat/dam-chet-anh-trai-ben-huyet-mo-em-di-tu-chung-than.htm, [truy cập ngày 08/10/2010].
18 Xem: Điều 195 BLTTHS 2003.
Trang 35từng bị cáo Song song với việc hỏi riêng từng bị cáo, chủ tọa phiên tòa quyết định việc cách ly hay không cách ly giữa các bị cáo Việc cách ly từng bị cáo sẽ được thực hiện khi có căn cứ cho rằng lời khai của bị cáo này có thể làm ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo khác, thí dụ như họ là những người có quan hệ họ hàng, bị ràng buộc với nhau về kinh tế, tình cảm hay tôn giáo… hoặc do tình hình cụ thể của vụ án mà Hội đồng xét
xử quyết định xét hỏi riêng từng bị cáo hay không Một số thí dụ cho trường hợp này là giữa các bị cáo có thể nhận tội thay bằng cách khai sai sự thật một cách phù hợp, khớp với lời khai của các bị cáo khác hoặc việc thỏa thuận với nhau để đưa ra một hồ sơ sai
sự thật Thực tế, không ít những trường hợp có sự thỏa thuận giữa các bị cáo, hoặc giữa một người phạm tội thật sự và một người không phạm tội nhưng vì mục đích kinh tế, tình cảm hay bị đe dọa… mà họ nhận tội thay hoặc buộc phải nhận tội Dưới đây là một trường hợp cụ thể cho vấn đề nhận tội thay:
Ngày 18 tháng 02 năm 2004, Tòa án nhân dân thị xã Bà Rịa tuyên phạt Đỗ Hùng Long, sinh năm 1966, thường trú tại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, chín tháng tù giam về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ” Theo cáo trạng của vụ án, vào ngày 16 tháng 7 năm 2003, Long điều khiển xe ôtô mang biển kiểm soát 53L-0086 từ Thành phố Hồ Chí Minh về Thành phố Vũng Tàu Khi đến đoạn đường vào nhà máy điện Bà Rịa (thị xã Bà Rịa) thì gây tai nạn làm anh
Hà Minh Công chết ngay tại chỗ Sau đó, Long kháng cáo bản án sơ thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Ngày 25 tháng 3 năm 2004, tại phiên tòa phúc thẩm, Long đã xin thay đổi yêu cầu kháng cáo và khai hết toàn bộ sự thật của vụ án Đến đây mới lộ rõ sự thật là hôm xảy ra tai nạn, Long đang ở một gara sửa xe ở quận Bình Thạnh mà không hề điều khiển chiếc xe đã gây tai nạn Tại tòa, Long đã khai: “Bị cáo
vì thương anh Hòa (Nguyễn Đồng Hòa, sinh năm 1964, trú ở quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh) và do anh Hòa nói là đã dàn xếp rồi, không bị tù tội gì nên bị cáo đã nhận tội thay” Còn chính người gây tai nạn là Nguyễn Đồng Hòa cũng khai tại phiên phúc thẩm rằng sau khi gây tai nạn, Hòa bỏ hiện trường về Thành phố Hồ Chí Minh nhờ bạn bè giúp đỡ tiền bạc để bồi thường cho gia đình nạn nhân Vì không có bằng lái
xe lại gây tai nạn, sợ bị xử lý nặng nên Hòa đã nhờ anh Long nhận tội thay Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để tiến hành giải quyết lại từ đầu Rõ ràng, vì thương người không đúng, vì ít hiểu biết luật pháp mà Đỗ Hùng Long đã gây rắc rối cho các cơ quan tiến hành tố tụng
Sau khi sự thật được sáng tỏ, do tính chất nghiêm trọng của vụ án, hồ sơ được chuyển lên cấp tỉnh thụ lý Ngày 10 tháng 01 năm 2005, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa –
Trang 36Vũng Tàu đưa vụ án trên ra xét xử theo thủ tục từ đầu Tòa đã tuyên phạt Nguyễn Đồng Hòa bốn năm tù giam19.
Từ vụ án trên, có thể thấy rằng việc xét hỏi chỉ căn cứ vào cáo trạng của Viện kiểm sát, việc xét hỏi bị cáo không kỹ càng, từ đó đã dẫn đến một bản án không đúng người phạm tội Vì vậy, trong quá trình xét hỏi Hội đồng xét xử không chỉ căn cứ vào bản cáo trạng để xét hỏi bị cáo nhằm buộc tội bị cáo theo cáo trạng mà còn dựa vào các tình tiết, hồ sơ vụ án nhằm xét hỏi để xem xét sự phù hợp của bản cáo trạng với tình hình vụ án Trong trường hợp này, nếu Hội đồng xét xử yêu cầu bị cáo trình bày lại diễn biến của vụ án chắc rằng sẽ nhận thấy những mâu thuẫn hoặc thiếu sót so với hồ
sơ vụ án, từ đó bằng nghiệp vụ của mình những người tiến hành tố tụng phát hiện được người phạm tội thật sự trong vụ án
Việc khai gian dối hay thông đồng nhau sẽ được thực hiện dễ dàng hơn khi các
bị cáo nghe được lời khai của nhau trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa Vì vậy, việc cách ly giữa các bị cáo với nhau là một điều hết sức quan trọng trong quá trình xét hỏi, bởi lẽ, không thể có sự giả dối nào lại trùng hợp với nhau một cách tuyệt đối Khi đó bằng nghiệp vụ và kinh nghiệm của mình chắc rằng những người tiến hành tố tụng sẽ tìm ra được sự bất hợp lý trong từng lời khai giữa các bị cáo nhằm xét xử đúng người, đúng tội Việc cách ly không chỉ được áp dụng cho giữa các bị cáo với nhau mà khi cần thiết có thể cách ly người làm chứng với bị cáo hoặc những người liên quan khác đảm bảo cho lời khai của bị cáo là khách quan nhất
Việc cách ly có thể là cách ly tất cả các bị cáo với nhau hoặc cách ly một hoặc một vài bị cáo ra khỏi phòng xử án Trong từng trường hợp cụ thể của vụ án mà Hội đồng xét xử quyết định sẽ cách ly tất cả hay cách ly một vài bị cáo Các bị cáo khi bị cách ly ra khỏi phòng xử án, có thể được đưa vào cùng một phòng cách ly, có thể mỗi
bị cáo ở từng phòng khác nhau tùy thuộc vào tính chất của vụ án mà Hội đồng xét xử quyết định
Bị cáo bị cách ly khi trở lại phòng xử án sẽ được thông báo lại nội dung lời khai của bị cáo trước và có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo đó Với quy định này, về mặt câu chữ rõ ràng khi bị cáo bị cách ly trở lại phòng xử án thì sẽ không bị cách ly nữa và
bị cáo được xét hỏi đầu tiên cũng không được cách ly sau khi được hỏi xong, bởi vì bị cáo được hỏi trước phải ở lại phòng xử án để bị cáo bị cách ly sau đó đặt câu hỏi Như
đã nói, việc cách ly nhằm đảm bảo lời khai của bị cáo là khách quan nhất, vì vậy không nên hiểu một cách máy móc rằng khi đã bị cách ly rồi thì không cách ly nữa Trong
19Xem: Trang tin Việt Báo, Những vụ án nhận tội thay người,
http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Nhung-vu-an-nhan-toi-thay-nguoi/55055977/218/, [truy cập ngày 01/9/2010].
Trang 37những trường hợp cụ thể, Hội đồng xét xử có thể quyết định cách ly để hỏi riêng một hoặc một vài bị cáo, có nghĩa là bị cáo sau khi đã bị cách ly trở lại phòng xử án vẫn có thể tiếp tục bị cách ly Sau đó, Hội đồng xét xử tiến hành đối chất giữa các bị cáo đưa
ra lời khai không thống nhất với nhau về một tình tiết nào đó của vụ án
Vấn đề thông báo lại nội dung lời khai của bị cáo trước cho bị cáo được xét hỏi sau biết sẽ được thực hiện trước khi bắt đầu xét hỏi hay sau khi xét hỏi xong từng bị cáo vẫn thuộc về quyết định của Hội đồng xét xử Lời khai của bị cáo trước được thông báo cho bị cáo sau có nghĩa là chỉ được nghe tóm tắt nội dung chứ không phải là nguyên văn lời khai của bị cáo được xét hỏi trước Điều này là phù hợp, bởi có những
vụ án việc xét hỏi một bị cáo có thể kéo dài hàng giờ thậm chí suốt cả buổi thì việc nhắc lại toàn bộ lời khai của bị cáo đó cho bị cáo được xét hỏi sau là một việc không khả thi Hội đồng xét xử chỉ thông báo lại nội dung lời khai của bị cáo được xét hỏi trước cho các bị cáo được xét hỏi sau biết về những vấn đề có liên quan với nhau trong lời khai giữa các bị cáo Việc thông báo này có thể được thực hiện trước hoặc sau khi xét hỏi bị cáo sau tùy thuộc vào sự quyết định của Hội đồng xét xử Có thể thông báo trước rồi yêu cầu bị cáo được xét hỏi sau đưa ra ý kiến về lời khai của bị cáo trước, cũng có thể xét hỏi bị cáo sau xong mới thông báo lại lời khai của bị cáo trước hoặc cũng có thể không thông báo lời khai của của các bị cáo trước ngay lúc đó mà chỉ thông báo khi một số bị cáo hoặc tất cả các bị cáo đã trở lại phòng xử án Sau đó, tiến hành đối chất làm rõ những mâu thuẫn trong lời khai giữa các bị cáo Như vậy, mục đích của việc thông báo này là nhằm đối chất giữa các bị cáo khi lời khai của của họ không thống nhất với nhau về một vấn đề cụ thể để tìm ra đâu là sự thật trong vụ án Việc thông báo lại lời khai của bị cáo được xét hỏi trước cho bị cáo được xét hỏi sau biết là bắt buộc phải thực hiện, bởi vì bị cáo được xét hỏi sau có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo được xét hỏi trước đó nếu như nhận thấy câu trả lời của bị cáo được xét hỏi trước chưa rõ hoặc không đồng ý với câu trả lời đó Vấn đề này cũng cần được hiểu là
bị cáo được xét hỏi trước cũng được quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo được xét hỏi sau
Việc thông báo lại toàn bộ nội dung câu trả lời của bị cáo được xét hỏi trước giống như việc tường trình lại sẽ làm mất đi ý nghĩa của việc cách ly giữa các bị cáo hoặc giữa bị cáo với những người tham gia xét xử khác Bởi vì, khi đó các bị cáo sẽ biết được tất cả nội dung lời khai và như đã nói ở trên, các bị cáo vẫn thực hiện được việc thông đồng nhau để làm sai lệch sự thật khách quan của vụ án
Để đảm bảo cho lời khai của bị cáo không bị ảnh hưởng bởi những người tiến hành tố tụng, cũng như xem xét hành vi phạm tội của bị cáo mà Viện kiểm sát truy tố
có phù hợp hay không, khoản 2 Điều 209 BLTTHS năm 2003 quy định: “Bị cáo trình
Trang 38bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn” Có nhiều trường hợp
bị cáo ra trước tòa tinh thần bị ức chế không còn bình tĩnh, nếu Hội đồng xét xử đặt câu hỏi cho bị cáo trước khi bị cáo trình bày về những tình tiết của vụ án thì lời khai của bị cáo sẽ phụ thuộc rất nhiều vào những câu hỏi của Hội đồng xét xử Khi đó, lời khai của
bị cáo về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án không còn khách quan mà phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của Hội đồng xét xử Chính vì những vấn đề này, trước khi xét hỏi bị cáo Hội đồng xét xử yêu cầu bị cáo trình bày ý kiến của mình về bản cáo trạng cũng như các tình tiết của vụ án Bị cáo có thể thừa nhận tất cả những tình tiết phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố hoặc không thừa nhận hoặc thừa nhận một phần cáo trạng Nhằm đảm bảo cho lời khai của bị cáo là khách quan nhất, trong khi bị cáo trình bày những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử không đưa ra các câu hỏi quá cụ thể cũng như các câu hỏi mang tính chất bức cung hoặc mớm cung Sau đó, Hội đồng xét
xử hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa rõ ràng, chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn Trong trường hợp bị cáo có nhờ người bào chữa thì việc trình bày ý kiến về bản cáo trạng, các tình tiết của vụ án có thể do bị cáo thực hiện hoặc do người bào chữa thực hiện thay bị cáo Tuy nhiên, bị cáo có quyền không trình bày ý kiến về bản cáo trạng cũng như các tình tiết của vụ án, khi đó phiên tòa vẫn được tiếp tục với những nội dung khác theo thủ tục tố tụng
Hội đồng xét xử không đại diện cho bên buộc tội hay bên gỡ tội mà thực hiện chức năng xét xử nhằm xác định mọi tình tiết của vụ án một cách khách quan, đầy đủ
và toàn diện, chính vì thế mà Hội đồng xét xử có quyền hỏi về mọi vấn đề liên quan đến vụ án Việc cho phép Hội đồng xét xử hỏi về toàn bộ vụ án là một điều phù hợp, bởi vì, vai trò gánh vác trách nhiệm xét xử là của Tòa án mà Hội đồng xét xử là đại diện Nếu có sự phân công cho Kiểm sát viên hay người bào chữa hỏi về từng vấn đề
cụ thể, Hội đồng xét xử chỉ được phép hỏi về những vấn đề nào trong vụ án thì Tòa án khó có thể đạt được mục đích xét xử Bởi lẽ, khi Kiểm sát viên hay người bào chữa không làm tròn trách nhiệm của mình thì Hội đồng xét xử yêu cầu họ thực hiện, nhưng nếu họ không thể thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả thì Hội đồng xét xử buộc phải làm thay họ Do đó, nếu không cho Hội đồng xét xử hỏi về toàn bộ vụ án thì trong một số trường hợp cụ thể vụ án sẽ không được xét xử một cách toàn diện được
Đối với Hội đồng xét xử gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân thì Thẩm phán là người hỏi trước, sau đó đến Hội thẩm nhân dân Đối với hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là người hỏi đầu tiên, sau đó đến Thẩm phán không làm chủ tọa phiên tòa rồi lần lượt các Hội
Trang 39thẩm nhân dân tham gia xét hỏi bị cáo Thẩm phán là người hỏi chủ yếu về các tình tiết mang tính buộc tội hoặc gỡ tội cho các bị cáo trên cơ sở phân tích luật nhằm phù hợp với các cấu thành tội phạm để buộc tội hoặc chứng minh vô tội Bên cạnh đó, Hội thẩm nhân dân tham gia phiên tòa nhằm đảm bảo tính dân chủ trong việc xét xử Vì vậy, Hội thẩm nhân dân hỏi bị cáo về những vấn đề mang tính xã hội, thuần phong mỹ tục xem xét hành vi mà bị cáo thực hiện mang tính chất như thế nào đối với xã hội Có thể nói rằng, Thẩm phán xét hỏi về “lý” còn Hội thẩm nhân dân xét hỏi về “tình” đảm bảo cho bản án mang tính thuyết phục về cả tình và lý trong quần chúng nhân dân.
Để tăng cường việc tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần đổi mới hoạt động tư pháp, BLTTHS năm 2003 đã bổ sung thêm một khoản mới nhằm phát huy tính chủ động của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo về quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Ngoài thẩm quyền và trình tự xét hỏi chung, Điều luật còn quy định trách nhiệm xét hỏi của những người này theo chức năng tố tụng tại phiên tòa:
- Nhằm chứng minh những chứng cứ xác định có tội và người phạm tội đã nêu trong bản cáo trạng Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, Kiểm sát viên xét hỏi về toàn bộ vụ án, những tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội cũng như gỡ tội đối với bị cáo Song song với tư cách là chủ thể buộc tội cho
bị cáo, Kiểm sát viên còn là người giám sát toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, vì vậy, khi có những thay đổi về lời khai, chứng cứ trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa Kiểm sát viên nhất thiết phải là người đưa ra lập luận để bảo vệ cáo trạng, đồng thời làm rõ những vấn đề mới phát sinh xem có phù hợp với hồ sơ vụ án hay không Cùng với việc buộc tội, Kiểm sát viên còn phải xét hỏi về những tình tiết nhằm gỡ tội cho bị cáo Nếu như việc xét hỏi chỉ phiến diện theo hướng buộc tội hoặc gỡ tội thì chắc chắn việc giải quyết vụ án sẽ không khách quan được
- Người bào chữa hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bào chữa, có nghĩa là hỏi về những tình tiết để chứng minh không có sự việc phạm tội xảy ra hoặc chứng minh bị cáo không phạm tội hoặc tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giảm mức bồi thường hoặc không phải bồi thường thiệt hại đối với hành vi mà bị cáo gây ra Là người bảo vệ cho bị cáo trước pháp luật, có kiến thức về pháp luật để bảo vệ cho bị cáo, người bào chữa tham gia phiên tòa có trách nhiệm gỡ tội cho bị cáo, cho nên người bào chữa chỉ được quyền hỏi về những tình tiết nhằm chứng minh sự vô tội của
bị cáo hoặc nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Do đó, việc quy định cho người bào chữa hỏi về những tình tiết gỡ tội cho bị cáo là một điều phù hợp
Trang 40- Người bảo vệ quyền lợi của đương sự hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của đương sự Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự là người bị thiệt hại
do tội phạm gây ra, vì vậy, họ có quyền nhờ người bảo vệ quyền lợi cho họ Vì chỉ bảo
vệ quyền lợi cho đương sự cho nên người bảo vệ quyền lợi cho đương sự không được quyền hỏi về những tình tiết buộc tội hay gỡ tội mà chỉ có quyền hỏi về những vấn đề liên quan đến việc nhằm đảm bảo cho việc bồi thường thiệt hại Nếu cho họ hỏi về toàn
bộ vụ án thì không cần thiết mà chỉ làm mất thời gian, đôi khi còn làm xáo trộn thêm
sự việc của vụ án
- Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm cho quyền và lợi ích của những người tham gia phiên tòa cũng như góp phần tìm ra sự thật của vụ án Điều luật cho phép những người tham gia phiên tòa có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết liên quan đến họ, nếu nhận thấy rằng các tình tiết đó chưa được làm rõ, có sự mâu thuẫn hoặc không có lợi cho quyền hoặc lợi ích của họ Theo quy định này, những người tham gia phiên tòa chỉ được quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm chứ họ không được trực tiếp hỏi về những tình tiết liên quan đến họ Nếu như cho họ trực tiếp hỏi thì khi đó phiên tòa sẽ trở nên lộn xộn, việc tìm ra sự thật của vụ án sẽ rất khó khăn
Trong một số trường hợp, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ngắt lời của những người tiến hành tố tụng đang tham gia vào việc xét hỏi khi nhận thấy những vấn
đề đang xét hỏi đã được xét hỏi trước đó hoặc là những tình tiết không liên quan đến
vụ án
Bị cáo có thể trả lời tất cả các câu hỏi của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên nêu
ra, cũng có thể trả lời một số câu hoặc có thể im lặng Sự im lặng cũng là một trong những cách thức thể hiện quyền bào chữa của bị cáo Trường hợp bị cáo trả lời các câu hỏi một cách thành khẩn thì Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự cho bị cáo theo Điều 46 Bộ luật hình sự Tuy nhiên, trong trường hợp bị cáo im lặng hoặc trả lời gian dối, quanh co các câu hỏi mà Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên đưa ra thì không được xem đó là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Bởi lẽ, theo Điều 10 BLTTHS thì trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng
Bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội và theo Điều 72 BLTTHS thì lời khai của bị cáo chỉ coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án Không được dùng lời nhận tội của bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội Mặt khác, Điều 48 Bộ luật hình sự cũng không quy định việc không trả lời hoặc trả lời gian dối, quanh co của bị cáo là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự