1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG ỞVIỆT NAM HIỆN NAY lý LUẬN và THỰC TIỄN

55 163 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 613,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Công chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp theo nghĩa rộng và cung cấp chứng cứ cho hoạt động của tòa án theo nghĩa hẹp, nhằm góp phần bảo đảm quyền lợi, lợi ích hợp pháp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ



Trang 2

MỤC LỤC Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 3

1.1 Khái niệm về công chứng 3

1.1.1 Khái niệm công chứng ở Việt Nam 3

1.1.2 Quan niệm về công chứng trên thế giới 7

1.2 Đặc điểm của công chứng 10

1.2.1 Hoạt động công chứng vừa mang tính công quyền, vừa mang tính dịch vụ công 10

1.2.2 Hành vi công chứng chỉ được thực hiện bởi công chứng viên 11

1.2.3 Văn bản hợp đồng, giao dịch sau khi được công chứng có giá trị thi hành và giá trị chứng cứ 11

1.3 Vai trò của công chứng 13

1.4 Lịch sử phát triển hoạt động công chứng ở Việt nam 14

1.4.1 Hoạt động công chứng ở nước ta trước cách mạng tháng 8/1945 14

1.4.2 Hoạt động công chứng ở nước ta từ 1945-1991 15

1.4.3 Hoạt động công chứng ở nước ta từ 1991 đến nay 16

1.5 Các nguyên tắc thực hiện hoạt động công chứng 17

1.5.1 Nguyên tắc độc lập thực hiện công chứng và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật 17

1.5.2 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa 18

1.5.3 Nguyên tắc giữ bí mật về nội dung công chứng và những thông tin có liên quan đến việc công chứng 19

1.5.4 Nguyên tắc bảo đảm tính khách quan, trung thực, chính xác trong hoạt động công chứng 19

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 2.1 Chủ thể thực hiện hành vi công chứng - Công chứng viên 21

2.1.1 Tiêu chuẩn để trở thành công chứng viên 21

2.1.2 Hoạt động của Công chứng viên 22

2.2 Tổ chức hành nghề công chứng 24

2.2.1 Phòng công chứng 24

2.2.2 Văn phòng công chứng 25

2.2.3 Hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng 26

2.3 Phạm vi công chứng 27

2.3.1 Hợp đồng, giao dịch bắt buộc phải công chứng 28

Trang 3

2.3.2 Hợp đồng, giao dịch do cá nhân tự nguyện công chứng 29

2.3.3 Thẩm quyền công chứng đối với các hợp đồng, giao dịch về bất động sản 29

2.4 Trình tự thủ tục thực hiện việc công chứng 30

2.5 Công tác lưu trữ hồ sơ công chứng 31

2.6 Phí công chứng, thù lao công chứng, chi phí khác 32

2.7 Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện công chứng 33

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG HIỆN NAY – BẤT CẬP VÀ HƯỚNG ĐỀ XUẤT 35

3.1 Thực tiễn của hoạt động công chứng tại “Phòng công chứng số 2 – TP.Cần Thơ” 35

3.1.1 Sơ lược về việc thành lập và cơ cấu tổ chức của phòng công chứng số 2 – TP.Cần Thơ 35

3.1.2 Hoạt động của Phòng công chứng số 2 – TP.Cần Thơ 37

3.1.3 Quy trình, thủ tục thực hiện việc công chứng tại Phòng công chứng số 2 – TP.Cần Thơ 39

3.2 Những khó khăn, bất cập trong hoạt động công chứng 40

3.2.1 Vấn đề công chứng ngoài trụ sở, ngoài giờ bị hạn chế 40

3.2.2 Bất cập của hoạt động công chứng liên quan đến lĩnh vực đất đai 42

3.2.3 Tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên còn dễ dãi 43

3.2.4 Bất cập về trình tự, thủ tục công chứng 44

3.3 Hướng đề xuất để hoàn thiện hoạt động công chứng 45

3.3.1 Đề xuất cho vấn đề công chứng ngoài trụ sở, ngoài giờ 45

3.3.2 Đề xuất giải quyết các bất cập của hoạt động công chứng liên quan đến lĩnh vực đất đai 46

3.3.3 Đề xuất quy định lại tiêu chuẩn bổ nhiệm Công chứng viên 47

3.3.4 Đề xuất giải quyết bất cập về trình tự, thủ tục công chứng 47

3.3.5 Đề xuất thêm một số quy định mới cho Luật công chứng 48

Phần kết luận 50

Danh sách tài liệu tham khảo 51

Phụ lục kèm theo 52

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp theo nghĩa rộng và cung cấp chứng cứ cho hoạt động của tòa án theo nghĩa hẹp, nhằm góp phần bảo đảm quyền lợi, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội; có tác dụng góp phần chủ động phòng ngừa các tranh chấp và vi phạm pháp luật, cung cấp tài liệu có giá trị chứng cứ phục vụ việc giải quyết các tranh chấp, đồng thời góp phần vào việc duy trì kỷ cương pháp luật trong xã hội

Với sự điều chỉnh của Luật công chứng, hoạt động công chứng ở nước ta trong những năm gần đây đã có nhiều đổi thay theo hướng tích cực, đóng góp một phần rất lớn vào việc thúc đẩy, hỗ trợ các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, đã đi vào cuộc sống và có ý nghĩa thiết thực Song, tình hình hoạt động công chứng hiện nay vẫn còn nhiều điểm bất cập khi thực thi Luật công chứng, đối với những bất cập đó chúng ta cần phải đưa ra những giải pháp để khắc phục Đồng thời, nhận thấy được tầm quan trọng không nhỏ của hoạt động công chứng đối với các giao dịch dân sự cũng như sự phát triển của nền kinh tế nước ta nên người viết đã chọn đề tài này để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Ngày nay, cùng với sự phát triển về pháp luật công chứng của các quốc gia trên thế giới, pháp luật công chứng ở Việt Nam cũng có những bước phát triển ngày càng hoàn thiện Luật công chứng ở nước ta ra đời đã phục vụ rất tốt cho nhu cầu công chứng của người dân Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm mà Luật công chứng đạt được thì vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định Xã hội ngày càng phát triển dẫn đến nhiều trường hợp phát sinh mà luật không thể dự liệu trước tất cả Chính vì vậy,

đã gây nhiều khó khăn cho các chủ thể thực hiện hoạt động công chứng trong việc áp dụng Luật công chứng và khó khăn cho cả người dân Do đó, mục đích nghiên cứu

đề tài của người viết là tìm hiểu những quy định của Luật công chứng cũng như việc

áp dụng nó trong thực tiễn để tìm ra những điểm khó khăn, bất cập trong hoạt động công chứng, đồng thời đưa ra những ý kiến góp phần hoàn thiện luật

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các vấn đề về hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay (các vấn đề mang tính khái quát chung và các quy định của pháp luật về Công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, phạm vi công chứng, trình tự thủ tục công chứng) đồng thời đi vào tìm hiểu thực tiễn hoạt động của một số phòng công chứng

mà đặc biệt là “Phòng công chứng số 2 – TP.Cần Thơ”

Trang 5

4 Phương pháp nghiên cứu

"Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn", là một đề tài thuộc ngành khoa học pháp lý Do đó, để tìm hiểu người viết đã sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, phương pháp logic Bên cạnh đó, để nghiên cứu

đề tài tốt hơn người viết còn sử dụng những tài liệu và phương tiện như: những văn bản pháp luật điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến công chứng, giáo trình, các sách chuyên khảo

5 Bố cục đề tài

Bố cục đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về hoạt động công chứng

Chương 2: Quy định của pháp luật về hoạt động công chứng

Chương 3: Thực tiễn của hoạt động công chứng - Bất cập và hướng đề xuất

Trang 6

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG

CHỨNG

1.1 Khái niệm về công chứng

1.1.1 Khái niệm công chứng ở Việt Nam

Sự xuất hiện và phát triển của nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường đã làm cho các mối quan hệ trong xã hội rất phát triển, nhất là mối quan hệ giao dịch (giao dịch dân sự) Trong quá trình ký kết, thực hiện các giao dịch nếu không có sự hướng dẫn, quản lý, kiểm soát của Nhà nước bằng biện pháp cụ thể thì người thực hiện giao dịch dễ bị lừa gạt phát sinh tranh chấp hoặc chính họ vô tình vi phạm pháp luật liên quan đến giao dịch Các tranh chấp, vi phạm sẽ xảy ra ngày càng nhiều, gây khó khăn, thiệt hại cho công dân, cơ quan, tổ chức hoặc Nhà nước

Khi có tranh chấp xảy ra trong giao dịch, các đương sự thường có xu hướng tìm kiếm những chứng cứ để bênh vực cho lý lẽ của mình hoặc bác bỏ lập luận của đối phương Thực tế cho thấy tranh chấp trong xã hội ngày càng tăng, vụ việc càng phức tạp, trong đó có nguyên nhân là do không có chứng cứ xác thực Để phòng ngừa và đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch mà đương sự tham gia, họ cần đến loại chứng cứ xác thực, chứng cứ đáng tin cậy, hơn hẳn các loại giấy tờ không có chứng nhận xác thực hoặc chỉ trình bày bằng miệng Khi đó, chứng cứ công chứng (văn bản công chứng1) là thứ họ cần tìm đến Để có được thứ chứng cứ công chứng thì đương

sự phải mang văn bản hợp đồng, giao dịch của mình đến các "tổ chức thực hiện hoạt động công chứng" để công chứng văn bản hợp đồng, giao dịch đó Vậy, công chứng

là gì?

Công chứng là một trong những hoạt động bổ trợ tư pháp, một nghề đặc thù Hiểu một cách chung nhất, “công chứng” là một từ ghép, trong đó “công” chỉ nhà nước, “chứng” chỉ vai trò của người làm chứng Ý nghĩa của nó là sử dụng quyền lực nhà nước để làm chứng cho đương sự các bên trong hợp đồng, giao dịch Trên thực

tế, khái niệm công chứng là một vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ các vấn đề khác liên quan đến công chứng, đặc biệt là việc xây dựng thể chế, xác định mô hình tổ chức đảm bảo phát huy vai trò công chứng và hiệu quả công chứng trong đời sống xã hội Tuy nhiên, ở Việt Nam, kể từ khi thành lập đất nước cho đến nay khái niệm công chứng đã được nhìn nhận theo những cách khác nhau trong những văn bản pháp luật được ban hành qua từng thời kỳ

1

Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch bằng văn bản đã được thực hiện việc công chứng Văn bản công chứng gồm 2 phần: phần văn bản hợp đồng, giao dịch và phần lời chứng của Công chứng viên

Trang 7

Trước tiên, theo Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp - một thông tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, khai sinh hệ thống công chứng nhà nước ở Việt Nam - công chứng nhà nước2 được xác định là "một hoạt động của Nhà nước với mục đích giúp các công dân, cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản,

sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện" Lần đầu tiên kể từ khi thành lập nước (2/9/1945), khái niệm công chứng nhà nước được đưa ra ở Việt Nam, bước đầu đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế ở giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi Tuy nhiên, là văn bản pháp lý đầu tiên về công chứng trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, do

đó, văn bản này không thể tránh được các hạn chế Đó là: chưa xác định được chủ thể, đối tượng của hoạt động công chứng cũng như nội dung việc công chứng, chưa phân biệt rõ hoạt động công chứng với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác Quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm tăng nhanh cả về số lượng và quy mô các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động công chứng Do đó, trong vòng 10 năm (1991 - 2000), Chính phủ đã ban hành ba nghị định về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, đó là: Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định số 45/HĐBT); Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định số 31/CP) và Nghị định

số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực (sau đây gọi tắt là Nghị định số 75/2000/NĐ-CP)

Theo Nghị định số 45/HĐBT tại Điều 1, công chứng nhà nước được xác định

như sau: "công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng

và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phầnphòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ"

Đến Nghị định số 31/CP, công chứng nhà nước được xác định: "Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa

vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các hợp đồng, giấy tờ đã

2

Trước khi luật công chứng năm 2006 có hiệu lực thì chỉ có duy nhất nhà nước mới có thẩm quyền thực hiện công chứng nên lúc bấy giờ thuật ngữ “công chứng” đi kèm với “nhà nước”

Trang 8

được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc y ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu"

So với Thông tư số 574/QLTPK, khái niệm công chứng ở hai Nghị định 45/HĐBT và 31/CP đã được xác định cụ thể, rõ ràng hơn Và nếu so sánh Nghị định

số 45/HĐBT với Nghị định số 31/CP thì Nghị định số 31/CP đã bước đầu có sự phân biệt hành vi công chứng và hành vi chứng thực Tuy nhiên, ý nghĩa pháp lý của hành

vi công chứng và hành vi chứng thực chưa được phân biệt Quy định “chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giấy tờ" ở cả hai nghị định này còn quá chung chung, khó hiểu, dễ gây nên sự tùy tiện và các hệ quả khác nhau trong thực tiễn hoạt động công chứng

Chỉ đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, khái niệm công chứng mới được tách

bạch khỏi khái niệm chứng thực Khái niệm công chứng ở Nghị định này đã được xác định khoa học hơn, tiệm cận gần hơn với quan niệm chung của thế giới về công chứng Theo Nghị định này, "công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này" (khoản 1 Điều 2) Cùng với việc xác định khái niệm công chứng như trên, Nghị định số 75/2000/NĐ-

CP đã xác định khái niệm chứng thực: "là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này" (khoản 2 Điều 2)

Điểm mới quan trọng nữa của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP là đã thay đổi tên gọi từ "Phòng công chứng nhà nước" ở các văn bản pháp lý trước đó thành "Phòng công chứng" Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo tiền đề để tiến tới chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa và xã hội hóa nghề công chứng ở Việt Nam Tuy nhiên, khái niệm công chứng của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP còn có một số điểm chưa phù hợp, đó là:

Thứ nhất, mặc dù Nghị định đã có sự phân biệt hành vi công chứng và hành vi

chứng thực bằng hai khái niệm khác nhau, song xem xét tổng thể Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, có thể thấy, hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực vẫn được đồng nhất cả về chủ thể, đối tượng và ý nghĩa pháp lý

Thứ hai, nếu Thông tư số 574/QLTPK cũng như Nghị định số 45/CP và Nghị định số 31/CP chưa xác định chủ thể của hoạt động công chứng, thì Nghị định số

Trang 9

75/2000/NĐ-CP lại xác định chủ thể của hoạt động công chứng là Phòng công chứng: "Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận " Thực tiễn hoạt động công chứng cho thấy, dù được tổ chức như thế nào, công chứng vẫn là hoạt động của công chứng viên, công chứng viên phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi công chứng của mình Quy định như trên đã làm "mờ" đi vai trò của công chứng viên trong hoạt động công chứng

Thứ ba, xem xét một cách hệ thống các văn bản pháp lý về công chứng ở nước

ta từ năm 1987 đến khi Nghị Định 75/2000/NĐ-CP vẫn còn được áp dụng toàn phần cho thấy, dù sử dụng thuật ngữ "Công chứng nhà nước" hay "Công chứng" thì quan niệm về công chứng của Việt Nam vẫn không thay đổi, đó là: công chứng là hoạt động của Nhà nước, do Nhà nước trực tiếp thực hiện Với quan niệm này, công chứng Việt Nam được tổ chức theo mô hình công chứng nhà nước Cụ thể, phòng công chứng là cơ quan nhà nước, công chứng viên là công chức nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, nhà nước bảo đảm toàn bộ cơ sở vật chất cho hoạt động công chứng Đây là mô hình công chứng mang tính đặc thù của Liên Xô (cũ)

và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa trước đây trong điều kiện kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp

Những điểm chưa phù hợp trên đã dẫn đến các cách hiểu khác nhau (thậm chí trái ngược nhau) về công chứng, đó là: công chứng là một cơ quan hành chính (cũng

có ý kiến cho là cơ quan hành chính tư pháp), hoạt động công chứng là hoạt động quản lý nhà nước; công chứng là một tổ chức nghề nghiệp, hoạt động công chứng là hoạt động nghề nghiệp, hỗ trợ công dân, hỗ trợ quản lý nhà nước và hỗ trợ tư pháp,

do đó, công chứng là một thiết chế bổ trợ tư pháp cũng giống như luật sư

Sự thiếu thống nhất trong nhận thức về công chứng như trên đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng, hiệu quả và vai trò công chứng trong đời sống xã hội Nguyên nhân chính ở đây là do trong những giai đoạn này chúng ta chưa có được nhận thức đúng về bản chất của công chứng Như vậy, để có được nhận thức thống nhất, chuẩn xác về công chứng, tạo tiền đề cho sự phát triển công chứng, phát huy vai trò công chứng trong đời sống xã hội, về mặt lý luận, chúng ta cần nghiên cứu, hiểu rõ bản chất của công chứng đồng thời đưa ra một khái niệm phù hợp hơn Đây

là một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự ra đời của Luật công chứng hiện nay (Luật số 82/2006/QH11, sau đây gọi tắt là Luật công chứng năm 2006) - văn bản luật

có giá trị pháp lý cao nhất trong lĩnh vực công chứng và đang được áp dụng ở nước

ta hiện nay

Trang 10

Khái niệm công chứng theo Luật công chứng năm 2006, Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch

khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng (Điều 2)

Đây là khái niệm về công chứng hoàn thiện nhất từ trước đến nay, dựa trên nền tảng của khái niệm công chứng trong nghị định 75/2000/NĐ-CP đồng thời gỡ bỏ được những điểm không phù hợp trong nghị định này mà chúng ta vừa phân tích Theo khái niệm công chứng trong Luật công chứng năm 2006, chúng ta có thể nhận thấy Chủ thể của hoạt động công chứng đã được xác định rõ là công chứng viên Đây là một điểm tiến bộ rất lớn của Luật công chứng năm 2006 so với các văn bản pháp luật quy định về công chứng ban hành trước đó, có ý nghĩa giúp chúng ta nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của công chứng viên đồng thời làm mờ nhạt đi sự độc quyền của nhà nước trong hoạt động công chứng, mở ra con đường xã hội hóa hoạt động công chứng3 Bên cạnh đó, khái niệm này cũng đã nêu rõ công việc chính của công chứng

viên (chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch), đối tượng

của việc công chứng (hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản) và phạm vi của việc công chứng (công chứng viên được quyền công chứng các hợp đồng, giao dịch mà luật đòi hỏi phải công chứng hoặc các bên trong hợp đồng, giao dịch yêu cầu được công chứng)

Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới người ta đều xem bản chất công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ công4 (service public), là một hoạt động xã hội nghề nghiệp Khái niệm công chứng trong Luật công chứng 2006 của nước ta đã bảo đảm được sự phù hợp, hài hòa, tương thích với quan niệm của thế giới về công chứng, tạo tiền đề cho sự phát triển công chứng và nâng cao hiệu quả công chứng, phát huy vai trò công chứng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

1.1.2 Quan niệm về công chứng trên thế giới

Theo Từ điển Luật học của Mỹ, công chứng (Notarial) là hoạt động của công chứng viên… Công chứng viên, theo tiếng Latinh là "Notarius" "Notarius" trong luật Anh cổ là một người sao chép hay trích lục các loại văn bản, giấy tờ khác, người làm chứng Trong luật La Mã, công chứng viên là người ghi chép, thư ký, tốc ký,

Trang 11

người ghi chép các hoạt động trong nghị viện của tòa án, hoặc ghi chép theo lời người khác đọc, người soạn các di chúc và giấy chuyển nhượng quyền sở hữu Theo cách giải thích trên, xét về nguồn gốc, công chứng là nghề sớm xuất hiện trong lịch

sử loài người (từ thời La Mã cổ đại), với vai trò ghi chép, soạn thảo văn bản và làm chứng Nghiên cứu các tài liệu về công chứng cho thấy, trên thế giới có ba hệ thống công chứng: Hệ thống công chứng La tinh tương ứng với hệ thống luật La Mã (còn gọi là hệ thống pháp luật dân sự Civil Law); hệ thống công chứng Ănglo Saxon tương ứng với hệ thống pháp luật Ănglo Saxon (Common Law) và hệ thống công chứng Collectiviste tương ứng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique)

So sánh các hệ thống công chứng cho thấy, mặc dù giữa hệ thống công chứng

La tinh và hệ thống công chứng Anglo Saxon có sự khác biệt nhau về cách thức tổ chức, hoạt động, trình tự, thủ tục công chứng, song quan niệm về công chứng ở hai

hệ thống này về cơ bản tương đồng Cả hai hệ thống này đều coi công chứng là một nghề tự do, công chứng viên hoạt động độc lập, tự chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của mình Tuy nhiên, đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi công chứng viên phải có trình độ chuyên môn (luật) và kỹ năng nghiệp vụ được nhà nước công nhận để có thể đảm bảo tính xác thực cho các hợp đồng vốn rất phức tạp, đa dạng Công chứng viên

do nhà nước bổ nhiệm hoặc công nhận theo các điều kiện, tiêu chuẩn do luật định và hoạt động theo chế độ chứng chỉ hành nghề Có thể thấy rõ điều đó qua pháp luật thực định về công chứng của một số nước

Ở Cộng hòa Pháp (một điển hình của trường phái công chứng La tinh), Điều 1 Pháp lệnh số 452500 ngày 02/11/1945 về Điều lệ công chứng của Cộng hòa Pháp quy định: "Công chứng viên là viên chức công, được bổ nhiệm để lập các hợp đồng

và văn bản mà theo đó, các bên phải hoặc muốn đem lại tính xác thực giống như các văn bản của các cơ quan công quyền và để đảm bảo ngày, tháng chắc chắn, lưu giữ

và cấp các bản sao văn bản công chứng"

Ở Vương quốc Anh (một trong các điển hình của trường phái công chứng Anglo Saxon), quy chế công chứng năm 1801, 1833, 1834 quy định: "Công chứng viên là viên chức được bổ nhiệm để thực hiện các hành vi công chứng sau: Soạn thảo, chứng nhận hoặc xác lập chứng thư và các giấy tờ khác có liên quan đến việc: chuyển nhượng hoặc xác lập giấy tờ khác có liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản và tài sản cá nhân, giấy ủy quyền liên quan đến bất động sản và tài sản cá nhân ở Anh, các nước khác thuộc khối cộng đồng Anh hoặc ở nước ngoài; chứng nhận hoặc xác nhận các giấy tờ liên quan đến di chúc, lập kháng nghị hàng hải về sự

cố xảy ra đối với tàu và hàng hóa trên tàu trong thời gian tàu đi trên biển"

Trang 12

Hệ thống công chứng Collectiviste lại có quan niệm về công chứng khác với hệ thống công chứng La tinh và hệ thống công chứng Anglo Saxon hệ thống công chứng Collectiviste, công chứng chưa ở được coi là một nghề (công chứng viên là công chức nhà nước, kiêm nhiệm cả việc chứng thực (thị thực hành chính); việc công chứng được giao cho cả các chủ thể không phải là công chứng viên đảm nhiệm; công chứng viên không có chứng chỉ hành nghề, không phải chịu trách nhiệm dân sự trước khách hàng, chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính trước nhà nước về những sai phạm trong hoạt động của mình)

Tuy nhiên, hiện nay trong hệ thống công chứng Collectiviste, hầu hết các nước

đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đều có sự đổi mới trong quan niệm về công chứng phù hợp với quan niệm của hệ thống công chứng La tinh và hệ thống Anglo Saxon, đó là xác định công chứng là một nghề tự do đặt dưới sự quản lý của nhà nước và đang từng bước tiến hành cải cách công chứng từ mô hình công chứng nhà nước sang mô hình công chứng tự do Ví dụ: ở Ba Lan, Điều 1 Luật số 176 ngày 14/02/1991 về công chứng quy định: "Công chứng viên được bổ nhiệm để lập những văn bản mà trong đó, các bên phải hoặc muốn đem lại một tính đích thực"

So sánh những quy định nêu trên cho thấy, nội dung chi tiết về chức năng, nhiệm vụ của công chứng viên trong pháp luật thực định của các nước có những điểm khác nhau, nhưng quan niệm về công chứng đều có những điểm cơ bản giống nhau:

- Chủ thể của hoạt động công chứng là công chứng viên

- Công chứng là việc soạn thảo, chứng nhận (xác nhận, chứng thực) các hợp đồng giao dịch

- ý nghĩa pháp lý của hoạt động công chứng là đảm bảo giá trị thực hiện cho các hợp đồng giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và cung cấp chứng cứ nếu có tranh chấp xảy ra (văn bản công chứng là một công chứng thư)

Qua các phân tích trên cho thấy,khởi nguồn, hoạt động công chứng là hoạt động của xã hội, với vai trò làm chứng của quần chúng nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch, khách quan của các khế ước, văn tự được lập, đề phòng sự tranh chấp, lật lọng Có thể nói, ở giai đoạn đầu của lịch sử công chứng, công chứng chính là nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi họ tham gia các hợp đồng, giao dịch chứ chưa phải nhu cầu của quản lý nhà nước Như vậy, công chứng là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc

Mặt khác, với vai trò chủ yếu là hỗ trợ công dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức trong các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại; phòng

Trang 13

ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật; hỗ trợ quản lý nhà nước, góp phần đảm bảo

ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại phát triển và

hỗ trợ tư pháp thông qua việc cung cấp chứng cứ cho hoạt động xét xử, công chứng

là một nghề có tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa phục vụ cho lợi ích chung của xã hội, cộng đồng Với vai trò quan trọng như trên, công chứng đã trở thành đối tượng quản lý của Nhà nước Vì mục tiêu hiệu quả và công bằng nên ở nhiều quốc gia công chứng đã trở thành một hoạt động thuộc chức năng xã hội của Nhà nước, một dịch vụ công

Như vậy, nhìn chung trên thế giới, bản chất công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ công Về mặt tổ chức thì tổ chức hành nghề công chứng được xác định là một tổ chức nghề nghiệp chứ không phải là cơ quan hành chính hay cơ quan hành chính - tư pháp, còn công chứng viên đóng vai trò là chủ thể thực hiện hàng vi công chứng Với sự tinh thông nghề nghiệp, bằng việc tư vấn, soạn thảo, chứng nhận các hợp đồng, giấy tờ, công chứng viên đã cung cấp dịch vụ công chứng bảo đảm an toàn pháp lý cho công dân và các tổ chức khi tham gia giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại

1.2 Đặc điểm của công chứng

1.2.1 Hoạt động công chứng vừa mang tính công quyền, vừa mang tính dịch vụ công

Hoạt động của công chứng vừa mang tính công quyền vừa mang tính chất dịch

vụ công Tính công quyền thể hiện ở chỗ công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng (phòng công chứng hoặc văn phòng công chứng) đều do Bộ trưởng Bộ

Tư pháp bổ nhiệm để công chứng các hợp đồng giao dịch giữa các tổ chức, công dân theo qui định của pháp luật Khi tác nghiệp, công chứng viên nhân danh nhà nước thực thi công việc Hoạt động công chứng còn mang tính chất dịch vụ công Nói rõ hơn, đây là một loại dịch vụ của Nhà nước nhưng Nhà nước giao lại cho tổ chức hành nghề công chứng đảm nhiệm Một trong những nguyên tắc cơ bản của dịch vụ công là phải bảo đảm được tính liên tục không bị gián đoạn của dịch vụ công Hoạt động dịch vụ này nhằm hướng tới 3 lợi ích sau:

Một là, lợi ích của nhà nước: Hoạt động công chứng góp phần làm cho các hợp đồng, giao dịch được thực hiện theo đúng khuôn khổ của pháp luật, góp phần tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa

Hai là, lợi ích của các bên tham gia giao dịch: Công chứng giúp cho các tổ chức, cá nhân thực hiện các hợp đồng, giao dịch đúng pháp luật, nhờ đó giảm thiểu

Trang 14

tranh chấp, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch

Ba là, lợi ích của tổ chức hành nghề công chứng: Khi thực hiện hoạt động công chứng, tổ chức hành nghề công chứng được thu phí và thù lao công chứng theo qui định

Các tổ chức hành nghề công chứng được Nhà nước chuyển giao cho một phần quyền của Nhà nước để thực hiện chức năng của Nhà nước trong một lĩnh vực cụ thể

là công chứng các hợp đồng, giao dịch Đồng thời, Nhà nước cũng chuyển giao cho các tổ chức hành nghề công chứng một trách nhiệm và nghĩa vụ lớn là phải thực hiện công chứng một cách đúng pháp luật và đảm bảo được lợi ích của Nhà nước

1.2.2 Hành vi công chứng chỉ được thực hiện bởi công chứng viên

Công chứng ở nước ta có điểm giống nhau so với công chứng của hầu hết các nước trên thế giới là đều do tổ chức công chứng quản lý và do công chứng viên thực hiện Hoạt động công chứng được xem là một trong các nghề tư pháp, công chứng viên là một chức danh do nhà nước quy định về tiêu chuẩn chuyên môn, đạo đức, được quyền hành nghề tự do trong khuôn khổ luật định Công chứng viên là người được giao nhiệm vụ chứng nhận các hợp đồng, giao dịch của công dân và tổ chức nhằm tạo ra một chứng cứ xác thực có giá trị pháp lý cao ngoại trừ trường hợp bị quyết định của tòa án tuyên vô hiệu, tạo sự tin tưởng cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch Từ khái niệm công chứng quy định tại điều 2 của Luật công chứng năm

2006 thì không có chủ thể nào khác ngoài công chứng viên có thể thực hiện hành vi công chứng Ngoài ra, công chứng viên có sự độc lập trong tác nghiệp chuyên môn, công chứng viên không chịu trách nhiệm trước các cơ quan cơ quan cấp trên hay trước trưởng phòng, trưởng văn phòng mà tự chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với hành vi công chứng của mình Nói cách khác, trong tác nghiệp chuyên môn, công chứng viên không bị lệ thuộc vào cấp trên

1.2.3 Văn bản hợp đồng, giao dịch sau khi được công chứng có giá trị thi hành và giá trị chứng cứ

Như chúng ta đã biết, "hợp đồng, giao dịch bằng văn bản" mà các bên đã giao kết sẽ trở thành "văn bản công chứng" sau khi nó được các bên mang đi công chứng Việc khẳng định giá trị pháp lý của văn bản công chứng có ý nghĩa quan trọng quyết định sự tồn tại của hoạt động công chứng trong đời sống xã hội Tại sao các hợp đồng, giao dịch (đặc biệt là các hợp đồng, giao dịch về bất động sản) cần phải được công chứng? Nói cách khác, các bên trong hợp đồng, giao dịch có được lợi ích gì khi qua thủ tục công chứng Theo quy định tại Điều 6 Luật Công chứng:

Trang 15

"1 Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo qui định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác

2 Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô hiệu."

Như vậy, hợp đồng, giao dịch đã được công chứng sẽ có hai giá trị pháp lý cơ bản sau đây:

Một là, giá trị thi hành của văn bản công chứng Nói văn bản công chứng có giá trị thi hành có nghĩa là những gì đã thoả thuận trong văn bản công chứng thì có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên hợp đồng, giao dịch đồng thời đối với cả bên thứ ba Trước hết, xét trong mối quan hệ giữa các bên giao kết hợp đồng thì hiển nhiên là những gì mà họ đã cam kết trong hợp đồng, giao dịch thì họ phải có nghĩa

vụ thực hiện, không được bội ước Đó cũng là nguyên tắc của luật dân sự Mặt khác, xét trong mối quan hệ với người thứ ba thì văn bản công chứng cũng có hiệu lực bắt buộc người thứ ba phải tôn trọng và thi hành Điều này cũng là xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự do giao kết hợp đồng của chủ thể

Hai là, giá trị chứng cứ không phải chứng minh trước Toà án Vấn đề giá trị chứng cứ của văn bản công chứng không phải chứng minh cũng đã được quy định tại Điều 80 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 Cơ sở của quy định này là xuất phát

từ việc thừa nhận chức năng của Công chứng viên về chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giao dịch như đã nêu trên Tính xác thực do Công chứng viên chứng nhận biến các tình tiết, sự kiện có trong hợp đồng, giao dịch trở thành chứng cứ hiển nhiên trước tòa Tại điều 6 của Luật Công chứng cũng khẳng định là giá trị chứng cứ của văn bản công chứng sẽ bị bác bỏ khi bị Tòa án tuyên là vô hiệu Nhưng như vậy cũng không có nghĩa là Tòa án có thể tuyên vô hiệu một cách tùy tiện Một người muốn yêu cầu Tòa án tuyên bố một văn bản công chứng là vô hiệu thì phải chứng minh được văn bản công chứng đó được lập một cách trái pháp luật Nếu không chứng minh được điều đó thì văn bản công chứng sẽ được công nhận là chứng cứ hiển nhiên trước Tòa án Có thể nói, vai trò phòng ngừa của Công chứng viên thể hiện ở chỗ: ngay khi hợp đồng,giao dịch được công chứng, các bên giao kết hợp đồng đã củng cố được chứng cứ về việc ký kết hợp đồng đó để đề phòng các tranh chấp về sau

Trang 16

1.3 Vai trò của công chứng

Công chứng là hoạt động có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, thể hiện:

Thứ nhất: Công chứng là một biện pháp tích cực hỗ trợ cho công dân và các tổ

chức, bảo đảm an toàn cho họ trong các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại bằng cách tạo lập “văn bản công chứng” - một loại chứng cứ không thể phản bác Bằng sự tinh thông nghề nghiệp của công chứng viên, với trình tự, thể thức chặt chẽ, nghiêm ngặt trong quá trình lập văn bản công chứng, công chứng đảm bảo sự bình đẳng, tự nguyện, tự do ý chí, khách quan của các bên giao kết hợp đồng, tránh bị lừa dối, đe dọa, nài ép, tránh sự nhầm lẫn về chủ thể, đối tượng và nội dung của các hợp đồng giao dịch

Với vai trò hỗ trợ cho công dân, tổ chức trong các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, công chứng là một biện pháp phòng ngừa có hiệu quả và quan trọng ở cả hai khía cạnh: tạo cho công dân ý thức thận trọng, có trách nhiệm hơn trong việc thể hiện ý chí của mình phù hợp với pháp luật, với đạo đức xã hội khi tham gia các quan

hệ giao dịch; đồng thời nếu có xảy ra tranh chấp trong các quan hệ pháp lý đó, thì đã

có cơ sở pháp lý chắc chắn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Với vai trò truyền thống nói trên, trong điều kiện kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền, quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu, tự do định đoạt được khẳng định và đảm bảo thực hiện, vai trò công chứng ngày càng được khẳng định Đối với nước ta, công chứng còn là một trong các thiết chế bảo đảm quyền dân chủ Hoạt động công chứng góp phần đảm bảo trật tự, ổn định xã hội, làm lành mạnh hóa thị trường giao dịch, tạo điều kiện để công dân thực hiện tốt hơn quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu, tự

do định đoạt, đảm bảo các nguyên tắc của kinh tế thị trường

Như vậy, công chứng chính là một trong các phương tiện, công cụ tạo ra khả năng để công dân tự bảo vệ các quyền và lợi ích của mình; đồng thời góp phần nâng cao dân trí pháp lý, mở rộng dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân trong các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại; tạo môi trường pháp lý an toàn, lành mạnh để các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại phát triển, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Thứ hai: Bản thân công chứng không phải là một hoạt động quản lý hành chính

nhà nước, nhưng nó góp phần hỗ trợ tích cực cho Nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội bằng pháp luật, một yêu cầu cốt lõi của Nhà nước pháp quyền

Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, có sự quản lý vĩ mô của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong vai trò quản lý nền kinh tế, nhà nước cần

Trang 17

có trách nhiệm sử dụng nhiều biện pháp để đảm bảo cho các nhân, tổ chức khi tham gia các giao dịch dân sự thật an toàn, không bị lừa dối, đảm bảo cho các giao dịch của họ là hợp pháp Trách nhiệm đó của Nhà nước đã được các cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động công chứng đảm đương Vì vậy, hoạt động công chứng đã hỗ trợ đắc lực cho nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế của quốc gia

Ngoài ra, bằng cách tạo ra chứng cứ không thể phản bác cho các bên trong giao dịch, công chứng tạo thuận lợi cho hoạt động xét xử của tòa án nếu có tranh chấp xảy ra “Văn bản công chứng” là một hình thức vật chất thể hiện ý chí của các bên trong một hợp đồng, giao dịch, là một thứ chứng cứ không cần chứng minh Công chứng được xem như là một hoạt động bổ trợ tư pháp bởi lẽ “văn bản công chứng” do hoạt động này tạo ra sẽ giúp cho cơ quan Tòa án không phải tốn nhiều công sức để tìm chứng cứ xác thực Tòa án có thể có được văn bản công chứng do các bên tranh chấp cung cấp hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức hành nghề công chứng cho xem văn bản này Có thể nói, công chứng giúp cơ quan xét xử thực hiện chức năng của mình một cách dễ dàng, nhanh chóng và chính xác, góp phần đem lại công bằng xã hội

1.4 Lịch sử phát triển hoạt động công chứng ở Việt nam

1.4.1 Hoạt động công chứng ở nước ta trước cách mạng tháng 8/1945

Hoạt động công chứng xuất hiện là do yêu cầu của việc quản lý của nhà nước đối với các hoạt động giao dịch, yêu cầu cung cấp chứng cứ cho cơ quan tài phán Ở nước ta trước thời kỳ pháp thuộc, chưa thấy xuất hiện thuật ngữ công chứng Nhưng nếu xét về lịch sử ra đời và phát triển của nhà nước phong kiến ở việt Nam thì thấy

đã có mầm mống về hoạt động công chứng Dưới thời Lê, di chúc được làm dưới dạng chúc thư; để có giá trị thì chúc thư phải được lập thành văn bản dưới hình thức nhất định, nếu người làm chúc thư không biết chữ thì chúc thư phải được xã trưởng viết hộ và chứng thực nhằm ngăn ngừa việc gian lận đối với chúc thư, đồng thời luật cũng quy định việc xử phạt đối với việc làm giả mạo giấy tờ

Vào thời kỳ bảo hộ của Pháp, công chứng với tư cách là thể chế bắt đầu xuất hiện và áp dụng tại Việt nam cùng với sự thành lập tổ chức và hoạt động của tòa án Pháp tại Việt nam và được tổ chức theo mô hình công chứng của Pháp Trong giai đoạn này, hoạt động công chứng được xác lập bằng sắc lệnh ngày 24/8/1931 của Tổng thống Cộng hòa pháp về tổ chức công chứng được áp dụng ở Đông Dương Hoạt động công chứng ở nước ta chịu sự chi phối bởi pháp luật công chứng của Pháp Chưởng ấn Bộ trưởng tư pháp bổ nhiệm công chứng viên, thành lập văn phòng công chứng, giám sát hoạt động nghề nghiệp của công chứng viên Hội đồng công

Trang 18

chứng tối cao được đặt bên cạnh Bộ tư pháp chịu trách nhiệm quản lý điều hành hội đồng công chứng các khu vực Hội đồng công chứng các khu vực chịu sự giám sát của Tòa thượng thẩm Mô hình công chứng được thiết lập theo mô hình công chứng

hệ la tinh, công chứng viên đứng ra tổ chức và điều hành mọi hoạt động của văn phòng công chứng, chịu trách nhiệm về hành vi công chứng

1.4.2 Hoạt động công chứng ở nước ta từ 1945-1991

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa ra đời Ngày 01/10/1945, Bộ trưởng Bộ tư pháp đã ký nghị định bổ nhiệm ông Vũ Quý Vỹ mang quốc tịch Việt nam làm công chứng viên tại văn phòng công chứng ở Hà Nội, nghị định quy định các luật lệ cũ về công chứng vẫn được thi hành, trừ những điều khoản không phù hợp với nền độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa Việt Nam Có thể nói đây là tổ chức công chứng đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tổ chức công chứng mang đậm dấu ấn của công chứng Pháp

Ngày 15/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành sắc lệnh 59/SL ấn định thể lệ về thị thực các giấy tờ Theo sắc lệnh này, việc thị thực chỉ là thủ tục hành chính, quyền thị thực các giấy tờ trước đây giao cho lý trưởng các làng và trưởng phố, ở thành thị thì nay giao về Ủy ban nhân dân của làng hoặc Ủy ban nhân dân hàng phố Ủy ban làm nhiệm vụ thị thực phải là Ủy ban nơi trú quán của một hoặc các bên đương sự lập khế ước; đối với bất động sản phải là Ủy ban nơi có bất động sản đó thị thực, nếu có nhiều bất động sản ở nhiều nơi thì giấy tờ lập ra về những bất động sản ấy phải do Ủy ban mỗi nơi có bất động sản đó thị thực Các ủy ban thị thực phải có trách nhiệm về việc thị thực, khi xảy ra thiệt hại đến tư nhân vì sự thực không đúng, công quỹ của làng hay của hàng phố phải bồi thường Ngày 29/2/1952, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Sắc lệnh 85/SL về việc mua bán, trao đổi nhà cửa , ruộng đất

Hai sắc lệnh nói trên là cơ sở chủ yếu cho hoạt động thị thực của Ủy ban hành chính kháng chiến và sau này là Ủy ban nhân dân trong gần nửa thế kỷ Nguyên nhân của hoạt động công chứng không được phát triển trong giai đoạn này là do điều kiện kinh tế, xã hội, hoàn cảnh chiến tranh của nước ta trong thời kỳ này và việc không chấp nhận chế độ sỡ hữu các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể Vì thế,

tổ chức công chứng không được thành lập, mọi giao lưu kinh tế dân sự đều dựa trên quan hệ hành chính, hoạt động công chứng rất đơn giản

Từ sau năm 1954 kéo dài đến cuối những năm 70, Nhà nước ta thiết lập một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quôc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế

Trang 19

xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, thiếu thủ tục hành chính và các thủ tục thể hiện vai trò kiểm soát kinh tế có hiệu quả của nhà nước, không đủ các thủ tục tài phán hành chính để điều hòa mối quan hệ giữa nhà nước và công dân Xuất phát từ những nguyên nhân trên, dẫn đến hoạt động công chứng không có điều kiện để phát triển

1.4.3 Hoạt động công chứng ở nước ta từ 1991 đến nay

Trên tinh thần Nghị quyết của đại hội Đảng lần thứ VII, đặc biệt là cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nước ta tiếp tục phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế theo cơ chế thị trường đã tạo ra những mối quan hệ mới trong lĩnh vực phát triển và quản lý nền kinh tế, các giao dịch trong các lĩnh vực dân sự, kinh tế, thương mại phát triển mạnh mẽ đòi hỏi phải có thể chế phù hợp phục vụ cho cơ chế kinh tế

đó Trong lĩnh vực công chứng đặt ra nhiệm vụ mới, cần phải có một tổ chức hoạt động chuyên nghiệp Trên cơ sở đó, ngày 27/2/1991 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước Nghị định quy định về tổ chức công chứng nhà nước (chưa cho phép tư nhân tham gia thực hiện hoạt động công chứng), trình tự thủ tục thực hiện các việc công chứng, quản lý tổ chức và hoạt động công chứng, tiêu chuẩn công chứng viên, giá trị pháp lý của văn bản công chứng Nghị định 45/HĐBT ra đời đánh dấu một sự tiến triển mới của mối liên hệ giữa hoạt động phòng ngừa tranh chấp và hoạt động tài phán, tổ chức hoạt động công chứng thay thế công việc của Ủy ban nhân dân về công chứng, đối với những nơi chưa thành lập Phòng công chứng thì Ủy ban nhân dân được phép tiếp tục thực hiện một số việc công chứng Tuy nhiên, sự phát triển các quan hệ xã hội với điều kiện nền kinh tế thị trường bắt đầu phát triển dẫn đến Nghị định 45/HĐBT trở nên không còn phù hợp Ngày 18/5/1996, chính phủ đã ban hành Nghị định 31/CP về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước thay thế cho Nghị định 45/HĐBT Do nhu cầu phục vụ sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, ngày 08/12/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định 75/2000/NĐ-CP về công chứng chứng thực Nghị định này quy định về phạm vi công chứng, chứng thực, tổ chức Phòng công chứng, nguyên tắc hoạt động, thủ tục, trình tự thực hiện việc công chứng, chứng thực, công tác chứng thực của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân, tổ chức về công chứng, đồng thời tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng Ngày 29/11/2006, Luật công chứng ra đời đưa ra định hướng đúng đắn về xã hội hóa hoạt động công chứng Bên cạnh các phòng công chứng nhà nước thì các văn phòng công chứng ra

Trang 20

đời (do tư nhân thành lập theo trình tự luật định), đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các cá nhân, tổ chức trong các giao dịch dân sự Tác phong phục vụ, lề lối làm việc cũng tốt hơn, bớt đi tình trạng cửa quyền, khó khăn của các phòng công chứng trước kia Xét về việc thực hiện hoạt động công chứng hiện nay thì bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng là cơ quan chuyên trách Ngoài ra thì cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cũng có thẩm quyền công chứng một số việc theo quy định của Luật công chứng

1.5 Các nguyên tắc thực hiện hoạt động công chứng

Nguyên tắc của việc thực hiện hoạt động công chứng là những tư tưởng chỉ đạo

về việc xây dựng cơ cấu, tổ chức và cơ chế hoạt động trong lĩnh vực công chứng Đó

là những yêu cầu khách quan của đời sống xã hội được thể chế hóa thành các quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động công chứng

Nghị định 45/CP (ngày 27/2/1991), Nghị định 31/CP (ngày 18/5/1996), Nghị định 75/2000/NĐ-CP (ngày 8/12/2000) đã quy định những nguyên tắc về việc thực hiện hoạt động công chứng Một lần nữa Luật công chứng năm 2006 đã khẳng định lại những nguyên tắc đó (tại Điều 3), thể hiện một cách xúc tích nhưng đầy đủ và hoàn thiện hơn Những nguyên tắc đó là những nguyên tắc liên quan đến việc xây dựng cơ cấu tổ chức, mối quan hệ công tác giữa cơ quan công chứng với các cơ quan khác của Nhà nước và các tổ chức xã hội Do đó, toàn bộ những nguyên tắc mà Luật công chứng năm 2006 quy định về công chứng đã thể hiện rõ vai trò của hoạt động công chứng và yêu cầu công tác chứng nhận phải khách quan, chính xác, đồng thời công chứng còn phải tham gia tích cực vào công việc đấu tranh phòng ngừa những việc làm vi phạm pháp luật

1.5.1 Nguyên tắc độc lập thực hiện công chứng và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật

Đối với hoạt động công chứng ở nước ta, trong khi thực hiện nhiệm vụ thì công chứng viên thực hiện hành vi công chứng một cách độc lập, hoạt động công chứng không bị chi phối hoặc áp đặt bởi bất cứ một tổ chức hoặc cá nhân nào Người thực hiện hành vi công chứng phải chịu trách nhiệm cá nhân về công việc mà mình thực hiện

Công chứng là lĩnh vực hoạt động tư pháp chuyên sâu, cho nên đòi hỏi phải có viên chức chuyên trách là công chứng viên thực hiện công việc này Ở nước ta công chứng viên là một chức danh tư pháp, công chứng là một nghề trong số các nghề bổ trợ tư pháp Công chứng viên được đào tạo theo một quy trình chặt chẽ Công chứng viên hoạt động độc lập, tuân theo pháp luật, thủ trưởng cơ quan công chứng không

Trang 21

chịu trách nhiệm về văn bản công chứng do công chứng viên thực hiện Tương tự như vậy, những người có thẩm quyền thực hiện công chứng ở cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài cũng chịu trách nhiệm cá nhân về các việc công chứng, chứng thực do mình thực hiện

Theo quy định hiện nay, quan hệ giữa công chứng viên và trưởng phòng công chứng chỉ là quan hệ hành chính khi được phân công thực hiện các việc công chứng, còn khi thực hiện các hành vi công chứng thì công chứng viên nhân danh cá nhân mình với tư cách là công chứng viên (được Nhà nước bổ nhiệm làm công chứng viên) giống như quan hệ giữa Chánh án và Thẩm phán của Tòa án Vì vậy, có thể nói độc lập trong hành vi công chứng là nguyên tắc song hành với nguyên tắc chịu trách nhiệm cá nhân trong hoạt động công chứng

1.5.2 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Công chứng ở nước ta hoạt động động theo nguyên tắc việc công chứng phải tuân theo các quy định của pháp luật về công chứng Thực hiện nguyên tắc pháp chế

xã hội chủ nghĩa trong hoạt động công chứng có nghĩa là những người thực hiện hành vi công chứng và những người yêu cầu công chứng phải nghiêm chỉnh và triệt

để tuân thủ pháp luật khi thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ của mình, đồng thời cơ quan quản lý công chứng phải thực hiện việc quản lý điều hành, phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về công chứng, đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thi hành nghiêm minh Mọi công dân, tổ chức có quyền yêu cầu thực hiện công chứng trong khuôn khổ pháp luật quy định, đảm bảo sự thống nhất về kỷ cương, trật

tự, hiệu lực quản lý các hoạt động giao dịch, bảo đảm dân chủ và công bằng xã hội, đồng thời tránh khuynh hướng tùy tiện trong hoạt động chứng nhận của những người

có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng Khi thực hiện công chứng phải tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định trong Nghị định về tổ chức và hoạt động công chứng, các quy định khác của pháp luật và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc công nhận Hoạt động công chứng nhà nước nhằm giúp đỡ pháp lý cho công dân, tổ chức trong việc thực hiện quyền và bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ Vì vậy những người thực hiện công chứng phải có trách nhiệm giải thích cho đương sự hiểu rõ quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của họ, cũng như ý nghĩa pháp lý của việc công chứng mà họ yêu cầu Phải bảo đảm thực hiện đúng các quy định về địa điểm, thời hạn Việc từ chối thực hiện công chứng phải theo đúng các quy định về trình tự, thủ tục, nội dung lập và lưu giữ văn bản công chứng

Trang 22

Để đảm bảo được nguyên tắc này đòi hỏi, thứ nhất, pháp luật về công chứng của nước ta phải đầy đủ, kịp thời và đồng bộ, tăng cường công tác đào tạo cán bộ quản lý công chứng và công chứng viên; thứ hai, triển khai công tác tuyên truyền giáo dục, giải thích pháp luật về công chứng; thứ ba, xử lý nghiêm minh các hành vi

vi phạm pháp luật trong hoạt động công chứng, chứng nhận

1.5.3 Nguyên tắc giữ bí mật về nội dung công chứng và những thông tin có liên quan đến việc công chứng

Đây là một nguyên tắc có tính đặc thù trong hoạt động công chứng Ngoài việc thực hiện các nguyên tắc công khai lắng nghe và tôn trọng việc bày tỏ ý chí của công dân và tổ chức có yêu cầu công chứng , công chứng viên và những người có liên quan phải tuyệt đối giữ bí mật về nội dung công chứng, trừ những trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản về việc cung cấp hồ sơ công chứng hoặc hồ sơ chứng thực phục vụ cho công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy

tố, xét xử có liên quan đến việc đã công chứng, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng có trách nhiệm cung cấp bản sao văn bản công chứng và các giấy tờ khác có liên quan Việc đối chiếu bản sao hồ sơ văn bản công chứng chỉ thực hiện tại

cơ quan có thẩm quyền công chứng nơi đang lưu trữ hồ sơ

1.5.4 Nguyên tắc bảo đảm tính khách quan, trung thực, chính xác trong hoạt động công chứng

Khi thực hiện công chứng, người thực hiện hành vi công chứng phải khách quan, trung thực và phải chịu trách nhiệm về việc công chứng của mình; trong trường hợp biết hoặc phải biết việc công chứng hoặc nội dung công chứng là trái pháp luật, đạo đức xã hội thì không được thực hiện công chứng Đây là nội dung quan trọng quyết định tính xác thực trong hoạt động công chứng Công chứng viên phải làm tròn bổn phận theo chức trách được giao thể hiện bằng sự trung thành với Nhà nước, tận tâm phục vụ nhân dân, tận tụy với công việc; thực hiện đúng quy chế làm việc, không được làm bất cứ điều gì có hại cho Nhà nước, tập thể và công dân; không được lợi dụng danh nghĩa công việc mình thực hiện mà tiến hành các hoạt động tư lợi Công chứng viên không được phép thiên vị trong khi thực hiện công chứng

Để đảm bảo được nguyên tắc này, pháp luật về công chứng của các nước trên thế giới đều quy định: công chứng viên không được thực hiện công chứng cho bản

Trang 23

thân mình, cho vợ (chồng) mình hoặc cho bố, mẹ, các con, anh, chị em ruột của mình

Tính khách quan, chính xác của văn bản công chứng thể hiện ở chỗ các văn bản công chứng phải dựa trên cơ sở các sự việc có thật, để sao cho kết luận của công chứng viên là có căn cứ Để làm được việc này, trong một số trường hợp cần thiết, công chứng viên không những chỉ kiểm tra, xem xét những giấy tờ mà đương sự xuất trình, mà còn phải tự ý yêu cầu thêm các thông tin cần thiết khác phục vụ cho việc công chứng của mình

Trang 24

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG

CHỨNG 2.1 Chủ thể thực hiện hành vi công chứng - Công chứng viên

Theo quy định của pháp luật hiện nay thì không có chủ thể nào khác ngoài công chứng viên có thẩm quyền thực hiên hành vi công chứng (điều 2 Luật công chứng

2006 quy định: "Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận " ) Theo sự phát triển đi lên của kinh tế xã hội ngày nay thì lượng hợp đồng giao dịch cần phải công chứng cũng có xu thế tăng lên vì vậy số lượng công chứng viên đã được bổ nhiệm cũng tăng rất nhanh Theo thống kê, đến đầu năm 2012 cả nước ta đã có hơn con số 900 công chứng viên đang hành nghề trên địa bàn cả nước

2.1.1 Tiêu chuẩn để trở thành công chứng viên

Xin nhắc lại rằng, một hợp đồng, giao dịch khi đã được công chứng thì có giá trị pháp lý (giá trị chứng cứ và giá trị thi hành) rất cao Nếu trong hợp đồng, giao dịch ẩn chứa những vi phạm pháp luật mà công chứng viên không nhận ra hoặc do công chứng viên tạo ra những vi phạm đó nhằm trục lợi cho cá nhân thì sẽ gây thiệt hại về tài sản rất lớn cho người dân tham gia giao dịch Vì vậy, hành vi công chứng

là một hành vi đòi hỏi người thực hiện nó phải trung thực, khách quan, có đầy đủ tiêu chuẩn luật định để trở thành một công chứng viên Khi có đầy đủ các tiêu chuẩn để trở thành Công chứng viên thì cá nhân mới được quyền đề nghị Bộ trưởng Bộ tư pháp xem xét bổ nhiệm công chứng viên Các tiêu chuẩn này được quy định tại

"Điều 13 của Luật công chứng năm 2006", cụ thể phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ sức khoẻ bảo đảm hành nghề công chứng, ngoài ra còn phải đạt các tiêu chuẩn quan trọng sau đây:

Một là, Công chứng viên phải có bằng cử nhân luật, có thời gian công tác pháp

luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức Ở đây, điều cần nói rõ là "các cơ quan, tổ chức" được đề cập đến không nhất thiết phải là các cơ quan, tổ chức của nhà nước Việc công tác pháp luật của các cá nhân có thể là tại các cơ quan điển hình như: Văn phòng luật sư, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân…

Hai là, Công chứng viên phải có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công

chứng Để có được giấy chứng nhận này thì cá nhân (bắt buộc có bằng cử nhân luật) phải hoàn thành chương trình đào tạo nghề công chứng tại các cơ sở đào tạo nghề công chứng Thời gian của khóa đào tạo là 6 tháng Tuy nhiên, có những chủ thể được miễn đào tạo nghề công chứng, đó là những người: đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên; luật sư đã hành nghề từ ba năm trở lên; giáo sư, phó giáo sư

Trang 25

chuyên ngành luật, tiến sỹ luật; đã là thẩm tra viên cao cấp ngành toà án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật

Ba là, Công chứng viên phải qua thời gian tập sự hành nghề công chứng Sau

khi có giấy chứng nhận đào tạo nghề công chứng thì cá nhân có thể tự liên hệ tập sự hành nghề công chứng tại một tổ chức hành nghề công chứng hoặc đề nghị Sở Tư pháp bố trí tập sự tại một tổ chức hành nghề công chứng Thời gian tập sự hành nghề công chứng là mười hai tháng Một điều cần lưu ý là những đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng thì không cần phải tập sự hành nghề công chứng

Bên cạnh việc đạt được những tiêu chuẩn quy định tại Điều 13 Luật công chứng thì cá nhân muốn trở thành Công chứng viên phải không rơi vào những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên quy định tại Điều 19 của Luật này, cụ thể đó

là những trường hợp: đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá án tích về tội phạm do vô ý; đã bị kết án về tội phạm do cố ý; bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cán bộ, công chức, viên chức

bị buộc thôi việc; Người bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư do bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xoá tên khỏi danh sách của Đoàn luật sư, bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư

2.1.2 Hoạt động của Công chứng viên

Có thể nói, các tổ chức hành nghề công chứng không thể hoạt động mà không

có Công chứng viên đồng thời Công chứng viên thì buộc phải thực hiện hoạt động nghề nghiệp của mình tại một tổ chức hành nghề công chứng nhất định Công chứng viên có thể thực hiện hàng vi công chứng của mình một cách độc lập, không bị ai chi phối, tùy trường hợp mà có thể thực hiện công chứng bên trong hoặc bên ngoài trụ sở công chứng Địa bàn để thực hiện hoạt động nghề nghiệp của mình do công chứng tự lựa chọn (trừ công chứng viên của tổ chức công chứng nhà nước) Trong quá trình hoạt động, để phục vụ cho công việc công chứng của mình, Công chứng viên có quyền đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện công việc công chứng một cách chính xác, khách quan Bên cạnh đó, Công chứng viên cũng phải có trách nhiệm tuân thủ đúng quy tắc hành nghề công chứng, tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng

Hoạt động chủ yếu của Công chứng viên là việc thực hiện hành vi công chứng Hành vi đó không chỉ đơn thuần là việc làm chứng mà nên hiểu đó là việc Công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch

Trang 26

Chứng nhận tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch là việc công chứng viên

chứng nhận hợp đồng, giao dịch đó không trái với những quy định của pháp luật Có thể hiểu cách một cách khác là hợp đồng, giao dịch đó phải có đủ điều kiện để có hiệu lực, không rơi vào các trường hợp bị vô hiệu Điều kiện có hiệu lực của giao dịch quy định cụ thể tại điều 22 Bộ luật dân sự năm 2005 Trước hết, người tham gia vào giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội Các trường hợp làm cho giao dịch bị vô hiệu được quy định từ điều 127 đến điều

134 Bộ luật dân sự năm 2005, gồm các trường hợp giao dịch vô hiệu do: không đủ điều kiện có hiệu lực; vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; giả tạo; bị nhầm lẫn; bị lừa dối, đe dọa; không tuân thủ quy định về hình thức; người chưa thành niên, người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; người xác lập không làm chủ được nhận thức, hành vi

Chứng nhận tính xác thực của hợp đồng nghĩa là công chứng viên ghi nhận lại những gì diễn ra trên thực tế Thứ nhất là công chứng viên cần phải xác định “đúng

người” Việc xác định đúng, chính xác người yêu cầu công chứng không những tạo điều kiện cho công chứng viên có thể xác định đúng chủ thể, khách thể của hợp đồng, giao dịch mà còn ngăn ngừa những trường hợp mạo danh, lừa đảo… Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại ba cách để xác định người yêu cầu công chứng Đó là: (1) Xác định bằng sự nhận biết cá nhân của công chứng viên; (2) Xác định bằng một hoặc hai nhân chứng đáng tin cậy; và (3) Xác định bằng việc kiểm tra các giấy tờ tuỳ thân còn hiệu lực để thay thế cho những chứng cứ thuyết phục Nhiều quan điểm cho rằng cách thứ nhất và cách thứ hai là hai cách tốt nhất để xác định chính xác người yêu cầu công chứng Đối với cách thứ nhất thì hoàn toàn đáng tin cậy, không có bất

kỳ một sự rủi ro nào do công chứng viên và người yêu cầu công chứng có những mối quan hệ, quen biết cá nhân và công chứng viên xác định người yêu cầu công chứng bằng chính mối quan hệ cá nhân đó Đối với cách thứ hai, thì công chứng viên xác định người yêu cầu công chứng thông qua một hoặc hai người làm chứng mà cá nhân công chứng viên quen biết Tuy nhiên hai cách này khó có thể áp dụng một cách thuận tiện do phạm vi áp dụng hẹp (đối với cách thứ nhất) hoặc do gây phiền hà cho đương sự (đối với cách thứ hai) Theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam, thì không có quy định nào cho phép công chứng viên sử dụng người làm chứng

để xác định người yêu cầu công chứng Tóm lại, cách phổ biến nhất và cũng ít tin cậy nhất để xác định người yêu cầu công chứng chính là việc xác định người yêu cầu công chứng thông qua giấy tờ tuỳ thân của họ Sau khi xác định chính xác người yêu

Trang 27

cầu công chứng, công chứng viên phải kiểm tra trạng thái tâm lý cũng như khả năng nhận thức của người yêu cầu công chứng trước khi cho họ ký kết một hợp đồng, giao dịch nào đó Nói cụ thể hơn là công chứng viên phải đọc lại (hoặc đề nghị người yêu cầu công chứng tự đọc lại) toàn bộ nội dung hợp đồng, giao dịch cho các bên giao kết nghe, giải thích các quyền và nghĩa vụ của họ phát sinh theo bản hợp đồng này, giải đáp các thắc mắc cho họ (nếu có) Thậm chí, công chứng viên có nghĩa vụ thông báo trước những hình phạt, những hậu quả pháp lý mà đương sự có thể phải gánh chịu nếu vi phạm các quy định hiện hành của pháp luật có liên quan Chỉ khi nào chắc chắn rằng người yêu cầu công chứng ký kết một hợp đồng, giao dịch nào đó trong trạng thái tinh thần thoải mái, không chịu bất kỳ một sức ép nào từ phía bên ngoài và rằng, họ hoàn toàn ý thức được hậu quả việc làm của mình … thì công

chứng viên mới cho họ ký kết hợp đồng, giao dịch đó Thứ hai là yêu cầu công

chứng viên phải xác định được “đúng việc” Để chứng nhận tính xác thực của bất kỳ một hợp đồng, giao dịch nào, công chứng viên phải đề nghị người yêu cầu công chứng phải xuất trình các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến hợp đồng, giao dịch đó Những giấy tờ, tài liệu này có thể là giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản đem ra giao dịch, các giấy tờ về uỷ quyền, về tình trạng hôn nhân… Trong trường hợp có nghi ngờ về độ tin cậy của những giấy tờ, tài liệu nêu trên thì công chứng viên có quyền trưng cầu giám định từ những cá nhân, cơ quan có thẩm quyền Nói cụ thể hơn thì tính xác thực không chỉ đơn thuần là việc công chứng viên phải xác định chính xác cá nhân người yêu cầu công chứng mà căn cứ vào các giấy tờ do đương sự xuất trình, công chứng viên còn phải xác định xem người yêu cầu công chứng có đầy

đủ tư cách theo quy định của pháp luật để xác lập, giao kết hợp đồng, giao dịch đó hay không?

2.2 Tổ chức hành nghề công chứng

Theo quy định tại Điều 23 Luật công chứng 2006 thì hình thức tổ chức hành

nghề công chứng bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng Hai tổ

chức này cùng hoạt động trong lĩnh vực công chứng, đều có Công chứng viên là nhân sự chủ chốt, đều tạo ra sản phẩm là các văn bản công chứng phục vụ cho hoạt động mua bán, giao dịch của người dân Các căn bản công chứng này có giá trị pháp

lý như nhau, không phân biệt là của Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng

2.2.1 Phòng công chứng

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Phòng công chứng là cơ quan do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thành lập và đặt dưới sự quản lý của Giám Đốc Sở Tư pháp Phòng công chứng không phải là cơ

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm