1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT đảm bảo QUYỀN CON NGƯỜI của NGƯỜI bị hại TRONG tố TỤNG HÌNH sự VIỆT NAM

104 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thời gian gần đây, các nhà khoa học pháp lý Việt Nam thường quan tâm, bàn cãi nhiều về các quy định của pháp luật tố tụng hiện hành trong việc đảm bảo quyền con người của ngườ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN





………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN





………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU .1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 4

1.1 Nhận thức chung về quyền con người .4

1.1.1 Khái niệm quyền con người và quyền công dân .4

1.1.1.1 Khái niệm quyền con người .4

1.1.1.2 Khái niệm quyền công dân .8

1.1.1.3 Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân .9

1.1.2 Nội dung chủ yếu của quyền con người, quyền công dân .10

1.1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu quyền con người 11

1.2 Nhận thức chung về quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam 13

1.2.1 Khái niệm người bị hại và quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự .13

1.2.1.1 Khái niệm người bị hại 13

1.2.1.2 Quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự 17

1.2.1.3 Ý nghĩa của việc đảm bảo quyền con người của người bị hại .23

1.2.2 Vai trò của pháp luật tố tụng hình sự trong việc đảm bảo quyền con người của người bị hại .24

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 27

2.1 Pháp luật thực định về đảm bảo quyền thực hiện chức năng buộc tội của người bị hại 27

2.1.1 Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu 27

2.1.2 Quyền được thông báo kết quả điều tra .30

2.1.3 Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch .32

2.1.4 Quyền tham gia phiên toà, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà .38

Trang 5

2.1.5 Quyền yêu cầu khởi tố vụ án và rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại .40 2.1.6 Quyền trình bày lời buộc tội tại phiên toà trong những vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại .45 2.1.7 Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án .47

2.2 Pháp luật thực định về đảm bảo quyền yêu cầu người gây ra thiệt hại bồi thường, khắc phục thiệt hại .50 2.3 Pháp luật thực định về đảm bảo quyền có người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi .52

2.3.1 Quyền có người đại diện hợp pháp .53 2.3.2 Quyền có người bảo vệ quyền lợi .57

2.4 Pháp luật thực định về đảm bảo quyền được bảo vệ an toàn danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khoẻ và tài sản 59 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ HẠI 62 3.1 Một số bất cập của pháp luật tố tụng hình sự về đảm bảo quyền con người của người bị hại 62

3.1.1 Bất cập về quyền thực hiện chức năng buộc tội .63

3.1.1.1 Bất cập về quyền được thông báo về kết quả điều tra: “BLTTHS

2003 quy định chung chung, không rõ ràng về kết quả điều tra” 63

3.1.1.2 Bất cập về quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người

giám định, người phiên dịch: “BLTTHS 2003 không quy định cho người bị hại được

quyền thông báo trước về những người này để họ có sự tìm hiểu” .66

3.1.1.3 Bất cập về chế định khởi tố theo yêu cầu của người bị hại:

“BLTTHS 2003 không quy định cụ thể về việc trình bày lời buộc tội của người bị hại cũng như không đảm bảo cho họ các quyền năng trước giai đoạn xét xử trong những vụ án khởi tố theo yêu cầu của họ” 67

3.1.1.4 Bất cập về quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án:

“BLTTHS 2003 có hai điều luật cùng quy định về quyền kháng cáo nhưng phạm vi lại khác nhau nên áp dụng điều nào” .69

3.1.2 Bất cập về quyền có người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi 71

3.1.2.1 Về quyền có người đại diện hợp pháp: “BLTTHS 2003 chưa ghi

nhận cho người bị hại là người bị mất tích có được người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng, cũng như chưa quy định cụ thể về người đại diện hợp pháp” 71

Trang 6

3.1.2.2 Về quyền có người bảo vệ quyền lợi: “BLTTHS 2003 chưa ghi

nhận cho người đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền mời người bảo vệ quyền lợi; chưa ghi nhận vấn đề cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi tại Điều 59; chưa đảm bảo quyền được cử người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất trong trường hợp họ và người đại diện hợp pháp có nhu cầu nhưng không có khả năng mời” 73

3.1.3 Bất cập về quyền được bảo vệ an toàn danh dự, nhân phẩm, tính mạng,

sức khoẻ và tài sản: “BLTTHS 2003 không đảm bảo cho người bị hại có quyền yêu

cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản

và các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng” 76

3.1.4 Một số bất cập khác do BLTTHS 2003 không ghi nhận 77 3.1.4.1 BLTTHS 2003 không ghi nhận cho người bị hại quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ .77

3.1.4.2 BLTTHS 2003 không ghi nhận cho người bị hại quyền được thanh toán chi phí đi lại và các chi phí khác phát sinh khi phải tham gia tố tụng theo triệu tập của Cơ quan tiến hành tố tụng 79

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về đảm bảo quyền con người của người bị hại 81

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện quyền thực hiện chức năng buộc tội của người bị hại 81 3.2.1.1 Kiến nghị về quyền được thông báo kết quả điều tra 81 3.2.1.2 Kiến nghị về quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch 82

3.2.1.3 Kiến nghị về chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại 83 3.2.1.4 Kiến nghị về quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án 85 3.2.2 Kiến nghị về quyền có người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi 86 3.2.2.1 Về quyền có người đại diện hợp pháp 86 3.2.2.2 Về quyền có người bảo vệ quyền lợi 88 3.2.3 Kiến nghị về quyền được bảo vệ an toàn danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khoẻ và tài sản 90

Trang 7

3.2.4 Một số kiến nghị hoàn thiện các bất cập do BLTTHS 2003 không ghi nhận .91 3.2.4.1 Kiến nghị bổ sung quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ cho người bị hại 91

3.2.4.2 Kiến nghị bổ sung quyền được thanh toán chi phí đi lại và các chi phí phát sinh khác khi phải tham gia tố tụng theo triệu tập của Cơ quan tiến hành tố tụng cho người bị hại 91

KẾT LUẬN .93 Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quyền con người trong tố tụng hình sự đã thu hút được sự quan tâm của khá nhiều nhà nghiên cứu Những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu này góp phần bảo vệ những người tham gia hoạt động tố tụng hình sự trước nguy cơ bị tổn thương, đồng thời thúc đẩy tiến trình bảo vệ quyền con người nói chung Vấn đề này còn có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh thực hiện chủ trương cải cách tư pháp

và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam Mục tiêu cải cách tư pháp suy cho cùng cũng phải đáp ứng yêu cầu kiểm soát tội phạm và bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự

Tố tụng hình sự là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước ở đó các giá trị quyền con người của những chủ thể trong quan hệ tố tụng rất dễ dàng bị tổn thương, xâm hại hơn so với các lĩnh vực khác bởi tính chất bất bình đẳng của quan

hệ pháp luật tố tụng hình sự, bởi khả năng người tham gia tố tụng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, bởi xu hướng đề cao lợi ích chung khi giải quyết vụ án, … Con người trong tố tụng hình sự bao gồm người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, họ đều là những chủ thể có thể bị xâm hại các quyền con người Tuy nhiên, thời gian gần đây, các nhà khoa học pháp lý Việt Nam thường quan tâm, bàn cãi nhiều về các quy định của pháp luật tố tụng hiện hành trong việc đảm bảo quyền con người của người bị buộc tội (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) mà quên đi rằng ngoài người bị buộc tội còn có rất nhiều chủ thể khác cũng cần được đảm bảo các quyền con người khi họ tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự trong đó đáng chú ý nhất là chủ thể người bị hại

Người bị hại là người bị tội phạm xâm hại, tổn thương và rất cần sự bảo vệ kịp thời của pháp luật tố tụng hình sự Với các quy định của pháp luật tố tụng hình

sự hiện hành về việc đảm bảo các quyền của người bị hại khi họ tham gia vào quan

hệ tố tụng đã thấy được sự quan tâm, bảo vệ của pháp luật tố tụng Tuy nhiên sự quan tâm, bảo vệ này chưa thật sự tương xứng với yêu cầu, đòi hỏi thực tế của người bị hại hiện nay Bởi vì hiện tại các quy định đảm bảo quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự đang phát sinh một số điểm hạn chế khiến cho quyền lợi của người bị hại không được bảo vệ kịp thời, an toàn Đó là sự quy định không rõ ràng trong các điều khoản của luật, mâu thuẫn, chồng chéo với nhau, luật không ghi nhận một số vấn đề mà thực tiễn phát sinh Nhận thức được vấn đề này, một số ít nhà nghiên cứu đã bắt đầu quan tâm trở lại các quy định của pháp luật tố tụng về quyền

Trang 9

con người của người bị hại trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, những nghiên cứu này hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, chính vì thế, để có thể góp phần hoàn thiện pháp luật bảo vệ các quyền của người bị hại người viết đã chọn đề tài nghiên

cứu là “Hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyền con người của người bị hại trong tố

tụng hình sự Việt Nam”

2 Phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyền con người của

người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam” được người viết tập trung nghiên cứu

trên ba phương diện: lý luận, pháp lý và thực tiễn Trên phương diện lý luận người viết chủ yếu nghiên cứu các vấn đề chung nhất về quyền con người, tìm hiểu về người bị hại và vai trò của pháp luật tố tụng hình sự trong việc bảo đảm quyền con người của người bị hại để từ đó hiểu rõ về quyền con người của người bị hại trong

tố tụng hình sự làm cơ sở cho việc nghiên cứu các vấn đề pháp lý Trên phương diện pháp lý, người viết tập trung phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình

sự hiện hành về việc ghi nhận các quyền năng cho người bị hại, chủ yếu là tại Điều

51 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 (sau đây viết tắt là BLTTHS 2003) ngoài ra còn một số điều luật khác Cuối cùng dựa trên những vấn đề lý luận và pháp lý đó, trên phương diện thực tiễn người viết sẽ làm rõ một số bất cập của pháp luật tố tụng hình

sự hiện hành về việc đảm bảo quyền con người của người bị hại, sau đó sẽ đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các bất cập trên

3 Mục tiêu nghiên cứu

Qua việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyền con người

của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam” người viết hướng tới việc làm rõ

các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về vấn đề bảo vệ các quyền con người của người bị hại khi họ tham gia tố tụng Để từ đó có thể tìm ra những

điểm bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật và đưa ra kiến nghị hoàn

thiện chúng nhằm giúp cho quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại được bảo vệ tốt hơn trong quá trình tố tụng

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã sử dụng một số phương pháp như: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp phân tích, liệt

kê, đánh giá, so sánh, tổng hợp để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu Cụ thể là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng được người viết sử dụng để làm rõ các quan điểm về quyền con người, bên cạnh đó, các phương pháp phân tích, liệt kê,

đánh giá, so sánh, tổng hợp được người viết sử dụng xuyên suốt trong quá trình

Trang 10

nghiên cứu để làm rõ các quy định của pháp luật, so sánh với quyền của bị cáo để làm rõ hơn quyền của người bị hại, … từ đó có thể giúp người viết nghiên cứu sâu hơn về đề tài

5 Kết cấu đề tài

Ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có ba chương, cụ thể là:

+ Chương 1: Lý luận chung về quyền con người và quyền con người của người

bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam

+ Chương 2: Pháp luật thực định về đảm bảo quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam

+ Chương 3: Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự

về đảm bảo quyền con người của người bị hại

Mặc dù đã nỗ lực, cố gắng nhưng do trong quá trình nghiên cứu, xem xét, tham khảo tài liệu người viết không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, người viết rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý Thầy, Cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

SVTH: Từ Đức Thắng

Trang 11

và xã hội Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề đáng bàn luận xoay quanh việc

đảm bảo quyền con người của các chủ thể trong quan hệ tố tụng hình sự, trong đó đáng quan tâm là việc đảm bảo quyền con người của người bị hại Để hiểu rõ việc

pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đảm bảo quyền con người của người bị hại như thế nào trước tiên chúng ta cần phải có sự nhận thức chung về quyền con người cũng như các vấn đề liên quan đến quyền con người Sau đó làm cơ sở cho việc tìm hiểu quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự

1.1 Nhận thức chung về quyền con người

Để có cái nhìn tổng quát về quyền con người thì phải làm rõ các vấn đề là khái

niệm quyền con người và quyền công dân, mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân, nội dung của quyền con người và quyền công dân, từ những tìm hiểu trên rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu quyền con người

1.1.1 Khái niệm quyền con người và quyền công dân

1.1.1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người là một phạm trù rất rộng, đa dạng và có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Để lý giải cho nguồn gốc và bản chất của quyền con người, dưới góc độ luật học tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về quyền con người, tiêu biểu là những quan niệm sau đây:

Quan niệm thứ nhất: Các nhà tư tưởng theo trường phái pháp luật tự nhiên

như Hobbes, Locke, Motesquieu, Jean.J Rousseau cho rằng quyền con người là đặc quyền tự nhiên, vốn có gắn liền với con người vì có luật tự nhiên1 đứng cao hơn

pháp luật thực định chứ không phải do vương quyền, thần quyền ban phát, tặng cho Locke nêu ra và lập luận các quyền cơ bản, tự nhiên của con người bao gồm quyền

được sống, quyền tự do và quyền có tài sản Quan niệm này đã chỉ ra được bản chất

tự nhiên của quyền con người nhưng lại tuyệt đối hoá vị trí của cá nhân, coi con người là bất biến không phụ thuộc vào không gian, thời gian, quốc gia, dân tộc, tôn

1

Xem: Montesquieu, Tinh thần pháp luật (Hoàng Thanh Đạm dịch năm 1996), NXB Giáo dục, Hà Nội, tr.44

Trang 12

giáo dẫn đến việc phủ nhận tính giai cấp, tính xã hội và tính đặc thù của quyền con người

Quan niệm thứ hai: Đối lập với quan niệm thứ nhất, quan niệm này xuất phát

từ việc xem xét con người trong tổng thể các quan hệ xã hội, Aristotle khẳng định:

“Con người là con vật chính trị”, Jacques Mourgon thì cho rằng: “Con người thuộc

về xã hội”2 nên quyền con người chỉ được xác định trong mối quan hệ giữa con

người với xã hội, ở từng thời kỳ phát triển của xã hội Quan niệm này đã chỉ ra được bản chất xã hội của quyền con người nhưng xem đó chỉ là một quyền lợi của con người với tư cách là một thành viên xã hội, hoàn toàn phụ thuộc và định đoạt bởi Nhà nước, bởi giai cấp cầm quyền nên đã dẫn đến tình trạng không thừa nhận tính

tự nhiên, tính phổ biến của quyền con người

Quan niệm của Chủ nghĩa Mác – Lênin: Theo quan niệm Mác – Lênin thì

hai quan niệm trên đều có những hạt nhân hợp lý riêng nhưng lại tuyệt đối hoá một trong hai thuộc tính căn bản của quyền con người nên không tránh khỏi chủ quan, phiến diện khi nhận thức về bản chất quyền con người Kế thừa và khắc phục hạn chế của hai quan niệm trên, học thuyết Mác – Lênin đã đưa ra quan điểm rất biện chứng về quyền con người khi xem xét con người với tư cách là một sản phẩm của

tự nhiên và xã hội: “Vì sự sinh đẻ chỉ đem lại cho con người sự tồn tại cá nhân, và

trước hết nó đem lại sự sống cho con người chỉ như là cá nhân tự nhiên, còn những tính quy định nhà nước như quyền lập pháp v.v…, thì lại là những sản phẩm xã hội,

là con đẻ của xã hội, chứ không phải là những sản phẩm của cá nhân tự nhiên”3

Trong mối quan hệ giữa tự nhiên, xã hội và con người, thì tự nhiên là cái có trước con người nhưng con người không chỉ thích ứng với tự nhiên mà còn cải tạo

tự nhiên, đồng thời phát triển và tự hoàn thiện mình F Ăngghen nói: “Lao động

sáng tạo ra con người” là theo ý nghĩa đó Khác với tự nhiên, xã hội không thể xuất

hiện trước con người, mà xuất hiện cùng lúc với con người, vì không thể có con người sống ngoài xã hội Nói cách khác, con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội Trong con người có hai mặt không thể tách rời nhau: mặt tự nhiên và mặt xã hội Con người chính là một thực thể sinh học – xã hội, bởi

vì nó vừa là một cơ thể sống, vừa mang bản chất xã hội, là sự thống nhất giữa mặt

tự nhiên và xã hội, cho nên con người vừa chịu sự tác động của các quy luật tự nhiên vừa chịu sự tác động của các quy luật xã hội Chính mặt xã hội của con người

đã làm cho mặt sinh học trong con người phát triển ở trình độ cao hơn so với các

Trang 13

động vật khác Con người với tư cách là chủ thể của quyền cho nên quyền con

người ngay từ đầu đã được quy định bởi thuộc tính tự nhiên, bên cạnh đó, cùng với quá trình tồn tại, biến đổi cùng cộng đồng xã hội, quyền con người còn mang đậm

bản tính xã hội Giống như C.Mác nói: “Con người không phải là một sinh vật trừu

tượng, ẩn náu đâu đó ngoài thế giới Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội”4 Vì vậy, bên cạnh những bản tính tự nhiên, quyền con người còn

mang đậm bản tính xã hội

Trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền con người, ta thấy rằng giữa bản tính tự nhiên và bản tính xã hội của quyền con người có mối quan hệ biện chứng với nhau, vừa đối lập, vừa thống nhất trong một chỉnh thể thống nhất – quyền con người Do quá trình tồn tại và phát triển để thích nghi với các điều kiện của tự nhiên và xã hội, hai thuộc tính của quyền con người tác động qua lại lẫn nhau trong từng khu vực địa lý, hoàn cảnh lịch sử cụ thể tạo cho quyền con người có thêm những đặc tính như tính nhân loại, tính đặc thù, tính phổ biến, tính giai cấp, tính thống nhất với quyền dân tộc cơ bản Cụ thể như sau:

 Quyền con người mang tính nhân loại sâu sắc: Quyền con người vừa là một

giá trị bất biến gắn liền với sự ra đời và tồn tại của con người, vừa biến đổi cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc, vừa là kết quả cuộc đấu tranh của toàn thể nhân nhân lao

động nhằm đập tan ách thống trị trên toàn thế giới, giành lại quyền tự do chân chính

cho mình, là giá trị nhân văn cao quý mà xã hội loài người hướng tới Muốn phát triển con người một cách toàn diện thì không thể thực hiện ở một quốc gia, một dân tộc riêng lẽ mà phải là sự giải phóng toàn nhân loại Do đó, quyền con người mang tính nhân loại sâu sắc

 Quyền con người vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù:

- Tính đặc thù: Quyền con người là một giá trị khách quan, vốn có của con

người mà bất cứ ai cũng có quyền được hưởng nên nó thúc đẩy Nhà nước tạo ra các giá trị, chuẩn mực, các quy định, nguyên tắc về quyền con người để điều chỉnh cách thức ứng xử của họ đối với những người là công dân và không phải công dân của họ sao cho phù hợp với các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của nước mình, và tất nhiên tính đặc thù này không được trái với những giá trị chung của nền văn minh nhân loại

4

Xem: C.Mác và Ph Ănghen toàn tập (1995), T.1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.569

Trang 14

- Tính phổ biến: Tính phổ biến của quyền con người có nghĩa là quyền con

người được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, cho mọi đối tượng Do con người không chỉ tồn tại với tư cách là thành viên công dân của một quốc gia, mà còn là thành

viên, “công dân” của cộng đồng quốc tế5 Vì vậy, quyền con người là một hệ thống giá trị chung được pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế thừa nhận, bảo hộ

 Quyền con người vừa mang tính giai cấp, vừa thống nhất với quyền dân tộc

cơ bản: Quyền con người là những đặc lợi tự nhiên vốn có gắn liền với con người,

tồn tại không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Nhưng lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của sự đấu tranh giai cấp và giải phóng con người, dân tộc thoát khỏi áp bức, bóc lột và thành quả của cuộc đấu tranh này chính là những nhu cầu sống, những khát vọng của con người, của các dân tộc bị nô dịch, cụ thể đó chính là các quyền con người Do đó, Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và Đảng

Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Lịch sử đấu tranh giải phóng con người, cải tạo

xã hội trong xã hội có giai cấp là lịch sử các cuộc đấu tranh giai cấp Quyền con người là thành quả của các cuộc đấu tranh đó Vì vậy, quyền con người không thể không mang tính giai cấp”

Ở Việt Nam, quyền con người mà người dân Việt Nam có được hôm nay là

thành quả của cuộc đấu tranh gian khổ, trường kỳ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người dưới sự lãnh đạo của Đảng Giải phóng con người gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc Chỉ dưới tiền đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì quyền con người mới có điều kiện được đảm bảo đầy đủ, rộng rãi và trọn vẹn nhất Nước Việt Nam được độc lập, tự do người dân Việt Nam mới có được các quyền con người thật sự Do đó, quyền con người thống nhất với

quyền dân tộc cơ bản, nói cách khác, quyền con người chỉ có trong độc lập dân tộc

Ngoài bản tính tự nhiên và bản tính xã hội, cùng với các đặc tính đặc trưng, với tư cách là một hệ giá trị cao quý của con người, quyền con người còn có những

đặc tính sau:

 Quyền con người là một phạm trù chính trị, pháp lý: Mặc dù quyền con người

được thể hiện là những quyền tự nhiên vốn có gắn liền với mỗi con người nhưng tự

bản thân chúng, những quyền tự nhiên đó chưa phải là quyền mà nó phải được đặt trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội, với một quy chế pháp lý nhất định Chỉ khi trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật, tức là được pháp luật ghi nhận thì mới trở thành các quyền của con người Bởi vì chỉ có pháp luật mới là phương thức đảm bảo quyền con người hữu hiệu nhất và cũng chỉ có pháp luật mới có thể chính thức

5

Xem: Đinh Văn Mậu (2003), Quyền lực nhà nước và quyền công dân, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.324

Trang 15

hoá các giá trị xã hội của quyền con người, làm cho quyền con người trở thành quyền pháp định, trở thành ý chí chung của xã hội, được xã hội thừa nhận và phục

tùng: “Khi quyền con người được ghi nhận trong hiến pháp và pháp luật thì nó sẽ

trở thành tối thượng, có giá trị bắt buộc đối với tất cả các thành viên trong xã hội,

kể cả Nhà nước”6 Vì vậy, quyền con người cần phải được bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh thống nhất bằng Hiến pháp và pháp luật mà trước tiên và quan trọng nhất là phải được ghi nhận trong Hiến pháp – đạo luật cơ bản của một quốc gia

 Quyền con người là những giá trị bất khả xâm phạm: Quyền con người là

những giá trị gắn liền với bản thân con người, có vị trí cao nhất trong thang bậc giá trị xã hội và không thể đánh đổi bằng bất cứ thứ gì Vì vậy, quyền con người không thể bị tước đoạt, hạn chế một cách tuỳ tiện bởi bất kỳ chủ thể nào, kể cả Nhà nước trừ một số trường hợp thật cần thiết và được Hiến pháp, Luật quy định

 Quyền con người là những giá trị không thể phân chia: Tất cả các quyền con

người đều có tầm quan trọng như nhau, không quyền nào được coi là có giá trị hơn quyền nào Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào cũng đều ảnh hưởng đến những quyền con người còn lại Tuy nhiên, tuỳ vào bối cảnh, lĩnh vực cụ thể và đối với những đối tượng cụ thể thì có thể ưu tiên bảo đảm một số quyền nhất

định dựa trên những yêu cầu thực tế

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm quyền con người như sau:

“Quyền con người là những giá trị cao quý của nhân loại, là một chỉnh thể thống

nhất của các đặc tính trong mối quan hệ biện chứng với nhau, phản ánh những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có và khách quan của con người, gắn liền với các điều kiện kinh tế - chính trị - văn hoá – xã hội nhất định, được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế”

1.1.1.2 Khái niệm quyền công dân

Để có thể đưa ra khái niệm quyền công dân, trước tiên chúng ta cần hiểu thế

nào là công dân của một quốc gia Theo quy định của Luật quốc tịch năm 2008 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì công dân Việt Nam là người có quốc

tịch Việt Nam, từ quy định trên có thể đưa ra định nghĩa công dân như sau: “Công

dân của một quốc gia là một cá nhân có mang quốc tịch của quốc gia đó” Khi đã

có được quốc tịch của một quốc gia tức là đã trở thành công dân của quốc gia đó thì lúc này vấn đề quyền công dân mới được đặt ra Vậy quyền công dân là gì

6

Xem: PGS TS Trần Ngọc Đường, Bàn về Quyền con người quyền công dân, NXB Chính trị quốc gia, tr.22

Trang 16

Như đã biết, công dân của một quốc gia cũng là một con người, vì vậy công dân sẽ có được các quyền của con người, nhưng do tính đặc thù của quyền con người phụ thuộc vào điều kiện của từng quốc gia nên quyền con người của cá nhân

là công dân của một quốc gia được thể hiện dưới dạng một quyền cụ thể, xác định hơn quyền con người đó chính là quyền công dân Có thể khái quát quyền công dân

như sau: “Quyền công dân là quyền con người, là những giá trị gắn liền với một

nhà nước nhất định và được nhà nước đó bảo hộ bằng pháp luật của mình đối với người mang quốc tịch của nước mình, thể hiện mối liên hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi

cá nhân công dân với một nhà nước cụ thể”

Hiện nay, ở mọi quốc gia trên thế giới, trong các văn bản pháp luật, đặc biệt

là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp đều có chế định quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân Trong mỗi quốc gia, quyền công dân là nội dung cơ bản của quyền con người, một cá nhân con người không thể vừa có quyền con người, vừa có quyền công dân tách biệt hoàn toàn với nhau Thể hiện quan điểm này, Điều

50 Hiến pháp 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Ở

nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân

sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong hiến pháp và luật” Do đó, đảm bảo thực hiện tốt các quyền

công dân chính là thực hiện tốt nội dung cơ bản của quyền con người

1.1.1.3 Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân

Khi bàn về mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân thì có nhiều quan niệm khác nhau, theo quan niệm khoa học pháp lý ở các nước xã hội

chủ nghĩa thường đồng nhất quyền con người với quyền công dân, cũng theo một quan niệm khác của cách mạng tư sản cho rằng nên tách đôi quyền con người thành

quyền của cá nhân với tư cách là thành viên của xã hội công dân và quyền của cá nhân với tư cách là thành viên của cộng đồng chính trị, nhưng quan niệm này đã bị

C.Mác phê phán, C.Mác cho rằng cá nhân con người còn tồn tại trong xã hội thì

không thể tách đôi như vậy Và theo C.Mác, quyền con người và quyền công dân

luôn nằm trong một chỉnh thể thống nhất, trong mối quan hệ biện chứng với nhau

Quyền công dân chính là quyền con người trong một xã hội cụ thể, trong một chế

độ xã hội – chính trị nhất định với một nền pháp luật cụ thể Do chỗ đấu tranh

quyền con người bắt đầu từ lịch sử hình thành giai cấp, nhà nước và pháp luật nên khi nói đến quyền con người trước hết phải nói về quyền công dân

Kế thừa học thuyết của C.Mác, V.I.Lênin cũng khẳng định: “Quyền con

người và quyền công dân không thể tách rời một cách biệt lập”, mà sự thống nhất

Trang 17

giữa quyền con người và quyền công dân còn thể hiện ở chỗ quyền con người luôn gắn liền với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia Và quyền con người với tư cách là công dân của một quốc gia chỉ có thể đảm bảo thực hiện khi đã giải phóng con người khỏi sự áp bức, bóc lột và xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, các cá nhân, dân tộc đều có quyền quyết định vận mệnh của mình

Tuy giữa quyền con người và quyền công dân thống nhất biện chứng với nhau và trong mối quan hệ này đều ghi nhận các quyền của cá nhân nhưng nếu xét ở phương diện chủ thể và nội dung của quyền thì chúng hoàn toàn độc lập với nhau, không thể đồng nhất hai khái niệm quyền con người và quyền công dân

Ở khía cạnh nội dung của quyền ta thấy, quyền con người là khái niệm rộng

hơn, nó vừa ghi nhận trạng thái pháp lý về quyền cá nhân ở phạm vi quốc tế, vừa là quyền công dân ở phạm vi từng quốc gia nhất định Do đó, nội dung, số lượng và chất lượng của quyền công dân ở mỗi quốc gia thường không giống nhau Một mặt, quyền con người không loại trừ khái niệm quyền công dân, bao hàm quyền công dân như một bộ phận của quyền con người, tuy nhiên quyền con người cũng không thể thay thế khái niệm quyền công dân

Ở phương diện chủ thể của quyền ta thấy, chủ thể của quyền con người rộng

hơn quyền công dân, bởi vì quyền con người ngoài những cá nhân được xác định là công dân, còn bao hàm những người không phải là công dân (người nước ngoài, người không quốc tịch, người bị pháp luật tước quyền công dân); những người này tuy không được hưởng các quyền công dân trên lãnh thổ một quốc gia nhưng họ vẫn

có các quyền con người với tính cách là một thực thể tự nhiên – xã hội

Từ những phân tích trên, có thể kết luận rằng: “Quyền con người và quyền

công dân vừa mang tính độc lập, vừa có mối liên hệ lẫn nhau” Ngày nay, cộng

đồng quốc tế ngày càng quan tâm nhiều hơn về vấn đề quyền con người, con người

không chỉ tồn tại với tư cách là một thành viên công dân của một quốc gia mà còn

là thành viên công dân của cộng đồng quốc tế

1.1.2 Nội dung chủ yếu của quyền con người, quyền công dân

Khi xem xét nội dung quyền con người, quyền công dân, có nhiều cách phân loại khác nhau, như phân loại theo quan điểm triết học, xã hội học Nhưng sự phân loại của khoa học pháp lý có nhiều yếu tố hợp lý hơn và được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế hiện đại

Khoa học pháp lý chia nội dung quyền con người, quyền công dân thành các nhóm chính sau:

Trang 18

 Các quyền tự do dân chủ về chính trị bao gồm: quyền tham gia quản lý nhà

nước và xã hội, quyền bầu cử, ứng cử, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền được lập hội,…

 Các quyền dân sự (quyền tự do cá nhân) bao gồm: quyền bất khả xâm phạm

về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền được an toàn bí mật thư tín, điện thoại, quyền tự do đi lại và cư trú trong nước, quyền đi ra nước ngoài và từ nước ngoài trở

về nước, …

 Các quyền về kinh tế - xã hội bao gồm: quyền lao động, quyền tự do kinh

doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền thừa kế, quyền học tập, phát minh, sáng chế, quyền được bảo vệ sức khoẻ, quyền được bảo hộ hôn nhân gia đình, những quyền năng mang tính ưu tiên như quyền trẻ em, quyền người già, người cô

đơn không nơi nương tựa,…

Ở mỗi quốc gia, do có hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội, chế độ

chính trị khác nhau, … nên hệ thống các quyền không hoàn toàn giống nhau, nhưng những quyền cơ bản nhất thì vẫn tương đồng Ngày nay, việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người và quyền công dân đã có sự phối hợp rộng rãi giữa các quốc gia và cộng đồng quốc tế Nội dung quyền con người được xác định ngày càng đầy đủ và

cụ thể hơn Đó là thành quả của quá trình nhận thức và đấu tranh cho quyền con người của nhân loại tiến bộ, đồng thời góp phần thúc đẩy việc thưc hiện, bảo vệ quyền con người ở các quốc gia

1.1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu quyền con người

Quyền con người là vấn đề có lịch sử phát triển lâu dài và nội dung rộng lớn,

là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, bởi nó gắn liền với các chế độ chính trị khác nhau Quyền con người là thành quả của sự nghiệp đấu tranh giải phóng, cải tạo xã hội và cải tạo thiên nhiên của cả nhân loại Hiện nay, vấn đề quyền con người đang là một trong những chính sách đối ngoại quan trọng của các nước phương tây và cũng là công cụ hữu hiệu để các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội chủ nghĩa Do

đó, nghiên cứu quyền con người không chỉ có ý nghĩa sâu sắc về mặt lý luận mà còn

có ý nghĩa về mặt thực tiễn

Về mặt lý luận, nghiên cứu quyền con người nhằm để tôn vinh những giá trị

nhân văn, giúp nhận thức đúng đắn về quyền con người, giá trị thật sự của con người trong thế giới này Mặt khác, tuy quyền con người là những giá trị chung của nhân loại nhưng do tính đặc thù của quyền con người phụ thuộc vào chế độ kinh tế, thể chế chính trị, tôn giáo, dân tộc,… ở mỗi quốc gia nên quyền con người ở các

Trang 19

quốc gia này có những nét đặc trưng riêng Vì thế, ở mỗi quốc gia sẽ có những quan

điểm, đường lối chính sách riêng để đảm bảo quyền con người của công dân mình

Do đó, nghiên cứu tốt quyền con người sẽ giúp các quốc gia có được một đường lối phát triển đúng đắn Cụ thể ở Việt Nam, quan điểm về quyền con người của Đảng

và Nhà nước ta dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, truyền thống văn hoá dân tộc và xem xét, chọn lọc những tiêu chuẩn

về quyền con người được thế giới thừa nhận rộng rãi Đảng và Nhà nước ta khẳng

định quyền con người là thành quả và khát vọng chung của nhân loại Đảng chỉ rõ:

“Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”7 Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ

những giá trị cao quý về quyền con người được thế giới thừa nhận rộng rãi Đảng

chỉ đạo “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các

dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính về phẩm giá con người”8 Dựa trên quan

điểm bảo đảm quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng

Việt Nam, nhiều năm qua Đảng và Nhà nước đã thực thi nhiều chính sách đảm bảo quyền con người và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, đưa đất nước ta tiến

dần đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”,

góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì mục tiêu hoà bình và tiến bộ xã hội

Về mặt thực tiễn, hiện nay các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc” để can thiệp vào công việc nội bộ của

nước ta Chúng không thừa nhận tính đặc thù của quyền con người và cho rằng quyền con người chỉ là giá trị chung không phụ thuộc vào pháp luật hay đạo đức của bất kỳ xã hội nào và phải được áp dụng với những chuẩn mực và phương thức

đồng nhất ở mọi quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, kinh tế, lịch sử và văn

hoá Chúng rêu rao quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, tuyệt đối hoá

quyền tự do cá nhân, đặc quyền của cá nhân cao hơn chủ quyền của cộng đồng dân tộc Trước những âm mưu và hành động chống phá cũng như những quan điểm trái với những giá trị chung của nhân loại trên, chúng ta thấy rằng, việc nghiên cứu quyền con người thật sự đóng vai trò quan trọng giúp chúng ta nhận biết sớm và có những biện pháp chống lại các âm mưu trên

Trang 20

1.2 Nhận thức chung về quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình

sự Việt Nam

Để có sự nhận thức chung về quyền con người của người bị hại trong tố tụng

hình sự chúng ta cần phải tìm hiểu các vấn đề là khái niệm người bị hại, sau đó dựa trên những cơ sở lý luận về quyền con người đã phân tích để làm rõ quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự là gì, ý nghĩa của việc đảm bảo quyền con người của người bị hại và từ đó làm rõ vai trò của pháp luật tố tụng hình sự trong việc đảm bảo các quyền con người của người bị hại

1.2.1 Khái niệm người bị hại và quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự

1.2.1.1 Khái niệm người bị hại

Người bị hại là một trong những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTHS 2003 Việc tham gia tố tụng của người bị hại không chỉ nhằm bảo vệ và khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã bị hành vi phạm tội xâm hại

mà còn góp phần quan trọng vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án Do đó, tìm hiểu rõ khái niệm người bị hại là một trong những cơ sở lý luận quan trọng giúp bảo vệ tốt quyền lợi của người bị hại cũng như đảm bảo sự chính xác, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án

Theo pháp luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới thì không tìm thấy

sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ người bị hại Chẳng hạn như luật Tố tụng hình sự của Cộng hoà Pháp, Liên bang Nga hay Việt Nam sử dụng thuật ngữ

“Người bị hại”, trong khi đó luật Tố tụng hình sự của Cộng hoà nhân dân Trung

Hoa lại sử dụng thuật ngữ “Người tố cáo” Ngoài ra, người bị hại còn được gọi là

“Người bị thiệt hại”, hay là “nạn nhân”, hay “dân sự nguyên cáo”9 Việc sử dụng thuật ngữ này như thế nào đòi hỏi phải thể hiện được bản chất cũng như nội dung, tính chặt chẽ của thuật ngữ, do vậy, việc sử dụng thuật ngữ người bị hại để chỉ người bị tội phạm xâm hại là hợp lý hơn cả Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một cách hiểu rõ ràng về khái niệm người bị hại Để có sự nhận thức đầy đủ và thống nhất về khái niệm người bị hại, theo người viết cần phải tiếp cận ở các góc độ sau:

 Dưới góc độ ngôn ngữ: Người bị hại có thể hiểu là một con người cụ thể

trong xã hội, chịu sự tác động của sự việc, hành vi, hoặc bất kỳ sự tác động nào

9

Xem: Lê Tiến Châu, Người bị hại trong tố tụng hình sự, Tạp chí khoa học pháp lý số 1(38)/2007

Trang 21

khác dẫn đến những thiệt thòi, mất mát hay tổn thương cho chính họ, sự tác động này phải trái với ý muốn của người bị hại và họ tiếp nhận một cách thụ động Thiệt hại gây ra cho người bị hại có thể là thiệt hại về vật chất hoặc là phi vật chất và không cần phải giới hạn mức độ thiệt hại

 Dưới góc độ ngôn ngữ pháp lý: Theo Từ điển luật học, “Người bị hại là

người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần, hoặc về tài sản do tội phạm gây ra Người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể là pháp nhân”10

 Dưới góc độ của pháp luật thực định: Theo Điều 51 BLTTHS 2003 quy

định: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra” Với quy định này, người bị hại thường được hiểu là “một con người cụ thể

bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại” Thể chất, tinh thần, tài sản của họ phải là

đối tượng tác động của tội phạm Đồng nhất với quan điểm này luật một số nước

cũng có quy định tương tự Chẳng hạn, Điều 53 BLTTHS của Liên bang Nga quy

định: “Người bị hại là người bị tội phạm gây thiệt hại về tinh thần, thể chất hoặc tài sản” Còn Khoản 1, Điều 43 BLTTHS của Tiệp Khắc trước đây quy định: “Người

bị hại là người bị tội phạm gây thiệt hại về sức khoẻ hoặc tài sản, tinh thần hoặc những thiệt hại khác”11 Tuy nhiên, những quy định trên vẫn chưa làm rõ những vấn đề quan trọng của khái niệm người bị hại như thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu có bao gồm thiệt hại gián tiếp không; Thiệt hại đó có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội không; Thiệt hại đó có phải do bất kỳ tội phạm nào gây ra hay không; Và trong trường hợp hành vi phạm tội chưa gây thiệt hại cho một người thì người đó có được xem là người bị hại không; Về vấn đề người bị hại có bao gồm

cả cơ quan, tổ chức hay không thì hiện nay cũng có rất nhiều quan điểm xoay quanh vấn đề này nhưng do phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào người bị hại là thể nhân

nên vấn đề này người viết sẽ không phân tích cụ thể

Để giải quyết các vấn đề trên thì chúng ta cần căn cứ vào các cấu thành tội

phạm và tính chất của sự thiệt hại để xác định người bị hại Trong khoa học luật Hình sự, tội phạm được chia thành hai loại cấu thành tội phạm cơ bản:

- Loại tội phạm có cấu thành vật chất: Loại cấu thành tội phạm này đòi hỏi

phải có hậu quả xảy ra, hậu quả thường là thiệt hại về vật chất hoặc thể chất, ví dụ như tội giết người (Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999) đòi hỏi phải có hậu quả chết người xảy ra hoặc tội giết con mới đẻ (Điều 94 Bộ luật Hình sự năm 1999) bắt buộc

Trang 22

phải có hậu quả đứa trẻ chết, … Những thiệt hại này phải cụ thể, có tính hiện tại và xác định Sự thiệt hại này không thể không cụ thể, chưa xác định, chưa hoặc sắp xảy

ra Sự thiệt hại này phải là thiệt hại trực tiếp do chính tội phạm gây ra và nhất thiết phải có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội Một điều cơ bản khi xác định thiệt hại của người bị hại đó là sự thiệt hại này phải do một tội phạm được quy định trong luật Hình sự xâm hại đến khách thể được luật Hình sự bảo vệ Đồng thời sự thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu không có nguồn gốc từ hành vi vi phạm pháp luật của người bị hại Từ những phân tích trên, chúng ta không thể chấp nhận quan điểm cho rằng thiệt hại của người bị hại là bao gồm cả thiệt hại gián tiếp và sự thiệt hại này không có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội

- Loại tội phạm có cấu thành hình thức: Thiệt hại gây ra cho người bị hại

trong loại cấu thành tội phạm này thường là thiệt hại về tinh thần, chủ yếu là các tội phạm xâm phạm về sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người như tội hiếp dâm (Điều 111 Bộ luật Hình sự năm 1999), tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 Bộ luật Hình

sự năm 1999), … Vì vậy thiệt hại đó không cụ thể, khó xác định và không thể định lượng mức độ thiệt hại trên thực tế của người bị hại Do đó, ngoài trường hợp tội phạm đã hoàn thành, trong trường hợp phạm tội chưa đạt được do những nguyên nhân khách quan ngoài ý chí của kẻ phạm tội thì người có nguy cơ bị xâm hại cũng

được xem là người bị hại trong trường hợp này mặc dù thiệt hại đối với họ là chưa

xảy ra12

Mặt khác, trong khoa học pháp lý cũng có khá nhiều khái niệm tương đồng với khái niệm người bị hại như nạn nhân của tội phạm, đối tượng tác động của tội phạm Do đó, để hiểu rõ hơn khái niệm người bị hại thì chúng ta cần phân biệt với các khái niệm này Cụ thể là:

Nạn nhân của tội phạm là người bị hại: Về vấn đề này cũng có quan điểm

cho rằng nạn nhân của tội phạm chính là người bị hại, quan điểm này đúng nhưng

chưa đủ như bản chất của hai thuật ngữ Trong văn kiện “Các nguyên tắc về tố tụng

và chứng cứ” được áp dụng cho tội phạm quốc tế khái niệm nạn nhân của tội phạm được hiểu như sau: “Nạn nhân của tội phạm là những người phải gánh chịu những thiệt hại do tội phạm gây ra”13 Từ khái niệm trên ta thấy những thiệt hại phát sinh

đối với nạn nhân của tội phạm có thể là thiệt hại trực tiếp hoặc là thiệt hại gián tiếp

còn đối với người bị hại như đã phân tích chỉ có thể là thiệt hại trực tiếp mà thôi Do

đó, phạm vi người bị hại hẹp hơn rất nhiều so với nạn nhân của tội phạm Hơn nữa,

Trang 23

nạn nhân của tội phạm chỉ trở thành người bị hại khi đã tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự và được các Cơ quan tiến hành tố tụng công nhận

Ví dụ: A dùng dao chém B tại quán của C làm B bị thương nặng Trong quá

trình thực hiện hành vi chém B, A đã làm hư hỏng một số tài sản ở quán của C

Trong ví dụ này ta thấy hành vi của A đã xâm phạm thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của B và thiệt hại về tài sản của C Ở góc độ khái niệm nạn nhân của tội phạm thì cả B và C đều là nạn nhân từ hành vi phạm tội của A, bởi vì họ đều là người bị hành vi phạm tội xâm hại lợi ích Tuy nhiên, khi xem xét ai là người bị hại trong tố tụng hình sự thì chỉ có B mới được xem là người bị hại mà thôi Bởi vì, hành vi của A đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ của B, mong muốn của

A khi thực hiện hành vi phạm tội là nhằm gây tổn hại tính mạng, sức khoẻ cho B,

do đó, B chính là người bị hại từ hành vi của A Còn thiệt hại về tài sản đối với C là thiệt hại không nằm trong mong muốn của A khi thực hiện hành vi phạm tội, và trong trường hợp này nếu tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự thì C chỉ có thể tham gia với tư cách là nguyên đơn dân sự

Đối tượng tác động của tội phạm: Đây là một bộ phận hợp thành khách

thể của tội phạm, là cái mà tội phạm muốn tác động, xâm hại tới Đối tượng tác

động của tội phạm không chỉ bao gồm con người mà còn bao gồm các đối tượng vật

chất khác như tiền, tài sản, … và các hoạt động bình thường của chủ thể Trong khi

đó con người – nạn nhân bị tội phạm xâm hại về thể chất, tinh thần và các quyền tự

do dân chủ, đó chính là những đối tượng tác động mà tội phạm hướng tới

Ví dụ: Nguyễn Văn M nhân lúc cả nhà của Anh N ngủ say nên đã lẻn vào

nhà Anh N để trộm tài sản và đã lấy đi một số tiền trị giá 20 triệu đồng

Trong ví dụ trên ta thấy, hành vi của M đã xâm phạm đến khách thể là quyền

sở hữu của công dân được luật Hình sự bảo vệ Ở góc độ người bị hại thì Anh N

được xem là người bị hại từ hành vi trộm tài sản của M bởi vì N bị “mất 20 triệu đồng” còn ở góc độ là đối tượng của tội phạm thì số tiền 20 triệu đồng được xem là

đối tượng tác động của tội phạm – cái mà M muốn có được khi thực hiện hành vi

trộm tài sản và thông qua đó để gây thiệt hại cho N Do đó ta thấy, giữa người bị hại

và đối tượng tác động của tội phạm có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải là một, tội phạm chỉ có thể gây phương hại cho người bị hại khi tác động tới

đối tượng này

Trang 24

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng giữa các khái niệm người bị hại, nạn nhân của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm tuy có nhiều điểm tương

đồng, đan xen với nhau nhưng không thể đồng nhất chúng với nhau

Tóm lại chúng ta có thể rút ra khái niệm người bị hại như sau: “Người bị hại

là cá nhân bị thiệt hại về thể chất (bị giết chết, bị gây thương tích, …), về tinh thần (bị vu khống, bị làm nhục, …), về tài sản (bị làm hư hỏng tài sản, bị chiếm đoạt tài sản, …) do tội phạm gây ra” Khái niệm này bao hàm các đặc điểm sau:

- Người bị hại chỉ có thể là cá nhân

- Thiệt hại mà tội phạm gây ra cho người bị hại có thể là thiệt hại về thể chất, thiệt hại về tinh thần hoặc thiệt hại về tài sản Và sự thiệt hại này không phải là điều kiện bắt buộc trong một số trường hợp

- Thiệt hại của người bị hại phải là đối tượng tác động của tội phạm, tức là phải

có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả gây ra cho người bị hại

Đây là điều kiện quan trọng để phân biệt với nguyên đơn dân sự trong vụ án hình

sự

- Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra chỉ được tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại khi được các Cơ quan tiến hành tố tụng công nhận

1.2.1.2 Quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự

 Cơ sở lý luận quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự

Trong nhà nước pháp quyền, các quyền con người được pháp luật bảo đảm thực hiện và được bảo vệ không bị xâm phạm Ghi nhận và bảo vệ quyền con người trên thực tế là sự thể hiện của một nhà nước nhân đạo, tiến bộ, dân chủ, văn minh Các quyền con người trở thành đối tượng bảo vệ trong việc ghi nhận về pháp lý, trong hoạt động thi hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật của nhà nước Bảo vệ quyền con người không chỉ là nội dung, bản chất mà còn trở thành mục tiêu cao nhất trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta14 Mặt khác, ở góc độ nghiên cứu quyền con người như đã phân tích, quyền con người là những giá trị cao quý, bất khả xâm phạm, gắn liền với sự tồn tại của mỗi cá nhân con người cho nên nó phải được đảm bảo trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội với bất

kỳ cá nhân nào và lĩnh vực tố tụng hình sự cũng không ngoại lệ

Tố tụng hình sự là một lĩnh vực rất dễ làm con người bị tổn thương và vi phạm các quyền con người hơn so với các lĩnh vực khác bởi tính chất bất bình đẳng

14 Xem: PGS TS Trần Văn Độ, Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng

hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Trang 25

của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, bởi xu hướng đề cao lợi ích chung của xã hội khi giải quyết vụ án, … Con người trong tố tụng hình sự bao gồm người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng, mỗi con người này đều có những quyền và nghĩa

vụ nhất định trong quá trình giải quyết vụ án, do đó khả năng bị xâm phạm các quyền và bị gây ra thiệt hại của các chủ thể này là rất lớn Tuy nhiên, thời gian gần

đây trong tư tưởng của các nhà khoa học pháp lý Việt Nam cũng như trong vấn đề

lý luận thường quan tâm, bàn cãi nhiều về vấn đề đảm bảo các quyền con người của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự mà quên đi các chủ thể khác cũng cần được bảo vệ trong tố tụng hình sự Mặt khác, ở khía cạnh luật thực định người bị buộc tội cũng được bảo vệ nghiêm ngặt từ khi bắt đầu quá trình tố tụng cho đến khi kết thúc bởi hệ thống các nguyên tắc như nguyên tắc được suy đoán vô tội, nguyên tắc bảo

đảm quyền bào chữa, … Bởi hệ thống quy định về áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với họ Trong khi đó, người bị buộc tội có thể chính là người có lỗi, họ đã xâm

hại đến lợi ích của người khác, của xã hội, họ phải chịu sự chế tài của pháp luật Ngược lại, chủ thể là người bị hại bị tội phạm xâm hại, họ vô tội và hoàn toàn không có lỗi nhưng họ lại không được quan tâm, bảo vệ các quyền con người đúng mức và cần thiết như pháp luật tố tụng hình sự đang cố sức bảo vệ người bị buộc tội Bởi vì như đã phân tích, quyền con người là những giá trị cao quý tồn tại trong mỗi con người và dĩ nhiên chúng ta không thể đồng nhất hai chủ thể khác nhau về

tư cách tố tụng tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự lại có các quyền và nghĩa vụ giống nhau Nhưng vấn đề đặt ra là đảm bảo quyền như thế nào để xem là cân bằng

và tạo ra một sự bình đẳng thật sự trong tố tụng hình sự Vì nếu không đảm bảo đầy

đủ các quyền của một chủ thể khi họ tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự thì có

thể quyền lợi của họ sẽ bị xâm phạm, từ đó sẽ không đảm bảo được ý nghĩa của hoạt động tố tụng hình sự là một mặt phải giải quyết kịp thời, đúng đắn, khách quan

vụ án, mặt khác phải đảm bảo không xâm phạm các quyền con người trong quá trình tiến hành hoạt động tố tụng hình sự Chỉ có thể giải quyết hài hoà hai nhiệm vụ này mới chính là thực hiện nhiệm vụ của tố tụng hình sự một cách đầy đủ, đúng nghĩa Vì thế ghi nhận và đảm bảo các quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự là một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc

Trên phương diện quốc tế cũng đã từng xuất hiện thực trạng trên cho nên người bị hại từng được xem là người bị bỏ quên trong tố tụng hình sự Nhận thức

được vấn đề này từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước, các quốc gia và cộng đồng quốc tế đã bắt đầu quan tâm trở lại lợi ích của người bị hại Bên cạnh các quy định của luật tố tụng hình sự, nhiều quốc gia còn có các đạo luật riêng về người bị

hại Ví dụ như Mỹ có Luật bảo vệ nạn nhân và nhân chứng năm 1982, Đức có Luật

Trang 26

đền bù cho nạn nhân năm 1976, Luật bảo vệ nạn nhân năm 1986, Nhật Bản có Luật

về các biện pháp bảo vệ nạn nhân của tội phạm năm 2000, Luật cơ bản về nạn nhân của tội phạm năm 200415

Đặc biệt với sự ảnh hưởng của Tuyên ngôn về các nguyên tắc cơ bản của tư

pháp hình sự về nạn nhân của tội phạm và lạm dụng quyền lực ngày 29 tháng 11 năm 1985 của Đại hội đồng Liên hiệp quốc, đã khiến nhiều quốc gia thay đổi quan

điểm và có một cách nhìn mới hơn về vị trí quan trọng của người bị hại trong tố

tụng hình sự Tại khu vực Châu Âu, trước đó đã có một số công ước và khuyến nghị liên quan đến người bị hại, đặc biệt là Nghị quyết khung về vị trí của nạn nhân trong tố tụng hình sự được Hội đồng Châu Âu ban hành vào tháng 3 năm 2001 trong đó quy định các quyền của người bị hại như được tôn trọng và thừa nhận,

được nghe và bổ sung chứng cứ, được bảo vệ và đền bù thiệt hại, … Từ đó cho thấy

vị trí của người bị hại trong tố tụng hình sự đã được cải thiện rõ rệt trong hệ thống pháp luật quốc tế và ảnh hưởng sâu sắc đến một số quốc gia Qua sự thay đổi nhận thức về vai trò của người bị hại đã khẳng định rằng quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự chẳng qua là sự cụ thể hoá quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản16

Sở dĩ người bị hại trong tố tụng hình sự được quan tâm trở lại bởi vì họ chính

là người bị thiệt hại nhiều nhất trong vụ án nhưng lại thiếu một cơ chế bảo vệ hợp lý nếu so sánh với cơ chế bảo vệ người bị buộc tội Dẫu biết rằng người bị buộc tội rất

dễ dàng bị xâm phạm các quyền con người cho nên pháp luật tố tụng hình sự mới

cố gắng bảo vệ họ nhưng không thể vì thế mà bỏ quên vị trí của người bị hại trong quá trình giải quyết vụ án Bởi vì suy cho cùng Nhà nước với tư cách là chủ thể đại

diện cho “lợi ích chung” của toàn xã hội trong đó có “lợi ích nhỏ bé” của người bị

hại, Nhà nước không cho phép có bất kỳ sự xâm phạm nào đến lợi ích của Nhà nước, của công dân, của xã hội Do đó một khi tội phạm xảy ra, Nhà nước mà cụ thể

là các Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tiến hành các hoạt động tố tụng nhưng không thể vì bảo vệ những lợi ích chung mà quên đi những lợi ích bé nhỏ của người bị hại

đang bị đe doạ do tội phạm gây ra mà nhà nước nên có những biện pháp làm ngừng

hoặc giảm nhẹ thiệt hại ngay lập tức và có một cơ chế bảo vệ người bị hại không tiếp tục bị thiệt hại nữa, giúp họ phục hồi lại lợi ích đã bị xâm phạm

Trang 27

Từ những phân tích trên thấy rằng người bị hại thật sự là một chủ thể cần phải được bảo vệ một cách nghiêm túc cùng với người bị buộc tội Quyền con người của người bị hại cũng là những giá trị cao quý cần phải được pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận và bảo vệ chứ không riêng gì của người bị buộc tội

 Các quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam

Như đã phân tích, quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự là

sự cụ thể hoá quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm

và tài sản Đối chiếu với các quy định của BLTTHS 2003 về bảo đảm quyền của người bị hại khi tham gia tố tụng người viết thấy rằng về cơ bản đã có sự tương

đồng và nhận thức đúng đắn BLTTHS 2003 đã cụ thể hoá quyền bất khả xâm phạm

về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản thành 4 nhóm quyền: Quyền thực hiện chức năng buộc tội; Quyền được yêu cầu người gây ra thiệt hại bồi thường, khắc phục thiệt hại; Quyền có người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi; Quyền được bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản Cụ thể là:

 Quyền thực hiện chức năng buộc tội: Nhóm quyền này bao gồm: Quyền đưa ra

tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Quyền được thông báo về kết quả điều tra; Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; Quyền tham gia phiên toà, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà; Quyền trình bày lời buộc tội tại phiên toà trong những vụ án khởi tố theo yêu cầu của họ; Quyền kháng cáo bản

án, quyết định của Toà án (Điều 51 BLTTHS năm 2003); Quyền khởi tố vụ án hình

sự và rút yêu cầu trước khi mở phiên toà sơ thẩm (Điều 105 BLTTHS năm 2003)

Đây là nhóm quyền giúp người bị hại có thể đòi lại công bằng, buộc tội người thực

hiện hành vi phạm tội trước pháp luật

Lý luận về nhóm quyền thực hiện chức năng buộc tội của người bị hại ta thấy hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng người bị hại cũng là một chủ thể của chức năng buộc tội, nhưng cũng có quan điểm khác lại cho rằng họ không phải là chủ thể có chức năng buộc tội mà chức năng này thuộc

về Viện Kiểm sát Việc xác định họ có phải là chủ thể của chức năng buộc tội hay không có ý nghĩa rất quan trọng, vì buộc tội người thực hiện hành vi phạm tội là một trong những mục đích mà họ tham gia, chỉ có buộc tội được người thực hiện hành vi phạm tội thì người bị hại mới có thể lấy lại công bằng, mới được bồi thường thiệt hại đã bị mất mát, tổn thương Vì thế để có thể hiểu rõ hơn vấn đề này chúng ta cần phải tiếp cận ở nhiều góc độ, đứng ở mỗi phương diện, quan điểm khác nhau chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về vấn đề cần xem xét

Trang 28

Dưới góc độ ngôn ngữ, buộc tội là “buộc ai vào một tội nào đó, bắt phải

nhận tội, chịu tội”17

Dưới góc độ thuật ngữ pháp lý, buộc tội là “hoạt động của cơ quan Nhà

nước hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm”18

Khi bàn về chức năng buộc tội, có quan điểm cho rằng, “chức năng buộc tội

là hoạt động của Viện Kiểm Sát nhằm xác định tội phạm và người phạm tội, buộc kẻ phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật .” Nhưng

cũng có quan điểm khác cho rằng vẫn còn một số chủ thể có chức năng buộc tội trong đó người bị hại19

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì chủ thể của chức năng buộc tội là Viện kiểm sát, tuy nhiên nếu xem xét trong mối quan hệ giữa người

bị hại với người bị buộc tội, với tư cách là người bị tội phạm xâm hại thì người bị hại cũng có quyền thực hiện chức năng buộc tội trong quá trình tố tụng Vì thế người viết đồng ý với quan điểm người bị hại cũng là chủ thể của chức năng buộc tội Tuy nhiên chức năng buộc tội của người bị hại hoàn toàn khác với chức năng buộc tội của Viện kiểm sát Chức năng buộc tội của Viện kiểm sát luôn gắn liền với quyền lực nhà nước và việc thực hiện chức năng này là nghĩa vụ của Viện kiểm sát Trong khi đó chức năng buộc tội của người bị hại hoàn toàn không mang tính quyền lực nhà nước và đây là một quyền năng của người bị hại giúp họ thực hiện một mục

đích duy nhất là buộc tội người gây hại cho mình bắt họ phải chịu trách nhiệm hình

sự đối với hành vi phạm tội để từ đó người bị hại đòi lại công bằng cho bản thân

Tuy nhiên lại có quan điểm khác cho rằng, pháp luật tố tụng hình sự chỉ thừa nhận người bị hại là chủ thể của chức năng buộc tội trong những trường hợp vụ án

được khởi tố theo yêu cầu của họ (Điều 105 BLTTHS 2003) còn Điều 51 BLTTHS

2003 không thể thừa nhận người bị hại là chủ thể có chức năng buộc tội Lý do mà

quan điểm này đưa ra là có vụ án mà họ không thừa nhận hành vi phạm tội của bị

can, bị cáo nên lúc này họ đã thực hiện chức năng bào chữa Với lý do trên chưa

thật sự hợp lý để thuyết phục Bởi vì sự buộc tội của người bị hại là một trong những tất yếu khách quan trong tất cả các vụ án mà họ tham gia, bởi lẽ quyền và lợi

Trang 29

ích hợp pháp của họ đã bị tội phạm xâm hại và họ tham gia hoạt động tố tụng với mục đích nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi phạm tội và yêu cầu bồi thường thiệt hại cho mình Đây là dấu hiệu cơ bản để xác định người bị hại là chủ thể của chức năng buộc tội20 Quyền thực hiện chức năng buộc tội có mối quan hệ mật thiết với quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, bởi vì chỉ có buộc tội

được bị can, bị cáo người bị hại mới có thể được bồi thường thiệt hại Thực tế cho

thấy chưa có trường hợp nào người bị hại đi ngược lại quyền lợi của mình trừ những ngoại lệ như người bị hại là người thân với bị can, bị cáo, người bị hại bị ép buộc, mua chuộc nên họ đã không thừa nhận hành vi phạm tội của bị can, bị cáo21

Vì vậy, xét trong mối quan hệ với người bị buộc tội, với tư cách là người bị hành vi phạm tội xâm hại người bị hại phải được thừa nhận là chủ thể của chức năng buộc tội để họ có thể buộc người gây hại cho mình chịu trách nhiệm trước pháp luật để từ đó bảo vệ quyền lợi của mình Đảm bảo cho người bị hại nhóm quyền năng này một mặt sẽ giúp người bị hại chủ động hơn trong quá trình tố tụng, mặt khác sẽ tạo ra cánh tay đắt lực giúp cho Cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết kịp thời, đúng đắn vụ án

 Quyền yêu cầu người gây ra thiệt hại bồi thường, khắc phục thiệt hại: Như đã

biết, khi tội phạm xảy ra luôn hướng tới việc xâm phạm vào các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại để thông qua đó gây thiệt hại cho họ Vì thế, bên cạnh bảo đảm quyền thực hiện chức năng buộc tội pháp luật tố tụng hình sự còn đảm bảo cho người bị hại quyền được yêu cầu bồi thường, khắc phục thiệt hại tại Điểm d Khoản 2 Điều 51 BLTTHS 2003 Ý nghĩa của việc đảm bảo quyền năng này nhằm giúp người bị hại được khôi phục, đền bù lại những quyền và lợi ích hợp pháp đã bị

tội phạm xâm hại

 Quyền có người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi: Theo quy định

tại Khoản 5 Điều 51 và Điều 59 BLTTHS 2003 đã ghi nhận cho người bị hại quyền năng này Ghi nhận quyền năng này nhằm đảm bảo trong những trường hợp người

bị hại không thể tham gia tố tụng để tự bảo vệ quyền lợi cho mình thì họ sẽ có một chủ thể khác đứng ra đại diện, bảo vệ quyền lợi cho họ trong quá trình tố tụng tránh làm cho họ bị thiệt hại thêm

 Quyền được bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài

sản: Quyền năng này được ghi nhận tại Điều 7 BLTTHS 2003, mục đích của việc

20 Xem: Th.S Lê Trương Tín, Một số vấn đề lý luận về chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự và vấn đề sửa

đổi, bổ sung BLTTHS 2003 liên quan đến chức năng buộc tội

21 Xem: Hải Duyên, Nghịch tử chích điện mẹ lĩnh 14 năm tù , chich-dien-me-linh-14-nam-tu/12964215/218/ [Truy cập ngày 18/02/2012]

Trang 30

http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Nghich-tu-ghi nhận quyền năng này nhằm đảm bảo cho người bị hại được an toàn trong khi tham gia vào quá trình tố tụng Bởi vì người bị hại có thể bị thiệt hại từ khi tội phạm thực hiện cho đến khi giải quyết xong vụ án chứ không phải chỉ bị thiệt hại do tội phạm gây ra, cụ thể là:

- Thứ nhất là thiệt hại do tội phạm gây ra Vấn đề này như đã phân tích, tội

phạm khi thực hiện đều tác động đến các đối tượng nằm trong khách thể mà luật Hình sự bảo vệ, thông qua sự tác động này tội phạm gây thiệt hại cho người bị hại

có thể là về tài sản, tinh thần, thể chất Và đây chính là thiệt hại đầu tiên, nặng nề nhất đối với người bị hại Mặt khác trong quá trình tố tụng có thể bị can, bị cáo hoặc người thân của họ sẽ tiếp tục gây thiệt hại cho người bị hại để ngăn cản họ tham gia vào quá trình tố tụng

- Thứ hai là thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gây ra Không phải lúc nào Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng

gây ra thiệt hại cho người bị hại, có thể là do cẩu thả, sơ xuất trong quá trình giải quyết vụ án hoặc là quá trình giải quyết vụ án không khách quan dẫn đến Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gây thiệt hại cho người bị hại

- Thứ ba là thiệt hại khi hoà nhập vào cộng đồng do bản thân họ có những mặc cảm về tâm lý trong khi đó xã hội lại thiếu sự cảm thông, đôi khi cô lập họ và tiếp tục gây tổn thương cho họ Thực tế cho thấy có những trường hợp người phạm

tội sau khi chấp hành hình phạt họ hoà nhập rất dễ dàng vào cộng đồng so với người

bị hại, nhất là những người bị hại trong các vụ án về xâm phạm về tình dục, đây là một vấn đề nhạy cảm liên quan đến danh dự của một con người cho nên người bị hại trong trường hợp này rất khó có thể hoà nhập trở lại cuộc sống bình thường như trước, nếu có thể thì phải mất một khoảng thời gian rất dài

Tóm lại, với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành cơ bản đã

đáp ứng được nguyện vọng của người bị hại khi tham gia vào quan hệ tố tụng, thể

hiện sự tôn trọng và quan tâm của pháp luật tố tụng hình sự đối với các giá trị quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự

1.2.1.3 Ý nghĩa của việc đảm bảo quyền con người của người bị hại

Trong tố tụng hình sự hiện nay, bảo vệ người bị hại đang là một hiện tượng

đáng báo động bởi vì mọi vấn đề, mọi tâm điểm đều dồn về phía người bị buộc tội,

có thể ví “Người bị hại đang ở trong một căn nhà tố tụng hình sự mà dường như

mọi cánh cửa đều không có khoá, chỉ cần có một tên trộm lẻn vào thì quyền lợi của

họ rất dễ dàng bị xâm hại” Vì thế đảm bảo quyền con người của người bị hại có ý

nghĩa vô cùng quan trọng, cụ thể là:

Trang 31

 Ở góc độ quyền con người như đã phân tích, quyền con người là một đại

lượng phổ biến gắn liền với từng cá nhân trong xã hội và người bị hại cũng không là một ngoại lệ Quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự cũng là một dạng của quyền con người, do đó đảm bảo tốt quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự là góp phần đảm bảo quyền con người, thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với các giá trị cao quý của con người

 Ở góc độ bản chất của một nhà nước, đảm bảo tốt quyền con người của người

bị hại chính là thể hiện bản chất của một nhà nước công bằng, dân chủ, nhân đạo, văn minh

 Ở góc độ so sánh với cơ chế đảm bảo quyền con người của người bị buộc tội

thì đảm bảo tốt quyền con người của người bị hại là thể hiện sự công bằng, bình

đẳng trước pháp luật, giúp cho người bị hại có thể tự tin đòi lại công bằng cho bản

thân mình, đồng thời cũng giúp cho quá trình giải quyết vụ án được đúng đắn

1.2.2 Vai trò của pháp luật tố tụng hình sự trong việc đảm bảo quyền con người của người bị hại

Như đã biết, quyền con người là những giá trị cao quý gắn liền với sự tồn tại của mỗi cá nhân con người và khi họ tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự thì khả năng bị xâm phạm các quyền con người là rất lớn, do đó, pháp luật tố tụng hình sự

có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người nói chung và của người

bị hại nói riêng Vai trò đó chủ yếu thể hiện ở các khía cạnh sau:

 Pháp luật tố tụng hình sự là phương tiện chính thức hoá, ghi nhận các giá trị quyền con người của người bị hại Các quyền năng này được pháp luật hoá và trở

thành bắt buộc, được xã hội thừa nhận, bảo vệ Nếu pháp luật tố tụng hình sự không ghi nhận các quyền năng này thì nó chỉ là các quyền tự nhiên chứ chưa trở thành quyền năng thực sự của người bị hại trong tố tụng hình sự Nhưng ngược lại, khi các giá trị quyền con người của người bị hại được pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận thì nó sẽ trở thành quyền pháp định, ý chí chung của xã hội, được xã hội phục

Trang 32

sự, do đó pháp luật tố tụng hình sự đã quy định cho các chủ thể của quan hệ tố tụng

có quyền năng gì thì buộc các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải căn cứ vào đó để đảm bảo cho họ có đúng quyền năng đó, khi họ bị xâm phạm pháp luật tố tụng hình sự quy định cơ chế bảo vệ họ như thế nào thì cũng phải làm

Do đó ta thấy, pháp luật tố tụng hình sự có vai trò rất quan trọng đối với người bị hại, nó là công cụ sắc bén để người bị hại chống lại các mối đe doạ nhất là những

mối đe doạ từ phía các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

Tóm lại, quyền con người là những giá trị cao quý, một đại lượng phổ biến, khách quan tồn tại trong mỗi con người, cần phải được bảo đảm trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội với bất kỳ cá nhân nào Thật vậy, trong tố tụng hình sự vấn

đề đảm bảo quyền con người là một vấn đề vô cùng quan trọng và đầy ý nghĩa, vì

thế pháp luật tố tụng hình sự không thể chỉ chú trọng bảo vệ người bị buộc tội mà

bỏ quên quyền con người của các chủ thể khác trong đó đáng chú ý nhất là người bị hại Bởi vì như đã nói, lĩnh vực tố tụng hình sự là một lĩnh vực rất nhạy cảm đối với các giá trị quyền con người và nó sẽ sẳn sàng xâm phạm các quyền con người của người bị hại nếu pháp luật tố tụng hình sự không có một cơ chế bảo vệ người bị hại hoàn hảo Với vai trò đó, việc tìm hiểu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Trang 33

hiện hành về đảm bảo quyền con người của người bị hại là một vấn đề vô cùng cần thiết

Trang 34

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI CỦA

NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Như đã phân tích, người bị hại là một chủ thể có vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án và cũng là chủ thể cần phải được bảo vệ các quyền con người trong tố tụng hình sự Bởi vì bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình

sự không chỉ là bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội (bị can, bị cáo) mà còn bảo vệ cả người bị hại22 Do đó, việc tìm hiểu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành quy định về các quyền của người bị hại có ý nghĩa vô cùng

đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; Quyền tham gia

phiên toà, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà; Quyền trình bày lời buộc tội tại phiên toà trong những vụ án khởi tố theo yêu cầu của họ; Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án (Điều 51 BLTTHS 2003); Quyền khởi tố vụ án hình sự và rút yêu cầu trước khi mở phiên toà sơ thẩm (Điều 105 BLTTHS 2003)

2.1.1 Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu

Trong tố tụng hình sự với tư cách là bên bị buộc tội, pháp luật cho phép bị can, bị cáo được quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu để bào chữa cho bản thân mình, bác bỏ các chứng cứ buộc tội của bên buộc tội Đối trọng với bên bị buộc tội

là bên buộc tội, với tư cách là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội người bị hại cũng được pháp luật tố tụng hình sự đảm bảo quyền năng này Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu có thể hiểu là quyền của người bị hại được đưa các tài liệu, đồ

22 Xem: TS Hồ Sỹ Sơn, Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự và một số đề xuất hoàn thiện pháp luật

23 Xem: Đã phân tích ở mục 1.2.1.2 về quyền con người của người bị hại trong tố tụng hình sự, tr.20, chương

1 Luận văn

Trang 35

vật hoặc yêu cầu trước Cơ quan tiến hành tố tụng để chứng minh có hành vi phạm tội đã xâm hại lợi ích của mình

Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 51 BLTTHS 2003 thì người bị hại có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu trong quá trình tố tụng, mặt khác Khoản 2

Điều 65 BLTTHS 2003 về thu thập chứng cứ đã ghi nhận những người tham gia tố

tụng, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án Ví dụ như hình ảnh, băng ghi âm, tư liệu viết, … đều được xem là tài liệu, đồ vật hoặc yêu cầu Cơ quan tiến hành tố tụng giám định thương tật, yêu cầu triệu tập người làm chứng, đề nghị xét hỏi thêm tại phiên toà, … đều là những yêu cầu của người bị hại

Đứng ở góc độ người bị hại là chủ thể của chức năng buộc tội thì quyền năng

này có thể xem là một công cụ buộc tội hữu hiệu nhất Bởi vì theo quy định tại Điều

78 BLTTHS 2003 thì các tài liệu, đồ vật mà người bị hại đưa ra cũng có thể được xem xét là chứng cứ hoặc nếu nó thoả mãn các dấu hiệu của một vật chứng thì nó sẽ

được xem xét với tư cách là một vật chứng mà theo quy định tại Điều 64 đã ghi

nhận vật chứng cũng là một trong những chứng cứ quan trọng của quá trình giải quyết vụ án Cũng tại Điều 64 quy định chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo một trình tự luật định, được dùng để xác định có hay không có tội phạm, ai là người thực hiện hành vi và các tình tiết khác của vụ án Vì thế ta thấy, tài liệu, đồ vật, yêu cầu mà người bị hại cung cấp cho các Cơ quan tiến hành tố tụng là một nguồn quan trọng của chứng cứ, là cơ sở để các Cơ quan tiến hành tố tụng định hướng về tội phạm cũng như có những cơ sở bước đầu để tiến dần đến việc làm rõ

vụ án Do đó, nếu người bị hại cung cấp được các tài liệu, đồ vật này có thể sẽ bổ sung rất nhiều vào nguồn chứng cứ buộc tội của các Cơ quan tiến hành tố tụng, bởi

vì đa phần những tài liệu, đồ vật, yêu cầu của người bị hại đưa ra đều có liên quan

đến vụ án, độ chính xác rất cao và những tài liệu, đồ vật, yêu cầu này thường hình

thành nên các chứng cứ buộc tội hơn là các chứng cứ gỡ tội

Nhìn chung quyền năng này được thể hiện rõ nét nhất là ở giai đoạn điều tra Bởi vì, bản chất của giai đoạn này chính là chứng minh tội phạm và người phạm tội, mặt khác do tâm lý người bị hại mới bị tội phạm xâm hại nên khi bước vào giai

đoạn này họ thường đưa ra tất cả những tài liệu, đồ vật mà mình có để chứng minh

hành vi phạm tội và để được pháp luật bảo vệ Vã lại, đây là giai đoạn tiếp sau giai

đoạn khởi tố vụ án cho nên tội phạm vừa mới thực hiện đa phần các dấu vết vẫn còn

tồn tại nhưng có thể đến các giai đoạn tố tụng tiếp theo các dấu vết này sẽ biến mất hoặc thay đổi, do đó thường thì người bị hại sẽ thực hiện quyền năng này chủ yếu ở

Trang 36

giai đoạn điều tra Ví dụ như người bị hại bị người khác gây thương tích nếu người

bị hại không được giám định tỷ lệ thương tật ngay thì có thể đến giai đoạn xét xử vết thương đã hồi phục hoặc đã giảm bớt phần nào thì rõ ràng người bị hại sẽ khó

có cơ sở để đòi lại công bằng cho mình Tuy nhiên, nếu người bị hại thấy mình có các dấu hiệu bất thường cần phải được giám định tỷ lệ thương tật và có yêu cầu ở giai đoạn này thì kết luận giám định đó cũng có thể trở thành một chứng cứ hữu hiệu để người bị hại bảo vệ chính mình trong các giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng24 Do đó, trường hợp người bị hại có yêu cầu trong giai đoạn này pháp luật tố tụng hình sự bắt buộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải giải quyết yêu cầu của người bị hại và phải thông báo kết quả cho họ biết Trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu của người bị hại thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải trả lời và nêu

rõ lý do25

Đến giai đoạn truy tố, xét xử người bị hại thực hiện quyền năng này khá mờ

nhạt chủ yếu là sau khi kết thúc giai đoạn điều tra người bị hại mới tìm được các tài liệu, đồ vật hoặc phát sinh thêm các yêu cầu mới Ví dụ như sau khi kết thúc giai

đoạn điều tra người bị hại tìm được người làm chứng mới đã nhìn thấy quá trình bị

cáo thực hiện hành vi phạm tội, cho nên đến khi xét xử người bị hại yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đối với mình Tuy người bị hại thực hiện khá mờ nhạt nhưng pháp luật tố tụng hình sự vẫn có những quy định đảm bảo cho họ thực hiện quyền năng này Cụ thể là trong giai

đoạn xét xử, để đảm bảo cho người bị hại thực hiện được quyền đưa ra tài liệu, đồ

vật, yêu cầu pháp luật tố tụng hình sự đã thể chế nó thành một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự đó là nguyên tắc bình đẳng trước toà án, theo nguyên tắc này thì người bị hại được bình đẳng với các chủ thể khác trong việc đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu trước Toà án, đặc biệt là người bị hại còn được bình đẳng với Kiểm sát viên trong việc thực hiện quyền năng này tại Toà án điều đó cho thấy người bị hại cũng

là một bên tranh tụng, một chủ thể có quyền buộc tội bị cáo bên cạnh Kiểm sát viên – người đại diện cho công quyền26, mặt khác trong thủ tục bắt đầu phiên toà của giai

đoạn xét xử, pháp luật tố tụng hình sự bắt buộc chủ toà phiên toà phải hỏi người bị

hại xem họ có đưa ra yêu cầu gì thêm hay không, ví dụ như triệu tập thêm người làm chứng hay đưa thêm vật chứng, tài liệu hoặc là hoãn phiên toà khi có người tham gia tố tụng vắng mặt27

Trang 37

Từ những phân tích trên cùng với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành chúng ta đã thấy được sự quan tâm của pháp luật tố tụng hình sự trong việc bảo đảm cho người bị hại thực hiện quyền năng này Thực hiện tốt quyền năng này chính là giúp người bị hại tích cực tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, qua

đó để họ tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính bản thân họ Giả sử tội

phạm không được chứng minh, người bị hại không được đảm bảo quyền năng này thì làm sao họ có thể bảo vệ quyền lợi của mình khi mà không thể buộc tội bị can,

bị cáo Mặt khác, đứng ở góc độ các Cơ quan tiến hành tố tụng thì đảm bảo cho người bị hại có được quyền năng này còn tạo ra một cánh tay đắt lực giúp cho các

Cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết kịp thời, nhanh chóng vụ án

2.1.2 Quyền được thông báo kết quả điều tra

Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong

đó Cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định để

xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác có ý nghĩa

đối với việc giải quyết vụ án, tìm ra những nguyên nhân, điều kiện phạm tội để yêu

cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp ngăn ngừa Giai

đoạn điều tra vụ án hình sự bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, kết

thúc khi Cơ quan điều tra hoàn thành bản kết luận điều tra và quyết định đề nghị truy tố người phạm tội ra trước Toà án hoặc quyết định đình chỉ điều tra vụ án

Theo quy định tại Điều 162 BLTTHS 2003, khi kết thúc điều tra Cơ quan

điều tra phải làm bản kết luận điều tra Bản kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng,

năm, họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận Bản kết luận điều tra có thể bao gồm các nội dung: Ai là người thực hiện hành vi phạm tội, các chứng cứ buộc tội và gỡ tội mà Cơ quan điều tra đã thu thập, hành vi phạm tội là gì, Cơ quan điều tra đề nghị truy tố tội danh gì ra trước Toà án, …

Với tư cách là chủ thể của chức năng buộc tội, Điểm b Khoản 2 Điều 51 BLTTHS 2003 đã ghi nhận cho người bị hại có quyền được thông báo kết quả điều tra Xét ở góc độ ngôn từ, kết quả điều tra có thể hiểu là những gì mà Cơ quan điều tra đã tìm hiểu được về vụ án trong suốt giai đoạn điều tra, có thể là Cơ quan điều tra đã xác định được các tình tiết của vụ án, ai thực hiện hành vi phạm tội, các chứng cứ buộc tội và gỡ tội đã được thu thập đầy đủ, … hoặc cũng có thể là Cơ quan điều tra không xác định được tội phạm hay thật sự là không có tội phạm xảy

ra Kết quả của sự tìm hiểu này đã được Cơ quan điều tra thể hiện rõ trong bản kết luận điều tra, do đó, nếu xét ở phương diện hẹp thì kết quả điều tra mà người bị hại

được thông báo có thể chỉ là các nội dung trong bản kết luận điều tra Tuy nhiên,

Trang 38

nếu xét ở phương diện rộng hơn thì kết quả điều tra còn có thể bao gồm: Kết luận

điều tra (kèm theo đề nghị truy tố hoặc kèm theo quyết định đình chỉ điều tra),

quyết định tạm đình chỉ, quyết định tách, nhập vụ án để điều tra, kết quả thực hiện các hoạt động điều tra có liên quan đến người bị hại mà không thuộc bí mật điều tra (ví dụ: kết quả giám định thương tật của người bị hại, kết quả xem dấu vết trên thân thể người bị hại, …)28

Đối chiếu với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành khi xem

xét kết quả điều tra ở phương diện hẹp thì không thấy pháp luật tố tụng hình sự quy

định cho người bị hại được thông báo về bản kết luận điều tra cũng như các nội

dung bên trong bản kết luận điều tra mà pháp luật tố tụng hình sự chỉ cho phép Viện kiểm sát, bị can và người bào chữa của họ được nhận bản kết luận điều tra kèm theo

đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra29 Nhưng khi đối chiếu kết quả điều tra ở phương diện rộng với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì thấy pháp luật tố tụng hình sự chỉ quy định cho người bị hại được nhận quyết định tạm đình chỉ điều tra tại Điều 160 BLTTHS 2003

Theo đó ta thấy, khi vụ án rơi vào các trường hợp luật định làm cho việc điều tra không thể tiếp tục nên buộc Cơ quan điều tra phải ra quyết định tạm đình chỉ

điều tra vụ án Trong trường hợp này với tư cách là người được pháp luật tố tụng

hình sự bảo vệ và với tư cách là chủ thể buộc tội, người bị hại phải được biết rõ về việc tạm đình chỉ điều tra vụ án, lý do tại sao Cơ quan điều tra phải tạm đình chỉ

điều tra, bởi vì họ là người bị hành vi phạm tội xâm hại, lợi ích đã bị mất mát và họ đang rất cần sự bảo vệ nhanh chóng, không gián đoạn Mặt khác, thông báo cho họ

biết về việc tạm đình chỉ điều tra để họ có điều kiện thực hiện tốt các quyền năng khác mà pháp luật tố tụng hình sự đã quy định cho họ như quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu, quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, … Vì thế, Điều 160 BLTTHS 2003 quy định Cơ quan điều tra khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ

án thì có nghĩa vụ phải gửi quyết định này cho người bị hại30

Với việc pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đảm bảo cho người bị hại quyền

được thông báo kết quả điều tra nhằm giúp cho người bị hại hiểu rõ hơn về vụ án

cũng như có điều kiện tiếp cận với quá trình giải quyết vụ án, chuẩn bị tốt các phương án buộc tội và đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại cho mình Giả sử người

bị hại không được đảm bảo quyền năng này thì họ khó có thể chủ động trong các

Trang 39

giai đoạn tố tụng tiếp theo Tuy nhiên với việc pháp luật tố tụng hình sự hiện hành chỉ ghi nhận cho người bị hại được nhận quyết định tạm đình chỉ điều tra trong khi còn nhiều văn bản tố tụng khác của giai đoạn điều tra cũng thuộc kết quả điều tra

mà người bị hại không được nhận như vậy có hợp lý không

2.1.3 Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch

Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch có thể hiểu là quyền của người bị hại yêu cầu được thay đổi những chủ thể là người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch khi người bị hại

có căn cứ cho rằng những chủ thể này sẽ không vô tư trong quá trình tố tụng Như vậy để làm rõ quyền năng này thì chúng ta cần tìm hiểu thế nào là người tiến hành

tố tụng, người giám định, người phiên dịch; Họ có vai trò như thế nào trong quá trình giải quyết vụ án; tại sao người bị hại phải yêu cầu thay đổi họ; Theo pháp luật

tố tụng hình sự hiện hành thì trường hợp nào người bị hại được quyền yêu cầu thay

đổi họ và trong từng giai đoạn tố tụng pháp luật đảm bảo cho người bị hại thực hiện

quyền năng này như thế nào Cụ thể là:

♦ Khái niệm và vai trò của người tiến hành tố tụng:

Người tiến hành tố tụng có thể hiểu đơn giản là người đang giải quyết vụ án hình sự Theo quy định tại Khoản 2 Điều 33 BLTTHS 2003 thì người tiến hành tố tụng gồm có: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án

Những chủ thể trên là những người đại diện cho quyền lực nhà nước trong quan hệ tố tụng hình sự, họ mang trên mình một sứ mạng cao cả là bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật và lợi ích của công dân Vì thế, khi họ tiến hành tố tụng pháp luật

tố tụng hình sự cho phép họ có những quyền năng nhất định để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đồng thời cũng gắn liền với những nghĩa vụ nhất định Với

vị trí là người mang quyền lực nhà nước, được nhà nước giao phó giải quyết vụ án,

họ ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của quá trình giải quyết vụ án

và vì thế nếu họ không vô tư trong khi tiến hành tố tụng thì rõ ràng công lý sẽ không được thực thi, quyền lợi của những chủ thể khác trong tố tụng hình sự sẽ không được bảo vệ tốt Do đó, bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng

đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự (Điều 14 BLTTHS

2003)

Trang 40

♦ Khái niệm và vai trò của người giám định:

Theo quy định của BLTTHS 2003 và Pháp lệnh Giám định tư pháp 2004, người giám định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định và được các Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trưng cầu theo quy định của pháp luật Theo

Điều 7 của Pháp lệnh về Giám định tư pháp 2004 quy định người giám định gồm

có: Giám định viên tư pháp và người giám định tư pháp theo vụ việc

Khi tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự với tư cách là người tham gia tố tụng, người giám định cũng được pháp luật tố tụng hình sự đảm bảo một số quyền

và nghĩa vụ nhất định để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Bằng kiến thức chuyên môn của mình, người giám định sẽ giúp Cơ quan tiến hành tố tụng, người bị hại, người bị buộc tội, … giám định những vấn đề mà họ yêu cầu cần làm

rõ Kết luận giám định có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án bởi vì

nó là một trong những nguồn của chứng cứ Từ đó ta thấy, một khi kết quả giám

định sai sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến tính đúng đắn của vụ án cũng như quyền lợi

của các chủ thể tham gia tố tụng khác Có thể là do chuyên môn, nghiệp vụ yếu kém hay có sự nhầm lẫn nên người giám định cho kết quả sai lầm, thiếu sót cũng có thể

là do họ cố ý đưa ra kết quả sai để làm sai lệch tính đúng đắn của vụ án Với vai trò

đó, sự sai lầm do vô ý của người giám định trong một số trường hợp nhất định thì

có thể không tránh khỏi nhưng sự vô tư của họ thì pháp luật tố tụng hình sự bắt buộc phải có và phải đảm bảo trong suốt quá trình họ tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự

Người phiên dịch có thể hiểu là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng việt và ngược lại Trong các giai đoạn tố tụng, người phiên dịch đóng vai trò làm cầu nối ngôn ngữ giữa người không sử dụng được tiếng việt với các chủ thể khác trong quá trình tố tụng

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng việt Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, trong trường hợp này phải có người phiên dịch31 Như vậy, người phiên dịch là một trong những người tham gia tố tụng, họ có vai trò khá quan trọng trong việc đảm bảo tính xác thực và tính hợp pháp của chứng

cứ Bởi vì, lời khai của người bị hại, bị can, bị cáo, … cũng được xem là nguồn

31

Xem: Điều 24 BLTTHS 2003

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w