1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP ĐƯỜNG cơ sở THẲNG TRONG LUẬT BIỂN QUỐC tế lý LUẬN và THỰC TIỄN áp DỤNG của VIỆT NAM

61 311 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những quy định của Công ước thì quy định về “đường cơ sở ” trên biển là một quy định rất quan trọng vì theo tinh thần của Công ước thì đường cơ sở chính là cơ sở để xác định phạm v

Trang 1

ĐƯỜNG CƠ SỞ THẲNG TRONG LUẬT BIỂN

QUỐC TẾ - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

ÁP DỤNG CỦA VIỆT NAM Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Cần Thơ Tháng 11/2012

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Trang 3

- - -

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG CƠ SỞ THẲNG TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ 4

1.1 Cơ sở lý luận về đường cơ sở thẳng trong Luật biển quốc tế 4

1.1.1 Lý luận về đường cơ sở trong Luật biển quốc tế 4

1.1.1.1 Khái niệm 6

1.1.1.2 Phân loại 6

1.1.2 Xuất phát điểm của việc xác định đường cơ sở thẳng – vụ kiện Ngư trường Anh – Na Uy năm 1951 8

1.1.2.1 Sự kiện 8

1.1.2.2 Phán quyết ngày 18-12-1951 9

1.1.2.3 Ý nghĩa của phán quyết 10

1.1.3 Tầm quan trọng của đường cơ sở thẳng trong quá trình phân định biển 11

1.2 Tiêu chuẩn kĩ thuật để vạch đường cơ sở thẳng theo UNCLOS 13

1.2.1 Điều kiện áp dụng 13

1.2.1.1 Ở nơi bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm 13

1.2.1.2 Chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển 15

1.2.1.3 Ở những nơi bờ biển cực kì không ổn định 16

1.2.2 Cách áp dụng để vạch đường cơ sở thẳng 17

1.2.2.1 Chọn điểm để xác định đường cơ sở thẳng 17

1.2.2.2 Cách áp dụng để vạch đường cơ sở thẳng và điều kiện để đường cơ sở thẳng của một quốc gia được Quốc tế công nhận 18

1.2.3 Vịnh, cửa sông – Trường hợp đặc biệt khi xác định đường cơ sở thẳng theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 23

1.2.3.1 Cửa sông 23

1.2.3.2 Cửa vịnh 24

CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG VỀ CÁCH VẠCH ĐƯỜNG CƠ SỞ THẲNG CỦA VIỆT NAM 28

2.1 Cơ sở lý luận về đường cơ sở thẳng và cách xác định đường cơ sở thẳng của Việt Nam 28

2.1.1 Cơ sở lý luận về đường cơ sở thẳng theo pháp luật Việt Nam 28

2.1.2 Cách xác định đường cơ sở thẳng theo quy định pháp luật của Việt Nam 29

Trang 6

2.1.2.1 Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977

về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 29

2.1.2.2 Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-11-1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam 31

2.1.2.3 Nghị quyết 1994 về việc phê chuẩn công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 35

2.1.2.4 Luật biển Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21-6-2012, có hiệu lưc pháp luật ngày 1-1- 2013 35

2.2 Đánh giá về cách xác định đường cơ sở thẳng của Việt Nam theo tiêu chuẩn kĩ thuật được quy định trong UNCLOS 37

2.2.1 Đánh giá chung 37

2.2.2 Những thỏa thuận về ranh giới của Việt Nam và các nước láng giềng trong quá trình phân định biển 39

2.2.2.1 Thỏa thuận trong Vịnh Thái Lan 39

2.2.2.2 Các thỏa thuận phía Nam Biển Đông 41

2.2.2.3 Thỏa thuận trong Vịnh Bắc Bộ 41

2.3 Một số giải pháp đề xuất 44

2.3.1 Những hạn chế 44

2.3.2 Một số giải pháp đề xuất 45

KẾT LUẬN 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Công ước Luật biển 1982 đã trù định toàn bộ các quy định liên quan đến các vùng biển

mà một quốc gia ven biển có quyền được hưởng, cũng như những quy định liên quan đến việc sử dụng, khai thác biển và đại dương Trong những quy định của Công ước thì quy định về “đường cơ sở ” trên biển là một quy định rất quan trọng vì theo tinh thần của Công ước thì đường cơ sở chính là cơ sở để xác định phạm vi của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia, trong đó quan trọng nhất là vấn đề về cách xác định “đường cơ sở thẳng” - một vấn đề đang được các nước trên thế giới quan tâm, cũng là vấn đề gây nhiều tranh luận nhất trong hệ thống pháp luật quốc tế

Sau khi Công ước Luật biển 1982 được thông qua ngày 30/4/1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước tại Montego Bay Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước ta đã ra Nghị quyết về việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này Theo tinh thần của Công ước thì Việt Nam cũng đã công bố đường cơ sở của mình trong

Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-11-1982

về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam, theo Tuyên bố này đường

cơ sở mà Việt Nam chọn để xác định là “đường cơ sở thẳng” Nhưng trong hoàn cảnh mới, đường cơ sở theo Tuyên bố 1982 của Việt Nam có một số điểm không còn phù hợp và cần được thay đổi theo hướng hoàn thiện hơn với tinh thần chung của Công ước liên hợp quốc về Luật Biển 1982 Mặt khác, trong tình hình hiện nay chủ quyền trên biển của Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng, các tranh chấp về biển liên tục

Trang 8

Trang 2

xảy ra và diễn biến ngày càng phức tạp vì vậy việc xác định đường cơ sở trên biển càng có ý nghĩa quan trọng và cần thiết hơn, để khẳng định lần nữa và vững chắc về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên biển

Vì những lý do trên, người viết đã nảy sinh ý tưởng nghiên cứu về “ Đường cơ sở

thẳng trong Luật Biển quốc tế - lý luận và thực tiễn áp dụng của Việt Nam” Sau

thời gian tìm hiểu và tham khảo ý kiến của Thầy, người viết chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam về đường cơ sở trên biển, hệ thống pháp lý về biển cũng như những quan điểm của Đảng và Nhà nước ngày càng đổi mới và hoàn thiện hơn Vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý luận và thực trạng

áp dụng những quy định pháp luật về đường cơ sở thẳng của Việt Nam trên cơ sở những quy định của quốc tế, cụ thể là theo tinh thần của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 là cần thiết để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp lý về đường cơ sở, đặc biệt là những quy định về đường cơ sở thẳng trên biển

3 Phạm vi nghiên cứu

Việc xác định đường cơ sở là một vấn đề hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của một quốc gia Hiện nay, có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau về cách xác định đường cơ sở, nhất là đường cơ sở thẳng Trong phạm vi đề tài, người viết chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về đường cơ sở thẳng dựa trên những quy định trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982; hệ thống pháp luật Việt Nam, thực trạng về cách áp dụng đường cơ sở thẳng của Việt Nam Từ đó, nêu lên những tồn tại, bất cập của pháp luật về đường cơ sở thẳng và những giải pháp để hoàn thiện hơn hệ thống pháp lý về đường cơ sở của nước ta

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, người viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở; phương pháp phân tích, tổng hợp; và phương pháp phân tích luật viết; phương pháp trừu tượng, khoa học để tạo cơ sở lý luận chung; phương pháp sưu tầm tài liệu thực tế được sử dụng để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về đường cơ

sở thẳng trên cơ sở luật pháp quốc tế, đối chiếu với thực tiễn áp dụng của pháp luật Việt Nam đối với những vấn đề về đường cơ sở thẳng qua đó đánh giá và tìm ra hướng hoàn thiện hơn về cách vạch đường cơ sở thẳng theo những tiêu chuẩn kĩ thuật trong luật định

Trang 9

Trang 3

5 Bố cục của đề tài

Với tên đề tài “ Đường cơ sở thẳng trong Luật Biển quốc tế - Lý luận và thực tiễn

áp dụng của Việt Nam”, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham

khảo, Luận văn được chia làm hai chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về đường cơ sở thẳng trong Luật biển quốc tế

Chương 2 Lý luận và thực tiễn áp dụng về cách vạch đường cơ sở thẳng của Việt Nam.

Trang 10

Trang 4

ĐƯỜNG CƠ SỞ THẲNG TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

ÁP DỤNG CỦA VIỆT NAM

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG CƠ SỞ THẲNG TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ

1.1 Cơ sở lý luận về đường cơ sở thẳng trong Luật biển quốc tế

1.1.1 Lý luận về đường cơ sở trong Luật biển quốc tế

Vào thời cổ đại, ở Hi Lạp, Ai Cập và La Mã đã xuất hiện các tập quán về biển, và tiếp đến khoảng thế kỉ XVIII, đã xuất hiện một số nguyên tắc về Luật biển ở vùng biển Bắc

Âu, sau đó đã được phổ biến sang khu vực Địa Trung Hải Mãi cho đến năm 1930, Hội nghị quốc tế đầu tiên về luật biển, mới được triệu tập ở La-hay, với mục đích bàn về vấn đề cấp bách lúc đó như quy chế lãnh hải, chống cướp biển, các nguyên tắc sử dụng tài nguyên thiên nhiên biển Do có nhiều mâu thuẫn nên Hội nghị La-hay không giải quyết thỏa đáng vấn đề cụ thể nào

Ngày 24/02/1958, Liên Hiệp Quốc triệu tập Hội nghị lần thứ nhất về Luật biển tại Geneva Hội nghị đã thông qua bốn Công ước quốc tế đầu tiên về luật biển:

- Công ước về Lãnh hải và vùng tiếp giáp (Convention on the Territorial

Sea and Contiguous Zone), có hiệu lực từ ngày 10 tháng 9 năm 1964

- Công ước về Thềm lục địa (Convention on the Continental Shelf ), có

hiệu lực từ ngày 10 tháng 6 năm 1964

- Công ước về Biển cả (Convention on the High Seas), có hiệu lực từ

ngày 30 tháng 9 năm 1962

- Công ước về Đánh cá và bảo vệ tài nguyên sinh vật biển (Convention

on Fishing and Conservation of Living ), có hiệu lực từ ngày 20 tháng

3 năm 1966

Trong số bốn Công ước đã được kí kết thì Công ước biển, được tổ chức tại Geneva năm 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp là có liên quan trực tiếp đến đường cơ sở Các Công ước trên đã đặt nền móng cho việc pháp điển hóa Luật biển, chúng đã đề cập đến một số khái niệm mới, và ghi nhận một số tập quán quốc tế về khai thác, sử dụng biển

Trang 11

đề xác định chiều rộng lãnh hải cũng chưa được thống nhất

Hội nghị lần Thứ ba của Liên Hiệp Quốc về Luật biển sau năm năm trù bị (1967 – 1972), và chín lần đàm phán thương lượng (1973 – 1982) với 144 quốc gia và 08 (tám)

cơ quan đại diện đặc biệt tham gia đã thông qua được Công ước mới về Luật biển Văn bản cuối cùng được thông qua vào ngày 10-12-1982 tại Mongtego-Bay, Giamaica Công ước có hiệu lực từ ngày 16 tháng 11 năm 1994 Công ước của Liên Hiệp Quốc

về Luật biển 1982 (United Nations Convention on the Law of the Sea – UNCLOS) là văn kiện tổng hợp toàn diện, đề cập tới tất cả các vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh

tế, khoa học kĩ thuật, môi trường…phản ánh một sự nhất trí rộng rãi về hầu hết các vấn

đề liên quan đến biển, và nhằm mục đích xác lập một trật tự pháp lý để điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ biển và đại dương Đặc biệt, UNCLOS quy định về việc cho phép các quốc gia có thể tự vạch đường cơ

sở theo một hay nhiều phương pháp trù định để xác định phạm vi chủ quyền của mình trên biển Các quy định về đường cơ sở thẳng có tại Điều 4 của Công ước 1958 và sau

đó được kế nhiệm bởi quy định ở Điều 7 trong UNCLOS Điều 7 trong UNCLOS là luật hiện hành, nó quy định những hướng dẫn liên quan đến đường cơ sở trên bờ biển rất không ổn định và cho phép khả năng sử dụng các bãi cạn lúc nổi lúc chìm làm các điểm cơ sở mà ở đó có những đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước hoặc việc vạch các đường cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế – mà những quy định về vấn đề trên lại không được đề cập đến trong quy định của Điều 4 Công ước 19581 Đây chính là điểm tiến bộ của Điều 7 Công ước 1982 so với Điều 4 Công ước 1958 về những quy định về đường cơ sở cũng như cách giải thích thuật ngữ và những quy định cụ thể về cách xác định đường cơ sở của mỗi quốc gia Các quy ước thiết lập các giới hạn của các khu vực khác nhau, được xác định bởi đường cơ sở - Baseline2 Đường cơ sở là cách nói ngắn của từ “đường cơ

sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải” Đường cơ sở có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định ranh giới các vùng biển; đường cơ sở được dùng để xác định nội thủy (vùng biển nằm phía bên trong đường cơ sở), lãnh hải (12 hải lý tính từ đường cơ sở), vùng

1 http://www.gmat.unsw.edu.au/ablos/ABLOS08Folder/Session7-Paper1-Bateman , cập nhật ngày 17 tháng 5 năm 2012

2 http://en.wikipedia.org/wiki/United_Nations_Convention_on_the_Law_of_the_Sea , cập nhật ngày 17 tháng 5 năm 2012

Trang 12

Trang 6

tiếp giáp (24 hải lý tính từ đường cơ sở), vùng đặc quyền về kinh tế (200 hải lý tính từ đường cơ sở)…

1.1.1.1 Khái niệm

Đường cơ sở là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và phía ngoài của nội thuỷ, do

quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo định ra phù hợp với công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 để làm cơ sở xác định phạm vi của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia

1.1.1.2 Phân loại

Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) thì đường cơ sở

được phân thành hai loại là: đường cơ sở thông thường (normal baselines) và đường

cơ sở thẳng (straight baselines)

a Đường cơ sở thông thường – normal baselines Đường cơ sở thông thường là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển, như được

thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận3

Điều kiện áp dụng: Phương pháp đường cơ sở thông thường áp dụng đối với các quốc

gia có bờ biển thẳng, bằng phẳng, không có các đoạn lồi lõm ven bờ, thủy triều ổn định và thể hiện rõ ràng

Cách xác định: Quốc gia ven biển sẽ chọn một ngày, tháng, năm khi ngấn nước thủy

triều xuống thấp nhất dọc bờ biển Dựa vào các điểm, tọa độ đã thể hiện tại ngấn nước thủy triều vào thời điểm đó, quốc gia ven biển sẽ tuyên bố đường cơ sở của quốc gia mình Tuy nhiên, xác định đường cơ sở theo phương pháp thông thường có một số hạn chế sau đây:

Thứ nhất, các điểm, toạ độ thể hiện ngấn nước thủy triều xuống thấp nhất dọc theo

bờ biển để xác định đường cơ sở do chính quốc gia đó tuyên bố nên sẽ không tránh khỏi tình trạng các quốc gia đưa ra tuyên bố không đúng thực tế nhằm mục đích mở rộng càng nhiều càng tốt nội thủy của quốc gia mình ra bên ngoài Chính vì vậy, mức

độ chính xác của các tọa độ, các điểm xác định dựa vào ngấn nước thủy triều sẽ không cao

Thứ hai, cộng đồng quốc tế sẽ rất khó khăn trong việc chứng minh tính xác thực

của các điểm, các toạ độ mà quốc gia ven biển đã tuyên bố

3 Điều 5, UNCLOS

Trang 13

Trang 7

Thứ ba, áp dụng phương pháp đường cơ sở thông thường, các quốc gia ven biển sẽ

có một vùng nội thủy rất hẹp và đây chính là lý do mà các quốc gia trên thế giới thường không muốn áp dụng hoàn toàn đường cơ sở theo phương pháp này mặc dù căn cứ vào các quy định của Công ước 1982 là hoàn toàn phù hợp4

b Đường cơ sở thẳng – straight baselines

Đường cơ sở thẳng là đường cơ sở nối liền các điểm thích hợp và được áp dụng “ở

nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển”, hoặc “ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổ và những điều kiện tự nhiên khác5

Phương pháp này xuất hiện lần đầu tiên tại vùng biển Na Uy Năm 1951, Tòa án quốc

tế xử cho Na Uy thắng cuộc trong vụ án ngư trường Anh – Na Uy Các nguyên tắc áp dụng đường cơ sở năm 1930 của Na Uy đã trở thành các tiêu chuẩn mới của luật quốc

tế Bản án có vai trò rất quan trọng trong lịch sử Luật biển quốc tế và nó được xem như là bản án lệ đầu tiên cho việc hình thành cơ sở cho pháp lý về đường cơ sở thẳng Tiếp sau đó các Hội nghị pháp điển hóa về Luật biển và đường cơ sở trên biển tiếp tục phát triển cho đến năm 1982 khi Công ước về Luật biển của Liên Hiệp Quốc ra đời và đường cơ sở thẳng lần đầu tiên được chính thức ghi nhận một cách cụ thể trong Điều 7 của Công ước đã đánh dấu một bước phát triển đáng kể trong lịch sử phát triển của Luật biển

Tùy theo đặc điểm địa hình bờ biển của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ mà đường cơ sở của các quốc gia, các vùng lãnh thổ xác định theo phương pháp đường cơ sở thông thường hay đường cơ sở thẳng hoặc kết hợp cả hai phương pháp trên

 Bên cạnh đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng UNCLOS còn quy định về đường cơ sở quần đảo6

Đường cơ sở quần đảo là đường cơ sở thẳng của quần đảo nối các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá nổi xa nhất của quần đảo Đường cơ sở thẳng này phải bảo đảm các điều kiện:

- Tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực

mà tỷ lệ diện tích nước so với đất, kể cả vành đai san hô, từ tỷ số 1/1 đến 9/1;

- Chiều dài các đường cơ sở này không vượt quá 100 hải lý; tuy nhiên có thể có tối đa 3% của tổng số đường cơ sở bao quanh một quần đảo nào đó có một chiều dài

4 ThS.Ngô Hữu Phước, Những vấn đề pháp lý cơ bản về đường cơ sở trong luật biển quốc tế và pháp luật Việt Nam, Tạp chí khoa học pháp lý số 5/2005

5

Điều 7, UNCLOS

6 Điều 47, UNCLOS

Trang 14

Trang 8

lớn hơn nhưng cũng không được quá 125 hải lý;

- Đường cơ sở này không thể kéo đến hay xuất phát từ các bãi cạn lúc chìm, lúc nổi, trừ trường hợp tại đó có xây các đèn biển hay các thiết bị tương tự thường xuyên nhô lên mặt nước hoặc trừ trường hợp toàn bộ hay một phần bãi cạn ở cách hòn đảo gần nhất một khoảng cách không vượt quá chiều rộng lãnh hãi;

- Tuyến các đường cơ sở không được tách xa rõ rệt đường bao quanh chung của quần đảo;

- Đường cơ sở quần đảo không được phép làm cho lãnh hải của một quốc gia khác tách rời với biển cả hay với một vùng đặc quyền về kinh tế

Trong phạm vi bài viết, người viết chỉ tập trung trình bày về vấn đề đường cơ sở thẳng của quốc gia ven biển, đối với đường cơ sở quần đảo chỉ mang tính chất giới thiệu không phải là nội dung trọng tâm của bài viết

1.1.2 Xuất phát điểm của việc xác định đường cơ sở thẳng – vụ kiện Ngư trường Anh – Na Uy năm 1951

1.1.2.1 Sự kiện

Nữa đầu thế kỷ XX, tranh chấp giữa Anh và Na Uy về quyền đánh cá trong khu vực biển ngoài khơi Na Uy, phía Bắc của vòng cung Bắc cực, ngày càng trở nên trầm trọng Các tàu đánh cá của Anh ngày càng kéo đông đến khu vực này và được trang bị ngày càng tốt hơn Na Uy cho rằng họ có quyền bảo tồn nghề cá cho ngư dân của họ trong các khu vực này, trong khi Vương quốc Anh cho rằng các khu vực này là biển cả

và ngư dân của mọi quốc gia đều có quyền đánh bắt cá, không có bất kì một quyền bảo tồn riêng biệt nghề cá cho ngư dân của bất kì nước nào Trong khoản thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, các vụ đụng độ tăng mạnh, dẫn tới các vụ bắt giữ và trừng phạt lẫn nhau Bỏ qua sự phản đối của Vương quốc Anh, Chính phủ Na Uy đã quyết định hoạch định khu vực biển đó bằng Nghị định ngày 12- 7-1935 Nghị định bao gồm các bản vẽ đường thẳng, được gọi là "đường cơ sở" 4 dặm sâu vào biển, không phải là đường cơ sở xác định theo ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc theo bờ biển theo cách đường cơ sở thông thường mà là đường cơ sở thẳng được vẽ bằng cách nối liền các điểm cố định kế tiếp nhau được lựa chọn trên đất liền, đảo hoặc bãi đá… Nghị định năm 1935 của Na Uy với mục đích là xác định ngư trường của mình và đưa ra đường

cơ sở để tính vùng ngư trường, đó là khu vực 4 dặm được dành riêng đánh bắt cá độc quyền cho các công dân Na Uy Anh cho rằng đường cơ sở mà Na Uy đưa ra không phù hợp với Luật pháp quốc tế Điều này dẫn tới việc Vương quốc Anh đặt vấn đề nhờ Pháp viện thường trực quốc tế xem xét

Trang 15

do việc họ bắt giữ các tàu đánh cá của Anh sau ngày 16-9-1948 tại các vùng biển được coi là biển cả

1.1.2.2 Phán quyết ngày 18-12-1951

Nguyên tắc đầu tiên đưa ra là nguyên tắc đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải phải là đường ngấn nước triều thấp nhất Đây là nguyên tắc được thừa nhận chung trong thực tiễn quốc gia Các bên đều đồng ý với nguyên tắc này nhưng khác nhau về cách áp dụng Trong đó, phương pháp mà Na Uy đưa ra là lựa chọn các điểm thích hợp trên đường ngấn nước triều thấp nhất và nối chúng lại bằng các đoạn thẳng nên được gọi là phương pháp đường cơ sở thẳng Phương pháp này của Na Uy được nhiều quốc gia chấp nhận và nhiều quốc gia không có ý kiến phản đối Tòa cho rằng Na Uy có thể vạch các đường như vậy giữa các cấu tạo đảo của Skjaergaard7 Tòa án kết luận rằng đường bờ biển Skjaergaard phải được xem như một thể thống nhất với bờ biển đất liền trong việc thừa nhận các vành đai của vùng lãnh thổ Na Uy Đây là một xem xét không được bỏ qua, phạm vi mở rộng vượt ra ngoài các yếu tố địa lý của một số lợi ích kinh

tế đặc thù cho một khu vực, thực tế và tầm quan trọng trong đó rõ ràng là bằng chứng một cách sử dụng lâu dài

Nguyên tắc thứ hai được đề ra là đường cơ sở thẳng được vạch không được vượt quá chiều dài 10 hải lý trừ trường hợp danh nghĩa lịch sử cho phép Trên thực tế mặc dù một số quốc gia chấp nhận nguyên tắc 10 hải lý cho đường đóng cửa vịnh nhưng một

số quốc gia khác lại chấp nhận độ dài khác và Na Uy luôn luôn phản đối việc áp dụng nguyên tắc này Như vậy, nguyên tắc 10 hải lí không phải là nguyên tắc được nhất trí

và không có quyền lực của một nguyên tắc được thừa nhận chung của luật pháp quốc

tế Như vậy, Na Uy có thể vạch các đường cơ sở thẳng theo phương thức mà họ thấy hợp lí nhất đối với họ, trong chừng mực áp dụng luật pháp quốc tế chung đối với một trường hợp riêng biệt có tính đến các điều kiện địa phương, điều kiện khu vực Xuất phát từ bản chất pháp lý của lãnh hải, một số yêu cầu về đường cơ sở được Tòa nêu ra như những tiêu chí hướng dẫn: vì lãnh hải phụ thuộc khăng khít với lãnh thổ, đường cơ

7 Skjaergaard là một khu vực đặc thù: dọc theo bờ biển lãnh thổ đất liền có rất nhiều các đảo, đảo nhỏ, đá và đá ngầm tạo nên cái gọi là Skjaergaard; mỗi đảo lại có các vịnh, các nhánh, luồng biển riêng của mình và không thể nào tách biệt rõ ràng đất liền với các cấu tạo đảo

Trang 16

Trang 10

sở thẳng không được lệch quá xa so với xu thế chung của bờ biển; các vùng nước phải gắn bó một cách hữu cơ với đất liền; cần phải tính đến một số quyền lợi kinh tế đặc thù của khu vực mà thực tiễn và tầm quan trọng của chúng đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh Na Uy đã đưa ra các bằng chứng lịch sử và các hoàn cảnh đặc thù để chứng minh luận cứ của mình Tòa cho rằng các đường cơ sở thẳng mà Na

Uy hoạch định đề nghị là phù hợp với hệ thống truyền thống, hơn nữa là một quá trình nghiên cứu lâu dài bắt đầu từ năm 1911 nên việc Chính phủ Na Uy dựa vào danh nghĩa lịch sử là phù hợp không trái với luật quốc tế

Bản án vào ngày 18 tháng 12 năm 1951 đã Tuyên cáo:

Bằng 10 phiếu thuận và 2 phiếu chống

Rằng phương pháp mà Nghị định của Hoàng gia Na Uy ngày 12-7-1935 áp dụng để hoạch định vùng đánh cá không trái với luật quốc tế

Bằng 8 phiếu thuận và 4 phiếu chống,

Rằng các đường cơ sở do Nghị định này quy định khi áp dụng phương pháp trên không trái với luật quốc tế

1.1.2.3 Ý nghĩa của phán quyết

Phán quyết đã mở đầu cho việc công nhận rộng rãi phương pháp đường cơ sở thẳng dùng để tính chiều rộng lãnh hải Các tiêu chuẩn của đường cơ sở thẳng Na Uy, qua phán quyết của Tòa, đã trở thành các tiêu chuẩn chung được luật pháp quốc tế thừa nhận và được điển chế hóa trong các Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển – Công ước Geneva năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp và Công ước Luật biển năm

1982

Phán quyết đã đặt nền móng cho việc thống nhất định nghĩa vịnh, được ghi nhận trong Điều 7 của Công ước 1958 và Điều 10 của Công ước 1982: vịnh cần được hiểu là một vùng lõm sâu rõ rệt vào đất liền mà chiều sâu của vùng lõm đó so sánh với chiều rộng

ở ngoài của nó đến mức là nước của vùng lõm sâu đó được bờ biển bao quanh và vùng

đó lõm sâu hơn là một sự uốn cong của bờ biển

Phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế ngày 18-12-1951 về vụ Ngư trường Anh – Na

Uy cũng đưa ra định nghĩa về vịnh lịch sử, người ta gọi chung “vùng nước lịch sử” là các vùng nước mà người ta đối xử như các vùng nước nội thủy, trong khi các vùng nước này thiếu một danh nghĩa lịch sử thì nó sẽ không có tính chất đó Phán quyết đã

đề cập khái niệm estopel trong luật quốc tế Sự im lặng của Anh trong vòng 60 năm đã

được coi như sự mặc nhiên thừa nhận hệ thống đường cơ sở thẳng của Na Uy

Phán quyết còn được coi nhu một ví dụ trong việc phát triển lý thuyết mới của luật

Trang 17

Trang 11

quốc tế: Hiệu lực của sự phản đối bền bỉ - Persistant objection / Objecteur pesistant Thực tiễn của thiểu số các quốc gia, trong một thời gian dài được sự khoan dung của cộng đồng quốc tế có thể trở thành một quy phạm mới của luật quốc tế 8

1.1.3 Tầm quan trọng của đường cơ sở thẳng trong quá trình phân định

biển

Phân định biển là quá trình hoạch định đường ranh giới nhằm phân chia các vùng biển giữa các quốc gia hữu quan, hoặc giữa quốc gia ven biển với vùng biển nằm ngoài chủ quyền

Trên thực tế và theo pháp luật quốc tế, tất cả các quốc gia ven biển đều được quyền hoạch định các vùng biển của mình như nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải…Trong trường hợp vùng biển của quốc gia tồn tại độc lập, không có liên quan đến lợi ích của quốc gia khác thì ranh giới của các vùng biển này do quốc gia ven biển tự xác định phù hợp với các nguyên tắc chung và thực tiễn pháp luật quốc tế Còn trong trường hợp khi vùng biển của các quốc gia ven biển nằm tiếp liền và đối diện với các vùng biển của các quốc gia khác, thì việc hoạch định ranh giới biển không thể chỉ phụ thuộc vào ý chí duy nhất của một quốc gia, mà còn phải có được sự thõa thuận giữa các quốc gia hữu quan

Vấn đề phân định biển được đặt ra cho các quốc gia có các vùng biển tiếp liền, hoặc đối diện nhau, và việc phân định nhằm mục đích xác định rõ đường biên giới biển phân chia vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia Do đó, nếu quá trình phân định không được tiến hành một cách hợp pháp thì rất dễ dẫn đến sự xung đột giữa các bên Chính vì vậy, để thực hiện chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển trong bảo vệ, quản lý và khai thác các tài nguyên thiên nhiên trên các vùng biển tiếp liền hoặc đối diện nhau, đòi hỏi các quốc gia hữu quan phải có sự thõa thuận cụ thể, chi tiết nhằm phân định các vùng biển này một cách rõ ràng, nhanh chóng9

Có thể nói, một trong những thành quả quan trọng của Công ước Luật biển 1982 là đã thiết lập một cách cụ thể và rõ ràng khái niệm, quy chế cũng như phạm vi các vùng biển Giờ đây các quốc gia không chỉ có lãnh hải rộng 12 hải lý mà còn có những vùng biển khác như vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý và thềm lục địa rộng tối đa tới

350 hải lý tính từ đường cơ sở Những quy định này của Công ước Luật biển 1982 đã

mở rộng một cách đáng kể chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các

Trang 18

Trang 12

quốc gia ven biển nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện thêm các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước có bờ biển nằm tiếp liền hoặc đối diện nhau

Cũng như các tranh chấp về biên giới, lãnh thổ khác, tranh chấp về việc xác định phạm

vi vùng biển giữa các quốc gia là loại tranh chấp phức tạp và chứa đựng nguy cơ bùng

nổ gây xung đột Trong đó, chiều rộng lãnh hải là một trong những vấn đề gây tranh cãi nhất trong luật biển quốc tế, vì chiều rộng lãnh hải có liên quan mật thiết đến quyền lợi chính trị, kinh tế, hàng hải, an ninh quốc phòng của quốc gia ven biển, đến quyền lợi của các nước khác

Điều 3, Công ước 1982 quy định “ mỗi quốc gia có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình” Chiều dài này không được vượt quá 12 hải lí tính từ đường cơ sở vạch ra theo đúng Công ước Lãnh hải là một vùng biển có chiều rộng xác định nằm phía ngoài đường cơ sở của quốc gia ven biển, thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của quốc gia ven biển Chủ quyền của quốc gia bao trùm lên cả vùng trời phía trên cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển ở phía dưới lãnh hải, đường ranh giới phía ngoài của lãnh hải cũng chính là đường biên giới của quốc gia ven biển Vì vậy, để tính được chiều rộng của lãnh hải, các quốc gia có biển phải xác định được đường cơ

sở của mình Đường cơ sở trong thực tế là nơi cung cấp một điểm khởi đầu cho việc thiết lập các tuyên bố của quốc gia ven biển về thẩm quyền hàng hải trong khi thường được gọi là “đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải”, đường cơ sở trên biển được tuyên bố không chỉ đối với lãnh hải, mà còn đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế Do đó việc thành lập các vị trí của đường cơ sở của một quốc gia ven biển là cần thiết là tiền đề để xác định các giới hạn trên các khu vực hàng hải, vì nó là điều cần thiết để xác định những điểm mà từ đó các quy định bề rộng của khu vực đó được xác lập10

Về mặt ý nghĩa, việc xác định đường cơ sở luôn là một vấn đề nhạy cảm do tính chất quyết định của đường cơ sở ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia ven biển và ảnh hưởng tới các quốc gia khác Một văn bản pháp luật quốc gia liên quan đến việc xác định đường cơ sở không hợp lí có thể gây ra những phản ứng từ phía các quốc gia khác

Do vai trò quan trọng của đường cơ sở thẳng ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến các lợi ích của các quốc gia và dễ tạo ra những xung đột trong quá trình phân định biên giới biển

Vì thế việc xem xét, đặt quyền lợi quốc gia trong bối cảnh khu vực và xu thế toàn cầu

10 http://www.gmat.unsw.edu.au/ablos/ABLOS08Folder/Session7-Paper1-Bateman.pdf , cập nhật ngày 17 tháng

5 năm 2012

Trang 19

Trang 13

hóa cũng hết sức cần thiết nhằm đạt được sự hòa bình, ổn định cùng phát triển giữa các quốc gia

1.2 Tiêu chuẩn kĩ thuật để vạch đường cơ sở thẳng theo UNCLOS

Mục đích của việc hình thành chế độ pháp lý về đường cơ sở thẳng là nhằm hạn chế khó khăn trong việc xác định ngấn nước triều thấp nhất trong một số hoàn cảnh nhất định Vì vậy, việc các quốc gia tuân theo một tiêu chuẩn kĩ thuật chung cụ thể theo tinh thần của UNCLOS để vạch đường cơ sở thẳng là điều hết sức quan trọng và cần thiết, một mặt tạo nên sự nhất trí trong cách vạch cho các quốc gia để tránh được sự lúng túng về cách hiểu cũng như cách áp dụng, mặt khác hạn chế việc các quốc gia lạm dụng việc vạch đường cơ sở thẳng để mở rộng chủ quyền trên biển, góp phần quan trọng trong việc giải quyết được những xung đột, tranh chấp về việc xác định phạm vi chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển giữa các quốc gia với nhau

1.2.1 Điều kiện áp dụng

1.2.1.1 Ở nơi bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm

Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 không đưa ra một định nghĩa nào

về thuật ngữ “bị khoét sâu và lồi lõm”, trừ khái niệm “bị khoét sâu” tương tự trong định nghĩa vịnh do bờ biển của một quốc gia bao bọc tại Điều 1011

Cụm từ “bị khoét sâu và lồi lõm” thường được hiểu là khoét sâu vào trong đất liền nhưng chưa đủ mức để được xem xét như một vịnh pháp lý theo quy định của Điều 10 trong UNCLOS Vấn đề là ở chỗ khi bờ biển chỉ có một vùng lõm như vậy thì có được

áp dụng để vạch đường cơ sở thẳng hay không Reisman và Wasterm (1992; tr.81)12

tranh luận rằng “phải có nhiều hơn một vùng lõm dọc bờ biển…” thì mới có thể áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng Mục đích của việc hình thành phương pháp đường cơ sở thẳng là để giảm bớt những khó khăn trong việc xác định ngấn nước triều thấp nhất tại những khu vực thiếu ổn định Do vậy, việc xuất hiện của duy nhất một vùng lõm không thể xem là cản trở cho bất kỳ một quốc gia nào khi vạch đường cơ sở

11

Điều 10, khoản 2 của UNCLOS quy định:

Trong Công ước, “Vịnh” (baie) cần được hiểu là một vùng lõm sâu rõ rệt vào đất liền mà chiều sâu của vùng lõm

đó so sánh với chiều rộng ở ngoài cửa của nó đến mức là nước của vùng lõm đó được bờ biển bao quanh và vùng

đó lõm sâu hơn là một sự uốn cong của bờ biển Tuy nhiên, một vùng lõm chỉ được coi là một vịnh nếu như diện tích của nó ít nhất cũng bằng diện tích một nữa hình tròn có đường kính là đường thẳng kẻ ngang qua cửa vào của vùng lõm

12 Reisman, W M, và Westerman, G S (1992), Đường cơ sở thẳng trong phân định biên giới quốc tế, London:

Macmillan

Trang 20

Trang 14

thông thường Cụ thể hơn, Roach và Smith (1996; tr.62)13 còn đòi hỏi rằng “…phải có

ít nhất từ ba vùng lõm trở lên” dọc theo đường bờ biển mới có thể được áp dụng phương pháp vạch đường cơ sở thẳng Từ đây có thể nhận xét rằng quốc gia ven biển chỉ nên áp dụng phương pháp vạch đường cơ sở thẳng khi có một số những vùng lõm dọc theo bờ biển

Một câu hỏi khác là vị trí và độ sâu của các vùng lõm đó có cần phải tính đến hay không? Theo Roach và Smith (1996; tr.62)14 thì:

- Các vùng lõm phải tương đối gần nhau, và

- Độ sâu của chúng phải lớn hơn nữa độ dài của đoạn cơ sở đóng cửa vùng lõm

đó

Dường như những điều kiện này là nghiêm ngặt song rất rõ ràng và tạo ra khả năng loại bỏ việc lạm dụng sự thiếu cụ thể của Công ước vì lợi ích riêng của quốc gia ven biển15

Theo Khuyến cáo của văn phòng luật pháp của Liên Hợp Quốc dựa trên thực tiễn quốc gia và các phán quyết của Tòa án Quốc tế, và gợi ý của Mỹ (Limits in the SEA N0

36) định nghĩa hình dạng “bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm” này phải thõa mãn các đặc tính sau:

- Những nơi mà bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm phải có ít nhất từ

ba vùng lõm sâu rõ rệt;

- Các vùng lõm sâu này phải nằm cạnh nhau, không cách nhau quá xa;

- Chiều sâu của từng vũng lõm đó tính từ đường cơ sở thẳng được đề nghị đóng cửa đổ ra biển của vùng lõm đó phải lớn hơn một nữa chiều dài của đoạn đường cơ sở đó

Một số ví dụ áp dụng phương pháp vạch đường cơ sở thẳng của các quốc gia ven biển

để thấy rõ sự khác nhau trong giải thích và áp dụng Công ước Thứ nhất, về Tuyên bố 14-10-1988 của Chính phủ Costa Rica, tại đó đường cơ sở bao gồm các đoạn ngang qua những vùng hoàn toàn không phải là những vùng lõm như ý định của Công ước

Mỹ đã phản đối với lý do bờ biển Thái Bình Dương của Costa Rica có hai vùng lõm

13

Roach, J A và Smith, R W (1996), Phản ứng của Mỹ trước những yêu sách biển quá đáng, xuất bản lần thứ

hai, The Hague: Martinus Nijhoff

14

Roach, J A và Smith, R W (1996), Phản ứng của Mỹ trước những yêu sách biển quá đáng, xuất bản lần thứ

hai, The Hague: Martinus Nijhoff

15 http://biengioilanhtho.gov.vn/vie/phantichmotsohoancanh-nd-784dc7c3.aspx , cập nhật ngày 17 tháng 5 năm

2012

Trang 21

Trang 15

nhưng không thõa mãn các tiêu chuẩn của luật quốc tế về bờ biển bị khoét sâu hay lồi lõm, cũng như không hề có sự xuất hiện của chuỗi đảo16 Thứ hai, đường cơ sở thẳng của Oman (1982) lại có nhiều đoạn quá dài vì nhiều điểm thích hợp đã bị bỏ qua và

Mỹ cũng đã phản đối với những chỉ trích hết sức cụ thể cho từng đoạn, chẳng hạn các điểm từ 1-5, 14-16, 38-43…17

1.2.1.2 Chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển

Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 không đưa ra lời giải thích nào về cụm từ “Chuỗi đảo nằm sát ngay” và “chạy dọc theo bờ biển”

Điều 7 quy định: “ nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển…, thì phương pháp đường cơ sở thẳng…” Nhóm các chuyên gia của Liên hợp quốc cho rằng “rõ ràng là phải có nhiều hơn một đảo trong chuỗi đảo nhưng thật khó khi làm rõ

số lượng cụ thể tối thiểu các đảo” Đề cập tới khoảng cách giữa các đảo trong một chuỗi đảo, một số nhà bình luận cho rằng khoảng cách ấy nên nhỏ hơn 24 hải lý để phù hợp với khái niệm một chuỗi đảo

Về cụm từ “dọc bờ biển” đã có rất nhiều nghiên cứu Reisman và Wasterm (1992; tr.83)18 giải thích rằng các đảo phải nằm gần song song chứ không phải là vuông góc với bờ biển Mỹ thì cho rằng góc giữa chuỗi đảo và bờ biển không vượt quá 45 độ Từ đường cơ sở của Na Uy, Hodgson và Alexander (1072; tr.37)19 nhận xét rằng đường cơ

sở không đi chệch hướng chung của bờ biển theo một góc vượt quá 150

Cụm từ “nằm sát ngay” đề cập tới khoảng cách giữa chuỗi đảo và đường bờ biển Mỹ (1987; tr.22)20 gợi ý rằng, khoảng cách tối đa không vượt quá 48 hải lý Nhóm chuyên gia về Luật biển của Liên hợp quốc (1989) thì cho rằng “một chuỗi đảo nằm cách bờ biển ba hải lý có thể được coi là nằm sát ngay, một chuỗi đảo cách bờ 100 hải lý thì không…”, tuy nhiên họ nhất trí rằng tối đa cũng chỉ là 24 hải lý Theo Reisman và

20 Mỹ (1987), Các chỉ dẫn đánh giá đường cơ sở thẳng, Các ranh giới trên biển, số 106, Washington D.C: Tổ

chức đại dương, khoa học và môi trường quốc tế (31/8)

Trang 22

Trang 16

Wasterm (1992; tr.89)21 thì khoảng cách ấy “không vượt quá 12 hải lý tính từ bờ biển” Như vậy, có thể thấy rằng sự giải thích Công ước của các quốc gia rất khác nhau, nhưng nhiều nhất cũng không thể vượt quá 48 hải lý

Theo Văn phòng luật pháp của Liên hợp quốc : “Chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển” là để chỉ số lượng các đảo chứ không phải các cấu tạo tự nhiên khác không thõa mãn yêu cầu của Điều 121 của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 định nghĩa về đảo Văn phòng Luật pháp của Liên hợp quốc và Mỹ trên cơ

sở nghiên cứu của Giáo sư người Úc JRV Prescott đề nghị hiểu chuỗi đảo được cấu thành ít nhất từ ba đảo và thõa mãn các điều kiện sau:

- Điểm gần bờ nhất của mỗi đảo trong chuỗi cách đường bờ biển không quá

24 hải lý Con số này được tạo bởi chiều rộng lãnh hải 12 hải lý của bờ biển

và chiều rộng lãnh hải 12 hải lý của đảo Tuy nhiên, khoảng cách bờ nhiều nhất có thể là 48 hải lý, tức hai lần khoảng cách 24 hải lý do sự biện minh

có các quyền lợi kinh tế trong khu vực;

- Mỗi đảo trong chuỗi cách đảo khác trong chuỗi mà đường cơ sở thẳng sẽ được vẽ qua một khoảng cách không quá 24 hải lý Tương tự như trên, con

số này là chiều rộng lãnh hải lớn nhất của hai đảo cộng lại;

- Chuỗi đảo phải chắn ít nhất 50% đường bờ biển liên quan

1.2.1.3 Ở những nơi bờ biển cực kì không ổn định

Cụm từ này đề cập tới thực trạng mà ở đó đường bờ biển thay đổi theo thời gian và ảnh hưởng tới việc xác định ngấn nước triều thấp nhất để vạch đường cơ sở thông thường Do đó, Điều 7 quy định: “ các điểm thích hợp có thể được lựa chọn dọc theo ngấn nước triều thấp nhất nhô ra xa nhất , các đường cơ sở đã được vạch ra vẫn có hiệu lực cho tới khi các quốc gia ven biển sửa đổi chúng theo Công ước” Từ sự tham khảo tỉ lệ thay đổi trên toàn thế giới, MacDonald và Prescott (1989)22 nhận định

“ người ta chấp nhận rằng chỉ những tỉ lệ thay đổi đường bờ biển lớn hơn 10m một năm mới được coi là một bờ biển cực kì không ổn định, như vậy thời gian tối đa để có

sự thay đổi 200m phải là 20 năm” Dựa trên quan điểm về sự thiếu ổn định của đường

bờ biển, năm 1974 Bangladesh đã vạch đường cơ sở với tám điểm nằm hoàn toàn trong vùng nước biển Các chuyên gia cho rằng, đây là một sự vi phạm rõ ràng cả hai

Trang 23

Trang 17

Công ước 1958 và 1982 về Luật biển Tuy nhiên, việc giải thích Công ước liên quan tới điều khoản này vẫn tiếp tục gây tranh cãi23

1.2.2 Cách áp dụng để vạch đường cơ sở thẳng

1.2.2.1 Chọn điểm để xác định đường cơ sở thẳng

Điểm cơ sở là một điểm bất kì trên đoạn đường cơ sở Trong phương pháp xác định đường cơ sở thẳng, ở nơi mà một đường cơ sở thẳng gặp một đường nào đó tại một điểm, một đường có thể thay đổi hình thể khác đi tại một điểm Như là một điểm giới hạn “bước ngoặt định vị” hay đơn giản hơn gọi là “điểm cơ sở - basepoint”24

Theo Công ước thì các điểm chọn làm điểm cơ sở phải là một thực tế vật chất rõ ràng Các bãi cạn lúc nổi lúc chìm không được chọn làm các điểm cơ sở trừ trường hợp ở đó

có những đèn biển hoặc các thiết bị tương tự khác thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước25

Bãi cạn lúc chìm lúc nổi là những vùng đất nhô cao tự nhiên có biển bao quanh, khi

thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị ngập nước26 Khi toàn bộ hay một phần bãi cạn đó ở cách lục địa hoặc một đảo một khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì ngấn nước triều thấp nhất ở trên các bãi cạn này có thể được dùng làm đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải27

Ngấn nước thủy triều thấp nhất là đường cắt của bề mặt nước triều khi xuống thấp

nhất với bờ biển, đường này chạy dọc theo bờ biển hoặc phần dốc của bờ, tại đó biển lùi xuống mức triều thấp nhất28

Đảo theo cách hiểu thông thường là một vùng đất có nước bao quanh Theo cách hiểu

này, ta có đảo nằm trong các sông hồ và đảo nằm trong biển (hải đảo) Đối với người

đi biển thì đảo được hiểu là các hải đảo nói chung, bao gồm các đảo, đá29

Thuỷ triều Đó là hiện tượng dao động mực nước sông biển phát sinh bởi sự biến thiên tuần hoàn của lực hấp

dẫn mặt trăng và mặt trời lên mỗi vị trí trên bề mặt quả đất (do quả đất quay quanh trục của nó và tất cả chúng đều chuyển động liên tục trong vũ trụ theo các quỹ đạo khác nhau)

27 Khoản 1 Điều 13 của UNCLOS

28 Office for Ocean Affairs and the Law of the sea, Baseslines: An Examination of the Relevant Provisions of the United Nations Convention on the Law of the sea, United Nations New York,1989, page 58

Trang 24

Đá cũng là một dạng của đảo, thường được gọi là đảo đá hoặc bãi đá Đây là những đảo được hình thành một cách tự nhiên từ đá Các đảo này thường được cấu thành từ một khối liền nhất hoặc từ nhiều chỏm đá, diện tích nhỏ (thường nhỏ hơn 0,001 hải lý vuông) Các đảo đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh

tế riêng thì chỉ được có vùng lãnh hải tối đa 12 hải lý, không được phép có vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế31 Trong thực tiễn quốc tế, có những trường hợp, bãi

đá chỉ được 3, 6 hay 9 hải lý lãnh hải và vùng tiếp giáp, tùy vào sự thõa thuận của các quốc gia liên quan hoặc phán quyết của Tòa án Quốc tế, Tòa trọng tài hoặc các cơ quan tài phán quốc tế khác mà bên liên quan chấp nhận đề nghị hoặc trưng cầu32

1.2.2.2 Cách áp dụng để vạch đường cơ sở thẳng và điều kiện để

đường cơ sở thẳng của một quốc gia được Quốc tế công nhận

Văn phòng luật pháp của Liên hợp quốc khuyến cáo các tiêu chuẩn kĩ thuật để vạch đường cơ sở thẳng như sau:

- Chiều dài của đoạn cơ sở thẳng không nên quá 60 hải lí;

- góc lệch lớn nhất giữa đoạn cơ sở thẳng với bờ biển không quá 200

;

- chuỗi đảo phải chắn ít nhất 50% đường bờ biển liên quan

29 http://diendankienthuc.net/diendan/luat-quoc-te/59709-dao-va-che-do-phap-li-cua-dao.html , cập nhật ngày 17 tháng 5 năm 2012

30 Trích Điều 121, UNCLOS

31 Trích khoản 3, Điều 121, UNCLOS

32

http://diendankienthuc.net/diendan/luat-quoc-te/59709-dao-va-che-do-phap-li-cua-dao.html , cập nhật ngày 17 tháng 5 năm 2012

Trang 25

sở thông thường nhưng lại không thuộc phần nội thủy Những truy vấn đặt ra là phần lãnh thổ đó thuộc phần nào trong phạm vi chủ quyền của một quốc gia và cách xác định nó như thế nào…rõ ràng phương pháp đường cơ sở thông thường áp dụng trong trường hợp này đã không thỏa đáng trong việc giải quyết vấn đề trên

Trang 26

Trang 20

A complex pattern of territorial waters produced from the

normal baseline and bay closing line 33

33

Office for Ocean Affairs and the Law of the sea, Baseslines: An Examination of the Relevant Provisions of the United Nations Convention on the Law of the sea, United Nations New York,1989, page 19

Trang 28

Trang 22

- Hoàn cảnh được tính đến khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thể tính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực mà thực tế và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng35

Coast of north Norway 36

Cách vạch đường cơ sở thẳng của Na Uy gắn với những điều kiện kinh tế đặc

thù theo lãnh thổ quốc gia được Quốc tế công nhận

Trang 29

Theo UNCLOS thì “nếu một con sông đổ ra biển mà không tạo thành vùng thì đường

cơ sở là một đường thẳng được kẻ ngay qua cửa sông nối liền các điểm ngoài cùng của ngấn nước triều thấp nhất ở hai bên bờ sông”38

Điều khoản này chứa hai vấn đề đáng phải quan tâm Thứ nhất, đó là khái niệm về một con sông mà dòng chảy trực tiếp của nó sẽ đổ ra biển Thứ hai, không có ghi chú nào quy định về hình thể cửa sông của một con sông, có chăng nữa chỉ là sự thõa thuận dưới hình thức của một điều khoản trong quy định về vịnh Theo cách đó, giới hạn của

“directly” được giải thích “without forming an estuary” có thể hiểu rằng một con sông

đổ trực tiếp ra biển mà tại đó không có các nhánh sông Một con sông có thể có nhiều cửa sông, nhưng hiện tại một vài con sông không còn nhiều cửa sông như trước đây do

sự dâng lên của mực nước biển39

Điều 9 không hướng dẫn về cách chọn những điểm để vạch đường đóng cửa ngoại trừ những quy định về mức thủy triều thấp nhất tại lưu vực sông Vấn đề liên quan đến cửa sông tại một khu vực nào đó có thể gây ra khó khăn cho việc vạch rõ trong một vài trường hợp, đặc biệt dọc theo bờ biển thấp với ảnh hưởng của thủy triều trên diện rộng Có thể, không có câu trả lời rõ ràng cho việc ứng dụng với mỗi loại cửa sông và điều đó có thể giải thích một cách khá chung chung tại Điều 9 của UNCLOS40 Tuy không chỉ rõ giới hạn độ dài của đường thẳng đó, nhưng ngầm hiểu rằng Điều 9 nhằm

đề cập đến những con sông nhỏ, không có nhiều cửa Điểm cần được chú ý khác là con sông được đề cập ở đây chỉ thuộc chủ quyền của một quốc gia duy nhất Nói cách khác, nếu một con sông thuộc chủ quyền của từ hai quốc gia trở lên thì đường đóng cửa sông sẽ phải xác định theo phương pháp khác tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể Do

Trang 30

Trang 24

bản chất thiếu ổn định của các bờ sông (sạt lỡ hay được bồi đắp), nên đôi khi đường cơ

sở thể hiện trên hải đồ không còn phản ánh đúng điều kiện do Công ước 1982 đặt ra

1.2.3.2 Cửa vịnh

Theo Điều 10 của Công ước 1982, vịnh được đề cập là một vịnh thuộc chủ quyền của một quốc gia Các quy định của điều này không áp dụng cho các vịnh lịch sử hay một vịnh thuộc chủ quyền của từ hai quốc gia trở lên (những quy định này cũng không áp dụng khi quốc gia ven biển đã sử dụng phương pháp vạch đường cơ sở thẳng theo Điều 7 của Công ước 1982)

Điều 10 khoản 2 quy định: “Trong Công ước, Vịnh cần dược hiểu là một vùng lõm sâu

rõ rệt vào đất liền mà chiều sâu của vùng lõm đó so sánh với chiều rộng ở ngoài cửa của nó đến mức là nước của vùng lõm đó được bờ biển bao quanh và vùng lõm đó sâu hơn là một sự uống cong của bờ biển Tuy nhiên, một vùng lõm chỉ được coi là một vịnh nếu như diện tích nó ít nhất cũng bằng diện tích một nữa hình tròn có đường kính

là đường thẳng kẻ ngang qua cửa vịnh vào vùng lõm”41

Diện tích của một vùng lõm được tính giữa ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển của vùng lõm và đường thẳng nối liền các ngấn nước triều thấp nhất ở các điểm của vùng lõm và đường thẳng nối liền các ngấn nước triều thấp nhất ở các điểm của cửa vào, thì nữa hình tròn nói trên có đường kính bằng tổng số chiều dài các đoạn cắt ngang các cửa vào đó Diện tích của các đảo nằm trong một vùng lõm được tính vào diện tích chung của vùng lõm

Nếu khoảng cách giữa các ngấn nước triều thấp nhất ở các điểm của cửa vào tự nhiên một vịnh không vượt quá 24 hải lý, thì đường phân giới có thể được vạch giữa hai ngấn nước triều thấp nhất này và vùng nước ở phía bên trong đường đó được coi là nội thủy Khi khoảng cách giữa các ngấn nước triều thấp nhất ở các điểm của cửa vào tự nhiên một vịnh vượt quá 24 hải lý, thì được kẻ một đoạn đường cơ sở thẳng dài 24 hải

lý ở phía trong vịnh, sao cho phía trong của nó có một diện tích nước tối đa42

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w