Đại hội 6 Công đoàn Việt Nam năm 1988 đã nhìn lại phong trào công nhân, viên chức Công đoàn trong 5 năm 1983 – 1988, nêu rõ tình hình phong trào công nhân, viên chức và hoạt động Công đo
Trang 1ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VIỆT
NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
Lê Văn Hiếu Mssv: 5085802 Lớp: Luật tư pháp 1 – k34 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
Ths.Diệp Thành Nguyên
Trang 2………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu 1
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Kết cấu của đề tài 2
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM 3
1.1 Sự hình thành và phát triển của Công đoàn Việt Nam 3
1.1.1 Giai đoạn 1930 – 1945 3
1.1.2 Giai đoạn 1946 – 1954 4
1.1.3 Giai đoạn 1954 – 1975 4
1.1.4 Giai đoạn 1975 đến nay 5
1.2 Vị trí, vai trò của Công đoàn Việt Nam 7
1.2.1 Vị trí của Công đoàn Việt Nam 7
1.2.2 Vai trò của Công đoàn 9
1.3 Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn 11
1.3.1 Chức năng của tổ chức Công đoàn 11
1.3.2 Nhiệm vụ của Công đoàn 12
1.4 Cơ cấu tổ chức của Công đoàn Việt Nam 13
1.5 Nguyên tắc hoạt động của tổ chức Công đoàn 15
1.5.1 Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng Sản Viet Nam đối với hoạt động của tổ chức Công đoàn 15
1.5.2 Công đoàn phải giữ liên hệ mật thiết với quần chúng 16
1.5.3 Đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng 17
1.5.4 Nguyên tắc tập trung dân chủ 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN 20 2.1 Thực trạng hoạt động của tổ chức Công đoàn Việt Nam 20
2.1.1 Những kết quả đạt được 20
2.1.2 Những hạn chế trong hoạt động công đoàn thể hiện trong một số lĩnh vực cơ bản 23
Trang 52.1.2.2 Hạn chế của công đoàn trong việc ký kết và thực hiện thoả ước lao
động tập thể 26
2.1.2.3 Hạn chế của công đoàn trong lĩnh vực tiền lương 28
2.1.2.4 Hạn chế của công đoàn trong việc đóng và trả bảo hiểm xã hội cho người lao động 30
2.1.2.5 Hạn chế của công đoàn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động 32
2.1.2.6.Hạn chế của công đoàn trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động và đình công 34
2.1.3 Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế trong hoạt động công đoàn 36
2.1.3.1 Do hạn chế của pháp luật lao động khi quy định về vai trò của công đoàn trong một số lĩnh vực cụ thể 36
2.1.3.2 Những hạn chế về công tác cán bộ của tổ chức công đoàn 38
2.1.3.3 Những hạn chế về phương thức hoạt động của tổ chức công đoàn 39
2.1.3.4 Những hạn chế về yếu tố đảm bảo cho hoạt động của công đoàn 39
2.2 Sự cần thiết phải đổi mới hoạt động của tổ chức công đoàn trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay 40
2.2.1 Sự cần thiết phải đổi mới hoạt động của công đoàn xuất phát từ những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường hiện nay 41
2.2.2 Bối cảnh hội nhập kinh tế với làn sóng đầu tư nước ngoài, sự ảnh hưởng các trào lưu quốc tế cũng làm nảy sinh yêu cầu phải đổi mới hoạt động của công đoàn trong bối cảnh hiện nay 41
2.2.3 Đổi mới phương thức hoạt động nhằm bắt kịp các nước tiên tiến trên thế giới 42
2.2.4 Sự lớn mạnh của tổ chức đại diện người sử dụng lao động cũng là một nhân tố cho thấy sự cần thiết phải đổi mới hoạt động của công đoàn 43
Trang 63.1 Những yêu cầu đặt ra đối với Công đoàn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện
nay 45
3.1.1 Công đoàn phải thực sự thực hiện tốt chức năng bảo vệ người lao động 45 3.1.2 Công đoàn phải đủ mạnh để tham gia quan hệ với công đoàn quốc tế 46
3.1.3 Tăng cường hoạt động của công đoàn ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 47 3.2 Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn 49
3.2.1 Ban hành Luật Công đoàn mới cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội 49
3.2.2 Ban hành Bộ luật Lao động mới 49
3.2.3 Mở rộng quyền và trách nhiệm 52
3.2.4 Đối với thoả ước lao động tập thể 52
3.2.5 Vấn đề bảo hộ lao động 53
3.2.6 Sửa đổi các quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn cơ sở 53
3.2.7 Đổi mới phương thức hoạt động của công đoàn 53
3.2.8 Công tác cán bộ 55
KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến vị trí của công đoàn trong đời sống kinh tế – chính trị – xã hội ở Việt Nam Cơ chế thị trường với sức mạnh của nó đang có những ảnh hưởng nhiều mặt đến hoạt động của công đoàn Do nhiều nguyên nhân, công đoàn còn nhiều lúng túng về mô hình tổ chức và phương pháp hoạt động Vì vậy, có nhiều người cho rằng hiện nay công đoàn đang mất dần ảnh hưởng trong đời sống xã hội, đặc biệt là đối với người lao động Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều loại hình doanh nghiệp đang xuất hiện và ngày càng phát triển Đó là “mảnh đất” cho công đoàn hoạt động, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi công đoàn phải đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động cho phù hợp với xu thế mới, phát huy tích cực vai trò của mình trong xã hội
Nghiên cứu về hoạt động của công đoàn trong giai đoạn hiện nay là việc làm thiết thực và có nhiều ý nghĩa, đặc biệt hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên của
tổ chức thương mại thế giới WTO và nhiều tổ chức kinh tế ở khu vực cũng như thế
giới Xuất phát từ lý do đó, em đã chọn đề tài “Đổi mới hoạt động của công đoàn Việt
Nam trong xu thế hội nhập quốc tế” là đề tài cho Khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Thông qua đề tài tác giả mong muốn tìm hiểu hoạt động của tổ chức công đoàn Việt Nam và những nguyên nhân làm hạn chế hoạt động, dẫn đến phải đổi mới để đảm bảo sự hoạt động tốt hơn sớm đưa công đoàn hoạt động và phát triển theo quỹ đạo của nền kinh tế thị trường và phát triển theo định hướng của Đảng và nhà nước
Phần phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu hoạt động của công đoàn hiện nay Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng hoạt động của tổ chức Công đoàn Việt Nam, rút ra nhận xét và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 83 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mac-Lênin
và các quan điểm của Đảng, tư tưởng của Hồ Chí Minh Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong đề tài là phân tích, tổng hợp, quy nạp
4 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, Khoá luận được chia là 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động của Công đoàn Việt Nam
- Chương 2: Thực trạng hoạt động của tổ chức Công đoàn và sự cần thiết đổi
mới hoạt động của tổ chức Công đoàn
- Chương 3: Một số giải pháp đổi mới hoạt động Công đoàn nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Mặc dù, người viết đã có nhiều cố gắng nhưng do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, lại là lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học Trong khi đó, đề tài
đề cập đến vấn đề rất mới và phức tạp Vì vậy người viết không tránh khỏi những khiếm khuyết Người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của Quý thầy cô
và các bạn để có kết quả tốt hơn trong những lần nghiên cứu khoa học sau
Trang 9CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
1.1 Sự hình thành và phát triển của Công đoàn Việt Nam1
Năm 1920, công hội bí mật (Công hội Ba Son) do đồng chí Tôn Đức Thắng vận động đã thành lập tại Sài Gòn Nhưng quá trình hình thành và ra đời tổ chức Công đoàn Việt Nam ngày nay gắn liền với những hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Luân Đôn và tham gia Công đoàn Hải ngoại Anh Cuối 1918, Người tham gia Đảng Xã hội Pháp và trở thành đoàn viên của Công đoàn Kim khí Pháp Năm 1919, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã bồi dưỡng và giúp đỡ ông Nguyễn Tạo (Việt kiều tại Pháp) thành lập Công đoàn thủy thủ Việt Nam tại Mácxây Trong một thời gian dài, người viết đã tìm hiểu, nghiên cứu về tổ chức Công đoàn và đã khẳng định sự cần thiết phải thành lập tổ chức Công đoàn ở các nước thuộc địa
Qua hoạt động thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc đã đề ra những cơ sở lý luận cho tổ chức công hội Trong hai năm 1927 – 1928, phong trào công nhân ở nước ta đã phát triển mạnh Trong các xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ ở Hà Nội, Nam Định, Hồng Gai, Đông Triều đã có các công hội được thành lập Ngày 28 – 7 – 1929, tại nhà số 15 Hàng Nón, Hà Nội, Đại hội thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ được triệu tập Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành lâm thời do ông Nguyễn Đức Cảnh làm Chủ tịch Ngày
28 – 7 – 1929 đã đi vào lịch sử phong trào công nhân Công đoàn Việt Nam Đó chính
là ngày thành lập tổ chức Công đoàn Việt Nam ngày nay
1.1.1 Giai đoạn 1930 – 1945
Trong giai đoạn này, ở Bắc Kỳ tổ chức Công hội được tổ chức chủ yếu ở các
cơ sở công nghiệp, đô thị có nhiều công nhân Tiếp theo là ở các tỉnh và một số khu vực trọng điểm Trong hai năm 1930 – 1931, số hội viên đã có hơn một vạn
Tại Trung Kỳ đến năm 1930, tổ chức công hội đã được thành lập ở Vinh, Bến Thủy, TuaRan (Đà Nẵng) Lúc này hội viên của công hội Trung Kỳ đã có 8000 người
Trang 10
Ở Nam Kỳ, từ năm 1930 Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ đã cử nhiều cán bộ vào hoạt động, gây dựng cơ sở như Ngô Gia Tự, Lê Văn Lương Trên cơ sở cũ như Công hội Ba Son, Chợ Quán, Cảng Sài Gòn , năm 1931 cả Nam Kỳ đã có hơn một vạn hội viên Đến lúc này, cả nước đã có hơn ba vạn hội viên công hội đỏ
Thời kỳ tiếp theo là thời kỳ Công hội đỏ đã có cơ cấu ổn định, phát triển nhanh
và mạnh với mục tiêu đòi tự do nghiệp đoàn, đòi thi hành chế độ dân sinh, dân chủ
Để phù hợp tình hình những năm 1935 – 1939, tổ chức Công hội đỏ đã đổi tên thành Nghiệp đoàn ái hữu Từ năm 1940, Nghiệp đoàn ái hữu đổi tên là Hội Công nhân cứu quốc được thành lập ở các tỉnh và nhiều khu công nghiệp quan trọng Lúc này số hội viên đã lên tới 13 vạn người và là lực lượng nồng cốt của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 – 1945
Ở Nam Kỳ sau năm 1941, Nghiệp đoàn ái hữu đổi tên thành Công nhân tiền phong ban xí nghiệp, lấy nhà máy, xí nghiệp làm địa bàn hoạt động chính Đến tháng
8 – 1945 ở Nam Kỳ đã có 350 cơ sở với hơn 120.000 hội viên và tham gia tích cực vào tổng khởi nghĩa giành chính quyền Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Công đoàn ở Nam Kỳ được đổi tên là Tổng Công đoàn Nam Bộ
Đến năm 1945, cả nước đã có gần 25 vạn đoàn viên công đoàn
1.1.2 Giai đoạn 1946 – 1954
Ngày 20 – 7 – 1946, hội nghị đại biểu ba miền đã nhất trí thành lập Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Đại hội lần thứ 1 Công đoàn Việt Nam được tổ chức vào tháng 7 – 1950 Đại đã đề ra nhiệm vụ cho tổ chức Công đoàn các cấp tăng cường vận động công nhân, đẩy mạnh sản xuất, tích cực tham gia phong trào “kháng chiến kiến quốc”, xây dựng và phát triển chế độ ủy ban xí nghiệp Đại hội lần thứ 1 đã bầu ông Hoàng Quốc Việt làm Chủ tịch, Bác Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch danh dự
Ở vùng địch tạm chiếm, Công đoàn chú trọng phát triển theo chiều sâu, xây dựng các cơ sở Công đoàn bí mật nằm trong các nhà máy, xí nghiệp nhằm tập hợp công nhân lao động đấu tranh làm suy yếu kẻ địch Từ năm 1949, Công đoàn Việt Nam trở thành thành viên của Liên hiệp Công đoàn thế giới
1.1.3 Giai đoạn 1954 – 1975
Sau năm 1954, ở miền Bắc có nhiều thuận lợi cho hoạt động Công đoàn
Trang 11Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ 2 (2 – 1961) đã đề ra nhiệm vụ của Công đoàn trong giai đoạn mới là đoàn kết, tổ chức giáo dục công nhân, viên chức phát huy tinh thần làm chủ tập thể, thi đua thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) Đại hội đã đề ra hai nhiệm vụ chiến lược cho hai miền và thông qua điều lệ mới, đổi tên Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thành Tổng Công đoàn Việt Nam Đại hội bầu ông Hoàng QuốcViệt làm Chủ tịch Công đoàn Việt Nam
Từ năm 1957, Công đoàn đã cùng Nhà nước xây dựng luật Công đoàn quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động Công đoàn Đây là sự kiện ghi nhận sự chuyển biến mới về cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn Từ đây, hoạt động Công đoàn đã có cơ sở pháp lý, có sự bảo hộ của nhà nước và sự thừa nhận của
xã hội
Ở miền Nam, Liên hiệp Công đoàn giải phóng đã được thành lập ngày 17 – 4 –
1961 tại chiến khu D và trở thành lực lượng nòng cốt của Mật trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
Tháng 2 – 1974, Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ 3 được tiến hành và khẳng định Công đoàn phải xây dựng và bảo vệ Nhà nước bằng hành động tích cực, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của và thường xuyên tham gia quản lý, giám sát Nhà nước Đại hội đã bầu lại ông Hoàng Quốc Việt làm Chủ tịch và Bác Tôn Đức Thắng làm chủ tịch danh dự
Trong giai đoạn này, công nhân lao động đêu tham gia hoạt động trong tổ chức Công đoàn với tên gọi và nội dung cụ thể phù hợp với địa bàn mỗi miền Công đoàn trên cả hai miền Nam, Bắc đều ngày càng phát triển, góp phần quan trọng vào sự nghiệp chung của đất nước là xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước
1.1.4 Giai đoạn 1975 đến nay
Sau khi đất nước thống nhất, tổ chức Công đoàn hai miền đã được thống nhất lại thành Tổng Công đoàn Việt Nam Do hậu quả của cuộc chiến tranh lâu dài, ác liệt,
do sự chuyển đổi chậm trể cơ chế kinh tế từ thời chiến sang thời bình, do mối quan hệ kinh tế quốc tế biến đổi, bắt lới cho chúng ta , đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng Trước tình hình đó, đất nước chuyển sang thời kỳ đổi mới toàn diện Tổ
Trang 12chức Công đoàn Việt Nam cũng có những biến đổi sâu sắc cả về cơ cấu tổ chức và hoạt động
Đại hội 6 Công đoàn Việt Nam năm 1988 đã nhìn lại phong trào công nhân, viên chức Công đoàn trong 5 năm (1983 – 1988), nêu rõ tình hình phong trào công nhân, viên chức và hoạt động Công đoàn, đồng thời xác định rõ: Công đoàn phải thực hiện có hiệu quả mục tiêu tổng quát những năm còn lại của chặng đường đầu thời kỳ quá độ mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 của Đảng nêu ra là: Ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục sử dụng những tiền đề cần thiết cho công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo; là tổ chức rộng lớn nhất của giai cấp công nhân, lao động Việt Nam
Đại hội 7 Công đoàn Việt Nam tiến hành vào tháng 11 – 1993 Báo cáo trình Đại hội 7 Công đoàn Việt Nam, sau khi trình bày những thành tích và nhược điểm của phong trào trong nhiệm kỳ qua, đã kết luận: Trong Nhà nước nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, Công đoàn coi trọng chức năng đại diện, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân lao động Song trong điều kiện có sự lãnh đạo của Đảng và
sự quản lý của Nhà nước, thì lợi ích của giai cấp công nhân không tách rời lợi ích đất nước, của dân tộc Do đó, Công đoàn không chỉ chăm lo, bảo vệ lợi ích trước mắt mà phải quan tâm đến lợi ích lâu dài và sự ổn định, phát triển đất nước theo mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội; phải làm tốt chức năng giáo dục, vận động công nhân lao động tích cực góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc; để có thể nhanh chóng phát triển
tổ chức, tập hợp được đông đảo công nhân, lao động trong các thành phần kinh tế, Công đoàn phải tăng cường các hoạt động và có nhiều hình thức hoạt động, phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp theo đúng nguyên tắc, điều lệ Công đoàn Việt Nam
Tháng 11 – 1998, Đại hội 8 Công đoàn Việt Nam được tiến hành Báo cáo của Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa 7 trình Đại hội 8 Công đoàn Việt Nam nêu những thành tựu đã đạt được, chỉ ra những thiếu sót trong nhiệm kỳ 5 năm Đặc biệt, báo cáo rút ra những bài học kinh nghiệm quan trọng: mọi mặt hoạt động của Công đoàn phải xuất phát từ đường lối, chính sách của Đảng, nguyện vọng của người lao động và quy định của pháp luật, có chương trình, mục tiêu cụ thể, có sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các cấp chính quyền Thực hiện cơ chế của Đảng lãnh đạo, Công đoàn và chính quyền các cấp phối hợp chặt chẽ, nhất là cấp cơ sở Công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện phải chặt chẽ, sát thực tế, có sự kiểm tra đôn đốc;
Trang 13sơ, tổng kết rút kinh nghiệm thường xuyên các mặt hoạt động của Công đoàn; đẩy mạnh các hoạt động xã hội, thể hiện rõ vai trò của Công đoàn là người đại diện chăm
lo, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động, giúp công nhân, viên chức, lao động thực thiện tốt nghĩa vụ của người công dân và người lao động, áp dụng nhiều hình thức linh hoạt phù hợp với đặc điểm về giới, về nghề nghiệp, khu vực, nhằm đạt hiệu quả cao, xây dựng phương pháp hoạt động tài chính
và kinh tế Công đoàn ngày càng có hiệu quả, phục vụ tốt hơn hoạt động của Công đoàn trong cơ chế mới, thường xuyên tổ chức phong trào hành động cách mạng, thi đua lao động sản xuất, công tác trong công nhân, viên chức, lao động hướng vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị vag các kế hoạch của cơ quan, doanh nghiệp; cán bộ là nhân tố quyết định, do đó cần có kế hoạch, quy hoạch xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công đoàn, trước hết là cán bộ công đoàn chủ chốt cấp trên cơ sở và chủ tịch công đoàn cơ sở có bản lĩnh của giai cấp công nhân, có uy tín và năng lực hoạt động thực tiễn, am hiểu về ngành nghề, luật pháp, chính sách, xuất thân và trưởng thành từ phong trào cách mạng của công nhân, viên chức, lao động Có chính sách đãi ngộ thỏa đáng để thu hút cán bộ giỏi, nhiệt tình hoạt động Công đoàn, có cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn trung thực, thẳng thắn đấu tranh; đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng két thực tiễn, nắm vững các xu thế định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và thế giới, từ đó, có cơ sở xác định phương hướng, nhiệm vụ Công đoàn cho phù hợp, xây dựng và phát triển hệ thống thông tin từ trung ương đến cơ sở
Đại hội 9 Công đoàn Việt Nam (10 – 2003), đại hội 10 (01 – 2010) đã đánh dấu lịch sử phát triển của Công đoàn Việt Nam về mọi mặt kể cả về cơ cấu tổ chức lẫn phương thức hoạt động
Hiện nay, cả nước có trên 6, 7 triệu đoàn viên và trên 410.000 cán bộ công đoàn các cấp Trong đó có 8.416 cán bộ công đoàn chuyên trách và trên 400.000 cán
bộ công đoàn không chuyên trách.2
1.2 Vị trí, vai trò của Công đoàn Việt Nam 1.2.1 Vị trí của Công đoàn Việt Nam
Trang 14
Từ khi ra đời (28/7/1929)3, công đoàn Việt Nam đã giữ một vị trí quan trọng trong phong trào đấu tranh bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân Tiền thân của tổ chức công đoàn Việt Nam là tổ chức “Công hội đỏ” do Tôn Đức Thắng thành lập đầu những năm 1920 nhằm lãnh đạo công nhân đấu tranh đòi quyền lợi, góp phần đoàn kết công nhân cùng với giai cấp, tầng lớp khác trong cả nước đấu tranh giải phóng dân tộc Cùng với sự phát triển xã hội, quá trình lao động cũng có nhiều thay đổi Công đoàn Việt Nam dần chiếm được vị trí quan trọng trong hệ thống các tổ chức xã hội và trong đời sống của người lao động
Theo điều 10 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992:
“Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và người lao động
cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân,viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân viên chức và người lao động xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Điều 1 Luật Công đoàn cũng ghi nhận: “ Công đoàn là tổ chức chính trị - xã
hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam, tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là thành viên của hệ thống chính trị
xã hội Việt Nam, là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động”
Như vậy, công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị, là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, lao động Công đoàn là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là sợi dây nối liền Đảng với quần chúng
Với vị trí là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân, của người lao động, công đoàn luôn cố gắng tập hợp toàn bộ quần chúng, công nhân, viên chức lao động
Công đoàn là tổ chức xã hội được hình thành do nhu cầu của đông đảo người lao động Công đoàn thu hút sự tham gia đông đảo của công nhân viên chức, người lao động không phân biệt giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo
3 Điều lệ công đoàn Việt Nam ( Đại hội đại biểu công đoàn toàn quốc lần thứ X thông qua ngày 5 tháng 11 năm 2008)
Trang 15Công đoàn là một tổ chức xã hội có tính chất nghiệp đoàn Tính chất này biểu hiện ở thành phần tham gia và mục đích tồn tại của công đoàn Các thành viên công đoàn thuộc về lực lượng lao động, đã hoặc đang làm một công việc nhất định Do đó, công đoàn có thể coi là tổ chức nghề nghiệp rộng lớn nhất, thu hút sự tham gia đông đảo nhất của mọi tầng lớp lao động trong xã hội
Mặt khác, công đoàn còn là một tổ chức chính trị - xã hội có vị trí quan trọng trong xã hội, có ảnh hưởng to lớn đến đông đảo quần chúng nhân dân lao động Công đoàn là tổ chức đại diện cho người lao động, tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho họ và tham gia quản lý kinh tế xã hội
Công đoàn còn truyền chính sách, pháp luật của Đảng, nhà nước đến với quần chúng, người lao động Công đoàn có trách nhiệm xây dựng Đảng, bồi dưỡng công nhân ưu tú kết nạp Đảng Có thể nói, công đoàn là cộng sự đắc lực của nhà nước bởi những hoạt động của công đoàn đã thực sự góp phần xây dựng chính quyền nhà nước,
vì mục đích tồn tại của nhà nước, vì lợi ích của giai cấp công nhân
Sự thừa nhận của xã hội, của Nhà nước trên các phương diện khác nhau đã khẳng định vị trí của công đoàn, đồng thời tạo ra điều kiện pháp lý xã hội cho hoạt
động công đoàn để công đoàn thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình “Không có
một nền móng như các tổ chức công đoàn thì không thể thực hiện được các chức năng cuả nhà nước” 4
1.2.2 Vai trò của Công đoàn
Nghiên cứu vai trò của công đoàn trong điều kiện hiện nay có ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt lý luận, thực tiễn, mà cả mặt tư tưởng
Lênin nói: “ …Công đoàn có vai trò là trường học quản lý,trường học kinh tế,
trường hoặc chủ nghĩa cộng sản…” 5
Ngày nay trong quá trình hội nhập quốc tế vai trò của công đoàn càng được mở rộng và phát triển trên các lĩnh vực, cụ thể là:
4
V I.Lê- nin tập 38, tr380 – Nhà xuất bản tiến Bộ Mát xcơ va 1977 – in theo bản dich của nhà xuất bản sự thật,
Hà Nội
Trang 16Trong lĩnh vực kinh tế Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, công
đoàn cần có vai trò tích cực trong việc xây dựng và thực hiện cơ chế mới Vai trò của công đoàn trong nền kinh tế thị trường là tham gia đổi mới cơ chế quản lý, củng cố nguyên tắc tập trung dân chủ, đẩy mạnh hoạt động công đoàn trong các thành phần kinh tế song vẫn đảm bảo kinh tế nhà nước giữ vai trò then chốt, chủ đạo Một mặt, công đoàn đẩy mạnh hoạt động tại các doanh nghiệp Mặt khác, công đoàn hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển đúng hướng
Trong lĩnh vực chính trị: Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đặt ra là xây dựng
và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong củng cố và giữ vững bộ máy nhà nước Để nâng cao vị thế chính trị của mình, công đoàn cần là cầu nối tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của người lao động, từng bước hoàn thiện nền dân chủ, đảm bảo thực thi pháp luật và để nhà nước thực sự là của dân, do dân, vì dân Trước diễn biến phức tạp của đời sống kinh tế - xã hội hiện nay, công đoàn phải góp phần cùng với nhà nước đảm bảo sự ổn định về chính trị bởi có tạo được ổn định về chính trị mới tiến hành đổi mới kinh tế có hiệu quả và hoàn thành tốt các mục tiêu kinh tế đặt ra trong quá trình hội nhập quốc tế
Như vậy, công đoàn có trách nhiệm to lớn cùng với các tổ chức trong hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay
Trong lĩnh vực xã hội: Nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi bộ mặt nước nhà
song cũng đem lại không ít những tiêu cực, ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống của người lao động Vì vậy, Công đoàn phải góp phần xây dựng giai cấp công nhân, bảo đảm sự thống nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật để giai cấp công nhân thực sự đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất nước Công đoàn phải tuyên truyền giáo dục người lao động chống tiêu cực và tệ nạn xã hội, xây dựng phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật và tính sáng tạo cho người lao động
Công đoàn góp phần củng cố liên minh công - nông và trí thức xây dựng khối đoàn kết toàn dân Đây là cơ sở xã hội vững chắc, tăng cường sức mạnh của nhà nước
Trang 17Trong lĩnh vực văn hoá tư tưởng: Nền kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm, tích
cực song nền kinh tế này còn là “mảnh đất” làm nảy sinh những tiêu cực xã hội Hơn lúc nào hết, công đoàn cần phát huy vai trò của mình trong việc giáo dục công nhân, viên chức, người lao động nâng cao lập trường giai cấp, phát huy những giá trị cao đẹp, truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại Đó là yếu tố quan trọng làm cho vai trò của công đoàn ngày càng mở rộng phát triển Ngày nay, tổ chức công đoàn đang, đã và sẽ thu hút được đông đảo lực lượng người lao động Công đoàn còn có vai trò thúc đẩy người lao động tích cực sáng tạo để trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế đất nước
1.3 Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn 1.3.1 Chức năng của tổ chức Công đoàn
Chức năng của tổ chức công đoàn được xác định bởi tính chất, vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn Cụ thể là các chức năng cơ bản sau đây:
Chức năng đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích của công nhân, người lao động: Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ chủ - thợ ngày càng phức tạp, tình trạng
bóc lột người lao động diễn ra hàng ngày và có xu hướng phát triển Vì vậy, chức năng bảo vệ lợi ích người lao động có ý nghĩa hết sức quan trọng
Để thực hiện chức năng này, công đoàn tham gia cùng chính quyền tìm việc làm và tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho người lao động Bên cạnh đó, công đoàn tham gia ý kiến trong việc xây dựng thang lương, bảng lương ở các doanh nghiệp, tư vấn và bảo vệ người lao động trong quá trình ký kết hợp đồng lao động, ký thoả ước lao động tập thể, giải quyết tranh chấp lao động và tổ chức đình công Công đoàn còn tham gia trong việc quản lý và sử dụng quỹ phúc lợi tập thể, bảo vệ quyền hưởng bảo hiểm xã hội của người lao động Trên cơ sở đó, công đoàn đã góp phần phát huy dân chủ, công bằng xã hội, đặc biệt là bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động
Chức năng đại diện cho người lao động tham gia quản lý kinh tế và xã hội, quản lý nhà nước: Trong phạm vi chức năng của mình, công đoàn thực hiện quyền
kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Thực hiện chức năng quản lý không có nghĩa là công đoàn làm cản trở công việc của nhà nước Công đoàn thamgia quản lý chính là bảo vệ lợi ích
Trang 18trước mắt và lợi ích lâu dài của người lao động, của doanh nghiệp, của nhà nước một
cách căn bản, hiệu quả phát huy vai trò ‘‘trường học quản lý’’ của công đoàn
Để thực hiện tốt chức năng quản lý công đoàn cần đẩy mạnh nội dung hoạt động cụ thể:
Tổ chức phong trào thi đua lao động giỏi trong người lao động
Vận động tổ chức người lao động tham gia xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhiệm vụ công tác, tham gia quản lý lao động, tìm việc làm và tạo điều kiện cho người lao động làm việc
Công đoàn phải tham gia trong lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, xây dựng các chính sách liên quan đến người lao động
Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế phát triển theo xu thế hội nhập, khi thực hiện chức năng quản lý, công đoàn cần chú trọng đến việc phát triển tiềm năng lao động, phát huy sáng kiến, cùng chủ doanh nghiệp tìm nguồn vốn, mở rộng thị trường sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho người lao động Kiểm tra, giám sát hoạt động của nhà nước chống nạn tham nhũng, quan liêu
Chức năng tổ chức giáo dục, vận động công nhân và người lao động: Một
trong những chức năng tiếp theo của công đoàn là tuyên truyền, giáo dục người lao động vững tin vào đường lối, chính sách của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, luôn luôn tỉnh táo, cảnh giác, đấu tranh với mọi khuynh hướng sai lầm
Nội dung chức năng giáo dục của công đoàn ngày nay càng được mở rộng, toàn diện hơn, nhất là giáo dục pháp luật, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục truyền thống đạo đức cho người lao động
Tóm lại, chức năng của Công đoàn là một hệ thống đồng bộ bao gồm nhiều chức năng khác nhau Trong đó, chức năng đại diện bảo vệ các quyền lợi ích hợp pháp của công nhân và người lao động là chức năng quan trọng nhất, thể hiện mục tiêu hoạt động của tổ chức Công đoàn; chức năng đại diện người lao động tham gia quản lý kinh tế xã hội, quản lý nhà nước mang có ý nghĩa như là một phương tiện để biến các chức năng của công đoàn thành hiện thực; chức năng tổ chức giáo dục, vận động công nhân, người lao động có vai trò hỗ trợ tích cực để công đoàn đạt được những mục tiêu đề ra
Trang 191.3.2 Nhiệm vụ của Công đoàn
Nhiệm vụ của công đoàn là toàn bộ mục tiêu mà công đoàn cần đạt tới, là những vấn đề đặt ra mà công đoàn cần giải quyết trong từng thời kỳ cụ thể Thực hiện nhiệm vụ công đoàn là đảm bảo cho việc thực hiện tốt chức năng của công đoàn trong một giai đoạn nhất định, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của giai đoạn đó Trong giai đoạn hiện nay, nhằm đảm bảo cho các chức năng của công đoàn được thực
hiện tốt góp phần xây dựng một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh”, Công đoàn
có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Đại diện cho người lao động tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng và thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, các chính sách, cơ chế quản lý kinh tế, các chủ trương chính sách liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của người lao động
- Tập hợp, giáo dục và tuyên truyền pháp luật để người lao động hiểu rõ quyền
và nghĩa vụ của mình, của các cơ quan tổ chức
- Tham gia các quan hệ trong nước và quốc tế nhằm xây dựng các mối quan hệ đối nội, đối ngoại rộng rãi, góp phần thực hiện đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, tạo điều kiện tốt cho môi trường lao động
Trong quá trình hoạt động để đạt kết quả cao, công đoàn cần có điều kiện nhất định như: quyền tự do công đoàn; có tư cách pháp nhân độc lập; được sự bảo trợ của nhà nước và các điều kiện khác Các điều kiện trên có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của công đoàn vì nó là những nhân tố quyết định hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ do tổ chức công đoàn đặt ra trong giai đoạn hiện nay
1.4 Cơ cấu tổ chức của Công đoàn Việt Nam
Cơ cấu tổ chức là vấn đề cơ bản nhất trong công tác tổ chức Cơ cấu tổ chức phản ánh sự phân công lao động trong một tổ chức, hoặc là sự phân bổ nhiệm vụ của
bộ máy tổ chức cho các cơ sở tổ chức trực thuộc Khi nhìn vào cơ cấu bộ máy tổ chức
đó có thể thấy được các nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức, trên cơ sở đó mà phân biệt tổ chức này với tổ chức khác
Cơ cấu tổ chức còn phản ánh mối quan hệ công tác giữa các bộ phận cấu thành, thông qua nghiên cứu cơ sở của hệ thống tổ chức Bảo đảm số nhân sự cần thiết trong
Trang 20các đơn vị cấu thành Cơ cấu tổ chức phải bảo đảm, tạo điều kiện cho việc luân chuyển và xử lý thông tin giữa các đơn vị trực thuộc
Theo điều lệ công đoàn Việt Nam,6
tổ chức công đoàn Việt Nam gồm 4 cấp cơ bản sau: 1) Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam7
(TLĐLĐVN); 2) Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương(gọi là liên đoàn lao động tỉnh, thành phố) và công đoàn ngành trung ương; 3) Công đoàn cấp trên cơ sở; 4) Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn Trong đó, mỗi cấp công đoàn có nhiệm vụ khác nhau
Đối tượng chỉ đạo trực tiếp của TLĐLĐVN là các liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, công đoàn ngành trung ương và cơ quan tổng liên đoàn lao động, các đơn vị trực thuộc TLĐLĐVN là cơ quan cao nhất quyết định phương hướng, chủ trương, nội dung, chương trình hoạt động của công đoàn nhằm thực hiện nghị quyết đại hội công đoàn toàn quốc và nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam, chỉ đạo công tác tổng kết thực hiện và nghiên cứu lý luận công đoàn
Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố có đối tượng chỉ đạo trực tiếp là các liên đoàn lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn đóng trên địa bàn không phân biệt cấp quản lý và thành phần kinh tế Chỉ đạo trực tiếp công đoàn tổng công ty (thuộc tỉnh); công đoàn khu công nghiệp, khu chế xuất, các công đoàn ngành địa phương, công đoàn cơ sở trung ương (những công đoàn cơ sở không có công đoàn ngành trung ương) Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố quyết định thành lập các công đoàn và nghiệp đoàn thuộc địa phương quản lý, thảo luận với công đoàn ngành trung ương trước khi quyết định thành lập hoặc giải thể các công đoàn ngành địa phương Chỉ đạo các cấp công đoàn ở địa phương tổ chức đại hội, quyết định công nhận ban chấp hành và uỷ ban kiểm tra công đoàn ngành địa phương, các công đoàn trực thuộc địa phương quản lý Hướng dẫn công tác phát triển đoàn viên, xây dựng công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn vững mạnh, công nhận và đề nghị TLĐLĐVN khen thưởng những công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn vững mạnh Ngoài ra, liên đoàn lao động tỉnh còn quản lý các cán bộ công đoàn chuyên trách liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành địa phương, liên đoàn lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, công đoàn cơ sở, thực hiện
6 Điều 8, điều lệ công đoàn Việt Nam 2008 (thông qua ngày 5 tháng 11 năm 2008)
7 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam kể từ trang này viết tắt là TLĐLĐVN
Trang 21quy hoạch kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ, thực hiện chế độ chính với cán bộ thuộc diện quản lý
Công đoàn ngành trung ương có đối tượng chỉ đạo là công đoàn tổng công ty, công đoàn trong các cơ quan bộ, công đoàn trong các ban của Đảng, đoàn thể trung ương và các công đoàn cơ sở trực thuộc Công đoàn ngành trung ương có trách nhiệm phối hợp với liên đoàn lao động tỉnh, thành phố chỉ đạo hướng dẫn công đoàn ngành, địa phương các nội dung thuộc ngành, nghề Đối tượng chỉ đạo, nhiệm vụ của công đoàn ngành trung ương được quy định cụ thể trong điều lệ của công đoàn Việt Nam
và trong các nghị quyết được ban hành ở các nhiệm kỳ đại hội công đoàn Việt Nam
Công đoàn cấp trên cơ sở bao gồm liên đoàn lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và các công đoàn tổng công ty, công đoàn ngành địa phương, công đoàn công ty, khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung chịu sự chỉ đạo trực tiếp (hoặc phối hợp) của liên đoàn lao động tỉnh, thành phố (trung ương) và công đoàn ngành trung ương Đối tượng chỉ đạo trực tiếp của công đoàn cấp này là các công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn đã được phân cấp quản lý theo điều lệ công đoàn Việt Nam
Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn có đối tượng chỉ đạo trực tiếp là các công đoàn bộ phận; tổ công đoàn Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn ra quyết định thành lập
và công nhận ban chấp hành công đoàn bộ phận và tổ công đoàn; chỉ đạo công đoàn
bộ phận và tổ công đoàn, thực hiện có hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng, phát triển đoàn viên, xây dựng công đoàn bộ phận tổ công đoàn và công đoàn cơ sở vững mạnh
Với một cơ cấu chặt chẽ thống nhất như vậy, công đoàn có điều kiện thuận lợi trong hoạt động chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động và đưa chính sách pháp luật vào đời sống, giúp cho đại bộ phận người lao động và người sử dụng lao động thực hiện tốt chính sách của nhà nước vì sự phát triển của doanh nghiệp và của
xã hội
1.5 Nguyên tắc hoạt động của tổ chức Công đoàn
Nguyên tắc hoạt động của công đoàn là những chuẩn mực để hướng dẫn nội dung, phương pháp, hình thức hoạt động của công đoàn Các nguyên tắc này bao gồm:
Trang 221.5.1 Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng Sản Việt Nam đối với hoạt động của tổ chức Công đoàn
Đảng cộng sản Việt Nam là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị xã hội của nước Cộng hòa xã hội Việt Nam Tất cả những thành viên hệ thống chính trị trong đó
có công đoàn đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Hoạt động của công đoàn Việt Nam dựa trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và góp phần thực hiện nhiệm vụ chính do Đảng đề ra trong mọi thời kỳ Ngay từ những ngày đầu thành lập, Công đoàn Việt Nam đã đặt hoạt động của mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Điều lệ công đoàn Việt Nam năm 2003 đã ghi
rõ: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, kể từ ngày thành lập đến nay,
công đoàn Việt Nam đã tổ chức, vận động công nhân, viên chức lao động đi đầu trong
sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của tổ quốc, vì hạnh phúc của người lao động”
Hoạt động công đoàn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng là một tất yếu khách quan
và đây cũng là nguyên tắc hoạt động ở mọi cấp công đoàn Nếu phủ nhận nguyên tắc này là phủ nhận công đoàn về bản chất cách mạng Nguyên tắc này còn đóng vai trò thúc đẩy hiệu quả của hoạt động công đoàn và làm cho tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh, có vị trí vững chắc trong hệ thống chính trị - xã hội
Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động tức là đảm bảo hoạt động công đoàn luôn theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, công tác tổ chức cán bộ của Đảng Đồng thời, công đoàn còn vận dụng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng vào chương trình hoạt động của mình và thường xuyên tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng thông qua việc thông báo tình hình và kết quả hoạt động
Các cấp công đoàn cần kiện toàn bộ máy tổ chức của mình, cơ cấu ban chấp hành công đoàn cần có người là đảng viên có uy tín, có năng lực công tác Cần có cán
bộ công đoàn là đảng viên ưu tú tham gia cấp uỷ Như vậy, tổ chức công đoàn mới nâng cao hiệu quả công tác và luôn đi đúng đường lối của Đảng, thực hiện tốt các chức năng của mình, đồng thời làm tốt vai trò là sợi dây nối liền Đảng với quần chúng
Trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế vận hành theo hướng mở rộng liên kết, hợp tác liên doanh với nước ngoài, tổ chức và hoạt động công đoàn ở các cơ sở liên doanh đã mang màu sắc mới Song, không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng, mà
Trang 23ngược lại cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo cuả Đảng đối với tổ chức công đoàn Tuy nhiên, trong khi vận dụng nguyên tắc này không nên máy móc mà cần có sự sáng tạo để đảm bảo sự thành công trong hoạt động công đoàn
1.5.2 Công đoàn phải giữ liên hệ mật thiết với quần chúng
Công đoàn là tổ chức quần chúng rộng lớn của công nhân viên chức và người lao động, ngược lại công nhân viên chức lao động là cơ sở xã hội của công đoàn Sức mạnh của công đoàn là mối liên hệ mật thiết với quần chúng để thu hút, tập hợp, thống nhất ý chí hành động Nếu rời xa quần chúng công đoàn sẽ không có môi trường hoạt động
Văn kiện đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X đã khẳng định: “Vai trò
và sức mạnh của các đoàn thể chính là ở khả năng tập hợp quần chúng, hiểu rõ tâm
tư và nguyện vọng của quần chúng, nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho quần chúng, khởi động tinh thần tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của quần chúng ”
Vì vậy, cán bộ công đoàn cần nhận thức đầy đủ về vai trò quyết định của quần chúng, tăng cường mối quan hệ với quần chúng, giành được niềm tin của quần chúng, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của họ để hướng hoạt động của công đoàn đáp ứng được yêu cầu càng mới, càng cao của nhiệm vụ công đoàn trong thời kỳ mới Cán bộ công đoàn cần hiểu quần chúng là chủ thể sáng tạo nên lịch sử, sức sáng tạo của quần chúng là vô tận, từ đó đặt niềm tin vào quần chúng Mối liên hệ mật thiết với quần chúng của công đoàn phải được cụ thể hoá bằng sự tiếp cận, đi lại thăm hỏi trong những dịp hiếu, hỉ,
lễ, tết, tổ chức các hoạt động quần chúng, chia sẻ lắng nghe ý kiến của quần chúng
đúng như lời dạy của Lênin: “Phải sống sâu vào đời sống công nhân, biết xác định
một cách chắc chắn, bất cứ vấn đề nào, trong lúc nào tâm trạng của quần chúng, nhu cầu, nguyện vọng, những ý nghĩ thực sự của họ Biết chiếm được lòng tin cậy vô bờ bến của quần chúng bằng một thái độ hữu ái đối với họ bằng cách quan tâm thoả đáng những nhu cầu của họ”. 8
1.5.3 Đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng
Tính tự nguyện của quần chúng trong hoạt động công đoàn thể hiện ở chỗ người đoàn viên tự nguyện gia nhập tổ chức công đoàn, tham gia hoạt động, thực hiện
8 V I Lê-nin tập 42, tr300 – Nhà xuất bản tiến Bộ Mát xcơ va 1977 – in theo bản dich của nhà xuất bản sự thật,
Trang 24các nhiệm vụ được giao trên cơ sở nhận thức được trách nhiệm và lợi ích công việc của mình
Đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng trong hoạt động công đoàn có nghĩa là không nên gò ép đoàn viên tham gia hoạt động Vấn đề này trở thành nguyên tắc hoạt động của công đoàn vì công đoàn là tổ chức do viên chức và người lao động tự nguyện tham gia và hoạt động vì lợi ích của chính họ Nếu phủ nhận nguyên tắc này
là phủ nhận vấn đề hết sức cơ bản thuộc về bản chất của tổ chức công đoàn Trong hoạt động công đoàn, tính tự nguyện của quần chúng là động lực thực sự để khơi dậy lòng nhiệt tình tham gia hoạt động của đoàn viên Để phát huy được tính tự nguyện của quần chúng, người cán bộ công đoàn cần có lòng tin thực sự ở mỗi người lao động Trước khi làm việc gì dù lớn hay nhỏ, cũng cần phải có sự giải thích hay giáo dục, thuyết phục làm cho mỗi đoàn viên hiểu ý nghĩa và trách nhiệm trong mỗi công việc mà họ có nghĩa vụ hoàn thành
Trong hoạt động công đoàn hiện nay, nguyên tắc này càng được đề cao Bởi lẽ,
xã hội càng phát triển thì trình độ nhận thức của người lao động ngày càng được nâng lên Một khi họ đã nhận thức được vấn đề thì họ sẽ tự nguyện, tự giác tham gia các hoạt động do công đoàn tổ chức Muốn vậy, những hoạt động của công đoàn phải có nội dung sát thực với những vấn đề mà quần chúng quan tâm, hình thức thể hiện phong phú và đa dạng, lôi cuốn quần chúng tham gia
Tuy nhiên, khi thực hiện nguyên tắc này người cán bộ công đoàn cần nhận thức rõ việc đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng không có nghĩa hoàn toàn chiều theo ý quần chúng Ý muốn của quần chúng chỉ phù hợp khi dựa trên quyền lợi của tập thể, cộng đồng, xã hội Vì thế, bên cạnh việc đảm bảo nguyên tắc này công đoàn cần gắn với việc nâng cao trình độ tư tưởng, văn hoá, nghiệp vụ cho đoàn viên và người lao động, đồng thời cần chống tư tưởng nóng vội, mệnh lệnh gò ép quần chúng trong hoạt động công đoàn
1.5.4 Nguyên tắc tập trung dân chủ
Trong hoạt động công đoàn, tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc
cơ bản của công đoàn Việt Nam đảm bảo sự thống nhất giữa ý chí và hành động chống lại sự “tập trung quan liêu” và “dân chủ vô tổ chức’’ Phủ nhận nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động sẽ phủ nhận về mặt bản chất cách mạng của tổ chức công
Trang 25đoàn Tập trung dân chủ là xây dựng chế độ làm chủ dựa trên sáng kiến của quần chúng, tạo mọi điều kiện thu hút quần chúng tham gia hoạt động Công đoàn Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện ở nội dung cơ bản sau:
- Cơ quan lãnh đạo của các cấp công đoàn đều do bầu cử lập ra
- Cơ quan lãnh đạo cao nhất của mỗi cấp công đoàn là đại hội công đoàn cấp
đó Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo là ban chấp hành do đại hội cấp đó bầu ra Trường hợp đặc biệt công đoàn cấp trên có quyền chỉ định ban chấp hành lâm thời nhiệm kỳ không quá 12 tháng Ban chấp hành công đoàn các cấp thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nghị quyết thông qua đa số
- Nghị quyết của công đoàn cấp trên phải được thi hành nghiêm chỉnh Thiểu
số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên
- Ban chấp hành công đoàn các cấp có trách nhiệm báo cáo về hoạt động của mình với đại hội công đoàn cùng cấp và với công đoàn cấp trên, thông báo kết quả hoạt động với công đoàn cấp dưới Công đoàn cơ sở định kỳ thông báo công việc với các công đoàn bộ phận, các tổ công đoàn trực thuộc
Như vậy, tập trung dân chủ trong hoạt động công đoàn là sự kết hợp đúng đắn giữa người cán bộ với đoàn viên công đoàn, giữa chủ trương và hành động Đảm bảo
sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, đồng thời phát huy tính tích cực sáng tạo của mỗi thành viên trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ mục tiêu của mình với mục tiêu xây dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh
Trang 26CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐỔI MỚI HOẠT
ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN
2.1 Thực trạng hoạt động của tổ chức Công đoàn Việt Nam 2.1.1 Những kết quả đạt được
Hoà chung với xu thế hội nhập của đất nước, trong những năm qua Công đoàn Việt Nam đã có nhiều đổi mới rõ rệt về tổ chức, nội dung, phương hướng hoạt động Dưới sự chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, nhiều phong trào thi đua đã mang lại hiệu quả thiết thực góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Công tác tuyên truyền, giáo dục được đẩy mạnh ở tất cả các cấp của tổ chức công đoàn Các hoạt động xã hội diễn ra sôi nổi, rộng khắp với nhiều hình thức phong phú, đa dạng thu hút được sự chú ý của người lao động
Trong công tác nghiên cứu tham gia góp ý, xây dựng các văn bản luật và dưới luật Trong những năm qua, TLĐLĐVN trên cơ sở ý kiến của đoàn viên ở các cấp công đoàn, đã nghiên cứu và tham gia góp ý xây dựng hàng loạt các dự án luật có liên quan đến lĩnh vực lao động – xã hội Gần đây nhất, công đoàn đã tham gia nhiều ý kiến trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động, trong quá trình xây dựng và ban hành Luật bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật dạy nghề, Luật đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật bình đẳng giới, Pháp lệnh dân chủ cơ sở Đồng thời, công đoàn cũng lấy ý kiến sửa đổi Luật công đoàn cho phù hợp với sự phát triển của đất nước
Công tác tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý của 10 trung tâm, 31 văn phòng
và 87 tổ tư vấn pháp luật của công đoàn các cấp đã góp phần đưa chính sách pháp luật của nhà nước vào đời sống người lao động, nâng cao sự hiểu biết và thực hiện tốt việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người lao động
Dưới sự chỉ đạo của công đoàn, việc thực hiện pháp luật ở khu vực doanh nghiệp nhà nước đã có nhiều chuyển biến tích cực Năm 2009 đã có 93% doanh nghiệp nhà nước mở hội nghị công nhân viên chức và 97% cơ quan mở hội nghị cán
bộ, công chức, tỷ lệ doanh nghiệp có thỏa ước lao động tập thể ở doanh nghiệp nhà nước là 96%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 26%, doanh nghiệp có vốn đầu tư
Trang 27nước ngoài là 46% Tỉ lệ người lao động có hợp đồng lao động ở doanh nghiệp nhà nước là 96,33% (64% hợp đồng lao động không xác định thời hạn), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 64,57% và các doanh nghiệp khác (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần) là 59,21%.9
Trong lĩnh vực giải quyết việc làm và học nghề, thông qua hoạt động của 10 trường dạy nghề và trung tâm giới thiệu việc làm của tổ chức công đoàn, trong thời gian qua công đoàn đã tư vấn việc làm cho hơn 51.000 người, giới thiệu việc làm cho 10.000 người, dạy nghề ngắn hạn và dài hạn cho gần 30.000 người
Các cấp, các ngành đã có nhiều nỗ lực đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động Theo thống kế, mỗi năm, cả nước đã tạo việc làm cho hơn một triệu lao động
Riêng năm 2010, cả nước đã có hơn 85 nghìn doanh nghiệp được thành lập mới, 75 nghìn lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài, góp phần giải quyết việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động.10
Thị trường lao động đã có bước phát triển tốt, nhiều trung tâm giới thiệu việc làm được hình thành Năm 2009, Trung tâm thông tin thị trường lao động cùng sự ra đời nhiều trang web về việc làm đã hình thành và đi vào hoạt động, tạo ra cầu nối quan trọng giúp người lao động có điều kiện thuận lợi tìm kiếm hoặc thay đổi việc làm phù hợp với năng lực của mình
Công đoàn còn đề nghị với Quốc Hội giảm tuổi nghỉ hưu cho những người lao động (phần lớn là lao động nữ) trong các ngành cao su, dệt may, chế biến thuỷ sản vì phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, bị mắc bệnh do tác động của nghề nghiệp
Công đoàn đã kiến nghị và được Chính phủ chấp nhận giải quyết vấn đề tiền lương tối thiểu trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), góp ý kiến cho chính phủ ban hành Nghị định 91/2010/NĐ-CP quy định chính sách đối với người lao động
Trang 28dôi dư khi sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu
Tiền lương, thu nhập của người lao động dần được tăng lên, phần nào bù đắp được mức sinh hoạt do giá cả tiêu dùng tăng lên và từng bước nâng cao đời sống một
bộ phận công nhân, lao động
Vấn đề nhà ở, nhà trẻ và các thiết chế văn hóa đối với công nhân, nhất là công nhân lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất đã được chú trọng hơn Tại một số tỉnh, thành phố, một số khu công nghiệp, khu chế xuất, nhiều doanh nghiệp đã bước đầu xây dựng nhà ở, nhà trẻ, nhà văn hóa công nhân Phong trào giữ gìn vệ sinh công nghiệp, duy trì sản xuất những mặt hàng thân thiện với môi trường được quan tâm; công tác an toàn vệ sinh lao động, an toàn vệ sinh công nghiệp, phòng cháy chữa cháy, tuần lễ quốc gia về an toàn vệ sinh lao động được đông đảo các ngành, người sử dụng lao động và người lao động hưởng ứng
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của đất nước, tổ chức Công đoàn Việt Nam ngày càng phát triển, đến hết tháng 12/2009 tổ chức Công đoàn Việt Nam
đã có hơn 6, 7 triệu đoàn viên và trên 410.000 cán bộ công đoàn các cấp Trong đó có 8.416 cán bộ công đoàn chuyên trách và trên 400.000 cán bộ công đoàn không chuyên trách.11 Hầu hết cán bộ công đoàn trưởng thành từ phong trào công nhân và hoạt động công đoàn, có trình độ chuyên môn và lý luận chính trị, có lập trường quan điểm chính trị vững vàng, nhiệt tình, tâm huyết gắn bó với tổ chức công đoàn, gần gũi với người lao động, có phẩm chất đạo đức tốt, luôn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn, đặc biệt sau khi có nghị quyết 03/NQ-TLĐ ngày 22/10/2004 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
về đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn, đã có nhiều chuyển biến Các cấp công đoàn đã quan tâm chú trọng đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng Tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ quản lý công tác đào tạo bước đầu được hình thành từ Tổng Liên đoàn đến các liên đoàn lao động cấp tỉnh, Công đoàn ngành trung ương Các cơ sở đào tạo của công đoàn được tăng cường đầu tư nâng cấp, kiện toàn và thành lập mới Nguồn kinh phí dành cho đào tạo bồi dưỡng ngày càng tăng, nội dung,
11 Văn kiện hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt nam (Khóa X) hợp ngày 20 và 21 tháng 01 năm 2010, tại Hà Nội
Trang 29chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng tiếp tục được đổi mới; Đội ngũ giảng viên kiêm chức được hình thành và thường xuyên được tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ Giáo trình, tài liệu phục vụ cho đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn được thường xuyên nghiên cứu biên soạn Hoạt động hợp tác quốc tế về đào tạo được đẩy mạnh đã tạo điều kiện cho cán bộ công đoàn Việt Nam tiếp cận với các thông tin và kinh nghiệm hoạt động công đoàn trên thế giới
Công tác tuyên truyền giáo dục cho người lao động được đẩy mạnh ở các cấp công đoàn với nhiều nội dung, hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhận thức của người lao động về các vấn đề xã hội như pháp luật về phòng chống ma tuý, tham nhũng Đồng thời, tổ chức và hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp đã cổ phần hoá, hoạt động về môi trường, an toàn vệ sinh lao động, tổng kết 10 năm phong trào
“Lao động giỏi, Lao động sáng tạo”, “Xanh - sạch - đẹp, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” … thu hút đông đảo công nhân, viên chức, lao
động tham gia
Đồng thời, TLĐLĐVN và Liên hiệp quốc tế các công đoàn tự do (ICFTU) phối hợp tổ chức thành công hội nghị mạng lưới lao động khu vực châu Á Thái Bình Dương lần thứ 12 trước thềm hội nghị thượng đỉnh APEC Hội nghị đã thu hút được
40 đại biểu từ các nước APEC đại diện cho trung tâm công đoàn toàn quốc các nền kinh tế APEC nhằm hướng tới một công đoàn APEC phát triển bền vững và đảm bảo các quyền của người lao động, khuyến khích các nhà lãnh đạo APEC thông qua các biện pháp cụ thể thúc đẩy sự tham gia của công đoàn trong APEC và thành lập diễn đàn APEC
Những kết quả trên đã chứng tỏ sự đổi mới của tổ chức công đoàn cũng như vai trò của công đoàn trong các lĩnh vực đời sống xã hội Công đoàn đã góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nâng cao vị thế trong xu thế hội nhập, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động
2.1.2 Những hạn chế trong hoạt động Công đoàn thể hiện trong một
số lĩnh vực cơ bản
Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận trên, hoạt động của công đoàn vẫn còn
nhiều tồn tại, yếu kém thể hiện trong các lĩnh vực cụ thể sau:
Trang 302.1.2.1 Hạn chế của công đoàn trong lĩnh vực học nghề và việc làm
Được học nghề và có việc làm là quyền của mỗi người đã được Nhà nước quy
định trong Luật Hiến pháp và được cụ thể hoá tại điều 5 Bộ luật lao động “Mọi người
đều có quyền làm việc, tự do chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo”
Nền kinh tế càng phát triển càng đòi hỏi cao về trình độ học vấn Cùng với đó, tình trạng thất nghiệp gia tăng cũng đặt ra yêu cầu về giải quyết việc làm Đây là một trong những vấn đề bức xúc của toàn xã hội cần được các ngành, các cấp công đoàn
quan tâm Theo quy định của điều 7 Luật Công đoàn “Công đoàn tham gia với các cơ
quan, đơn vị tri thức hữu quan giải quyết việc làm, nâng cao trình độ nghề nghiệp, văn hoá, khoa học kỹ thuật cho người lao động” Theo đó, công đoàn có quyền tham
gia ý kiến với tổ chức có liên quan hoặc có thể tự mình tổ chức tìm việc làm, dạy nghề nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động theo quy định chung của Nhà nước
Xu hướng học nghề theo kiểu “thừa thầy, thiếu thợ” đã làm cho thị trường lao động mất cân đối, tình trạng thiếu thợ tay nghề cao xảy ra ngày một nhiều Chương trình “hỗ trợ đào tạo nghề” của TLĐLĐVN phối hợp với các bộ ngành có liên quan đã đào tạo dạy nghề cho 177 nghìn người với số vốn 500 tỷ đồng đang được triển khai nhưng nhìn chung còn chậm chạp Số lượng đào tạo còn ít, lạc hậu chưa theo kịp với
sự phát triển kinh tế xã hội Năm 2011, trên địa bàn cả nước đã tuyển sinh dạy nghề được 1.860.000 người Trong đó: cao đẳng nghề, trung cấp nghề tuyển được 420.000 người, sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên tuyển được 1.440.000 người.12
Mặt khác, trình độ tay nghề của người lao động vẫn còn nhiều bất cập Đa số công nhân nước ta trình độ, tay nghề, kỹ thuật còn thấp Có 9,5% công nhân kỹ thuật; 7,3% công nhân có trình độ trung cấp; chỉ có 3,0% cao đẳng và 5,6% có trình độ đại học Những công nhân được đào tạo cơ bản từ cao đẳng, đại học hầu hết đều được giao đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong bộ máy quản lý các cấp, hoặc đảm nhận công việc kỹ thuật của doanh nghiệp Nếu tính chung số công nhân được đào tạo
12 Tổng cục Dạy nghề triển khai nhiệm vụ năm 2012 – Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,
nhiem-vu-nam-2012/language/vi-VN/Default.aspx)
Trang 31(http://www.molisa.gov.vn/others/faq/faqdetail/tabid/211/newsid/54255/seo/Tong-cuc-Day-nghe-trien-khai-nghề (cả ở các cơ sở và doanh nghiệp), thì tỷ lệ công nhân bậc cao rất ít, trong số 900 công nhân trả lời phiếu hỏi thì có tới 680 công nhân tay nghề từ bậc 1 đến bậc 3 (chiếm 88,4%); số công nhân có trình độ bậc 4 chiếm 8,4%; bậc 6, bậc 7 chỉ chiếm 3,2%.13
Chính việc đào tạo lệch lạc như trên đã khiến cho vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động trở thành “một gánh nặng” cho sự phát triển kỹ thuật của đất
nước
Sở dĩ có tình trạng mất cân đối giữa việc làm và học nghề xuất phát từ những quy định của Nhà nước Các quy định của pháp luật chỉ quy định chung chung nhiệm
vụ, quyền hạn của công đoàn trong lĩnh việc làm, học nghề mà không có một văn bản
cụ thể, một chương trình cho công đoàn trong từng cấp học, từng ngành nghề Nghị định 39/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18/04/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm chủ yếu giao cho Bộ lao động thương binh xã hội Trong khi đó, công đoàn với vai trò là tổ chức đại diện cho người lao động thì chỉ được quyền tham gia giải quyết việc làm tại các doanh nghiệp, đơn vị hữu quan mà không có vai trò trong việc tham gia hoạch định chính sách việc làm như Bộ lao động thương binh xã hội
Mặt khác, hoạt động của công đoàn trong các doanh nghiệp còn hạn chế Công đoàn cơ sở không có điều kiện, cũng như không có đủ khả năng đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động Công đoàn cơ sở cũng không có kinh phí để tổ chức dạy nghề cho người lao động, đoàn phí công đoàn quá ít ỏi, đơn vị sử dụng lao động không muốn tổ chức cho người lao động học nghề vì sợ tốn kém thời gian, tiền bạc, ảnh hưởng đến năng suất lao động, chủ sử dụng lao động sợ khi người lao động được nâng cao tay nghề sẽ chuyển sang đơn vị khác Cán bộ công đoàn không biết cách thuyết phục người sử dụng lao động tổ chức cho người lao động được nâng cao trình độ, tay nghề Mọi quyết định về việc làm, học nghề cho người lao động đều do chủ sử dụng lên phương án, quy định chi tiết.Ý kiến của công đoàn cũng chỉ mang tính hình thức Ở nhiều doanh nghiệp, cán bộ công đoàn còn không dám đề xuất ý kiến để giải quyết việc làm, bố trí việc làm cho người lao động vì sợ chủ doanh
13 Đề tài: “Giải pháp bảo đảm việc làm, cải thiện điều kiện làm việc của công nhân các khu công nghiệp ở Việt
Trang 32nghiệp bằng cách này hay cách khác phạt, cúp lương của chính mình hoặc những người lao động khác
Trang 332.1.2.2 Hạn chế của công đoàn trong việc ký kết và thực hiện thoả ước lao động tập thể
Theo điều 44 Bộ luật lao động 1994: “Thoả ước lao động tập thể là văn bản
thoả thuận giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động” Trong ký kết thoả ước lao động tập thể công đoàn có vai trò quan trọng đại
diện cho tập thể người lao động ký kết thoả ước lao động tập thể với giám đốc xí nghiệp thuộc các thành phần kỹ thuật, giám sát việc thực hiện thoả ước đó Việc ký kết thoả ước lao động tập thể chỉ được tiến hành khi có 50% số người của tập thể lao động trong doanh nghiệp tán thành nội dung thoả ước đã thương lượng
Trong những năm qua, công đoàn đã tham gia tích cực với vai trò đại diện cho tập thể người lao động ký kết thoả ước lao động Nhưng trong thực tế, tỷ lệ thoả ước tập thể được ký kết còn thấp Năm 2003, số lượng doanh nghiệp nhà nước ký thoả ước lao động đạt 84%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 26%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh khoảng 10% Năm 2004, tỷ lệ trung bình của thoả ước lao động tập thể vào khoảng 64% giữa các doanh nghiệp Năm 2006, số lượng doanh nghiệp Nhà nước ký thỏa ước lao động tập thể là 96%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 46%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 26%.Năm 2009, việc ký kết thoả ước lao động tập thể đã tăng song không đáng kể: tỷ lệ doanh nghiệp có thỏa ước lao động tập thể ở doanh nghiệp nhà nước là 96,33%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 46,57% và các doanh nghiệp khác (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hửu hạn, công ty cổ phần) là 59,21%.14
Trong khu vực kinh tế tập thể, tỷ lệ hợp tác xã tổ chức ký kết thỏa ước lao động tập thể còn thấp, chỉ có khoảng 13% các hợp tác xã ký kết thỏa ước lao động tập thể, chủ yếu là các hợp tác xã công nghiệp, thương mại và giao thông vận tải như hợp tác xã Song Long (Hà Nội), hợp tác xã vận tải Chiến Công (Thái Nguyên), hợp tác xã Rạch Gầm (Tiền Giang), Saigon Coop (TP.HCM) 15
Trang 34Tỷ lệ doanh nghiệp có thỏa ước lao động còn thấp nhất là các doanh nghiệp tư nhân Nội dung qui định trong bản thỏa ước lao động tập thể còn cứng nhắc, chất lượng các bản thỏa ước còn chưa cao do các nguyên nhân: công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, đặc biệt là các qui định của pháp luật về thỏa ước lao động còn yếu, người sử dụng lao động, tập thể lao động chưa nhận thức được đầy đủ về sự cần thiết
ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể Việc thành lập các tổ chức công đoàn khu vực kinh tế ngoài nhà nước còn chậm Năng lực và kỹ năng đàm phán, thương lượng của công đoàn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với năng lực của người sử dụng lao động, chưa thật sự đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của người lao động Vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ thể trung gian, trọng tài, tạo thể chế khuyến khích, thúc đẩy thỏa ước lao động tập thể còn hạn chế Điển hình là việc thực hiện trách nhiệm thẩm định nội dung thỏa ước tập thể còn nhiều khiếm khuyết Ngoài ra cơ chế giải quyết tranh chấp về thỏa ước phức tạp, thiếu khả thi trong thực tế
Vai trò của công đoàn cơ sở trong quá trình thương lượng, ký kết thoả ước lao động được thể hiện ở trong tất cả các giai đoạn bao gồm:
Chuẩn bị nội dung và dự thảo thoả ước tập thể; thu thập thông tin, tham khảo ý kiến của các cơ quan, tổ chức và các chuyên gia; cử đại diện có năng lực, trình độ, uy tín và có kỹ năng tham gia thương lượng thoả ước tập thể; chuẩn bị nội dung, hình thức và phương pháp lấy ý kiến tập thể lao động một cách hiệu quả, thiết thực, phù hợp; cử đại diện ký kết thoả ước tập thể; thường xuyên theo dõi, giám sát việc thực hiện thoả ước tập thể; kịp thời đề xuất sửa đổi, bổ sung thoả ước tập thể
Tuy nhiên trên thực tế, trong quá trình đàm phán, ký kết thoả ước tập thể, kỹ năng của cán bộ công đoàn còn hạn chế Cán bộ công đoàn cơ sở chưa hiểu biết chính sách pháp luật nhất là luật lao động Kỹ năng đàm phán, thương lượng của cán bộ công đoàn còn kém, chưa đáp ứng được nhu cầu đặt ra Trong quá trình chuẩn bị cho một cuộc thương lượng, phần đông cán bộ công đoàn cơ sở chưa biết cách thu thập và
xử lý thông tin, xác định mục tiêu, nội dung cần thoả thuận trong thoả ước, lúng túng trong việc lấy ý kiến tập thể lao động và thành lập ban đại diện lao động Nhiều cán
bộ công đoàn không biết cách tổ chức lấy ý kiến, thuyết phục tập thể người lao động nhất là những người còn phân vân, chưa có chính kiến Cán bộ công đoàn tại các doanh nghiệp “vừa thiếu, vừa yếu” nên sức thuyết phục của họ với chủ sử dụng lao động còn hạn chế Trước khi thương lượng rất ít trường hợp cán bộ công đoàn tìm