1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP DI CHÚC MIỆNG TRONG bộ LUẬT dân sự VIỆT NAM HIỆN HÀNH

70 998 21

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Luận văn phân tích những quy định của pháp luật về di chúc miệng, chỉ ra những vướng mắc, những vấn đề còn chưa phù hợp với đời sống xã hội của những quy định pháp luật về thừa kế theo

Trang 1

DI CHÚC MIỆNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

VIỆT NAM HIỆN HÀNH

MSSV: 5086008 Lớp: Tư pháp 2 – K34

Cần Thơ, tháng 04 - 2012

Trang 2

  

Trang 3

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI CHÚC MIỆNG 4

1.1 Vài nét về thừa kế và quyền thừa kế 4

1.1.1 Khái niệm về thừa kế 4

1.1.2 Khái niệm về quyền thừa kế 5

1.1.2.1 Quyền thừa kế về phương diện khách quan 6

1.1.2.2 Quyền thừa kế về phương diện chủ quan 6

1.2 Khái niệm di chúc và thừa kế theo di chúc 9

1.2.1 Khái niệm di chúc 9

1.2.2 Khái niệm thừa kế theo di chúc 11

1.3 Di chúc miệng và đặc điểm của di chúc miệng 12

1.3.1 Khái niệm về di chúc miệng 12

1.3.2 Đặc điểm của di chúc miệng 12

1.3.3 So sánh giữa di chúc miệng và di chúc bằng văn bản 13

1.3.3.1 Giống nhau 13

1.3.3.2 Khác nhau 14

1.4 Tiến trình phát triển của những quy định pháp luật về thừa kế theo di chúc nói chung và di chúc miệng nói riêng ở Việt Nam 17

1.4.1 Giai đoạn trước năm 1945 17

1.4.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước ngày có Pháp lệnh thừa kế năm 1990 18

1.4.3 Giai đoạn từ khi Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được ban hành đến trước ngày Bộ luật dân sự năm 1995 có hiệu lực thi hành (01-7-1996) 19

1.4.4 Giai đoạn từ khi Bộ luật dân sự năm 1995 được ban hành đến trước ngày Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực thi hành (01-01-2006) 20

1.4.5 Giai đoạn sau ngày Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực thi hành 20

Trang 5

2.1 Điều kiện trở thành người lập di chúc miệng 22

2.1.1 Người lập di chúc miệng có năng lực hành vi 22

2.1.2 Người lập di chúc miệng tự nguyện, minh mẫn 24

2.1.3 Người lập di chúc miệng phải rơi vào trường hợp đặc biệt 25

2.2 Quyền của người lập di chúc miệng 26

2.2.1 Chỉ định người thừa kế 26

2.2.2 Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế 26

2.2.3 Phân định di sản cho từng người thừa kế 26

2.2.4 Dành một phần di sản để di tặng 28

2.2.5 Dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng 30

2.2.6 Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản 32

2.2.7 Chỉ định người quản lý di sản 33

2.2.8 Chỉ định người phân chia di sản 34

2.3 Điều kiện trở thành người thừa kế theo di chúc miệng 34

2.3.1 Người thừa kế là cá nhân (còn sống) hoặc pháp nhân (còn tồn tại) 35

2.3.2 Người thừa kế không rơi vào trường hợp không được quyền hưởng di sản 35

2.3.3 Người thừa kế không từ chối nhận di sản 36

2.3.4 Người thừa kế không bị truất quyền hưởng di sản 37

2.4 Các điều kiện của di chúc miệng 37

2.4.1 Nội dung di chúc miệng không trái pháp luật, đạo đức xã hội 38

2.4.2 Hình thức của di chúc miệng hợp pháp 39

2.5 Hiệu lực của di chúc miệng 41

Trang 6

HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DI

CHÚC MIỆNG 48

3.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật 48

3.1.1 Vụ việc thứ nhất 48

3.1.2 Vụ việc thứ hai 52

3.2 Phương hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật Việt Nam về di chúc miệng 54

3.2.1 Thống nhất quy định của pháp luật về di chúc miệng 55

3.2.2 Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật về di chúc miệng 57

3.2.2.1 Người mang di chúc miệng đi công chứng, chứng thực 57

3.2.2.2 Về việc ghi chép lại nội dung di chúc miệng 58

3.2.3 Bổ sung quy định của pháp luật về thời gian đi công chứng, chứng thực di chúc miệng 59

KẾT LUẬN 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọngtrong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền củacông dân Chính vì vậy, thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được đốivới đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội Mỗi nhà nước dù có các xuthế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân và

được ghi nhận trong Hiến pháp

Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định có hai hình thức thừa kế là thừa kế theo dichúc và thừa kế theo pháp luật Hình thức chia thừa kế theo di chúc là hình thức chiathừa kế trong đó ý chí của người để lại di sản được Nhà nước tôn trọng và bảo vệthông qua các quy phạm pháp luật Trong đó di chúc miệng là một hình thức đặc biệtcủa di chúc, không phải ai cũng có thể lập được di chúc miệng Di chúc miệng chỉ

được lập trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt khi tính mạng của người lập di chúc bị đe

dọa mà không thể lập di chúc bằng văn bản Tuy nhiên, hiện nay việc lập di chúc để

định đoạt tài sản của một người thường được thể hiện dưới hình thức miệng (tuyên bốtrước gia đình, gia tộc), nhưng họ lại không nắm được các quy định của pháp luật về di

chúc miệng dẫn đến di chúc miệng không được lập một cách hợp pháp

Về thực tiễn, do sự phát triển mạnh mẽ từng ngày, từng giờ của đời sống kinh tế - xãhội của đất nước, nên pháp luật về thừa kế hiện hành nói chung và di chúc miệng nóiriêng vẫn chưa thể trù liệu hết những trường hợp, tình huống xảy ra trên thực tế Còn một

số quy định pháp luật về di chúc miệng chung chung, chưa chi tiết, chưa rõ ràng, lại chưa

có văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể Vì vậy, còn nhiều quan điểm trái ngược nhau, nên

khi áp dụng vào thực tế cũng như trong việc giải quyết những tranh chấp về thừa kếtheo di chúc miệng vẫn tồn tại không ít khó khăn, vướng mắc Hàng năm có hàngngàn vụ án kiện về thừa kế mà tòa án nhân dân các cấp phải giải quyết trong đó có các

vụ án về di chúc miệng nói riêng nhưng pháp luật về thừa kế và những quy định phápluật khác liên quan đến thừa kế chưa thật sự đồng bộ và thống nhất, vì thế nhiều vụ

Trang 8

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 2 SVTH: Huỳnh Bích Trân

quyền thừa kế của công dân, đôi khi còn gây bất ổn trong đời sống sinh hoạt của mỗi gia

đình, cộng đồng và xã hội

Xuất phát từ những lý do trên, người viết đã chọn vấn đề: "Di chúc miệng trong bộ

luật dân sự Việt Nam hiện hành" để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình Đây là

một đề tài có ý nghĩa quan trọng cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thựctiễn Với việc nghiên cứu đề tài, người viết muốn hoàn thiện hơn nữa những quy địnhpháp luật về di chúc miệng, nhằm mục đích nâng cao hơn nữa hiệu quả điều chỉnh củanhững quy định này trong Bộ luật dân sự

tồn tại, góp phần hoàn thiện hơn các quy định về di chúc miệng

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi các quy phạm pháp luậtViệt Nam về thừa kế theo di chúc nói chung và thừa kế theo di chúc miệng nói riêng

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, nội dung, bản chất quy định của pháp

luật về di chúc miệng Trong nội dung luận văn không đề cập và giải quyết vấn đềthừa kế theo di chúc miệng có yếu tố nước ngoài

4 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về pháp luật Đặc

biệt là các quan điểm của Đảng và Nhà nước về sở hữu tư nhân, về thừa kế trong thời

kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số phươngpháp khoa học chuyên ngành khác như: phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích,

phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp để giải quyết những vấn đề mà đề tài đãđặt ra

Trang 9

5 Kết quả nghiên cứu

+ Luận văn hệ thống hóa được những quy định pháp luật về di chúc miệng quy địnhtrong Bộ luật dân sự năm 2005

+ Luận văn phân tích những quy định của pháp luật về di chúc miệng, chỉ ra những

vướng mắc, những vấn đề còn chưa phù hợp với đời sống xã hội của những quy định

pháp luật về thừa kế theo di chúc miệng, qua đó người viết có những kiến nghị nhằmhoàn thiện một bước những quy định của pháp luật về di chúc miệng, giúp các nhà lậppháp bổ sung những quy định còn thiếu về di chúc miệng để đáp ứng kịp thời những

đòi hỏi của xã hội trong quan hệ thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc miệng nói

riêng trong Bộ luật dân sự năm 2005

+ Luận văn chỉ ra được những bất cập trong việc hiểu không thống nhất các quy

định pháp luật về di chúc miệng trong việc áp dụng pháp luật, đồng thời có những kiến

nghị để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành những văn bản hướng dẫn cầnthiết

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận

văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về di chúc miệng.

Chương 2: Di chúc miệng trong luật thực định.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và phương hướng hoàn thiện những quy

định của pháp luật Việt Nam về di chúc miệng

Trang 10

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 4 SVTH: Huỳnh Bích Trân

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI CHÚC MIỆNG 1.1 Vài nét về thừa kế và quyền thừa kế

1.1.1 Khái niệm về thừa kế

Thừa kế di sản theo quan hệ pháp luật dân sự chính là sự chuyển dịch tài sản vàquyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởngthừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặctheo pháp luật (đối với đất đai là thừa kế quyền sử dụng)

Thừa kế là một quan hệ xã hội có mầm mống và xuất hiện từ thời sơ khai của xã hội

loài người Ngay từ thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thủy, chế độ thị tộc, bộ

lạc đã hình thành và tài sản có được thuộc về chung của thị tộc, bộ lạc thì thừa kế cũng

đã manh nha hình thành theo tập tục Trong giai đoạn đầu của chế độ thị tộc, bộ lạc,

vai trò của người phụ nữ có tầm quan trọng đáng kể; địa vị chủ đạo của người phụ nữtrong thị tộc, bộ lạc chi phối mọi vấn đề về kinh tế, xã hội, hôn nhân Chế độ thị tộc,

bộ lạc theo mẫu hệ đã tạo ra tiền đề cho việc thừa kế tài sản của các con và những

người thân thuộc trong thị tộc, bộ lạc của người mẹ

Sự kế thừa tài sản trong thị tộc, bộ lạc theo chế độ mẫu hệ đã đặt nền móng ban đầucho sự hình thành và phản ánh tính tất yếu của việc thừa kế tài sản theo huyết thống.Theo tiến trình phát triển của xã hội, cùng với sự phân công lao động trong xã hội và

gia đình thì người đàn ông đã chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống xã hội và chế độ mẫu

hệ đã bị thay thế bằng chế độ phụ hệ Cũng từ căn cứ đó, các con trong gia đình cóquan hệ huyết thống với người cha, mang họ của cha theo chế độ phụ hệ và thừa kế tàisản của người cha được xác lập Như vậy, tương ứng với từng giai đoạn lịch sử pháttriển nhất định là sự phát triển của lực lượng sản xuất, của hình thức gia đình, của sự

thay đổi quan hệ sở hữu và theo đó việc thừa kế tài sản cũng thay đổi

Thừa kế là một thực tế xã hội được thể hiện ở sự chuyển dịch tài sản của người chết

cho người còn sống, nó gắn chặt với lợi ích của cá nhân, gia đình, cộng đồng dòng họ,

vì thế trong bất kỳ chế độ xã hội nào cũng có sự tác động của các quy tắc xã hội Quytắc đó được biểu hiện ở những yếu tố như phong tục, tập quán và cao hơn nữa là quyphạm pháp luật

Trang 11

Khi giai cấp xuất hiện thì có giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, đương nhiên đốikháng giai cấp trong xã hội là điều không thể tránh khỏi Những trật tự trong quan hệtài sản nói chung và trong quan hệ tài sản nói riêng được Nhà nước của chế độ tư hữuthiết lập trong giai đoạn này nhằm mục đích bảo vệ những lợi ích của giai cấp thốngtrị Thông qua những quy phạm pháp luật, Nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kế trongviệc xác định phạm vi chủ thể, nội dung, hình thức, điều kiện chuyển dịch tài sản thừa

kế và những vấn đề khác có liên quan đến việc thừa kế tài sản

Thừa kế là phạm trù pháp luật có tính khả biến Tính khả biến được thể hiện bằngcác quy phạm pháp luật mà các quy phạm này không những phụ thuộc vào mức độphát triển trong một chế độ xã hội nhất định, nghĩa là có quy định khác nhau trong việc

điều chỉnh mối quan hệ về thừa kế Thừa kế khi đó không những là phạm trù kinh tế,

phạm trù pháp luật mà còn mang tính lịch sử, bởi vì nó thể hiện rõ nét quá trình pháttriển kinh tế - xã hội của các chế độ xã hội khác nhau và của một chế độ xã hội theotừng giai đoạn phát triển nhất định

Với những phân tích trên đây, có thể xác định rằng, thừa kế tài sản là phạm trù phápluật phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung và lịch sử phát triển kinh tế - xã hộinói riêng, nó xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội có phânchia giai cấp dựa trên cơ sở tư hữu về tài sản (từ chế độ chiếm hữu nô lệ đến xã hộihiện đại ngày nay) được thể hiện ở sự chuyển dịch tài sản của người chết cho ngườicòn sống (bao gồm cá nhân, tổ chức) theo các nguyên tắc, trình tự và thủ tục do phápluật quy định

1.1.2 Khái niệm về quyền thừa kế

Quyền thừa kế được hiểu là một bộ phận của chế định thừa kế, do vậy nó chứa đựngnhững yếu tố, tính chất, đặc điểm của một chế định pháp luật Nếu chế định thừa kế

điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực thừa kế thì quyền thừa kế là chế định pháp

luật bảo hộ quyền của cá nhân đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của họ trong việcchuyển dịch tài sản để lại sau khi họ chết cho những người còn sống có quyền hưởngthừa kế theo hình thức nhất định (theo di chúc hoặc theo pháp luật) Chế định quyền

Trang 12

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 6 SVTH: Huỳnh Bích Trân

Căn cứ vào nội dung pháp luật thừa kế của nước ta từ năm 1945 đến nay, các nhà

khoa học luật đều cho rằng, quyền thừa kế được hiểu dưới hai phương diện sau:

1.1.2.1 Quyền thừa kế về phương diện khách quan

Quyền thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh trình tự, điều kiện,hình thức chuyển dịch tài sản, quyền tài sản (gồm cả quyền sử dụng đất) của một

người đã chết cho những người còn sống, đồng thời bảo vệ quyền của người để lại tài

sản và quyền của người hưởng thừa kế di sản

Mặc dù theo các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, pháp luật thừa kếcủa nước ta có những quy định khác nhau nhưng pháp luật thừa kế của nước ta từ năm

1945 đến nay đã phản ánh bản chất của Nhà nước dân chủ nhân dân (Nhà nước của

dân, do dân và vì dân) Các quy định pháp luật thừa kế của nước ta không những bảo

đảm quyền tự do cá nhân trong việc thể hiện ý chí của mình mà còn kết hợp hài hòa

với những truyền thống tốt đẹp trong nhân dân được thể hiện trong quan hệ gia đình,trong dòng tộc và quan niệm về đạo đức mang nội dung mới

Quyền thừa kế về phương diện khách quan còn được thể hiện ở việc pháp luật bảo

đảm cho công dân có quyền bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế, không phân

biệt giới tính già trẻ, có năng lực hành vi dân sự hay không có năng lực hành vi dân sự(nếu cùng hàng thừa kế thì đều được hưởng kỷ phần di sản ngang nhau)

1.1.2.2 Quyền thừa kế về phương diện chủ quan

Quyền thừa kế được hiểu là quyền dân sự cơ bản của mỗi công dân được pháp luậtbảo vệ Theo phương diện này thì mọi công dân đều có quyền như nhau trong việc đểlại tài sản của mình cho những người thừa kế và đều có quyền như nhau trong việcnhận di sản thừa kế do người khác để lại Tuy nhiên, quyền thừa kế của công dân dopháp luật quy định chỉ là khả năng khách quan để công dân thực hiện quyền để lại disản và hưởng di sản thừa kế phù hợp với những quy định của pháp luật Hay nói cáchkhác, pháp luật quy định về quyền thừa kế là mở ra một khả năng trong khuôn khổpháp luật để công dân thực hiện quyền dân sự của mình phù hợp với những chuẩn mực

do pháp luật cho phép Quyền thừa kế được bảo đảm khi một người được xác định cóquyền thừa kế hợp pháp hoặc theo di chúc hoặc theo pháp luật nhưng trên thực tế,quyền của người thừa kế hoặc không được thực hiện đầy đủ hoặc không thực hiện

Trang 13

được do di sản không còn đầy đủ hay hoàn toàn không còn để chia cho những người

thừa kế

Phân tích từ góc độ quyền để lại tài sản của công dân sau khi chết, nhận thấy phápluật của hầu hết các nước và của nước ta đều cho phép người có tài sản thực hiệnquyền này bằng hai phương thức hoặc họ lập di chúc hoặc không lập di chúc

Quyền định đoạt tài sản bằng di chúc của cá nhân được pháp luật ưu tiên bảo vệthực hiện Khi cá nhân thực hiện quyền thừa kế của mình bằng việc lập di chúc thìquyền định đoạt ý chí của người lập di chúc phải phù hợp với pháp luật và không trái

đạo đức xã hội

Theo quy định của pháp luật thừa kế ở nước ta từ 1945 đến nay, cá nhân có quyềnđịnh đoạt tài sản của mình bằng việc lập di chúc để lại tài sản cho những người thừa kế

theo ý chí của họ Ý chí của người định đoạt tài sản bằng di chúc được pháp luật bảo

hộ nhưng không phải được bảo hộ một cách tuyệt đối Bằng việc quy định và bảo vệquyền của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc (bao gồmcha, mẹ, vợ, chồng, các con vị thành niên của người để lại di sản và các con tuy đã

trưởng thành nhưng không có khả năng lao động), pháp luật nước ta đã thể hiện rõ bản

chất nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa, không thể chấp nhận việc người lập dichúc tự do định đoạt tài sản của họ mà truất quyền thừa kế của những người mà theo

quy định của pháp luật họ phải được người lập di chúc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡngtheo quy định của Luật hôn nhân và gia đình

Phân tích từ góc độ quyền của người hưởng di sản cũng thấy những đặc thù riêngcủa pháp luật thừa kế ở nước ta từ năm 1945 đến nay Quyền của người hưởng di sản

được bảo đảm khi “người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở

thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết”.1

Quyền thừa kế của công dân còn được pháp luật bảo vệ trong những trường hợpriêng biệt khác như thừa kế thế vị, thừa kế giữa con riêng với cha kế, mẹ kế… khi thỏa

Trang 14

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 8 SVTH: Huỳnh Bích Trân

Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật đều có quyền hưởng di sản và

quyền từ chối hưởng di sản Người thừa kế hưởng di sản là những người có quyền vànghĩa vụ liên quan đến di sản thừa kế và trong phạm vi giá trị di sản thừa kế Ngườithừa kế có quyền từ chối nhận di sản theo thời hạn, hình thức pháp luật đã quy định.2

Trước đây, theo quy định của Pháp lệnh thừa kế, người thừa kế không những có

quyền từ chối hưởng di sản mà còn có thể nhường quyền hưởng di sản cho người thừa

kế khác.3

Quy định của Pháp lệnh thừa kế về vấn đề này đã làm phức tạp hóa quan hệ thừa kế

và không tránh khỏi sự suy đoán chủ quan của cơ quan bảo vệ pháp luật khi giải quyếtcác vụ việc có liên quan Bộ luật dân sự đã loại bỏ quy định nhường kỷ phần di sảngiữa những người thừa kế với nhau

Quyền định đoạt của người thừa kế được pháp luật bảo hộ trong việc từ chối hưởng

di sản nếu việc từ chối đó không nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tàisản của người đó đối với người khác.4

Quyền thừa kế của công dân không những chịu sự hạn chế như đã phân tích ở trên

mà còn bị pháp luật loại trừ trong những trường hợp nhất định Pháp luật thừa kế Việt

Nam quy định những người thừa kế (kể cả thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp

luật) không được hưởng di sản do đã có hành vi trái pháp luật mà hành vi đó là nguyênnhân làm triệt tiêu quyền thừa kế Những người bị pháp luật tước quyền thừa kế chỉ

được thừa kế trong trường hợp người để lại di sản đã biết hành vi trái pháp luật củangười đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.5 Quyền thừa kế còn bị triệt tiêu

trong trường hợp những người có quyền thừa kế của nhau cùng chết vào một thờiđiểm

Tóm lại, quyền thừa kế của công dân được hiểu theo hai phương diện khách quan

và chủ quan là hai phương diện có tính thống nhất, phương diện này chi phối phươngdiện kia và có mối quan hệ hữu cơ với nhau Nếu thiếu một trong hai phương diện thìquyền thừa kế của công dân không thể bảo đảm thực hiện mà trong trường hợp cụ thểquyền thừa kế có thể bị xâm phạm Quyền thừa kế của công dân do pháp luật quy định

Trang 15

và chỉ có thể thực hiện được khi có sự kiện chết của cá nhân, có di sản thừa kế, những

người thừa kế có quyền hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật thể hiện ý chí nhận di

dân luật Trung Kỳ 1936, khái niệm chúc thư được sử dụng để bày tỏ ý chí là sau khi

chết thì của cải được sử dụng, phân chia ra làm sao: “Chúc thư là giấy tờ ghi ý định

sau cùng của người quá cố về việc sử dụng di sản” Sau cách mạng tháng Tám năm

1945 thuật ngữ di chúc được sử dụng trong nhiều văn bản pháp luật như Thông tư số81/TT-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao ngày 24 tháng 07 năm 1981 hướng dẫnxét xử các tranh chấp thừa kế, Pháp lệnh thừa kế năm 1990 Khái niệm di chúc chínhthức được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995 tại Điều 649 và hiện tại là Điều

646 trong Bộ luật dân sự năm 2005: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm

chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.6

Theo quy định này thì di chúc phải có các yếu tố sau:

- Đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải là của bất cứ chủ thể nào khác;

- Mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản là di sản của mình cho người khác;

- Chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết

Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, do đó di chúc phảituân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và các điều kiện cóhiệu lực của di chúc nói riêng Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sản của mìnhbằng di chúc, cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc.Hình thức của di chúc có thể là di chúc bằng văn bản hoặc di chúc miệng Người lập dichúc phải là người thành niên không bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà khôngthể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; những người chưa thành niên từ đủ

Trang 16

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 10 SVTH: Huỳnh Bích Trân

15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ

định hiệu lực của di chúc

- Di chúc được lập phải theo một hình thức nhất định Quyền định đoạt là một nộidung quan trọng của quyền sở hữu nói chung và của người lập di chúc nói riêng Tuy

nhiên, người có tài sản định đoạt bằng việc lập di chúc thì phải tuân theo hình thức và

trình tự pháp luật quy định thì di chúc mới hợp pháp

- Di chúc có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người lập dichúc chết) Do đặc điểm này nên di chúc hoàn toàn khác với hợp đồng dân sự Nếuthời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự là thời điểm giao kết thì thời điểm có hiệulực của di chúc là khi người lập di chúc chết Sự định đoạt trong di chúc là thể hiện ý

chí đơn phương của người có tài sản, vì vậy khi còn sống người lập di chúc vẫn còn

quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc đã lập

- Ý chí của người lập di chúc phải rõ ràng cụ thể:

• Người lập di chúc phải trình bày nội dung rõ ràng về câu chữ, số lượng tài sản,

loại tài sản, vị trí tài sản;

• Chỉ định rõ người hưởng di sản cần phải xác định rõ họ tên địa chỉ người đó

- Nội dung di chúc phải thể hiện ý chí của người lập di chúc:

• Phải do chính người lập di chúc xác định người hưởng di sản và phần di sản đượchưởng;

• Người lập di chúc phải tự tay viết di chúc nếu di chúc không có chứng thực, chứng

nhận (Trừ di chúc miệng);

7

Xem: Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005.

Trang 17

• Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể lập di chúc nhưng phải được sựđồng ý của người giám hộ;

• Người đại diện đồng ý trên nguyên tắc cho phép lập di chúc mà không có quyềnđiều khiển hành vi của người lập di chúc

1.2.2 Khái niệm thừa kế theo di chúc

Thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đấtcủa người đã chết cho người còn sống theo ý chí quyết định của người đó khi cònsống

Pháp luật dân sự quy định cá nhân có tài sản thuộc sở hữu của mình có quyền chiếmhữu, sử dụng và định đoạt, trong đó có quyền lập di chúc để lại tài sản của mình chobất kỳ cá nhân, tổ chức nào Sự tự do ý chí trong việc lập di chúc là một trong các yếu

tố quyết định hiệu lực pháp luật của di chúc Việc lập di chúc phải hoàn toàn tựnguyện trong việc định đoạt không bị bất cứ áp lực nào ảnh hưởng đến quyết định

trong di chúc Để đảm bảo yếu tố tự nguyện pháp luật quy định thừa kế theo di chúc

phải đảm bảo các điều kiện nhất định: Năng lực chủ thể của người lập di chúc, nộidung của di chúc phải phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội, hình thức di chúc phải

tuân theo quy định của pháp luật… Khi đảm bảo các điều kiện của pháp luật thì phát

sinh quan hệ thừa kế theo di chúc, trong trường hợp không đảm bảo các điều kiện dopháp luật quy định thì không được pháp luật thừa nhận

Thừa kế theo di chúc là việc để lại di sản và việc hưởng di sản theo ý chí của ngườichết được thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói của người đó trước khi chết Thừa

kế theo di chúc là một trong hai hình thức thừa kế nhằm bảo đảm cho cá nhân trướckhi chết định đoạt tài sản của mình theo ý muốn của người đó Nội dung cơ bản củathừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế (cá nhân, tổ chức) và phân định tài sản,quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa vụ tài sản

Tóm lại, thừa kế theo di chúc là sự chuyển dịch tài sản, quyền tài sản cho cá nhân,

cơ quan, tổ chức theo sự định đoạt của người đó bằng di chúc hợp pháp khi còn sống

Trang 18

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 12 SVTH: Huỳnh Bích Trân

1.3 Di chúc miệng và đặc điểm của di chúc miệng

1.3.1 Khái niệm về di chúc miệng

Thực tế, không phải lúc nào người lập di chúc cũng có đủ điều kiện để lập di chúcbằng văn bản nên pháp luật thừa kế có quy định cho người để lại di chúc có thể lập dichúc miệng nhưng chỉ trong trường hợp bất khả kháng mới lập di chúc miệng Đó làkhi tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà

không thể lập di chúc bằng văn bản “Trong trường hợp tính mạng một người bị cái

chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”.8

Theo qui định tại Bộ luật dân sự, di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người lập

di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làmchứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ

Và trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng

thì di chúc “ghi chép” lại này phải được công chứng hoặc chứng thực.

Tuy nhiên, nếu sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc cònsống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ Tức là xem nhưkhông hoặc chưa có di chúc Lúc này, nếu người có tài sản muốn cho tài sản của mình(sau khi chết) cho ai đó thì phải làm di chúc bằng văn bản

1.3.2 Đặc điểm của di chúc miệng

Di chúc miệng là một hình thức của di chúc nên di chúc miệng cũng mang những

đặc điểm của di chúc Ngoài ra, di chúc miệng còn mang đặc điểm sau:

- Di chúc miệng nhằm chuyển dịch tài sản sau khi chết: cần hiểu rằng cho đến khi

người lập di chúc miệng chết, người thụ hưởng di sản theo di chúc miệng không có bất

kỳ một quyền nào trên bất kỳ tài sản nào của người lập di chúc và rằng họ cũng khôngchắc được hưởng di sản về sau này Di chúc miệng chỉ ghi nhận cho họ một quyền nào

đó trong di sản của người lập di chúc, tức là một quyền đối với các tài sản mà người

sau này sẽ để lại, nếu có để lại Người thừa kế theo di chúc miệng không thể đòi hỏi sựbảo đảm quyền lợi gắn liền với tư cách đó và thậm chí cả việc bảo đảm cho sự duy trì

tư cách đó, vì di chúc miệng có thể không hợp pháp hoặc mặc nhiên bị huỷ bỏ khi sau

8

Xem: Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2005.

Trang 19

ba tháng kể từ ngày lập di chúc miệng mà người lập di chúc miệng vẫn còn sống minhmẫn, sáng suốt.

- Chủ thể lập di chúc miệng: không phải bất kỳ cá nhân đủ năng lực hành vi dân sựnào cũng được quyền lập di chúc miệng Pháp luật quy định việc lập di chúc miệng chỉdành cho những cá nhân rơi vào những trường hợp đặc biệt, đó là trường hợp tínhmạng bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập dichúc bằng văn bản

1.3.3 So sánh giữa di chúc miệng và di chúc bằng văn bản

1.3.3.1 Giống nhau

- Giá trị pháp lý: dù là di chúc bằng văn bản hay di chúc miệng thì giá trị pháp lý của

chúng đều như nhau

- Quyền của người lập di chúc

+ Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

+ Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

+ Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

+ Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

+ Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản

- Người làm chứng cho việc lập di chúc: Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập

di chúc, trừ những người sau đây:

+ Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

+ Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;

+ Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự

- Hiệu lực pháp luật: di chúc miệng và di chúc bằng văn bản đều có hiệu lực pháp luật

từ thời điểm mở thừa kế;

Trang 20

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 14 SVTH: Huỳnh Bích Trân

- Thời điểm và địa điểm mở thừa kế;9

+ Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp Toà

án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tạikhoản 2 Điều 81 của Bộ luật dân sự năm 2005

+ Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu khôngxác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc

phần lớn di sản

- Người thừa kế: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mởthừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước

khi người để lại di sản chết Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan,

tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

- Thời hiệu khởi kiện:

+ Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kếcủa mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mởthừa kế

+ Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của

người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế

1.3.3.2 Khác nhau

+ Di chúc bằng văn bản không

có người làm chứng;

+ Di chúc bằng văn bản có ngườilàm chứng;

+ Di chúc bằng văn bản có côngchứng;

9

Xem: Điều 633 Bộ luật dân sự năm 2005.

Trang 21

+ Di chúc bằng văn bản cóchứng thực.

- Chủ thể lập di

chúc

- Cá nhân là người đã thànhniên không bị bệnh tâm thầnhoặc mắc bệnh khác mà khôngthể nhận thức và làm chủ đượchành vi của mình nhưng rơi vào

trường hợp tính mạng bị cái

chết đe dọa do bệnh tật hoặc cácnguyên nhân khác mà không thểlập di chúc bằng văn bản

- Người từ đủ mười lăm tuổi

đến chưa đủ mười tám tuổikhông được lập di chúc miệng

- Cá nhân là người đã thành niênkhông bị bệnh tâm thần hoặcmắc bệnh khác mà không thểnhận thức và làm chủ được hành

vi của mình

- Người từ đủ mười lăm tuổi đến

chưa đủ mười tám tuổi có thể lập

di chúc bằng văn bản nhưng phải

được sự đồng ý của cha, mẹ hoặcngười giám hộ

- Điều kiện tồn

tại

- Nếu sau ba tháng, kể từ thời

điểm di chúc miệng mà người

di chúc còn sống, minh mẫn,sáng suốt thì di chúc miệng mặcnhiên bị huỷ bỏ

- Nếu không có sự thay thế hoặc

bị sửa đổi, bổ sung bởi di chúchợp pháp khác thì di chúc đó sẽ

có hiệu lực vào thời điểm ngườilập di chúc chết

Theo bảng so sánh trên thì không phải bất kỳ cá nhân nào đủ điều kiện theo quy

định của pháp luật về lập di chúc bằng văn bản đều có thể lập di chúc miệng Để lậpđược di chúc miệng chủ thể lập di chúc phải rơi vào trường hợp đặc biệt Trường hợpđặc biệt được pháp luật quy định là: Bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên

nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản Do vậy, nếu một người bị cái chết

đe dọa, nhưng họ vẫn có thể lập di chúc bằng văn bản, mà người đó lại lập di chúc

Trang 22

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 16 SVTH: Huỳnh Bích Trân

nhưng chưa đến mười tám tuổi lập di chúc bằng văn bản và phải được sự đồng ý của

cha, mẹ hoặc người giám hộ Bởi vì, họ là những người có năng lực hành vi dân sựmột phần, nghĩa là có khả năng nhận thức nhưng chưa đầy đủ, vì vậy phải có sự đồng

ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ nhằm ngăn chặn tình trạng lừa dối, cưỡng ép trongviệc lập di chúc làm ảnh hưởng đến sự tự nguyện của họ

Đối với di chúc bằng văn bản sau khi được người lập di chúc lập ra theo đúng quyđịnh của pháp luật thì nó sẽ tồn tại và có hiệu lực khi người lập di chúc chết (trừ khi có

một sự thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung bởi một di chúc hợp pháp khác)

Do là một hình thức di chúc đặc biệt, nên pháp luật quy định di chúc miệng với thủtục chặt chẽ Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng, nếu người di chúc miệngcòn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng bị hủy bỏ Như vậy, vấn đề thời gian,nhận thức của người di chúc miệng sau khi có di chúc miệng là vấn đề quan trọng,quyết định đến hiệu lực của di chúc Về mặt sinh học: nếu người di chúc miệng chỉsống được dưới ba tháng kể từ thời điểm di chúc miệng, thì di chúc miệng có giá trị(nếu đã thỏa mãn các điều kiện khác của pháp luật) Sau ba tháng kể từ thời điểm dichúc miệng mà người di chúc miệng còn sống thì hiệu lực của di chúc miệng phụthuộc vào khả năng nhận thức của người di chúc miệng, cụ thể có các khả năng sau cóthể xảy ra:

- Nếu người di chúc miệng còn minh mẫn, nhưng không sáng suốt thì di chúc miệngkhông mặc nhiên bị hủy bỏ

- Nếu người di chúc miệng còn minh mẫn và sáng suốt thì di chúc miệng bị hủy bỏ

- Nếu người di chúc miệng sáng suốt nhưng không minh mẫn thì di chúc miệngcũng không mặc nhiên bị hủy bỏ.10

Tóm lại, tuy di chúc miệng và di chúc bằng văn bản là hai hình thức của di chúc

nhưng chúng vẫn có những điểm khác nhau cơ bản

10

Nguyễn Hồng Nam: Di chúc miệng theo quy định của Bộ luật dân sự, Tạp chí tòa án nhân dân, số 22, 2005,

tr 31.

Trang 23

1.4 Tiến trình phát triển của những quy định pháp luật về thừa kế theo di chúc nói chung và di chúc miệng nói riêng ở Việt Nam

Thừa kế theo di chúc nói chung và di chúc miệng nói riêng là một loại quan hệ phápluật Do đó, các quy định pháp luật về thừa kế theo di chúc ở mỗi nhà nước, mỗi chế

độ xã hội khác nhau có nội dung khác nhau phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị

và điều kiện kinh tế - xã hội

Theo tiến trình phát triển của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ có thể chia quátrình phát triển của pháp luật về thừa kế theo di chúc nói chung và di chúc miệng nói

riêng theo các giai đoạn sau đây:

1.4.1 Giai đoạn trước năm 1945

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong

kiến Hệ thống pháp luật trong giai đoạn này chỉ là công cụ của thực dân Pháp nhằmthực hiện triệt để chính sách khai thác thuộc địa Bản chất của chế độ nô dịch thuộc địa

được bộc lộ công khai không những trong những chính sách cai trị của thực dân Pháp

mà cả trong các quy phạm pháp luật Mặc dù hệ thống pháp luật của Cộng hòa Phápthời kỳ đó được xem là hệ thống pháp luật tiến bộ, dân chủ nhưng với bản chất của chủnghĩa thực dân, Pháp đã tận dụng những hủ tục phong kiến lạc hậu của xã hội phongkiến nước ta thời kỳ đó để xây dựng hệ thống pháp luật làm công cụ của kẻ xâm lượctại thuộc địa, do đó pháp luật dân sự ở Việt Nam ra đời trong giai đoạn này cũng chứa

đựng bản chất thực dân – phong kiến khá rõ nét; đặc biệt trong Bộ dân luật giản yếu

1883, Dân luật Bắc kỳ năm 1931, Dân luật Trung kỳ năm 1936 Tư tưởng trọng nam,khinh nữ của ý thức hệ phong kiến vẫn được giai cấp thống trị quy định duy trì trongquan hệ xã hội, trong quan hệ gia đình và cả trong các điều khoản pháp luật Tronglĩnh vực thừa kế di sản, quyền bình đẳng về thừa kế không được bảo đảm, quyền thừa

kế của người vợ bị hạn chế Người vợ không có quyền lập di chúc để định đoạt tài sảncủa riêng mình nếu không được chồng cho phép Khi người vợ chết trước, ngườichồng được thừa nhận là chủ sở hữu duy nhất đối với toàn bộ tài sản riêng của vợ.11

Ngược lại nếu người chồng chết trước, theo quy định tại Điều 346 Bộ dân luật Bắc kỳ

Trang 24

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 18 SVTH: Huỳnh Bích Trân

tài sản riêng của bản thân Gia đình và dòng họ vẫn là cơ sở chính để xác định vấn đềthừa kế, còn quan hệ hôn nhân chỉ được coi là thứ yếu.12

1.4.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước ngày có Pháp lệnh thừa kế năm 1990

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, do điều kiện lúc bấy giờ Nhà nước Việt NamDân chủ Cộng hòa chưa ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh về thừa kế nên vềnguyên tắc vẫn áp dụng các văn bản pháp luật trước đó như Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931,

Bộ dân luật Trung Kỳ 1936, Bộ dân luật Giản Yếu 1883 nhưng không được trái vớichính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Từ năm 1957 theo chỉ thị số 72/TANDTC ngày 10/07/1957 của Tòa án nhân dân tốicao thì pháp luật của chế độ cũ không được dùng làm cơ sở cho hoạt động xét xử củacác Tòa án nhân dân nữa nên việc giải quyết quan hệ thừa kế chủ yếu dựa vào các vănbản pháp luật: Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/05/1950 sửa đổi một số quy lệ và chế địnhtrong dân luật do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959,Quyết định số 115/QĐ ngày 08/03/1965 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Các vănbản pháp luật trên có một số quy phạm điều chỉnh quan hệ thừa kế nhưng chủ yếu làthừa kế theo pháp luật, còn thừa kế theo di chúc chưa được quy định rõ ràng

Hiến pháp năm 1980 khẳng định nguyên tắc thừa kế tư nhân tại Điều 27 “Pháp luật

bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân” Trên cơ sở Hiến pháp, Tòa án nhân dân

tối cao đã ban hành Thông tư số 81/TT-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao ngày

24 tháng 07 năm 1981 hướng dẫn xét xử các tranh chấp thừa kế (gọi tắt là Thông tư số

81) Trong thông tư đã có các hướng dẫn về thừa kế theo di chúc trên cơ sở tôn trọngquyền tự do ý chí của công dân, gắn với các bổn phận đạo đức là dành kỷ phần nhất

định cho những người thừa kế bắt buộc (cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên)

Trong thông tư số 81 cũng quy định về hình thức của di chúc: “Di chúc có thể là chúc

thư viết hoặc di chúc miệng” Đối với di chúc miệng để đảm bảo điều kiện có giá trị

thì phải có người làm chứng: “Nếu là di chúc miệng thì phải có người làm chứng bảo

đảm” Tuy chỉ là văn bản hướng dẫn đường lối giải quyết những tranh chấp về quyền

thừa kế nhưng nội dung của Thông tư số 81 đã bao quát tương đối đầy đủ và toàn diệncác vấn đề về thừa kế so với các văn bản trước đó Thông tư số 81 là văn bản tương

12

Xem: Điều 360 Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931; Điều 359 Bộ dân luật Trung Kỳ 1936 (Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ

luật).

Trang 25

đối hoàn chỉnh về các quy phạm liên quan đến quyền thừa kế của công dân trước khi

có Pháp lệnh thừa kế năm 1990, đánh dấu một bước trưởng thành và đáp ứng được yêucầu của thời kỳ lịch sử

1.4.3 Giai đoạn từ khi Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được ban hành đến trước

ngày Bộ luật dân sự năm 1995 có hiệu lực thi hành (01-7-1996)

Trong giai đoạn từ 1990-1996, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta,

quyền dân sự cũng được củng cố và phát triển phù hợp Pháp lệnh thừa kế ngày

30-8-1990 được ban hành là văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao đầu tiên quy địnhkhá đầy đủ về thừa kế ở nước ta kể từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi Bộ

luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 ra đời Pháp lệnhthừa kế được ban hành trên cơ sở thừa nhận giá trị của một số quy định trong Thông tư

số 81, đồng thời khái quát hóa và chi tiết hơn trong việc điều chỉnh các vấn đề thừa kếnói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng

Pháp lệnh thừa kế được ban hành là sự kiện quan trọng nhằm hoàn thiện hệ thốngpháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng Sự đa dạng hóa cácthành phần kinh tế và các hình thức sở hữu do nhu cầu khách quan cùng với việc thựchiện đường lối đổi mới đã tác động tích cực đến tất cả các quan hệ xã hội, trong đó cóquan hệ thừa kế Pháp lệnh thừa kế được ban hành như một tất yếu, nó đã đáp ứng

được nhu cầu của các quan hệ tài sản trong xã hội những năm đầu thập kỷ 90 của thế

kỷ XX Di chúc miệng được quy định tại Điều 18 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 “Trong

trường hợp tính mạng bị đe doạ nghiêm trọng mà không thể lập di chúc viết được thì

có thể lập di chúc miệng”.

Để phù hợp với sự đổi mới mọi mặt của đất nước và đáp ứng nhu cầu phát triển của

toàn xã hội, Hiến pháp năm 1992 đã được ban hành Chế độ sở hữu đã được Hiến pháp

năm 1992 quy định tương ứng với các thành phần kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể,

kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế gia đình Theo quy định tại Điều 58Hiến pháp năm 1992, công dân không những có quyền sở hữu về tư liệu tiêu dùng màcòn có quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc

Trang 26

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 20 SVTH: Huỳnh Bích Trân

1.4.4 Giai đoạn từ khi Bộ luật dân sự năm 1995 được ban hành đến trước ngày

Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực thi hành (01-01-2006)

Quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế của công dân được cụ thể hóa trong Bộ luậtdân sự của Nhà nước ta, thêm một bước khẳng định quyền thừa kế tài sản của côngdân Việt Nam luôn được pháp luật bảo hộ và không ngừng được sửa đổi, bổ sung phùhợp với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta qua từng giai đoạn của lịch sử.Những nguyên tắc về thừa kế di sản và những quy định về quyền thừa kế của công dântrong suốt hơn 50 năm qua đã được pháp điển hóa một cách cụ thể trong Bộ luật dân

sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 Bộ luật dân sự của nước

ta đã ban hành và có hiệu lực từ ngày 1-7-1996 Thừa kế theo di chúc được quy địnhtrong 28 điều từ Điều 649 đến Điều 676 Quy định của pháp luật về di chúc miệngđược quy định tại Điều 654 Bộ luật dân sự năm 1995

Với tinh thần kế thừa và phát triển pháp luật thừa kế ở Việt Nam từ 1945 đến nay,quyền thừa kế theo di chúc của công dân Việt Nam được quy định trong Bộ luật dân

sự là bước phát triển và hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam Chế định thừa kếtrong Bộ luật dân sự đã củng cố quyền sở hữu và quyền thừa kế tài sản của công dânphù hợp với công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo

1.4.5 Giai đoạn sau ngày Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực thi hành

So với Bộ luật Dân sự năm 1995, các qui định về thừa kế trong Bộ luật dân sự năm

2005 về cơ cấu, bố cục của các chương mục và số lượng các điều luật không có sự

thay đổi lớn, ngoài việc tăng thêm một điều luật mới (Điều 687 về phân chia di sảntrong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa

kế) Về nội dung đã có nhiều thay đổi, bổ sung trong một số điều luật Sự thay đổi, bổ

sung này làm cho điều luật trở nên tinh gọn, rõ ràng, đảm bảo tính thống nhất, thể hiện

tư tưởng tiến bộ, phù hợp với thực tiễn

* Đối với quy định về di chúc miệng đã có những sửa đổi và bổ sung như sau:

+ Khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2005 bỏ đoạn cuối trong khoản 1 của Điều

654 và nội dung này được chuyển thành khoản 5 của Điều 652 Bộ luật dân sự năm

2005 Sự sửa đổi này không làm thay đổi nội dung mà chỉ có tác dụng làm cho điềuluật tinh gọn

Trang 27

+ Khoản 2 của Điều 651 bổ sung thêm hai từ “mặc nhiên”, làm cho Điều luật trở

nên rõ nghĩa hơn Theo Luật cũ, di chúc miệng cũng được coi là bị hủy bỏ sau batháng kể từ ngày lập mà người di chúc vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn, sáng suốt,

nhưng không quy định thủ tục để hủy bỏ và ai có quyền tuyên bố hủy bỏ di chúc

miệng Bổ sung thêm hai từ “mặc nhiên” nhằm xác định rõ phạm vi áp dụng của Điều

luật, tránh làm cho Điều luật được hiểu theo nhiều nghĩa và áp dụng không thống nhất

* Bổ sung qui định về điều kiện để công nhận di chúc miệng hợp pháp

Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005 có một bổ sung rất quan trọng: “Trong thời hạn

năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực” Theo đó, nhà làm luật đã qui định thêm về thời hạn xác định và thủ tục để lập bản ghi chép nội dung di chúc miệng.

Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 thừa nhận giá trị của di chúc miệng nhưng không quy

định thủ tục ghi chép lại di chúc miệng Khi tranh tụng tại tòa án, hầu hết các di chúc

miệng đều bị tòa án bác bỏ vì không có cơ sở để tin cậy nếu chỉ dựa vào lời khai đơn

phương của một bên nhân chứng hoặc khi các nhân chứng có lời khai mâu thuẫn Khắc

phục bất cập này, Bộ luật dân sự năm 1995 qui định về thủ tục lập nội dung di chúc

miệng là: những người làm chứng “phải ghi chép lại bằng văn bản ngay sau đó”.

Nhưng “ngay sau đó” là bao lâu thì không thể xác định được, nên thực tế có nhiều

người làm chứng đã để rất lâu sau mới chịu lập văn bản ghi nội dung di chúc miệng.Điều này đã gây ra khó khăn cho tòa án trong việc thẩm định giá trị của di chúc miệng

và muốn bác bỏ nó thì cũng thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng

Luật mới xác định chính xác khoảng thời gian mà người làm chứng phải viết lại nội

dung di chúc miệng là “năm ngày, sau khi người di chúc miệng thể ý chí sau cùng”.

Với thủ tục chặt chẽ này, việc lập di chúc miệng sẽ bảo đảm độ chính xác và tin cậy

cao hơn, ngăn ngừa sự thể hiện ý chí chủ quan của người làm chứng, tăng cường trách

nhiệm của người làm chứng di chúc Qui định này cũng thể hiện quyết tâm của nhà lậppháp nhằm loại bỏ khả năng người làm chứng có thể tự ý sửa chữa, viết lại nhiều lần

hay đánh tráo văn bản ghi nội dung di chúc miệng

Trang 28

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 22 SVTH: Huỳnh Bích Trân

Chương 2

DI CHÚC MIỆNG TRONG LUẬT THỰC ĐỊNH

2.1 Điều kiện trở thành người lập di chúc miệng

Người lập di chúc miệng là người thông qua di chúc miệng định đoạt tài sản của

mình cho người khác sau khi chết Người lập di chúc miệng là người có đầy đủ các

điều kiện lập di chúc miệng theo quy định của pháp luật

2.1.1 Người lập di chúc miệng có năng lực hành vi

Người lập di chúc miệng là cá nhân mà thông qua việc lập di chúc miệng để địnhđoạt tài sản của mình cho những người khác sau khi chết với ý chí hoàn toàn tự

nguyện Vì vậy, năng lực hành vi của người lập di chúc miệng phải đảm bảo điều kiện

sau: Người lập di chúc miệng phải là người đã thành niên không mắc bệnh tâm thần

hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.13Pháp luật nước ta công nhận người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên Vì vậy,không phân biệt nam, nữ, tôn giáo, thành phần Người từ đủ 18 tuổi có năng lực hành

vi dân sự đều có quyền lập di chúc miệng để định đoạt tài sản của mình cho ngườithừa kế

Quy định tại Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 đã làm sáng tỏ một số điều kiện và

cũng là căn cứ để xác định chủ thể lập di chúc nói chung và chủ thể lập di chúc miệngnói riêng Nhìn chung, chủ thể lập di chúc là người định đoạt tài sản của mình thôngqua hành vi pháp lý đơn phương của họ Vì vậy điều kiện về độ tuổi và năng lực trí tuệcủa cá nhân người lập di chúc là điều kiện tiên quyết trong việc xác định di chúc có giátrị pháp lý hay không có giá trị pháp lý Một di chúc hợp pháp phải thỏa mãn khôngnhững các điều kiện tại điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005, mà còn phải thỏa mãn các

điều kiện của giao dịch dân sự được quy định tại điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005

Tuy vậy, có quan điểm cho rằng Điều 647 Bộ luật dân sự quy định về người lập dichúc vẫn còn tồn tại những bất cập, đã gây nhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu vànhững người làm công tác xét xử, do những quy định chưa rõ ràng và chưa thật toàndiện tại điều luật nói trên

13

Xem: Khoản 1 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005.

Trang 29

Người đưa ra quan điểm trên cho rằng nội dung khoản 1 Điều 647 Bộ luật dân sựnăm 2005 còn chưa bao quát và chưa có được sự thống nhất với những điều kiện của

chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự nói chung và chủ thể trong quan hệ giao dịch

dân sự nói riêng Tại khoản 1 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người

thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình”.

Theo quy định của pháp luật thì người đã thành niên có quyền lập di chúc (trừ

những người không có năng lực hành vi dân sự), nhưng pháp luật lại không quy định

rõ người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Bộ luậtdân sự, khi lập di chúc có phải hỏi ý kiến và phải được sự đồng ý của người đại diệntheo pháp luật của người đó hay không Khoản 1 Điều 23 Bộ luật dân sự năm 2005

quy định: “Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài

sản của gia đình thì theo yêu cầu của những người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự” Và tại khoản 2 điều luật này còn có quy định: “Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày”.

Vậy nếu xét theo quy định tại Điều 23 Bộ luật dân sự, thì tuy rằng một người có đầy

đủ năng lực hành vi dân sự, nhưng đã bị hạn chế theo một bản án có hiệu lực pháp

luật, thì khi người đó xác lập giao dịch dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện

Như vậy người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo một bản án có hiệu lực, khi lập

di chúc miệng mà không có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật (Khoản 3

Điều 141 Bộ luật dân sự năm 2005), thì di chúc miệng do người đó lập ra có hiệu lực

Trang 30

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 24 SVTH: Huỳnh Bích Trân

những người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn có thể hoàn toàn tự chủ trong việc

để lại di chúc mà không cần sự đồng ý của người đại diện

Tóm lại, nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 647 Bộ luật dân sự, thì những người bịhạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Bộ luật dân sự, vẫn

có quyền lập di chúc miệng với tư cách của người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.Pháp luật còn quy định người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi (người có năng lực

hành vi một phần) có thể lập di chúc nhưng với điều kiện “lập thành văn bản và phải

được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”.14 Sự đồng ý ở đây là sự đồng ý cho họ lập

di chúc Còn về phần nội dung di chúc, họ được toàn quyền quyết định Điều đó cónghĩa là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được lập di chúc miệng Bởi

vì, khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của họ còn chưa hoàn thiện, chưa đầy đủ

Mà khi rơi vào trường hợp đặc biệt (tính mạng bị cái chết đe dọa) thì khả năng nhận

thức càng không được đảm bảo, trong tình huống như thế mà chờ sự đồng ý của cha

mẹ hoặc người giám hộ cho việc lập di chúc là điều hạn hữu Mặc dù pháp luật tôntrọng và đảm bảo cho cá nhân có quyền tự do định đoạt tài sản của mình sau khi chết

nhưng lại không cho người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi lập di chúc miệng Theoquan điểm của người viết, điều này là hoàn toàn hợp lý, vì như vậy là nhằm bảo vệ

quyền lợi cho họ và những người thừa kế của họ, tránh cho họ bị lợi dụng khi khả

năng nhận thức còn hạn chế

2.1.2 Người lập di chúc miệng tự nguyện, minh mẫn

Tự nguyện của người lập di chúc là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí của họ.Mặt khác, chúng ta thấy rằng sự thống nhất trên chính là sự thống nhất giữa mongmuốn chủ quan, mong muốn bên trong của người lập di chúc miệng với hình thức thểhiện ra bên ngoài sự mong muốn đó Vì vậy, việc phá vỡ sự thống nhất này sẽ làm mất

đi tính tự nguyện của việc lập di chúc miệng Sự thống nhất này bị phá vỡ trong nhữngtrường hợp người lập di chúc miệng bị đe dọa, cưỡng ép lập di chúc hoặc di chúc

miệng do họ lập trên cơ sở bị lừa dối Điểm a khoản 1 Điều 652 Bộ luật dân sự năm

2005 quy định người lập di chúc như sau: người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt

trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép Sở dĩ pháp luật quy

định như vậy là vì pháp luật luôn tôn trọng ý chí tự nguyện, quyền tự do định đoạt về

14

Xem: Khoản 2 Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005.

Trang 31

tài sản của người lập di chúc trong phạm vi pháp luật cho phép và sự tự nguyện đó thểhiện cao nhất, rõ rệt nhất trong những điều kiện về tinh thần như trên thì người lập dichúc miệng mới có sự tự do định đoạt tài sản của họ Pháp luật bảo vệ người lập dichúc không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép khi lập di chúc, vì sự lừa dối, đe dọa, cưỡng

ép sẽ trực tiếp xâm phạm tới quyền tự do định đoạt của người lập di chúc, làm cho ýchí của người lập di chúc bị sai lạc Trong trường hợp người lập di chúc miệng bị đedọa, lừa dối, cưỡng ép thì di chúc miệng đó sẽ không có hiệu lực pháp luật

Việc cưỡng ép lập di chúc miệng có thể là sự cưỡng ép về mặt tinh thần (như dọa tốcáo một hành vi của người lập di chúc miệng mà việc tố cáo đó sẽ ảnh hưởng đến uytín, danh dự của người lập di chúc miệng…) hoặc sự cưỡng ép về thể chất (như đánh

đập…) Người lập di chúc cũng có thể bị lừa dối bằng những thủ đoạn sau: làm tài liệu

giả để cho người có tài sản tin rằng một người đã chết hoặc đã mất tích nên không lập

di chúc miệng để lại di sản cho người đó mà để lại di sản cho người làm tài liệu giả

Người lập di chúc miệng phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc Người

không minh mẫn, sáng suốt là người bị bệnh tâm thần không ý thức được việc làm củamình hoặc là người bị mắc bệnh về tâm lý, tinh thần những lúc không tỉnh táo Tuynhiên, nếu người bị bệnh nặng nhưng vẫn tỉnh táo hoặc có những lúc tỉnh táo mà lập dichúc miệng thì di chúc miệng đó vẫn có giá trị

2.1.3 Người lập di chúc miệng phải rơi vào trường hợp đặc biệt

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2005: “Trong trường hợp

tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng” Như vậy, quyền lập di

chúc miệng của công dân chỉ phát sinh trong những trường hợp đặc biệt theo quy địnhcủa pháp luật Trường hợp đặc biệt được pháp luật quy định là: Bị cái chết đe dọa dobệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản Do vậy,nếu một người bị cái chết đe dọa, nhưng họ vẫn có thể lập di chúc bằng văn bản, mà

người đó lại lập di chúc miệng, thì di chúc đó không được pháp luật công nhận Tuy

vậy “những nguyên nhân khác” được quy định tại điều luật này cũng chưa được cơ

Trang 32

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 26 SVTH: Huỳnh Bích Trân

lập di chúc bằng văn bản Đối với người bị hạn chế về thể chất (khiếm thính, khiếmthị ) mà không thuộc trường hợp tính mạng bị đe dọa nghiêm trọng bởi cái chết dobệnh tật hoặc nguyên nhân khác cũng không thể lập di chúc miệng Tuy nhiên, trong

hai trường hợp này thì họ vẫn phải được người làm chứng lập văn bản và có công

chứng hoặc chứng thực Mặc dù pháp luật quy định về điều kiện lập di chúc miệng

như vậy, nhưng đối với người không biết chữ và người có nhược điểm về thể chất khi

lập di chúc thì về bản chất cũng giống như di chúc miệng, tuy nhiên di chúc của những

người này không bị giới hạn về thời hạn hiệu lực như di chúc miệng theo Khoản 2Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2005

2.2 Quyền của người lập di chúc miệng

2.2.1 Chỉ định người thừa kế

Thuật ngữ “người” được hiểu không chỉ bao gồm cá nhân, tức là con người cụ thể

mà là chủ thể của luật dân sự (cá nhân, tổ chức ) người lập di chúc miệng có quyềnchỉ định bất cứ cá nhân, tổ chức nào hưởng di sản thừa kế theo di chúc miệng khôngphụ thuộc vào cá nhân đó có nằm trong ba hàng thừa kế hay không hoặc tổ chức đó là

Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội Người thừa kế theo di chúc

miệng phải đảm bảo các điều kiện do pháp luật quy định mới có quyền hưởng di sản

Do vậy, khác với những người thừa kế theo pháp luật là do luật định dựa trên cơ sởquan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng giữa người thừa kế và

người để lại di sản nên chỉ bao gồm cá nhân thì người thừa kế theo di chúc miệng bao

gồm bất cứ cá nhân, tổ chức nào được người lập di chúc miệng chỉ định trong di chúc.Việc chỉ định người thừa kế theo di chúc miệng được pháp luật tôn trọng

2.2.2 Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế

Xuất phát từ quyền sở hữu cá nhân được pháp luật quy định là khi còn sống cá nhân

có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mìnhnên có quyền lập di chúc cho bất kỳ ai được hưởng hoặc truất quyền hưởng di sản thừa

kế của những người thừa kế theo pháp luật Quyền định đoạt của người lập di chúcmiệng được thể hiện thông qua việc họ có thể truất quyền hưởng di sản của người thừa

kế theo pháp luật, người lập di chúc miệng có thể chỉ định một hay nhiều người thừa

kế theo luật không được hưởng di sản thừa kế của mình Người lập di chúc miệng

Trang 33

không cho người thừa kế nào hưởng di sản theo di chúc miệng thì người đó là người bị

truất quyền Theo quan điểm này thì có hai cách truất quyền khác nhau:

+ Truất quyền hưởng di sản được nói rõ: Là việc người lập di chúc miệng tuyên bốmột cách minh bạch trong di chúc miệng rằng một hoặc nhiều người thừa kế theo phápluật không có quyền hưởng di sản Trong trường hợp di chúc miệng bị vô hiệu toàn bộ(nghĩa là việc truất quyền hưởng di sản cũng vô hiệu) thì tư cách người thừa kế theoluật của những người nói trên không ảnh hưởng Tuy nhiên, trong trường hợp di chúcmiệng có hiệu lực toàn bộ hoặc có một phần vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệulực của việc truất quyền hưởng di sản thì tư cách người thừa kế theo luật của họ đươngnhiên bị mất Vì vậy, trong trường hợp này, nếu có phần di sản liên quan đến phần dichúc miệng không có hiệu lực sẽ được chia theo luật thì người đó vẫn không được

hưởng

+ Truất quyền hưởng di sản không được nói rõ: Là việc người lập di chúc miệng chỉ

định một hoặc nhiều người để hưởng toàn bộ di sản nhưng lại không nói gì đến nhữngngười thừa kế theo pháp luật không được chỉ định Khi đó người thừa kế không được

chỉ định trở thành người bị truất quyền hưởng di sản không được nói rõ Trong trườnghợp này họ có quyền hưởng di sản của người chết để lại theo quy định của pháp luật

nhưng thực tế họ không được hưởng bởi di sản không còn vì người lập di chúc miệng

đã định đoạt hết cho người khác Vì vậy, nếu có một phần di sản nào đó được chia theo

pháp luật thì họ sẽ được hưởng vì họ là người thừa kế theo pháp luật của người để lại

di sản

2.2.3 Phân định di sản cho từng người thừa kế

Nếu như thừa kế theo pháp luật những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần

di sản bằng nhau thì những người được thừa kế theo di chúc miệng được hưởng baonhiêu phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc miệng Người lập di chúc miệng cóquyền phân chia một cách cụ thể cho người thừa kế nào hưởng phần di sản là baonhiêu hoặc hưởng di sản là vật gì Người lập di chúc có quyền phân chia di sản chomỗi người không nhất thiết phải ngang nhau mà không cần phải nêu lý do, nếu không

Trang 34

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 28 SVTH: Huỳnh Bích Trân

+ Phân định tổng quát : Là trường hợp người lập di chúc miệng không xác định rõ

phần di sản mà từng người thừa kế được hưởng Theo góc độ này nếu trong di chúcmiệng chỉ có một người thừa kế thì toàn bộ di sản sẽ thuộc về người đó Nếu di chúcmiệng chỉ định nhiều người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người có têntrong di chúc miệng Nếu những người này có sự thỏa thuận về việc hưởng di sản thìviệc phân chia di sản sẽ tuân theo sự thỏa thuận đó

+ Phân định theo tỷ lệ: Là trường hợp trong di chúc miệng đã nói rõ mỗi người thừa

kế được hưởng một phần di sản theo một tỷ lệ nhất định so với tổng giá trị tài sản Vìvậy, khi phân chia di sản theo di chúc miệng thì mỗi người thừa kế được hưởng phần

di sản theo tỷ lệ đã được xác định trên tổng giá trị khối tài sản đang còn vào thời điểmphân chia Chẳng hạn, nếu di chúc xác định rằng cho A hưởng 1/2 di sản và sau khi

định giá đã xác định được tổng giá trị di sản là 360 triệu đồng thì A sẽ được hưởng

phần di sản là: 360 triệu : 2 = 180 triệu

+ Phân định cụ thể: Là trường hợp người để lại di sản đã xác định rõ trong di chúc

miệng người thừa kế nào được hưởng di sản là hiện vật gì Vì vậy khi di sản được

phân chia, các thừa kế được nhận hiện vật theo sự xác định trong di chúc “kèm theo

hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản” “Nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại” (Điều 684 Bộ luật dân sự

năm 2005)

2.2.4 Dành một phần di sản để di tặng

Trong việc lập di chúc miệng để định đoạt tài sản của mình pháp luật quy định

người lập di chúc có quyền dành một phần tài sản để di tặng cho người khác Di tặng

là việc người để lại di sản dành một phần trong số di sản để tặng cho người khác thôngqua việc thể hiện ý nguyện trong một di chúc

Khoản 1 Điều 671 quy định: “Người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho

người khác Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc”.

Trong cuộc sống ngoài mối quan hệ trong hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng con

người còn có nhiều mối quan hệ khác như Các Mác đã từng nói: “Con người là tổng

hòa của mối quan hệ xã hội” Trong những mối quan hệ này có những người đã từng

Trang 35

gắn bó tình cảm với người lập di chúc, nhưng người lập di chúc không chỉ định thừa

kế vì không muốn họ phải gánh vác nghĩa vụ tài sản tương ứng với phần di sản mà họ

được nhận nên đã dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng Về nguyên tắc,

hiệu lực của việc di tặng được xác định theo hiệu lực của di chúc Nghĩa là việc di tặngchỉ có hiệu lực kể từ thời điểm người lập di chúc miệng chết và dĩ nhiên là người được

di tặng phải còn sống vào thời điểm đó Mặt khác, người nhận tài sản di tặng được coi

là một bên trong hợp đồng tặng cho (dù hợp đồng đó chỉ được thực hiện sau khi ngườitặng cho đã chết) nên họ được hưởng di sản mà không phải thực hiện nghĩa vụ về tàisản do người chết để lại

Theo Bộ luật dân sự Việt Nam thì không có di tặng toàn bộ mà chỉ có di tặng “mộtphần”, nhưng một phần được giới hạn là bao nhiêu pháp luật không quy định rõ, vì vậy

người lập di chúc miệng có thể dành một nửa, ba phần tư di sản để di tặng cho ngườikhác (nhưng không được toàn bộ) Quy định này xuất phát từ việc thực hiện nghĩa vụ

tài sản của người được tặng theo khoản 2 Điều 671 như sau: “Người được di tặng

không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người di tặng, trừ trường hợp tài sản không

đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người di tặng, thì phần di tặng cũng được dùng

để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này” Theo quy định này người được di

tặng khác với người thừa kế theo di chúc miệng là không phải thực hiện các nghĩa vụ

do người chết để lại đối với phần di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để

thanh toán các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại đối với phần di tặng

Chẳng hạn: ông A chết có di chúc miệng (di chúc miệng hợp pháp) để lại 50 triệu

đồng cho hai người con và di tặng lại cho M (là cháu) 10 triệu đồng Ông A để lại

nghĩa vụ trả nợ, bồi thường thiệt hại là 54 triệu đồng Như vậy toàn bộ di sản của ông

A không đủ thanh toán nghĩa vụ tài sản do ông để lại nên lấy thêm 4 triệu đồng từ

phần di tặng Anh M chỉ còn phần di tặng 6 triệu đồng

Ngoài ra, việc lập di chúc miệng còn liên quan tới những người thừa kế không phụthuộc vào nội dung di chúc nên nếu di tặng toàn bộ thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi củanhững người này

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w