1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP CHỨNG cứ và vấn đề CHỨNG MINH TRONG LUẬT tố TỤNG dân sự

90 200 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 621,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa vào chứng cứ mà các đương sự có cơ sở xác đáng chứng minh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình; các cơ quan tiến hành tố tụng có đủ hay không đủ điều kiện để xác định tình tiết của vụ

Trang 1

Bộ môn: Luật tƣ pháp MSSV: 5095644

Lớp: Tƣ Pháp 3-k35

Cần Thơ, tháng 5 năm 2013

2013

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

…………

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

…………

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, Tháng 5 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Trương Văn Phượng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 2

6 Những điểm mới của luận văn 3

7 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1 Khái quát chung về chứng cứ 4

1.1.1 Định nghĩa về chứng cứ 4

1.1.2 Đặc điểm của chứng cứ 5

1.1.2.1 Tính khách quan của chứng cứ 5

1.1.2.2 Tính liên quan của chứng cứ 6

1.1.2.3 Tính hợp pháp của chứng cứ 6

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản trong thu thập chứng cứ 7

1.1.3.1 Nguyên tắc cung cấp và thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự 7

1.1.3.2 Trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 8

1.1.3.3 Nghĩa vụ chứng minh 8

1.1.4 Phân loại chứng cứ 10

1.1.5 Nguồn của chứng cứ và vấn đề xác định chứng cứ 11

1.1.5.1 Nguồn của chứng cứ 11

1.1.5.2 Các vấn đề về xác định chứng cứ 12

1.2 Khái quát chung về chứng minh 14

Trang 6

1.2.1 Khái niện chung về chứng minh 14

1.2.2 Đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự 16

1.2.3 Những trường hợp không cần phải chứng minh 17

1.2.4 Chủ thể của hoạt động chứng minh 19

1.2.5 Các phương tiện chứng minh 21

1.2.6 Quá trình chứng minh 21

1.3 Lược sử hình thành về chế định chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự 22

1.3.1.Giai đoạn từ 1945 đến 1989 22

1.3.2.Giai đoạn từ 1989 đến 2004 24

1.3.3.Giai đoạn từ 2004 đến nay 25

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG PHÁP LÝ CỦA LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ CHỨNG CỨ VÀ VẤN ĐỀ CHỨNG MINH 2.1 Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự 27

2.1.1 Những biện pháp thu thập chứng cứ 27

2.1.1.1 Lấy lời khai của đương sự người làm chứng 28

2.1.1.2 Đối chất giữa đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng 29

2.1.1.3 Trưng cầu giám định 30

2.1.1.4 Quyết định định giá tài sản, yêu cầu thẩm định giá tài sản 31

2.1.1.5 Xem xét thẩm định tại chỗ 32

2.1.1.6 Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ 30

2.1.1.7 Yêu cầu các nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác lên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự 33

2.1.2 Những trường hợp Tòa án tự mình thu thập chứng cứ 33

2.1.3 Các biện pháp sau khi thu thập chứng cứ 35

2.1.3.1 Bảo quản chứng cứ 35

2.1.3.2 Đánh giá chứng cứ 35

2.1.3.3 Công bố và sử dụng chứng cứ 35

Trang 7

2.1.3.4 Bảo vệ chứng cứ 35

2.2 Cơ chế đảm bảo cho việc thực hiện các quy định của pháp luật về vấn đề chứng minh, chứng cứ 36

2.2.1 Chủ thể thực hiện hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự 36

2.2.1.1 Nguyên đơn 36

2.2.1.2 Bị đơn 38

2.2.1.3 Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan 38

2.2.2 Chủ thể đảm bảo cho việc thực hiện vấn đề chứng minh trong tố tụng dân sự 39

2.2.2.1 Cơ quan tiến hành tố tụng 39

2.2.2.2 Người tiến hành tố tụng 43

2.3 Vai trò chứng minh của đương sự qua các giai đoạn xét xử 44

2.3.1 Thời điểm thực hiện vai trò chứng minh của các đương sự 44

2.3.1.1 Thời điểm phát sinh vai trò chứng minh 44

2.3.1.2 Thời điểm chấm dứt vai trò chứng minh 45

2.3.2 Quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự qua các giai đoạn xét xử 46

2.3.2.1 Giai đoạn thụ lí vụ án, hoà giải và chuẩn bị xét xử 46

2.3.2.2 Giai đoạn xét xử sơ thẩm 48

2.3.2.3 Giai đoạn xét xử phúc thẩm 50

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH CHỨNG CỨ VÀ VAI TRÒ CHỨNG MINH TRONG LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về chứng cứ và vấn đề chứng minh 52

3.1.1 Thuận lợi 52

3.1.2 Khó khăn 54

3.1.3 Những hạn chế khi áp dụng các quy định về chứng cứ và vấn đề chứng minh 56

3.1.4 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên 60

Trang 8

3.2 Đề xuất hoàn thiện chế định chứng cứ và chứng minh trong luật tố tụng dân sự 61

3.2.1 Định hướng chung 61

3.2.1.1 Tạo điều kiện tối đa cho đương sự tiếp cận, thu thập chứng cứ phục

vụ quá trình chứng minh 62 3.2.1.2 Đảm bảo sự công bằng giữa các đương sự trong hoạt động chứng minh 62 3.2.1.3 Đảm bảo sự phối hợp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp chứng cứ cho đương sự 63 3.2.1.4 Mở rộng tranh luận tại phiên tòa 63 3.2.1.5 Tăng cường vai trò của Thẩm Phán trong việc tiến hành thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án 64 3.2.1.6 Chính sách hỗ trợ pháp lý 66 3.2.1.7 Quan tâm đến vấn đề tài chính cho đương sự 66

3.2.2 Đề xuất hoàn thiện chế định chứng cứ và vai trò của việc chứng minh trong tố tụng dân sự 67

3.2.2.1 Giải pháp về mặt lý luận 67 3.2.2.2 giải pháp về mặt thực tiễn nhằm thực hiện tốt chế định chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự 75

Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự thường kéo dài từ khi Toà án thụ

lý cho đến khi có phán quyết của Toà án Khi tìm hiểu vụ việc dân sự và đưa ra phương hướng giải quyết cho các vụ việc dân sự đó thì vấn đề thu thập chứng cứ là vấn đề cơ bản nhất, là vấn đề trung tâm và rất quan trọng Dựa vào chứng cứ mà các

Trang 9

đương sự có cơ sở xác đáng chứng minh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình; các cơ quan tiến hành tố tụng có đủ hay không đủ điều kiện để xác định tình tiết của vụ việc dân sự đúng, đủ, chính xác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho công dân và bảo vệ pháp luật Vì vậy, việc nhận định chứng cứ có vai trò quan trọng nhất trong hoạt động chứng minh của tố tụng dân sự Có thể nói, mọi hoạt động trong quá trình chứng minh chủ yếu xoay quanh vấn đề chứng cứ, mọi giai đoạn của tố tụng dân sự mở ra, kết thúc

và kết quả đều phụ thuộc phần lớn vào chứng cứ Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự thì hoạt động chứng minh lại là một trong những hoạt động cơ bản xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ việc, là cơ sở để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng, là căn cứ để Toà án đưa ra phán quyết cuối cùng Có thể nói, mục đích của hoạt động tố tụng là chứng minh và bản án, quyết định của Toà án chính

là kết quả cuối cùng của quá trình chứng minh đó Từ khi bộ luật Tố tụng dân sự năm

2004 có hiệu lực đã hướng tới việc hoàn thiện và chú trọng hơn đến chế định chứng cứ

và vấn đề chứng minh trong vụ án dân sự Tuy nhiên, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, nhiều cách hiểu khác nhau thậm chí trái ngược nhau về chứng cứ và chứng minh Trong thực tiễn công tác xét xử ở mỗi Toà án, Viện kiểm sát lại có cách vận dụng, đánh giá về nguồn, xác định chứng cứ và vấn đề chứng minh còn khác nhau Điều này dẫn đến trong cùng một vụ án, cùng một loại chứng cứ, có chung cơ sở chứng minh mà mỗi Toà án, viện kiểm sát lại đưa ra quan điểm nhìn nhận trái ngược nhau, điều đó gây ra nhiều khó khăn trong việc sử dụng, đánh giá chứng cứ làm ảnh hưởng không nhỏ trong việc giả quyết vụ án

Từ thực trạng trên, việc triển khai nghiên cứu đề tài: “Chứng cứ và vấn đề

chứng minh trong luật tố tụng dân sự” là việc làm cần thiết có ý nghĩa quan trọng về

cả lý luận và thực tiễn góp phần làm rõ hơn các quy định của pháp luật nhằm hoàn thiện chế định chúng cứ và vấn đề chứng minh trong tố tụng dân sự

2 Tình hình nghiên cứu

Chứng cứ và chứng minh là vấn đề trung tâm và quan trọng của tố tụng dân sự

Có thể nói mọi hoạt động của quá trình chứng minh chủ yếu xoay quanh vấn đề chứng

cứ, mọi giai đoạn của tốt tụng dân sự mở ra, kết thúc và kết quả phần lớn đều phụ thuộc vào chứng cứ Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu như:

“Chế định chứng cứ và chứng minh trong Bộ luật tố tụng dân sự” của tác giả

Nguyễn Công Bình, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 02 năm 2004;

“Một vài suy nghĩ về chứng cứ trong Bộ luật tố tụng dân sự” của tác giả Tưởng

Duy Lượng, Tạp chí Toà án số 20, tháng 12 năm 2004;

Trang 10

“Vai trò chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự” của tác giả Thiềm

Văn Ty, Sinh viên luật tư pháp 2 - k35;

Đây cũng là thuận lợi để tác giả tham khảo, nhưng cũng là khó khăn khi nghiên cứu và trình bày luận văn

3 Phạm vi nghiên cứu

Với phạm vi của một luận văn cử nhân luật học tác giả chưa có đủ điều kiện nghiên cứu hết các vấn đề chứng cứ và chứng minh trong tất cả các vụ việc dân sự theo phạm vi điều chỉnh của bộ luật tố tụng dân sự, vì vậy tác giả chỉ nghiên cứu chuyên sâu về chứng cứ và chứng minh trong phạm vi vụ án dân sự truyền thống (dân

sự và hôn nhân gia đình) Trên cơ sở đó đề ra giải pháp cơ bản nhằm làm hoàn thiện hơn chế định chứng cứ và vấn đề chứng minh trong luật tố tụng dân sự

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được nghiên cứu theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – lê nin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và một số phương pháp cụ thể như: Lịch sử phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp xã hội, phương pháp khảo sát thăm dò…

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

5.1 Mục đích

Mục đích của luận văn là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chứng

cứ và chứng minh và đánh giá thực trạng pháp luật về đề chứng cứ và chứng minh trong điều kiện hiện nay; luận văn đề xuất các biện pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về chế định chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

5.2 Nhiệm vụ

Từ mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Nghiên cứu đưa ra những vấn đề cơ bản nhất, giúp cho việc nhận thức một cách rõ nét về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

- Từ việc nghiên cứu những hạn chế, bất cập, vướng mắc trong thực tiễn đề xuất những kiến nghị trong việc hoàn thiện các quy định về chứng cứ

6 Những điểm mới của luận văn

- Xây dựng khái niệm khoa học về chứng cứ và khái niệm chứng minh trong tố

tụng dân sự

- Chỉ ra những đặc trưng của chứng cứ trong tố tụng dân sự

Trang 11

- Chỉ ra những bất cập của luật thực định và những vướng mắc về chứng cứ và chứng minh trong thực tiễn cần phải giả quyết và nêu những ý kiến cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân

sự Trong chương này người viết đưa ra những khái niệm có liên quan, quá trình hình

thành chế định chứng cứ và vấn đề chứng minh qua các thời kỳ và đưa ra những vấn

đề về cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm trả lời cho câu hỏi tại sao phải nghiên cứu chế định chứng cứ và vấn đề chứng minh trong tố tụng dân sự

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự về vấn đề chứng cứ và chứng minh Trong chương này người viết phân tích những quy định của Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2004 và các văn bản có liên quan đến chế định chứng cứ và vấn đề chứng minh trong Tố tụng dân sự

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và phướng hướng hoàn thiện chế định chứng cứ

và chứng minh trong tố tụng dân sự Trong chương này thông qua công tác thực tiễn

áp dụng người viết phân tích những định hướng chung nhằm hoàn thiện thêm chế định chứng cứ và vấn đề chứng minh Qua tìm hiểu, người viết mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế định chứng cứ và vấn đề chứng minh trong Tố tụng dân

sự

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG

MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Kể từ khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực thi hành đã quy định quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh chủ yếu trong việc giải quyết vụ án dân sự là của đương sự Việc đương sự tự mình cung cấp chứng cứ và chứng minh đóng vai trò rất quan trong trong quá trình giải quyết vu án Tuy nhiên, việc các quy định của pháp luật vẫn còn một số hạn chế và thực tiễn áp dụng cũng vấp phải một số khó khăn nhất định Việc nghiên cứu chế định chứng cứ và vấn đè chứng minh trong luật tố tụng dân sự là rất quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay Do vậy, trước khi nghiên cứu những vấn đề liên quan đến chế định chứng minh và chứng cứ cần thiết phải có cái nhìn chung về vai trò của chứng cứ cũng như vai trò của việc chứng minh trong tố tụng dân sự Dưới đây là một số vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của chứng cứ và việc chứng minh nhằm làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu

1.1 Khái quát chung về chứng cứ

1.1.1 Định nghĩa về chứng cứ

Chứng cứ là vấn đề trung tâm và quan trọng của tố tụng dân sự Có thể nói, mọi hoạt động trong quá trình chứng minh chủ yếu xoay quanh vấn đề chứng cứ, mọi giai đoạn của tố tụng dân sự mở ra, kết thúc và kết quả đều phụ thuộc phần lớn vào chứng

cứ Có thể nói, chứng cứ là phần quan trong, lớn nhất để chúng minh vụ việc dân sự Dựa vào chứng cứ mà các đương sự có cơ sở xác đáng chứng minh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình; các cơ quan tiến hành tố tụng có đủ hay không đủ điều kiện để xác định tình tiết của vụ việc dân sự đúng, đủ, chính xác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho công dân và bảo vệ pháp luật Vì vậy, việc nhận định chứng cứ có vai trò quan trọng nhất trong hoạt động chứng minh của tố tụng dân sự, từ đó giúp việc hoạt động đúng đắn về hoạt động nhận thức

Cơ sở về lý luận: Quan điểm vật chất sinh ra không bao giờ mất đi, mà nó chỉ chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác và mọi sự vật, hiên tượng có mối liên hệ phổ biến Từ đó, các tài liệu, sự kiện, hiện vật được coi là chứng cứ cũng là một dạng vật chất, nó phản ánh vào đầu óc con người và lưu lại trong đầu óc trí nhớ

Trang 13

Do vậy, nếu đương sự muốn chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại, phải cung cấp cho Toà án và cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền những chứng cứ mà Bộ luật Tố tụng dân sự coi đó là một trong những nguồn của chứng cứ

Để làm rõ sự thật khách quan khi thụ lý vụ việc dân sự, Toà án phải làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến vụ kiện như: Việc xác lập quyền nghĩa vụ trên cơ sở nào? Các đương sự đã cung cấp được những chứng cứ gì? Và có khả năng thu thập thêm được một số chứng cứ gì khác? Từ đó, Toà án sẽ tiếp nhận vụ việc và thực hiện tất cả các biện pháp để nhằm thu thập đầy đủ, toàn diện, chính xác, đúng đắn các loại nguồn của chứng cứ mà pháp luật có quy định để có cơ sở giải quyết khách quan, đúng đắn vụ việc dân sự

Có nhiều định nghĩa về chứng cứ của một số nước trên thế giới: Trong Bộ luật

Tố tụng dân sự của Liên Bang Nga có quy định: “Chứng cứ trong tố tụng dân sự là

những sự thật khách quan và theo đó mà Toà án có cơ sở để giải quyết các vụ án dân

qua đó một tình tiết được Toà án công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó Toà

án được thuyết phục là một tình tiết nhất định tồn tại hay không”2 Về nội hàm của khái niệm chứng cứ của một số nước trên tựu chung là khẳng định: Chứng cứ là sự thật khách quan

Ở Việt Nam, khái niệm chứng cứ được xây dựng dựa trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm khoa học về chứng cứ trong pháp luật tố tụng dân sự ở các nước, đó là xuất phát từ thực tế khách quan của bản thân chứng cứ không lệ thuộc vào

ý thức con người; đánh giá chứng cứ trong mối liên hệ biện chứng, mỗi chứng cứ đề

có nguồn gốc dẫn đến sự hình thành nên nó, sự tồn tại của chứng cứ luôn ở dạng động, liên quan đến nhau Từ đó, Bộ luật Tố Tụng dân sự Việt Nam định nghĩa về chứng cứ như sau:

Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự thủ tục do Bộ luật này quy định mà Toà án dung làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giả quyết đúng đắn vụ việc dân sự (Điều 81 Bộ luật Tố Tụng dân sự)

1.1.2 Đặc điểm cửa chứng cứ

1.1.2.1 Tính khách quan của chứng cứ

1 Luật tố tụng dân sự Liên Bang Nga 2005, Ts Bùi Ngọc Khánh , Trang 178.

2 Luật tố tụng dân sự Nhật bản Bản dịch của: Nông Xuân Trường - VKH kiểm sát, VKSNDTC, Trang 254.

Trang 14

Chứng cứ trước hết là những gì có thật, là những tài liệu, sự kiện, tồn tại khách quan, phản ánh trung thực không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người Tính khách quan đòi hỏi bản thân các nguồn thông tin này phải có thật, không phụ thuộc vào khả năng con người có nhận biết chúng hay không Tính khách quan còn thể hiện

ở chỗ những gì là suy đoán, tưởng tượng, không có thật thì không phải là chứng cứ Tính khách quan bắt đầu từ thời điểm chứng cứ được sinh ra Đương sự và các cơ quan tiến hành tố tụng không tạo ra chứng cứ vì như vậy tính khách quan sẽ không còn, do

đó không thể coi là chứng cứ Con người phát hiện tìm kiếm và thu thập chứng cứ, con

người nghiên cứu và đánh giá để sử dụng nó

1.1.2.2 Tính liên quan của chứng cứ

Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 2005: “Tính liên quan là sự

liên hệ, dính dáng nhau ở một hay một số tính chất” 3

có thật liên quan đến vụ việc mà thôi Tính liên quan của chứng cứ có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Mối quan hệ trực tiếp là mối quan hệ dựa vào đó có thể xác định được ngay những tình tiết, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự xem đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh Mối liên hệ gián tiếp là qua khâu trung gian mới tìm được tình tiết, sự kiện Tuy nhiên, cho dù là trực tiếp hay gián tiếp thì cũng phải có mối quan hệ nội tại, có mối quan hệ nhân quả Từ việc đánh giá rõ tình tiết liên quan, Toà án có thể xác định đúng chứng cứ cần sử dụng để giải quyết đúng đắn vụ việc dân

sự mà không xảy ra trường hợp thừa, hoặc không đầy đủ chứng cứ

1.1.2.3 Tính hợp pháp của chứng cứ

Tính hợp pháp của chứng cứ được thể hiện ở chỗ các tình tiết, sự kiện phải được thu thập, bảo quản, xem xét, đánh giá, nghiên cứu theo thủ tục luật định, có như vậy mới đảm bảo giá trị của chứng cứ Trước hết, chứng cứ phải được pháp luật thừa nhận, các tình tiết, sự kiện chỉ được coi là chứng cứ khi mà pháp luật dân sự quy định

nó là một trong các nguồn của chứng cứ Vật chứng phải luôn là vật gốc có tính đặc định, liên quan đến vụ việc dân sự thì mới có giá trị pháp lý, nếu sao chép, táo hiện lại vật chứng thì không được coi là vật chứng Vì vậy, Toà án không chỉ thu thập theo đúng trình tự mà phải bảo quản, giữ gìn, đánh giá chứng cứ một cách đầy đủ, toàn diện

3 Từ điểm tiếng việt nhà xuất bản giáo dục 2005, Gs Hoàng Phê, Trang 786

Trang 15

để đảm bảo đúng đắn tính hợp pháp của chứng cứ Tính hợp pháp của chứng cứ được xác định cụ thể:

- Phải là một trong các nguồn hợp pháp mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định

- Phải từ phương tiện chứng minh hợp pháp mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định

- Phải được thu thập, cung cấp theo pháp luật Tố tụng dân sự

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản trong thu thập chứng cứ

1.1.3.1 Nguyên tắc cung cấp và thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự

Mỗi vụ việc dân sự phát sinh tại Tòa án thường chứa đựng những mâu thuẫn nhất định giữa các bên đương sự nên rất phức tạp Xuất phát từ nguyên tắc tự định đoạt trong tố tụng dân sự, đương sự có có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để làm cơ sở chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp hoặc đưa ra chứng chứng

cứ để phản đối yêu cầu của bên kia Cung cấp chứng cứ và chứng minh là quyền và

nghĩa vụ của đương sự Theo Điều 6 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội thì: “Các

đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự”

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm hoạt động cung cấp, thu thập, đánh giá chứng cứ và hoạt động chỉ ra các căn cứ hợp pháp để làm cho mọi người nhận thức đúng vụ việc chủ thể chứng minh bao gồm cả đương sự và chủ thể khác tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự Sở dĩ pháp luật quy định nghĩa

vụ cung cấp chứng cứ thuộc về các đương sự vì họ là người đưa ra yêu cầu khởi kiện nên họ phải có trách nhiệm chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, họ phải thực hiện đầy đủ, đúng các quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình đã được pháp luật quy định Hơn nữa, vụ án dân sự phát sinh chủ yếu là do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự với nhau, do đó họ biết rõ nguyên nhân và điều kiện phát sinh ra

vụ án Vì vậy, họ là người có điều kiện cung cấp cho Tòa án các chứng cứ của vụ án Đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có trách nhiệm hướng dẫn các đương sự cung cấp chứng cứ, và tiếp nhận mọi giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ án, các vật chứng do đương sự cung cấp

Trang 16

1.1.3.2 Trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ là biện pháp thu thập chứng cứ bảo đảm cho Tòa án có đủ chứng cứ giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Tuy vậy, do quy định của pháp luật tố tụng dân sự Tòa án cũng chỉ tiến hành biện pháp này khi đương sự đã yêu cầu các nhân, cơ quan, Tổ chức lưu giữ chứng cứ không được đáp

ứng Điều này được quy định tại Điều 7 Bộ luật tố tụng dân sự: “Cá nhân, cơ quan, tổ

chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ chứng cứ cho đương sự, Tòa án trong vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự Trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Tòa án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ” Để đảm bảo cho đương sự có thể thực hiện được

quyền và nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ thì cần có sự hỗ trợ từ phía cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan Đặc biệt là cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ tài liệu, hiện vật Có thể ví dụ như: giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…

Trong trường hợp, Tòa án đang thụ lý hồ sơ vụ án thực hiện yêu cầu cá nhân,

cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ theo khoản 2 Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự sẽ có hai khả năng xảy ra:

Thứ nhất, là cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ trực tiếp

chuyển giao, cung cấp chứng cứ cho Tòa án sẽ phải thực hiện bằng biên bản giao nhận, cung cấp chứng cứ Việc xem xét chứng nhận chứng cứ sẽ được thực hiện như đối với trường hợp đương sự giao chứng cứ cho Tòa án

Thứ hai, là cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ gián tiếp

chuyển giao, cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án

Ví dụ: Cần xác định tin tức của người đang ở nước ngoài, Tòa án có thể yêu cầu

Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ lao động thương binh xã hội, hoặc Bộ ngoại giao cung cấp tin tức liên quan Hoặc có trường hợp Thẩm phán yêu cầu sở Tài nguyên - Môi trường và nhà đất thành phố Cân Thơ cho biết nguồn gốc nhà - đất có chuyển dịch quyền sử dụng, sử hữu được hay không? Các chủ thể được yêu cầu trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời những chứng cứ đang quản lý lưu giữ

1.1.3.3 Nghĩa vụ chứng minh

Trang 17

Các đương sự có thể là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc họ là người đưa ra yêu cầu, khiếu nại, họ là người biết rõ nguyên nhân, điều kiên phát sinh tranh chấp Vì vậy, họ có trách nhiệm làm sáng tỏ vấn đề, chứng tỏ cho Tòa án và những người tham gia tố tụng khác thấy được sự đúng đắn trong yêu cầu của mình, đồng chứng minh rằng bị đơn phải có nghĩa vụ đối với yêu cầu của mình Trong suốt quá trình tố tụng bên nguyên đơn và bên bị đơn liên tục trao đổi với nhau những chứng

cứ, lý lẽ căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Theo quy định tại

Điều 79 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội : “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, là hợp pháp” Đương sự

đối với yêu cầu của người khác và cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ Đương sự có đầy đủ chứng cứ và chứng minh được yêu cầu của mình là đúng, là hợp pháp thì được Tòa án chấp nhận Trái lại, đương sự không có đầy đủ chứng cứ và không chứng minh được yêu cầu của mình thì Tòa án không chấp nhận và đương sự còn phải chịu hậu quả bất lợi khác do không có đủ chứng cứ để chứng minh

Pháp luật tố tụng dân sự đặt ra nghĩa vụ chứng minh cho đương sự vì quan hệ dân sự là quan hệ riêng tư của các bên, do các bên tự quyết định, tự giải quyết là chủ yếu và chỉ khi các bên không tự giải quyết được thì họ cũng tự quyết định xem có yêu cầu Tòa án hỗ trợ hay không Khi Tòa án tham gia vào giải quyết vụ việc thì Tòa án cũng chỉ là trọng tài, không thể làm thay, chứng minh thay cho đương sự với những yêu cầu của họ Trong một só vụ án, đương sự không hiểu đây là nghĩa vụ chứng minh của mình cho nên không những không cung cấp chứng cứ mà còn không hợp tác với Tòa án khi Tòa án thu thập chứng cứ Khi tham gia tố tụng các đương sự phải tích cực thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình mà không được ỷ lại cho các chủ thể khác Trái lại, nếu đương sự không tự mình thực hiện nghĩa vụ chứng minh đẫn đến tình trạng có những tình tiết của vụ việc không được làm rõ và sẽ dẫn đến hậu quả cho đương sự

Ngoài đương sự, các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụ chứng minh Tuy không

có quyền và lợi ích gắn liền với vụ việc như đương sự nhưng cá nhân, cơ quan, tổ chức này cũng đưa ra yêu cầu, do đó cũng có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là

có căn cứ và hợp pháp

Trang 18

Theo khoản 4 Điều 79 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội thì: “đương sự có

nghiã vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc chứng minh không được hoặc chứng minh không đầy đủ” Thực chất, có thể hiểu là sự giải quyết vụ việc mà bất lợi

cho một bên đương sự, bên đó có nghĩa vụ chứng minh mà không chứng minh được

Vì vậy, hậu quả chỉ phát sinh trong trường hợp đương sự có khả năng thực hiện nghĩa

vụ chứng minh nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của họ Trường hợp, đương sự không có lỗi do điều kiện khách quan thì không phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được Đối với những chủ thể chứng minh khác của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Tòa án… có nghĩa vụ chứng minh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ chứng minh của mình thì cũng phải chịu trách nhiệm về việc không chứng minh được tùy theo lỗi của họ Người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải chịu trách nhiệm với đương sự; Tòa án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về giải quyết vụ việc dân sự

1.1.4 Phân loại chứng cứ

Trên thực tế, chứng cứ thường được phân thành các loại khác nhau

Thứ nhất, dựa vào những tình tiết, sự kiện tồn tại trong thế giới vật chất chứng

cứ được tồn tại dưới hai dạng sau:

- Các dấu vết phi vật chất liên quan đến các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được phản ánh vào đầu óc con người, từ đó con người ghi lại, chụp lại và phản ánh có

Trang 19

Thứ ba, dựa theo tính chất hình thành thì chứng cứ được chia thành hai loại là

chứng cứ gốc và chứng cứ thuật lại:

- Chứng cứ gốc là sự kiện thực tế đầu tiên về sự kiện cần chứng minh

- Chứng cứ thuật lại là chứng cứ được sao chép lại từ những chứng cứ khác Nó được hình thành, phản ánh không phải do tác động trực tiếp cửa những tình tiết sự kiện cần phải chứng minh đến nguồn chứng cứ mà tác động qua một khâu trung gian nhất định

Thứ tư, dựa theo hình thức liên hệ giữa thông tin thực tế với những tình tiết cần

phải chứng minh thì chứng cứ được chia thành chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp:

- Chứng cứ trực tiếp là những chứng cứ mà dựa vào đó Toà án rút ra được một kết luận xác thực là có hay không có nhưng tình tiết làm căn cứ giải quyết vụ án

- Chứng cứ gián tiếp là những chứng cứ mà dựa vào đó Toà án không rút ra được một kết luận xác thực mà rút ra được nhiều giả thiết, những giả thiết này so sánh, đối chiếu với những chứng cứ khác mới rút ra được một kết luận xác thực

1.1.5 Khái niệm nguồn của chứng cứ và vấn đề xác định chứng cứ

1.1.5.1 nguồn của chứng cứ

Nguồn của chứng cứ trong tố tụng dân sự là nguồn được thu thập, cung cấp theo trình tự Bộ luật Tố tụng dân sự và được liệt kê tại Điều 82 bộ luật Tố tụng dân sự thì được coi là nguồn Bởi vậy, nếu không có nguồn chứng cứ sẽ không chứng minh làm sáng tỏ để giải quyết vụ việc dân sự

Theo quy định của Bộ luật dân sự thì nguồn của chứng cứ bao gồm: “các tài

liệu đọc được, nghe được, nhìn được; các vật chứng; lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; tập quán; kết quả giám định tài sản, thẩm định giá tài sản; các nguồn khác mà pháp luật

có quy định”4 Có thể hiểu nguồn của chứng cứ là nơi chứa đựng chứng cứ, nó tồn tai hai loại nguồn chủ yếu là nguồn vật và nguồn tài liệu Nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh là hai khái niệm khác nhau; nhưng thực tế lại thường được hiểu chung Vì một số trường hợp các phương tiện chứng minh cũng chính là cái có thể rút ra các tin tức về vụ việc dân sự như vật chứng, tài liệu chứa đựng chứng cứ tức cũng là nguồn của chứng cứ

Toà án chỉ có thể thu thập các nguồn chứng cứ, từ đó rút ra các chứng cứ Bất kì các loại chứng cứ nào cũng phải nằm trong một loại nguồn chứng cứ nhất định; nhưng

4 Điều 82 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội

Trang 20

không có nghĩa là khi thu thập một nguồn chứng cứ nào đó thì nhất định trong đó sẽ chứa đựng chứng cứ, vì vậy sẽ phạm sai lầm trong đánh giá, sử dụng

Theo pháp luật Việt Nam ban hành, nguồn của chứng cứ được quy định tại Điều 82 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội, theo Điều luật này thì nguồn chứng cứ được thu thập từ các loại nguồn sau đây:

- Các tài liệu nghe được, đọc được, nhìn được

- Các vật chứng

- Lời khai của đương sự

- Lời khai người làm chứng

- Kết quả giám định

- Biện bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ

- Tập quán

- Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản

- Các nguồn khác do pháp luật quy định

1.1.5.1 Các vấn đề về xác định chứng cứ

- Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được

Các tài liệu đó phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận Các tài liệu nghe được phải xuất trình kèm theo văn bản xác định xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản và sự liên quan tới cuộc thu âm, thu hình đó Các tài liệu nay có thể là băng ghi âm, đĩa ghi hình, phim ảnh nếu đương sự không xuất trình được các văn bản nêu trên thì tài liệu nghe, đọc, nhìn được mà đương sự giao nộp không thể được coi là chứng cứ

- Các vật chứng

Các vật chứng phải là vật gốc liên quan đến vụ việc dân sự, nếu không phải là hiện vật gốc nhưng phải là chứng cứ trong vụ việc dân sự đó Do vậy, vật chứng luôn phải có tính đặc định liên quan đến vụ việc dân sự thì mới có giá trị pháp lý Vì vậy, Toà án không chỉ thu thập vật chứng theo trình tự luật định mà phải bảo quản, giữ gìn

để đảm bảo giá trị đặc tính của vật chứng Nếu đương sự cung cấp vật chứng, thẩm phán phải lập biên bản miêu tả chi tiết hình thức cũng như đặc tính lý hoá của sự vật, đặc biệt dấu vết được thể hiện trên vật chứng đó Đối với vật không thể di chuyên được thì phải xem xét tại chỗ; vật mau hỏng phải xem xét kịp thờivà phản ánh đầy đủ trong quá trình xem xét như ghi biên bản, chụp hình, ghi hình để lưu

Trang 21

- Lời khai đương sự

Đương sự là người có quyền lợi và lợi ích gắn liềm với vụ việc dân sự, họ tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật đang có tranh chấp hay giả quyết của mình tại Toà

án Lời khai của đương sự dựa trên trí nhớ và sự kiện, tình tiết nên thường mang tính chủ quan Tâm lý trong lời khai của đương sự thường thiên về bảo vệ cái quyền lợi cá nhân, nên xem xét yếu tố này để Toà án thận trọng khi đánh giá

Lời khai của đương sự có thể bằng văn bản hay ghi âm, ghi hình theo đúng trình tự và ký tên của mình Lưu ý tuổi của đương sự khi lấy lời khai

- Lời khai người làm chứng

Người làm chứng là người biết rõ những thông tin liên quan đến vụ kiện nhưng lại không có quyền lợi trong vụ việc đó, vì vậy lời khai của người làm chứng thường thể hiện yếu tố khách quan hơn Có thể do một số yếu tố nào đó như bị dụ dỗ, bị mua chuộc, bị đe doạ, bị hành hung mà đưa ra những lời khai sai lệch, thiếu chính xác Lời khai của người làm chứng theo quy định phải được ghi bằng văn bản hoặc ghi âm, ghi hình, nhưng phải kí tên xác nhận Người làm chứng phải đủ 18 tuổi, có đủ năng lực hành vi dân sự; nếu bị hạn chế hoặc mất năng lự hành vi dân sự phải có người đại diện

- Kết luận giám định

Trong quá trình giả quyết vụ việc dân sự, nếu cần sự kết luận của cơ quan chuyên môn để làm sáng tỏ một tình tiết, sự kiện nào đó Theo yêu cầu của một bên đương sự hoặc theo sự thoả thuận của các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định Kết luận giám định chính xác có tầm quan trọng rất lớn, thậm chí

có nhiều vụ kiện có thể quyết định toàn bộ vụ án Ví dụ, vụ kiện tranh chấp về thừa kế Bản di chúc bị tố cáo là giả mạo, nếu kết luận của cơ quan giám định tư pháp là giả hay không, nó quyết định toàn bộ vụ án Bởi vậy, các kết luận giám định có thể được giám định lại, giám định bổ sung ở các cơ quan giám định khác

- Biên bản ghi kết quả giám định tại chỗ

Kết quả xem xết thẩm định tại chỗ, nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và phải có chữ kí của các thành viên tham gia thẩm định Cụ thể Toà án đến tận nơi có sự việc để làm việc cùng có đại diện của cơ quan sở tại có thẩm quyền Toà án phải báo cho đương sự biết trước để họ chứng kiến việc xem xét, thẩm định

- Tập quán

Tập quán là thói quen đã được thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất

và được công chúng thừa nhận Đối với một tập quán được coi là chứng cứ trong một

Trang 22

vụ án cụ thể thì thẩm phán phải yêu cầu đương sự trình bày rõ nguồn gốc của tập quán

đó và chứng minh tập quán đó bằng cách ghi nhận nó bằng văn bản thể hiện việc cả cộng đồng dân cư nơi có tập quán đó thừa nhận, như xác nhận vào văn bản cả cộng đồng dân cư và được chứng thực cũng như xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi

có tập quán đó thừa nhận

Thực chất, phong tục, tập quán chỉ là cơ sở để đánh giá chứng cứ Bởi lẽ nó không có giới hạn cụ thể, rạch ròi ở một mức độ nào đó nó có tính ước lệ và suy đoán

Ví dụ, ở một cộng đồng dân cư, tính cục bộ tại địa phương đó đẫn đến vì giúp cho một

cá nhân nào đó mà cộng đồng dân cư có thể ký và xác thực vào văn bản mà việc này vẫn không trái với đạo đức xã hội Tóm lại, về cơ bản, tập quán không được trái với các nguyên tắc của pháp luật và đạo đức xã hội và đương nhiên tập quán đó chưa được khái quát cụ thể trong luật

- Kết quả giám định tài sản, thẩm định giá tài sản

Định giá có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vu án Định giá có thể do đương sự yêu cầu, hay Toà án nhận thấy cần định giá Kết quả định giá là nguồn của chứng cứ nên việc định giá do Hội đồng định giá được lập thành văn bản và thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Khi đinh giá tài sản, Hội đồng định giá tiến hành định giá riêng từng tài sản Để xác định đúng giá trị tài sản của vụ việc dân

sự phải căn cứ vào mức độ phổ biến giá cả thị trường địa phương tại thời điểm định giá mà có vật, tài sản cần định giá

1.2 Khái quát chung về chứng minh

1.2.1 Khái niệm chung về chứng minh

Theo từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản giáo dục, trang 178: “Chứng minh là

dung lý lẽ, suy luận, bằng chứng để chỉ rõ điều gì đó đúng hay không đúng”5

Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng , trang 192: “Chứng minh là làm cho

thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc băng lý lẽ” 6

.

Mỗi vụ việc dân sự phát sinh tại Toà án thường chứa đựng những mâu thuẫn nhất định giữa các bên đương sự nên rất phức tạp Để giải quyết được sự việc dân sự thì mọi vấn đề của vụ việc dân sự dù ai nêu ra cũng phải được là rõ trước khi Toà án quyết định giải quyết vụ việc dân sự Ví dụ, trong vụ án Thừa kế yêu cầu chia di sản theo di chúc thì là rõ có di chúc không? người viết di chúc chết chưa?, Di chúc có hợp pháp hay không?

Trang 23

Chứng minh là hoạt động chi phối kết quả giải quyết vụ việc dân sự của Toà án nên có nội hàm rất rộng Bản chất của hoạt động chứng minh của các chủ thể tố tụng không chỉ thể hiện ở chỗ xác định các tình tiết, sự việc của vụ việc dân sự mà còn thể hiện ở chỗ phải làm cho mọi người thấy là có thật, là đúng với thực tế Do đó, các phương thức được các chủ thể chứng minh sử dụng để chứng minh rất đa dạng Nhưng

để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ của chứng minh, các chủ thể chứng minh bao giờ cũng phải chỉ ra được tất cả các căn cứ pháp lý và thực tiễn liên quan đến vụ việc dân sự

Quá trình chứng minh được diễn ra trong suốt quá trình giải quyết vụ việc dân

sự Hoạt động chứng minh trong quá trình Toà án giả quyết vụ việc dân sự bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể tố tụng Trong đó, hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ tại phiên toà của các củ thể là chủ yếu mang tính quyết định:

- Cung cấp chứng cứ: Là nghĩa vụ chủ yếu là do đương sự giao nộp cho Toà án, đương sự muốn là rõ được yêu cầu hay phản đối yêu cầu của họ là có căn cứ hợp pháp thì trách nhiệm của họ là phải cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Toà án để chứng minh

Việc cung cấp chứng cứ còn có thể do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp

- Thu thập chứng cứ là trách nhiệm của các đương sự, hoặc một số trường hợp Toà án thu thập Việc thu thập, cung cấp và giao nộp chứng cứ để chứng minh trong giải quyết vụ việc dân sự phải đúng hạn, nhanh chóng và kịp thời

- Nghiên cứu cứu và đánh giá là giai đoạn cuối cùng của hoạt động chứng minh

Nó là một quá trình logic nhằm xác định giá trị chứng minh và phù hợp của các chứng

cứ - sự phù hợp của chứng cứ ở đây là sự phù hợp giữa những tình tiết, sự kiện đã thu thập được với thực tế khách quan Thông qua nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, Toà

án hình thành các đối tượng chứng minh và sắp xếp các sự kiện theo một trình tự nhất định Việc suy đoán chứng cứ có thể được sử dụng trong quá trình đánh giá chứng cứ, nhưng việc suy đoán này phải dựa trên các chứng cứ khác hoặc trên tổng thể các chứng cứ có trong hồ sơ chứ không được theo nhận thức chủ quan của người đánh giá

Chứng minh trong tố tụng dân sự có ý nghĩa làm rõ, xác định các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự, đảm bảo việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Chứng minh

là biện pháp duy nhất để xác định các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự Thông qua hoạt động chứng minh, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và các chủ thể khác thấy rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được giải quyết Đối với các đương sự, chứng minh là vấn đề rất quan trọng để các đương sự làm rõ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, trên cơ sở đó thuyết phục Toà án bảo vệ Trước Toà án, nếu đương sự không chứng

Trang 24

minh được sự tồn tại quyền, lợi ích hợp pháp của họ thì quyền và lợi ích hợp pháp của

họ sẽ không được Toà án bảo vệ Trên thực tế, Toà án có thể sai lầm trong việc xác định, đánh giá chứng cứ, không làm sáng tỏ được các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân

sự Điều đó dẫn đến việc giải quyết vụ việc dân sự không đúng với sự thật và làm cho đương sự không được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ Chứng minh không chỉ

có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự của Toà án, mà còn có ý nghĩa bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình Để giải quyết bất kỳ một vụ việc dân sự thì đều phải làm rõ những sự việc, tình tiết về cơ bản trước khi Toà án tiến hành giải quyết Mà thực chất của hoạt động chứng minh phần lớn bao gồm việc cung cấp chứng cứ của đương sự và việc Toà án xem xét toàn bộ hệ thống văn bản, tài liệu liên quan được áp dụng nhằm có cơ sở giải quyết vụ việc, bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho công dân và Nhà nước

Chứng minh trong tố tụng dân sự là hoạt động tố tụng của các chủ thể theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự mà theo đó việc làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc là cần thiết, trong đó bao gồm cả hoạt động áp dụng luật của Toà án đối với vụ việc dân sự cụ thể cần giải quyết

1.2.2 Đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự

Trong Từ điển tiếng Việt Nhà xuất bản giáo dục, trang 274: Đối tượng được

Từ điển tiếng Việt Nhà xuất bản Trẻ, trang 328: “Đối tượng là người, vật, hiện

tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ và hành động”8

Đối tượng chứng minh là những tình tiết những vấn đề cần phải chứng minh, cần phải thu thập chứng cứ để làm rõ trong một vụ việc dân sự và dùng nó làm cơ sở cho việc giải quyết vụ kiện dân sự Trong lý luận chứng cứ, những căn cứ dùng để chứng minh (chứng cứ) được coi là phương tiện chứng minh, còn mục tiêu, đối tượng

mà nó phải làm rõ là đối tượng chứng minh Nói cách khác, đối tượng chứng minh là mục đích, còn chứng cứ là phương tiện để đạt được mục đích đó.Trong tố tụng dân sự, đối tượng chứng minh là một vấn đề hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng xuyên suốt quá trình giải quyết vụ việc Do đó, khi giải quyết vụ việc dân sự, Toà án phải xác định được tất cả các tình tiết, sự kiện liên quan, những tình tiết này là đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự

Tóm lại, đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự là tổng hợp những sự kiện pháp lý mà toà án cần phải làm rõ để làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn

Trang 25

vụ việc dân sự Nhũng tình tiết, sự kiện này càn phải làm sáng tỏ trong quá trình tố tụng dân sự

Các quan hệ pháp luật trong các vụ việc dân sự rất đa dạng nên các tình tiết, sự kiện cần phải xác định trong các vụ việc dân sự cụ thể cũng rất phong phú Do đó, trong quá trình giải quyết vụ việc phải xác định được những tình tiết, sự kiện nào cần phải chứng minh; những tình tiết, sự kiện nào không cần phải chứng minh Để xác định được đối tượng chứng minh của mỗi vụ việc, Toà án phải dựa vào những yêu cầu hay phản đối của đương sự, đương sự dựa và tình tiết nào để có yêu cầu hay phản đối yêu cầu Nói cách khác, đối tượng chứng minh là bao gồm những tình tiết, sự kiện khẳng định của bên có yêu cầu và tình tiết, sự kiện đó có tính phủ định của bên phản lại yêu cầu liên quan đến vụ việc dân sự cần xác định trong việc giải quyết vụ việc dân

sự

1.2.3 Những trường hợp không cần phải chứng minh

Chướng minh là để xác định sự thật của vụ việc dân sự nên mọi tình tiết, sự kiện lên quan đến vụ việc dân sự đều phải chứng minh, trong tố tụng dân sự, đương sự phải đưa ra các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình thì phải chứng minh sự phản đối đó là

có căn cứ và phải đưa ra được chứng cứ để chứng minh Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước hoặc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cuả người khác phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ pháp luật và hợp pháp Tuy nhiên, căn

cứ vào tính chất, đặc điểm của một số loại tình tiết, sự kiện thì chúng có thể được Tòa

án sử dụng để giải quyết vụ việc dân sự mà không phải chứng minh

Tại Điều 80 (luật 65/2011/QH12 của Quốc Hội ) quy định như sau:

“Điều 80 Những tình tiết sự kiện không phải chứng minh

1 Những tình tiết sự kiện sau đây không phải chứng minh:

a) Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đề biết và được Toà án thừa nhận; b) Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án, quyết định của Toà án

đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;

c) những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp

2 Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên dương sự đó không phải chứng minh

Trang 26

3 Đương sự có người đại diên tham gia Tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự”

Tất cả những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh thì được Toà án thừa nhận Do đó, khi giải quyết các vụ việc dân sự, Toà án phải xem xét từng tình tiết, sự kiện trong các trường hợp cụ thể và trên cơ sở yêu cầu công khai, minh bạch trong các hoạt động xét xử mà đồng ý, thừa nhận hay không thừa nhận các tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh

Để giải quyết được vụ việc dân sự thì Tòa án phải nắm vững những tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc,nếu chưa biết phải cho chứng minh làm sáng tỏ Vì vậy, một tình tiết sự kiện mọi người đều biết chỉ không phải chứng minh trong trường hợp Tòa án cũng biết về nó Trên cơ sở này, tại khoản 1 Điều 80 đã quy định những tình tiết này phải được Tòa án thừa nhận Mức độ phổ biến của các tình tiết, sự kiện mọi người đều biết có thể rất khác nhau, có tình tiết, sự kiện phổ biến ở phạm vi rộng nhưng cũng có tình tiết, sự kiện chỉ phổ biến ở phạm vi hẹp, Vấn đề đặt ra là tình tiết

sự kiện ở mức độ nào thì không phải chứng minh Thực tiễn xét xử của các Tòa án cho thấy không thể xác định được phạm vi những người biết tình tiết sự kiện, tức là không thể xác định chính xác mức độ phổ biến của tình tiết sự kiện, sự kiện mọi người đều biết chỉ mang tính tương đối Do đó, không thể có giới hạn tối thiểu về mức độ phổ biến của tình tiết, sự kiện không phải chứng minh Tuy nhiên, nếu tình tiết, sự kiện xảy

ra ở phạm vi lãnh thổ không lớn ở một xã một huyện thì Tòa án phải chỉ ra tình tiết sự kiện xảy ra cho mọi người đều biết

Đối với những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật cũng không cần phải chứng minh Việc không chứng minh những tình tiết này là vì chúng đã được chứng minh trước đó Để giải quyết nhanh các vụ việc dân sự, tránh những trường hợp phức tạp không đáng có, khi giải quyết vụ việc dân sự Tòa án không cho chứng minh lại những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong trường hợp có nghi ngờ về tính đúng đắn của nó Tòa án không cho chứng minh lại nhưng cũng cũng không sử dụng lại tình tiết, sự kiện này để giải quyết

vụ việc dân sự Đối với những trường hợp này Tòa án có thể quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự đã thụ lý, nêu vấn đề xem xét lại tình tiết, sự kiện bằng vệc xem lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm

Đối với những tình tiết sự kiện được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp thì cũng không phải chứng minh Vì những hình thực này được ghi dưới một hình thức nhất định nê rõ ràng và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 27

xác nhận Tuy nhiên, trên thực tế vì những lý do khác nhau đôi khi các tình tiết, sự kiên liên quan đến vụ việc dân sự được xác nhận chưa chính xác hoặc có biểu hiện giải mạo, gian dối Do vậy, đối với những tình tiết, sự kiện tuy đã được công chứng, chứng thực nhưng việc công chứng, chứng thực đó không hợp pháp thì Tòa án vẫn phải chứng minh để phủ nhận hoặc công nhận văn bản công chứng, chứng thực

Ngoài ra, đối với những tình tiết, sự kiện mà đương sự hoặc người đại diện của đương sự bên này thừa nhận hoặc không phản đối thì đương sự bên kia không phải chứng minh Như vậy, sự thừa nhận của một bên đương sự hay người đại diện của họ

có giá trị miễn nghĩa vụ chứng minh cho bên kia Vì một trong vấn đề thuộc bản chất của chứng minh là làm cho bên kia thấy được sự tồn tại của các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự để thừa nhận và quyết định Song trên thực tế, không phải trong trường hợp nào đương sự hay người đại diện của họ thừa nhận cũng đều đúng Trong nhiều trường hợp, đương sự có thể thừa nhận một cách giả mạo để trốn tránh nghĩa vụ pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác Vì vậy, khi cần thiết Tòa án vẫn cần phải cho chứng minh những tình tiết, sự kiện mà các đương sự hay người đại diện của họ đã thừa nhận

1.2.4 Chủ thể của hoạt động chứng minh

Chứng minh là làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Trong Tố tụng dân sự đương sự tham gia tố tụng là chủ thể trung tâm Tuy vậy, chứng minh không chỉ giới hạn ở việc xác định chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự mà còn phải làm rõ tất cả những vấn đề liên quan đến vụ việc dân sự Toà án có nhiệm vụ giải quyết Khi đưa ra yêu cầu, đương sự không chỉ đưa ra những tình tiết, sự kiện để dựa vào đó họ yêu cầu, mà còn đưa ra những căn cứ pháp lý của các yêu cầu Khi quyết định giải quyết các vụ việc dân sự, trong một bản án, quyết định giả quyết vụ việc dân sự của mình Toà án cũng phải chỉ rõ quyết định được dựa trên những căn cứ thực tế và căn cứ pháp lý nào

Vấn đề đặt ra là làm sao để xác định rõ chủ thể chứng minh, quyền và nghĩa vụ của họ như thế nào Vì mỗi chủ thể tham gia tố tụng trong dân sự đều xuất phát từ những mục đích, nhiệm vụ khác nhau nên quyền và nghĩa vụ của họ cũng khác nhau Theo quy định tại các điều 06, 58, 63, 64, 74, 79, 117, 118, 165, 230 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội, chủ thể của hoạt động chứng minh bao gồm đương sự, Toà án cũng như cá nhân, cơ quan, tổ chức, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự, người đại diện hợp pháp cho đương sự

Như vậy, chủ thể chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự, cá nhân,

cơ quan, tổ chức khác và Toà án Trong đó, đương sự có vai trò chủ yếu để chứng

Trang 28

minh cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của mình theo trình tự thủ tục quy định trong

bộ luật tố tụng dân sự

Bộ luật tố tụng dân sự quy định rõ việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của minh thuộc về đương sự Đây là một trong những nguyên tắc xuất phát từ quyền tự định đoạt của đương sự đối với việc khởi kiện Đương sự có yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích của mình thì phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh yêu cầu đó hợp pháp Ngược lại, nếu đương sự phản đối yêu cầu của người khác thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh yêu cầu phản đối đó là có căn cứ pháp luật Bộ luật tố tụng dân sự quy định nghĩa vụ chứng minh đặt ra cho cả hai bên đương sự, bên khởi kiện, bị kiện và những người có quyền và nghĩa vụ liện quan

Bộ luật tố tụng dân sự đề cao vai trò, trách nhiệm chứng minh của đương sự Mỗi bên đương sự tham gia tố tụng đều phải chứng minh tất cả các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự mà trên cơ sở đó họ đưa ra yêu cầu hay phản đối yêu cầu của người khác Trước hết, nguyên đơn phải chứng minh trước, nghĩa là bên có yêu cầu phải đưa

ra các chứng cứ để được Toà án xem xét chấp nhận thụ lý vụ việc dân sự Sau đó bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mới phải chứng minh bằng việc đưa ra chứng cứ phản đối lại yêu cầu của nguyên đơn (theo khoản 1, 2 Điều 79 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội)

Ngoài các đương sự, Bộ luật tố tụng dân sự quy định các cá nhân, cơ quan, tổ chức, khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng phải chứng minh (theo khoản 3 Điều 79 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội) Tuy không

có quyền và lợi ích gắn liền với vụ việc dân sự như đương sự nhưng cá nhân, cơ quan,

tổ chức khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác nếu không thực hiện nghĩa vụ chứng minh thì ẽ dẫn đến sự bất lợi cho đương sự

Đối với người đại diện hợp pháp của đương sự, trong Bộ luật tố tụng dân sự không có quy định trực tiếp quyền và nghĩa vụ của họ Nhưng tại Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự quy định người đại diện của đương sự thay mặt tố tụng của đương sự nên quyền và nghĩa vụ của họ được hình thành trên cơ sở quyền và nghĩa vụ của đương sự Bởi vậy, nên người đại diện cho đương sự nào thì họ có nghĩa vụ chứng minh cho nghĩa vụ của đương sự đó Người đại diện theo pháp luật, người đại diện do Toà án chỉ định có quyền và nghĩa vụ phải thực hiện tốt nghĩa vụ chứng minh với đương sự mà họ đại diện Người đại diện theo uỷ quyền của đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong phạm vi được uỷ quyền Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi tham gia tố tụng với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng có quyền và nghĩa vụ chứng minh (Theo khoản 2 Điều

Trang 29

64 luật số 65/2011/QH12 của Quốc hội) Ngoài việc giúp đỡ đương sự về mặt pháp lý

để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự chứng minh băng việc đưa ra các chứng cứ, lý lẽ để chứng minh cho các yêu cầu hoặc phản đối các yêu cầu đó là có cơ sở

Toà án là chủ thể giải quyết các vụ việc dân sự nhưng không có nghĩa vụ chứng minh Tuy vậy, để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự, trong một số trường hợp, Toà

án vẫn phải chứng minh để làm rõ Ví dụ như, Trong trường hợp đương sự không thể thu thập được chứng cứ thì có thể yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ (Theo khoản 2 điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự) Toà án thực hiện việc đánh giá, công bố công khai chứng cứ trước khi sử dụng (Điều 96, Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự) Mặt khác, Toà án cũng phải chỉ rõ cơ sở quyết định giải quyết vụ việc dân sự Như vậy, việc chứng minh của Toà án mang tính hỗ trợ cho việc chứng minh của đương sự và phục

vụ cho mục đích cuối cùng của mình là giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự

Việc thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ chứng minh của một chủ thể

có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự do vậy, Bộ luật tô tụng dân

sự quy định các chủ thể chứng minh phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện chứng minh của họ

1.2.5 Các phương tiện chứng minh

Theo Từ điển tiêng Việt, Nhà xuất bản giáo dục trang 610, phương tiện được

hiểu : “cái dùng để tiến hành công việc gì”9, Mỗi vụ việc dân sự đều có dối tượng riêng Việc sử dụng phương tiện chứng minh nào trong vụ việc dân sự là tuỳ thuộc vào những tình tiết, sự kiện thuộc đối tượng chứng minh của vụ việc dân sự cần giải quyết Một số công cụ thường được thực hiện như lấy lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng, kết luận của cơ quan giám định gọi là phương tiện chứng minh

Phương tiện chứng minh là những công cụ được sử dụng để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự thông qua các chủ thể chứng minh thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

Hoạt động chứng minh có vai trò rất lớn, nó quyết định dến kết quả của qua trình giải quyết vụ việc dân sự để đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự được diễn ra đúng đắn, Bộ luật Tố tụng dân sự có quy định những phương tiện chứng minh cụ thể

để làm công cụ chứng minh: các tài liệu đọc được phải là bản chính, các tài liệu nghe được, nhìn được phải có văn bản xác định xuất xứ; các vật chứng, lời khai của đương sự; người làm chứng phải được ghi lại dưới một hình thức nhất định theo luật quy định

9 Từ điển Tiếng việt, nhà xuất bản giáo dục 2005, Gs Hoàng Phê, Trang 610.

Trang 30

Trong một vụ việc dân sự cụ thể, các đương sự có thể dùng nhiều phương tiện chứng minh để làm rõ các tình tiết, sự kiện, bản chất vụ việc

1.2.6 Quá trình chứng minh

Theo triết học Mác- lênin, quá trình chứng minh thực chất là quá trình nhận thức chân lý khách quan Những nguyên tắc của phương pháp nhận thức biện chứng giữ vai trò đặc biết quan trọng đối với việc hình thành thói quen tư duy biện chứng trong đội ngũ cán bộ, những chủ thể tham gia tiến hành tố tụng Những nguyên tắc đó được thẻ hiện trong lý luận chứng cứ và trong luật tố tụng dưới dạng những yêu cầu, chuẩn mực điều tiết hoạt đông nhận thức và hoạt động thực tiễn Đó là những yếu tố đảm bảo cho quá trình chứng minh tránh được những sao lầm, lệch lạc trên con đường

đi tới chân lý Hành động chứng minh được diễn ra trong suốt quá trình giải quyết vụ việc dân sự Xét về trình tự tố tụng, quá trình chứng minh là quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ, trên cơ sở đó xác định sự thật vụ án Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các chủ thể phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình mà

bộ luật tố tụng dân sự đã quy định trong quá trình tố tụng Kết quả giả quyết vụ việc dân sự phần lớn phụ thuộc vào việc chứng minh Vì vậy, trong quá trình này đòi hỏi phải thận trọng, tỉ mỷ và có đủ thời gian để đạt kết quả tốt nhất

Theo quy định tại Điều 165, 175 Bộ luật tố tụng dân sự thì ngay khi khởi kiện thụ lý vụ án, đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh bằng việc nguyên đơn gửi kèm theo đơn khởi kiện là các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình; bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án phải gửi cho Toà án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ kèm theo Trong quá trình Toà án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Toà án (Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự) Tại phiên Toà, các bên đương sự tham gia tranh luận để chứng minh bảo vệ quyền lợi của minh, thời gian tranh luận của họ không hạn chế (Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự) Khi có kháng cáo, người kháng cáo phải gửi cho Toà án các tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ hợp pháp (khoản 3 Điều

244 bộ luật tố tụng dân sự)

Theo Điều 83 Bộ luật tố tụng dân sự, trong trương hợp đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ và họ có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ Khi áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ, Thẩm phán ra quyết định bằng văn bản, từ việc lấy lời khai của đương sự, người làm chứng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự tại Điều 95, 96 Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác; Toà án phải đánh giá từng chứng cứ; mọi chứng cứ phải được công bố và sử dụng công khai như nhau, trừ trường hợp có liên

Trang 31

quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự (Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự)

1.3 Lược sử hình thành về chế định chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

1.3.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1989

Sau cách Mạng Tháng 8 năm 1945 thành công nước Việt Vam dân chủ Cộng Hoà ra đời Thời kỳ đó chính quyền cách mạng còn non trẻ, nền tư pháp của nước nhà bắt đầu hình thành, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật rất khó khăn, nhưng nhận thức được vai trò, ý nghĩa của pháp luật trọng đời sống xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí sắc lệnh 90/SL ngày 10-10-1945 cho phép áp dụng luật lệ của chế độ cũ trừ những điều khoản trái với nền độc lập và dân chủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

Sau khi hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước ta ra đời thì nguyên tắc cơ bản

về quyền và nghĩa vụ công dân đã được chính thức công nhận tại chương 2 Hiến pháp

1946 Thời gian này, văn bản pháp luật tố tụng dân sự đã được ban hành; chế định chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự được quy định trong một số văn bản

luật Tại Điều 1 luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 14-07- 1960 quy định: “các Toà án

nhân dân là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Toà án nhân dân xét xử những vụ án hình sự và dân sự trừng trị những kẻ phạm tội và giải quyết những việc tranh chấp về dân sự trong nhân dân” Trong luật tổ chức Viện Kiểm sát

nhân dân ngày 15-07-1960 có quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát

nhân dân; tai khoản g Điều 3 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân có quyền khởi tố,

hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích nhà nước và của nhân dân” Thông tư số 2368-NCPL ngày 19-12-1961 của Toà án nhân

dân Tối cao quy định: “Trong bản án sơ thẩm dân sự phải chỉ ra: nguyên đơn yêu cầu

được giải quyết những quyền lợi cụ thể gì và nêu ra những bằng chứng gì làm căn cứ -

ý kiến của bị đơn đối với lời yêu cầu của bên nguyên đơn có chấp nhận hay không lời yêu cầu ấy, hoặc chỉ chấp nhận đến mức nào thôi, dẫn những bằng chứng gì làm căn

cứ cho ý kiến đó”

Đề án năm 1964 của Toà án nhân dân tối cao về hướng tổ chức các Toà án địa

phương quy định củ thể về nghĩa vụ chứng minh của đương sự: “Trong các vụ kiện về

dân sự, các bên đương sự có trách nhiệm chứng minh các yêu cầu của mình và đề xuất chứng cứ nếu các chứng cứ do các bên đương sự xuất trình chưa đầy đủ thì Toà án sẽ yêu cầu họ xuất trình các chứng cứ bổ sung”

Trang 32

Thông tư số 06/TĐ_TC ngày 25/02-1974 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn việc điều tra trong tố tụng dân sự quy định rõ hơn:

Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn và người dự sự) có quyền đề xuất những yêu cầu và có nhiệm vụ trình bày những chứng cứ, những lý lẽ để chứng minh những yêu cầu và bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của mình

Trong trường hợp Viện kiểm sát nhân dân khởi tố vụ kiện về dân sự để bảo vệ nhũng quyền lợi của Nhà nước, của tập thể và của nhân dân, Toà án nhân dân cũng phải yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân cung cấp những tài liệu căn cứ cần thiết

Nhiệm vụ của Toà án nhân dân là phải kiểm tra kĩ những chứng cứ mà các đương sự đã đề xuất cần thết để làm sáng tỏ sự thật

Ngày 29-11-1989, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Có thể xem đây là bước thau đổi, phát triển rõ nết của pháp luật dân sự Việt Nam Điều 3 trong pháp lệnh đã quy định rõ về nghĩa vụ cung

cấp, thu thập chứng cứ: “Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền,

lợi ích của mình Toà án có nhiệm vụ xem xét mọi tình tiết của vu án và khi cần thiết

có thể thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác”

Khoản 3 Điều 20 của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự cũng đã xác

định : các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ phải có mặt theo giấy triệu tập

của Toà án Khoản 3 Điều 34 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ghi nhận:

“người khởi kiện phải làm đơn ghi rõ họ tên, địa chỉ của mình, của bị đơn và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nội dung vụ việc, yêu cầu của mình và những tài liệu, lý lẽ chứng minh cho những yêu cầu đó” Tại khoản 3 Điều 21 pháp lệnh thủ

tục giải quyết các vụ án dân sự ghi:

Nếu đương sự là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần không thể tham giai tố tụng được thì phải có người đại diện tham gia tố tụng

Nếu không có ai đại diện cho người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, người vắng mặt không có tin tức thì Toà án cử một người thân thích của đương sự hoặc một thành viên của một tổ chức xã hội làm người đai diện cho

họ

Quyền và nghĩa vụ của người đại diện được uỷ quyền được quy định tại Điều

23 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự: “Người đại diện được uỷ quyền thực

hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong phạm vi được uỷ quyền”; khoản 3

Điều 25 của pháp lệnh quy định: “Người bảo vệ quyền lợi của đương sự có nghĩa vụ

sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm sáng tỏ sự thật của vụ án; giúp đương sự về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ”

Trang 33

Các quy định trên của pháp luật ngày càng làm cho chế đinh chứng cứ và chứng minh trở nên quan trọng hơn, xác định được vai trò của chứng cứ và chứng minh trong hoạt động tố tụng dân sự

1.3.2 Giai đoạn từ 1989 dến 2004

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 ra đời là tiền thân của bộ luật tố tụng dân sự hiện nay Tuy nhiên, ba pháp lệnh này lại mang tính chất chung chung định hướng, các quy định còn chưa rõ ràng, vẫn chưa thể thống nhất các vụ việc dân sự về một trình tự thủ tục chung gây khó khăn cho Toà án cũng như người tham gia tố tụng Vai trò chứng cứ vẫn chưa được chú trọng nhiều, vấn đề chứng minh chủ yếu thuộc về Toà án

Theo thông tư liên ngành số 09/TT-LN ngày 01-10-1990 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự:

- Khi viện kiểm sát khởi tố vụ án thì viện kiểm sát có trách nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết đối với việc giải quyết vụ án cho Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ

án

- Trong trường hợp Viện kiểm sát khởi tố vụ án, nếu thấy cần thiết thì Toà án

có thể tiến hành điều tra thu thập thêm chứng cứ Toà án có thể trao đổi với Viện kiểm sát để Viện kiểm sát cung cấp thêm tài liệu hoặc rút quyết định khởi tố

Bộ luật Tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chử nghĩa Việt Nam khoá, kì họp thứ 5 thông qua ngày 15-6-2004, có hiệu lực từ ngày 01-01-2005

Kế thừa những mặt tích cực và nhận thức được những hạn chế của các pháp lệnh trên,

Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định thêm nhiều điểm mới và tiến bộ hơn, Toà án không tự làm thay cho các đương sự trong việc thu thập chứng cứ, các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp

1.3.3 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

Ngày 02/01/2002 Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến công tác cải cách ngành Toà án và Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị

về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Vấn đề nâng cao chất lượng xét xử, cải cách lại tổ chức của Toà án trong lĩnh vực tố tụng được chú trọng Ngày 27/05/2004 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chử nghĩa Việt Nam đã ban hành Bộ luật tố tụng dân

sự và bộ luật này có hiệu lực từ ngày 1/1/2005 Bên cạnh ban hành bộ luật tố tụng dân

Trang 34

sự, Nhà nước cũng ban hành một số văn bản có liên quan nhằm hướng dẫn chi tiết các quy định để thi hành Bộ luật tố tụng dân sự như: Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP ngày

31/03/2005 về hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “những quy

định chung” của bộ luật tố tụng dân sự 2004; Nghị quyết 04/2005/NQ/HĐTP ngày

17/09/2005 về hướng dẫn thi hành một số quy định về “chứng minh và chứng cứ”,

Nghị quyết 04/2005/NQ/HĐTP cũng ban hành một số mẫu văn bản tố tụng dân sự, cụ thể; Biên bản giao nhận chứng cứ; quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ; quyết định trưng cầu giám định; quyết định định giá tài sản; quyết định uỷ thác thu thập chứng cứ

Trong quá trình áp dụng, một số quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, nhằm hoàn thiện hơn các quy định của bộ luật tố tụng dân sự Quốc hội đã ban hành luật số 65/2011/QH12 của Quốc hội: luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Bộ luật tố tụng dân sự

Trang 35

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG PHÁP LÝ CỦA LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

VỀ CHỨNG CỨ VÀ VẤN ĐỀ CHỨNG MINH Trong đời sống xã hội các quan hệ xã hội luôn diễn ra hằng ngày, theo đó các

chủ thể trong những mối quan hệ luôn có quyền tự do, tự nguyện, bình đẳng và được pháp luật bảo vệ Tuy nhiên, khi có mối quan hệ phát sinh cũng đồng nghĩa với việc có những tranh chấp mang tính dân sự xảy ra mà các chủ thể tham gia không tự mình giải quyết được Theo pháp luật Việt Nam thì Toà án là cơ quan duy nhất có chức năng xét

xử các tranh chấp trên khi có đơn yêu cầu giải quyết hay khởi kiện Trong pháp luật về

Tố tụng dân sự, Toà án chỉ đóng vai trò là người phân xử trên những gì mà đương sự cung cấp cho Toà án khi tiến hành khởi kiện vụ án dân sự, Toà án không có nghĩa vụ thu thập chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu của đươg sự mà nghĩa vụ chứng minh là thuộc về chính đương sự Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án phải tạo điều kiện cho các bên đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình

là có căn cứ và hợp pháp Việc các đương sự đưa ra chứng cứ và thực hiện việc tự chứng minh cho những yêu cầu của mình đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vụ án dân sự Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn một số hạn chế nhất định dẫn đến việc cung cấp chứng cứ và tự chứng minh của đương sự không phát huy hết vai trò Để tìm hiểu thêm các quy định của pháp luật về chứng cứ và vấn đề chứng minh, thực tiễn áp dụng các quy định đó như thế nào, đây cũng là nội dung mà người viết muốn phân tích

trong chương này

2.1 Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự

2.1.1 Các biện pháp thu thập chứng cứ

Dù áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc tự mình thấy cần thiết áp dụng thì Thẩm phán cũng đều phải tuân thu đầy đủ quy định của pháp luật Đối với những trường hợp thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương

Trang 36

sự, Thẩm phán chỉ chấp nhận yêu cầu của đương sự về thu thập chứng cứ khi đã xác định đầy đủ các điều kiện pháp lý để áp dụng Đồng thời Thẩm phán phải áp dụng những biện pháp mà pháp luật quy định Theo khoản 2 Điều 85 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội khi xác định đủ các điều kiện để thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, Thẩm phán có quyền ấp dụng một hoặc một số biện pháp thu thập sau đây:

- Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng

- Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng

- Trưng cầu giám định

- Quyết định định giá tài sản, yêu cầu thẩm định giá tài sản

- Xem xét, thẩm định tại chỗ

- Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ

- Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự

Khi áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ cần phải có những kĩ năng sau:

2.1.1.1 Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng

Đây là một trong những biện pháp điều tra quan trọng để thu thập chứng cứ, đương sự là người tham gia vụ việc nên biết được nhiều vấn đề liên quan đến vụ việc dân sự Việc lấy lời khai của đương sự sẽ giúp cho Tòa án làm rõ được các tình tiết của

vụ án Tòa án muốn làm sáng tỏ vụ việc phải tiến hành lấy lời khai Dù cho các bên đương sự đã thừa nhận một trong các yêu cầu của phía đương sự bên kia thì Tòa án cũng phải kiểm tra lại và làm rõ hơn Khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dụng của bản khai chưa đầy đủ, thì Thẩm phán yêu cầu đương sự phải tự mình viết lời khai hoặc bổ sung và kí tên của mình Chỉ trong trường hợp đương sự không tự mình viết được thì Thẩm phán hoặc thư ký tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản, bổ sung vào biên bản ghi lời khai của họ Biên bản trên cùng lời khai của Tòa án phải có chữ ký của người được lấy lời khai, người ghi biên bản và phải có dấu của Tòa án, nếu

có nhiều trang thì phải ký vào từng trang và phải có dấu giáp lai Nếu biên bản lấy lời khai được lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản Trong trường hợp lấy lời khai của đương sự là người chưa đủ sáu (06) tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự; hoặc đương sự là người từ đủ sáu (06) tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi (15) thì phải tiến hành lấy lời khai với sự có mặt của người đại diện hợp pháp của đương sự đó

Trang 37

Việc lấy lời khai của đương sự phải do Thẩm phán tiến hành Thư ký Tòa án chỉ

có thể giúp Thẩm phán ghi lời khai của đương sự vào biên bản Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại Tòa án Chỉ trong trương hợp đương sự không thể đến Tòa án vì những lý do khách quan, chính đáng như đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt

tù, bị ốm đau, bệnh tật… thì Thẩm phán có thể lấy lời khai của đương sụ ngoài trụ sở Tòa án Ví dụ như: Lấy lời khai của đương sự bị tạm giam phải được trại giam bố trí

và sau đó phải có xác nhận của trại giam

Lấy lời khai của người làm chứng, người làm chứng không có quyền và lợi ích liên quan đến vụ việc dân sự nên thường khai báo khách quan hơn Việc lấy lời khai của người làm chứng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm rõ các tình tiết của vụ việc dân sự đảm bảo cho việc giải quyết được toàn diện, chính xác, công minh, đúng pháp luật Theo khoản 1 Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án lấy lời khai của người

làm chứng “theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, thẩm phán tiến

hành lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở tòa án hoặc ngoài trụ sở tòa án”

Như vậy, việc lấy lời khai của người làm chứng có thể xuất pháp từ yều cầu của đương

sự cũng có thể do Tòa án thấy cần thiết để làm rõ sự thật vụ án thì có quyền chủ động lấy lời khai của người làm chứng Thẩm phán giải quyết vụ việc chịu trách nhiệm lấy lời khai người làm chứng, khi tiến hành lấy lời khai tùy từng trường hợp mà Tòa án có thể để họ tự khai hoặc trực tiếp lấy lời khai của họ

Việc lấy lời khai của người làm chứng có một số điểm khác biệt nhất định so với việc lấy lời khai của đương sự thể hiện như: Đối với những vụ, việc dân sự mà có nhiều người làm chứng thì Tòa án chỉ lấy lời khai của những người làm chứng cần thiết cho việc giải quyết vụ việc dấn sự; trước khi lấy lời khai của người làm chứng thì Thẩm phán phải làm rõ mối quan hệ giữa người làm chứng với đương sự để đánh giá đúng lời khai của họ; Thẩm phán lấy lời khai riêng từng người làm chứng một, không

để họ tiếp xúc với nhau hoặc với đương sự trong thời gian khai báo; khi đặt câu hỏi cho người làm chứng Thẩm phán không được đặt câu hỏi có tính chất gợi ý

Thủ tục lấy lời khai người làm chứng được tiến hành như lấy lời khai của đương sự được quy định tại Khoản 2 Điều 86 luật số 65/2011/QH12 của Quốc hội Việc lấy lời khai của người làm chứng chưa đủ mười tám tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý trông non người đó (Điều 87 luật 65/2011/QH12 Quốc Hội)

2.1.1.2 Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng

Trang 38

Theo Điều 88 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội, khi đương sự có yêu cầu thì tòa án sẽ tiến hành đối chất Trong trường hợp xét thấy có mâu thuẫn giữa các lời khai, Tòa án cũng có thể tự mình quyết định cho đối chất mà không cần phải có yêu cầu của đương sự Việc đói chất diễn ra giữa những người có lời khai mâu thuẫn nhau, giữa đương sự với người làm chứng, giữa người làm chứng với nhau Tùy từng trường hợp, tùy thuộc vào những điểm mâu thuẫn cần đối chất, Thẩm phán tiến hành cho đối chất từng vấn đề một hoặc để từng người trình bày về các vấn đề đối chất theo thứ tự

Muốn việc đối chất có hiệu quả Thẩm phán phải nghiên cứu kỹ, tìm ra những điểm mâu thuẫn giữa các lời khai, tài liệu mà hai bên xuất trình với những tài liệu khác Từ đó đặt ra yêu cầu, kế hoạch cho việc đối chất

Thẩm phán tự mình hoặc thư ký Tòa án ghi biên bản đối chất, biên bản đối chất phải có chữ ký của người tham gia đối chất và đóng dấu của Tòa án

2.1.1.3 Trưng cầu giám định

Trưng cầu giám định là việc Tòa án quyết định đưa vấn đề liên quan đến vụ việc dân sự cần xác định ra lấy ý kiến kết luận của người có chuyên môn, kinh nghiệm

về lĩnh vự đó Trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự, do

đó Toà án chỉ tiến hành trưng cầu giám định khi có yêu cầu của đương sự Theo Khoản

1 Điều 90 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội thì: “Theo sự thỏa thuận lựa chọn của các

bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, những vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định” Như vậy, tùy theo sự thỏa thuận

của các bên đương sự, theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự Tòa án mới ra quyết định trưng cầu giám định Tuy nhiên, Trong trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại Người

đã thực hiện việc giám định trước đó không được thực hiện giám định lại Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 46 của

Bộ luật này không được thực hiện việc giám định

Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu có chứng cứ bị tố cáo là giải mạo, bị nghi ngờ về tính xác thực Muốn khẳng định chắc chấn thì phải giám định chứng cứ mới xác định chứng cứ đó giả mạo hay xác thực Trong các trường hợp này, tòa án chỉ tiến hành trưng cầu giám định theo sự thỏa thuận lựa chọ của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự Đương sự có thể yêu cầu Toà án trưng cầu giám định bằng văn bản, có thể làm thành văn bản riêng, có thể ghi trong lời khai, biên bản lời khai, biên bản đối chất

Trang 39

Thẩm phán phải căn cứ theo Điều 90 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội, luật 13/2012/QH13 luật của Quốc hội để ra quyết định trưng cầu giám định Quyết định trưng cầu giám định phải có các nội dung sau: Ngày, tháng, năm ra quyết định và tên Tòa án ra quyết định; Tên, địa chỉ của tổ chức giám định nếu tòa án trưng cầu tổ chức hoặc họ, tên, địa chỉ của người giám định nếu Tòa án trưng cầu người đó tiến hành giám định; Nguồn gốc và đặc điểm của đối tượng giám định; Tên các tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo; Những vấn đề cần giám định; Các yêu cầu cụ thể cần có kết luận giám định; Thời hạn trả kết luận giám định

Quyết định giám định phải được gửi cho các đương sự, tổ chức giám định tư pháp, giám định viên

2.1.1.4 Quyết định định giá tài sản, yêu cầu thẩm định giá tài sản

Cũng như các biện pháp khác, Thẩm phán chỉ định giá tài sản khi có yêu cầu của đương sự Tuy nhiên, nếu xác định thấy có việc các đương sự thỏa thuận về giá thấp hơn giá thự tế nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí thì Thẩm phán có quyền quyết định định giá tài sản quy định này chỉ áp dụng cho việc giải quyết vụ án cấp sơ thẩm Trường hợp Tòa án cấp Phúc thẩm, Tòa án cấp Giám đốc thẩm, Tái thẩm hủy án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm thì việc đánh giá tài sản chỉ được thực hiện khi một hoặc các bên có yêu cầu

Hội đồng định giá tài sản do Tòa án quyết định thành lập gồm: Chủ tịch Hội đồng, các thành viên là đại diện cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan Căn cứ Điều 92 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội Thẩm phán ra quyết định định giá và quyết định phải có những nội dung sau: Ngày, tháng, năm ra quyết định, nêu tên Tòa án ra quyết định; Tài sản cần định giá; Họ tên cơ quan công tác của Chủ tịch và các thành viên Hội đồng định giá; Nhiệm vụ của Hội đồng định giá; Thời gian, địa điểm tiến hành định giá

Tòa án cử thư ký Tòa án để giúp cho Hội đồng định giá ghi biên bản, Hội đồng định giá chỉ tiến hành khi có mặt đầy đủ các thành viên của hội đồng, Việc định giá phải tiến hành đúng thời gian, địa điểm ghi trong quyết định

2.1.1.5 Xem xét, thẩm định tại chỗ

Việc xem xét, thẩm định tại chỗ là biện pháp thu thập chứng cứ được tiến hành trong trường hợp tài sản tranh chấp, vật chứng không thể mang đến tòa án để xem xét được Qua việc xem xét thẩm định tại chỗ giúp tòa án có nhận thức đúng, toàn diện về

sự việc Xem xét, thẩm định tại chỗ là việc tòa án đến tận nới có tài sản, vật chứng hoặc xảy ra sự việc để nghiên cứu, xác minh nắm vững sự việc

Trang 40

Để việc xem xét thẩm định có giá trị pháp lý cao thì việc xem xét thẩm định tại chỗ, phải do Thẩm phán tiến hành với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nới có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước về việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó

Việc xem xét thẩm định tại chỗ phải được ghi thành văn bản Biên bản đó phải được ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt cử Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nới có đối tượng cần xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định yêu cầu đại diện ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ

sự có yêu cầu xem xét, thẩm định và xét thấy yêu cầu đó có căn cứ, thẩm phán ra quyết định tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ nếu thấy cần thiết Quyết định phải ghi rõ ngày tháng năm ra quyết định; tên Toà án ra quyết định; đối tượng và những vấn đề cần xem xét, thẩm định tại chỗ; thời gian, địa điểm tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ

Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp

xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định kèm theo văn bản

đề nghị cử đại diên tham gia của cơ quan tổ chức đó Trong trường hợp vắng một trong các đại diện thì Thẩm phán phải hoãn việc xen xét, thẩm định

Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ phải được giao cho đương sự để họ biết

và chứng kiến việc xem xét, thẩm định tại chỗ Nếu đương sự vắng mặt thì việc xem xét, thẩm định vẫn được tiến hành

2.1.1.6 Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ

Là trường hợp Tòa án thụ lý giải quyết vụ án dân sự giao cho Tòa án khác thu thập chứng cứ vì những lí do như đương sự hoặc nhân chứng ở quá xa hoặc bị ốm đau, tài sản tranh chấp ở một Huyện khác, Tỉnh khác thì có thể ủy thác cho Tòa án nơi có đương sự, nhân chứng hoặc nơi có tài sản tranh chấp Trong trường hợp việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở ngoài lãnh thổ Việt Nam thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài như cơ quan lãnh sụ, đai

sứ quán Tòa án cũng có thể làm thủ tục ủy thác cho cơ quan tiến hành tố tụng dân sự

ở nước ngoài thu thập chứng cứ nếu nước đó và Việt Nam đã ký kết hiệp định tương trợ tư pháp hoặc cùng Việt Nam gia nhập điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này

10 Điều 89 luật 65/2011/QH12 của Quốc hội,

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w