Bởi đây là nổi lo của những nhà làm luật nên Bộ luật dân sự 2005 đã quy định tại khoản 2 Điều 58 những trường hợp nào thì người chưa thành niên cần được giám hộ: “ Người chưa thành niên
Trang 1KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(Niên Khóa 2006 - 2010) TÊN ĐỀ TÀI CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ GIÁM HỘ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Th.s TĂNG THANH PHƯƠNG LÊ QUỐC KHẢI
Lớp: Tư pháp 1- K32
Cần Thơ, tháng 10- 2009
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 4
MỤC LỤC Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
-KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIÁM HỘ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 4
1.1 Một số khái niệm chung 4
1.1.1 Người chưa thành niên là gì? 4
1.1.2 Nơi cư trú của người chưa thành niên 6
1.2 Khái niệm chung về giám hộ 7
1.2.1 Giám hộ và giám hộ người chưa thành niên 7
1.2.2 Ý nghĩa của việc giám hộ người chưa thành niên 8
1.3 Những trường hợp nào người chưa thành niên cần người giám hộ? 9
-1.4 Lịch sử phát triển của chế định giám hộ người chưa thành niên trong pháp luật dân sự Việt Nam 11
1.5 Sự cần thiết của chế định giám hộ 13
CHƯƠNG 2: 14
-CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ GIÁM HỘ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 14
2.1 Xác lập việc giám hộ 14
2.1.1 Điều kiện cá nhân làm người giám hộ 14
2.1.2 Các hình thức của việc giám hộ 16
2.1.2.1 Giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên 16
2.1.2.2 Giám hộ được cử và thủ tục cử người giám hộ 18
-2.1.3 Đăng ký việc giám hộ người chưa thành niên tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền 19
2.2 Thực hiện việc giám hộ 22
2.2.1 Quyền của người giám hộ 22
Trang 52.2.2 Nghĩa vụ của người giám hộ 24
2.3.Giám sát việc giám hộ 27
2.4 Những trường hợp thay đổi chấm dứt việc giám hộ 30
2.4.1 Những trường hợp thay đổi người giám hộ 30
2.4.2 Chấm dứt việc giám hộ 31
CHƯƠNG 3: 35
-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ CHẾ ĐỊNH GIÁM HỘ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 35
3.1 Thực trạng áp dụng chế định giám hộ trên địa bàn thành phố Cần Thơ 35 3.1.1 Thực trạng giám hộ phường An Cư quận Ninh kiều thành phố Cần Thơ 35
3.1.2 Việc giám hộ tại phường Hưng Lợi quận Ninh kiều thành phố Cần Thơ 35
3.1.3.Thực trạng giám hộ tại phường Lê Bình quận Cái Răng thành phố Cần Thơ 36 3.2.Đề xuất các quy định của pháp luật về chế định giám hộ 38
KẾT LUẬN 41
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 6-LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em là mầm sống cho tương lai mai sau, là chủ nhân tương lai của đất nước,
kế tục và phát triển sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của thế hệ đi trước Đảng
và Nhà nước ta luôn có những chính sách quan tâm, ưu tiên đối với trẻ em đây là thế
hệ cần được bảo vệ và đối xử một cách đặc biệt Công cuộc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mục tiêu quan trọng và chiến lược trong đường lối cách mạng Việt Nam
từ khi có Đảng lãnh đạo Trong tiến trình cách mạng bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử dân tộc thì thế hệ trẻ em luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và quán triệt trong suốt sự nghiệp cách mang Việt Nam
Điều 26 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 cũng quy định:
“ Gia đình, Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự trẻ em Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, danh dự của trẻ
em điều bị xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật”
Đồng thời nếu người chưa thành niên có tài sản riêng thì họ sẽ dễ bị kẻ xấu lợi
dụng và xâm hại đến tài sản vì người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ
về thể chất cũng như tinh thần và là người có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ cho nên ở giai đoạn này người chưa thành niên cần phải có người quan tâm, chăm sóc, giáo dục, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cũng như đại diện cho họ trong một
số giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp luật cần có người đại diện
Để phòng ngừa và ngăn chặn tình trạng xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, tính mạng cũng như tài sản của người chưa thành niên, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chính sách, biện pháp để bảo vệ trẻ em Bởi vì trẻ em rất thơ ngây trước mọi sự việc chưa có nhiều kinh nghiệm sống, nên một khi bị xâm hại đến lợi ích, danh dự, nhân phẩm thì trẻ em sẽ dễ bị tự ti, mặc cảm, hoặc có những hành vi gây tổn hại nghiêm trọng đến xã hội Tuy đã được nhà nước quan tâm chăm lo nhưng thời gian gần đây tình trạng trẻ em bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm tính mạng, tài sản và trẻ
em gây ra một số vụ án hình sự một cách nghiêm trọng rất đáng lo ngại và đây cũng chính là nỗi đau cho nhiều gia đình và cho toàn xã hội Tuy nhiên, trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo về và giáo dục người chưa thành niên vẫn phụ thuộc chính vào cha, mẹ người chưa thành niên bởi vì họ mới chính là những người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên
Bởi đây là nổi lo của những nhà làm luật nên Bộ luật dân sự 2005 đã quy định tại khoản 2 Điều 58 những trường hợp nào thì người chưa thành niên cần được giám hộ:
“ Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha,
mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu”
Trang 7Cũng xuất phát từ lý do trên, với tư cách là một sinh viên luật nên người viết đã thấy được tầm quan trọng của trẻ em nên cần được bảo vệ Từ đó, có thể đưa ra những giải pháp trên cơ sở những nguyên nhân đã tìm hiểu được và mục đích cuối cùng là bảo vệ trẻ em
Vì vậy người viết đã đi sâu nghiên cứu đề tài “ Chế độ pháp lý về giám hộ người chưa thành niên’’ Dựa vào những kiến thức trong quá trình học tập và tìm hiểu thực
tế để phục vụ cho công việc chuyên môn sau này
2.Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết mang tính chất tìm hiểu, nghiên cứu một số quy định về chế độ pháp lý
về giám hộ người chưa thành niên trong pháp luật dân sự Việt Nam Đồng thời cũng tìm hiểu tính thực thi của chế định giám hộ trong cộng đồng và được áp dụng trong thực tế như thế nào? Trên cơ sở đó tổng hợp một số giải pháp chung của một số nhà khoa học và đề xuất ý kiến của bản thân nhằm hạn chế và loại trừ tình hình xâm hại này ra khỏi xã hội
Ngoài việc nghiên cứu quy định của luật người viết còn tìm hiểu những thực trạng của việc giám hộ và một số điển hình cụ thể của việc giám hộ ở một số địa phương ở thời gian gần đây, từ đó đi sâu nghiên cứu những bất cập trong quá trình thực hiện việc giám hộ và các hành vi xâm hại đến người chưa thành niên, đưa ra giải pháp phòng ngừa những hành vi xâm hại xảy ra
4 Phương pháp nghiên cứu
Bằng sự kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích luật viết phân tích tình huống thực tế, phương pháp so sánh, các sự kiện pháp lý nảy sinh trên thực tế, sao chép lại ý kiến của các luật gia, các nhà bình luận khoa học nổi tiếng trong nước để tìm ra những điểm chưa phù hợp trong Bộ luật dân sự
Bên cạnh đó bài viết còn tham khảo những văn bản pháp luật và một số tài liệu
có liên quan khác, từ đó người viết vận dụng thực tế để nghiên cứu đề tài này
Trang 9CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIÁM HỘ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG
LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
1.1 Một số khái niệm chung
1.1.1 Người chưa thành niên là gì?
Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật dân sự 2005, định nghĩa về người chưa thành
niên như sau: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” Như vậy, để một người được gọi là người chưa
thành niên thì luật quy định người này phải chưa đủ mười tám tuổi
Một người ở những độ tuổi khác nhau thì pháp luật quy định cho họ những quyền
và nghĩa vụ khác nhau phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và các giai đoạn hoàn thiện nhân cách của người đó, phù hợp với quan hệ xã hội mà họ tiếp xúc
Nói theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin thì pháp luật đều có tính lịch sử và xã hội Do vậy, một người ở độ tuổi chưa thành niên cần được giáo dục thì pháp luật quy định cho họ có những quyền và nghĩa vụ gì? Có năng lực hành vi ra sao? Và tại sao pháp luật lại quy định cho họ như vậy? Để làm sáng tỏ những vấn đề này ta lần lượt tìm hiểu các quy định của pháp luật:
Tại Điều 17 Bộ Luật dân sự 2005 quy định: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự” Đây chính là quy định năng lực hành vi dân sự của một cá nhân với đầy đủ
tư cách chủ thể của một quan hệ pháp luật còn người chưa thành niên trong khi đó họ chưa phải là một chủ thể của quan hệ pháp luật đầy đủ Như vậy thì pháp luật quy định năng lực hành vi dân sự của họ như thế nào?
Theo quy định tại Điều 20 Bộ luật dân sự 2005 thì năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên như sau:
- Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác
- Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự mà không cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi là những người có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ hay năng lực hành vi một phần ta có thể phân thành hai trường hợp:
+ Người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến mười lăm tuổi: Trường hợp này người chưa thành niên có năng lực hành vi chưa đầy đủ nên còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống và sinh hoạt nên cần có người giam hộ quan tâm chăm sóc giúp đỡ
trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, ở giai đoạn này người chưa thành niên cần
Trang 10người giám hộ chăm sóc đóng vai trò như là cha, mẹ của người chưa thành niên để nuôi dạy cho người chưa thành niên phát triển một cách tốt nhất và đại diện cho họ thực hiện một số giao dịch dân sự mà pháp luật đòi hỏi phải có người đại diện
+ Người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi: Trường hợp này người chưa thành niên nếu có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ thì có thể tự mình xác lập giao dịch dân sự mà không cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, nói khác hơn thì vai trò của người giám hộ trong trường hợp này là đóng vai trò là trợ giúp về mặt pháp lý cho người chưa thành niên
Theo quy định tại Điều 20 Bộ luật dân sự 2005 chia năng lực hành vi dân sự ra hai trường hợp là hoàn toàn hợp lí với thực tiễn cuộc sống, bởi trên thực tế họ vẫn cần
có sự bảo vệ của pháp luật nhưng họ đã có thể bằng khả năng của mình để thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ Họ có thể bằng hành vi của mình tạo ra quyền và phải chịu những nghĩa vụ khi tham gia các giao dịch để phục vụ những nhu cầu thiết yếu hàng ngày phù hợp với lứa tuổi Thường thì pháp luật không quy định những giao dịch nào
là giao dịch “phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày” và giao dịch nào là giao dịch “phù hợp với lứa tuổi ” nhưng chúng ta có thể hiểu đó là những giao dịch có giá trị nhỏ,
phục vụ những nhu cầu học tập, vui chơi giải trí trong cuộc sống hàng ngày mà những giao dịch này được người đại diện của họ cho phép thực hiện mà không cần có sự đồng ý của những người đại diện
Tuy nhiên, trên thực tế người đại diện của người chưa thành niên có quyền yêu cầu tuyên bố những giao dịch do người chưa thành niên thực hiện mà không có sự đồng ý của họ là giao dịch vô hiệu và những trường hợp này thì tòa án xem xét cụ thể để chấp nhận yêu cầu đó theo quy định của pháp luật dân sự Nếu những người đại diện không yêu cầu tòa án xem xét tính hiệu lực của những giao dịch này thì những giao dịch này mặc nhiên được coi là có hiệu lực
Mặc dù pháp luật là như vậy nhưng tại khoản 2 Điều 20 Bộ luật dân sự lại quy
định có tính ngoại lệ của nguyên tắc là “Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Với quy định này
của Bộ Luật dân sự là cần thiết và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, vì trong thời kỳ kinh tế thị trường thì những người ở độ tuổi nêu trên họ đã có thể tự mình tham gia vào các hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động Do vậy, người chưa thành niên họ vẫn có thu nhập và có tài sản riêng, do đó họ có thể tự mình tham gia vào giao dịch dân sự có liên quan đến bản thân mà không nhất thiết phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ, trừ một số giao dịch dân sự đặc biệt mà khoản 2 Điều 20 có dự liệu “Trong trường hợp pháp luật có quy định khác”
Đó là những giao dịch có liên quan đến tài sản có giá trị lớn của người đó mà pháp luật quy định khi họ tham gia các giao dịch phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật
Trang 111.1.2 Nơi cư trú của người chưa thành niên
Như đã đề cập ở trên vấn đề cũng cần được quan tâm đến đó là nơi cư trú của người chưa thành niên được xác định như thế nào? Để tạo cơ sở pháp lý cho những quan hệ pháp luật của người chưa thành niên Đây là vấn đề mà pháp luật cũng cần phải quy định rõ ràng và cụ thể
Theo quan niệm truyền thống thì đời sống pháp lý của một cá nhân nhất thiết phải gắn với một nơi chốn nào đó mà pháp luật gọi nơi chốn đó là nơi cư trú, chế định nơi cư trú là biện pháp định vị cá nhân trong một không gian về phương diện pháp lý, nơi cư trú phải là một điểm cố định trên lãnh thổ chứ không thể là một điểm di động Điều này cũng có nghĩa rằng một người chỉ có một nơi cư trú ổn định, còn theo quy định tại Điều 53 Bộ luật dân sự 2005: Nơi cư trú của người chưa thành niên
- Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống
- Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định
Điều luật trên là phù hợp đối với người chưa thành niên vì họ là một chủ thể hạn chế của quan hệ pháp luật và cần được pháp luật bảo vệ, mặc dù quy định chỗ ở của người chưa thành là chỗ ở của cha, mẹ người chưa thành niên nhưng pháp luật vẫn cho họ có quyền có nơi cư trú riêng dưới sự đống ý của cha, mẹ Ở đây, ngoài hai trường hợp trên thi khoản 2 Điều 53 Bộ luật dân sự 2005 “Hoặc pháp luật có quy định khác” Điều luật đã dự liệu đối với người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi trở lên
sẽ được xác định nơi cư trú còn dựa vào quan hệ quản lý hành chính về trật tự xã hội
Ví dụ: người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật gây rối trật tự an toàn
xã hội thì người chưa thành niên có thể bị gửi vào trường giáo dưỡng để lao động, học tập cải tạo dưới sự giám sát quản lý của nhà trường thì nơi cư trú của người chưa thành niên trong trường hợp này được xác định là nơi đặc trường giáo dưỡng Tuy nhiên, điều này sẽ không được áp dụng trong những trường hợp pháp luật có quy định khác, đối với người chưa thành niên thì nơi cư trú rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của họ, thường thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cha, mẹ, ông, bà người nhận giám hộ cư trú
Còn theo quy định của Điều 54 Bộ luật dân sự 2005 về nơi cư trú của người được giám hộ thì:
- Nơi cư trú của người được giám hộ là nơi cư trú của người giám hộ
Trường hợp này là quy định đối với người chưa thành niên từ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi không có nơi cư trú, hoặc trẻ mồ côi được nhận giám hộ từ trại trẻ mồ côi ở độ tuổi này người chưa thành niên rất dễ bị xâm hai từ mặt thể chất đến tâm hồn cho nên những trường hợp này pháp luật quy định cho họ là nơi cư trú của người nhận giám hộ, với quy định này thì người chưa thành niên sẽ có nơi cư trú ổn định và được chăm sóc tốt hơn khi sống chung với người giám hộ
Trang 12- Người được giám hộ có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của người giám hộ nếu được người giám hộ đồng ý hoặc pháp luật có quy định
Trường hợp này đối với người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi đến chưa
đủ mười tám tuổi thì có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của người giám hộ nếu được sự đồng ý của người giám hộ với qui định này cũng phù hợp với thực tế bởi vì người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi trở lên thì đã đủ vào độ tuổi lao động theo pháp luật về lao động cho nên khi tham gia lao động nếu được sự đồng ý của người giám hộ thì nơi cư trú của người chưa thành niên có thể là nhà ở tập thể của công ty hoặc xí nghiệp nào đó mà người chưa thành niên tham gia lao động Mặt khác, nếu người chưa thành niên đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi mà vi phạm gây rối trật tự công cộng hoặc người chưa thành niên bị nghiện ma túy ở mức độ quy định của luật thì nơi cư trú của người chưa thành niên theo quy định của pháp luật có thể người chưa thành niên sẽ cư trú tại trung tâm cai nghiện hay một trường giáo dưỡng nào đó theo quy định của luật
1.2 Khái niệm chung về giám hộ
1.2.1 Giám hộ và giám hộ người chưa thành niên
Dựa vào quy định tại khoản 1 Điều 58 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Giám hộ
là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người giám hộ)
Việc giám hộ có nội dung cơ bản là người giám hộ là chăm sóc và bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ Do đó thực chất người giám hộ là người đại diện theo pháp luật cho người được giám hộ trong các mối quan hệ với Nhà nước
và trong hầu hết các giao dịch dân sự, trừ một số giao dịch đơn giản, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người được giám hộ
Trên cơ sở của Điều luật về giám hộ ta có thể dựa vào đó để đưa ra khái niệm
giám hộ người chưa thành niên: “Giám hộ đối với người chưa thành niên là việc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên”
Đối với người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên, đây là giai đoạn
phát triển mạnh mẽ về mặt tâm sinh lý và nó cũng ảnh hưởng và chi phối rất lớn đến quá trình hình thành nhân cách con người, người chưa thành niên ở thời kì này phát triển chưa đầy đủ cả thể chất cũng như tinh thần hay nói cách khác họ là người có năng lực hành vi chưa đầy đủ, chưa thể tự mình xác lập hay thực hiện tất cả những giao dịch mà phải cần có một người thay họ, đại diện theo pháp luật để thực hiện Từ
những nguyên nhân trên nên việc giám hộ người chưa thành niên mới được đặt ra
Còn đối với người đủ mười tám tuổi thì theo pháp luật thì họ là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và đủ khả năng tự chăm lo đời sống cũng như quản lý tài sản
Trang 13của chính mình mà không cần có người đại diện nên người đủ mười tám tuổi không cần thiết phải có người giám hộ
Giám hộ đối với người chưa thành niên là chế định mang tính tổng hợp của nhiều ngành luật như: (Chế định đỡ đầu của chương III luật hôn nhân gia đình 1986, Điều
46 Luật hôn nhân gia đình 2000 điều liên quan đến việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên) Do một số nguyên nhân khách quan nên họ không có sự chăm sóc của cha, mẹ và chính vì điều đó để bảo vệ quyền
và lợi ích cho họ nên pháp luật đã quy định cụ thể tại điểm a Điều 58 Bộ Luật dân sự
2005 như sau:
“Người chưa thành niên không còn cha, mẹ không xác định được cha, mẹ hoặc cha,
mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ
1.2.2 Ý nghĩa của việc giám hộ người chưa thành niên
Việc giám hộ người chưa thành niên được thực hiện nhằm đảm bảo việc chăm sóc, giáo dục, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, chế định giám hộ người chưa thành niên trong Bộ luật dân sự 2005 thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước và xã hội đối với người chưa thành niên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cần có sự giúp đỡ của những người thân thích trong gia đình, của các cơ quan, đoàn thể của tổ chức xã hội; đăc biệt là về mặt pháp lý họ cần có sự bảo vệ trong khi
họ chưa đủ khả năng tự mình xác lập
Trong quá trình soạn thảo Bộ luật dân sự 2005 có một quan điểm cho rằng cần xây dựng chế định giám hộ ở hai cấp khác nhau là: (giám hộ và đỡ đầu) Theo đó chế định giám hộ được áp dụng đối với người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi và bị mất năng lực hành vi dân sự; còn chế độ đỡ đầu thì bảo vệ quyền và lợi ích của người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi nhằm trợ giúp cho những người ở độ tuổi này thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự Tuy nhiên trong thực
tế có nhiều quan điểm không đồng ý và cho rằng không cần thiết phải tách riêng thành hai chế định đỡ đầu và giám hộ, vì xét về thực chất không có sự khác biệt lớn giữa hai chế định, ngoài một số điểm khác nhau về đại diện và quản lý tài sản của người được đỡ đầu Và sự khác nhau đó vẫn có thể điều chỉnh tại một số quy định riêng trong chế định giám hộ, vì lí do nêu trên nên quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự 2005 vẫn được giữ nguyên và không cần bổ sung chế định đỡ đầu
Trang 141.3 Những trường hợp nào người chưa thành niên cần người giám hộ?
Như đã tìm hiểu ở trên thì người chưa thành niên là chủ thể chưa đầy đủ hay hạn chế của quan hệ pháp luật, họ chưa có khả năng tự mình xác lập, chưa thể tham gia vào các quan hệ xã hội để thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định cho họ cho nên họ cần người đứng ra chăm sóc, giáo dục và bảo vệ quyền lợi cho họ đặc biệt là trợ giúp về mặt đời sống pháp lý Vì vậy, nên pháp luật đã quy định những trường hợp nào thì người chưa thành niên cần phải có người giám hộ và cụ thể
tại Khoản 2 Điều 58 Bộ luật dân sự 2005 Người được giám hộ bao gồm: “Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện để chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu, người mất năng lực hành vi dân sự”
Như vậy theo quy định này thì người chưa thành niên cần phải có người giám hộ trong các trường hợp sau:
- Trường hợp một: Người chưa thành niên không còn cha, mẹ không xác định
được cha, mẹ Có thể nói người chưa thành niên không còn cha, mẹ không xác định được cha, mẹ là những trẻ em mồ côi hay bị bỏ rơi không xác định được cha, mẹ Đặc biệt đối với người chưa thành niên chưa đủ mười lăm tuổi thì rất dễ bị xâm hại nên phải cần có người giám hộ để quan tâm chăm sóc họ như là cha, mẹ của họ Đối với trường hợp này thì pháp luật cũng đặc biệt quan tâm đến họ, vì người chưa thành niên
mà không có cha, mẹ thì mọi giao dịch và sinh hoạt hằng ngày đều rất khó khăn nếu không có người giám hộ đại diện theo pháp luật cho họ để bảo vệ quyền và lợi ich của
họ mà đặc biệt là đối với người chưa thành niên chưa đủ mười lăm tuổi, ở trường hợp này pháp luật quy định bắt buột phải có người giám hộ
- Trường hợp hai: Cha, mẹ bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng
lực hành vi dân sự
+ Cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự: Theo quy định tại Điều 22 Bộ Luật dân sự 2005, người mất năng lực hành vi dân sự là người bị bệnh tâm thần hoặc mất các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình đã bị Tòa
án tuyên bố mất năng lực hành vi
Cũng như trên, người chưa thành niên nào gặp phải trường hợp này cần phải có người giám hộ khác ngoài cha, mẹ của họ Khi cha, mẹ của họ là những người mất năng lực hành vi dân sự thì không những cha, mẹ của người chưa thành niên không chăm lo giáo dục họ mà còn là một gánh nặng đối với họ một khi có sự cố xảy
ra liên quan đến quyền lợi của họ thì ai sẽ là người đại diện trong trường hợp này để bên vực họ Cũng vì lý do đó mà pháp luật quy định trường hợp này thì người chưa thành niên phải cố người giám hộ
+ Cha, mẹ bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Bộ luật dân sự 2005, người hạn chế năng lực hành vi dân sự “Người nghiện
ma túy, nghiên các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo
Trang 15yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Nếu thuộc vào trường hợp này thì người chưa thành niên cần có người giám hộ khác ngoài cha,
mẹ bị hạn chế năng lực hành vi dân sự bởi vì cha, mẹ hạn chế năng lực hành vi dân sự
sẽ không chăm lo, nuôi dạy người chưa thành niên một cách tốt nhất mà còn có thể xâm hại hoặc ảnh hưởng không tốt đến về mặt tâm lý và thói quen xấu cho trẻ
- Trường hợp ba:
+ Cha, mẹ bị hạn chế quyền: Có thể là người chưa thành niên bị cha, mẹ đánh đập hay ngược đãi gây bức xúc đến cộng đồng hay do những người thân khác yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ vì không quan tâm chăm sóc mà còn đối
xử bạt đãi, trường hợp này người chưa thành niên chưa đủ mười lăm tuổi bắt buộc phải có người giám hộ
+ Cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc: Người chưa thành niên còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên, thì phải có yêu cầu của cha và mẹ Nếu chỉ một trong hai người yêu cầu hoặc cả hai không yêu cầu có người giám hộ cho con chưa thành niên, thì việc giám hộ không đặc ra, bởi vì nghĩa vụ chăm sóc giáo dục con cái, đại diện cho con chưa thành niên trong các giao dịch dân sự trước tiên thuộc về cả cha và mẹ người đã sinh ra người chưa thành niên đó Nếu người chưa thành niên không còn cha hoặc cha còn sống nhưng không có điều kiện chăm sóc con thì người mẹ phải thực hiện công việc này và ngược lại Một trong những ví dụ là cả cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc giáo dục con là vì họ phải thi hành án phạt tù dài hạn hoặc đi công tác nước ngoài không có điều kiện chăm sóc giáo dục con nên cần người giám hộ…
- Trường hợp bốn: “ Về nguyên tắc, một người có thể giám hộ cho nhiều người, nhưng một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp người giám hộ là cha, mẹ hoặc ông, bà theo quy định tại khoản 2 Điều 61 và khoản 3 Điều
62 Bộ luật dân sự 2005” Quy định này chủ yếu có tác dụng làm tăng trách nhiệm của
người giám hộ đối với người được giám hộ, làm cho nghĩa vụ giám hộ được xác định một cách rõ ràng
Tóm lại, người chưa thành niên là người có năng lực hành vi dân sự chưa
đầy đủ là chủ thể hạn chế của pháp luật dân sự Ở độ tuổi này họ chưa thể tự mình xác lập, thực hiện tất cả những quyền và nghĩa vụ như đối với một chủ thể của một quan
hệ pháp luật, họ vẫn phải có sự bảo vệ của pháp luật mà cụ thể hơn là pháp luật quy định việc bảo vệ này là những người thân thích, cơ quan, tổ chức cũng như là trách nhiệm của toàn xã hội với chế định này của Bộ luật dân sự 2005 đã thể hiện tính nhân đạo và truyền thống tương thân tương ái của người Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung
Bởi vì không chỉ riêng Việt Nam mà hầu hết hệ thống pháp luật của tất cả các nước trên thế giới đều có quy định về chế định bảo vệ người chưa thành niên để bảo
vệ và tạo điều kiện cho người chưa thành niên có một môi trường sống trong sạch và
Trang 16lành mạnh để người chưa thành niên “mầm xanh của đất nước” có được môi trường tốt nhất để phát triển toàn diện, đây là một chế định tiến bộ của hệ thống pháp luật quốc tế Còn riêng Việt Nam đây là một điểm đáng tự hào đây là chế định mới mang tính đột phá so với Bộ luật dân sự 1995 và đây cũng chính là sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta đối với thế hệ tương lai của đất nước
1.4 Lịch sử phát triển của chế định giám hộ người chưa thành niên trong pháp luật dân sự Việt Nam
A - Luật cổ
Pháp luật Việt nam ra đời từ rất sớm, cùng với sự ra đời của Nhà nước nghĩa là khi xã hội xuất hiện chế độ tư hữu và có sự phân chia giai cấp và sự phân hoá giàu nghèo các giai cấp có địa vị kinh tế, chính trị khác nhau và từ khi có Nhà nước xuất hiện thì pháp luật cũng xuất hiện song song để bảo vệ giai cấp thống trị bảo vệ Nhà nước, tuy nhiên pháp luật thời kỳ này chủ yếu là những phong tục, tập quán, vừa bị Nhà nước cưỡng chế thực hiện vừa được cộng đồng dân cư buộc các thành viên thực hiện Vào thời điểm này pháp luật còn sơ khai chưa quy định một chế định nào cụ thể
về việc giám hộ người chưa thành niên chỉ có một số quy định riêng biệt nằm rời rạc
và ẩn chứa các quy định dân luật hoặc hôn nhân gia đình trên cơ sở các tập tục truyền thống có từ lâu đời và được ghi nhận lại Do vậy, để biết được chế định giám hộ người chưa thành niên có lịch sử phát triển như thế nào? Chúng ta hãy lần lược tìm hiểu những quy định của pháp luật qua các triều đại Việt Nam
- Pháp luật thời Văn Lang - Âu Lạc: Thời đại này ông cha ta đã sáng tạo nên một nền văn minh rực rỡ mở đầu cho thời kỳ phát triển thịnh vượng lâu dài của Đất nước nhưng thật đáng tiếc cho đến nay chưa có nhà khảo cổ học nào tìm thấy dấu vết chữ viết cũng như văn bản thành văn nào của thời kỳ này
Theo như chúng ta tìm hiểu thì hầu hết thời kỳ này pháp luật chỉ đơn thuần là những phong tục, tập quán được thực hiện trong phạm vi cả nước và được cộng đồng dân cư thừa nhận, việc giám hộ ở thời kỳ này có thể chưa được thừa nhận mà chủ yếu đặc ra là dựa vào tập tục truyền thống nho phong lễ giáo như quan hệ gia đình kính trên nhường dưới
Thí vụ: Thời kỳ này có sự tích “ trầu cau” câu truyện xoay quanh hai anh, em người anh là Tân, người em là Lang, thì ở thời kỳ này theo tập quán người em phải nhường người anh ăn trước, sau khi cha, mẹ mất đi thi người anh phải chăm sóc, nuôi dưỡng người em nếu so sánh tập tục này với thời đại pháp luật tương đối hoàn thiện của chúng ta thì đầu khác gì hình thức giám hộ, đương nhiên đối với trẻ em chưa thành niên mặc dù pháp luật thời kỳ này chưa thừa nhận có thể thời kỳ này chưa biết đến chế định giám hộ như họ đang thực hiện Ở thời kỳ này hầu hết pháp luật còn mang nặng tính tạp tục và truyền thống của những thế hệ trước để lại và được kế thừa dựa trên tập quán sống của dân tộc và cộng đồng
Tóm lại, Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc thuộc Nhà nước chiếm hữu nô lệ đó là chế
độ nô lệ không điển hình, pháp luật ở giai đoạn này chủ yếu là những tập quán để
Trang 17điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, kinh tế, hôn nhân gia đình và vẫn còn sơ khai mang đậm bản chất thuần phong mỹ tục hơn là một chế định của luật
- Pháp luật thời Ngô - Đinh - tiền Lê: Do thời kỳ này Nhà nước phong kiến vừa mới được thành lập nên cần phải xây dựng và nỗ lực bảo vệ Nhà nước non trẻ và nền độc lập thống nhất đất nước cho nên việc biên soạn pháp luật chưa được quan tâm chú trọng và cũng không có gì khác biệt nhiều so với thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc, suốt
ba triều đại nhưng thời Ngô - Đinh - tiền Lê vẫn chưa xuất hiện một văn bản luật thành văn nào, hầu hết chỉ dựa vào tục lệ và tập quán kế thừa từ triều đại trước chỉ dựa vào phán quyết và ý chí của các đời vua và giai cấp thống trị, vì vậy, chế định giám hộ cũng không có gì khác triều đại trước
- Pháp luật thời Lý: Cùng với sự phát triển của chế độ phong kiến trung ương tập quyền, sự phát triển nhanh về kinh tế xã hội nên đã tạo tiền đề cho sự phát triển của văn hoá nói chung và pháp luật nói riêng có thể nói dưới thời Lý lần đầu tiên pháp luật đại việt mới được viết thành văn và được cưỡng chế thực hiện bằng quyền lực Nhà nước
- Pháp luật thời Lê: Giai đoạn này là thời kỳ đỉnh cao của chế độ phong kiến tập quyền cũng như các lĩnh vực khác mà đặc biệt là sự quan tâm cho hoạt động lập pháp nó được đẩy mạnh để đáp ứng nhu cầu phát triển của chế độ phong kiến thế kỷ
XV đánh dấu mốc phát triển quan trọng của lịch sử pháp quyền phong kiến Việt Nam, các quy định về giám hộ ở thời kỳ này được ẩn chứa trong sáu quy định của Luật hôn nhân gia đình như:
“Trong gia đình cha, mẹ có nghĩa vụ, quyền nuôi dưỡng giáo dục con cái, con cái có nghĩa vụ vâng lời cha, mẹ và phụng dưỡng cha, mẹ lúc tuổi già, luật còn quy định thêm nếu nuôi con nuôi phải ghi rõ đứa trẻ đó có được chia tài sản hay không nếu không có di chúc khi đưa ra xét xử, theo luật con đẽ được hai phần, con nuôi được một phần” Có thể nói do sự phát triển của xã hội mà Nhà nước càng quan tâm
đến thế hệ trẻ và quan tâm vào giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ nên pháp luật thời kỳ này đã có những ghi nhận đáng kể để bảo vệ người chưa thành niên
B - Luật hiện đại
- Thời kỳ 1945 đến 1995: Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh “ giữ tạm thời các luật Bắc Kỳ - Trung Kỳ - Nam Kỳ cho đến khi ban hành quy định chung cho toàn quốc” Vì vậy
trong thời kỳ này những chế định về giám hộ và bảo vệ quyền, lợi ích cho trẻ em khỏi
bị xâm hại nên đã áp dụng pháp luật của trước đây
- Chế định giám hộ từ khi có Bộ luật dân sự:
+ Bộ luật dân sự 1995: Từ khi Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực thì đã hoàn thiện tất cả các luật trước đó và chế định về giám hộ đã có cơ sở pháp lý và được quy định cụ thể từ Điều 67 đến Điều 83 Bộ luật dân sự 1995 mặc dù như vậy nhưng khi
áp dụng thực tiễn thì những chế định về giám hộ của Bộ luật 1995 bộc lộ nhiều thiếu sót, chưa chi tiết còn mang tính tổng hợp của nhiều ngành luật, như tại Điều 46 Luật
Trang 18Hôn nhân gia đình 1986 “liên quan đến việc chăm sóc, giáo dục, bảo vệ quyền lợi cho người chưa thành niên mà do những nguyên nhân khách quan không có sự chăm sóc của cha, mẹ hay những người thân thích của họ cho nên Bộ luật dân sự 1995 đã khắc phục phần nào tình trạng của người có năng lực hành vi dân sự nhưng không thể bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện, quyền và nghĩa vụ của họ vì họ là những người không có năng lực hành vi đầy đủ theo quy định của pháp luật
+ Bộ luật dân sự 2005: Về cơ bản các quy định trong chế định về giám hộ của Bộ luật dân sự 2005 đã kế thừa các quy định về giám hộ của Bộ luật 1995 và quy định cụ thể từ Điều 58 đến Điều 73 và có một số điểm sữa đổi và bổ sung cho phù hợp với tình hình mới cũng như sự phát triển của kinh tế xã hội, nhưng sự sửa đổi bổ sung chủ yếu cũng là những quy định về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản của người được giám hộ, và một số quy định có liên quan đến chế độ pháp lý về giám hộ
1.5 Sự cần thiết của chế định giám hộ
Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta đề xướng và tổ chức thực hiện đã đạt được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và bước vào thời kỳ ổn định và phát triển Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội vẫn còn tồn tại nhiều biểu hiện tiêu cực
và những tệ nạn xã hội như: (Ma tuý, mại dâm, văn hoá phẩm độc hại và những tệ nạn khác…), đặc biệt là sự tha hoá nhân cách của một số bộ phận dân cư trong xã hội
tác động xấu đến thế hệ trẻ công dân tương lai của đất nước trước tình hình đó để tăng cường và bồi dưỡng, giáo dục bao gồm cả giáo dục về pháp luật cho người chưa thành niên trở thành một yêu cầu cấp thiết trong quá trình phát triển đi lên của đất nước
Theo chúng ta đã biết, con người là chủ thể của sự sáng tạo và là nguồn lực vật chất, văn hoá của tất cả các quốc gia trên thế giới, đối với chúng ta việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn lực con người nhằm đáp ứng yêu cầu của tiến trình đổi mới và phát triển đất nước hiện nay mà còn là cơ sở, là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển lâu dài của đất nước, với tầm quan trọng như vậy trong các chính sách phát triển đất nước Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc chăm lo, giáo dục và bồi dưỡng thế hệ trẻ điều này được thể hiện ở nhiều mặt đời sống, kinh tế, xã hội mà đặc biệt là trong lĩnh vực pháp lý với nhiều văn bản pháp luật được ban hành mà cụ thể là chế định giám hộ người chưa thành niên trong Bộ luật dân sự Việt Nam 2005
Trang 19
CHƯƠNG 2:
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ GIÁM HỘ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
2.1 Xác lập việc giám hộ
2.1.1 Điều kiện cá nhân làm người giám hộ
Chế định giám hộ người chưa thành niên được quy định nhằm chăm sóc, giáo
dục và bảo vệ người chưa thành niên, đặc biệt là sự trợ giúp về mặt đời sống pháp lý
do đó để quy định này đạt được hiệu quả khi áp dụng vào thực tế và đúng như ý nghĩa
của nó thì Bộ luật dân sự cần phải quy định chặt chẽ vế điều kiện một cá nhân làm
người giám hộ cho người chưa thành niên Vì lý do đó, nên Bộ luật dân sự 2005 cũng
đã quy định tại Điều 60 thì để một người có thể làm giám hộ cho một người chưa
thành niên cá nhân đó phải đáp úng các điều kiện sau đây:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
- Có tư cách đạo đức tốt; không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình
sự hoặc bị kết án nhưng chưa được xoá án tích và một trong các tội cố ý xâm phạm
tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác
- Các điều kiện cần thiết đảm bảo thực hiện việc giám hộ
Như vậy, theo quy định của điều luật về nguyên tắc cá nhân để có thể làm người
giám hộ đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên thì phải đáp ứng các yêu
cầu sau:
- Thứ nhất: Có năng lực dân sự đầy đủ theo quy định tại Điều 17 Bộ luật dân sự
2005, “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi
của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự” Cá nhân là người giám hộ
trước tiên phải là người đủ mười tám tuổi trở lên, không bị mất hay hạn chế năng lực
hành vi dân sự theo quy định của Điều 22 và Điều 23 Bộ luật dân sự 2005
- Thứ hai: Có tư cách đạo đức tốt, không phải là người đang bị truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác và ở
trường hợp này đòi hỏi phải có sự xác nhận của chính quyền địa phương nơi người
giám hộ đó thường trú
+ Có tư cách đạo đức tốt là người sống và làm việc tốt không vi phạm
pháp luật và được cộng đồng xã hội đánh giá là người có đủ điều kiện tư cách
đạo đức để thực hiện việc giám hộ theo đúng quy định của pháp luật về giám
hộ
+ Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một số tội
như: (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tính nhiệm chiếm đoạt tài sản,
tội trộm cắp tài sản,… và một số tội danh khác của Bộ luật hình sự), những
Trang 20người trong những trường hợp này thì theo luật họ không đủ điều kiện làm người giám hộ
+ Những người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội: cố
ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác, trường hợp này thi pháp luật không chấp nhận họ là người giám hộ cho người chưa thành niên Bởi lẽ, nhân thân của họ không được tốt sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên
Quy định này xuất phát từ thực tế người giám hộ khi thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, đại diện cho người được giám hộ, người giám hộ có nhân thân, tư cách đạo đức tốt có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của người được giám hộ “mà đặc biệt là người chưa thành niên” đồng thời quy định này không chỉ nhằm bảo vệ quan
hệ nhân thân, mà còn bảo vệ các quan hệ về tài sản liên quan đến người được giám
hộ
- Thứ ba: Các điều kiện cần thiết để đảm bảo việc thực hiện việc giám hộ, điều
kiện là điều kiện gì? Ở đây pháp luật không đề cập đến và cũng không quy định cụ thể trong luật, mặc dù chưa có quy định trong luật nhưng chúng ta có thể hiểu là những điều kiện như: người giám hộ cần có chỗ ở ổn định, có thu nhập, có thể thu xếp được thời gian và thực hiện được các công việc cần thiết nhằm chăm sóc, giáo dục, bảo vệ quyền và lợi ích của người được giám hộ
Ngoài ra, Điều 58 khoản 1 còn quy định “Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ) Quy định này có thể hiểu là người giám hộ có thể là cá nhân, tổ chức nhưng pháp luật lại không quy định tổ chức như thế nào? Thì mới được quyền giám hộ người chưa thành niên,
có lẽ đây chính là điểm thiếu sót mà khi soạn thảo nhà làm luật chưa dự liệu ra được hay họ cho rằng ở Việt Nam rất ít trường hợp tổ chức làm giám hộ nên chưa cần thiết phải quy định thành điều luật cụ thể
Mặc dù pháp luật không quy định điều kiện của tổ chức như thế nào nhưng chúng
ta có thể hiểu là: Bất cứ tổ chức hợp pháp nào cũng điều có thể là giám hộ của người chưa thành niên nếu như tổ chức đó nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên, nhưng theo chúng ta biết thì chỉ có những tổ chức hoạt động vì mục đích của người chưa thành niên và đảm bảo cho họ
có được chổ ở ổn định, được chăm sóc, giáo dục và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên và chỉ có thể là các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, xã
hội nghề nghiệp như: (Trung tâm trại trẻ mồ côi, trung tâm bảo trợ xã hội, hội phật giáo Việt Nam, hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, hội chữ thập đỏ…)
Về nguyên tắc, pháp luật cho phép người giám hộ có thể cùng lúc làm giám hộ cho nhiều người, quy định này nhằm khuyến khích cá nhân, tổ chức có điều kiện thì cùng một lúc có thể giám hộ cho nhiều người mới nhằm đáp ứng được nhu cầu thực
Trang 21tế xã hội ngày nay có nhiều trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ không nơi nương tựa phải cần đến sự giúp đỡ của những nhà hảo tâm, tổ chức từ thiện giám hộ chăm sóc
họ nhưng ngược lại theo quy định tại khoản 4 Điều 58 “Một người giám hộ cho nhiều người, nhưng một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp người giám hộ là cha, mẹ hoặc ông, bà”
2.1.2 Các hình thức của việc giám hộ
Theo pháp luật hiện hành thì việc giám hộ người chưa thành niên được chia ra làm hai hình thức đó là giám hộ đương nhiên và giám hộ được cử, việc xác định người giám hộ đương nhiên và giám hộ được cử xuất phát từ quan điểm những người gần gũi, thân thích nhau của người được giám hộ phải là người giám hộ đương nhiên cho người được giám hộ trong trường hợp người được giám hộ mà không có người thân thích hoặc có người thân thích nhưng những người đó không đủ diều kiện để làm người giám hộ Theo quy định của Bộ Luật dân sự thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc cử người giám hộ cho người được giám hộ, cơ sở pháp lý của hai hình thức này được xác lập như thế nào chúng ta hãy tìm hiểu những quy định của pháp luật
2.1.2.1 Giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên
Giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên là một quan hệ pháp luật mà theo đó pháp luật quy định những trường hợp nào thì người chưa thành niên có người giám hộ đương nhiên và pháp luật cũng đã quy định cụ thể tại Điều 61 Bộ luật dân sự Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cả cha và
mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu, được xác định như sau:
- Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thoả thuận khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của người chưa thành niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có
đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ
- Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ
- Giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên là giám hộ do pháp luật quy định
và mang tính bắt buộc được đặt ra đối với những người thân thích của người chưa thành niên, với điều kiện họ có đủ các điều kiện được quy định tại Điều 60 Bộ luật dân sự 2005 Trong trường hợp những người thân thích không có điều kiện làm giám
hộ thì áp dụng chế độ cử người giám hộ theo Điều 63 Bộ luật dân sự 2005
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 61 Bộ luật dân sự 2005 thì có hai cơ chế lựa chọn người giám hộ đối với người chưa thành niên:
Trang 22Thứ nhất, anh, chị em ruột có thể thỏa thuận chọn ra một người làm giám hộ cho
em chưa thành niên
Thứ hai, khi anh ruột, chị ruột không thỏa thuận được ai là người giám hộ cho
em chưa thành niên, thì việc giám hộ được thực hiện theo cơ chế đương nhiên, mang tính bắt buộc Cụ thể là anh cả, chị cả đủ mười tám tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám hộ, phải là người giám hộ cho em chưa thành niên, nếu anh cả hoặc chị cả không có điều kiện làm người giám
hộ thì người anh hoặc chị tiếp theo đã thành niên đủ điều kiện theo Điều 60 Bộ Luật dân sự 2005 phải là người giám hộ
- Trong trường hợp không có anh, chị em ruột hoặc anh, chị em ruột không đủ điều kiện làm người giám hộ Theo quy định tại Điều 60 Bộ Luật dân sự, thì ông nội,
bà nội, ông ngoại, bà ngoại có đủ điều kiện phải là người giám hộ cho cháu chưa thành niên Trường hợp ông, bà nội, ông, bà ngoại đều còn sống thì hộ phải bàn bạc, thỏa thuận cử một bên làm giám hộ trên cơ sở cân nhắc điều kiện thực tế của mỗi bên
Tóm lại, các quy định về người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên trên đây đã từng được quy định tại Điều 70 Bộ luật dân sự 1995 Ngoài ra khoản 2 Điều 61 Bộ luật dân sự 2005 còn quy định bổ sung trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc có anh, chị ruột nhưng anh, chị ruột không đủ điều kiện là người giám hộ cho em chưa thành niên, ông bà nội, ông bà ngoại đều đã mất hoặc ông bà nội, ông bà ngoại sống nhưng đã quá già yếu, không đủ điều kiện là người giám hộ cho cháu chưa thành niên, thì những người thân thích là bác, chú, cô, cậu, dì đủ điều kiện làm người giám hộ sẽ là người giám hộ cho cháu chưa thành niên Quy định bổ sung của Bộ luật dân sự 2005 về người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên là phù hợp với truyền thống dân tộc Việt Nam và phù hợp với thực tế cuộc sống Đồng thời bảo đảm cho người chưa thành niên không còn cả cha lẫn mẹ, hoặc tuy còn cha và mẹ nhưng họ đều mất năng lực hành vi bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục và có yêu cầu, hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, được chăm sóc, giáo dục và bảo vệ
Theo Điều 73 Bộ luật dân sự 1995 thì: “Trong trường hợp không có người giám
hộ đương nhiên và cũng không có người giám hộ, thì cơ quan lao động thương binh
và xã hội nơi cư trú của người được giám hộ nhận việc giám hộ”
Quy định như trên là mâu thuẫn với quy định về “cử người giám hộ” (Điều 72
Bộ luật dân sự 1995, Điều 63 Bộ luật dân sự 2005), vì các Điều luật này quy định:
“Trường hợp những người thân thích của người được giám hộ cử người giám hộ, nếu không có những người thân thích hoặc không cử được thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người được giám hộ cư trú có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị tổ chức từ thiện đảm nhận việc giám hộ” Với quy định này thì không
thể xảy ra trường hợp Uỷ ban nhân dân xã không cử được người giám hộ Hơn nữa, hiện nay cơ quan lao động, thương binh và xã hội chỉ có từ cấp huyện trở lên, trong
Trang 23khi đó người được giám hộ lại cư trú, sinh sống ở đơn vị thôn, xã làm sao cơ quan lao
động, thương binh và xã hội biết tới
Mặt khác, Bộ luật dân sự 2005 đã quy định cụ thể người làm giám hộ đương
nhiên của người chưa thành niên (Điều 60) và của người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 62) và quy định rõ trường hợp cử người giám hộ khi không có người giám hộ đương nhiên (Điều 63) Vì vậy, bỏ quy định việc giám hộ của cơ quan lao động, thương binh và xã hội là hợp lý
Tóm lại, mặc dù Bộ luật dân sự 2005 đã có hiệu lực và thay thế cho Bộ Luật
dân sự 1995 song nhưng về cơ bản các quy định trong chế định giám hộ của Bộ luật dân sự 2005 đã kế thừa các quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự 1995 nhưng luật
là một lĩnh vực phải xuất phát từ trong thực tiễn cuộc sống Cho nên, nhiều năm áp dụng Bộ luật dân sự 1995 đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, thiếu sót không phù hợp với thực tiễn cuộc sống pháp lý và xã hội Cho nên Bộ luật dân sự 2005 ra đời có một số điểm sửa đổi bổ sung là một yêu cầu cần thiết và phù hợp với tình hình thực tế đặt ra
2.1.2.2 Giám hộ được cử và thủ tục cử người giám hộ
Về nguyên tắc việc cử người giám hộ chỉ được đặc ra một khi người chưa thành niên không còn ai là người giám hộ đương nhiên Theo quy định của Điều 61
Bộ luật dân sự 2005 hoặc có nhưng không đủ điều kiện làm giám hộ theo quy định của pháp luật Vì vậy, những người thuộc vào trường hợp này thì sẽ đươc cử người
giám hộ theo quy định của Điều 63 Bộ luật dân sự 2005 như sau: “Trong trường hợp người chưa thành niên,… không cử được người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Bộ luật dân sự 2005 thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ” Như vậy, theo như quy định trên thì
những người thân thích của người chưa thành niên không cử được hoặc không có người thân thích, thì Uỷ ban nhân dân cấp cơ sở có trách nhiệm cùng với các tổ chức
xã hội cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức từ thiện đảm nhận việc giám hộ Sau khi đã cử được người giám hộ thì thủ tục cử người giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 64 về thủ tục cử người giám hộ:
- Việc cử người giám hộ phải lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ
- Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ
Văn bản cử Điều 63 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Trong trường hợp người
chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương
nhiên thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có
trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhiệm việc giám hộ
So với Điều 72 Bộ Luật dân sự 1995 thì Điều 63 Bộ luật dân sự 2005 ngoài
việc thay cụm từ “người mất năng lực hành vi dân sự” cho cụm từ “người bị bệnh
Trang 24tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình”, còn bỏ quy định: “những người thân thích của người được giám hộ cử một người trong số họ làm người giám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích có đủ điều kiện làm người giám hộ, thì họ có thể cử một người khác làm người giám hộ”
Việc bỏ quy định nêu trên là chính xác, vì Điều 61 và Điều 62 Bộ Luật dân sự
2005 đã quy định cụ thể người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên và của người mất năng lực hành vi dân sự trong đó quy định rõ thứ tự những người thân thích của người được làm giám hộ sẽ đảm nhiệm việc làm giám hộ
Hơn nữa theo quy định của Điều 72 Bộ Luật dân sự 1995 những người thân thích của người được giám hộ nếu không có ai đủ điều kiện làm giám hộ thì họ có thể
cử một người khác làm giám hộ Quy định này là không thực tế vì những người thân thích của người được giám hộ có quyền gì để người giám hộ, xác nhận việc giám hộ
và nội dung của việc giám hộ, việc cử người giám hộ được Uỷ ban nhân dân cấp cơ
sở công nhận
Tóm lại, việc quy định về cử người giám hộ cho người chưa thành niên thể hiện sự quan tâm sâu sắc của nhà làm luật đối với thế hệ tương lai của Đất nước và cũng là một điểm sáng thể hiện tính nhân văn rất cao của luật Việt Nam hiện hành đối với người chưa thành niên khi họ không còn biết trông chờ vào sự giúp đỡ của những người thân thích của mình và cũng không có khả năng tự lập
Điều 71 Bộ luật dân sự 2005 quy định chuyển giao giám hộ của người giám hộ được cử, so với Điều 81 Bộ luật dân sự 1995 thì Điều 71 Bộ luật dân sự 2005 bổ sung
khoản 4 mà Điều 81 Bộ luật dân sự 1995 không có Đó là “Việc chuyển giao giám hộ phải được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người giám hộ mới công nhận”
Quy định này phù hợp với quy định về đăng ký hộ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn là cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh, tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi… Hơn nữa, theo Điều 63 Bộ Luật dân sự
2005 thì việc cử người giám hộ là do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ cử người giám hộ nên việc chuyển giao giám hộ của người giám hộ được cử cần phải có sự công nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn người giám hộ mới
2.1.3 Đăng ký việc giám hộ người chưa thành niên tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Việc đăng ký được quy định cụ thể tại Điều 1 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định về hộ tịch và đăng ký hộ tịch như sau:
- Hộ tịch là những sự kiện co bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết
- Đăng ký hộ tịch theo quy định của Nghị định này là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: xác nhận sự kiện sinh, kết hôn, tử, nuôi con nuôi, giám hộ;