1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP CHẾ độ PHÁP lý của hợp ĐỒNG bảo HIỂM NHÂN THỌ

87 187 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 863,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến năm 1762, Hãng bảo hiểm Equitable được thành lập tại London dựa trên cách tính phí của T.Simpon và J.Dodson - đây là doanh nghiệp bảo hiểm hiện đại đầu tiên 12 Mặc dù, khi tha

Trang 1

Giáo viên hướng dẫn:

CBGD Bộ môn Tư pháp

Sinh viên thực hiện:

Nguyeãn Cao Vieät Thuøy

MSSV: 5992791 - Lớp Luật Tư pháp 25 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

hững thành tựu về kinh tế, xã hội, ngoại giao trong những năm gần đây

đã khẳng định sự phát triển ổn định và bền vững Theo cơng bố, tốc độ tăng trưởng hàng năm tại Việt Nam đạt tới 7% và thu nhập bình quân đầu người lên

đến 400 USD/năm1

Do điều kiện kinh tế được nâng cao hình thành nên những nhu cầu mới; những sản phẩm, dịch vụ được hình thành và du nhập từ các quốc gia phát

triển vào ngày càng đa dạng và phong phú hơn Xã hội cơng nghiệp hố và thơng tin

đã hồn thiện cuộc sống của con người bằng cơng nghệ và dịch vụ xã hội Những

nhu cầu bức xúc nhất về ăn, mặc, ở đã được giải tỏa cùng với những quan hệ và nhu

cầu mới được nảy sinh cao hơn và vươn xa hơn Sự lo toan của con người hướng

vào tương lai, hướng tới một cuộc sống bền vững và hồn thiện Đáp ứng những

nhu cầu đĩ là sự ra đời của hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ xã hội, trong đĩ cĩ

hoạt động bảo hiểm Cĩ thể nĩi, bảo hiểm nĩi chung và bảo hiểm nhân thọ nĩi riêng

được xem như một hình thức tiết kiệm và tích lũy hiện đại

Thật vậy, thơng qua việc tham gia bảo hiểm, người mua bảo hiểm sẽ đĩng

phí bảo hiểm để đổi lấy sự cam kết bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm Nếu

người được bảo hiểm khơng gặp rủi ro, thì người tham gia bảo hiểm cũng cĩ thể

nhận được một khoản tiền tích lũy, đĩ là số tiền bảo hiểm và bảo tức tích lũy, nếu

cĩ Ngược lại, nếu người được bảo hiểm khơng may gặp rủi ro thì những người

tham gia bảo hiểm sẽ nhận được số tiền bảo hiểm theo cam kết từ doanh nghiệp bảo

hiểm Như vậy, cĩ thể khẳng định, bảo hiểm nhân thọ là một hình thức tiết kiệm kết

hợp bảo vệ phù hợp với cuộc sống hiện nay

Để điều chỉnh một nhu cầu đã đến lúc phổ biến trong xã hội, sự cần thiết của

pháp luật là một điều tất yếu Tuy nhiên, so với các nước phát triển trên Thế giới và

trong khu vực, hệ thống pháp luật bảo hiểm của Việt Nam cịn khá non trẻ Cùng

với Bộ luật dân sự 1995 (viết tắt là BLDS) quy định một số vấn đề chung nhất về

hợp đồng bảo hiểm, Luật Kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội thơng qua ngày

9/12/2000 (viết tắt là Luật KDBH) quy định hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt

Nam đã xây dựng tương đối đầy đủ khung pháp lý về hoạt động bảo hiểm Ngồi ra,

do chưa cĩ quy định riêng về bảo hiểm nhân thọ nên thực tiễn áp dụng nảy sinh

nhiều vấn đề gây khĩ khăn cho các doanh nghiệp bảo hiểm và sự bất an trong tâm

lý người mua bảo hiểm, nhất là trong quan hệ hợp đồng

Trong số các nghiệp vụ bảo hiểm phổ biến hiện nay: bảo hiểm tài sản, bảo

hiểm con người, bảo hiểm trách nhiệm dân sự…, nghiệp vụ BH nhân thọ chiếm

phần lớn doanh thu bảo hiểm bởi đây là sản phẩm bảo hiểm mang tính chất tích lũy

và dự phịng khá an tồn, chế độ quản lý và mức phí bảo hiểm tương đối đơn giản,

lợi ích bảo hiểm hấp dẫn khách hàng Do đĩ, nội dung của đề tài chỉ giới hạn trong

việc nghiên cứu về chế độ pháp lý của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và hướng hồn

thiện trên cơ sở đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành của các cơng ty bảo

hiểm trên thị trường Việt Nam

Trang 3

Phương pháp duy vật biện chứng Mác Lênin là phương pháp giữ vai trò chủ

đạo trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Do tính chất đặc thù của vấn đề nghiên

cứu, các phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết được vận dụng linh hoạt

trong từng trường hợp cụ thể Ngoài ra, các phương pháp điều tra xã hội học, thống

kê tư pháp, nghiên cứu so sánh, tổng hợp có ý nghĩa hỗ trợ hiệu quả đối với kết

quả nghiên cứu của đề tài

Theo định hướng và phương pháp nghiên cứu như trên, ngoài Lời nói đầu và

Kết luận, đề tài gồm các nội dung chính sau:

Chương I - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Chương II - CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Xét trên góc độ lịch sử và lý luận, chương I của đề tài tập trung phân tích các

vấn đề có liên quan đến nguồn gốc và hoàn cảnh ra đời của hoạt động bảo hiểm nói

cung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng cũng như sự ra đời của các văn bản pháp luật

bảo hiểm có liên quan Bên cạnh đó việc phân tích vai trò và ý nghĩa của bảo hiểm

nhân thọ góp phần làm rõ sự ảnh hưởng của hoạt động bảo hiểm nhân thọ đến đời

sống xã hội Một trong những vấn đề phân tích và làm sáng tỏ tại chương này là tính

chất của một hợp đồng tặng cho có điều kiện được lồng ghép trong hợp đồng bảo

hiểm nhân thọ thông qua việc người tham gia bảo hiểm lựa chọn người thụ hưởng

của hợp đồng bảo hiểm Ngoài ra, tính chất khoán của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

cũng là một đặc trưng kỹ thuật được phân tích khá cụ thể nhằm phân biệt giữa hợp

đồng bảo hiểm nhân thọ và các loại hợp đồng bảo hiểm khác

Chương II của đề tài tập trung nghiên cứu và phân tích các vấn đề cụ thể của

hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành

và thực tiễn áp dụng Thông qua việc phân tích, đánh giá này, một số vấn đề cần

hoàn thiện sẽ được đưa ra bình luận nhằm làm sáng tỏ các nội dung được quy định

trong văn bản pháp luật có liên quan Làm rõ vấn đề khách thể trong quan hệ bảo

hiểm nhân thọ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định mối quan hệ giữa người

mua bảo hiểm và người được bảo hiểm, xem xét những điều kiện để hợp đồng bảo

hiểm có giá trị Các nội dung về đối tượng của hợp đồng bảo hiểm, người được bảo

hiểm, người thụ hưởng, phí bảo hiểm, thứ tự thanh toán bảo hiểm…sẽ được phân

tích trước khi xem xét hiệu lực và cách thức thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm và nghiên cứu các tài liệu có

liên quan, nhưng do đề tài bảo hiểm nhân thọ vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam, các

tài liệu về khoa học pháp lý về bảo hiểm không nhiều; bên cạnh đó, do khả năng

phân tích luật nước ngoài còn hạn chế nên đề tài khó có thể tránh nhiều sai sót và

khiếm khuyết khi đưa ra các ý kiến chủ quan Chính vì vậy, tôi mong muốn sẽ nhận

được những lời đóng góp quý báu của Thầy Cô và các bạn có quan tâm để đề tài

được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ, động viên của các Thầy Cô, gia đình

và bạn bè để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Cần Thơ, tháng 7 năm 2003

NGUYỄN CAO VIỆT THÙY

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Mục 1

Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ

I Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên TG và VN

II Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm nhân thọ III Ý nghĩa của hoạt động bảo hiểm nhân thọ

Mục 2 Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

I Khái niệm chung

II Đặc trưng kỹ thuật và đặc trưng pháp lý của hơp đồng bảo hiểm nhân thọ III Phân loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

IV Nguồn luật áp dụng

CHƯƠNG II CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Mục 1 Lợi ích bảo hiểm - Khách thể của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

I Khái niệm lợi ích bảo hiểm

II Điều kiện hình thành lợi ích bảo hiểm III Ý nghĩa xác định nội dung của lợi ích bảo hiểm

Mục 2 Giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

I Nguyên tắc giao kết hợp đồng nhân thọ

II Chủ thể giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ III Trình tự giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

IV Nội dung của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

V Hình thức của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Mục 3 Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

I Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vô hiệu

II Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ III Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm

IV Quyền và nghĩa vụ của người mua bảo hiểm

V Quyền của người được bảo hiểm

VI Quyền của người thụ hưởng

Mục 4 Thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

I Nguyên tắc thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

II Chi trả bảo hiểm III Sửa đổi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

IV Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

V Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Mục 5 Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

I Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo ý chí của các bên

II.Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo luật chung

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

Chương I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Mục 1

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Dẫn nhập - Con người là sản phẩm của tự nhiên và tự nhiên đã cung cấp cho con

người nguồn sống Thế nhưng, chính tự nhiên cũng mang đến nhiều hiểm họa lũ

lụt, hạn hán, mầm bệnh nguy hiểm cho con người Ngoài ra, để tồn tại con người

luôn đối mặt với những rủi ro trong quá trình sống và lao động như tai nạn trong

lao động, tai nạn trong sinh hoạt hàng ngày Chính vì vậy, con người luôn có ý

thức tự bảo vệ bản thân, gia đình và tài sản trước những điều không may mắn nhằm

hạn chế mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra

Có nhiều cách thức để con người tự bảo vệ mình cùng với gia đình và tài sản Và,

người ta phát hiện ra rằng, khi rủi ro được san sẻ cho nhiều người thì tổn thất do rủi

ro mang lại sẽ không nhiều Bởi lẽ, rủi ro thường ít xảy trên một phạm vi lớn mà

thường chỉ rơi vào một số cá thể nào đó không may mắn Do đó, những người có

cùng điều kiện rủi ro sẽ tập hợp thành một tổ chức để khi rủi ro xảy ra với một

thành viên trong tổ chức đó rủi ro sẽ được san sẻ, những người còn lại sẽ giúp đỡ

những người gặp rủi ro dựa trên những quỹ đã được đóng góp từ trước

Hoạt động bảo hiểm ra đời từ mong muốn được chia sẻ của những người trong xã

hội Thật vậy, tổn thất có thể sẽ thấp hơn khi nó được chia nhỏ ra cho nhiều người

khác nhau trong cộng đồng hơn là một cá nhân tự gánh chịu một mình Hơn thế

nữa, hoạt động bảo hiểm nhân thọ không chỉ là cách mọi người san sẻ rủi ro mà

cách là cách để mọi người tiết kiệm Hình thức tiết kiệm thông qua bảo hiểm nhân

thọ có nhiều ưu điểm hơn một số hình thức tiết kiệm khác do những đặc trưng riêng

của mình Tóm lại, bảo hiểm nhân thọ là một hình thức tiết kiệm phối hợp với bảo

vệ cho những lợi ích bảo hiểm của con người

I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ

TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

Đặt vấn đề - cho đến nay, chưa ai có thể xác định một cách chính xác nguồn gốc

của hoạt động bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng Con người

muốn khám phá và chinh phục tự nhiên nhưng cũng không thể biết trước được

những nguy hiểm có thể đến với mình Do đó, có thể thấy rằng hoạt động bảo hiểm

ra đời xuất phát từ nhu cầu được bảo vệ của con người trong cuộc sống Nghiên

cứu lịch sử hoạt động bảo hiểm chính là khám phá vai trò cũng như ý nghĩa của

hoạt động này

1 Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động bảo hiểm 2

2 Theo Dennis Kessler thì bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít

Theo MJ.Burkinshaw: Bảo hiểm là một hệ thống mà qua đó một số người đồng ý góp vào một quỹ chung,

được dùng để chia sẻ các chi phí tổn thất của một cá nhân trong đó có thể sẽ gánh chịu

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

Ngay từ buổi sơ khai của xã hội, tổ tiên loài người đã biết chọn cách chung

sống bầy đàn nhằm bảo vệ nhau chống lại những nguy hiểm luôn có thể xảy ra Con

người đã biết rằng khi tập thể cùng chấp nhận chung rủi ro với mình thì tổn thất sẽ

thấp hơn là một mình gánh chịu Dựa trên nền tảng đó, hoạt động bảo hiểm ra đời

ứng dụng những nguyên tắc sống được hình thành từ xa xưa: chia sẻ rủi ro, quy luật

số đông bù số ít Theo một số tài liệu nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát

triển của hoạt động bảo hiểm cho thấy hoạt động này đã trải qua ba hình thái: dự

trữ thuần túy, cho vay nặng lãi và cuối cùng là hình thức thỏa thuận ràng buộc

trách nhiệm các bên hay đó chính là hoạt động bảo hiểm ngày nay3

a) Dự trữ thuần túy

Luôn phải đối phó với những rủi ro do tự nhiên và cuộc sống mang lại, con người

hình thành ý thức tự bảo vệ từ rất sớm Đầu tiên, đó là ý thức dự trữ thức ăn phòng khi đói

kém; sau đó là dự trữ những công cụ lao động để có thể sử dụng khi cần thiết và cuối cùng

là hình thức dự trữ tiền, các loại tài sản khác Thế nhưng, con người nhận ra rằng dự trữ

có tổ chức hoặc theo nhóm sẽ có hiệu quả cao hơn hình thức dự trữ đơn lẻ Vì vậy, ngay từ

thời cổ xưa đã nảy sinh tư tưởng lập Quỹ dự trữ cứu tế và bảo hiểm tương hỗ

Năm 4.500 trước Công nguyên, tại hạ Ai Cập, những người thợ đẽo đá đã

hình thành những “Quỹ tương hỗ” để trợ giúp lẫn nhau khi chẳng may có người

gặp rủi ro trong quá trình lao động vì đẽo đá là một nghề nguy hiểm đến tính mạng

nên lúc rủi ro xảy ra rất cần sự giúp đỡ của cộng đồng Khi tham gia những tổ chức

này, những người thợ đá phải đóng tiền hội phí và số tiền này sẽ được dùng để lo

tang ma cho những người trong hội không may bị mất đi4 Tuy nhiên, do trình độ

sản xuất còn thấp kém nên không thể tích lũy đủ nhiều để xây dựng quỹ bồi

thường Cách này chỉ là hình thức lấy số đông bù số ít, nghĩa là phân chia rủi ro của

một người lên cho nhiều người cùng gánh vác Ý niệm này về sau đã trở thành một

nguyên tắc không thể thiếu của hoạt động bảo hiểm hiện đại

Năm 3.000 trước Công nguyên, tại Trung Quốc, các lái buôn đã biết phân chia hàng

hoá ra nhiều thuyền nhỏ thay vì chuyên chở trên một thuyền lớn nhằm hạn chế tổn thất khi

Về phương diện pháp lý: Bảo hiểm là một hợp đồng được ký kết, trong đó một bên (người bảo hiểm)

đồng ý nhận một số tiền đã được tính toán (gọi là phí bảo hiểm ) để bồi thường cho người khác (người

được bảo hiểm) về những tổn thất người ấy phải gánh chịu do hậu quả của những sự cố đã xảy ra

Về phương diện kinh tế : Bảo hiểm là một hệ thống các biện pháp kinh tế để huy động sự đóng góp của

các tổ chức, các cá nhân một số tiền nhất định dưới dạng phí bảo hiểm hình thành quỹ bảo hiểm nhằm chi

trả hay bù đắp cho các đối tượng của người đóng góp khi có sự cố xảy ra, đảm bảo ổn định đời sống được

thường xuyên và liên tục

Theo các chuyên gia bảo hiểm người Pháp: bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền

được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy

ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rỉu ro và

đền bù các thiệt hại theo phương pháp thống kê

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, bảo hiểm được hiểu là chức năng kinh tế mà mục đích là bồi thường

những thiệt hại về của cải hay sức khỏe , tính mạng con người, bằng cách đảm nhiệm những rủi ro và đền

bù những rủi ro ấy Người muốn được bảo hiểm phải mua bảo hiểm và khi bị thiệt hại thì được bồi thường

Việc bồi thường được quy định bằng một hợp đồng giữa tổ chức bảo hiểm và người được bảo hiểm (Tổng

hợp từ internet)

3 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ - Tổng công ty Bảo

hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 37

4 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân tho ï- Tổng công ty Bảo

hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 38

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

7

vận chuyển Điều này cho thấy từ rất xa xưa con người đã biết rõ lợi ích của việc phân tán

các rủi ro và đây cũng chính là một trong các nguyên tắc cơ bản của hoạt động bảo hiểm

sau này

b) Cho vay nặng lãi

Khi xã hội phát triển và hoạt động con người đa dạng hơn dự trữ thuần túy

không giải quyết được đầy đủ các nhu cầu của con người Đối với các thương gia,

để chuẩn bị cho một chuyến hàng, họ cần rất nhiều vốn, do đó cần thời gian lâu để

tích lũy hoặc đi vay mượn Tuy nhiên, vận chuyển thường gặp nhiều khó khăn và

nguy hiểm, có thể thu được lợi nhuận cao mà cũng có thể bị tổn thất hoàn toàn

Người cho vay với lãi suất thông thường luôn cảm thấy lo lắng bất an khi cho

những nhà buôn này vay bởi vì có thể họ sẽ khó có thể lấy lại vốn vay do có quá

nhiều rủi ro khi chuyên chở Và dĩ nhiên, để bù lại, họ đưa ra mức lãi suất rất cao

mà buộc lòng, các nhà buôn phải chấp nhận Đến lúc này, dí dỏm một chút, đến lượt

người cho vay phải cầu mong cho chuyến hàng của nhà buôn được thuận lợi

Thật vậy, khoảng 1.700 năm trước Công nguyên, tại Babylon và khoảng 500 năm

trước Công nguyên, tại Athen một hệ thống cho vay với lãi suất cao để mua hàng hoá vận

chuyển được hình thành Hệ thống này hoạt động với nguyên tắc: khi hàng hoá bị mất đi

trong quá trình vận chuyển thì người đi vay sẽ không phải trả khoản tiền đã vay Bước

đầu, chúng ta có thể nhận thấy rằng lãi suất trong các hợp đồng vay mà nhà buôn đã giao

kết với chủ tư bản như trên chính là dấu hiệu của phí bảo hiểm ngày nay

Mặc dù hình thức này ra đời đã nâng cao hình thức dự trữ thuần tuý lên gần

hình thái bảo hiểm hơn, mặc dù, vẫn còn điểm hạn chế là lãi suất quá cao Do nhược

điểm này mà hình thức cho vay nặng lãi đã bị cấm hoạt động sau khi ra đời không

lâu, mở đường cho hình thức thỏa thuận về rủi ro ra đời

c) Thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm giữa các bên

q Hình thức cổ phần

Đây là hình thức mà các bên thỏa thuận nhằm làm giảm bớt những tổn thất có thể

xảy ra trong qua trình vận chuyển giữa các thương buôn Chuyến hàng được tạo lập bằng

sự đóng góp của nhiều người, mỗi người góp một phần: tiền, hàng hoá hoặc phương tiện

vận chuyển Nếu thành công lợi nhuận được chia theo tỷ lệ vốn góp Nếu gặp rủi ro, tổn

thất sẽ được san sẻ cho nhiều người

Năm 2.250 trước Công nguyên, tại Babylon, các nhà buôn đã thuê những người

chuyên chở bằng lạc đà (gọi là Darmathe) vận chuyển hàng hóa với điều kiện cùng chia sẽ

rủi ro với những nhà buôn này Nếu kinh doanh có lời, Darmathe sẽ được chia phân nữa số

lãi, ngược lại các Darmathe sẽ đền bù Đây cũng là một cách nhằm chia sẽ rủi ro giữa các

thương nhân và người vận chuyển

Tuy nhiên, cách này cũng còn nhiều hạn chế, tốn nhiều thời gian kêu gọi cổ đông,

phải thỏa thuận, giao kết rõ ràng Do đó, một hình thức tiện lợi hơn ra đời - chính là hình

thức bảo hiểm

q Hình thức bảo hiểm

Qua một quá trình phát triển tương đối dài với nhiều giai đoạn khác nhau, bảo hiểm

dần được hình thành với hình thức bảo hiểm đầu tiên là bảo hiểm hàng hải và bảo hiểm hỏa

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

hoạn Những nguyên tắc, kỹ thuật bảo hiểm từng bước được hình thành và hoàn thiện

thông qua quá trình phát triển của hoạt động bảo hiểm

Bảo hiểm hàng hải - Có rất nhiều ý kiến tranh luận xung quanh vấn đề bảo hiểm

hàng hải ra đời khi nào và ở đâu Tuy nhiên, phần lớn quan điểm cho rằng bảo hiểm hàng

hải ra đời ở nước Ý vào giữa thế kỷ 14 Bởi lẽ, trong khoảng thời gian này, tại nước Ý hình

thành thói quen mua bán có tính “vay mượn phiêu lưu” Đây là hình thức mà chủ tàu hay

chủ hàng hóa ký quỹ tại một nhà băng bằng chính con tàu và hàng hóa đó để vay một số

tiền; nếu vận chuyển thành công và đến nơi an toàn thì người ký quỹ phải trả cả lời lẫn

vốn5; nhưng ngược lại, nếu có thiệt hại thì có thể được miễn toàn bộ số nợ hoặc giảm nợ

tùy mức độ Đổi lại, người cho vay sẽ lấy một lãi suất cao hơn bình thường để bù cho thiệt

hại xảy ra đối với các tàu gặp rủi ro khác Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được

phát hành tại thành phố cảng Genoa-Italia vào năm 13476 Sau đó, cùng với cuộc cách

mạnh thương mại vào thế kỷ XIV, XV, kỹ nghệ hàng hải phát triển mạnh mẽ kéo theo sự

phát triển không ngừng của hoạt động bảo hiểm hàng hải Theo đà chuyển đổi, trung tâm

hoạt động và bảo hiểm hàng hải lan rộng từ Ý qua Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan,

Anh, Đức

Vào năm 1683, Edward Lloyd mở quán cà phê (Lloyd’s Coffee house) tại London

làm trung tâm trao đổi thông tin hàng hải Năm 1871, quán cà phê này đã trở thành một tổ

chức của các nhà bảo hiểm hàng hải, có tư cách pháp nhân và với tên gọi Lloyd’s Tuy

nhiên, Lloyd’s không phải là doanh nghiệp bảo hiểm mà chỉ là nơi giao dịch của những

nhà bảo hiểm7 Những nguyên tắc điều khoản bảo hiểm, đơn bảo hiểm hàng hải được ký

kết giữa người bảo hiểm (Insurer) và người được bảo hiểm (Insured) do tổ chức này cung

cấp, dần được tiêu chuẩn hoá, không những tại Anh mà còn được nhiều nước trên Thế giới

thừa nhận và áp dụng Ngày nay, tổ chức này đã trở thành Trung tâm Bảo hiểm quốc tế về

tàu và hàng hoá nổi tiếng Thế giới

Hoạt động bảo hiểm ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu được bảo vệ và hạn chế rủi ro

trong cuộc sống Chính vì vậy, khi đời sống càng phát triển, tài sản tạo ra ngày càng nhiều

thì nhu cầu này lại càng được quan tâm chu đáo hơn Khoảng đầu thế kỷ XVIII, tại Châu

Âu, công nghiệp phát triển mạnh, phong phú về loại hình, đa dạng về quy mô làm phát

sinh nhu cầu bảo hiểm tài sản trên đất liền

Bảo hiểm hỏa hoạn - Vụ hoả hoạn khủng khiếp tại London - Anh, vào ngày

02/9/1966 thiêu hủy trên 13.000 căn nhà và rất nhiều tài sản là tiền đề cho hoạt động bảo

hiểm hỏa hoạn hình thành Khi trình độ xã hội phát triển thì các hình thức chữa cháy thông

thường không thể phát huy tác dụng Bởi vì, ngày càng nhiều ngôi nhà được xây dựng, các

nhà liền kề nhau và không còn khoảng cách nhiều như trước nên một khi, không may hỏa

hoạn xảy ra thì lửa sẽ lan rất nhanh Bên cạnh đó, dường như, những người chữa cháy

không chuyên nghiệp thực hiện công việc này vì ý nghĩa nhân đạo càng gặp khó khăn

trong việc cứu giúp tài sản và tính mạng của người khác khi xảy ra hỏa hoạn Để giải quyết

khó khăn đó, bác sĩ răng hàm mặt Nicholas Barbon đã lập ra doanh nghiệp bảo hiểm hỏa

hoạn vào năm 1667 với tên gọi đơn giản “Phòng Hỏa hoạn” Từ 1683, tại nước Anh tiếp

tục lập các tổ chức ái hữu nhằm bảo trợ cho các hội viên không may bị tử vong, thương tật

5

Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, GS.TS Trương Mộc Lâm - Lưu Nguyên Khánh,

NXB Thống Kê 2001, trang 25

6 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần II, Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của BảoViệt và thủ tục ký kết- Tổng

công ty Bảo hiểm Việt Nam- Hà nội 2002, trang 39

7 Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, GS.TS Trương Mộc Lâm - Lưu Nguyên Khánh,

NXB Thống Kê 2001, trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

hoặc khánh kiệt tài sản do hỏa hoạn Đến thế kỷ XVIII, quy chế bảo hiểm hỏa hoạn của

Anh dần được hoàn chỉnh, từng bước trở thành quy tắc hỏa hoạn bảo hiểm hỏa hoạn hiện

đại ngày nay

Bảo hiểm khác - Cuối thế kỷ XIX, ngành công nghiệp cơ khí phát triển mạnh mẽ

cùng với sự phát minh hàng loạt các phương tiện giao thông hiện đại (ô tô, tàu lửa, máy

bay, ) đã mang lại cho con người nhiều thuận tiện hơn trong cuộc sống, nhất là trong giao

thông vận tải Thế nhưng, đó chính là những nguồn nguy hiểm cao độ có thể đem lại cho

người sử dụng nhiều rủi ro Hành khách có nhu cầu được bảo vệ, và hoạt động bảo hiểm

các phương tiện xe cơ giới được hình thành

Riêng tại Việt Nam, trước năm 1975, có tất cả 52 công ty (trong và ngoài nước)

được thành lập và hoạt động, chủ yếu ở miền Nam Các công ty trong nước thành lập dưới

hình thức Hội vô danh hoặc Hội tương hỗ Các công ty nước ngoài thành lập ở Việt Nam,

dưới hình thức chi nhánh, hầu hết đặt trụ sở ở Sài Gòn - trung tâm kinh tế miền Nam lúc

bấy giờ Thời kỳ này, chúng ta đã thành lập được Hiệp hội bảo hiểm miền Nam Việt Nam

thực hiện chức năng tư vấn, đào tạo, tạo môi trường hợp tác Chủ yếu thực hiện bảo hiểm:

tai họa, chuyên chở, xe tự động, sinh mạng, tai nạn lao động, bảo hiểm khác 8

Năm 1929 một công ty Việt Nam được thành lập đặt chi nhánh tại Sài Gòn

gọi là Việt bảo hiểm công ty nhưng chỉ hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm xe tự

động

Năm 1964, Công ty bảo hiểm Bảo Việt được thành lập theo Quyết định số 179/CP

ngày 17/10/1964 của Chính phủ, tiền thân của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam ngày nay

Lúc đầu, hoạt động của công ty chủ yếu trong các lĩnh vực bảo hiểm hàng hóa xuất nhập

khẩu, bảo hiểm tàu biển, làm đại lý giám định và xét bồi thường cho các công ty bảo hiểm

nước ngoài về hàng hóa xuất nhập khẩu Năm 1989, theo Quyết định của Bộ Tài chính,

Công ty Bảo hiểm Việt Nam đổi tên thành Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam

Lúc đó, Bảo Việt là doanh nghiệp Nhà nước độc quyền kinh doanh bảo hiểm Do

cơ chế bao cấp và độc quyền nên quy mô bảo hiểm nhỏ, sản phẩm đơn điệu, phạm vi hạn

chế Khi đó, bảo hiểm chỉ mới dừng lại ở chức năng bảo vệ tài sản mà chưa thực hiện chức

năng tiết kiệm và đầu tư Cho đến khi Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 và Luật KDBH

2000 ra đời, đã khuyến khích ngành bảo hiểm phát triển mạnh mẽ, phát huy vai trò tích cực

của bảo hiểm trong đời sống dân cư và góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển9 Từ

chổ chỉ có một doanh nghiệp Nhà nước độc quyền kinh doanh bảo hiểm thì hiện nay Việt

Nam đã có 21 doanh nghiệp bảo hiểm10, 02 công ty môi giới bảo hiểm, 01 công ty tái bảo

hiểm với nhiều hình thức sở hữu là loại hình kinh doanh khác nhau

Ngoài ra, còn có sự góp mặt của hơn 50 văn phòng đại diện về bảo hiểm và môi

giới bảo hiểm của nước ngoài tại Việt Nam đã khiến cho thị trường bảo hiểm Việt Nam

càng thêm sôi động11

8 Vận tải và bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường biển-Ths Quan Minh Nhựt-Trường ĐH Cần Thơ 2001

9 Doanh thu bảo hiểm toàn thị trường tăng từ 741 tỉ đồng (1994) lên 7685 tỉ đồng (2002), tăng 55% so với

năm 2001 và chiếm tỉ trọng 1,32% GDP Nộp ngân sách Nhà nước tăng theo nhịp độ phát triển của ngành,

từ hơn 181 tỉ đồng (1994) lên 300 tỉ đồng (2002) Chỉ tính riêng số lượng 70.000 đại lý bảo hiểm nhân thọ

đã góp phần tạo công ăn việc làm cho xã hội, giảm áp lực thất nghiệp cho nền kinh tế (Nguồn: Tổng hợp

thông tin thị trường bảo hiểm, tái bảo hiểm 2001,2002; Thời báo kinh tế Sài Gòn 2002,2003)

10 Trong đó có 3 doanh nghiệp nhà nước, 3 doanh nghiệp cổ phần, 5 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, 10

doanh nghiệp liên doanh

11 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ- Tổng công ty Bảo

hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 10

2 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên TG và VN

Cùng với nhu cầu được bảo vệ tài sản thì nhu cầu bảo vệ sinh mạng của con

người cũng được hình thành Khi một thành viên trong gia đình mất đi ít nhiều sẽ

tạo nên gánh nặng cho những người còn lại: chi phí điều trị (nếu người chết do bệnh

tật), chi phí ma chay, sinh hoạt phí của cả gia đình nếu như người mất đi là một

trong những người trụ cột của gia đình Đối với xã hội, một con người mất đi,

nguồn nhân lực sẽ bị ảnh hưởng, một số tác nghiệp có liên quan đến người này sẽ bị

xáo trộn Do đó, rất cần thiết có một khoản tiền để sau khi một người mất đi không

làm tăng gánh nặng cho gia đình và những người còn sống Bảo hiểm nhân thọ ra

đời xuất phát từ nhu cầu đó12

a) Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên TG

Ban đầu, ở nhiều nước, bảo hiểm nhân thọ chỉ là hình thức cứu tế, giúp đỡ

gia đình của những người qua đời do già yếu hoặc ốm đau Nguyên tắc hoạt động

của Hội cứu tế là các thành viên bất kỳ tình trạng sức khoẻ, tuổi tác đều cùng đóng

góp một số phí giống nhau và hưởng quyền lợi như nhau Tuy nhiên, chỉ sau một

thời gian ngắn hoạt động, hình thức này đã bộc lộ việc đối xử không công bằng đối

với các thành viên Chính vì vậy, một hình thức bảo hiểm nhân thọ mới mang tính

công bằng hơn hình thành

Năm 1639, E.Halley, người Anh đã lập ra Bảng thống kê tử vong đầu tiên Sau đó,

năm 1659 Lý thuyết xác suất của B.Pascal và Quy luật về số đông của J.Bernoulli vào thế

kỷ XVIII đã đặt cơ sở về lý thuyết tính toán khoa học cho bảo hiểm nhân thọ áp dụng cho

đến sau này13

Trong những năm 50 của thế kỷ XVIII, T.Simpon đã dựa vào Bảng thống kê tử

vong do E.Halley lập ra để thành lập Bảng tỷ lệ phí bảo hiểm nhân thọ Theo đó, tỷ lệ chết

của con người tăng dần theo lứa tuổi, phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm cũng tăng

dần theo từng năm như vậy mới công bằng cho những người tham gia bảo hiểm Nhưng

chỉ số của bảng phí tăng nhanh cho đến 50 tuổi và số phí đóng quá cao Chính vì vậy,

J.Dodson đã điều chỉnh theo hướng không tăng dần mức phí theo tuổi mà ổn định trong

suốt thời gian tham gia hay còn gọi là phí bảo hiểm bình quân14

Như vậy, bảo hiểm nhân thọ được hình thành từ rất sớm Vào năm 1583, hợp đồng

bảo hiểm nhân thọ lần đầu tiên được xác lập ở Anh quốc nhưng chưa được mọi người quan

tâm và hưởng ứng Tại Hoa Kỳ, năm 1759, công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên được thành

lập Tuy nhiên, công ty này chỉ bảo vệ cho các thành viên của các nhà thờ do họ sở hữu

Cho đến năm 1762, Hãng bảo hiểm Equitable được thành lập tại London dựa trên

cách tính phí của T.Simpon và J.Dodson - đây là doanh nghiệp bảo hiểm hiện đại đầu tiên

12

Mặc dù, khi tham gia bảo hiểm nhân thọ con người không thể có thể vượt qua những rủi ro trong cuộc sống

hoặc bất tử nhưng khi tham gia bảo hiểm nhân thọ ít nhất họ cũng có đủ tiền để trang trải cho các chi phí

trong tang lễ của người được bảo hiểm, cấp dưỡng cho thân nhân của họ

13 Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, GS.TS Trương Mộc Lâm - Lưu Nguyên

Trang 11

hoạt động trên cơ sở kỹ thuật bảo hiểm Có thể nói rằng, chính nó đã tạo ra một diện mạo

mới cho hoạt động bảo hiểm nhân thọ nói riêng và bảo hiểm con người nói chung15

Khi cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra vào đầu thế kỷ XIX, nhiều công ty, xí

nghiệp được thành lập, cơ hội nghề nghiệp nhanh chóng đến với người lao động, và dĩ

nhiên, cùng với đó là những rủi ro cao trong hoạt động nghề nghiệp Do hoạt động sản

xuất ngày càng mở rộng, số vụ tai nạn xảy ra ngày càng tăng lên, làm cho nhu cầu được bù

đắp những thiệt hại về sức khỏe tính mạng của người lao động cũng phát sinh Đó chính là

cơ sở để hoạt động bảo hiểm nhân thọ có những bước phát triển nhanh và rộng khắp sau

này16 Lợi nhuận và những giá trị xã hội mà các sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ mang lại

đã tạo chỗ đứng cho sản phẩm này Hiện nay, các công ty bảo hiểm nhân thọ đã có mặt ở

hầu khắp các quốc gia trên toàn cầu với các sản phẩm đa dạng và hoàn hảo hơn Không chỉ

có kỹ thuật tính toán cơ bản, những dịch vụ đi kèm theo sản phẩm ngày càng được nâng

cao phù hợp với nhu cầu và mức sống của người mua bảo hiểm Bảo hiểm nhân thọ trở

thành một nhu cầu thiết thân đối với mỗi con người17

b) Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ ở VN

Bảo hiểm nhân thọ ở nước ta ra đời muộn hơn các quốc gia khác bởi nhiều

nguyên nhân khác nhau Một trong những nguyên nhân là do sau chiến tranh, một

mặt chúng ta phải dồn sức để khắc phục hậu quả chiến tranh, đời sống kinh tế còn

nhiều khó khăn, các nhu cầu thiết yếu nhất chưa được đảm bảo nên tạm thời, tâm lý

dân cư chưa có nhu cầu tự bảo vệ hoặc tích lũy dự phòng Mặt khác do chịu sự chi

phối của nền kinh tế bao cấp, độc quyền ngành bảo hiểm chưa được quan tâm đúng

mức, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ

Năm 1964, công ty bảo hiểm Bảo Việt được thành lập; năm 1989, đổi tên thành

Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam - là doanh nghiệp Nhà nước độc quyền kinh doanh bảo

hiểm trong thời gian này Tháng 8/1996, một sự kiện đánh dấu bước phát triển của ngành

bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam, đó là việc Công ty bảo hiểm Bảo Việt phát hành hợp

đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên Trải qua hơn 7 năm hoạt động, bảo hiểm nhân thọ ở

nước ta đã phát triển nhanh chóng, thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp dân cư, khẳng

định vai trò quan trọng của mình đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước18

Nếu

15

Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, GS.TS Trương Mộc Lâm - Lưu Nguyên

Khánh, NXB Thống Kê 2001, trang 28

16

Những hình ảnh về vụ đắm tàu lịch sử Titanic năm 1912 đã được dựng thành phim Titanic Con tàu Titanic

- một trong những biểu tượng của nền công nghiệp nước Anh - đã bị đắm ngay trong lần vượt đại dương

đầu tiên Người xem không chỉ nhớ tới câu chuyện tình lãng mạn trên phim mà còn thực sự bị ấn tượng bởi

những mất mát cả về người và tài sản trên tàu Thời điểm này, ngành bảo hiểm nhân thọ Thế giới đã khá

phát triển và sau sự kiện này, các công ty bảo hiểm, trong đó lớn nhất là công ty Prudential đã thực hiện

chi trả cho 342 khách hàng với số tiền lên tới 45 triệu đô la Mỹ Đây là một trong những sự kiện lớn của

ngành bảo hiểm nhân thọ Thế giới

17 Người ta đã thống kê được ở các nước phát triển, số người dân tham gia hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ là rất

lớn Tại Nhật Bản và Mỹ, cứ 10 người dân thì có 9 người mua bảo hiểm nhân thọ, còn ở Singapore cứ 10

người thì có 5 người mua bảo hiểm nhân thọ Ngay như ở Inđônêsia, cũng có tới 10% dân số có hợp đồng

bảo hiểm nhân thọ

18 Năm 1996, trong giai đoạn thử nghiệm nên tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ chưa đạt 1 tỷ đồng với

hơn 1200 hợp đồng Năm 1997, số lượng hợp đồng tăng lên 37.350 hợp đồng, với tổng doanh thu đạt trên

17,5 tỷ đồng Năm 2000, trong môi trường cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh thu

bảo hiểm đã tăng 160,2%, đạt 1280 tỷ đồng, với khoảng 1 triệu hợp đồng Năm 2001, tổng thu phí đạt

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

như chỉ có một công ty bảo hiểm nhân thọ hoạt động từ năm 1996 đến 1999 (Tổng công ty

bảo hiểm nhân thọ Việt Nam - Bảo Việt) thì đến nay đã có thêm 4 doanh nghiệp bảo hiểm

nhân thọ hoạt động tại thị trường Việt Nam: Công ty liên doanh TNHH Bảo Minh CMG,

công ty TNHH bảo hiểm Manulife, công ty TNHH bảo hiểm Prudential Việt Nam và công

ty TNHH bảo hiểm Quốc tế Mỹ (AIA)19 Tuy là một thị trường mới, nhưng với dân số gần

80 triệu người, thì Việt Nam được đánh giá là một thị trường bảo hiểm nhân thọ tiềm năng

Thị trường bảo hiểm nhân thọ hiện nay đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ tại các đô

thị lớn: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, khu vực đồng bằng sông Cửu Long…Các công ty đã và

đang từng bước nâng cao chất lượng phục vụ nhằm thu hút nhiều khách hàng tiềm năng

cho công ty Chính việc cạnh tranh này sẽ tạo điều kiện cho bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam

phát triển nhanh chóng, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới

II LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Hoạt động bảo hiểm ra đời đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội và ngày càng

phát triển mạnh mẽ Theo quy luật khách quan của sự phát triển thì đã đến lúc cần

phải có một hệ thống pháp lý điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan đến bảo hiểm Do

đó, không lâu sau khi hoạt động bảo hiểm ra đời, pháp luật bảo hiểm cũng được xây

dựng và thực thi hiệu quả, góp phần ổn định và phát triển thị trường bảo hiểm nói

chung

1 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm trên TG và VN

Như ta đã biết hoạt động bảo hiểm tại Việt Nam ra đời muộn hơn rất nhiều so với

bảo hiểm thế giới Chính vì vậy, hệ thống pháp luật bảo hiểm Việt Nam cũng còn

khá non trẻ và cần nhiều thời gian để học hỏi kinh nghiệm của hệ thống pháp luật

bảo hiểm của các nước trên Thế giới

a) Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm trên TG

2775 tỷ đồng (tương đương 0,55% GDP) Năm 2002 là năm thành công nhất của thị trường bảo hiểm nhân

thọ VN với tổng doanh thu đạt 4645 tỷ đồng, tăng trưởng 66,74% so với năm 2001

Về số hợp đồng khai thác mới, chủ yếu là hợp đồng tích lũy định kỳ, tổng số hợp đồng khai thác mới là

1.779.386 hợp đồng, tăng 36,1% so với năm 2001 Baominh CMG đạt chỉ số cao nhất về các hợp đồng

khai thác mới với 810.016 hợp đồng, kế đó là Bảo Việt với 677.814 hợp đồng Sản phẩm bảo hiểm hỗn

hợp là sản phẩm được khách hàng ưa chuộng nhất, chiếm gấn 80% tổng doanh thu phí bảo hiểm - thể hiện

tâm lý tích lũy tiết kiệm của người dân VN Ngoài ra các sản phẩm bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm bệnh hiểm

nghèo, bảo hiểm nhóm đạt doanh thu cao

Số hợp đồng đang có hiệu lực, tính đến 31/12/2002, có tất cả 3.974.498 hợp đồng, tăng 68,49% so với

cùng kỳ năm trước Tổng số đại lý bảo hiểm nhân thọ toàn thị trường là 69.850 người, tăng 65,13% so với

năm 2001 (Nguồn: Tổng hợp thông tin thị trường bảo hiểm, tái bảo hiểm 2001,2002-Báo cáo của Bộ tài

chính; Thời báo kinh tế Sài Gòn 2002,2003)

19

Công ty liên doanh TNHH Bảo Minh CMG, công ty liên doanh giữa tập đoàn CMG (Australia) và công

ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh), khai trương hoạt động 12/10/1999, vốn đăng ký kinh

doanh 10 triệu USD, thời hạn hoạt động 30 năm

Công ty TNHH bảo hiểm Manulife, là công ty 100% vốn nước ngoàicủa tập đoàn Manulife (Canada)

đầu tư tại Việt Nam (trước đây là công ty TNHH bảo hiểm Chinfon –Manulife, năm 2001 Chinfon bán lại

phần vốn góp của mình cho Manulife), khai trương hoạt động 12/06/1999, vốn đăng ký kinh doanh 10

triệu USD, thời hạn hoạt động 50 năm

Công ty TNHH bảo hiểm Prudential Việt Nam, công ty 100% vốn nước ngoài của Anh quốc, khai trương

và hoạt động từ ngày 29/10/1999, vốn đăng ký kinh doanh 14 triệu USD, thời hạn hoạt động 50 năm Năm

2003, Prudential đã tăng vốn kinh doanh lên 64 triệu USD

Công ty TNHH bảo hiểm Quốc tế Mỹ (AIA), công ty 100% vốn nước ngoài của Mỹ, khai trương hoạt

động từ ngày 22/02/2000, vốn đăng ký kinh doanh 10 triệu USD, thời hạn hoạt động 50 năm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

Cùng với sự ra đời của hoạt động bảo hiểm, pháp luật bảo hiểm ra đời nhằm điều

chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan Vào năm 916 TCN, Hoàng đế xứ Rhodes đã ban

hành luật để bảo vệ các thương gia có hàng hóa bị tổn thất vì lợi ích chung của hành trình

Các chủ tàu được hưởng lợi trên các tổn thất đó phải cùng gánh chịu rủi ro Luật bảo hiểm

hàng hóa ra đời sớm nhất ở Italia Sau đó là Luật An-long năm 1266 Khi hoạt động hàng

hải ngày càng phát triển thì hoạt động bảo hiểm cũng từng bước được xã hội quan tâm Các

luật lệ về hoạt động hàng hải hình thành sau thế kỷ 14 của các nước Châu Âu có quy định

về các vấn đề liên quan đến bảo hiểm hàng hải20

Một trong những quy định về bảo hiểm hàng hải được coi là lâu đời nhất thế

giới chính là Pháp lệnh Bacelona Tây Ban Nha năm 1435 Pháp lệnh này đã công

bố quy tắc bảo hiểm hàng hải và thủ tục bồi thường Các quy tắc trong Pháp lệnh

này được vận dụng trong hầu hết các quy định về bảo hiểm hàng hải sau này Năm

1523, Mẫu đơn bảo hiểm tiêu chuẩn ra đời tại Ý dựa trên các quy tắc bảo hiểm

trước đây Bên cạnh sự xuất hiện của các quy định về bảo hiểm, Toà án chuyên giải

quyết tranh chấp hàng hải của được lập ra tại Bỉ và Hà Lan

Do sự phồn thịnh của ngành hàng hải Italia, luật bảo hiểm cũng phát triển ở nước

này sớm hơn những quốc gia khác, người ta đã chứng minh được rằng Luật bảo hiểm ra

đời sớm nhất là Luật hoạt động hàng hải Căng-sô-ra-đô của Italia Tiếp theo sau là Pháp

lệnh hoạt động hàng hải do vua Louis 14 ban hành năm 1681 Những tòa án bảo hiểm

hàng hải cũng được lập nên ở Antwerp ( Bỉ), Amsterdam (Hà Lan) để giải quyết những vụ

tranh chấp về bảo hiểm Bên cạnh đó, nước Anh cũng là một trong những quốc gia có hệ

thống pháp luật bảo hiểm vững mạnh của Châu Âu Luật bảo hiểm hàng hải năm 1906 của

Anh đã có những ảnh hưởng sâu rộng đối với luật bảo hiểm của các nước khác21

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, sự phát triển về thương mại quốc

tế và sự tiến bộ về giao thông quốc tế, luật bảo hiểm các nước từng bước được hoàn

chỉnh dần, đặc biệt là các nước ở Châu Âu

Luật bảo hiểm Pháp ban hành năm 1930, bắt nguồn từ điều khoản có liên quan trong Điều

lệ hoạt động hàng hải năm 1681 và luật buôn bán của Pháp năm1808, gồm 4 chương: Năm

1905, Pháp ban hành “Luật giám sát bảo hiểm nhân thọ”

Luật bảo hiểm Đức - Năm 1731, tại thành phố Hamburg, Đức đã ban hành “Điều lệ bảo

hiểm về tổn thất hàng hải” Năm 1794 ban hành Đạo luật Prusse trong đó có quy định về

bảo hiểm hàng hải và bảo hiểm đường bộ Năm 1908, Luật hợp đồng bảo hiểm được công

bố và được thực hiện vào năm 1910 Sau đó, Điều lệ giám sát tái bảo hiểm vào năm 1913,

Luật giám sát doanh nghiệp bảo hiểm tư nhân và quỹ tiết kiệm xây nhà ở năm 1931 lần

lượt được ban hành

Luật bảo hiểm Anh - Năm 1906 ban hành Luật bảo hiểm hàng hải Bên cạnh đó, bảo hiểm

phi hàng hải được xét xử theo tiền lệ Năm 1774 ban hành Luật bảo hiểm nhân thọ và Luật

bảo hộ người lao động được ban hành năm 1975

Luật bảo hiểm Mỹ - Ở Mỹ không có một bộ luật bảo hiểm thống nhất Về hợp đồng bảo

hiểm được xét xử theo tiền lệ Luật bảo hiểm của bang New York được xem là một đạo

luật hoàn chỉnh nhất gồm có 18 chương 631 điều22

Tạp chí Kinh tế phát triển - ĐH Kinh tế TPHCM

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

14

Các nước Châu Á, nhất là khu vực Đông Nam Á cũng có nhiều cố gắng trong

việc xây dựng khung pháp lý để điều chỉnh hoạt động bảo hiểm23 Đặc biệt, Việt

Nam và Trung Quốc là một trong số ít các quốc gia điều chỉnh chung toàn bộ hoạt

động kinh doanh bảo hiểm trong một đạo luật duy nhất

b) Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm ở VN

Lịch sử hình thành hệ thống pháp luật bảo hiểm Việt Nam muộn hơn rất nhiều so

với các nước có nền kinh tế hàng hải phát triển Bởi lẽ, hoạt động bảo hiểm gắn liền chặt

chẽ với hoạt động hàng hải Trong khi đó, nền kinh tế chính của nước ta là nền nông

nghiệp lúa nước, tự cung tự cấp là chủ yếu nên không có nền kinh tế hàng hải mạnh như

các quốc gia khác

Như ta đã biết, hoạt động bảo hiểm ở nước ta bắt đầu hình thành do các nước Châu

Âu quan tâm đến thị trường bảo hiểm Đông Dương Chính vì lẽ đó, trong giai đoạn đầu

của hoạt động bảo hiểm, pháp luật bảo hiểm chủ yếu sử dụng các văn bản của Pháp: - Đạo

luật 1912 được ban hành để kiểm soát hoạt động của công ty bảo hiểm và các điều khoản

ghi trong hợp đồng; - Luật 13/07/1930 quy định về những nghiệp vụ bảo hiểm, là một quy

chế pháp lý cho ngành bảo hiểm tại nước Pháp và cho cả Đông Dương

Năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phòng, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội

Công ty bảo hiểm Bảo Việt ra đời nhằm thực hiện vai trò bảo hiểm, đáp ứng nhu cầu của

xã hội Các văn bản pháp luật liên quan đến bảo hiểm được ban hành ngày để điều chỉnh

quan hệ bảo hiểm:

- Sắc luật 01/09/1965 ban hành nhằm bổ sung luật 13/07/1930 là sắc luật đầu

tiên của Việt Nam ban hành về thể thức hành nghề bảo hiểm trong nước và được bổ sung bởi sắc luật 31/08/1967 sửa đổi về việc phân loại các nghiệp vụ bảo hiểm tại Việt Nam

- Nghị định 54/CP ngày 10/03/1975 quy định về điều lệ tạm thời về hợp đồng

kinh doanh bảo hiểm

Năm 1990, Bộ luật Hàng hải ra đời ghi nhận các quy định về hợp đồng bảo hiểm

Nội dung của những quy định liên quan đến bảo hiểm gồm có: giá trị bảo hiểm số tiền bảo

hiểm, sự kiện bảo hiểm…

Năm 1991, Luật hàng không dân dụng Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày

26/12/1991 có quy định “Người vận chuyển phải bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự

của mình đối với tính mạng, sức khoẻ, thương tích của hành khách tới mức giới hạn trách

nhiệm dân sự của người vận chuyển và theo quy định của pháp luật về bảo hiểm”

Cho đến năm 1993, trước những phát triển của nền kinh tế thị trường đòi hỏi cần

phải có một hệ thống pháp luật bảo hiểm để tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm phát triển

kịp với nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính

phủ về kinh doanh bảo hiểm được ban hành Nghị định này đã tạo điều kiện cho hoạt động

bảo hiểm phát triển, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước

23

Luật bảo hiểm Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 6/1995

Đạo luật bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ Thái Lan

Đạo luật bảo hiểm số 553 năm 1996 của Malayxia

Bộ luật bảo hiểm Philipin 18/12/1997

Luật KDBH Indonexia 1992

Luật KDBH Myanmar 6/1996

Luật bảo hiểm của Vương quốc Campuchia ngày 20/6/2000

Comment [MA1]: Page: 11

Có nên dùng chữ “đầu tiên” ? Vì trước

đó, đã có Nghị định 54/CP ngày

10/03/1975 quy định về điều lệ tạm thời

về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

đối với hoạt động bảo hiểm Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã ban hành các Thông tư hướng

dẫn thi hành Nghị định 100/CP, nhằm tạo hành lang pháp lý và giám sát hoạt động kinh

doanh bảo hiểm Sau đó, ngày 14/06/1997 Chính phủ ban hành Nghị định số 74/CP về việc

sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Nghị định 100/CP (18/12/1993) Tuy nhiên, có thể nói

rằng hệ thống văn bản quy định về bảo hiểm còn nằm rải rác trong một số văn bản pháp

luật khác

Năm 1996 BLDS ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lập pháp

của nước ta Việc ghi nhận quan hệ bảo hiểm là một trong những quan hệ hợp đồng dân sự

thông dụng cho thấy vai trò quan trọng của hoạt động bảo hiểm đối với xã hội

Ngày 12/11/1996 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được quốc hội thông qua có

quy định về việc các doanh nghiệp nước ngoài khi tham gia bảo hiểm tại Việt Nam thì phải

ký kết hợp đồng bảo hiểm đối với các doanh nghiệp bảo hiểm được pháp hoạt động tại Việt

Nam Tiếp sau đó, Nghị định 115/1997/NĐ – CP ngày 17/12/1997 của Chính phủ về bảo

hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới được ban hành

Mặc dù, Nghị định 100/CP của Chính phủ ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo

hiểm, BLDS 1996 và các văn bản pháp luật khác đã khẳng định vai trò quan trọng trong

việc thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển Tuy nhiên, với tốc độ phát triển

mạnh mẽ của thị trường bảo hiểm, cần phải có một văn bản pháp luật chuyên ngành mang

tính pháp lý cao hơn nữa, quy định chi tiết và toàn diện hơn nữa, tương xứng với quy mô

phát triển của ngành bảo hiểm hiện nay, Luật KDBH 2000 ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu

đó

2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm nhân thọ trên TG

và VN

So với các ngành luật khác, pháp luật bảo hiểm nhân thọ còn khá non trẻ, nhưng vô

cùng quan trọng bởi vì những đặc tính riêng của hình thức bảo hiểm này Bởi lẽ, bảo hiểm

nhân thọ có liên quan mật thiết không chỉ đến tính mạng mà còn liên quan đến sản nghiệp

của con người

a) Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm nhân thọ trên TG

Trên thế giới tồn tại hai hệ thống pháp luật chủ yếu: Hệ thống pháp luật Châu Âu

lục địa (Continental Law) và Hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Common Law) Hai hệ thống

pháp luật này có nhiều nét cơ bản khác nhau24 Tuy nhiên trong lĩnh vực bảo hiểm thì hai

hệ thống này lại có những quy định tương đối giống nhau25

Nhìn chung, có thể nhận thấy rằng, pháp luật bảo hiểm nhân thọ của các

nước ra đời sau khi các luật bảo hiểm khác được hình thành Hay nói cách khác, cả

hai hệ thống pháp luật trên đều bắt nguồn từ bảo hiểm hàng hải Tập quán bảo

hiểm hàng hải là nguồn gốc quan trọng của luật bảo hiểm

b) Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm nhân thọ ở Việt

Nam

Cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có một quy định riêng dành cho bảo hiểm

nhân thọ, các quy định có liên quan đều nằm trong BLDS và Luật KDBH Luật về

bảo hiểm nhân thọ là một phần thuộc bảo hiểm con người quy định tại luật nêu trên

24 Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật - Khoa Luật ĐHQG Hà Nội, 1998

25 Một số điều cần biết về pháp lý trong doanh bảo hiểm, GS.TS Trương Mộc Lâm - Lưu Nguyên Khánh,

NXB Thống Kê 2001, trang 37

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

Tuy nhiên, những quy định đó vẫn chưa thể điều chỉnh mối quan hệ phức tạp của

bảo hiểm nhân thọ vì những đặc trưng riêng của ngành bảo hiểm này

Nhìn chung, pháp luật về bảo hiểm nhân thọ sẽ cần được chú trọng thêm

nhằm quy định cụ thể hơn các vấn đề về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, chủ thể tham

gia, các thể thức thực hiện… để pháp luật bảo hiểm nhân thọ có thể đáp ứng yêu

cầu ngày càng cao của quan hệ bảo hiểm nhân thọ

III Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Hoạt động bảo hiểm nói chung và hoạt động bảo hiểm nhân thọ nói riêng có ý

nghĩa rất lớn đối với đời sống xã hội Như ta đã biết, hoạt động bảo hiểm ban đầu được

hình thành xuất phát từ nhu cầu tương trợ của những người chung sống trong một cộng

đồng nhằm chia sẻ và cùng nhau gánh vác rủi ro Tuy nhiên, không dừng lại ở mục đích

ban đầu, hoạt động bảo hiểm còn mang nhiều ý nghĩa thiết thực khác

1 Ý nghĩa của hoạt động bảo hiểm

a) Về mặt kinh tế

Bảo hiểm - công cụ đảm bảo an toàn - Trong đời sống xã hội, rủi ro luôn làm

phát sinh các thiệt hại đối với tài sản, thậm chí tính mạng của con người Những rủi ro đó

có thể làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh, ngưng trệ mọi sinh hoạt của xã hội

Nói cách khác, nó làm giảm hiệu quả hoạt động của con người Mặc dù vậy, người ta

không thể nào lường trước được những rủi ro có thể xảy ra Do đó, cách tốt nhất là hạn chế

những tổn thất mà rủi ro mang lại nếu có

Một trong những cách nhằm hạn chế rủi ro đó là lập trước các quỹ dự trữ hay còn

gọi là quỹ bảo hiểm để dự phòng Các quỹ dự trữ đó sẽ khắc phục các hậu quả do tổn thất

gây ra, nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của xã hội Như vậy, về mặt kinh tế, các quỹ

bảo hiểm như là một công cụ dự phòng an toàn đảm bảo khả năng hoạt động bền vững của

chủ thể kinh tế và của chính nền kinh tế

Bảo hiểm - công cụ tài chính của nền kinh tế hiện đại - không chỉ là quỹ dự

phong rủi ro, bảo hiểm còn là một cách huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư dùng vào mục

đích kinh doanh Thật vậy, hiện nay, trong xã hội vẫn còn có một số vốn lớn tồn tại không

lưu thông vì nhiều lý do khác nhau, có thể những người giữ nguồn vốn đó không có khả

năng kinh doanh hoặc không muốn kinh doanh Chính vì vậy, thông qua hoạt động bảo

hiểm, một lượng lớn tiền tệ được huy động cho doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm Bằng

số vốn đó, doanh nghiệp sẽ sử dụng để đầu tư kinh doanh và thu lợi nhuận góp phần sử

dụng có hiệu quả nguồn vốn trong xã hội

Ngoài ra, bảo hiểm còn đảm bảo cho nguồn vốn vay của các ngân hàng, đảm bảo

cho việc luân chuyển vốn Thật vậy, trong giai đoạn kinh tế hiện nay, phần lớn và chủ yếu

vốn mà các doanh nghiệp sử dụng hiện nay là vay từ hệ thống ngân hàng Nếu như có rủi

ro xảy ra, khả năng hoàn vốn của doanh nghiệp bị hạn chế sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của

ngân hàng cũng như của chính doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp tham gia bảo

hiểm thì khi rủi ro xảy ra, sẽ nhận một số tiền từ doanh nghiệp bảo hiểm, đảm bảo hoạt

động nhanh chóng khôi phục sản xuất và hoàn vốn cho ngân hàng

Bên cạnh đó, bảo hiểm còn có ý nghĩa đối với nền kinh tế nông thôn Nông

nghiệp vốn là cơ sở của nền kinh tế nước ta nhưng do thiên tai cũng như trình độ

sản xuất chưa cao nên người nông dân vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự

nhiên và thường chịu nhiều rủi ro trong sản xuất nông nghiệp Bảo hiểm nông

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

nghiệp sẽ giúp cho nhà người nông dân yên tâm hơn khi tham gia sản xuất nông

nghiệp

Như vậy, bảo hiểm không chỉ đóng vai trò của một công cụ đảm bảo an toàn mà

còn là một trung gian tài chính giúp cho nền kinh tế của quốc gia phát triển

b) Về mặt xã hội

Bảo hiểm - biện pháp hỗ trợ cộng đồng - không những mang những ý nghĩa trong

lĩnh vực kinh tế, bảo hiểm còn giúp cho xã hội phát triển ổn định và an toàn Bảo hiểm sẽ

góp phần khắc phục những tổn thất do rủi ro mang lại

Thật vậy, bảo hiểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta, nhất là trong

công tác phòng, chống và khắc phục thiệt hại do hiểm họa thiên nhiên Bởi lẽ, ở khắp nơi,

luôn xảy ra những thiên tai và tai nạn bất ngờ Trong một số trường hợp, bảo hiểm đã hỗ

trợ, bù đắp phần nào những thiệt hại về người và tài sản, giúp cho gia đình nạn nhân vượt

qua được giai đoạn khó khăn để tiếp tục cuộc sống26

Bảo hiểm - biện pháp đề phòng rủi ro, giảm bớt những tổn thất của xã hội -

Nói như vậy, bởi vì các doanh nghiệp thường tìm cho mình những chuyên gia giỏi nhằm

nghiên cứu các rủi ro, từ đó đề ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, cung cấp cho người

tham gia bảo hiểm các dịch vụ tư vấn bảo hiểm

Ở một góc độ khác có thể thấy rằng, bảo hiểm là một cách mà mọi người tương trợ

nhau thông qua một tổ chức, đó là doanh nghiệp bảo hiểm Thật vậy, khi tham gia bảo

hiểm, chủ hợp đồng phải đóng một khoản tiền nhất định để đảm bảo cho rủi ro của mình

Tuy nhiên, xác suất xảy ra rủi ro sẽ không cao đối với cộng đồng xã hội, rủi ro chỉ xảy đến

đối với một số ít người Do đó, nhờ hoạt động bảo hiểm mà số đông người sẽ bù đắp cho

một số ít bị rủi ro Như vậy, bảo hiểm là cách mà mọi người có thể vừa giúp nhau và vừa

tự bảo vệ mình

2 Ý nghĩa của hoạt động bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ cũng có những ý nghĩa tương tự như các hình thức bảo

hiểm khác Tuy nhiên, bảo hiểm nhân thọ liên quan tới sinh mạng của con người

nên ngoài những ý nghĩa chung như trên, còn có một số ý nghĩa đặc trưng của bảo

hiểm nhân thọ

Ý nghĩa bảo vệ - Trong xã hội có nhiều mức sống khác nhau: sống phụ

thuộc vào người khác, lao động vất vả nhưng không đủ sống, mức sống ổn định và

mức sống khá giả Dù ở mức sống nào con người cũng có những ước mơ hoài bảo

Người muốn gia đình ổn định, người muốn con cái học thành tài, có người lại mơ

ước tuổi già có cuộc sống độc lập không phụ thuộc con cháu Thế nhưng, không

phải ai cũng có thể biến ước mơ thành hiện thực Bởi lẽ, dù không muốn thì luôn có

ba rủi ro luôn rình rập con người đó là: tai nạn làm tàn phế, bệnh hiểm nghèo và

mất sớm Nếu như một trong các rủi ro này xảy ra thì làm sao con người có thể có

thể thực hiện những ước mơ của mình, bởi có quá nhiều chi phí cần được trang trải

nhưng khi đó, người ta không thể lao động để tạo ra thu nhập Những người gặp rủi

ro buộc phải sống dựa vào những người xung quanh

26 Điển hình như vụ cháy ITC (TP.HCM), số tiền bảo hiểm mà công ty Bảo Minh đã chi trả hơn 8 tỉ đồng

Trong đó, bảo hiểm tài sản đã hơn 5 tỉ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

Chính vì những rủi ro không thể lường trước được nên khi tham gia bảo

hiểm nhân thọ bằng những khoản tiền tiết kiệm ngày hôm nay sẽ hỗ trợ cho con

người nếu chẳng may gặp rủi ro trong tương lai Khoản tiền bảo hiểm mà người

tham gia bảo hiểm nhận được nếu có rủi ro sẽ là một nguồn thu nhập thay thế giúp

cho chính người gặp rủi ro vượt qua những khó khăn về tài chính cũng như giúp

những thành viên trong gia đình tiếp tục có cuộc sống tương đối ổn định

Bảo hiểm nhân thọ sẽ có tác dụng bảo vệ đặc biệt cao đối với những người là

kinh tế trụ cột của gia định Bởi vì, bất cứ rủi ro nào xảy ra, ít nhiều đều ảnh hưởng

đến toàn bộ các thành viên của gia đình, nhất là đối với trẻ con

Tóm lại, bảo hiểm nhân thọ là khoản tài chính dự phòng giúp cho mọi người

có thể an tâm hơn trong cuộc sống vì khoản tài chính này sẽ giúp cho gia đình

người tham gia bảo hiểm khi cần thiết Không những có ý nghĩa bảo vệ khi gặp rủi

ro, bảo hiểm nhân thọ còn là hình thức tiết kiệm mang tính kỷ luật cao và sẽ mang

lại lợi ích cho người tham gia bảo hiểm khi không có rủi ro

Ý nghĩa tiết kiệm - Khi tham gia bảo hiểm nhân thọ, ngoài mục đích bảo vệ nguồn

lợi bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm còn mong muốn tiết kiệm một khoản tiền sử dụng

cho tương lai khi đáo hạn hợp đồng bảo hiểm Thật vậy, không ai tham gia bảo hiểm vì

mong muốn nhận được tiền bảo hiểm từ rủi ro của những người thân mà họ muốn thông

qua hình thức bảo hiểm có thể tiết kiệm được một số tiền Có thể nói rằng bảo hiểm nhân

thọ là một hình thức tiết kiệm hiệu quả hơn một số hình thức tiết kiệm khác như mở tài

khoản tiết kiệm tại ngân hàng, bỏ ống heo, tái sử dụng chất thải…bởi vì khi tham gia hình

thức bảo hiểm nhân thọ, người tham gia bảo hiểm được hưởng những dịch vụ “chăm sóc

khách hàng” rất tốt của các công ty bảo hiểm, được mua hàng giảm giá, được khám

nghiệm y khoa miễn phí và chăm sóc sức khỏe định kỳ

Trong xã hội, tồn tại hai dạng người: một là người thích tiêu xài trước và tiết kiệm

sau (chiếm 95%); hai là người tiết kiệm trước tiêu xài sau (chiếm5%)27 Dạng người thứ

nhất thường không thực hiện được những kế hoạch tương lai lâu dài nhưng ngược lại dạng

thứ hai luôn luôn thực hiện được những dự định bởi vì họ biết cách tiết kiệm cho những dự

định ở tương lai Những người có ý thức về tự bảo vệ cho bản thân và gia đình bằng việc

tham gia bảo hiểm thuộc nhóm thứ hai Thông qua bảo hiểm nhân thọ sẽ giúp cho mọi

người hình thành thói quen tiết kiệm một cách có kỷ luật Không có hình thức tiết kiệm

nào vừa mang tính bảo vệ vừa mang tính tiết kiệm hơn hình thức bảo hiểm nhân thọ

Như vậy, dù bảo hiểm nhân thọ không giúp con người tránh được rủi ro nhưng nó

sẽ giúp chúng ta bảo vệ nguồn tài chính của gia đình trong tương lai Bảo hiểm nhân thọ sẽ

làm cho chúng ta bình an trong cuộc sống, mang lại hạnh phúc cho trẻ thơ và sự yên tâm

về tài chính

Mục 2 HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ Dẫn nhập - Trong cuộc sống, dù muốn hay không, con người luôn đối diện

với nguy cơ bệnh tật hiểm nghèo, tai nạn gây thương tật thậm chí tử vong sớm

Những rủi ro này sẽ khiến cho cuộc sống của con người bị đảo lộn Thật vậy, những

rủi ro trên sẽ làm cho những dự định và kế hoạch tương lai của con người khó thực

27

Tài liệu huấn luyện Đại lý bảo hiểm - Công ty Bảo hiểm nhân thọ Prudential, năm 2003

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

hiện hoặc không thể thực hiện Đó cũng là cơ sở cho sự ra đời của hoạt động bảo

hiểm nhân thọ

Bảo hiểm là một nghiệp vụ mà qua đó, người được bảo hiểm cam đoan trả một

khoản tiền là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc người thứ ba trong

trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được khoản đền bù tổn thất được trả bởi người bảo hiểm

hay doanh nghiệp bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro của

người được bảo hiểm28

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ

bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết29 Như vậy, bảo hiểm

nhân thọ là một trong các nghiệp vụ bảo hiểm do con người tạo ra nhằm bảo vệ quyền lợi

cho người tham gia bảo hiểm Dựa vào khái niệm bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân

thọ nói trên ta có khái niệm bảo hiểm nhân thọ rõ ràng hơn

Bảo hiểm nhân thọ là nghiệp vụ bảo hiểm mà người được bảo hiểm cam đoan đóng

một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm và sẽ nhận được khoản tiền

chi trả từ doanh nghiệp bảo hiểm khi xảy ra sự kiện sống hoặc chết trong thời hạn hợp

đồng hoặc khi kết thúc hợp đồng

Tóm lại, bảo hiểm nhân thọ có thể được hiểu là hoạt động bảo hiểm liên quan đến

tuổi thọ và sinh mạng của con người Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, hoạt động bảo hiểm này

không dựa theo nguyên tắc bồi thường mà áp dụng theo nguyên tắc khoán30

I KHÁI NIỆM CHUNG

Dẫn nhập - Trong cuộc sống, dù muốn hay không, con người luôn đối diện với

nguy cơ bệnh tật hiểm nghèo, tai nạn gây thương tật thậm chí tử vong sớm Những rủi ro

này sẽ khiến cho cuộc sống của con người bị đảo lộn, làm cho những dự định và kế hoạch

tương lai của con người khó thực hiện hoặc không thể thực hiện

Bảo hiểm là một nghiệp vụ mà qua đó, người được bảo hiểm cam đoan trả một

khoản tiền là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc người thứ ba

trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được khoản đền bù tổn thất được trả bởi

người bảo hiểm hay doanh nghiệp bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối

với toàn bộ rủi ro của người được bảo hiểm31

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ

bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết32 Như vậy, bảo

hiểm nhân thọ là một trong các nghiệp vụ bảo hiểm do con người tạo ra nhằm bảo

vệ quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm

Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền

và nghĩa vụ dân sự33 Hợp đồng bảo hiểm cũng là một trong những loại hợp đồng thông

dụng do đó chịu sự điều chỉnh chung của luật chung về hợp đồng Một cách tổng quát thì

hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng

phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền cho bên được bảo hiểm khi xảy ra

Xem Mục 2 HĐBHNT, phần 1b Đặc trưng kỹ thuật

31 Lý thuyết bảo hiểm , PTS Nguyễn Ngọc Định - Nguyễn Tiến Hùng - Hồ Thuỷ Tiên , NXB Tài chính 1997,

Trang 20

sự kiện bảo hiểm34 Sự kiện bảo hiểm được hiểu là sự kiện khách quan do các bên thỏa

thuận hoặc do pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì bên bảo hiểm phải trả tiền

cho bên được bảo hiểm35

Tuy nhiên, khái niệm hợp đồng bảo hiểm trên không thể hiện rõ việc phân loại hợp

đồng bảo hiểm Bởi lẽ, dựa vào đối tượng bảo hiểm36 chúng ta có ba loại hợp đồng bảo

hiểm chủ yếu là: hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm con người và hợp đồng

bảo hiểm trách nhiệm dân sự37 Do đó, cần phải dựa vào đặc trưng kỹ thuật giữa các loại

hợp đồng để làm rõ hơn khái niệm hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Đặc trưng đó là nguyên

tắc chi trả quyền lợi bảo hiểm

Hiện nay, có hai nguyên tắc chi trả quyền lợi bảo hiểm: nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán Trong hợp đồng bảo hiểm con người, người ta

không áp dụng nguyên tắc bồi thường mà áp dụng nguyên tắc khoán còn hợp đồng bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự áp dụng nguyên tắc bồi thường38 Do đó, trong hai loại hợp đồng này khái niệm chi trả không được sử dụng mà sử dụng khái niệm bồi thường Và ngược lại, hợp

đồng bảo hiểm nhân thọ nguyên tắc chi trả là nguyên tắc khoán, không phải

là nguyên tắc bồi thường39, nên thuật ngữ chi trả được sử dụng Dựa nội

dung này có thể phân biệt hợp đồng bảo hiểm con người với hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Khái niệm hợp đồng bảo hiểm được hoàn thiện hơn trong Luật KDBH 2000 Theo

quy định tại Điều 12, hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và

doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp

bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được

bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Có thể nói rằng, cho đến nay pháp luật hiện hành vẫn chưa có khái niệm về hợp

đồng bảo hiểm nhân thọ Tuy nhiên, dựa vào khái niệm về hợp đồng bảo hiểm và khái

niệm chung bảo hiểm nhân thọ, ta có thể có xác định được một số đặc điểm về hợp đồng

bảo hiểm nhân thọ như sau:

§ Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm là tính mạng, tuổi thọ của người được bảo

hiểm

§ Bảo hiểm nhân thọ không mang tính chất bồi thường

§ Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cũng là sự thoả thuận giữa người mua bảo hiểm

và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm

§ Sự kiện bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là người được bảo hiểm sống hoặc

37 Luật KDBH 2000, Điều 12, khoản 2

38 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ- Tổng công ty Bảo

hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 56

39

Xem phần 1b “Đặc trưng kỹ thuật của HĐBHNT”

Comment [MA2]: Page: 17

Nếu có thể, hãy viết lại đoạn này Cô không thể sửa được !

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 21

Từ những đặc điểm trên và quy định của Điều 12 Luật KDBH, có thể có một khái

niệm về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ như sau:

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng có đối tượng bảo hiểm là tính mạng và

tuổi thọ của con người, theo đó bên mua bảo hiểm có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm và

doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện

bảo hiểm

II ĐẶC TRƯNG KỸ THUẬT VÀ ĐẶC TRƯNG PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

1 Đặc trưng kỹ thuật

Quy luật số đông - Trong cuộc sống hay tự nhiên, chúng ta có thể dễ dàng thống

kê số liệu về những hiện tượng hay quá trình được lặp đi lặp lại Chính vì vậy, T Simpon

đã xây dựng nên Bảng tỷ lệ tử vong, dựa vào bảng này người ta có thể biết một cách tương

đối số lượng người tử vong trong một độ tuổi cụ thể một cách chính xác Quy luật số đông

là quy luật dựa trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành một cộng đồng nhằm

phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất40 Số người tham gia càng đông thì tổn

thất càng phân tán mỏng Bởi vì, theo thống kê thì nhiều người không thể cùng tử vong

trong cùng một tai nạn, số lượng tử vong là rất hạn chế

Chia sẻ tổn thất - Xuất phát từ cơ sở hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân

thọ, cho thấy bảo hiểm nhân thọ là một hình thức quỹ giúp mọi người chia sẻ rủi ro cho

nhau thông qua số tiền phí đóng góp của người tham gia bảo hiểm Thật vậy, tổng khoản

phí mà người yêu cầu bảo hiểm đóng góp là rất nhỏ so với số tiền bảo hiểm mà mỗi người

nhận được khi xảy ra rủi ro Mọi người khi tham gia bảo hiểm nhân thọ đều phải đóng phí

và số phí nay sẽ được sử dụng để giúp đỡ cho những người không may gặp rủi ro và gia

đình họ

Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng bảo hiểm nhân thọ không chỉ là một quỹ từ

thiện mà là một hình thức tiết kiệm Do đó, đối với những người tham gia bảo hiểm nhưng

không gặp rủi ro thì đến khi đáo hạn hợp đồng sẽ nhận được số tiền đã được cam kết giữa

doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm41

Tính bình đẳng của rủi ro - Để tạo sự bình đẳng giữa các thành viên tham gia bảo

hiểm, không có thành viên nào được hưởng lợi nhiều nhờ vào quỹ bảo hiểm, bảo hiểm

nhân thọ có nguyên tắc bình đẳng rủi ro Đây là một nguyên tắc đặc trưng của bảo hiểm

nhân thọ, đối tượng được bảo hiểm nào có khả năng xảy ra rủi ro cao sẽ phải trải qua quá

trình thẩm định và lựa chọn của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm các định một mức phí phù

hợp, đảm bảo công bằng cho mọi người tham gia bảo hiểm

Nguyên tắc khoán - Nguyên tắc khoán là đặc trưng giúp ta phân biệt bảo hiểm

nhân thọ với bảo hiểm tài sản Nguyên tắc chi trả quyền lợi bảo hiểm trong hợp đồng bảo

hiểm tài sản khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra là nguyên tắc bồi thường còn đối với hợp đồng

bảo hiểm nhân thọ thì nguyên tắc khoán là nguyên tắc chi trả

Mục đích của nguyên tắc bồi thường trong bảo hiểm tài sản là khôi phục lại toàn bộ

hoặc một phần tình trạng ban đầu của tài sản đăng ký bảo hiểm tùy thuộc vào thỏa thuận

bảo hiểm, nghĩa là người được bảo hiểm không thể nhận được số tiền chi trả nhiều hơn giá

trị tổn thất mà họ gánh chịu Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm chỉ

40 Lý thuyết bảo hiểm, PTS Nguyễn Ngọc Định - Nguyễn Tiến Hùng- Hồ Thuỷ Tiên , NXB Tài chính 1997,

trang 44

41

Số tiền này có thể là phí thực đóng hoặc số tièn bảo hiểm cộng bảo tức tích luỹ tuỳ loại hợp đồng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

phát sinh khi có tổn thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra42 Một tài sản có thể trở thành đối

tượng bảo hiểm của nhiều hợp đồng bảo hiểm nhưng, một cách tổng quát, có thể nói rằng,

tổng giá trị bồi thường của nhiều hợp đồng bảo hiểm không được vượt quá tổn thất thực sự

cũng như người được bảo hiểm không có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại bồi thường khi

đã nhận tiền bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm

Ngược lại, trong bảo hiểm nhân thọ, đối tượng được bảo hiểm là tính mạng của con

người nên không thể xác định được giá trị tổn thất nếu rủi ro xảy ra Tính mạng và sức

khoẻ của con người là vô giá Do đó, khi tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

người ta ấn định một số tiền mà nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra, thì người tham gia bảo hiểm

vẫn có thể nhận được Như vậy, nghĩa vụ chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm không mang

tính chất bồi thường thiệt hại mà mang tính chất thực hiện một cam kết để đổi lấy phí bảo

hiểm đóng trước

Nguyên tắc khoán đưa ra một giá trị có thể nhận được nếu sự kiện thỏa thuận trong

hợp đồng xảy ra.Giá trị này không phụ thuộc vào thiệt hại mà các bên gánh chịu, dù thiệt

hại như thế nào cũng nhận được một giá trị khoán sẵn Do không xuất phát từ mục đích

khôi phục thiệt hại nên người được bảo hiểm cùng lúc có thể nhận được quyền lợi từ nhiều

hợp đồng bảo hiểm khác nhau cũng như có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại bồi thường dù

đã nhận được chi trả từ doanh nghiệp bảo hiểm Đây là điểm khác biệt đối với bảo hiểm tài

sản

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính bảo vệ vừa mang tính đầu tư -

Bảo hiểm nhân thọ là một hợp đồng liên quan đến thời gian sống và tài chính Nếu ai

không may mất sớm, bảo hiểm nhân thọ sẽ thay thế họ cung cấp tài chính cho người thân

Nếu ai may mắn không gặp rủi ro, thì bảo hiểm nhân thọ sẽ mang lại số tiền mà họ mong

muốn để thực hiện các dự định trong tương lai Như vậy, bảo hiểm nhân thọ thực chất là

chương trình bảo hiểm mang tính tiết kiệm Khi có rủi ro là bảo hiểm, không có rủi ro thì

đó chính là tiết kiệm thậm chí là một hình thức đầu tư43

Thật vậy, không phải tất cả mọi người đều có khả năng kinh doanh vì kinh doanh là

một nghệ thuật và cũng là một công việc khó khăn Thay vì tham gia kinh doanh để tạo lợi

nhuận, người không thích kinh doanh vẫn có thể tạo một quỹ dự phòng chắc chắn bằng

cách tham gia bảo hiểm nhân thọ Do đó, khi tham gia bảo hiểm nhân thọ, nếu rủi ro không

xảy ra thì người yêu cầu bảo hiểm sẽ nhận được một số tiền lớn hơn số phí mà họ đóng

góp44 Tóm lại, bằng cách tham gia bảo hiểm, người yêu cầu bảo hiểm đã đầu tư số vốn của

mình một cách hiệu quả và an toàn nhất, vừa tự bảo vệ vừa sinh lợi nhuận

2 Đặc trưng pháp lý

Do có những đặc trưng riêng về mặt kỹ thuật nên ngoài những đặc trưng

pháp lý theo luật chung về hợp đồng, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ còn có những

đặc trưng pháp lý riêng biệt

Hợp đồng bảo hiểm không phải là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba - Hiện

nay có nhiều quan điểm cho rằng hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng vì lợi ích của người thứ

ba - là những hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và

42

Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ- Tổng công ty Bảo

hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 56

43 Tài liệu huấn luyện Đại lý bảo hiểm - Công ty Bảo hiểm nhân thọ Prudential, năm 2003

44 Tùy loại hợp đồng bảo hiểm mà người yêu cầu bảo hiểm sẽ nhận được toàn bộ phí thực đóng hoặc số tiền

bảo hiểm cộng bảo tức tích lũy

Comment [MA3]: Page: 19

Viết như vậy sẽ gây hiểu lầm rằng khi xảy ra rủi ro hoặc không, vẫn nhận được cùng một số tiền

Comment [MA4]: Page: 19

Nên viết lại câu này cho rõ hơn

Comment [MA5]: Page: 20

Viết lại !

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó45 Để có thể xác định một

cách tương đối chắc chắn về tính chất đặc biệt này của hợp đồng bảo hiểm, có lẽ, cần xem

xét các quy định về hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba trong BLDS 1995 từ Điều 414

đến Điều 416 Theo đó, hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba có một số đặc điểm sau đây:

ü Hợp đồng được ký kết vì lợi ích của một người thứ ba không trực tiếp tham gia

ký kết hợp đồng

ü Khi người thứ ba từ chối thụ hưởng lợi ích thì hợp đồng vì lợi ích của

người thứ ba không phát sinh hiệu lực

ü Khi người thứ ba đồng ý hưởng lợi ích, thì các bên giao kết không được

sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng dù hợp đồng chưa được thực hiện

Từ một số đặc điểm cơ bản trên có thể thấy rằng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

không phải là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, vì những lẽ sau:

Ø Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được ký kết vì lợi ích của chính người mua

bảo hiểm mà không vì lợi ích của người thứ ba khác46

Ø Có hai người không tham gia trực tiếp vào việc ký kết hợp đồng bảo hiểm

nhưng có ảnh hưởng đến quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng, ta lần

lượt xem xét từng chủ thể Thứ nhất, người được bảo hiểm, theo quy định

của pháp luật về bảo hiểm thì ngay từ thời điểm giao kết người được bảo

hiểm phải biết và đồng ý về việc người khác mua bảo hiểm sinh mạng cho

mình Nếu người được bảo hiểm không đồng ý thì hợp đồng đó, nếu vẫn

giao kết, có thể bị tuyên bố vô hiệu Như vậy, khả năng từ chối hưởng lợi

ích sau khi hợp đồng được ký kết làm mất hiệu lực hợp đồng đối với người

được bảo hiểm bị loại trừ Thứ hai, người thụ hưởng cũng là người thứ ba

có liên quan trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, nhưng luật không ghi nhận

quyền từ chối hưởng lợi ích của người này có thể làm mất hiệu lực của hợp

đồng bảo hiểm nhân thọ

Ø Người mua bảo hiểm có thể thay đổi nội dung hợp đồng bảo hiểm trừ việc

thay đổi người được bảo hiểm như thay đổi số tiền bảo hiểm, thay đổi kỳ

hạn đóng phí,…mà không cần phải có sự đồng ý của người được bảo hiểm

và người thụ hưởng

Tóm lại, người được bảo hiểm và người thụ hưởng đều không thỏa điều kiện

là người thứ ba trong hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba Do đó, có thể nói hợp

đồng bảo hiểm không phải là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba mà mang tính

chất của một loại hợp đồng khác Mặt khác, xuất phát từ quan hệ lợi ích bảo hiểm47

nên người mua bảo hiểm chấp nhận tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ mà người

được bảo hiểm là một người khác vì lợi ích của chính mình mà không phải vì lợi ích

của một người thứ ba khác48

45 BLDS 1995, Điều 405, khoản 3

46 Xem “Lợi ích bảo hiểm” tại Chương 2, mục 1 của đề tài này

47 Xem “Lợi ích bảo hiểm” tại Chương 2, mục 1 của đề tài này

48

Xem “Lợi ích bảo hiểm” tại Chương 2, mục 1 của đề tài này

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng tặng cho cĩ điều kiện treo

giữa người mua bảo hiểm và người thụ hưởng- Thoạt tiên, cĩ vẻ hơi do dự khi

nhận định rằng mối quan hệ giữa người mua bảo hiểm và người thụ hưởng là quan

hệ tặng cho Bởi lẽ, do số tiền bảo hiểm là một số tiền sẽ cĩ khi sự kiện bảo hiểm

xảy ra đối với người được bảo hiểm nên tính chất sở hữu đối với số tiền đĩ (khi

định đoạt tặng cho thơng qua việc chỉ định người thụ hưởng) của người mua bảo

hiểm là chưa tồn tại Người mua bảo hiểm chỉ cĩ một lợi ích bảo hiểm với người

được bảo hiểm Tuy nhiên, quan hệ tặng cho nêu trên là hợp đồng tặng cho cĩ điều

kiện treo Khi điều kiện xảy ra thì quan hệ tặng cho hay hợp đồng tặng cho bắt đầu

cĩ hiệu lực Nghĩa là, người mua bảo hiểm được hưởng lợi ích do hợp đồng bảo

hiểm đem lại thì người mua bảo hiểm sẽ tặng cho số tiền bảo hiểm cho người thụ

hưởng Nếu người mua bảo hiểm khơng nhận được số tiền bảo hiểm do các sự kiện

bảo hiểm thì hợp đồng tặng cho khơng phát sinh điều kiện treo Nĩi cách khác, điều

kiện treo chính là điều kiện sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Mặc dù tại thời điểm tham gia hợp đồng bảo hiểm, người mua bảo hiểm

chưa cĩ số tiền bảo hiểm nhưng trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tồn tại một hợp

đồng tặng cho giữa người mua bảo hiểm và người thụ hưởng Số tiền đĩng phí bảo

hiểm là của người mua bảo hiểm, trong trường hợp đáo hạn hợp đồng bảo hiểm,

nghĩa là người được bảo hiểm khơng bị rủi ro, thì số tiền bảo hiểm nhận được là số

tiền tiết kiệm của người mua bảo hiểm Do đĩ, người này cĩ quyền tặng cho tài sản

của mình cho một người khác Trong trường hợp rủi ro xảy ra đối với người được

bảo hiểm, người mua bảo hiểm cĩ số tiền bảo hiểm do lợi ích bảo hiểm bị ảnh

hưởng và số tiền bảo hiểm cũng là tài sản của người mua bảo hiểm Điều dễ hiểu,

họ cũng cĩ thể tặng cho tài sản của mình cho người khác Tuy nhiên, hợp đồng tặng

cho trong hợp đồng bảo hiểm được thiết lập trong điều kiện người mua bảo hiểm

chưa cĩ tài sản tặng cho là giá trị của hợp đồng bảo hiểm Tài sản tặng cho chưa tồn

tại vào thời điểm tặng cho nhưng đĩ là một tài sản chắc chắn cĩ trong tương lai

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng bảo hiểm tự nguyện - Cĩ một

cách thức phân loại hợp đồng bảo hiểm khác là chia thành bảo hiểm tự nguyện và

bảo hiểm bắt buộc Bảo hiểm bắt buộc là hình thức bảo hiểm chỉ áp dụng đối với

một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích cơng cộng và an tồn xã hội49

Khơng giống hình thức bảo hiểm bắt buộc, hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng mang

tính chất tự nguyện được giao kết trong khuơn khổ pháp luật khi thỏa thuận lựa

chọn điều kiện bảo hiểm và mức phí bảo hiểm mà các bên cĩ nghĩa vụ thực hiện

Chính vì vậy, Điều 572 BLDS ghi rõ: Hợp đồng bảo hiểm tự nguyện là sự thỏa

thuận giữa các bên về các điều kiện bảo hiểm và mức phí Cĩ nghĩa là, trong hợp

đồng bảo hiểm nhân thọ, người mua bảo hiểm ngồi việc tự do ý chí về việc cĩ giao

kết hợp đồng hay khơng, cịn cĩ thể đĩng phí theo khả năng của mình và theo quy

định riêng của doanh nghiệp bảo hiểm cho từng loại hợp đồng

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng song vụ cĩ đền bù - Dựa vào quyền

và nghĩa vụ của các bên khi tham gia hợp đồng, người ta phân chia thành hai loại hợp

đồng: hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ

49 như bảo hiểm xã hội của người lao động, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm tiền

gửi

Comment [MA6]: Page: 21

Điều kiện treo trong hợp đồng tặng cho chính là việc người mua bảo hiểm cĩ số tiền bảo hiểm - Câu này chưa chính xác Điều kiện treo là: (Cần xác định thật rõ về chủ thể được tặng cho khi phân tích đặc điểm này)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

Hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng đều là hợp

đồng song vụ Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có quyền và nghĩa vụ đối

với nhau50 Thực vậy khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bên mua bảo hiểm có

quyền được nhận tiền bảo hiểm đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ đóng phí, cung cấp

thông tin,…; còn doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm theo cam kết, cung

cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các sản phẩm bảo hiểm, giải thích hợp đồng,… Có nghĩa là, cả

bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đều có nghĩa vụ phải thực hiện, quyền của

bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại.Vì lẽ đó, có thể khẳng định hợp đồng bảo

hiểm nhân thọ là hợp đồng song vụ

Hợp đồng có đền bù là loại hợp đồng mà một bên chuyển một quyền, thực hiện

hoặc không thực hiện một việc vì lợi ích của bên kia và nhận được một lợi ích có tính chất

hoàn trả51 Từ khái niệm trên có thể thấy rằng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng có

đền bù Bởi vì, người mua bảo hiểm đóng một khoản phí cho doanh nghiệp bảo hiểm và

nhận được lời cam kết sẽ nhận được một khoản tiền khi sự kiện bảo hiểm xảy ra

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng trọng thức theo mẫu - Hợp đồng là

sự gặp gỡ ý chí của các bên, thông qua đó tiến hành giao kết hợp đồng Có một số loại hợp

đồng chỉ cần có sự thống nhất ý chí của hai bên giao kết hợp đồng mà không cần thủ tục

nào cũng có thể tiến hành giao kết hợp đồng52, nhưng cũng có một số hợp đồng còn cần

phải đảm bảo yêu cầu về hình thức do luật định với tên gọi trong học thuyết pháp lý là hợp

đồng trọng thức Và, theo quy định của pháp luật hiện hành thì hợp đồng bảo hiểm phải

được lập thành văn bản53

Các hợp đồng trọng thức thường là những hợp đồng mà đối tượng của nó là những

tài sản có giá trị hoặc mang tính chất đặc biệt: hợp đồng mua bán hoặc thuê nhà ở, hợp

đồng ủy quyền…Có lẽ, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường liên quan đến một số tiền lớn

thậm chí sinh mạng con người; do đó, việc quy định hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng trọng

thức là cách tốt nhất để bảo vệ cho các chủ thể tham gia vào quan hệ này Hơn nữa, trong

điều kiện thời hạn của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khá dài nên từ khi hợp đồng phát sinh

hiệu lực đến khi phát sinh sự kiện bảo hiểm là một khoảng thời gian khó xác định, việc lập

thành văn bản nội dung thỏa thuận của hai bên tạo điều kiện cho việc thực hiện các quyền

và nghĩa vụ sau này cũng như giảm thiểu các tranh chấp có thể phát sinh

Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo

mẫu để bên kia trả lời trong thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận, thì

coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra54

Nguyên nhân đầu tiên khiến cho hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng theo mẫu mà

không phải là hợp đồng thương lượng tự do là vì các kỹ thuật bảo hiểm rất phức tạp nên sẽ

tạo khó khăn trong việc tiếp cận Chính vì vậy, cách tốt nhất là soạn hợp đồng theo mẫu vì

nó dễ dàng thích ứng với đại đa số cộng đồng dân cư

Bảo hiểm là hoạt động dựa trên lý thuyết về xác suất thông kê, nghĩa là dựa trên các

số liệu về rủi ro có thể thu thập được mà doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra các hình thức và

cách bảo hiểm khác nhau nhằm hạn chế chi phí thấp nhất và thu lợi nhuận tối đa cho chính

doanh nghiệp Bởi lẽ, hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm là sử dụng nguồn vốn thu

được từ phí bảo hiểm để đầu tư và dành riêng một phần khác, tương đối nhỏ để chi trả cho

50

BLDS 1995, Điều 405, khoản 1

51 Giáo trình luật Dân sự Việt Nam - Tập 1, TS Nguyễn Ngọc Điện, Cần Thơ 2000, trang 126

52 Giáo trình luật Dân sự Việt Nam - Tập 1, TS Nguyễn Ngọc Điện, Cần Thơ 2000, trang 126

Trang 26

26

các rủi ro Rủi ro trong bảo hiểm vì thế được nghiên cứu một cách cẩn thận nhằm đưa ra

hình thức bảo hiểm có lợi Dù sao thì hoạt động bảo hiểm cũng là một hoạt động kinh

doanh nên mục đích không thể thiếu trong hoạt động này là lợi nhuận Đó cũng là một

trong những nguyên nhân mà hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng theo mẫu Hợp đồng bảo

hiểm nhân thọ cũng không nằm ngoài quy luật đó

Ngoài ra, hoạt động bảo hiểm nói chung và hoạt động bảo hiểm nhân thọ nói riêng

là loại hoạt động được xây dựng dựa trên cơ sở kỹ thuật là quy luật số đông55 Chính vì vậy

cần thiết phải đảm bảo công bằng cho mọi người khi tham gia bảo hiểm Do đó, không thể

sử dụng hình thức thương lượng tự do hợp đồng trong trường hợp này

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng cá nhân - Bảo hiểm nhân thọ là hình

thức bảo hiểm sinh mạng tuổi thọ của con người Chính vì vậy, nó gắn vào một cá nhân

Cá nhân tham gia giao kết thể hiện sự ưng thuận giao kết bằng cách tự mình bày tỏ ý chí

hoặc thông qua người đại diện56

III PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Bảo hiểm nhân thọ được chia làm 5 nhóm chính Trên cơ sở đó và tùy đặc

điểm riêng của từng doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có nhiều loại sản phẩm bảo hiểm

khác nhau Mỗi sản phẩm sẽ có những đặc điểm và đối tượng phục vụ riêng, và

được thể hiện bằng các loại hợp đồng khác nhau

Hợp đồng bảo hiểm trọn đời57 - hay còn gọi là bảo hiểm trường sinh 58 Trong hợp

đồng bảo hiểm này, người được bảo hiểm sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bảo

hiểm tính mạng suốt cuộc đời Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm

khi người được bảo hiểm tử vong bất kỳ lúc nào kể từ khi hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực

Hình thức bảo hiểm này không chỉ mang tính chất bảo vệ, chống lại rủi ro tử

vong mà còn mang ý nghĩa tiết kiệm Tuy nhiên, hình thức tiết kiệm này không có

ích cho người được bảo hiểm mà nó chỉ có ý nghĩa đối với những người được nhận

số tiền bảo hiểm khi người được bảo hiểm tử vong Cách bảo hiểm này thường giúp

cho cha mẹ yên tâm về tương lai con cái khi không may họ mất đi Bởi lẽ, số tiền

mà họ tiết kiệm sẽ giúp con cái họ có cuộc sống ổn định

Hợp đồng bảo hiểm sinh kỳ59 - là hợp đồng bảo hiểm được ký kết chỉ để bảo hiểm

cho khả năng sống xảy ra khi hết một thời hạn bảo hiểm Khi người bảo hiểm sống hết

khoảng thời gian đó thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm cho người được

chỉ định nhận Đặc điểm của hình thức bảo hiểm này là tính tiết kiệm Hết thời hạn này

người được chi trả sẽ có một khoản tiền tích lũy

Hợp đồng bảo hiểm tử kỳ60 - một số tài liệu khác đưa ra tên gọi khác là bảo hiểm

tử vong tạm thời, bảo hiểm tạm thời 61 Dù với tên gọi nào thì đều có một cách hiểu chung

về nội dung của hợp đồng bảo hiểm này.Hợp đồng bảo hiểm tử kỳ được ký kết chỉ để bảo

59 Luật KDBH 2000, Điều 3, khoản 13

60 Luật KDBH 2000, Điều 3, khoản 1

61 Bảo hiểm , GS.PTS Hồ Xuân Phương - Võ Thị Pha, Trường Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội - NXB Tài

chính – 1999, trang 175

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

hiểm cho khả năng chết xảy ra trong thời gian đã quy định cụ thể trong hợp đồng Khi

người được bảo hiểm chết trong một thời gian nhất định (thời gian bảo hiểm), doanh

nghiệp bảo hiểm sẽ trả số tiền bảo hiểm Nếu trường hợp chết không xảy ra trong thời hạn

đó thì việc thanh toán không được thực hiện và người được bảo hiểm không nhận được bất

kỳ khoản tiền nào từ công ty bảo hiểm62 Vì lý do này nên loại hợp đồng nào thường có phí

đóng rất thấp và mang yếu tố bảo vệ là chủ yếu Dù không mang yếu tố tiết kiệm nhưng

hình thức bảo hiểm này phù hợp với người có thu nhập thấp

Hợp đồng bảo hiểm hỗn hợp63 - là hình thức hợp đồng có nội dung kết hợp giữa

bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ Đặc điểm của hợp đồng loại này là doanh nghiệp bảo

hiểm sẽ chi trả khi người được bảo hiểm tử vong trong thời gian bảo hiểm hoặc khi sống

hết thời hạn hợp đồng64

Điểm nổi bật của loại hợp đồng này so với các hợp đồng khác là nó vừa

mang tính bảo vệ và mang tính tiết kiệm Nếu không may, rủi ro xảy ra thì vẫn có

một số tiền để ổn định cuộc sống hoặc khi đáo hạn có một số tiền để thực hiện

những dự định của chính mình

Hợp đồng bảo hiểm trả tiền định kỳ 65 - còn có một tên gọi khác là bảo hiểm niên

kim Đây là loại hợp đồng mà người được bảo hiểm sẽ nhận số tiền thanh toán hàng năm

khi đến một độ tuổi nhất định Khoản tiền này có thể được thanh toán hàng năm, nữa năm,

quý hoặc tháng Bảo hiểm niên kim vừa có yếu tố bảo vệ vừa có yếu tố tiết kiệm Tuy

nhiên, trong hợp đồng này thì yếu tố bảo vệ tồn tại trong suốt thời gian đóng phí và thời

gian nhận niên kim

IV NGUỒN LUẬT ÁP DỤNG

1 Luật viết

Nguồn luật chủ yếu được áp dụng để điều chỉnh quan hệ bảo hiểm nhân thọ

chính là Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy

nhiên, đến nay, vẫn chưa có những quy chế pháp lý riêng về bảo hiểm nhân thọ mà

chỉ mới thông qua những quy định chung về hợp đồng bảo hiểm con người

Mặc dù đã có một văn bản chuyên ngành điều chỉnh về hợp đồng bảo hiểm nhưng

Bộ luật dân sự 1995 - với tư cách là nguồn của luật chung, vẫn được sử dụng để điều

chỉnh các vấn đề cơ bản có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, như: năng lực chủ thể, nội

dung của quan hệ bảo hiểm, các thể thức thực hiện và chuyển giao nghĩa vụ, thừa kế, …

Bên cạnh các nguồn luật nêu trên cũng phải kể đến Luật Hôn nhân và gia

đình 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành Ngành luật này giúp chúng ta xem

xét hợp đồng bảo hiểm nhân thọ dưới góc độ tài sản của vợ chồng Mặc dù không

phải hợp đồng bảo hiểm nào cũng được xác lập trong thời kỳ hôn nhân nhưng do

tính chất lâu dài của một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nên có thể một phần hoặc

toàn bộ hợp đồng sẽ được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân nếu được xác lập trong

62

Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ- Tổng công ty Bảo

hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 68

63

Luật KDBH 2000, Điều 3, khoản 16

64 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ- Tổng công ty Bảo

hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 69

65 Luật KDBH 2000, Điều 3, khoản 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 28

28

thời kỳ hôn nhân; và ngược lại, có trường hợp hợp đồng bảo hiểm được một trong

hai bên xác lập trong thời kỳ hôn nhân và tích lũy bằng tài sản chung của vợ chồng,

nhưng khi hôn nhân chấm dứt do ly hôn, hiệu lực của hợp đồng vẫn tiếp liền sau đó

Do tính chất đặc biệt của tài sản vợ chồng nên cần xem xét hợp đồng bảo hiểm

thông qua Luật hôn nhân gia đình nhằm đảm bảo quyền lợi về tài sản giữa vợ và

chồng, và quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình

Ngoài ra, các văn bản pháp quy khác như: Luật Thương mại, Luật Hành

chính (đăng ký khai sinh, khai tử ), Pháp lệnh giải quyết các vụ án dân sự cũng

được áp dụng với tư cách là nguồn luật của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

2 Tục lệ và tập quán quốc tế

Trong xu thế hội nhập quốc tế của các ngành kinh tế, hoạt động bảo hiểm

nhân thọ tại Việt Nam phải đảm bảo sự phù hợp với luật pháp và tập quán bảo hiểm

quốc tế Chính vì vậy, Điều 2 Luật KDBH ghi rõ: “Các bên tham gia bảo hiểm có

thể thỏa thuận áp dụng tập quán quốc tế, nếu tập quán đó không trái với pháp luật

Việt Nam.”, “Trong trường hợp các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với Luật này thì áp dụng quy

định của điều ước quốc tế.”

* Một số thuật ngữ liên quan đến hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Bảng tỷ lệ tử vong - Là bảng thống kê tỷ lệ người tử vong theo lứa tuổi, giới tính

Đây là cơ sở mà doanh nghiệp bảo hiểm tính các mức phí

B o t c - Là quy n l i b sung vào s ti n b o hi m t l i nhu n u t

Định kỳ đóng phí - Là khoảng thời gian giữa hai lần đóng phí Có thể là: một năm,

nữa năm, quý hoặc tháng

Giá tr hoàn l i - Là giá tr mà ng i mua nh n l i trong tr ng h p t ý hu

Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm - Là mẫu đăng ký bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm

phát hành, người yêu cầu bảo hiểm phải điền đầy đủ và chính xác thông tin được

liệt kê sẵn trên mẫu Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm là một phần của hợp đồng bảo hiểm

Hoá đơn thu phí bảo hiểm - Là hoá đơn thu phí chính thức được phát hành cùng

với hợp đồng bảo hiểm

Khôi phục hợp đồng bảo hiểm - Là sự khôi phục lại hiệu lực hợp đồng sau thời

gian hợp đồng mất hiệu lực

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 29

Ngày đáo niên hợp đồng - Là ngày giáp năm của hợp đồng tính từ ngày hợp đồng

phát sinh hiệu lực

Ngày đến hạn đóng phí - Là ngày đóng kỳ phí tiếp theo, theo định ky mà người

tham gia ký kết trong hợp đồng

Ngày hợp đồng đáo hạn - Là ngày hợp đồng kết thúc theo thời hạn ghi trên hợp

đồng

Người được bảo hiểm - Là người mà doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm

sinh mạng của họ theo hợp đồng bảo hiểm

Người thụ hưởng - là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định nhận

quyền lợi bảo hiểm

Người yêu cầu bảo hiểm - Là người đứng tên trên hợp đồng bảo hiểm và là người

mua bảo hiểm Người mua bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí cho doanh nghiệp

bảo hiểm

Phí bảo hiểm bổ sung - Là khoản phí phải đóng bổ sung để được chấp nhận bảo

hiểm trong trường hợp người được bảo hiểm có mức độ rủi ro cao hơn bình

thường

Phiếu thu tạm phí bảo hiểm - Là phiếu thu tạm mà đại lý giao cho khách hàng khi

nhận khoản phí tạm thu đầu tiên cùng với hồ sơ yêu cầu bảo hiểm

Quyền lợi để được bảo hiểm - Là quyền lợi mà trong đó sự rủi ro của người này

(người được bảo hiểm) sẽ gây tổn thất cho người kia (người mua bảo hiểm)

Số tiền bảo hiểm - Là mệnh giá của hợp đồng do người bảo hiểm chọn mua khi

tham gia bảo hiểm

Thời gian gia hạn đóng phí - Là thời gian mà người mua bảo hiểm được gia hạn

đóng phí kể từ ngày đến hạn đóng phí

Thương tật toàn bộ vĩnh viễn - Là tình trạng khi người bảo hiểm bị mất hoặc liệt

hoàn toàn và không thể phục hồi lại chức năng của hai tay, hoặc hai chân, hoặc hai

mắt, hoặc một tay và một chân, hoặc một tay và một mắt, hoặc một chân và một

mắt Trong các khái niệm này, tay được tính từ cổ tay trở lên, chân được tính từ

mắt cá chân trở lên, mắt bị mất hoặc mù hoàn toàn

Thời gian cân nhắc - Là thời gian kể từ khi hợp đồng phát hành người mua bảo

hiểm có thể rút lại yêu cầu bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm sẽ hoàn phí trừ đi

chi phí nếu có

Thời hạn hợp đồng - Là khoản thời gian doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo

hiểm với điều kiện người mua phải đóng phí đầy đủ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 30

CHƯƠNG II

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Mục 1

LỢI ÍCH BẢO HIỂM -

Khách thể của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Khách thể quan hệ pháp luật là những lợi ích vật chất, tinh thần hoặc lợi ích xã hội

khác có thể thỏa mãn những nhu cầu, đòi hỏi của tổ chức hoặc cá nhân mà vì chúng các

chủ thể tham gia này vào các quan hệ xã hội đó Nói cách khác, khách thể là những lợi ích

mà các tổ chức, cá nhân mong muốn đạt được khi tham gia vào quan hệ pháp luật

Trong hợp đồng bảo hiểm, khách thể không phải là bản thân đối tượng bảo hiểm

mà là lợi ích kinh tế gắn liền với đối tượng bảo hiểm, tức là lợi ích bảo hiểm66 Thật vậy,

trong bất kỳ loại hình bảo hiểm nào thì điều mà các bên quan tâm khi tham gia vào quan hệ

bảo hiểm đó chính là lợi ích của đối tượng bảo hiểm Khi đối tượng bảo hiểm có một giá trị

nào đó đối với người mua bảo hiểm thì họ sẽ tham gia hợp đồng bảo hiểm nhằm đảm bảo

khi đối tượng đó mất đi thì họ có một quyền lợi khác thay thế Bởi lẽ, khi đối tượng bảo

hiểm gặp rủi ro sẽ làm cho những người có liên quan gặp tổn thất

Khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, điều mà các chủ thể quan tâm

không chỉ là mong muốn cho người được bảo hiểm không gặp rủi ro hoặc có thể

sống trường thọ mà điều cần quan tâm nhất là sự ổn định cho những người liên quan

hoặc cho chính bản thân người được bảo hiểm khi có rủi ro xảy ra Có nghĩa là, các

bên quan tâm đến những lợi ích mà người được bảo hiểm đang có hoặc sẽ có

Như vậy, đối tượng bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm không phải là khách

thể của quan hệ bảo hiểm nhân thọ Khách thể của quan hệ này là những lợi ích bảo

hiểm gắn với đối tượng của hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm

I KHÁI NIỆM LỢI ÍCH BẢO HIỂM

1 Khái niệm

Đặt vấn đề - Khác với bảo hiểm phi nhân thọ (bảo hiểm cho một sự kiện bảo hiểm

mà thôi), bảo hiểm nhân thọ cùng lúc chấp nhận hai sự kiện bảo hiểm trái ngược

nhau là sống hoặc chết Trong bảo hiểm phi nhân thọ, chẳng hạn bảo hiểm hỏa

hoạn thì sự kiện bảo hiểm là sự cháy mà không thể là sự kiện không cháy Do cùng

lúc chấp nhận hai sự kiện bảo hiểm nên dù một trong hai sự kiện trên tồn tại hoặc

xảy ra thì người được bảo hiểm đều được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả một số

tiền bảo hiểm tương ứng đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Do đó,

có thể nói rằng, khi tham gia bảo hiểm nhân thọ thì người tham gia bảo hiểm sẽ

luôn nhận được một số tiền bảo hiểm đáp ứng mục đích, nhu cầu của người mua

bảo hiểm khi ký kết hợp đồng

Trang 31

Quan hệ lợi ích có giới hạn - Xuất phát từ đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm

nhân thọ - người tham gia bảo hiểm sẽ nhận được tiền bảo hiểm nếu người được bảo

hiểm gặp rủi ro hoặc hết hạn hợp đồng - nên dễ phát sinh các hiện tượng tiêu cực

nhằm mục đích trục lợi bảo hiểm dựa trên sinh mạng của người khác Việc mua bảo

hiểm nhân thọ một cách tự do không có điều kiện ràng buộc sẽ tạo điều kiện cho

một số người có cơ hội làm giàu trên sinh mạng của người mà rủi ro của người này

không ảnh hưởng đến người mua bảo hiểm Thật vậy, nếu một người có quyền mua

bảo hiểm nhân thọ cho một người khác bất kỳ thì không khác gì đầu tư cho một

canh bạc có đối tượng cá cược là một sinh mạng của người khác, không được chấp

nhận trong khuôn khổ luật thực định Việt Nam hiện nay

Như ta đã biết, nguyên nhân ra đời của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân

thọ nói riêng là giúp cho mọi người trong xã hội san sẻ rủi ro cũng như giúp đỡ

nhau vượt qua các thiệt hại do rủi ro đó gây nên Trong cuộc sống, con người phải

đối mặt với nhiều vấn đề khác nhau Người độc thân có thể có trách nhiệm với gia

đình: chăm sóc cha mẹ, anh chị em và chính bản thân Người đã lập gia đình còn có

nhiều trách nhiệm phải gánh vác hơn người độc thân vì ngoài cha mẹ, anh chị em,

họ còn có trách nhiệm với chồng, vợ, con của họ Một số trường hợp khác, họ còn

trách nhiệm phải trả những món nợ đối với các chủ nợ của mình Thử nghĩ, nếu

không may, những người trụ cột gia đình mất đi hoặc không có khả năng lao động

tạo thu nhập nuôi sống những người thân trong gia đình và trả nợ thì những thân

nhân hoặc chủ nợ của họ sẽ phải gánh vác nhưng tổn thất do rủi ro này Trong khi

đó, những người không có các mối quan hệ nêu trên, tức những người xa lạ, thì

không hề có tổn thất để được chia sẻ Bởi lẽ, khi những rủi ro xảy ra, người cần

được chia sẻ chính là người chịu rủi ro hoặc những người thân của người này Hay

nói cách khác, người cần được chia sẻ là những người có mối liên hệ với những lợi

ích do chính người bị rủi ro đem lại Những lợi ích đó còn được gọi là lợi ích bảo

hiểm hay lợi ích được bảo hiểm

Tóm lại, lợi ích được bảo hiểm hay còn gọi là lợi ích bảo hiểm là những

nguồn lợi mà khi không có rủi ro xảy ra thì người mua bảo hiểm có thể được hưởng

từ người được bảo hiểm hoặc người mua bảo hiểm có thể bị tổn thất và thiệt hại về

tài chính nếu người được bảo hiểm chết

Chính vì vậy, hầu hết pháp luật về bảo hiểm nhân thọ trên Thế giới đều quy

định về mối quan hệ lợi ích bảo hiểm giữa người mua bảo hiểm và người được bảo

hiểm, nhất là trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Chỉ có những người có mối liên hệ

là những người cần được bảo vệ trong quan hệ bảo hiểm nhân thọ Trên cơ sở đó,

Luật KDBH Việt Nam cũng quy định về mối quan hệ về lợi ích bảo hiểm giữa

người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

2 Những người có quan hệ lợi ích bảo hiểm

Có thể nói rằng, từ trước khi Luật KDBH 2000 ra đời thì chưa có quy định nào của

pháp luật Việt Nam, kể cả BLDS, đề cập đến vấn đề quyền lợi được bảo hiểm Điều

này xuất phát từ nhiều lý do, mà trong đó chủ yếu do trước năm 1996, ở Việt Nam

không có bảo hiểm nhân thọ, các tranh chấp về quyền lợi bảo hiểm chưa phát sinh

trên thực tế

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 32

Phù hợp với xu thế phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay,

trong đó tập trung vào nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, trên cơ sở tham khảo kinh

nghiệm của nước ngoài, Luật KDBH đã có quy định về quyền lợi bảo hiểm

Giải pháp nguyên tắc của luật - Tại điểm d, khoản 2, Điều 31 Luật KDBH

2000, về nguyên tắc, nếu một người không có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết

thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng thì không thể mua bảo hiểm cho đối

tượng bảo hiểm khác bản thân mình nếu không có quyền lợi có thể được bảo hiểm

Ngược lại, những người có quan hệ hôn nhân, hoặc quan hệ huyết thống, hoặc quan

hệ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng là những người có mối quan hệ về lợi ích bảo hiểm

Quả thật, những người có những mối quan hệ nêu trên thường chịu sự ảnh hưởng

lẫn nhau rất lớn về mặt kinh tế cũng như tinh thần Bất cứ rủi ro nào xảy ra cho một

ai đó cũng khiến cho người còn lại trong mối quan hệ đó bị tổn thất, có thể là tổn

thất tinh thần và cũng có thể là tổn thất về tài chính Tuy nhiên, tổn thất được quan

tâm ở đây là tổn thất kinh tế bởi vì trong một chừng mực nhất định thì tổn thất tinh

thần là điều không thể bù đắp được Do đó, trong quan hệ bảo hiểm nhân thọ, lợi ích

được bảo hiểm chỉ có thể là một lợi ích kinh tế

Ngoại lệ - Bên mua bảo hiểm được đề cập tại điểm d, khoản 2, Điều 31 Luật

KDBH vẫn có thể là người không có các mối quan hệ về hôn nhân, huyết thống, nuôi

dưỡng hoặc cấp dưỡng nhưng có mối quan hệ về lợi ích được bảo hiểm Có nghĩa là, nếu

người được bảo hiểm không may tử vong thì người mua bảo hiểm sẽ bị tổn thất hoặc hoặc

thiệt hại tài chính

Chủ nợ - con nợ : có thể thấy được ý nghĩa của quy định này thông qua

mối quan hệ đặc biệt giữa chủ nợ và con nợ, nếu không may con nợ mất đi

mà không có người thay thế thực hiện nghĩa vụ thì chủ nợ có nguy cơ bị tổn thất một khoản nợ mà không thể thu hồi lại được Do đó, chủ nợ có thể tham gia mua bảo hiểm nhân thọ cho con nợ nhằm đảm bảo khả năng thu hồi hồi nợ của mình Tuy nhiên, khi chủ nợ mua bảo hiểm thì chủ nợ phải chứng minh được mối quan hệ chủ nợ và con nợ cũng như tổn thất mà họ phải gánh chịu nếu không may con nợ chết đi hoặc bị thương tật vĩnh viễn không có khả năng trả nợ

Tất yếu và khách quan - là sự tồn tại của mối quan hệ lợi ích bảo hiểm

cùng với những mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và

cấp dưỡng cũng như mói quan hệ giữa chủ nợ và con nợ Thật vậy, lợi ích bảo hiểm

đương nhiên xuất hiện và tồn tại khi các mối quan hệ nêu trên được hình thành mà

không phụ thuộc ý chí chủ quan của con người

Trong quan hệ hôn nhân, mối quan hệ lợi ích bảo hiểm được hình thành một cách

khách quan không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể trong mối quan hệ này Khi

hai người bắt đầu cuộc sống hôn nhân thì ít nhiều có sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt

vật chất lẫn tinh thần Ngày nay, đời sống gia đình hiện đại tuy có sự độc lập hơn

về mặt kinh tế giữa vợ và chồng nhưng có thể thấy rằng nếu một trong hai người

chẳng may tử vong thì người còn lại phải gánh chịu trách nhiệm của người đã mất:

nuôi dạy con, chăm sóc những người thân còn lại,duy trì và phát triển khối sản

nghiệp của gia tộc…Như vậy, dù muốn hay không muốn thì mối quan hệ về lợi ích

bảo hiểm giữa hai vợ chồng là tồn tại khách quan

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 33

Tương tự mối quan hệ lợi ích bảo hiểm giữa cha mẹ, con; anh, chị, em; người nuôi

dưỡng, cấp dưỡng đối với người được nuôi dưỡng, cấp dưỡng cũng tồn tại khách

quan dù hiện tại những người trong quan hệ đó có thực sự được hưởng những lợi

ích của nhau hay không Như vậy, mối quan hệ lợi ích bảo hiểm tồn tại một cách

khách quan cùng với sự xuất hiện của mối quan hệ đó

Người mua bảo hiểm tham gia hợp đồng bảo hiểm vì bảo vệ cho chính

người mua bảo hiểm mà không phải vì người được bảo hiểm hay một người thứ ba

nào khác vì, thứ nhất, dù đã tham gia bảo hiểm nhân thọ thì người được bảo hiểm

vẫn có thể gặp rủi ro dẫn đến tử vong; thứ hai, khi người được bảo hiểm tử vong

người tổn thất không phải là người thứ ba mà chính là người được bảo hiểm Tóm

lại, người mua bảo hiểm tham gia hợp đồng bảo hiểm vì một lý do duy nhất là bảo

vệ cho lợi ích bảo hiểm của mình

II ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH LỢI ÍCH BẢO HIỂM

Đặt vấn đề - Như đã trình bày ở phần trên, một người chỉ có thể mua bảo hiểm

nhân thọ cho người khác khi giữa hai người tồn tại mối quan hệ lợi ích bảo hiểm

Việc quy định như vậy nhằm nhiều mục đích khác nhau, nhưng trên hết là nhằm

mục đích tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm trên sinh mạng của người khác và đảm

bảo cho sự phát triển ổn định của xã hội

Xuất phát từ vai trò quan trọng của lợi ích bảo hiểm trong mối quan hệ bảo hiểm

nhân thọ nên việc xác định điều kiện hình thành lợi ích bảo hiểm là hết sức cần

thiết Ba điều kiện cơ bản nhất để xác định lợi ích bảo hiểm là: lợi ích bảo hiểm

phải tồn tại, lợi ích bảo hiểm phải hợp pháp và phải có mối quan hệ lợi ích bảo

hiểm giữa người mua và đối tượng bảo hiểm

1 Lợi ích bảo hiểm phải tồn tại

Tồn tại ngay khi giao kết hợp đồng - Lợi ích bảo hiểm gắn liền với người được

bảo hiểm, lợi ích bảo hiểm tồn tại nghĩa là người được bảo hiểm phải tồn tại Trong trường

hợp thông thường, khi tham gia ký kết hợp đồng thì đối tượng của hợp đồng phải luôn tồn

tại Sự tồn tại của đối tượng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, nếu không còn đối

tượng thì hợp đồng sẽ chấm dứt Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cũng vậy, khi tham

gia ký kết hợp đồng thì đối tượng được bảo hiểm phải tồn tại, nghĩa là người được bảo

hiểm vẫn còn sống tại thời điểm ký kết Khi không có đối tượng bảo hiểm thì không thể

tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm vì lợi ích bảo hiểm không tồn tại Mục đích của hợp

đồng bảo hiểm là bảo vệ những lợi ích vật chất mà đối tượng bảo hiểm có thể mang lại cho

người mua bảo hiểm Do đó, tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, lợi ích bảo hiểm

phải tồn tại hay người được bảo hiểm phải tồn tại

Thật vậy, cha mẹ không thể mua bảo hiểm cho con mình nếu như đó chỉ mới là một

bào thai và chưa được sinh ra Quan hệ bảo hiểm chỉ có thể được hình thành khi

đứa trẻ sinh ra và vẫn còn sống Trong trường hợp khác, không thể tham gia bảo

hiểm nhân thọ khi người được bảo hiểm đã qua đời vào thời điểm tham gia ký kết

hợp đồng

Tồn tại và không tồn tại - Trong một số trường hợp, khi tham gia giao kết hợp

đồng bảo hiểm thì tồn tại lợi ích bảo hiểm nhưng cho đến khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thì

quan hệ lợi ích bảo hiểm không còn tồn tại Nếu như, trong bảo hiểm tài sản, lợi ích bảo

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 34

hiểm không còn tồn tại thì người mua bảo hiểm mất quyền yêu cầu bồi thường67, thì trong

hợp đồng bảo hiểm nhân thọ quyền này không bị mất đi mà vẫn tiếp tục tồn tại nếu như

người được bảo hiểm chấp nhận Bởi lẽ, ngoài mục đích bảo vệ cho quyền lợi bảo hiểm thì

hợp đồng bảo hiểm nhân thọ còn có mục đích tiết kiệm Số tiền bảo hiểm mà họ có thể

nhận được là tổng số tiền mà họ tiết kiệm để nộp phí cùng với những khoản lãi có thể phát

sinh

Một ví dụ điển hình là trường hợp vợ hoặc chồng mua bảo hiểm nhân thọ cho

người hôn phối của mình nhưng sau một thời gian thì hai vợ chồng ly hôn nhưng

hợp đồng bảo hiểm vẫn tiếp tục được duy trì Nếu sau khi ly hôn, rủi ro xảy ra -

người được bảo hiểm chết, thì người tham gia bảo hiểm vẫn có quyền yêu cầu

doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng đã ký kết Như vậy, mặc

dù không còn lợi ích bảo hiểm nhưng người tham gia bảo hiểm vẫn có quyền yêu

cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm

Nhìn chung, trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, thời gian tồn tại của lợi ích bảo

hiểm không phải là yếu tố là chấm dứt quyền yêu cầu của bên tham gia bảo hiểm Sự tồn

tại của lợi ích bảo hiểm chỉ yêu cầu vào thời điểm giao kết hợp đồng

2 Lợi ích bảo hiểm phải là lợi ích hợp pháp - nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ

thể trong quan hệ bảo hiểm, doanh nghiệp không bị trục lợi bảo hiểm và không có tình

trạng mua bảo hiểm trên sinh mạng của người khác

Lý lẽ của luật - Nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong quan hệ bảo hiểm,

tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm từ việc kinh doanh rủi ro trên cơ thể người khác, bắt buộc

rằng, các mối quan hệ giữa người được bảo hiểm và người mua bảo hiểm phải là quan hệ

hợp pháp Do đó, dù giữa người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm thực sự có mối

quan hệ lợi ích bảo hiểm nhưng mối quan hệ đó không được pháp luật thừa nhận thì cũng

không được coi là lợi ích bảo hiểm và không thể tiến hành giao kết hợp đồng bảo hiểm

nhân thọ giữa các chủ thể đó

Cơ sở xác định - Tính hợp pháp của mối quan hệ giữa người mua bảo hiểm và

người được bảo hiểm thường được căn cứ trên các giấy tờ hợp pháp có liên quan Quan hệ

vợ chồng hợp pháp được chúng minh trên giấy chứng nhận đăng ký kết hôn Quan hệ cha

mẹ và con chứng minh trên giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh Quan hệ anh chị em thì

được xem xét dựa vào sổ hộ khẩu Quan hệ giữa chủ nợ và con nợ được chứng minh bằng

hợp đồng vay nợ68 Các mối quan hệ khác thì dựa vào các giấy tờ pháp lý có liên quan

Trong quan hệ chung sống không đăng ký kết hôn, mặc dù giữa những người chung

sống có mối quan hệ lợi ích bảo hiểm nhưng họ không thể mua bảo hiểm cho nhau

Điều này xuất phát từ nguyên tắc hợp pháp của lợi ích bảo hiểm, không có cơ sở

pháp lý vững chắc cho rằng khi một trong hai người gặp rủi ro thì người còn lại sẽ

chịu tổn thất Do đó, những người này chỉ có thể mua bảo hiểm nhân thọ cho chính

bản thân mình

67

Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm xe máy, ông A là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe máy Tuy

nhiên, sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, ông A bán cho ông B xe máy của mình Sự kiện bảo hiểm xảy

ra trong thời hạn bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho ông B vì lúc này ông B là người có

mối quan hệ lợi ích bảo hiểm với chiếc xe máy mà không phải là ông A

68 Như đã phân tích ở trên, chủ nợ có quyền mua bảo hiểm cho con nợ vì nhưng lợi ích bảo hiểm mà họ có

thể có Tuy nhiên, không phải chủ nợ nào cũng có quyền mua bảo hiểm cho con nợ mà chỉ có những chủ

nợ hợp pháp thì mới có quyền mua bả0o hiểm cho con nợ của mình

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 35

Ngoại lệ - Hiện nay, nhiều lý do khác nhau vẫn còn tồn tại rất nhiều tình trạng trẻ

em không có giấy khai sinh Phần nhiều khai sinh trễ hạn do ý thức pháp luật hạn chế

nhưng một số ít do cha mẹ chúng không phải là vợ chồng hợp pháp, nên không tiến hành

khai sinh cho con Về nguyên tắc, quan hệ cha, mẹ-con không thể xét đến yếu tố hợp pháp

Không thể cho rằng một ai đó sinh con là bất hợp pháp, hoặc ngược lại có thể gọi một

người nào đó là “con bất hợp pháp” của ông A hay bà B Trong học thuyết pháp lý chưa

từng ghi nhận khái niệm “con bất hợp pháp” Tuy nhiên, khi không có giấy khai sinh thì

cha mẹ của chúng không thể tiến hành tham gia giao kết hợp đồng bảo hiểm cho con mình

Trong điều kiện cha mẹ chúng có thể đăng ký kết hôn, thì có thể tiến hành làm khai sinh để

có cơ sở chứng minh mối quan hệ cha, mẹ-con Nhưng nếu cha mẹ không thể kết hôn và

cũng không thể công khai công nhận con mình vì các lý do khác nhau, thì vẫn không thể

tiến hành giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

3 Người mua bảo hiểm và lợi ích bảo hiểm phải có mối quan hệ pháp luật

Cơ sở phát sinh lợi ích bảo hiểm - Nếu không tồn tại các mối quan hệ thì

không thể làm phát sinh lợi ích bảo hiểm Mối quan hệ này có thể là mối quan hệ về

con người hoặc tài sản Thật vậy, trong quan hệ huyết thống, hôn nhân thì mối quan

hệ giữa các thành viên là mối quan hệ thân thiết, giữa họ tồn tại lợi ích về mặt tinh

thần và những lợi ích về mặt tài sản, nếu có

Dựa vào mối quan hệ giữa người mua và người được bảo hiểm để xác định

sự tồn tại của lợi ích bảo hiểm Có một số quan hệ lợi ích bảo hiểm tồn tại hai chiều

bởi sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa những người trong mối quan hệ bảo hiểm đó,

nhưng cũng những quan hệ mà lợi ích bảo hiểm chỉ tồn tại một chiều Do đó, có

những mối quan hệ mà người này có thể mua bảo hiểm nhân thọ cho người kia hoặc

ngược lại Tuy nhiên, có những quan hệ mà chỉ có một bên mới có quyền mua bảo

hiểm cho người kia mà không có trường hợp ngược lại Có thể hình dung bằng hai

khái niệm:

Quan hệ bảo hiểm hai chiều, là những mối quan hệ mà hai người trong mối

quan hệ này có thể mua bảo hiểm cho nhau Bởi vì, một trong hai người thuộc mối

quan hệ này gặp rủi ro thì người còn lại chịu tổn thất và ngược lại Khi rủi ro xảy ra

đối với vợ hoặc chồng thì người còn sống thường phải gánh trách nhiệm của người

đã mất đi Do vậy, vợ và chồng có quyền mua bảo hiểm cho người còn lại nhằm bảo

đảm tài chính cho gia đình khi rủi ro xảy ra

Tương tự, trong quan hệ cha mẹ con cũng như quan hệ anh em, các mối quan

hệ này là tương đối thân thiết và có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên gia

đình Nếu không may, một trong các thành viên qua đời thì gánh nặng kinh tế sẽ

dồn vào những người còn lại Xuất phát từ sự gắn bó mật thiết đó nên trong quan hệ

vợ chồng, cha mẹ và con cái cũng như quan hệ anh chị em được xem là quan hệ hai

chiều

Bên cạnh quan hệ trên thì quan hệ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cũng mang tính

hai chiều Thoạt nghe, có thể chỉ cho rằng đây là mối quan hệ một chiều vì chỉ có

người được cấp dưỡng, nuôi dưỡng là người có lợi ích bảo hiểm Có nghĩa là, nếu

người cấp dưỡng, nuôi dưỡng gặp rủi ro thì người được cấp dưỡng hoặc nuôi dưỡng

sẽ bị thiệt hại Tuy nhiên, do xã hội Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của văn hóa

phương Đông nên đôi khi người cấp dưỡng, nuôi dưỡng cũng có những quyền lợi

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 36

bảo hiểm, khi người được nuôi dưỡng cấp dưỡng có khả năng tạo thu nhập, sẽ có

thể phụng dưỡng ngược lại Tuy vậy, tính chất hai chiều của mối quan hệ này mang

tính tương đối hơn so với quan hệ hôn nhân, huyết thống

Quan hệ bảo hiểm một chiều, là những quan hệ mà chủ thể của quan hệ đó

chỉ có một người có quyền mua bảo hiểm nhân thọ cho người còn lại trong mối

quan hệ đó, nhưng ngược lại người sau này không có quyền mua bảo hiểm cho

người kia Theo quy định của Luật KDBH thì người này chỉ có thể mua bảo hiểm

nhân thọ cho người khác khi bên mua bảo hiểm có quyền lợi bảo hiểm Do đó, trong

quan hệ chủ nợ và con nợ chỉ có chủ nợ có quyền lợi cần được bảo hiểm đối với con

nợ mà không có trường hợp ngược lại Trong quan hệ chủ doanh nghiệp và nhân

viên thì chủ doanh nghiệp có quyền giao kết một số loại hợp đồng bảo hiểm nhân

thọ có đối tượng bảo hiểm là nhân viên công ty69 Trong khi đó, không có trường

hợp ngược lại, nhân viên không thể mua bảo hiểm cho chủ doanh nghiệp

Nếu như, quan hệ chủ nợ - con nợ là một ví dụ dễ dàng chứng minh về tính

một chiều của quan hệ thì trong một số quan hệ khác tính một chiều chỉ có ý nghĩa

tương đối Một trong những quan hệ mang tính tương đối một chiều đó là quan hệ

ông bà - cháu Thông thường, con cháu có nghĩa vụ chăm sóc ông bà, đó chính là

lợi ích cần được bảo hiểm Chính vì vậy, ông bà có quyền mua bảo hiểm cho cháu

mà không cần phải chứng minh về quyền lợi bảo hiểm trong khi đó cháu không thể

viện lý do ông bà phải nuôi dưỡng mình mà mua bảo hiểm cho ông bà Bởi lẽ, khi

ông bà phải nuôi dưỡng cháu thì cháu khó có thể tham gia một hợp đồng bảo hiểm

vì khả năng tài chính của người này không đảm bảo Lý do thứ hai có thể chứng

minh quan hệ này này mang tính một chiều là vì ông bà thường lớn tuổi rất nhiều so

với cháu và rủi ro tử vong đối với ông bà khá cao nên dễ dẫn đến việc mua bảo

hiểm nhằm trục lợi Chính vì vậy, quan hệ ông bà cháu chỉ mang tính một chiều

III Ý NGHĨA XÁC ĐỊNH NỘI DUNG CỦA LỢI ÍCH BẢO HIỂM

1 Ngăn chặn rủi ro đạo đức

Rủi ro đạo đức là trường hợp người tham gia bảo hiểm nhân thọ thực hiện

các hành vi trái đạo đức nhằm nhận tiền của doanh nghiệp bảo hiểm Các hành vi

này có thể là hành vi giết người được bảo hiểm hoặc cố tình đưa người được bảo

hiểm lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng để có thể thu được nguồn lợi bảo

hiểm

Bảo hiểm không phải là hình thức mà người tham gia vào mong muốn rủi ro

xảy ra nhằm thu lợi cho mình mà mục đích chính của bảo hiểm chính là cách thức

mọi người chia sẻ rủi ro cho nhau bên cạnh việc tích lũy tiết kiệm Việc quy định

điều kiện mối quan hệ về lợi ích bảo hiểm giữa người mua bảo hiểm và người được

bảo hiểm nhằm hạn chế khả năng tạo ra rủi ro cho người được bảo hiểm Bởi lẽ,

những người có lợi ích bảo hiểm với nhau thì nếu họ mất đi thì người mua bảo

hiểm cũng chỉ có thể hưởng một số lợi ích tương đương Thậm chí, khi người được

bảo hiểm còn sống thì người mua bảo hiểm có thể còn được nhiều hơn khi người

này bị sự cố gây tử vong Hơn nữa, khi người được bảo hiểm còn sống thì lợi ích

lớn nhất đó chính là những giá trị tinh thần mà họ có thể mang lại cho người mua

69

Theo sản phẩm Phú Hoà Nhân An của công ty Bảo hiểm Prudential

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 37

bảo hiểm Nói như vậy không có nghĩa là, mọi người có mối quan hệ lợi ích bảo

hiểm đều mang lại lợi ích vật chất cũng như tinh thần cho những người còn lại trong

mối quan hệ nhưng phần lớn nhờ có những mối quan hệ ràng buộc sẽ làm giảm bớt

khả năng xảy ra rủi ro đạo đức

Nhìn chung, mục đích của việc ghi nhận mối quan hệ lợi ích bảo hiểm giữa người

mua bảo hiểm và người được bảo hiểm nhằm hạn chế rủi ro xảy ra đảm bảo cho xã hội

phát triển trật tự và ổn định, hay nói cách khác, mối quan hệ bảo hiểm sẽ làm giảm bớt

nguy cơ cố ý gây thiệt hại cho người được bảo hiểm Khi người tham gia bảo hiểm nào

cũng mong muốn sự kiện bảo hiểm xảy ra thì sự tồn tại bảo hiểm chẳng còn ý nghĩa nữa

Như vậy, chỉ có những người không mong xảy ra rủi ro bảo hiểm mới được hưởng quyền

lợi bảo hiểm

2 Nghiêm cấm việc sử dụng bảo hiểm vào mục đích đánh bạc

Bên cạnh việc hạn chế những rủi ro về đạo đức thì một ý nghĩa khác là nghiêm cấm

việc sử dụng bảo hiểm vào mục đích đánh bạc Nếu không có quyền lợi được bảo hiểm thì

một hợp đồng bảo hiểm có bản chất không khác hành vi đánh bạc, về nguyên tắc, bị pháp

luật nước ta nghiêm cấm

Thật vậy, khi người mua bảo hiểm không có lợi ích bảo hiểm đối với người

được bảo hiểm thì người mua có thể tùy tiện mua bảo hiểm nhân thọ trên thân thể

của bất kỳ ai và hưởng lợi khi người này gặp rủi ro Người mua bảo hiểm không bị

tổn thất gì mà ngược lại còn thu được một khoản lợi trên sinh mạng của người khác

Cách thức đầu tư vào sinh mạng của người khác để hưởng lợi là một hành động phi

đạo đức và không thể chấp nhận Mặt khác, đây còn là một hình thức kinh doanh

trên sinh mạng của con người, bị pháp luật và đạo đức xã hội lên án Do đó, chỉ có

những người có quyền lợi bảo hiểm mới có thể tham gia vào hợp đồng bảo hiểm,

đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ

Mục 2 GIAO KẾT HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

I NGUYÊN TẮC GIAO KẾT HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng, các bên trong hợp đồng bảo hiểm

nhân thọ phải tuân theo các nguyên tắc được quy định cụ thể tại Điều 395 và 409 BLDS

Những nguyên tắc này là những tư tưởng chủ đạo chi phối toàn bộ quá trình giao kết và

thực hiện hợp đồng

Nguyên tắc quy định tại Điều 395 về cơ bản có thể chia làm hai nhóm: một là,

nguyên tắc về nội dung của hợp đồng; hai là, nguyên tắc về ý chí của các bên tham gia hợp

đồng Nếu hợp đồng không tuân thủ các nguyên tắc được nêu thì có thể hợp đồng sẽ bị

tuyên bố vô hiệu tương đối hoặc tuyệt đối tùy hình thức vi phạm

Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội - là

một nguyên tắc chung trong giao kết hợp đồng được quy định trong BLDS Tuy nhiên,

quyền tự do giao kết nội dung của hợp đồng có giới hạn nhất định nhằm đảm bảo cho sự

phát triển ổn định của các quan hệ xã hội Nội dung của hợp đồng không được trái với

pháp luật và đạo đức xã hội Theo nguyên tắc này, mọi các nhân tổ chức đủ tư cách chủ thể

đều có quyền tham gia giao kết hợp đồng bảo hiểm với các doanh nghiệp bảo hiểm có mặt

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 38

tại Việt Nam Các bên có quyền tự do thỏa thuận nội dung giao kết nhưng nội dung đó phải

không trái với những quy định của pháp luật và đạo đức xã hội

Tự nguyện - là một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Hợp đồng sẽ

bị coi là vô hiệu khi sự tự nguyện giao kết hợp đồng bị tỳ vết (bị cưỡng ép, lừa dối hoặc đe

dọa )

Như ta đã biết, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là sự thỏa thuận giữa người mua bảo

hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, đối với người mua

bảo hiểm, sự tự nguyện thể hiện qua hồ sơ yêu cầu bảo hiểm có điền đầy đủ các thông tin

được quy định Cụ thể hơn, hồ sơ yêu cầu bảo hiểm phải do chính người mua bảo hiểm

trực tiếp điền các thông tin cần thiết nhằm thể hiện một cách rõ ràng ý chí tự nguyện của

người mua bảo hiểm Nếu trong trường hợp người mua bảo hiểm không thể tự điền hồ sơ

thì có thể yêu cầu người khác viết thay nhưng phải ghi rõ người viết thay Đối với doanh

nghiệp bảo hiểm, sự tự nguyện giao kết thể hiện qua việc chấp nhận bảo hiểm sau khi đã

xem xét đánh giá rủi ro trên hồ sơ yêu cầu bảo hiểm

Tóm lại, chỉ khi nào hợp đồng phản ánh một cách khách quan về ý muốn tham gia

giao kết của các bên thì việc giao kết mới được xem là tự nguyện

Bình đẳng - Trong quá trình giao kết cũng như thực hiện hợp đồng, các bên tham

gia luôn bình đẳng lẫn nhau Bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất khi

tham gia giao kết hợp đồng, thể hiện qua việc đối xử công bằng giữa các chủ thể với nhau,

không có sự phân biệt thành phần xã hội, kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo,…

Tuy nhiên, đặc thù trong ngành bảo hiểm có sự phân biệt giới tính và nghề nghiệp

giữa các nhóm chủ thể là cơ sở tính toán rủi ro nên phí bảo hiểm đóng khác nhau Tương tự

như vậy, khi tính phí bảo hiểm, mỗi nhóm ngành sẽ có một mức phí riêng tương ứng với

mức độ rủi ro Người làm việc văn phòng sẽ có rủi ro thấp hơn người công nhân xây dựng,

giáo viên dạy toán sẽ ít rủi ro hơn giáo viên dạy thể dục,…

Mặc dù vậy, nhưng không thể cho rằng không có sự bình đẳng trong giao kết hợp

đồng bảo hiểm nhân thọ Sự bình đẳng được thể hiện trong cùng một nhóm ngành nghề và

cùng giới tính Mà ngược lại, có thể nói rằng, nhờ sự phân biệt này trong bảo hiểm nhân

thọ thể hiện tính công bằng xã hội; người đối diện với rủi ro cao thì phí đóng phải cao hơn

so với người cùng điều kiện nhưng có rủi ro thấp hơn

Trung thực và ngay thẳng - Nếu các bên không trung thực sẽ dẫn đến việc ký kết

hợp đồng không đúng với ý chí của các bên giao kết Có nghĩa là, một bên trong hợp đồng

sẽ ở trong tình trạng giao kết hợp đồng do nhầm lẫn hoặc bị lừa dối Vi phạm nguyên tắc

này cũng đồng nghĩa với vi phạm nguyên tắc tự nguyện trong giao kết hợp đồng có thể

khiến cho hợp đồng đó bị vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ

Đối với hợp đồng bảo hiểm nguyên tắc trung thực và ngay thẳng là nguyên

tắc rất quan trọng bởi khi các bên không trung thực sẽ khiến cho bên còn lại gặp tổn

thất Bên mua bảo hiểm phải chịu mọi trách nhiệm khi khai báo không trung thực

các thông tin có liên quan đến người bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm cũng phải

chịu trách nhiệm khi không giải thích trung thực nội dung hợp đồng cho bên mua

bảo hiểm

II CHỦ THỂ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

1 Doanh nghiệp bảo hiểm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 39

Đặt vấn đề - Ngoài đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp bảo hiểm, hoạt động của

doanh nghiệp bảo hiểm còn có sự hỗ trợ của đội ngũ đại lý tư vấn bảo hiểm Hiệu quả hoạt

động của doanh nghiệp bảo hiểm bị phụ thuộc khá nhiều vào hiệu quả hoạt động của đội

ngũ đại lý do doanh nghiệp đào tạo Mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người đại

lý bảo hiểm không phải là mối quả hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động mà

đó là mối quan hệ hợp tác dựa trên những thỏa thuận uỷ quyền giữa bên doanh nghiệp và

người đại lý Phân tích rõ phạm vi ủy quyền của doanh nghiệp bảo hiểm và người đại lý sẽ

xác định được tư cách của các bên khi tham gia hợp đồng bảo hiểm trong vai trò người

mua bảo hiểm

a) Doanh nghiệp bảo hiểm

Giới hạn vấn đề - Nội dung hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm đang có

mặt tại Việt Nam rất đa dạng, có thể là hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo

hiểm, giám định tổn thất…theo những quy định tại Khoản 1, Điều 60 Luật KDBH Tuy

nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài liên quan đến hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nên đề

tài chỉ đề cập những vấn đề có liên quan đến tư cách chủ thể của doanh nghiệp bảo hiểm

khi tham gia giao kết hợp đồng bảo hiểm với người mua bảo hiểm: trách nhiệm chi trả bảo

hiểm, phạm vi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và

đại lý bảo hiểm

Phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ - Theo quy định tại

Khoản 2, Điều 60 Luật KDBH thì doanh nghiệp bảo hiểm không được phép đồng thời tiến

hành kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trường hợp doanh

nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn

con người bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ Ta có thể thấy rằng các đối tượng mà luật cho

phép doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm là tất cả những đối tượng của hợp đồng

bảo hiểm con người: tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn của con người Như vậy,

ngoài những đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người, doanh nghiệp bảo hiểm nhân

thọ không được phép kinh doanh bảo hiểm liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ

Phạm vi lãnh thổ trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ của

các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ - các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đang

hoạt động tại Việt Nam chỉ được cơ quan nhà nước được cấp giấy phép thành lập và

hoạt động tại Việt Nam nên phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp này chỉ trong

lãnh thổ Việt Nam

Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đại lý bảo hiểm - Đại lý bảo hiểm là tổ

chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền trên cơ sở Hợp đồng đại lý

bảo hiểm để hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật KDBH và các quy

định pháp luật khác có liên quan70

Như vậy, mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và đại lý bảo hiểm là mối quan hệ uỷ quyền Người đại lý sẽ là người đại diện

cho doanh nghiệp trong một số phạm vi được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền

Trách nhiệm chi trả bảo hiểm - Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động nhằm mục

đích sinh lợi của doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro

của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh

nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được

bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Như vậy, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm chi

Trang 40

trả bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm theo thỏa thuận đã được ghi nhận trong hợp

đồng bảo hiểm

Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm khi chuyển giao hợp đồng bảo

hiểm - Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chuyển giao hợp đồng bảo hiểm mà doanh

nghiệp đã giao kết với người mua bảo hiểm cho một doanh nghiệp bảo hiểm cho

một doanh nghiệp bảo hiểm khác theo quy định của pháp luật71 Trong trường hợp

này, quyền và nghĩa vụ của theo hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao không thay

đổi cho đến khi hết thời hạn hợp đồng bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thông

báo bằng văn bản cho người mua bảo hiểm về việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm

khi thực hiện việc chuyển giao Như vậy, dù hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao,

quyền lợi của người tham gia bảo hiểm vẫn được đảm bảo

b) Đại lý bảo hiểm

Giới hạn vấn đề - Hiện nay, đội ngũ đại lý bảo hiểm hoạt động trong ngành bảo

hiểm nhân thọ chiếm một số lượng tương đối lớn, khoảng 70 ngàn người Mặc dù,

hoạt động bảo hiểm nhân thọ chỉ mới hình thành tại Việt Nam không lâu nhưng sự

phát triển nhanh của đội ngũ này cho thấy vai trò của họ trong cuộc sống hiện đại

cũng như trong hoạt động của ngành bảo hiểm nói riêng Trên thế giới, nghề làm

đại lý bảo hiểm đã giải quyết phần lớn nhu cầu việc làm cho người lao động, Tại

Pháp 1% dân số là đại lý bảo hiểm nhân thọ72 Chế độ hoạt động của đại lý bảo

hiểm được quy định khá cụ thể trong Luật KDBH nhưng một số vấn đề liên quan

đến tư cách của đại lý bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vẫn còn nhiều

điểm chưa rõ ràng Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu về hợp đồng bảo hiểm nhân

thọ, đề tài sẽ phân tích một số vấn đề liên quan giữa người mua bảo hiểm và người

đại lý bảo hiểm

Đại lý bảo hiểm không được ủy quyền ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với

người mua bảo hiểm - Trong các nội dung mà doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền cho

người đại lý thực hiện thì không có nội dung đại diện doanh nghiệp ký kết hợp đồng bảo

hiểm Người đại lý bảo hiểm chỉ có quyền giới thiệu, chào bán bảo hiểm hoặc thu xếp việc

giao kết hợp đồng bảo hiểm, thu phí bảo hiểm, thu xếp chi trả bảo hiểm Như vậy, người

đại lý chỉ có thẩm quyền thu xếp việc giao kết hợp đồng, tạo điều kiện cho việc giao kết

hợp đồng được diễn ra thuận lợi còn người ký kết hợp đồng bảo hiểm với người mua bảo

hiểm chính là doanh nghiệp bảo hiểm73

Trách nhiệm pháp lý của đại lý bảo hiểm khi thực hiện công việc vượt quá

phạm vi ủy quyền - Theo quy định chung của BLDS về hậu quả của giao dịch dân sự do

người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá thẩm quyền đại diện, thì các giao dịch vượt quá

phạm vi ủy quyền của người đại diện không làm phát sinh quyền và nghĩa đối với người

đại diện nhưng theo quy định của Luật KDBH thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu

trách nhiệm bồi thường cho người tham gia bảo hiểm những thiệt hại do đại lý bảo hiểm

thực hiện vượt phạm vi ủy quyền Trong “Trường hợp đại lý bảo hiểm vi phạm hợp đồng

đại lý bảo hiểm, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm thì

doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm về hợp đồng bảo hiểm” Riêng, về phần

71

Luật KDBH 2000, Điều 74

72 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ- Tổng công ty Bảo

hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 62

73 Giải thích này phù hợp với ý chí nhà làm luật - Bản tập hợp ý kiến thảo luận tại hội trường Quốc hội - Sáng

07/12/2000, trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w