Cho đến năm 1762, Hãng bảo hiểm Equitable được thành lập tại London dựa trên cách tính phí của T.Simpon và J.Dodson - đây là doanh nghiệp bảo hiểm hiện đại đầu tiên 12 Mặc dù, khi tha
Trang 1Giáo viên hướng dẫn:
CBGD Bộ môn Tư pháp
Sinh viên thực hiện:
Nguyeãn Cao Vieät Thuøy
MSSV: 5992791 - Lớp Luật Tư pháp 25 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
hững thành tựu về kinh tế, xã hội, ngoại giao trong những năm gần đây
đã khẳng định sự phát triển ổn định và bền vững Theo cơng bố, tốc độ tăng trưởng hàng năm tại Việt Nam đạt tới 7% và thu nhập bình quân đầu người lên
đến 400 USD/năm1
Do điều kiện kinh tế được nâng cao hình thành nên những nhu cầu mới; những sản phẩm, dịch vụ được hình thành và du nhập từ các quốc gia phát
triển vào ngày càng đa dạng và phong phú hơn Xã hội cơng nghiệp hố và thơng tin
đã hồn thiện cuộc sống của con người bằng cơng nghệ và dịch vụ xã hội Những
nhu cầu bức xúc nhất về ăn, mặc, ở đã được giải tỏa cùng với những quan hệ và nhu
cầu mới được nảy sinh cao hơn và vươn xa hơn Sự lo toan của con người hướng
vào tương lai, hướng tới một cuộc sống bền vững và hồn thiện Đáp ứng những
nhu cầu đĩ là sự ra đời của hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ xã hội, trong đĩ cĩ
hoạt động bảo hiểm Cĩ thể nĩi, bảo hiểm nĩi chung và bảo hiểm nhân thọ nĩi riêng
được xem như một hình thức tiết kiệm và tích lũy hiện đại
Thật vậy, thơng qua việc tham gia bảo hiểm, người mua bảo hiểm sẽ đĩng
phí bảo hiểm để đổi lấy sự cam kết bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm Nếu
người được bảo hiểm khơng gặp rủi ro, thì người tham gia bảo hiểm cũng cĩ thể
nhận được một khoản tiền tích lũy, đĩ là số tiền bảo hiểm và bảo tức tích lũy, nếu
cĩ Ngược lại, nếu người được bảo hiểm khơng may gặp rủi ro thì những người
tham gia bảo hiểm sẽ nhận được số tiền bảo hiểm theo cam kết từ doanh nghiệp bảo
hiểm Như vậy, cĩ thể khẳng định, bảo hiểm nhân thọ là một hình thức tiết kiệm kết
hợp bảo vệ phù hợp với cuộc sống hiện nay
Để điều chỉnh một nhu cầu đã đến lúc phổ biến trong xã hội, sự cần thiết của
pháp luật là một điều tất yếu Tuy nhiên, so với các nước phát triển trên Thế giới và
trong khu vực, hệ thống pháp luật bảo hiểm của Việt Nam cịn khá non trẻ Cùng
với Bộ luật dân sự 1995 (viết tắt là BLDS) quy định một số vấn đề chung nhất về
hợp đồng bảo hiểm, Luật Kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội thơng qua ngày
9/12/2000 (viết tắt là Luật KDBH) quy định hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt
Nam đã xây dựng tương đối đầy đủ khung pháp lý về hoạt động bảo hiểm Ngồi ra,
do chưa cĩ quy định riêng về bảo hiểm nhân thọ nên thực tiễn áp dụng nảy sinh
nhiều vấn đề gây khĩ khăn cho các doanh nghiệp bảo hiểm và sự bất an trong tâm
lý người mua bảo hiểm, nhất là trong quan hệ hợp đồng
Trong số các nghiệp vụ bảo hiểm phổ biến hiện nay: bảo hiểm tài sản, bảo
hiểm con người, bảo hiểm trách nhiệm dân sự…, nghiệp vụ BH nhân thọ chiếm
phần lớn doanh thu bảo hiểm bởi đây là sản phẩm bảo hiểm mang tính chất tích lũy
và dự phịng khá an tồn, chế độ quản lý và mức phí bảo hiểm tương đối đơn giản,
lợi ích bảo hiểm hấp dẫn khách hàng Do đĩ, nội dung của đề tài chỉ giới hạn trong
việc nghiên cứu về chế độ pháp lý của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và hướng hồn
thiện trên cơ sở đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành của các cơng ty bảo
hiểm trên thị trường Việt Nam
Trang 3Phương pháp duy vật biện chứng Mác Lênin là phương pháp giữ vai trò chủ
đạo trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Do tính chất đặc thù của vấn đề nghiên
cứu, các phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết được vận dụng linh hoạt
trong từng trường hợp cụ thể Ngoài ra, các phương pháp điều tra xã hội học, thống
kê tư pháp, nghiên cứu so sánh, tổng hợp có ý nghĩa hỗ trợ hiệu quả đối với kết
quả nghiên cứu của đề tài
Theo định hướng và phương pháp nghiên cứu như trên, ngoài Lời nói đầu và
Kết luận, đề tài gồm các nội dung chính sau:
Chương I - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Chương II - CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Xét trên góc độ lịch sử và lý luận, chương I của đề tài tập trung phân tích các
vấn đề có liên quan đến nguồn gốc và hoàn cảnh ra đời của hoạt động bảo hiểm nói
cung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng cũng như sự ra đời của các văn bản pháp luật
bảo hiểm có liên quan Bên cạnh đó việc phân tích vai trò và ý nghĩa của bảo hiểm
nhân thọ góp phần làm rõ sự ảnh hưởng của hoạt động bảo hiểm nhân thọ đến đời
sống xã hội Một trong những vấn đề phân tích và làm sáng tỏ tại chương này là tính
chất của một hợp đồng tặng cho có điều kiện được lồng ghép trong hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ thông qua việc người tham gia bảo hiểm lựa chọn người thụ hưởng
của hợp đồng bảo hiểm Ngoài ra, tính chất khoán của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
cũng là một đặc trưng kỹ thuật được phân tích khá cụ thể nhằm phân biệt giữa hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ và các loại hợp đồng bảo hiểm khác
Chương II của đề tài tập trung nghiên cứu và phân tích các vấn đề cụ thể của
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành
và thực tiễn áp dụng Thông qua việc phân tích, đánh giá này, một số vấn đề cần
hoàn thiện sẽ được đưa ra bình luận nhằm làm sáng tỏ các nội dung được quy định
trong văn bản pháp luật có liên quan Làm rõ vấn đề khách thể trong quan hệ bảo
hiểm nhân thọ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định mối quan hệ giữa người
mua bảo hiểm và người được bảo hiểm, xem xét những điều kiện để hợp đồng bảo
hiểm có giá trị Các nội dung về đối tượng của hợp đồng bảo hiểm, người được bảo
hiểm, người thụ hưởng, phí bảo hiểm, thứ tự thanh toán bảo hiểm…sẽ được phân
tích trước khi xem xét hiệu lực và cách thức thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm và nghiên cứu các tài liệu có
liên quan, nhưng do đề tài bảo hiểm nhân thọ vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam, các
tài liệu về khoa học pháp lý về bảo hiểm không nhiều; bên cạnh đó, do khả năng
phân tích luật nước ngoài còn hạn chế nên đề tài khó có thể tránh nhiều sai sót và
khiếm khuyết khi đưa ra các ý kiến chủ quan Chính vì vậy, tôi mong muốn sẽ nhận
được những lời đóng góp quý báu của Thầy Cô và các bạn có quan tâm để đề tài
được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ, động viên của các Thầy Cô, gia đình
và bạn bè để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Cần Thơ, tháng 7 năm 2003
NGUYỄN CAO VIỆT THÙY
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 4SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Mục 1
Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ
I Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên TG và VN
II Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm nhân thọ III Ý nghĩa của hoạt động bảo hiểm nhân thọ
Mục 2 Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
I Khái niệm chung
II Đặc trưng kỹ thuật và đặc trưng pháp lý của hơp đồng bảo hiểm nhân thọ III Phân loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
IV Nguồn luật áp dụng
CHƯƠNG II CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Mục 1 Lợi ích bảo hiểm - Khách thể của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
I Khái niệm lợi ích bảo hiểm
II Điều kiện hình thành lợi ích bảo hiểm III Ý nghĩa xác định nội dung của lợi ích bảo hiểm
Mục 2 Giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
I Nguyên tắc giao kết hợp đồng nhân thọ
II Chủ thể giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ III Trình tự giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
IV Nội dung của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
V Hình thức của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Mục 3 Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
I Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vô hiệu
II Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ III Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm
IV Quyền và nghĩa vụ của người mua bảo hiểm
V Quyền của người được bảo hiểm
VI Quyền của người thụ hưởng
Mục 4 Thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
I Nguyên tắc thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
II Chi trả bảo hiểm III Sửa đổi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
IV Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
V Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Mục 5 Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
I Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo ý chí của các bên
II.Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo luật chung
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5Chương I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Mục 1
SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Dẫn nhập - Con người là sản phẩm của tự nhiên và tự nhiên đã cung cấp cho con
người nguồn sống Thế nhưng, chính tự nhiên cũng mang đến nhiều hiểm họa lũ
lụt, hạn hán, mầm bệnh nguy hiểm cho con người Ngoài ra, để tồn tại con người
luôn đối mặt với những rủi ro trong quá trình sống và lao động như tai nạn trong
lao động, tai nạn trong sinh hoạt hàng ngày Chính vì vậy, con người luôn có ý
thức tự bảo vệ bản thân, gia đình và tài sản trước những điều không may mắn nhằm
hạn chế mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra
Có nhiều cách thức để con người tự bảo vệ mình cùng với gia đình và tài sản Và,
người ta phát hiện ra rằng, khi rủi ro được san sẻ cho nhiều người thì tổn thất do rủi
ro mang lại sẽ không nhiều Bởi lẽ, rủi ro thường ít xảy trên một phạm vi lớn mà
thường chỉ rơi vào một số cá thể nào đó không may mắn Do đó, những người có
cùng điều kiện rủi ro sẽ tập hợp thành một tổ chức để khi rủi ro xảy ra với một
thành viên trong tổ chức đó rủi ro sẽ được san sẻ, những người còn lại sẽ giúp đỡ
những người gặp rủi ro dựa trên những quỹ đã được đóng góp từ trước
Hoạt động bảo hiểm ra đời từ mong muốn được chia sẻ của những người trong xã
hội Thật vậy, tổn thất có thể sẽ thấp hơn khi nó được chia nhỏ ra cho nhiều người
khác nhau trong cộng đồng hơn là một cá nhân tự gánh chịu một mình Hơn thế
nữa, hoạt động bảo hiểm nhân thọ không chỉ là cách mọi người san sẻ rủi ro mà
cách là cách để mọi người tiết kiệm Hình thức tiết kiệm thông qua bảo hiểm nhân
thọ có nhiều ưu điểm hơn một số hình thức tiết kiệm khác do những đặc trưng riêng
của mình Tóm lại, bảo hiểm nhân thọ là một hình thức tiết kiệm phối hợp với bảo
vệ cho những lợi ích bảo hiểm của con người
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
Đặt vấn đề - cho đến nay, chưa ai có thể xác định một cách chính xác nguồn gốc
của hoạt động bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng Con người
muốn khám phá và chinh phục tự nhiên nhưng cũng không thể biết trước được
những nguy hiểm có thể đến với mình Do đó, có thể thấy rằng hoạt động bảo hiểm
ra đời xuất phát từ nhu cầu được bảo vệ của con người trong cuộc sống Nghiên
cứu lịch sử hoạt động bảo hiểm chính là khám phá vai trò cũng như ý nghĩa của
hoạt động này
1 Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động bảo hiểm 2
2 Theo Dennis Kessler thì bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít
Theo MJ.Burkinshaw: Bảo hiểm là một hệ thống mà qua đó một số người đồng ý góp vào một quỹ chung,
được dùng để chia sẻ các chi phí tổn thất của một cá nhân trong đó có thể sẽ gánh chịu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6Ngay từ buổi sơ khai của xã hội, tổ tiên loài người đã biết chọn cách chung
sống bầy đàn nhằm bảo vệ nhau chống lại những nguy hiểm luôn có thể xảy ra Con
người đã biết rằng khi tập thể cùng chấp nhận chung rủi ro với mình thì tổn thất sẽ
thấp hơn là một mình gánh chịu Dựa trên nền tảng đó, hoạt động bảo hiểm ra đời
ứng dụng những nguyên tắc sống được hình thành từ xa xưa: chia sẻ rủi ro, quy luật
số đông bù số ít Theo một số tài liệu nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát
triển của hoạt động bảo hiểm cho thấy hoạt động này đã trải qua ba hình thái: dự
trữ thuần túy, cho vay nặng lãi và cuối cùng là hình thức thỏa thuận ràng buộc
trách nhiệm các bên hay đó chính là hoạt động bảo hiểm ngày nay3
a) Dự trữ thuần túy
Luôn phải đối phó với những rủi ro do tự nhiên và cuộc sống mang lại, con người
hình thành ý thức tự bảo vệ từ rất sớm Đầu tiên, đó là ý thức dự trữ thức ăn phòng khi đói
kém; sau đó là dự trữ những công cụ lao động để có thể sử dụng khi cần thiết và cuối cùng
là hình thức dự trữ tiền, các loại tài sản khác Thế nhưng, con người nhận ra rằng dự trữ
có tổ chức hoặc theo nhóm sẽ có hiệu quả cao hơn hình thức dự trữ đơn lẻ Vì vậy, ngay từ
thời cổ xưa đã nảy sinh tư tưởng lập Quỹ dự trữ cứu tế và bảo hiểm tương hỗ
Năm 4.500 trước Công nguyên, tại hạ Ai Cập, những người thợ đẽo đá đã
hình thành những “Quỹ tương hỗ” để trợ giúp lẫn nhau khi chẳng may có người
gặp rủi ro trong quá trình lao động vì đẽo đá là một nghề nguy hiểm đến tính mạng
nên lúc rủi ro xảy ra rất cần sự giúp đỡ của cộng đồng Khi tham gia những tổ chức
này, những người thợ đá phải đóng tiền hội phí và số tiền này sẽ được dùng để lo
tang ma cho những người trong hội không may bị mất đi4 Tuy nhiên, do trình độ
sản xuất còn thấp kém nên không thể tích lũy đủ nhiều để xây dựng quỹ bồi
thường Cách này chỉ là hình thức lấy số đông bù số ít, nghĩa là phân chia rủi ro của
một người lên cho nhiều người cùng gánh vác Ý niệm này về sau đã trở thành một
nguyên tắc không thể thiếu của hoạt động bảo hiểm hiện đại
Năm 3.000 trước Công nguyên, tại Trung Quốc, các lái buôn đã biết phân chia hàng
hoá ra nhiều thuyền nhỏ thay vì chuyên chở trên một thuyền lớn nhằm hạn chế tổn thất khi
Về phương diện pháp lý: Bảo hiểm là một hợp đồng được ký kết, trong đó một bên (người bảo hiểm)
đồng ý nhận một số tiền đã được tính toán (gọi là phí bảo hiểm ) để bồi thường cho người khác (người
được bảo hiểm) về những tổn thất người ấy phải gánh chịu do hậu quả của những sự cố đã xảy ra
Về phương diện kinh tế : Bảo hiểm là một hệ thống các biện pháp kinh tế để huy động sự đóng góp của
các tổ chức, các cá nhân một số tiền nhất định dưới dạng phí bảo hiểm hình thành quỹ bảo hiểm nhằm chi
trả hay bù đắp cho các đối tượng của người đóng góp khi có sự cố xảy ra, đảm bảo ổn định đời sống được
thường xuyên và liên tục
Theo các chuyên gia bảo hiểm người Pháp: bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền
được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy
ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rỉu ro và
đền bù các thiệt hại theo phương pháp thống kê
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, bảo hiểm được hiểu là chức năng kinh tế mà mục đích là bồi thường
những thiệt hại về của cải hay sức khỏe , tính mạng con người, bằng cách đảm nhiệm những rủi ro và đền
bù những rủi ro ấy Người muốn được bảo hiểm phải mua bảo hiểm và khi bị thiệt hại thì được bồi thường
Việc bồi thường được quy định bằng một hợp đồng giữa tổ chức bảo hiểm và người được bảo hiểm (Tổng
hợp từ internet)
3 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ - Tổng công ty Bảo
hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 37
4 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân tho ï- Tổng công ty Bảo
hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 38
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 77
vận chuyển Điều này cho thấy từ rất xa xưa con người đã biết rõ lợi ích của việc phân tán
các rủi ro và đây cũng chính là một trong các nguyên tắc cơ bản của hoạt động bảo hiểm
sau này
b) Cho vay nặng lãi
Khi xã hội phát triển và hoạt động con người đa dạng hơn dự trữ thuần túy
không giải quyết được đầy đủ các nhu cầu của con người Đối với các thương gia,
để chuẩn bị cho một chuyến hàng, họ cần rất nhiều vốn, do đó cần thời gian lâu để
tích lũy hoặc đi vay mượn Tuy nhiên, vận chuyển thường gặp nhiều khó khăn và
nguy hiểm, có thể thu được lợi nhuận cao mà cũng có thể bị tổn thất hoàn toàn
Người cho vay với lãi suất thông thường luôn cảm thấy lo lắng bất an khi cho
những nhà buôn này vay bởi vì có thể họ sẽ khó có thể lấy lại vốn vay do có quá
nhiều rủi ro khi chuyên chở Và dĩ nhiên, để bù lại, họ đưa ra mức lãi suất rất cao
mà buộc lòng, các nhà buôn phải chấp nhận Đến lúc này, dí dỏm một chút, đến lượt
người cho vay phải cầu mong cho chuyến hàng của nhà buôn được thuận lợi
Thật vậy, khoảng 1.700 năm trước Công nguyên, tại Babylon và khoảng 500 năm
trước Công nguyên, tại Athen một hệ thống cho vay với lãi suất cao để mua hàng hoá vận
chuyển được hình thành Hệ thống này hoạt động với nguyên tắc: khi hàng hoá bị mất đi
trong quá trình vận chuyển thì người đi vay sẽ không phải trả khoản tiền đã vay Bước
đầu, chúng ta có thể nhận thấy rằng lãi suất trong các hợp đồng vay mà nhà buôn đã giao
kết với chủ tư bản như trên chính là dấu hiệu của phí bảo hiểm ngày nay
Mặc dù hình thức này ra đời đã nâng cao hình thức dự trữ thuần tuý lên gần
hình thái bảo hiểm hơn, mặc dù, vẫn còn điểm hạn chế là lãi suất quá cao Do nhược
điểm này mà hình thức cho vay nặng lãi đã bị cấm hoạt động sau khi ra đời không
lâu, mở đường cho hình thức thỏa thuận về rủi ro ra đời
c) Thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm giữa các bên
q Hình thức cổ phần
Đây là hình thức mà các bên thỏa thuận nhằm làm giảm bớt những tổn thất có thể
xảy ra trong qua trình vận chuyển giữa các thương buôn Chuyến hàng được tạo lập bằng
sự đóng góp của nhiều người, mỗi người góp một phần: tiền, hàng hoá hoặc phương tiện
vận chuyển Nếu thành công lợi nhuận được chia theo tỷ lệ vốn góp Nếu gặp rủi ro, tổn
thất sẽ được san sẻ cho nhiều người
Năm 2.250 trước Công nguyên, tại Babylon, các nhà buôn đã thuê những người
chuyên chở bằng lạc đà (gọi là Darmathe) vận chuyển hàng hóa với điều kiện cùng chia sẽ
rủi ro với những nhà buôn này Nếu kinh doanh có lời, Darmathe sẽ được chia phân nữa số
lãi, ngược lại các Darmathe sẽ đền bù Đây cũng là một cách nhằm chia sẽ rủi ro giữa các
thương nhân và người vận chuyển
Tuy nhiên, cách này cũng còn nhiều hạn chế, tốn nhiều thời gian kêu gọi cổ đông,
phải thỏa thuận, giao kết rõ ràng Do đó, một hình thức tiện lợi hơn ra đời - chính là hình
thức bảo hiểm
q Hình thức bảo hiểm
Qua một quá trình phát triển tương đối dài với nhiều giai đoạn khác nhau, bảo hiểm
dần được hình thành với hình thức bảo hiểm đầu tiên là bảo hiểm hàng hải và bảo hiểm hỏa
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8hoạn Những nguyên tắc, kỹ thuật bảo hiểm từng bước được hình thành và hoàn thiện
thông qua quá trình phát triển của hoạt động bảo hiểm
Bảo hiểm hàng hải - Có rất nhiều ý kiến tranh luận xung quanh vấn đề bảo hiểm
hàng hải ra đời khi nào và ở đâu Tuy nhiên, phần lớn quan điểm cho rằng bảo hiểm hàng
hải ra đời ở nước Ý vào giữa thế kỷ 14 Bởi lẽ, trong khoảng thời gian này, tại nước Ý hình
thành thói quen mua bán có tính “vay mượn phiêu lưu” Đây là hình thức mà chủ tàu hay
chủ hàng hóa ký quỹ tại một nhà băng bằng chính con tàu và hàng hóa đó để vay một số
tiền; nếu vận chuyển thành công và đến nơi an toàn thì người ký quỹ phải trả cả lời lẫn
vốn5; nhưng ngược lại, nếu có thiệt hại thì có thể được miễn toàn bộ số nợ hoặc giảm nợ
tùy mức độ Đổi lại, người cho vay sẽ lấy một lãi suất cao hơn bình thường để bù cho thiệt
hại xảy ra đối với các tàu gặp rủi ro khác Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được
phát hành tại thành phố cảng Genoa-Italia vào năm 13476 Sau đó, cùng với cuộc cách
mạnh thương mại vào thế kỷ XIV, XV, kỹ nghệ hàng hải phát triển mạnh mẽ kéo theo sự
phát triển không ngừng của hoạt động bảo hiểm hàng hải Theo đà chuyển đổi, trung tâm
hoạt động và bảo hiểm hàng hải lan rộng từ Ý qua Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan,
Anh, Đức
Vào năm 1683, Edward Lloyd mở quán cà phê (Lloyd’s Coffee house) tại London
làm trung tâm trao đổi thông tin hàng hải Năm 1871, quán cà phê này đã trở thành một tổ
chức của các nhà bảo hiểm hàng hải, có tư cách pháp nhân và với tên gọi Lloyd’s Tuy
nhiên, Lloyd’s không phải là doanh nghiệp bảo hiểm mà chỉ là nơi giao dịch của những
nhà bảo hiểm7 Những nguyên tắc điều khoản bảo hiểm, đơn bảo hiểm hàng hải được ký
kết giữa người bảo hiểm (Insurer) và người được bảo hiểm (Insured) do tổ chức này cung
cấp, dần được tiêu chuẩn hoá, không những tại Anh mà còn được nhiều nước trên Thế giới
thừa nhận và áp dụng Ngày nay, tổ chức này đã trở thành Trung tâm Bảo hiểm quốc tế về
tàu và hàng hoá nổi tiếng Thế giới
Hoạt động bảo hiểm ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu được bảo vệ và hạn chế rủi ro
trong cuộc sống Chính vì vậy, khi đời sống càng phát triển, tài sản tạo ra ngày càng nhiều
thì nhu cầu này lại càng được quan tâm chu đáo hơn Khoảng đầu thế kỷ XVIII, tại Châu
Âu, công nghiệp phát triển mạnh, phong phú về loại hình, đa dạng về quy mô làm phát
sinh nhu cầu bảo hiểm tài sản trên đất liền
Bảo hiểm hỏa hoạn - Vụ hoả hoạn khủng khiếp tại London - Anh, vào ngày
02/9/1966 thiêu hủy trên 13.000 căn nhà và rất nhiều tài sản là tiền đề cho hoạt động bảo
hiểm hỏa hoạn hình thành Khi trình độ xã hội phát triển thì các hình thức chữa cháy thông
thường không thể phát huy tác dụng Bởi vì, ngày càng nhiều ngôi nhà được xây dựng, các
nhà liền kề nhau và không còn khoảng cách nhiều như trước nên một khi, không may hỏa
hoạn xảy ra thì lửa sẽ lan rất nhanh Bên cạnh đó, dường như, những người chữa cháy
không chuyên nghiệp thực hiện công việc này vì ý nghĩa nhân đạo càng gặp khó khăn
trong việc cứu giúp tài sản và tính mạng của người khác khi xảy ra hỏa hoạn Để giải quyết
khó khăn đó, bác sĩ răng hàm mặt Nicholas Barbon đã lập ra doanh nghiệp bảo hiểm hỏa
hoạn vào năm 1667 với tên gọi đơn giản “Phòng Hỏa hoạn” Từ 1683, tại nước Anh tiếp
tục lập các tổ chức ái hữu nhằm bảo trợ cho các hội viên không may bị tử vong, thương tật
5
Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, GS.TS Trương Mộc Lâm - Lưu Nguyên Khánh,
NXB Thống Kê 2001, trang 25
6 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần II, Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của BảoViệt và thủ tục ký kết- Tổng
công ty Bảo hiểm Việt Nam- Hà nội 2002, trang 39
7 Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, GS.TS Trương Mộc Lâm - Lưu Nguyên Khánh,
NXB Thống Kê 2001, trang 26
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9hoặc khánh kiệt tài sản do hỏa hoạn Đến thế kỷ XVIII, quy chế bảo hiểm hỏa hoạn của
Anh dần được hoàn chỉnh, từng bước trở thành quy tắc hỏa hoạn bảo hiểm hỏa hoạn hiện
đại ngày nay
Bảo hiểm khác - Cuối thế kỷ XIX, ngành công nghiệp cơ khí phát triển mạnh mẽ
cùng với sự phát minh hàng loạt các phương tiện giao thông hiện đại (ô tô, tàu lửa, máy
bay, ) đã mang lại cho con người nhiều thuận tiện hơn trong cuộc sống, nhất là trong giao
thông vận tải Thế nhưng, đó chính là những nguồn nguy hiểm cao độ có thể đem lại cho
người sử dụng nhiều rủi ro Hành khách có nhu cầu được bảo vệ, và hoạt động bảo hiểm
các phương tiện xe cơ giới được hình thành
Riêng tại Việt Nam, trước năm 1975, có tất cả 52 công ty (trong và ngoài nước)
được thành lập và hoạt động, chủ yếu ở miền Nam Các công ty trong nước thành lập dưới
hình thức Hội vô danh hoặc Hội tương hỗ Các công ty nước ngoài thành lập ở Việt Nam,
dưới hình thức chi nhánh, hầu hết đặt trụ sở ở Sài Gòn - trung tâm kinh tế miền Nam lúc
bấy giờ Thời kỳ này, chúng ta đã thành lập được Hiệp hội bảo hiểm miền Nam Việt Nam
thực hiện chức năng tư vấn, đào tạo, tạo môi trường hợp tác Chủ yếu thực hiện bảo hiểm:
tai họa, chuyên chở, xe tự động, sinh mạng, tai nạn lao động, bảo hiểm khác 8
Năm 1929 một công ty Việt Nam được thành lập đặt chi nhánh tại Sài Gòn
gọi là Việt bảo hiểm công ty nhưng chỉ hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm xe tự
động
Năm 1964, Công ty bảo hiểm Bảo Việt được thành lập theo Quyết định số 179/CP
ngày 17/10/1964 của Chính phủ, tiền thân của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam ngày nay
Lúc đầu, hoạt động của công ty chủ yếu trong các lĩnh vực bảo hiểm hàng hóa xuất nhập
khẩu, bảo hiểm tàu biển, làm đại lý giám định và xét bồi thường cho các công ty bảo hiểm
nước ngoài về hàng hóa xuất nhập khẩu Năm 1989, theo Quyết định của Bộ Tài chính,
Công ty Bảo hiểm Việt Nam đổi tên thành Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam
Lúc đó, Bảo Việt là doanh nghiệp Nhà nước độc quyền kinh doanh bảo hiểm Do
cơ chế bao cấp và độc quyền nên quy mô bảo hiểm nhỏ, sản phẩm đơn điệu, phạm vi hạn
chế Khi đó, bảo hiểm chỉ mới dừng lại ở chức năng bảo vệ tài sản mà chưa thực hiện chức
năng tiết kiệm và đầu tư Cho đến khi Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 và Luật KDBH
2000 ra đời, đã khuyến khích ngành bảo hiểm phát triển mạnh mẽ, phát huy vai trò tích cực
của bảo hiểm trong đời sống dân cư và góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển9 Từ
chổ chỉ có một doanh nghiệp Nhà nước độc quyền kinh doanh bảo hiểm thì hiện nay Việt
Nam đã có 21 doanh nghiệp bảo hiểm10, 02 công ty môi giới bảo hiểm, 01 công ty tái bảo
hiểm với nhiều hình thức sở hữu là loại hình kinh doanh khác nhau
Ngoài ra, còn có sự góp mặt của hơn 50 văn phòng đại diện về bảo hiểm và môi
giới bảo hiểm của nước ngoài tại Việt Nam đã khiến cho thị trường bảo hiểm Việt Nam
càng thêm sôi động11
8 Vận tải và bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường biển-Ths Quan Minh Nhựt-Trường ĐH Cần Thơ 2001
9 Doanh thu bảo hiểm toàn thị trường tăng từ 741 tỉ đồng (1994) lên 7685 tỉ đồng (2002), tăng 55% so với
năm 2001 và chiếm tỉ trọng 1,32% GDP Nộp ngân sách Nhà nước tăng theo nhịp độ phát triển của ngành,
từ hơn 181 tỉ đồng (1994) lên 300 tỉ đồng (2002) Chỉ tính riêng số lượng 70.000 đại lý bảo hiểm nhân thọ
đã góp phần tạo công ăn việc làm cho xã hội, giảm áp lực thất nghiệp cho nền kinh tế (Nguồn: Tổng hợp
thông tin thị trường bảo hiểm, tái bảo hiểm 2001,2002; Thời báo kinh tế Sài Gòn 2002,2003)
10 Trong đó có 3 doanh nghiệp nhà nước, 3 doanh nghiệp cổ phần, 5 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, 10
doanh nghiệp liên doanh
11 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ- Tổng công ty Bảo
hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 102 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên TG và VN
Cùng với nhu cầu được bảo vệ tài sản thì nhu cầu bảo vệ sinh mạng của con
người cũng được hình thành Khi một thành viên trong gia đình mất đi ít nhiều sẽ
tạo nên gánh nặng cho những người còn lại: chi phí điều trị (nếu người chết do bệnh
tật), chi phí ma chay, sinh hoạt phí của cả gia đình nếu như người mất đi là một
trong những người trụ cột của gia đình Đối với xã hội, một con người mất đi,
nguồn nhân lực sẽ bị ảnh hưởng, một số tác nghiệp có liên quan đến người này sẽ bị
xáo trộn Do đó, rất cần thiết có một khoản tiền để sau khi một người mất đi không
làm tăng gánh nặng cho gia đình và những người còn sống Bảo hiểm nhân thọ ra
đời xuất phát từ nhu cầu đó12
a) Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên TG
Ban đầu, ở nhiều nước, bảo hiểm nhân thọ chỉ là hình thức cứu tế, giúp đỡ
gia đình của những người qua đời do già yếu hoặc ốm đau Nguyên tắc hoạt động
của Hội cứu tế là các thành viên bất kỳ tình trạng sức khoẻ, tuổi tác đều cùng đóng
góp một số phí giống nhau và hưởng quyền lợi như nhau Tuy nhiên, chỉ sau một
thời gian ngắn hoạt động, hình thức này đã bộc lộ việc đối xử không công bằng đối
với các thành viên Chính vì vậy, một hình thức bảo hiểm nhân thọ mới mang tính
công bằng hơn hình thành
Năm 1639, E.Halley, người Anh đã lập ra Bảng thống kê tử vong đầu tiên Sau đó,
năm 1659 Lý thuyết xác suất của B.Pascal và Quy luật về số đông của J.Bernoulli vào thế
kỷ XVIII đã đặt cơ sở về lý thuyết tính toán khoa học cho bảo hiểm nhân thọ áp dụng cho
đến sau này13
Trong những năm 50 của thế kỷ XVIII, T.Simpon đã dựa vào Bảng thống kê tử
vong do E.Halley lập ra để thành lập Bảng tỷ lệ phí bảo hiểm nhân thọ Theo đó, tỷ lệ chết
của con người tăng dần theo lứa tuổi, phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm cũng tăng
dần theo từng năm như vậy mới công bằng cho những người tham gia bảo hiểm Nhưng
chỉ số của bảng phí tăng nhanh cho đến 50 tuổi và số phí đóng quá cao Chính vì vậy,
J.Dodson đã điều chỉnh theo hướng không tăng dần mức phí theo tuổi mà ổn định trong
suốt thời gian tham gia hay còn gọi là phí bảo hiểm bình quân14
Như vậy, bảo hiểm nhân thọ được hình thành từ rất sớm Vào năm 1583, hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ lần đầu tiên được xác lập ở Anh quốc nhưng chưa được mọi người quan
tâm và hưởng ứng Tại Hoa Kỳ, năm 1759, công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên được thành
lập Tuy nhiên, công ty này chỉ bảo vệ cho các thành viên của các nhà thờ do họ sở hữu
Cho đến năm 1762, Hãng bảo hiểm Equitable được thành lập tại London dựa trên
cách tính phí của T.Simpon và J.Dodson - đây là doanh nghiệp bảo hiểm hiện đại đầu tiên
12
Mặc dù, khi tham gia bảo hiểm nhân thọ con người không thể có thể vượt qua những rủi ro trong cuộc sống
hoặc bất tử nhưng khi tham gia bảo hiểm nhân thọ ít nhất họ cũng có đủ tiền để trang trải cho các chi phí
trong tang lễ của người được bảo hiểm, cấp dưỡng cho thân nhân của họ
13 Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, GS.TS Trương Mộc Lâm - Lưu Nguyên
Trang 11hoạt động trên cơ sở kỹ thuật bảo hiểm Có thể nói rằng, chính nó đã tạo ra một diện mạo
mới cho hoạt động bảo hiểm nhân thọ nói riêng và bảo hiểm con người nói chung15
Khi cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra vào đầu thế kỷ XIX, nhiều công ty, xí
nghiệp được thành lập, cơ hội nghề nghiệp nhanh chóng đến với người lao động, và dĩ
nhiên, cùng với đó là những rủi ro cao trong hoạt động nghề nghiệp Do hoạt động sản
xuất ngày càng mở rộng, số vụ tai nạn xảy ra ngày càng tăng lên, làm cho nhu cầu được bù
đắp những thiệt hại về sức khỏe tính mạng của người lao động cũng phát sinh Đó chính là
cơ sở để hoạt động bảo hiểm nhân thọ có những bước phát triển nhanh và rộng khắp sau
này16 Lợi nhuận và những giá trị xã hội mà các sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ mang lại
đã tạo chỗ đứng cho sản phẩm này Hiện nay, các công ty bảo hiểm nhân thọ đã có mặt ở
hầu khắp các quốc gia trên toàn cầu với các sản phẩm đa dạng và hoàn hảo hơn Không chỉ
có kỹ thuật tính toán cơ bản, những dịch vụ đi kèm theo sản phẩm ngày càng được nâng
cao phù hợp với nhu cầu và mức sống của người mua bảo hiểm Bảo hiểm nhân thọ trở
thành một nhu cầu thiết thân đối với mỗi con người17
b) Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ ở VN
Bảo hiểm nhân thọ ở nước ta ra đời muộn hơn các quốc gia khác bởi nhiều
nguyên nhân khác nhau Một trong những nguyên nhân là do sau chiến tranh, một
mặt chúng ta phải dồn sức để khắc phục hậu quả chiến tranh, đời sống kinh tế còn
nhiều khó khăn, các nhu cầu thiết yếu nhất chưa được đảm bảo nên tạm thời, tâm lý
dân cư chưa có nhu cầu tự bảo vệ hoặc tích lũy dự phòng Mặt khác do chịu sự chi
phối của nền kinh tế bao cấp, độc quyền ngành bảo hiểm chưa được quan tâm đúng
mức, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ
Năm 1964, công ty bảo hiểm Bảo Việt được thành lập; năm 1989, đổi tên thành
Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam - là doanh nghiệp Nhà nước độc quyền kinh doanh bảo
hiểm trong thời gian này Tháng 8/1996, một sự kiện đánh dấu bước phát triển của ngành
bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam, đó là việc Công ty bảo hiểm Bảo Việt phát hành hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên Trải qua hơn 7 năm hoạt động, bảo hiểm nhân thọ ở
nước ta đã phát triển nhanh chóng, thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp dân cư, khẳng
định vai trò quan trọng của mình đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước18
Nếu
15
Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, GS.TS Trương Mộc Lâm - Lưu Nguyên
Khánh, NXB Thống Kê 2001, trang 28
16
Những hình ảnh về vụ đắm tàu lịch sử Titanic năm 1912 đã được dựng thành phim Titanic Con tàu Titanic
- một trong những biểu tượng của nền công nghiệp nước Anh - đã bị đắm ngay trong lần vượt đại dương
đầu tiên Người xem không chỉ nhớ tới câu chuyện tình lãng mạn trên phim mà còn thực sự bị ấn tượng bởi
những mất mát cả về người và tài sản trên tàu Thời điểm này, ngành bảo hiểm nhân thọ Thế giới đã khá
phát triển và sau sự kiện này, các công ty bảo hiểm, trong đó lớn nhất là công ty Prudential đã thực hiện
chi trả cho 342 khách hàng với số tiền lên tới 45 triệu đô la Mỹ Đây là một trong những sự kiện lớn của
ngành bảo hiểm nhân thọ Thế giới
17 Người ta đã thống kê được ở các nước phát triển, số người dân tham gia hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ là rất
lớn Tại Nhật Bản và Mỹ, cứ 10 người dân thì có 9 người mua bảo hiểm nhân thọ, còn ở Singapore cứ 10
người thì có 5 người mua bảo hiểm nhân thọ Ngay như ở Inđônêsia, cũng có tới 10% dân số có hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ
18 Năm 1996, trong giai đoạn thử nghiệm nên tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ chưa đạt 1 tỷ đồng với
hơn 1200 hợp đồng Năm 1997, số lượng hợp đồng tăng lên 37.350 hợp đồng, với tổng doanh thu đạt trên
17,5 tỷ đồng Năm 2000, trong môi trường cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh thu
bảo hiểm đã tăng 160,2%, đạt 1280 tỷ đồng, với khoảng 1 triệu hợp đồng Năm 2001, tổng thu phí đạt
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12như chỉ có một công ty bảo hiểm nhân thọ hoạt động từ năm 1996 đến 1999 (Tổng công ty
bảo hiểm nhân thọ Việt Nam - Bảo Việt) thì đến nay đã có thêm 4 doanh nghiệp bảo hiểm
nhân thọ hoạt động tại thị trường Việt Nam: Công ty liên doanh TNHH Bảo Minh CMG,
công ty TNHH bảo hiểm Manulife, công ty TNHH bảo hiểm Prudential Việt Nam và công
ty TNHH bảo hiểm Quốc tế Mỹ (AIA)19 Tuy là một thị trường mới, nhưng với dân số gần
80 triệu người, thì Việt Nam được đánh giá là một thị trường bảo hiểm nhân thọ tiềm năng
Thị trường bảo hiểm nhân thọ hiện nay đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ tại các đô
thị lớn: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, khu vực đồng bằng sông Cửu Long…Các công ty đã và
đang từng bước nâng cao chất lượng phục vụ nhằm thu hút nhiều khách hàng tiềm năng
cho công ty Chính việc cạnh tranh này sẽ tạo điều kiện cho bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam
phát triển nhanh chóng, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới
II LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Hoạt động bảo hiểm ra đời đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội và ngày càng
phát triển mạnh mẽ Theo quy luật khách quan của sự phát triển thì đã đến lúc cần
phải có một hệ thống pháp lý điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan đến bảo hiểm Do
đó, không lâu sau khi hoạt động bảo hiểm ra đời, pháp luật bảo hiểm cũng được xây
dựng và thực thi hiệu quả, góp phần ổn định và phát triển thị trường bảo hiểm nói
chung
1 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm trên TG và VN
Như ta đã biết hoạt động bảo hiểm tại Việt Nam ra đời muộn hơn rất nhiều so với
bảo hiểm thế giới Chính vì vậy, hệ thống pháp luật bảo hiểm Việt Nam cũng còn
khá non trẻ và cần nhiều thời gian để học hỏi kinh nghiệm của hệ thống pháp luật
bảo hiểm của các nước trên Thế giới
a) Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm trên TG
2775 tỷ đồng (tương đương 0,55% GDP) Năm 2002 là năm thành công nhất của thị trường bảo hiểm nhân
thọ VN với tổng doanh thu đạt 4645 tỷ đồng, tăng trưởng 66,74% so với năm 2001
Về số hợp đồng khai thác mới, chủ yếu là hợp đồng tích lũy định kỳ, tổng số hợp đồng khai thác mới là
1.779.386 hợp đồng, tăng 36,1% so với năm 2001 Baominh CMG đạt chỉ số cao nhất về các hợp đồng
khai thác mới với 810.016 hợp đồng, kế đó là Bảo Việt với 677.814 hợp đồng Sản phẩm bảo hiểm hỗn
hợp là sản phẩm được khách hàng ưa chuộng nhất, chiếm gấn 80% tổng doanh thu phí bảo hiểm - thể hiện
tâm lý tích lũy tiết kiệm của người dân VN Ngoài ra các sản phẩm bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm bệnh hiểm
nghèo, bảo hiểm nhóm đạt doanh thu cao
Số hợp đồng đang có hiệu lực, tính đến 31/12/2002, có tất cả 3.974.498 hợp đồng, tăng 68,49% so với
cùng kỳ năm trước Tổng số đại lý bảo hiểm nhân thọ toàn thị trường là 69.850 người, tăng 65,13% so với
năm 2001 (Nguồn: Tổng hợp thông tin thị trường bảo hiểm, tái bảo hiểm 2001,2002-Báo cáo của Bộ tài
chính; Thời báo kinh tế Sài Gòn 2002,2003)
19
Công ty liên doanh TNHH Bảo Minh CMG, công ty liên doanh giữa tập đoàn CMG (Australia) và công
ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh), khai trương hoạt động 12/10/1999, vốn đăng ký kinh
doanh 10 triệu USD, thời hạn hoạt động 30 năm
Công ty TNHH bảo hiểm Manulife, là công ty 100% vốn nước ngoàicủa tập đoàn Manulife (Canada)
đầu tư tại Việt Nam (trước đây là công ty TNHH bảo hiểm Chinfon –Manulife, năm 2001 Chinfon bán lại
phần vốn góp của mình cho Manulife), khai trương hoạt động 12/06/1999, vốn đăng ký kinh doanh 10
triệu USD, thời hạn hoạt động 50 năm
Công ty TNHH bảo hiểm Prudential Việt Nam, công ty 100% vốn nước ngoài của Anh quốc, khai trương
và hoạt động từ ngày 29/10/1999, vốn đăng ký kinh doanh 14 triệu USD, thời hạn hoạt động 50 năm Năm
2003, Prudential đã tăng vốn kinh doanh lên 64 triệu USD
Công ty TNHH bảo hiểm Quốc tế Mỹ (AIA), công ty 100% vốn nước ngoài của Mỹ, khai trương hoạt
động từ ngày 22/02/2000, vốn đăng ký kinh doanh 10 triệu USD, thời hạn hoạt động 50 năm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13Cùng với sự ra đời của hoạt động bảo hiểm, pháp luật bảo hiểm ra đời nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan Vào năm 916 TCN, Hoàng đế xứ Rhodes đã ban
hành luật để bảo vệ các thương gia có hàng hóa bị tổn thất vì lợi ích chung của hành trình
Các chủ tàu được hưởng lợi trên các tổn thất đó phải cùng gánh chịu rủi ro Luật bảo hiểm
hàng hóa ra đời sớm nhất ở Italia Sau đó là Luật An-long năm 1266 Khi hoạt động hàng
hải ngày càng phát triển thì hoạt động bảo hiểm cũng từng bước được xã hội quan tâm Các
luật lệ về hoạt động hàng hải hình thành sau thế kỷ 14 của các nước Châu Âu có quy định
về các vấn đề liên quan đến bảo hiểm hàng hải20
Một trong những quy định về bảo hiểm hàng hải được coi là lâu đời nhất thế
giới chính là Pháp lệnh Bacelona Tây Ban Nha năm 1435 Pháp lệnh này đã công
bố quy tắc bảo hiểm hàng hải và thủ tục bồi thường Các quy tắc trong Pháp lệnh
này được vận dụng trong hầu hết các quy định về bảo hiểm hàng hải sau này Năm
1523, Mẫu đơn bảo hiểm tiêu chuẩn ra đời tại Ý dựa trên các quy tắc bảo hiểm
trước đây Bên cạnh sự xuất hiện của các quy định về bảo hiểm, Toà án chuyên giải
quyết tranh chấp hàng hải của được lập ra tại Bỉ và Hà Lan
Do sự phồn thịnh của ngành hàng hải Italia, luật bảo hiểm cũng phát triển ở nước
này sớm hơn những quốc gia khác, người ta đã chứng minh được rằng Luật bảo hiểm ra
đời sớm nhất là Luật hoạt động hàng hải Căng-sô-ra-đô của Italia Tiếp theo sau là Pháp
lệnh hoạt động hàng hải do vua Louis 14 ban hành năm 1681 Những tòa án bảo hiểm
hàng hải cũng được lập nên ở Antwerp ( Bỉ), Amsterdam (Hà Lan) để giải quyết những vụ
tranh chấp về bảo hiểm Bên cạnh đó, nước Anh cũng là một trong những quốc gia có hệ
thống pháp luật bảo hiểm vững mạnh của Châu Âu Luật bảo hiểm hàng hải năm 1906 của
Anh đã có những ảnh hưởng sâu rộng đối với luật bảo hiểm của các nước khác21
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, sự phát triển về thương mại quốc
tế và sự tiến bộ về giao thông quốc tế, luật bảo hiểm các nước từng bước được hoàn
chỉnh dần, đặc biệt là các nước ở Châu Âu
Luật bảo hiểm Pháp ban hành năm 1930, bắt nguồn từ điều khoản có liên quan trong Điều
lệ hoạt động hàng hải năm 1681 và luật buôn bán của Pháp năm1808, gồm 4 chương: Năm
1905, Pháp ban hành “Luật giám sát bảo hiểm nhân thọ”
Luật bảo hiểm Đức - Năm 1731, tại thành phố Hamburg, Đức đã ban hành “Điều lệ bảo
hiểm về tổn thất hàng hải” Năm 1794 ban hành Đạo luật Prusse trong đó có quy định về
bảo hiểm hàng hải và bảo hiểm đường bộ Năm 1908, Luật hợp đồng bảo hiểm được công
bố và được thực hiện vào năm 1910 Sau đó, Điều lệ giám sát tái bảo hiểm vào năm 1913,
Luật giám sát doanh nghiệp bảo hiểm tư nhân và quỹ tiết kiệm xây nhà ở năm 1931 lần
lượt được ban hành
Luật bảo hiểm Anh - Năm 1906 ban hành Luật bảo hiểm hàng hải Bên cạnh đó, bảo hiểm
phi hàng hải được xét xử theo tiền lệ Năm 1774 ban hành Luật bảo hiểm nhân thọ và Luật
bảo hộ người lao động được ban hành năm 1975
Luật bảo hiểm Mỹ - Ở Mỹ không có một bộ luật bảo hiểm thống nhất Về hợp đồng bảo
hiểm được xét xử theo tiền lệ Luật bảo hiểm của bang New York được xem là một đạo
luật hoàn chỉnh nhất gồm có 18 chương 631 điều22
Tạp chí Kinh tế phát triển - ĐH Kinh tế TPHCM
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 1414
Các nước Châu Á, nhất là khu vực Đông Nam Á cũng có nhiều cố gắng trong
việc xây dựng khung pháp lý để điều chỉnh hoạt động bảo hiểm23 Đặc biệt, Việt
Nam và Trung Quốc là một trong số ít các quốc gia điều chỉnh chung toàn bộ hoạt
động kinh doanh bảo hiểm trong một đạo luật duy nhất
b) Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm ở VN
Lịch sử hình thành hệ thống pháp luật bảo hiểm Việt Nam muộn hơn rất nhiều so
với các nước có nền kinh tế hàng hải phát triển Bởi lẽ, hoạt động bảo hiểm gắn liền chặt
chẽ với hoạt động hàng hải Trong khi đó, nền kinh tế chính của nước ta là nền nông
nghiệp lúa nước, tự cung tự cấp là chủ yếu nên không có nền kinh tế hàng hải mạnh như
các quốc gia khác
Như ta đã biết, hoạt động bảo hiểm ở nước ta bắt đầu hình thành do các nước Châu
Âu quan tâm đến thị trường bảo hiểm Đông Dương Chính vì lẽ đó, trong giai đoạn đầu
của hoạt động bảo hiểm, pháp luật bảo hiểm chủ yếu sử dụng các văn bản của Pháp: - Đạo
luật 1912 được ban hành để kiểm soát hoạt động của công ty bảo hiểm và các điều khoản
ghi trong hợp đồng; - Luật 13/07/1930 quy định về những nghiệp vụ bảo hiểm, là một quy
chế pháp lý cho ngành bảo hiểm tại nước Pháp và cho cả Đông Dương
Năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phòng, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Công ty bảo hiểm Bảo Việt ra đời nhằm thực hiện vai trò bảo hiểm, đáp ứng nhu cầu của
xã hội Các văn bản pháp luật liên quan đến bảo hiểm được ban hành ngày để điều chỉnh
quan hệ bảo hiểm:
- Sắc luật 01/09/1965 ban hành nhằm bổ sung luật 13/07/1930 là sắc luật đầu
tiên của Việt Nam ban hành về thể thức hành nghề bảo hiểm trong nước và được bổ sung bởi sắc luật 31/08/1967 sửa đổi về việc phân loại các nghiệp vụ bảo hiểm tại Việt Nam
- Nghị định 54/CP ngày 10/03/1975 quy định về điều lệ tạm thời về hợp đồng
kinh doanh bảo hiểm
Năm 1990, Bộ luật Hàng hải ra đời ghi nhận các quy định về hợp đồng bảo hiểm
Nội dung của những quy định liên quan đến bảo hiểm gồm có: giá trị bảo hiểm số tiền bảo
hiểm, sự kiện bảo hiểm…
Năm 1991, Luật hàng không dân dụng Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày
26/12/1991 có quy định “Người vận chuyển phải bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự
của mình đối với tính mạng, sức khoẻ, thương tích của hành khách tới mức giới hạn trách
nhiệm dân sự của người vận chuyển và theo quy định của pháp luật về bảo hiểm”
Cho đến năm 1993, trước những phát triển của nền kinh tế thị trường đòi hỏi cần
phải có một hệ thống pháp luật bảo hiểm để tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm phát triển
kịp với nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính
phủ về kinh doanh bảo hiểm được ban hành Nghị định này đã tạo điều kiện cho hoạt động
bảo hiểm phát triển, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước
23
Luật bảo hiểm Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 6/1995
Đạo luật bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ Thái Lan
Đạo luật bảo hiểm số 553 năm 1996 của Malayxia
Bộ luật bảo hiểm Philipin 18/12/1997
Luật KDBH Indonexia 1992
Luật KDBH Myanmar 6/1996
Luật bảo hiểm của Vương quốc Campuchia ngày 20/6/2000
Comment [MA1]: Page: 11
Có nên dùng chữ “đầu tiên” ? Vì trước
đó, đã có Nghị định 54/CP ngày
10/03/1975 quy định về điều lệ tạm thời
về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15đối với hoạt động bảo hiểm Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã ban hành các Thông tư hướng
dẫn thi hành Nghị định 100/CP, nhằm tạo hành lang pháp lý và giám sát hoạt động kinh
doanh bảo hiểm Sau đó, ngày 14/06/1997 Chính phủ ban hành Nghị định số 74/CP về việc
sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Nghị định 100/CP (18/12/1993) Tuy nhiên, có thể nói
rằng hệ thống văn bản quy định về bảo hiểm còn nằm rải rác trong một số văn bản pháp
luật khác
Năm 1996 BLDS ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lập pháp
của nước ta Việc ghi nhận quan hệ bảo hiểm là một trong những quan hệ hợp đồng dân sự
thông dụng cho thấy vai trò quan trọng của hoạt động bảo hiểm đối với xã hội
Ngày 12/11/1996 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được quốc hội thông qua có
quy định về việc các doanh nghiệp nước ngoài khi tham gia bảo hiểm tại Việt Nam thì phải
ký kết hợp đồng bảo hiểm đối với các doanh nghiệp bảo hiểm được pháp hoạt động tại Việt
Nam Tiếp sau đó, Nghị định 115/1997/NĐ – CP ngày 17/12/1997 của Chính phủ về bảo
hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới được ban hành
Mặc dù, Nghị định 100/CP của Chính phủ ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo
hiểm, BLDS 1996 và các văn bản pháp luật khác đã khẳng định vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển Tuy nhiên, với tốc độ phát triển
mạnh mẽ của thị trường bảo hiểm, cần phải có một văn bản pháp luật chuyên ngành mang
tính pháp lý cao hơn nữa, quy định chi tiết và toàn diện hơn nữa, tương xứng với quy mô
phát triển của ngành bảo hiểm hiện nay, Luật KDBH 2000 ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu
đó
2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm nhân thọ trên TG
và VN
So với các ngành luật khác, pháp luật bảo hiểm nhân thọ còn khá non trẻ, nhưng vô
cùng quan trọng bởi vì những đặc tính riêng của hình thức bảo hiểm này Bởi lẽ, bảo hiểm
nhân thọ có liên quan mật thiết không chỉ đến tính mạng mà còn liên quan đến sản nghiệp
của con người
a) Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm nhân thọ trên TG
Trên thế giới tồn tại hai hệ thống pháp luật chủ yếu: Hệ thống pháp luật Châu Âu
lục địa (Continental Law) và Hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Common Law) Hai hệ thống
pháp luật này có nhiều nét cơ bản khác nhau24 Tuy nhiên trong lĩnh vực bảo hiểm thì hai
hệ thống này lại có những quy định tương đối giống nhau25
Nhìn chung, có thể nhận thấy rằng, pháp luật bảo hiểm nhân thọ của các
nước ra đời sau khi các luật bảo hiểm khác được hình thành Hay nói cách khác, cả
hai hệ thống pháp luật trên đều bắt nguồn từ bảo hiểm hàng hải Tập quán bảo
hiểm hàng hải là nguồn gốc quan trọng của luật bảo hiểm
b) Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm nhân thọ ở Việt
Nam
Cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có một quy định riêng dành cho bảo hiểm
nhân thọ, các quy định có liên quan đều nằm trong BLDS và Luật KDBH Luật về
bảo hiểm nhân thọ là một phần thuộc bảo hiểm con người quy định tại luật nêu trên
24 Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật - Khoa Luật ĐHQG Hà Nội, 1998
25 Một số điều cần biết về pháp lý trong doanh bảo hiểm, GS.TS Trương Mộc Lâm - Lưu Nguyên Khánh,
NXB Thống Kê 2001, trang 37
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16Tuy nhiên, những quy định đó vẫn chưa thể điều chỉnh mối quan hệ phức tạp của
bảo hiểm nhân thọ vì những đặc trưng riêng của ngành bảo hiểm này
Nhìn chung, pháp luật về bảo hiểm nhân thọ sẽ cần được chú trọng thêm
nhằm quy định cụ thể hơn các vấn đề về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, chủ thể tham
gia, các thể thức thực hiện… để pháp luật bảo hiểm nhân thọ có thể đáp ứng yêu
cầu ngày càng cao của quan hệ bảo hiểm nhân thọ
III Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Hoạt động bảo hiểm nói chung và hoạt động bảo hiểm nhân thọ nói riêng có ý
nghĩa rất lớn đối với đời sống xã hội Như ta đã biết, hoạt động bảo hiểm ban đầu được
hình thành xuất phát từ nhu cầu tương trợ của những người chung sống trong một cộng
đồng nhằm chia sẻ và cùng nhau gánh vác rủi ro Tuy nhiên, không dừng lại ở mục đích
ban đầu, hoạt động bảo hiểm còn mang nhiều ý nghĩa thiết thực khác
1 Ý nghĩa của hoạt động bảo hiểm
a) Về mặt kinh tế
Bảo hiểm - công cụ đảm bảo an toàn - Trong đời sống xã hội, rủi ro luôn làm
phát sinh các thiệt hại đối với tài sản, thậm chí tính mạng của con người Những rủi ro đó
có thể làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh, ngưng trệ mọi sinh hoạt của xã hội
Nói cách khác, nó làm giảm hiệu quả hoạt động của con người Mặc dù vậy, người ta
không thể nào lường trước được những rủi ro có thể xảy ra Do đó, cách tốt nhất là hạn chế
những tổn thất mà rủi ro mang lại nếu có
Một trong những cách nhằm hạn chế rủi ro đó là lập trước các quỹ dự trữ hay còn
gọi là quỹ bảo hiểm để dự phòng Các quỹ dự trữ đó sẽ khắc phục các hậu quả do tổn thất
gây ra, nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của xã hội Như vậy, về mặt kinh tế, các quỹ
bảo hiểm như là một công cụ dự phòng an toàn đảm bảo khả năng hoạt động bền vững của
chủ thể kinh tế và của chính nền kinh tế
Bảo hiểm - công cụ tài chính của nền kinh tế hiện đại - không chỉ là quỹ dự
phong rủi ro, bảo hiểm còn là một cách huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư dùng vào mục
đích kinh doanh Thật vậy, hiện nay, trong xã hội vẫn còn có một số vốn lớn tồn tại không
lưu thông vì nhiều lý do khác nhau, có thể những người giữ nguồn vốn đó không có khả
năng kinh doanh hoặc không muốn kinh doanh Chính vì vậy, thông qua hoạt động bảo
hiểm, một lượng lớn tiền tệ được huy động cho doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm Bằng
số vốn đó, doanh nghiệp sẽ sử dụng để đầu tư kinh doanh và thu lợi nhuận góp phần sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn trong xã hội
Ngoài ra, bảo hiểm còn đảm bảo cho nguồn vốn vay của các ngân hàng, đảm bảo
cho việc luân chuyển vốn Thật vậy, trong giai đoạn kinh tế hiện nay, phần lớn và chủ yếu
vốn mà các doanh nghiệp sử dụng hiện nay là vay từ hệ thống ngân hàng Nếu như có rủi
ro xảy ra, khả năng hoàn vốn của doanh nghiệp bị hạn chế sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của
ngân hàng cũng như của chính doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp tham gia bảo
hiểm thì khi rủi ro xảy ra, sẽ nhận một số tiền từ doanh nghiệp bảo hiểm, đảm bảo hoạt
động nhanh chóng khôi phục sản xuất và hoàn vốn cho ngân hàng
Bên cạnh đó, bảo hiểm còn có ý nghĩa đối với nền kinh tế nông thôn Nông
nghiệp vốn là cơ sở của nền kinh tế nước ta nhưng do thiên tai cũng như trình độ
sản xuất chưa cao nên người nông dân vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự
nhiên và thường chịu nhiều rủi ro trong sản xuất nông nghiệp Bảo hiểm nông
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17nghiệp sẽ giúp cho nhà người nông dân yên tâm hơn khi tham gia sản xuất nông
nghiệp
Như vậy, bảo hiểm không chỉ đóng vai trò của một công cụ đảm bảo an toàn mà
còn là một trung gian tài chính giúp cho nền kinh tế của quốc gia phát triển
b) Về mặt xã hội
Bảo hiểm - biện pháp hỗ trợ cộng đồng - không những mang những ý nghĩa trong
lĩnh vực kinh tế, bảo hiểm còn giúp cho xã hội phát triển ổn định và an toàn Bảo hiểm sẽ
góp phần khắc phục những tổn thất do rủi ro mang lại
Thật vậy, bảo hiểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta, nhất là trong
công tác phòng, chống và khắc phục thiệt hại do hiểm họa thiên nhiên Bởi lẽ, ở khắp nơi,
luôn xảy ra những thiên tai và tai nạn bất ngờ Trong một số trường hợp, bảo hiểm đã hỗ
trợ, bù đắp phần nào những thiệt hại về người và tài sản, giúp cho gia đình nạn nhân vượt
qua được giai đoạn khó khăn để tiếp tục cuộc sống26
Bảo hiểm - biện pháp đề phòng rủi ro, giảm bớt những tổn thất của xã hội -
Nói như vậy, bởi vì các doanh nghiệp thường tìm cho mình những chuyên gia giỏi nhằm
nghiên cứu các rủi ro, từ đó đề ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, cung cấp cho người
tham gia bảo hiểm các dịch vụ tư vấn bảo hiểm
Ở một góc độ khác có thể thấy rằng, bảo hiểm là một cách mà mọi người tương trợ
nhau thông qua một tổ chức, đó là doanh nghiệp bảo hiểm Thật vậy, khi tham gia bảo
hiểm, chủ hợp đồng phải đóng một khoản tiền nhất định để đảm bảo cho rủi ro của mình
Tuy nhiên, xác suất xảy ra rủi ro sẽ không cao đối với cộng đồng xã hội, rủi ro chỉ xảy đến
đối với một số ít người Do đó, nhờ hoạt động bảo hiểm mà số đông người sẽ bù đắp cho
một số ít bị rủi ro Như vậy, bảo hiểm là cách mà mọi người có thể vừa giúp nhau và vừa
tự bảo vệ mình
2 Ý nghĩa của hoạt động bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm nhân thọ cũng có những ý nghĩa tương tự như các hình thức bảo
hiểm khác Tuy nhiên, bảo hiểm nhân thọ liên quan tới sinh mạng của con người
nên ngoài những ý nghĩa chung như trên, còn có một số ý nghĩa đặc trưng của bảo
hiểm nhân thọ
Ý nghĩa bảo vệ - Trong xã hội có nhiều mức sống khác nhau: sống phụ
thuộc vào người khác, lao động vất vả nhưng không đủ sống, mức sống ổn định và
mức sống khá giả Dù ở mức sống nào con người cũng có những ước mơ hoài bảo
Người muốn gia đình ổn định, người muốn con cái học thành tài, có người lại mơ
ước tuổi già có cuộc sống độc lập không phụ thuộc con cháu Thế nhưng, không
phải ai cũng có thể biến ước mơ thành hiện thực Bởi lẽ, dù không muốn thì luôn có
ba rủi ro luôn rình rập con người đó là: tai nạn làm tàn phế, bệnh hiểm nghèo và
mất sớm Nếu như một trong các rủi ro này xảy ra thì làm sao con người có thể có
thể thực hiện những ước mơ của mình, bởi có quá nhiều chi phí cần được trang trải
nhưng khi đó, người ta không thể lao động để tạo ra thu nhập Những người gặp rủi
ro buộc phải sống dựa vào những người xung quanh
26 Điển hình như vụ cháy ITC (TP.HCM), số tiền bảo hiểm mà công ty Bảo Minh đã chi trả hơn 8 tỉ đồng
Trong đó, bảo hiểm tài sản đã hơn 5 tỉ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18Chính vì những rủi ro không thể lường trước được nên khi tham gia bảo
hiểm nhân thọ bằng những khoản tiền tiết kiệm ngày hôm nay sẽ hỗ trợ cho con
người nếu chẳng may gặp rủi ro trong tương lai Khoản tiền bảo hiểm mà người
tham gia bảo hiểm nhận được nếu có rủi ro sẽ là một nguồn thu nhập thay thế giúp
cho chính người gặp rủi ro vượt qua những khó khăn về tài chính cũng như giúp
những thành viên trong gia đình tiếp tục có cuộc sống tương đối ổn định
Bảo hiểm nhân thọ sẽ có tác dụng bảo vệ đặc biệt cao đối với những người là
kinh tế trụ cột của gia định Bởi vì, bất cứ rủi ro nào xảy ra, ít nhiều đều ảnh hưởng
đến toàn bộ các thành viên của gia đình, nhất là đối với trẻ con
Tóm lại, bảo hiểm nhân thọ là khoản tài chính dự phòng giúp cho mọi người
có thể an tâm hơn trong cuộc sống vì khoản tài chính này sẽ giúp cho gia đình
người tham gia bảo hiểm khi cần thiết Không những có ý nghĩa bảo vệ khi gặp rủi
ro, bảo hiểm nhân thọ còn là hình thức tiết kiệm mang tính kỷ luật cao và sẽ mang
lại lợi ích cho người tham gia bảo hiểm khi không có rủi ro
Ý nghĩa tiết kiệm - Khi tham gia bảo hiểm nhân thọ, ngoài mục đích bảo vệ nguồn
lợi bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm còn mong muốn tiết kiệm một khoản tiền sử dụng
cho tương lai khi đáo hạn hợp đồng bảo hiểm Thật vậy, không ai tham gia bảo hiểm vì
mong muốn nhận được tiền bảo hiểm từ rủi ro của những người thân mà họ muốn thông
qua hình thức bảo hiểm có thể tiết kiệm được một số tiền Có thể nói rằng bảo hiểm nhân
thọ là một hình thức tiết kiệm hiệu quả hơn một số hình thức tiết kiệm khác như mở tài
khoản tiết kiệm tại ngân hàng, bỏ ống heo, tái sử dụng chất thải…bởi vì khi tham gia hình
thức bảo hiểm nhân thọ, người tham gia bảo hiểm được hưởng những dịch vụ “chăm sóc
khách hàng” rất tốt của các công ty bảo hiểm, được mua hàng giảm giá, được khám
nghiệm y khoa miễn phí và chăm sóc sức khỏe định kỳ
Trong xã hội, tồn tại hai dạng người: một là người thích tiêu xài trước và tiết kiệm
sau (chiếm 95%); hai là người tiết kiệm trước tiêu xài sau (chiếm5%)27 Dạng người thứ
nhất thường không thực hiện được những kế hoạch tương lai lâu dài nhưng ngược lại dạng
thứ hai luôn luôn thực hiện được những dự định bởi vì họ biết cách tiết kiệm cho những dự
định ở tương lai Những người có ý thức về tự bảo vệ cho bản thân và gia đình bằng việc
tham gia bảo hiểm thuộc nhóm thứ hai Thông qua bảo hiểm nhân thọ sẽ giúp cho mọi
người hình thành thói quen tiết kiệm một cách có kỷ luật Không có hình thức tiết kiệm
nào vừa mang tính bảo vệ vừa mang tính tiết kiệm hơn hình thức bảo hiểm nhân thọ
Như vậy, dù bảo hiểm nhân thọ không giúp con người tránh được rủi ro nhưng nó
sẽ giúp chúng ta bảo vệ nguồn tài chính của gia đình trong tương lai Bảo hiểm nhân thọ sẽ
làm cho chúng ta bình an trong cuộc sống, mang lại hạnh phúc cho trẻ thơ và sự yên tâm
về tài chính
Mục 2 HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ Dẫn nhập - Trong cuộc sống, dù muốn hay không, con người luôn đối diện
với nguy cơ bệnh tật hiểm nghèo, tai nạn gây thương tật thậm chí tử vong sớm
Những rủi ro này sẽ khiến cho cuộc sống của con người bị đảo lộn Thật vậy, những
rủi ro trên sẽ làm cho những dự định và kế hoạch tương lai của con người khó thực
27
Tài liệu huấn luyện Đại lý bảo hiểm - Công ty Bảo hiểm nhân thọ Prudential, năm 2003
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19hiện hoặc không thể thực hiện Đó cũng là cơ sở cho sự ra đời của hoạt động bảo
hiểm nhân thọ
Bảo hiểm là một nghiệp vụ mà qua đó, người được bảo hiểm cam đoan trả một
khoản tiền là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc người thứ ba trong
trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được khoản đền bù tổn thất được trả bởi người bảo hiểm
hay doanh nghiệp bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro của
người được bảo hiểm28
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ
bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết29 Như vậy, bảo hiểm
nhân thọ là một trong các nghiệp vụ bảo hiểm do con người tạo ra nhằm bảo vệ quyền lợi
cho người tham gia bảo hiểm Dựa vào khái niệm bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân
thọ nói trên ta có khái niệm bảo hiểm nhân thọ rõ ràng hơn
Bảo hiểm nhân thọ là nghiệp vụ bảo hiểm mà người được bảo hiểm cam đoan đóng
một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm và sẽ nhận được khoản tiền
chi trả từ doanh nghiệp bảo hiểm khi xảy ra sự kiện sống hoặc chết trong thời hạn hợp
đồng hoặc khi kết thúc hợp đồng
Tóm lại, bảo hiểm nhân thọ có thể được hiểu là hoạt động bảo hiểm liên quan đến
tuổi thọ và sinh mạng của con người Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, hoạt động bảo hiểm này
không dựa theo nguyên tắc bồi thường mà áp dụng theo nguyên tắc khoán30
I KHÁI NIỆM CHUNG
Dẫn nhập - Trong cuộc sống, dù muốn hay không, con người luôn đối diện với
nguy cơ bệnh tật hiểm nghèo, tai nạn gây thương tật thậm chí tử vong sớm Những rủi ro
này sẽ khiến cho cuộc sống của con người bị đảo lộn, làm cho những dự định và kế hoạch
tương lai của con người khó thực hiện hoặc không thể thực hiện
Bảo hiểm là một nghiệp vụ mà qua đó, người được bảo hiểm cam đoan trả một
khoản tiền là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc người thứ ba
trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được khoản đền bù tổn thất được trả bởi
người bảo hiểm hay doanh nghiệp bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối
với toàn bộ rủi ro của người được bảo hiểm31
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ
bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết32 Như vậy, bảo
hiểm nhân thọ là một trong các nghiệp vụ bảo hiểm do con người tạo ra nhằm bảo
vệ quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm
Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền
và nghĩa vụ dân sự33 Hợp đồng bảo hiểm cũng là một trong những loại hợp đồng thông
dụng do đó chịu sự điều chỉnh chung của luật chung về hợp đồng Một cách tổng quát thì
hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng
phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền cho bên được bảo hiểm khi xảy ra
Xem Mục 2 HĐBHNT, phần 1b Đặc trưng kỹ thuật
31 Lý thuyết bảo hiểm , PTS Nguyễn Ngọc Định - Nguyễn Tiến Hùng - Hồ Thuỷ Tiên , NXB Tài chính 1997,
Trang 20sự kiện bảo hiểm34 Sự kiện bảo hiểm được hiểu là sự kiện khách quan do các bên thỏa
thuận hoặc do pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì bên bảo hiểm phải trả tiền
cho bên được bảo hiểm35
Tuy nhiên, khái niệm hợp đồng bảo hiểm trên không thể hiện rõ việc phân loại hợp
đồng bảo hiểm Bởi lẽ, dựa vào đối tượng bảo hiểm36 chúng ta có ba loại hợp đồng bảo
hiểm chủ yếu là: hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm con người và hợp đồng
bảo hiểm trách nhiệm dân sự37 Do đó, cần phải dựa vào đặc trưng kỹ thuật giữa các loại
hợp đồng để làm rõ hơn khái niệm hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Đặc trưng đó là nguyên
tắc chi trả quyền lợi bảo hiểm
Hiện nay, có hai nguyên tắc chi trả quyền lợi bảo hiểm: nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán Trong hợp đồng bảo hiểm con người, người ta
không áp dụng nguyên tắc bồi thường mà áp dụng nguyên tắc khoán còn hợp đồng bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự áp dụng nguyên tắc bồi thường38 Do đó, trong hai loại hợp đồng này khái niệm chi trả không được sử dụng mà sử dụng khái niệm bồi thường Và ngược lại, hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ nguyên tắc chi trả là nguyên tắc khoán, không phải
là nguyên tắc bồi thường39, nên thuật ngữ chi trả được sử dụng Dựa nội
dung này có thể phân biệt hợp đồng bảo hiểm con người với hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Khái niệm hợp đồng bảo hiểm được hoàn thiện hơn trong Luật KDBH 2000 Theo
quy định tại Điều 12, hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp
bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được
bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Có thể nói rằng, cho đến nay pháp luật hiện hành vẫn chưa có khái niệm về hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ Tuy nhiên, dựa vào khái niệm về hợp đồng bảo hiểm và khái
niệm chung bảo hiểm nhân thọ, ta có thể có xác định được một số đặc điểm về hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ như sau:
§ Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm là tính mạng, tuổi thọ của người được bảo
hiểm
§ Bảo hiểm nhân thọ không mang tính chất bồi thường
§ Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cũng là sự thoả thuận giữa người mua bảo hiểm
và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm
§ Sự kiện bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là người được bảo hiểm sống hoặc
37 Luật KDBH 2000, Điều 12, khoản 2
38 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ- Tổng công ty Bảo
hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 56
39
Xem phần 1b “Đặc trưng kỹ thuật của HĐBHNT”
Comment [MA2]: Page: 17
Nếu có thể, hãy viết lại đoạn này Cô không thể sửa được !
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21Từ những đặc điểm trên và quy định của Điều 12 Luật KDBH, có thể có một khái
niệm về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ như sau:
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng có đối tượng bảo hiểm là tính mạng và
tuổi thọ của con người, theo đó bên mua bảo hiểm có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện
bảo hiểm
II ĐẶC TRƯNG KỸ THUẬT VÀ ĐẶC TRƯNG PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1 Đặc trưng kỹ thuật
Quy luật số đông - Trong cuộc sống hay tự nhiên, chúng ta có thể dễ dàng thống
kê số liệu về những hiện tượng hay quá trình được lặp đi lặp lại Chính vì vậy, T Simpon
đã xây dựng nên Bảng tỷ lệ tử vong, dựa vào bảng này người ta có thể biết một cách tương
đối số lượng người tử vong trong một độ tuổi cụ thể một cách chính xác Quy luật số đông
là quy luật dựa trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành một cộng đồng nhằm
phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất40 Số người tham gia càng đông thì tổn
thất càng phân tán mỏng Bởi vì, theo thống kê thì nhiều người không thể cùng tử vong
trong cùng một tai nạn, số lượng tử vong là rất hạn chế
Chia sẻ tổn thất - Xuất phát từ cơ sở hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân
thọ, cho thấy bảo hiểm nhân thọ là một hình thức quỹ giúp mọi người chia sẻ rủi ro cho
nhau thông qua số tiền phí đóng góp của người tham gia bảo hiểm Thật vậy, tổng khoản
phí mà người yêu cầu bảo hiểm đóng góp là rất nhỏ so với số tiền bảo hiểm mà mỗi người
nhận được khi xảy ra rủi ro Mọi người khi tham gia bảo hiểm nhân thọ đều phải đóng phí
và số phí nay sẽ được sử dụng để giúp đỡ cho những người không may gặp rủi ro và gia
đình họ
Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng bảo hiểm nhân thọ không chỉ là một quỹ từ
thiện mà là một hình thức tiết kiệm Do đó, đối với những người tham gia bảo hiểm nhưng
không gặp rủi ro thì đến khi đáo hạn hợp đồng sẽ nhận được số tiền đã được cam kết giữa
doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm41
Tính bình đẳng của rủi ro - Để tạo sự bình đẳng giữa các thành viên tham gia bảo
hiểm, không có thành viên nào được hưởng lợi nhiều nhờ vào quỹ bảo hiểm, bảo hiểm
nhân thọ có nguyên tắc bình đẳng rủi ro Đây là một nguyên tắc đặc trưng của bảo hiểm
nhân thọ, đối tượng được bảo hiểm nào có khả năng xảy ra rủi ro cao sẽ phải trải qua quá
trình thẩm định và lựa chọn của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm các định một mức phí phù
hợp, đảm bảo công bằng cho mọi người tham gia bảo hiểm
Nguyên tắc khoán - Nguyên tắc khoán là đặc trưng giúp ta phân biệt bảo hiểm
nhân thọ với bảo hiểm tài sản Nguyên tắc chi trả quyền lợi bảo hiểm trong hợp đồng bảo
hiểm tài sản khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra là nguyên tắc bồi thường còn đối với hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ thì nguyên tắc khoán là nguyên tắc chi trả
Mục đích của nguyên tắc bồi thường trong bảo hiểm tài sản là khôi phục lại toàn bộ
hoặc một phần tình trạng ban đầu của tài sản đăng ký bảo hiểm tùy thuộc vào thỏa thuận
bảo hiểm, nghĩa là người được bảo hiểm không thể nhận được số tiền chi trả nhiều hơn giá
trị tổn thất mà họ gánh chịu Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm chỉ
40 Lý thuyết bảo hiểm, PTS Nguyễn Ngọc Định - Nguyễn Tiến Hùng- Hồ Thuỷ Tiên , NXB Tài chính 1997,
trang 44
41
Số tiền này có thể là phí thực đóng hoặc số tièn bảo hiểm cộng bảo tức tích luỹ tuỳ loại hợp đồng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22phát sinh khi có tổn thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra42 Một tài sản có thể trở thành đối
tượng bảo hiểm của nhiều hợp đồng bảo hiểm nhưng, một cách tổng quát, có thể nói rằng,
tổng giá trị bồi thường của nhiều hợp đồng bảo hiểm không được vượt quá tổn thất thực sự
cũng như người được bảo hiểm không có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại bồi thường khi
đã nhận tiền bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm
Ngược lại, trong bảo hiểm nhân thọ, đối tượng được bảo hiểm là tính mạng của con
người nên không thể xác định được giá trị tổn thất nếu rủi ro xảy ra Tính mạng và sức
khoẻ của con người là vô giá Do đó, khi tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
người ta ấn định một số tiền mà nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra, thì người tham gia bảo hiểm
vẫn có thể nhận được Như vậy, nghĩa vụ chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm không mang
tính chất bồi thường thiệt hại mà mang tính chất thực hiện một cam kết để đổi lấy phí bảo
hiểm đóng trước
Nguyên tắc khoán đưa ra một giá trị có thể nhận được nếu sự kiện thỏa thuận trong
hợp đồng xảy ra.Giá trị này không phụ thuộc vào thiệt hại mà các bên gánh chịu, dù thiệt
hại như thế nào cũng nhận được một giá trị khoán sẵn Do không xuất phát từ mục đích
khôi phục thiệt hại nên người được bảo hiểm cùng lúc có thể nhận được quyền lợi từ nhiều
hợp đồng bảo hiểm khác nhau cũng như có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại bồi thường dù
đã nhận được chi trả từ doanh nghiệp bảo hiểm Đây là điểm khác biệt đối với bảo hiểm tài
sản
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính bảo vệ vừa mang tính đầu tư -
Bảo hiểm nhân thọ là một hợp đồng liên quan đến thời gian sống và tài chính Nếu ai
không may mất sớm, bảo hiểm nhân thọ sẽ thay thế họ cung cấp tài chính cho người thân
Nếu ai may mắn không gặp rủi ro, thì bảo hiểm nhân thọ sẽ mang lại số tiền mà họ mong
muốn để thực hiện các dự định trong tương lai Như vậy, bảo hiểm nhân thọ thực chất là
chương trình bảo hiểm mang tính tiết kiệm Khi có rủi ro là bảo hiểm, không có rủi ro thì
đó chính là tiết kiệm thậm chí là một hình thức đầu tư43
Thật vậy, không phải tất cả mọi người đều có khả năng kinh doanh vì kinh doanh là
một nghệ thuật và cũng là một công việc khó khăn Thay vì tham gia kinh doanh để tạo lợi
nhuận, người không thích kinh doanh vẫn có thể tạo một quỹ dự phòng chắc chắn bằng
cách tham gia bảo hiểm nhân thọ Do đó, khi tham gia bảo hiểm nhân thọ, nếu rủi ro không
xảy ra thì người yêu cầu bảo hiểm sẽ nhận được một số tiền lớn hơn số phí mà họ đóng
góp44 Tóm lại, bằng cách tham gia bảo hiểm, người yêu cầu bảo hiểm đã đầu tư số vốn của
mình một cách hiệu quả và an toàn nhất, vừa tự bảo vệ vừa sinh lợi nhuận
2 Đặc trưng pháp lý
Do có những đặc trưng riêng về mặt kỹ thuật nên ngoài những đặc trưng
pháp lý theo luật chung về hợp đồng, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ còn có những
đặc trưng pháp lý riêng biệt
Hợp đồng bảo hiểm không phải là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba - Hiện
nay có nhiều quan điểm cho rằng hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng vì lợi ích của người thứ
ba - là những hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và
42
Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ- Tổng công ty Bảo
hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 56
43 Tài liệu huấn luyện Đại lý bảo hiểm - Công ty Bảo hiểm nhân thọ Prudential, năm 2003
44 Tùy loại hợp đồng bảo hiểm mà người yêu cầu bảo hiểm sẽ nhận được toàn bộ phí thực đóng hoặc số tiền
bảo hiểm cộng bảo tức tích lũy
Comment [MA3]: Page: 19
Viết như vậy sẽ gây hiểu lầm rằng khi xảy ra rủi ro hoặc không, vẫn nhận được cùng một số tiền
Comment [MA4]: Page: 19
Nên viết lại câu này cho rõ hơn
Comment [MA5]: Page: 20
Viết lại !
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó45 Để có thể xác định một
cách tương đối chắc chắn về tính chất đặc biệt này của hợp đồng bảo hiểm, có lẽ, cần xem
xét các quy định về hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba trong BLDS 1995 từ Điều 414
đến Điều 416 Theo đó, hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba có một số đặc điểm sau đây:
ü Hợp đồng được ký kết vì lợi ích của một người thứ ba không trực tiếp tham gia
ký kết hợp đồng
ü Khi người thứ ba từ chối thụ hưởng lợi ích thì hợp đồng vì lợi ích của
người thứ ba không phát sinh hiệu lực
ü Khi người thứ ba đồng ý hưởng lợi ích, thì các bên giao kết không được
sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng dù hợp đồng chưa được thực hiện
Từ một số đặc điểm cơ bản trên có thể thấy rằng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
không phải là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, vì những lẽ sau:
Ø Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được ký kết vì lợi ích của chính người mua
bảo hiểm mà không vì lợi ích của người thứ ba khác46
Ø Có hai người không tham gia trực tiếp vào việc ký kết hợp đồng bảo hiểm
nhưng có ảnh hưởng đến quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng, ta lần
lượt xem xét từng chủ thể Thứ nhất, người được bảo hiểm, theo quy định
của pháp luật về bảo hiểm thì ngay từ thời điểm giao kết người được bảo
hiểm phải biết và đồng ý về việc người khác mua bảo hiểm sinh mạng cho
mình Nếu người được bảo hiểm không đồng ý thì hợp đồng đó, nếu vẫn
giao kết, có thể bị tuyên bố vô hiệu Như vậy, khả năng từ chối hưởng lợi
ích sau khi hợp đồng được ký kết làm mất hiệu lực hợp đồng đối với người
được bảo hiểm bị loại trừ Thứ hai, người thụ hưởng cũng là người thứ ba
có liên quan trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, nhưng luật không ghi nhận
quyền từ chối hưởng lợi ích của người này có thể làm mất hiệu lực của hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ
Ø Người mua bảo hiểm có thể thay đổi nội dung hợp đồng bảo hiểm trừ việc
thay đổi người được bảo hiểm như thay đổi số tiền bảo hiểm, thay đổi kỳ
hạn đóng phí,…mà không cần phải có sự đồng ý của người được bảo hiểm
và người thụ hưởng
Tóm lại, người được bảo hiểm và người thụ hưởng đều không thỏa điều kiện
là người thứ ba trong hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba Do đó, có thể nói hợp
đồng bảo hiểm không phải là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba mà mang tính
chất của một loại hợp đồng khác Mặt khác, xuất phát từ quan hệ lợi ích bảo hiểm47
nên người mua bảo hiểm chấp nhận tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ mà người
được bảo hiểm là một người khác vì lợi ích của chính mình mà không phải vì lợi ích
của một người thứ ba khác48
45 BLDS 1995, Điều 405, khoản 3
46 Xem “Lợi ích bảo hiểm” tại Chương 2, mục 1 của đề tài này
47 Xem “Lợi ích bảo hiểm” tại Chương 2, mục 1 của đề tài này
48
Xem “Lợi ích bảo hiểm” tại Chương 2, mục 1 của đề tài này
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng tặng cho cĩ điều kiện treo
giữa người mua bảo hiểm và người thụ hưởng- Thoạt tiên, cĩ vẻ hơi do dự khi
nhận định rằng mối quan hệ giữa người mua bảo hiểm và người thụ hưởng là quan
hệ tặng cho Bởi lẽ, do số tiền bảo hiểm là một số tiền sẽ cĩ khi sự kiện bảo hiểm
xảy ra đối với người được bảo hiểm nên tính chất sở hữu đối với số tiền đĩ (khi
định đoạt tặng cho thơng qua việc chỉ định người thụ hưởng) của người mua bảo
hiểm là chưa tồn tại Người mua bảo hiểm chỉ cĩ một lợi ích bảo hiểm với người
được bảo hiểm Tuy nhiên, quan hệ tặng cho nêu trên là hợp đồng tặng cho cĩ điều
kiện treo Khi điều kiện xảy ra thì quan hệ tặng cho hay hợp đồng tặng cho bắt đầu
cĩ hiệu lực Nghĩa là, người mua bảo hiểm được hưởng lợi ích do hợp đồng bảo
hiểm đem lại thì người mua bảo hiểm sẽ tặng cho số tiền bảo hiểm cho người thụ
hưởng Nếu người mua bảo hiểm khơng nhận được số tiền bảo hiểm do các sự kiện
bảo hiểm thì hợp đồng tặng cho khơng phát sinh điều kiện treo Nĩi cách khác, điều
kiện treo chính là điều kiện sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Mặc dù tại thời điểm tham gia hợp đồng bảo hiểm, người mua bảo hiểm
chưa cĩ số tiền bảo hiểm nhưng trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tồn tại một hợp
đồng tặng cho giữa người mua bảo hiểm và người thụ hưởng Số tiền đĩng phí bảo
hiểm là của người mua bảo hiểm, trong trường hợp đáo hạn hợp đồng bảo hiểm,
nghĩa là người được bảo hiểm khơng bị rủi ro, thì số tiền bảo hiểm nhận được là số
tiền tiết kiệm của người mua bảo hiểm Do đĩ, người này cĩ quyền tặng cho tài sản
của mình cho một người khác Trong trường hợp rủi ro xảy ra đối với người được
bảo hiểm, người mua bảo hiểm cĩ số tiền bảo hiểm do lợi ích bảo hiểm bị ảnh
hưởng và số tiền bảo hiểm cũng là tài sản của người mua bảo hiểm Điều dễ hiểu,
họ cũng cĩ thể tặng cho tài sản của mình cho người khác Tuy nhiên, hợp đồng tặng
cho trong hợp đồng bảo hiểm được thiết lập trong điều kiện người mua bảo hiểm
chưa cĩ tài sản tặng cho là giá trị của hợp đồng bảo hiểm Tài sản tặng cho chưa tồn
tại vào thời điểm tặng cho nhưng đĩ là một tài sản chắc chắn cĩ trong tương lai
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng bảo hiểm tự nguyện - Cĩ một
cách thức phân loại hợp đồng bảo hiểm khác là chia thành bảo hiểm tự nguyện và
bảo hiểm bắt buộc Bảo hiểm bắt buộc là hình thức bảo hiểm chỉ áp dụng đối với
một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích cơng cộng và an tồn xã hội49
Khơng giống hình thức bảo hiểm bắt buộc, hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng mang
tính chất tự nguyện được giao kết trong khuơn khổ pháp luật khi thỏa thuận lựa
chọn điều kiện bảo hiểm và mức phí bảo hiểm mà các bên cĩ nghĩa vụ thực hiện
Chính vì vậy, Điều 572 BLDS ghi rõ: Hợp đồng bảo hiểm tự nguyện là sự thỏa
thuận giữa các bên về các điều kiện bảo hiểm và mức phí Cĩ nghĩa là, trong hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ, người mua bảo hiểm ngồi việc tự do ý chí về việc cĩ giao
kết hợp đồng hay khơng, cịn cĩ thể đĩng phí theo khả năng của mình và theo quy
định riêng của doanh nghiệp bảo hiểm cho từng loại hợp đồng
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng song vụ cĩ đền bù - Dựa vào quyền
và nghĩa vụ của các bên khi tham gia hợp đồng, người ta phân chia thành hai loại hợp
đồng: hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ
49 như bảo hiểm xã hội của người lao động, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm tiền
gửi
Comment [MA6]: Page: 21
Điều kiện treo trong hợp đồng tặng cho chính là việc người mua bảo hiểm cĩ số tiền bảo hiểm - Câu này chưa chính xác Điều kiện treo là: (Cần xác định thật rõ về chủ thể được tặng cho khi phân tích đặc điểm này)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25Hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng đều là hợp
đồng song vụ Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có quyền và nghĩa vụ đối
với nhau50 Thực vậy khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bên mua bảo hiểm có
quyền được nhận tiền bảo hiểm đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ đóng phí, cung cấp
thông tin,…; còn doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm theo cam kết, cung
cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các sản phẩm bảo hiểm, giải thích hợp đồng,… Có nghĩa là, cả
bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đều có nghĩa vụ phải thực hiện, quyền của
bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại.Vì lẽ đó, có thể khẳng định hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ là hợp đồng song vụ
Hợp đồng có đền bù là loại hợp đồng mà một bên chuyển một quyền, thực hiện
hoặc không thực hiện một việc vì lợi ích của bên kia và nhận được một lợi ích có tính chất
hoàn trả51 Từ khái niệm trên có thể thấy rằng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng có
đền bù Bởi vì, người mua bảo hiểm đóng một khoản phí cho doanh nghiệp bảo hiểm và
nhận được lời cam kết sẽ nhận được một khoản tiền khi sự kiện bảo hiểm xảy ra
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng trọng thức theo mẫu - Hợp đồng là
sự gặp gỡ ý chí của các bên, thông qua đó tiến hành giao kết hợp đồng Có một số loại hợp
đồng chỉ cần có sự thống nhất ý chí của hai bên giao kết hợp đồng mà không cần thủ tục
nào cũng có thể tiến hành giao kết hợp đồng52, nhưng cũng có một số hợp đồng còn cần
phải đảm bảo yêu cầu về hình thức do luật định với tên gọi trong học thuyết pháp lý là hợp
đồng trọng thức Và, theo quy định của pháp luật hiện hành thì hợp đồng bảo hiểm phải
được lập thành văn bản53
Các hợp đồng trọng thức thường là những hợp đồng mà đối tượng của nó là những
tài sản có giá trị hoặc mang tính chất đặc biệt: hợp đồng mua bán hoặc thuê nhà ở, hợp
đồng ủy quyền…Có lẽ, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường liên quan đến một số tiền lớn
thậm chí sinh mạng con người; do đó, việc quy định hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng trọng
thức là cách tốt nhất để bảo vệ cho các chủ thể tham gia vào quan hệ này Hơn nữa, trong
điều kiện thời hạn của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khá dài nên từ khi hợp đồng phát sinh
hiệu lực đến khi phát sinh sự kiện bảo hiểm là một khoảng thời gian khó xác định, việc lập
thành văn bản nội dung thỏa thuận của hai bên tạo điều kiện cho việc thực hiện các quyền
và nghĩa vụ sau này cũng như giảm thiểu các tranh chấp có thể phát sinh
Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo
mẫu để bên kia trả lời trong thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận, thì
coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra54
Nguyên nhân đầu tiên khiến cho hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng theo mẫu mà
không phải là hợp đồng thương lượng tự do là vì các kỹ thuật bảo hiểm rất phức tạp nên sẽ
tạo khó khăn trong việc tiếp cận Chính vì vậy, cách tốt nhất là soạn hợp đồng theo mẫu vì
nó dễ dàng thích ứng với đại đa số cộng đồng dân cư
Bảo hiểm là hoạt động dựa trên lý thuyết về xác suất thông kê, nghĩa là dựa trên các
số liệu về rủi ro có thể thu thập được mà doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra các hình thức và
cách bảo hiểm khác nhau nhằm hạn chế chi phí thấp nhất và thu lợi nhuận tối đa cho chính
doanh nghiệp Bởi lẽ, hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm là sử dụng nguồn vốn thu
được từ phí bảo hiểm để đầu tư và dành riêng một phần khác, tương đối nhỏ để chi trả cho
50
BLDS 1995, Điều 405, khoản 1
51 Giáo trình luật Dân sự Việt Nam - Tập 1, TS Nguyễn Ngọc Điện, Cần Thơ 2000, trang 126
52 Giáo trình luật Dân sự Việt Nam - Tập 1, TS Nguyễn Ngọc Điện, Cần Thơ 2000, trang 126
Trang 2626
các rủi ro Rủi ro trong bảo hiểm vì thế được nghiên cứu một cách cẩn thận nhằm đưa ra
hình thức bảo hiểm có lợi Dù sao thì hoạt động bảo hiểm cũng là một hoạt động kinh
doanh nên mục đích không thể thiếu trong hoạt động này là lợi nhuận Đó cũng là một
trong những nguyên nhân mà hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng theo mẫu Hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ cũng không nằm ngoài quy luật đó
Ngoài ra, hoạt động bảo hiểm nói chung và hoạt động bảo hiểm nhân thọ nói riêng
là loại hoạt động được xây dựng dựa trên cơ sở kỹ thuật là quy luật số đông55 Chính vì vậy
cần thiết phải đảm bảo công bằng cho mọi người khi tham gia bảo hiểm Do đó, không thể
sử dụng hình thức thương lượng tự do hợp đồng trong trường hợp này
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng cá nhân - Bảo hiểm nhân thọ là hình
thức bảo hiểm sinh mạng tuổi thọ của con người Chính vì vậy, nó gắn vào một cá nhân
Cá nhân tham gia giao kết thể hiện sự ưng thuận giao kết bằng cách tự mình bày tỏ ý chí
hoặc thông qua người đại diện56
III PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Bảo hiểm nhân thọ được chia làm 5 nhóm chính Trên cơ sở đó và tùy đặc
điểm riêng của từng doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có nhiều loại sản phẩm bảo hiểm
khác nhau Mỗi sản phẩm sẽ có những đặc điểm và đối tượng phục vụ riêng, và
được thể hiện bằng các loại hợp đồng khác nhau
Hợp đồng bảo hiểm trọn đời57 - hay còn gọi là bảo hiểm trường sinh 58 Trong hợp
đồng bảo hiểm này, người được bảo hiểm sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bảo
hiểm tính mạng suốt cuộc đời Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm
khi người được bảo hiểm tử vong bất kỳ lúc nào kể từ khi hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực
Hình thức bảo hiểm này không chỉ mang tính chất bảo vệ, chống lại rủi ro tử
vong mà còn mang ý nghĩa tiết kiệm Tuy nhiên, hình thức tiết kiệm này không có
ích cho người được bảo hiểm mà nó chỉ có ý nghĩa đối với những người được nhận
số tiền bảo hiểm khi người được bảo hiểm tử vong Cách bảo hiểm này thường giúp
cho cha mẹ yên tâm về tương lai con cái khi không may họ mất đi Bởi lẽ, số tiền
mà họ tiết kiệm sẽ giúp con cái họ có cuộc sống ổn định
Hợp đồng bảo hiểm sinh kỳ59 - là hợp đồng bảo hiểm được ký kết chỉ để bảo hiểm
cho khả năng sống xảy ra khi hết một thời hạn bảo hiểm Khi người bảo hiểm sống hết
khoảng thời gian đó thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm cho người được
chỉ định nhận Đặc điểm của hình thức bảo hiểm này là tính tiết kiệm Hết thời hạn này
người được chi trả sẽ có một khoản tiền tích lũy
Hợp đồng bảo hiểm tử kỳ60 - một số tài liệu khác đưa ra tên gọi khác là bảo hiểm
tử vong tạm thời, bảo hiểm tạm thời 61 Dù với tên gọi nào thì đều có một cách hiểu chung
về nội dung của hợp đồng bảo hiểm này.Hợp đồng bảo hiểm tử kỳ được ký kết chỉ để bảo
59 Luật KDBH 2000, Điều 3, khoản 13
60 Luật KDBH 2000, Điều 3, khoản 1
61 Bảo hiểm , GS.PTS Hồ Xuân Phương - Võ Thị Pha, Trường Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội - NXB Tài
chính – 1999, trang 175
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27hiểm cho khả năng chết xảy ra trong thời gian đã quy định cụ thể trong hợp đồng Khi
người được bảo hiểm chết trong một thời gian nhất định (thời gian bảo hiểm), doanh
nghiệp bảo hiểm sẽ trả số tiền bảo hiểm Nếu trường hợp chết không xảy ra trong thời hạn
đó thì việc thanh toán không được thực hiện và người được bảo hiểm không nhận được bất
kỳ khoản tiền nào từ công ty bảo hiểm62 Vì lý do này nên loại hợp đồng nào thường có phí
đóng rất thấp và mang yếu tố bảo vệ là chủ yếu Dù không mang yếu tố tiết kiệm nhưng
hình thức bảo hiểm này phù hợp với người có thu nhập thấp
Hợp đồng bảo hiểm hỗn hợp63 - là hình thức hợp đồng có nội dung kết hợp giữa
bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ Đặc điểm của hợp đồng loại này là doanh nghiệp bảo
hiểm sẽ chi trả khi người được bảo hiểm tử vong trong thời gian bảo hiểm hoặc khi sống
hết thời hạn hợp đồng64
Điểm nổi bật của loại hợp đồng này so với các hợp đồng khác là nó vừa
mang tính bảo vệ và mang tính tiết kiệm Nếu không may, rủi ro xảy ra thì vẫn có
một số tiền để ổn định cuộc sống hoặc khi đáo hạn có một số tiền để thực hiện
những dự định của chính mình
Hợp đồng bảo hiểm trả tiền định kỳ 65 - còn có một tên gọi khác là bảo hiểm niên
kim Đây là loại hợp đồng mà người được bảo hiểm sẽ nhận số tiền thanh toán hàng năm
khi đến một độ tuổi nhất định Khoản tiền này có thể được thanh toán hàng năm, nữa năm,
quý hoặc tháng Bảo hiểm niên kim vừa có yếu tố bảo vệ vừa có yếu tố tiết kiệm Tuy
nhiên, trong hợp đồng này thì yếu tố bảo vệ tồn tại trong suốt thời gian đóng phí và thời
gian nhận niên kim
IV NGUỒN LUẬT ÁP DỤNG
1 Luật viết
Nguồn luật chủ yếu được áp dụng để điều chỉnh quan hệ bảo hiểm nhân thọ
chính là Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy
nhiên, đến nay, vẫn chưa có những quy chế pháp lý riêng về bảo hiểm nhân thọ mà
chỉ mới thông qua những quy định chung về hợp đồng bảo hiểm con người
Mặc dù đã có một văn bản chuyên ngành điều chỉnh về hợp đồng bảo hiểm nhưng
Bộ luật dân sự 1995 - với tư cách là nguồn của luật chung, vẫn được sử dụng để điều
chỉnh các vấn đề cơ bản có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, như: năng lực chủ thể, nội
dung của quan hệ bảo hiểm, các thể thức thực hiện và chuyển giao nghĩa vụ, thừa kế, …
Bên cạnh các nguồn luật nêu trên cũng phải kể đến Luật Hôn nhân và gia
đình 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành Ngành luật này giúp chúng ta xem
xét hợp đồng bảo hiểm nhân thọ dưới góc độ tài sản của vợ chồng Mặc dù không
phải hợp đồng bảo hiểm nào cũng được xác lập trong thời kỳ hôn nhân nhưng do
tính chất lâu dài của một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nên có thể một phần hoặc
toàn bộ hợp đồng sẽ được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân nếu được xác lập trong
62
Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ- Tổng công ty Bảo
hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 68
63
Luật KDBH 2000, Điều 3, khoản 16
64 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ- Tổng công ty Bảo
hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 69
65 Luật KDBH 2000, Điều 3, khoản 17
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2828
thời kỳ hôn nhân; và ngược lại, có trường hợp hợp đồng bảo hiểm được một trong
hai bên xác lập trong thời kỳ hôn nhân và tích lũy bằng tài sản chung của vợ chồng,
nhưng khi hôn nhân chấm dứt do ly hôn, hiệu lực của hợp đồng vẫn tiếp liền sau đó
Do tính chất đặc biệt của tài sản vợ chồng nên cần xem xét hợp đồng bảo hiểm
thông qua Luật hôn nhân gia đình nhằm đảm bảo quyền lợi về tài sản giữa vợ và
chồng, và quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình
Ngoài ra, các văn bản pháp quy khác như: Luật Thương mại, Luật Hành
chính (đăng ký khai sinh, khai tử ), Pháp lệnh giải quyết các vụ án dân sự cũng
được áp dụng với tư cách là nguồn luật của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
2 Tục lệ và tập quán quốc tế
Trong xu thế hội nhập quốc tế của các ngành kinh tế, hoạt động bảo hiểm
nhân thọ tại Việt Nam phải đảm bảo sự phù hợp với luật pháp và tập quán bảo hiểm
quốc tế Chính vì vậy, Điều 2 Luật KDBH ghi rõ: “Các bên tham gia bảo hiểm có
thể thỏa thuận áp dụng tập quán quốc tế, nếu tập quán đó không trái với pháp luật
Việt Nam.”, “Trong trường hợp các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với Luật này thì áp dụng quy
định của điều ước quốc tế.”
* Một số thuật ngữ liên quan đến hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Bảng tỷ lệ tử vong - Là bảng thống kê tỷ lệ người tử vong theo lứa tuổi, giới tính
Đây là cơ sở mà doanh nghiệp bảo hiểm tính các mức phí
B o t c - Là quy n l i b sung vào s ti n b o hi m t l i nhu n u t
Định kỳ đóng phí - Là khoảng thời gian giữa hai lần đóng phí Có thể là: một năm,
nữa năm, quý hoặc tháng
Giá tr hoàn l i - Là giá tr mà ng i mua nh n l i trong tr ng h p t ý hu
Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm - Là mẫu đăng ký bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm
phát hành, người yêu cầu bảo hiểm phải điền đầy đủ và chính xác thông tin được
liệt kê sẵn trên mẫu Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm là một phần của hợp đồng bảo hiểm
Hoá đơn thu phí bảo hiểm - Là hoá đơn thu phí chính thức được phát hành cùng
với hợp đồng bảo hiểm
Khôi phục hợp đồng bảo hiểm - Là sự khôi phục lại hiệu lực hợp đồng sau thời
gian hợp đồng mất hiệu lực
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29Ngày đáo niên hợp đồng - Là ngày giáp năm của hợp đồng tính từ ngày hợp đồng
phát sinh hiệu lực
Ngày đến hạn đóng phí - Là ngày đóng kỳ phí tiếp theo, theo định ky mà người
tham gia ký kết trong hợp đồng
Ngày hợp đồng đáo hạn - Là ngày hợp đồng kết thúc theo thời hạn ghi trên hợp
đồng
Người được bảo hiểm - Là người mà doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm
sinh mạng của họ theo hợp đồng bảo hiểm
Người thụ hưởng - là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định nhận
quyền lợi bảo hiểm
Người yêu cầu bảo hiểm - Là người đứng tên trên hợp đồng bảo hiểm và là người
mua bảo hiểm Người mua bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí cho doanh nghiệp
bảo hiểm
Phí bảo hiểm bổ sung - Là khoản phí phải đóng bổ sung để được chấp nhận bảo
hiểm trong trường hợp người được bảo hiểm có mức độ rủi ro cao hơn bình
thường
Phiếu thu tạm phí bảo hiểm - Là phiếu thu tạm mà đại lý giao cho khách hàng khi
nhận khoản phí tạm thu đầu tiên cùng với hồ sơ yêu cầu bảo hiểm
Quyền lợi để được bảo hiểm - Là quyền lợi mà trong đó sự rủi ro của người này
(người được bảo hiểm) sẽ gây tổn thất cho người kia (người mua bảo hiểm)
Số tiền bảo hiểm - Là mệnh giá của hợp đồng do người bảo hiểm chọn mua khi
tham gia bảo hiểm
Thời gian gia hạn đóng phí - Là thời gian mà người mua bảo hiểm được gia hạn
đóng phí kể từ ngày đến hạn đóng phí
Thương tật toàn bộ vĩnh viễn - Là tình trạng khi người bảo hiểm bị mất hoặc liệt
hoàn toàn và không thể phục hồi lại chức năng của hai tay, hoặc hai chân, hoặc hai
mắt, hoặc một tay và một chân, hoặc một tay và một mắt, hoặc một chân và một
mắt Trong các khái niệm này, tay được tính từ cổ tay trở lên, chân được tính từ
mắt cá chân trở lên, mắt bị mất hoặc mù hoàn toàn
Thời gian cân nhắc - Là thời gian kể từ khi hợp đồng phát hành người mua bảo
hiểm có thể rút lại yêu cầu bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm sẽ hoàn phí trừ đi
chi phí nếu có
Thời hạn hợp đồng - Là khoản thời gian doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo
hiểm với điều kiện người mua phải đóng phí đầy đủ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30CHƯƠNG II
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Mục 1
LỢI ÍCH BẢO HIỂM -
Khách thể của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Khách thể quan hệ pháp luật là những lợi ích vật chất, tinh thần hoặc lợi ích xã hội
khác có thể thỏa mãn những nhu cầu, đòi hỏi của tổ chức hoặc cá nhân mà vì chúng các
chủ thể tham gia này vào các quan hệ xã hội đó Nói cách khác, khách thể là những lợi ích
mà các tổ chức, cá nhân mong muốn đạt được khi tham gia vào quan hệ pháp luật
Trong hợp đồng bảo hiểm, khách thể không phải là bản thân đối tượng bảo hiểm
mà là lợi ích kinh tế gắn liền với đối tượng bảo hiểm, tức là lợi ích bảo hiểm66 Thật vậy,
trong bất kỳ loại hình bảo hiểm nào thì điều mà các bên quan tâm khi tham gia vào quan hệ
bảo hiểm đó chính là lợi ích của đối tượng bảo hiểm Khi đối tượng bảo hiểm có một giá trị
nào đó đối với người mua bảo hiểm thì họ sẽ tham gia hợp đồng bảo hiểm nhằm đảm bảo
khi đối tượng đó mất đi thì họ có một quyền lợi khác thay thế Bởi lẽ, khi đối tượng bảo
hiểm gặp rủi ro sẽ làm cho những người có liên quan gặp tổn thất
Khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, điều mà các chủ thể quan tâm
không chỉ là mong muốn cho người được bảo hiểm không gặp rủi ro hoặc có thể
sống trường thọ mà điều cần quan tâm nhất là sự ổn định cho những người liên quan
hoặc cho chính bản thân người được bảo hiểm khi có rủi ro xảy ra Có nghĩa là, các
bên quan tâm đến những lợi ích mà người được bảo hiểm đang có hoặc sẽ có
Như vậy, đối tượng bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm không phải là khách
thể của quan hệ bảo hiểm nhân thọ Khách thể của quan hệ này là những lợi ích bảo
hiểm gắn với đối tượng của hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm
I KHÁI NIỆM LỢI ÍCH BẢO HIỂM
1 Khái niệm
Đặt vấn đề - Khác với bảo hiểm phi nhân thọ (bảo hiểm cho một sự kiện bảo hiểm
mà thôi), bảo hiểm nhân thọ cùng lúc chấp nhận hai sự kiện bảo hiểm trái ngược
nhau là sống hoặc chết Trong bảo hiểm phi nhân thọ, chẳng hạn bảo hiểm hỏa
hoạn thì sự kiện bảo hiểm là sự cháy mà không thể là sự kiện không cháy Do cùng
lúc chấp nhận hai sự kiện bảo hiểm nên dù một trong hai sự kiện trên tồn tại hoặc
xảy ra thì người được bảo hiểm đều được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả một số
tiền bảo hiểm tương ứng đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Do đó,
có thể nói rằng, khi tham gia bảo hiểm nhân thọ thì người tham gia bảo hiểm sẽ
luôn nhận được một số tiền bảo hiểm đáp ứng mục đích, nhu cầu của người mua
bảo hiểm khi ký kết hợp đồng
Trang 31Quan hệ lợi ích có giới hạn - Xuất phát từ đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ - người tham gia bảo hiểm sẽ nhận được tiền bảo hiểm nếu người được bảo
hiểm gặp rủi ro hoặc hết hạn hợp đồng - nên dễ phát sinh các hiện tượng tiêu cực
nhằm mục đích trục lợi bảo hiểm dựa trên sinh mạng của người khác Việc mua bảo
hiểm nhân thọ một cách tự do không có điều kiện ràng buộc sẽ tạo điều kiện cho
một số người có cơ hội làm giàu trên sinh mạng của người mà rủi ro của người này
không ảnh hưởng đến người mua bảo hiểm Thật vậy, nếu một người có quyền mua
bảo hiểm nhân thọ cho một người khác bất kỳ thì không khác gì đầu tư cho một
canh bạc có đối tượng cá cược là một sinh mạng của người khác, không được chấp
nhận trong khuôn khổ luật thực định Việt Nam hiện nay
Như ta đã biết, nguyên nhân ra đời của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân
thọ nói riêng là giúp cho mọi người trong xã hội san sẻ rủi ro cũng như giúp đỡ
nhau vượt qua các thiệt hại do rủi ro đó gây nên Trong cuộc sống, con người phải
đối mặt với nhiều vấn đề khác nhau Người độc thân có thể có trách nhiệm với gia
đình: chăm sóc cha mẹ, anh chị em và chính bản thân Người đã lập gia đình còn có
nhiều trách nhiệm phải gánh vác hơn người độc thân vì ngoài cha mẹ, anh chị em,
họ còn có trách nhiệm với chồng, vợ, con của họ Một số trường hợp khác, họ còn
trách nhiệm phải trả những món nợ đối với các chủ nợ của mình Thử nghĩ, nếu
không may, những người trụ cột gia đình mất đi hoặc không có khả năng lao động
tạo thu nhập nuôi sống những người thân trong gia đình và trả nợ thì những thân
nhân hoặc chủ nợ của họ sẽ phải gánh vác nhưng tổn thất do rủi ro này Trong khi
đó, những người không có các mối quan hệ nêu trên, tức những người xa lạ, thì
không hề có tổn thất để được chia sẻ Bởi lẽ, khi những rủi ro xảy ra, người cần
được chia sẻ chính là người chịu rủi ro hoặc những người thân của người này Hay
nói cách khác, người cần được chia sẻ là những người có mối liên hệ với những lợi
ích do chính người bị rủi ro đem lại Những lợi ích đó còn được gọi là lợi ích bảo
hiểm hay lợi ích được bảo hiểm
Tóm lại, lợi ích được bảo hiểm hay còn gọi là lợi ích bảo hiểm là những
nguồn lợi mà khi không có rủi ro xảy ra thì người mua bảo hiểm có thể được hưởng
từ người được bảo hiểm hoặc người mua bảo hiểm có thể bị tổn thất và thiệt hại về
tài chính nếu người được bảo hiểm chết
Chính vì vậy, hầu hết pháp luật về bảo hiểm nhân thọ trên Thế giới đều quy
định về mối quan hệ lợi ích bảo hiểm giữa người mua bảo hiểm và người được bảo
hiểm, nhất là trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Chỉ có những người có mối liên hệ
là những người cần được bảo vệ trong quan hệ bảo hiểm nhân thọ Trên cơ sở đó,
Luật KDBH Việt Nam cũng quy định về mối quan hệ về lợi ích bảo hiểm giữa
người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
2 Những người có quan hệ lợi ích bảo hiểm
Có thể nói rằng, từ trước khi Luật KDBH 2000 ra đời thì chưa có quy định nào của
pháp luật Việt Nam, kể cả BLDS, đề cập đến vấn đề quyền lợi được bảo hiểm Điều
này xuất phát từ nhiều lý do, mà trong đó chủ yếu do trước năm 1996, ở Việt Nam
không có bảo hiểm nhân thọ, các tranh chấp về quyền lợi bảo hiểm chưa phát sinh
trên thực tế
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32Phù hợp với xu thế phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay,
trong đó tập trung vào nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, trên cơ sở tham khảo kinh
nghiệm của nước ngoài, Luật KDBH đã có quy định về quyền lợi bảo hiểm
Giải pháp nguyên tắc của luật - Tại điểm d, khoản 2, Điều 31 Luật KDBH
2000, về nguyên tắc, nếu một người không có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết
thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng thì không thể mua bảo hiểm cho đối
tượng bảo hiểm khác bản thân mình nếu không có quyền lợi có thể được bảo hiểm
Ngược lại, những người có quan hệ hôn nhân, hoặc quan hệ huyết thống, hoặc quan
hệ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng là những người có mối quan hệ về lợi ích bảo hiểm
Quả thật, những người có những mối quan hệ nêu trên thường chịu sự ảnh hưởng
lẫn nhau rất lớn về mặt kinh tế cũng như tinh thần Bất cứ rủi ro nào xảy ra cho một
ai đó cũng khiến cho người còn lại trong mối quan hệ đó bị tổn thất, có thể là tổn
thất tinh thần và cũng có thể là tổn thất về tài chính Tuy nhiên, tổn thất được quan
tâm ở đây là tổn thất kinh tế bởi vì trong một chừng mực nhất định thì tổn thất tinh
thần là điều không thể bù đắp được Do đó, trong quan hệ bảo hiểm nhân thọ, lợi ích
được bảo hiểm chỉ có thể là một lợi ích kinh tế
Ngoại lệ - Bên mua bảo hiểm được đề cập tại điểm d, khoản 2, Điều 31 Luật
KDBH vẫn có thể là người không có các mối quan hệ về hôn nhân, huyết thống, nuôi
dưỡng hoặc cấp dưỡng nhưng có mối quan hệ về lợi ích được bảo hiểm Có nghĩa là, nếu
người được bảo hiểm không may tử vong thì người mua bảo hiểm sẽ bị tổn thất hoặc hoặc
thiệt hại tài chính
Chủ nợ - con nợ : có thể thấy được ý nghĩa của quy định này thông qua
mối quan hệ đặc biệt giữa chủ nợ và con nợ, nếu không may con nợ mất đi
mà không có người thay thế thực hiện nghĩa vụ thì chủ nợ có nguy cơ bị tổn thất một khoản nợ mà không thể thu hồi lại được Do đó, chủ nợ có thể tham gia mua bảo hiểm nhân thọ cho con nợ nhằm đảm bảo khả năng thu hồi hồi nợ của mình Tuy nhiên, khi chủ nợ mua bảo hiểm thì chủ nợ phải chứng minh được mối quan hệ chủ nợ và con nợ cũng như tổn thất mà họ phải gánh chịu nếu không may con nợ chết đi hoặc bị thương tật vĩnh viễn không có khả năng trả nợ
Tất yếu và khách quan - là sự tồn tại của mối quan hệ lợi ích bảo hiểm
cùng với những mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và
cấp dưỡng cũng như mói quan hệ giữa chủ nợ và con nợ Thật vậy, lợi ích bảo hiểm
đương nhiên xuất hiện và tồn tại khi các mối quan hệ nêu trên được hình thành mà
không phụ thuộc ý chí chủ quan của con người
Trong quan hệ hôn nhân, mối quan hệ lợi ích bảo hiểm được hình thành một cách
khách quan không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể trong mối quan hệ này Khi
hai người bắt đầu cuộc sống hôn nhân thì ít nhiều có sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt
vật chất lẫn tinh thần Ngày nay, đời sống gia đình hiện đại tuy có sự độc lập hơn
về mặt kinh tế giữa vợ và chồng nhưng có thể thấy rằng nếu một trong hai người
chẳng may tử vong thì người còn lại phải gánh chịu trách nhiệm của người đã mất:
nuôi dạy con, chăm sóc những người thân còn lại,duy trì và phát triển khối sản
nghiệp của gia tộc…Như vậy, dù muốn hay không muốn thì mối quan hệ về lợi ích
bảo hiểm giữa hai vợ chồng là tồn tại khách quan
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 33Tương tự mối quan hệ lợi ích bảo hiểm giữa cha mẹ, con; anh, chị, em; người nuôi
dưỡng, cấp dưỡng đối với người được nuôi dưỡng, cấp dưỡng cũng tồn tại khách
quan dù hiện tại những người trong quan hệ đó có thực sự được hưởng những lợi
ích của nhau hay không Như vậy, mối quan hệ lợi ích bảo hiểm tồn tại một cách
khách quan cùng với sự xuất hiện của mối quan hệ đó
Người mua bảo hiểm tham gia hợp đồng bảo hiểm vì bảo vệ cho chính
người mua bảo hiểm mà không phải vì người được bảo hiểm hay một người thứ ba
nào khác vì, thứ nhất, dù đã tham gia bảo hiểm nhân thọ thì người được bảo hiểm
vẫn có thể gặp rủi ro dẫn đến tử vong; thứ hai, khi người được bảo hiểm tử vong
người tổn thất không phải là người thứ ba mà chính là người được bảo hiểm Tóm
lại, người mua bảo hiểm tham gia hợp đồng bảo hiểm vì một lý do duy nhất là bảo
vệ cho lợi ích bảo hiểm của mình
II ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH LỢI ÍCH BẢO HIỂM
Đặt vấn đề - Như đã trình bày ở phần trên, một người chỉ có thể mua bảo hiểm
nhân thọ cho người khác khi giữa hai người tồn tại mối quan hệ lợi ích bảo hiểm
Việc quy định như vậy nhằm nhiều mục đích khác nhau, nhưng trên hết là nhằm
mục đích tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm trên sinh mạng của người khác và đảm
bảo cho sự phát triển ổn định của xã hội
Xuất phát từ vai trò quan trọng của lợi ích bảo hiểm trong mối quan hệ bảo hiểm
nhân thọ nên việc xác định điều kiện hình thành lợi ích bảo hiểm là hết sức cần
thiết Ba điều kiện cơ bản nhất để xác định lợi ích bảo hiểm là: lợi ích bảo hiểm
phải tồn tại, lợi ích bảo hiểm phải hợp pháp và phải có mối quan hệ lợi ích bảo
hiểm giữa người mua và đối tượng bảo hiểm
1 Lợi ích bảo hiểm phải tồn tại
Tồn tại ngay khi giao kết hợp đồng - Lợi ích bảo hiểm gắn liền với người được
bảo hiểm, lợi ích bảo hiểm tồn tại nghĩa là người được bảo hiểm phải tồn tại Trong trường
hợp thông thường, khi tham gia ký kết hợp đồng thì đối tượng của hợp đồng phải luôn tồn
tại Sự tồn tại của đối tượng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, nếu không còn đối
tượng thì hợp đồng sẽ chấm dứt Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cũng vậy, khi tham
gia ký kết hợp đồng thì đối tượng được bảo hiểm phải tồn tại, nghĩa là người được bảo
hiểm vẫn còn sống tại thời điểm ký kết Khi không có đối tượng bảo hiểm thì không thể
tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm vì lợi ích bảo hiểm không tồn tại Mục đích của hợp
đồng bảo hiểm là bảo vệ những lợi ích vật chất mà đối tượng bảo hiểm có thể mang lại cho
người mua bảo hiểm Do đó, tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, lợi ích bảo hiểm
phải tồn tại hay người được bảo hiểm phải tồn tại
Thật vậy, cha mẹ không thể mua bảo hiểm cho con mình nếu như đó chỉ mới là một
bào thai và chưa được sinh ra Quan hệ bảo hiểm chỉ có thể được hình thành khi
đứa trẻ sinh ra và vẫn còn sống Trong trường hợp khác, không thể tham gia bảo
hiểm nhân thọ khi người được bảo hiểm đã qua đời vào thời điểm tham gia ký kết
hợp đồng
Tồn tại và không tồn tại - Trong một số trường hợp, khi tham gia giao kết hợp
đồng bảo hiểm thì tồn tại lợi ích bảo hiểm nhưng cho đến khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thì
quan hệ lợi ích bảo hiểm không còn tồn tại Nếu như, trong bảo hiểm tài sản, lợi ích bảo
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 34hiểm không còn tồn tại thì người mua bảo hiểm mất quyền yêu cầu bồi thường67, thì trong
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ quyền này không bị mất đi mà vẫn tiếp tục tồn tại nếu như
người được bảo hiểm chấp nhận Bởi lẽ, ngoài mục đích bảo vệ cho quyền lợi bảo hiểm thì
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ còn có mục đích tiết kiệm Số tiền bảo hiểm mà họ có thể
nhận được là tổng số tiền mà họ tiết kiệm để nộp phí cùng với những khoản lãi có thể phát
sinh
Một ví dụ điển hình là trường hợp vợ hoặc chồng mua bảo hiểm nhân thọ cho
người hôn phối của mình nhưng sau một thời gian thì hai vợ chồng ly hôn nhưng
hợp đồng bảo hiểm vẫn tiếp tục được duy trì Nếu sau khi ly hôn, rủi ro xảy ra -
người được bảo hiểm chết, thì người tham gia bảo hiểm vẫn có quyền yêu cầu
doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng đã ký kết Như vậy, mặc
dù không còn lợi ích bảo hiểm nhưng người tham gia bảo hiểm vẫn có quyền yêu
cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm
Nhìn chung, trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, thời gian tồn tại của lợi ích bảo
hiểm không phải là yếu tố là chấm dứt quyền yêu cầu của bên tham gia bảo hiểm Sự tồn
tại của lợi ích bảo hiểm chỉ yêu cầu vào thời điểm giao kết hợp đồng
2 Lợi ích bảo hiểm phải là lợi ích hợp pháp - nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ
thể trong quan hệ bảo hiểm, doanh nghiệp không bị trục lợi bảo hiểm và không có tình
trạng mua bảo hiểm trên sinh mạng của người khác
Lý lẽ của luật - Nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong quan hệ bảo hiểm,
tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm từ việc kinh doanh rủi ro trên cơ thể người khác, bắt buộc
rằng, các mối quan hệ giữa người được bảo hiểm và người mua bảo hiểm phải là quan hệ
hợp pháp Do đó, dù giữa người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm thực sự có mối
quan hệ lợi ích bảo hiểm nhưng mối quan hệ đó không được pháp luật thừa nhận thì cũng
không được coi là lợi ích bảo hiểm và không thể tiến hành giao kết hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ giữa các chủ thể đó
Cơ sở xác định - Tính hợp pháp của mối quan hệ giữa người mua bảo hiểm và
người được bảo hiểm thường được căn cứ trên các giấy tờ hợp pháp có liên quan Quan hệ
vợ chồng hợp pháp được chúng minh trên giấy chứng nhận đăng ký kết hôn Quan hệ cha
mẹ và con chứng minh trên giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh Quan hệ anh chị em thì
được xem xét dựa vào sổ hộ khẩu Quan hệ giữa chủ nợ và con nợ được chứng minh bằng
hợp đồng vay nợ68 Các mối quan hệ khác thì dựa vào các giấy tờ pháp lý có liên quan
Trong quan hệ chung sống không đăng ký kết hôn, mặc dù giữa những người chung
sống có mối quan hệ lợi ích bảo hiểm nhưng họ không thể mua bảo hiểm cho nhau
Điều này xuất phát từ nguyên tắc hợp pháp của lợi ích bảo hiểm, không có cơ sở
pháp lý vững chắc cho rằng khi một trong hai người gặp rủi ro thì người còn lại sẽ
chịu tổn thất Do đó, những người này chỉ có thể mua bảo hiểm nhân thọ cho chính
bản thân mình
67
Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm xe máy, ông A là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe máy Tuy
nhiên, sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, ông A bán cho ông B xe máy của mình Sự kiện bảo hiểm xảy
ra trong thời hạn bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho ông B vì lúc này ông B là người có
mối quan hệ lợi ích bảo hiểm với chiếc xe máy mà không phải là ông A
68 Như đã phân tích ở trên, chủ nợ có quyền mua bảo hiểm cho con nợ vì nhưng lợi ích bảo hiểm mà họ có
thể có Tuy nhiên, không phải chủ nợ nào cũng có quyền mua bảo hiểm cho con nợ mà chỉ có những chủ
nợ hợp pháp thì mới có quyền mua bả0o hiểm cho con nợ của mình
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 35Ngoại lệ - Hiện nay, nhiều lý do khác nhau vẫn còn tồn tại rất nhiều tình trạng trẻ
em không có giấy khai sinh Phần nhiều khai sinh trễ hạn do ý thức pháp luật hạn chế
nhưng một số ít do cha mẹ chúng không phải là vợ chồng hợp pháp, nên không tiến hành
khai sinh cho con Về nguyên tắc, quan hệ cha, mẹ-con không thể xét đến yếu tố hợp pháp
Không thể cho rằng một ai đó sinh con là bất hợp pháp, hoặc ngược lại có thể gọi một
người nào đó là “con bất hợp pháp” của ông A hay bà B Trong học thuyết pháp lý chưa
từng ghi nhận khái niệm “con bất hợp pháp” Tuy nhiên, khi không có giấy khai sinh thì
cha mẹ của chúng không thể tiến hành tham gia giao kết hợp đồng bảo hiểm cho con mình
Trong điều kiện cha mẹ chúng có thể đăng ký kết hôn, thì có thể tiến hành làm khai sinh để
có cơ sở chứng minh mối quan hệ cha, mẹ-con Nhưng nếu cha mẹ không thể kết hôn và
cũng không thể công khai công nhận con mình vì các lý do khác nhau, thì vẫn không thể
tiến hành giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
3 Người mua bảo hiểm và lợi ích bảo hiểm phải có mối quan hệ pháp luật
Cơ sở phát sinh lợi ích bảo hiểm - Nếu không tồn tại các mối quan hệ thì
không thể làm phát sinh lợi ích bảo hiểm Mối quan hệ này có thể là mối quan hệ về
con người hoặc tài sản Thật vậy, trong quan hệ huyết thống, hôn nhân thì mối quan
hệ giữa các thành viên là mối quan hệ thân thiết, giữa họ tồn tại lợi ích về mặt tinh
thần và những lợi ích về mặt tài sản, nếu có
Dựa vào mối quan hệ giữa người mua và người được bảo hiểm để xác định
sự tồn tại của lợi ích bảo hiểm Có một số quan hệ lợi ích bảo hiểm tồn tại hai chiều
bởi sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa những người trong mối quan hệ bảo hiểm đó,
nhưng cũng những quan hệ mà lợi ích bảo hiểm chỉ tồn tại một chiều Do đó, có
những mối quan hệ mà người này có thể mua bảo hiểm nhân thọ cho người kia hoặc
ngược lại Tuy nhiên, có những quan hệ mà chỉ có một bên mới có quyền mua bảo
hiểm cho người kia mà không có trường hợp ngược lại Có thể hình dung bằng hai
khái niệm:
Quan hệ bảo hiểm hai chiều, là những mối quan hệ mà hai người trong mối
quan hệ này có thể mua bảo hiểm cho nhau Bởi vì, một trong hai người thuộc mối
quan hệ này gặp rủi ro thì người còn lại chịu tổn thất và ngược lại Khi rủi ro xảy ra
đối với vợ hoặc chồng thì người còn sống thường phải gánh trách nhiệm của người
đã mất đi Do vậy, vợ và chồng có quyền mua bảo hiểm cho người còn lại nhằm bảo
đảm tài chính cho gia đình khi rủi ro xảy ra
Tương tự, trong quan hệ cha mẹ con cũng như quan hệ anh em, các mối quan
hệ này là tương đối thân thiết và có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên gia
đình Nếu không may, một trong các thành viên qua đời thì gánh nặng kinh tế sẽ
dồn vào những người còn lại Xuất phát từ sự gắn bó mật thiết đó nên trong quan hệ
vợ chồng, cha mẹ và con cái cũng như quan hệ anh chị em được xem là quan hệ hai
chiều
Bên cạnh quan hệ trên thì quan hệ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cũng mang tính
hai chiều Thoạt nghe, có thể chỉ cho rằng đây là mối quan hệ một chiều vì chỉ có
người được cấp dưỡng, nuôi dưỡng là người có lợi ích bảo hiểm Có nghĩa là, nếu
người cấp dưỡng, nuôi dưỡng gặp rủi ro thì người được cấp dưỡng hoặc nuôi dưỡng
sẽ bị thiệt hại Tuy nhiên, do xã hội Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của văn hóa
phương Đông nên đôi khi người cấp dưỡng, nuôi dưỡng cũng có những quyền lợi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 36bảo hiểm, khi người được nuôi dưỡng cấp dưỡng có khả năng tạo thu nhập, sẽ có
thể phụng dưỡng ngược lại Tuy vậy, tính chất hai chiều của mối quan hệ này mang
tính tương đối hơn so với quan hệ hôn nhân, huyết thống
Quan hệ bảo hiểm một chiều, là những quan hệ mà chủ thể của quan hệ đó
chỉ có một người có quyền mua bảo hiểm nhân thọ cho người còn lại trong mối
quan hệ đó, nhưng ngược lại người sau này không có quyền mua bảo hiểm cho
người kia Theo quy định của Luật KDBH thì người này chỉ có thể mua bảo hiểm
nhân thọ cho người khác khi bên mua bảo hiểm có quyền lợi bảo hiểm Do đó, trong
quan hệ chủ nợ và con nợ chỉ có chủ nợ có quyền lợi cần được bảo hiểm đối với con
nợ mà không có trường hợp ngược lại Trong quan hệ chủ doanh nghiệp và nhân
viên thì chủ doanh nghiệp có quyền giao kết một số loại hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ có đối tượng bảo hiểm là nhân viên công ty69 Trong khi đó, không có trường
hợp ngược lại, nhân viên không thể mua bảo hiểm cho chủ doanh nghiệp
Nếu như, quan hệ chủ nợ - con nợ là một ví dụ dễ dàng chứng minh về tính
một chiều của quan hệ thì trong một số quan hệ khác tính một chiều chỉ có ý nghĩa
tương đối Một trong những quan hệ mang tính tương đối một chiều đó là quan hệ
ông bà - cháu Thông thường, con cháu có nghĩa vụ chăm sóc ông bà, đó chính là
lợi ích cần được bảo hiểm Chính vì vậy, ông bà có quyền mua bảo hiểm cho cháu
mà không cần phải chứng minh về quyền lợi bảo hiểm trong khi đó cháu không thể
viện lý do ông bà phải nuôi dưỡng mình mà mua bảo hiểm cho ông bà Bởi lẽ, khi
ông bà phải nuôi dưỡng cháu thì cháu khó có thể tham gia một hợp đồng bảo hiểm
vì khả năng tài chính của người này không đảm bảo Lý do thứ hai có thể chứng
minh quan hệ này này mang tính một chiều là vì ông bà thường lớn tuổi rất nhiều so
với cháu và rủi ro tử vong đối với ông bà khá cao nên dễ dẫn đến việc mua bảo
hiểm nhằm trục lợi Chính vì vậy, quan hệ ông bà cháu chỉ mang tính một chiều
III Ý NGHĨA XÁC ĐỊNH NỘI DUNG CỦA LỢI ÍCH BẢO HIỂM
1 Ngăn chặn rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức là trường hợp người tham gia bảo hiểm nhân thọ thực hiện
các hành vi trái đạo đức nhằm nhận tiền của doanh nghiệp bảo hiểm Các hành vi
này có thể là hành vi giết người được bảo hiểm hoặc cố tình đưa người được bảo
hiểm lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng để có thể thu được nguồn lợi bảo
hiểm
Bảo hiểm không phải là hình thức mà người tham gia vào mong muốn rủi ro
xảy ra nhằm thu lợi cho mình mà mục đích chính của bảo hiểm chính là cách thức
mọi người chia sẻ rủi ro cho nhau bên cạnh việc tích lũy tiết kiệm Việc quy định
điều kiện mối quan hệ về lợi ích bảo hiểm giữa người mua bảo hiểm và người được
bảo hiểm nhằm hạn chế khả năng tạo ra rủi ro cho người được bảo hiểm Bởi lẽ,
những người có lợi ích bảo hiểm với nhau thì nếu họ mất đi thì người mua bảo
hiểm cũng chỉ có thể hưởng một số lợi ích tương đương Thậm chí, khi người được
bảo hiểm còn sống thì người mua bảo hiểm có thể còn được nhiều hơn khi người
này bị sự cố gây tử vong Hơn nữa, khi người được bảo hiểm còn sống thì lợi ích
lớn nhất đó chính là những giá trị tinh thần mà họ có thể mang lại cho người mua
69
Theo sản phẩm Phú Hoà Nhân An của công ty Bảo hiểm Prudential
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 37bảo hiểm Nói như vậy không có nghĩa là, mọi người có mối quan hệ lợi ích bảo
hiểm đều mang lại lợi ích vật chất cũng như tinh thần cho những người còn lại trong
mối quan hệ nhưng phần lớn nhờ có những mối quan hệ ràng buộc sẽ làm giảm bớt
khả năng xảy ra rủi ro đạo đức
Nhìn chung, mục đích của việc ghi nhận mối quan hệ lợi ích bảo hiểm giữa người
mua bảo hiểm và người được bảo hiểm nhằm hạn chế rủi ro xảy ra đảm bảo cho xã hội
phát triển trật tự và ổn định, hay nói cách khác, mối quan hệ bảo hiểm sẽ làm giảm bớt
nguy cơ cố ý gây thiệt hại cho người được bảo hiểm Khi người tham gia bảo hiểm nào
cũng mong muốn sự kiện bảo hiểm xảy ra thì sự tồn tại bảo hiểm chẳng còn ý nghĩa nữa
Như vậy, chỉ có những người không mong xảy ra rủi ro bảo hiểm mới được hưởng quyền
lợi bảo hiểm
2 Nghiêm cấm việc sử dụng bảo hiểm vào mục đích đánh bạc
Bên cạnh việc hạn chế những rủi ro về đạo đức thì một ý nghĩa khác là nghiêm cấm
việc sử dụng bảo hiểm vào mục đích đánh bạc Nếu không có quyền lợi được bảo hiểm thì
một hợp đồng bảo hiểm có bản chất không khác hành vi đánh bạc, về nguyên tắc, bị pháp
luật nước ta nghiêm cấm
Thật vậy, khi người mua bảo hiểm không có lợi ích bảo hiểm đối với người
được bảo hiểm thì người mua có thể tùy tiện mua bảo hiểm nhân thọ trên thân thể
của bất kỳ ai và hưởng lợi khi người này gặp rủi ro Người mua bảo hiểm không bị
tổn thất gì mà ngược lại còn thu được một khoản lợi trên sinh mạng của người khác
Cách thức đầu tư vào sinh mạng của người khác để hưởng lợi là một hành động phi
đạo đức và không thể chấp nhận Mặt khác, đây còn là một hình thức kinh doanh
trên sinh mạng của con người, bị pháp luật và đạo đức xã hội lên án Do đó, chỉ có
những người có quyền lợi bảo hiểm mới có thể tham gia vào hợp đồng bảo hiểm,
đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ
Mục 2 GIAO KẾT HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
I NGUYÊN TẮC GIAO KẾT HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng, các bên trong hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ phải tuân theo các nguyên tắc được quy định cụ thể tại Điều 395 và 409 BLDS
Những nguyên tắc này là những tư tưởng chủ đạo chi phối toàn bộ quá trình giao kết và
thực hiện hợp đồng
Nguyên tắc quy định tại Điều 395 về cơ bản có thể chia làm hai nhóm: một là,
nguyên tắc về nội dung của hợp đồng; hai là, nguyên tắc về ý chí của các bên tham gia hợp
đồng Nếu hợp đồng không tuân thủ các nguyên tắc được nêu thì có thể hợp đồng sẽ bị
tuyên bố vô hiệu tương đối hoặc tuyệt đối tùy hình thức vi phạm
Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội - là
một nguyên tắc chung trong giao kết hợp đồng được quy định trong BLDS Tuy nhiên,
quyền tự do giao kết nội dung của hợp đồng có giới hạn nhất định nhằm đảm bảo cho sự
phát triển ổn định của các quan hệ xã hội Nội dung của hợp đồng không được trái với
pháp luật và đạo đức xã hội Theo nguyên tắc này, mọi các nhân tổ chức đủ tư cách chủ thể
đều có quyền tham gia giao kết hợp đồng bảo hiểm với các doanh nghiệp bảo hiểm có mặt
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 38tại Việt Nam Các bên có quyền tự do thỏa thuận nội dung giao kết nhưng nội dung đó phải
không trái với những quy định của pháp luật và đạo đức xã hội
Tự nguyện - là một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Hợp đồng sẽ
bị coi là vô hiệu khi sự tự nguyện giao kết hợp đồng bị tỳ vết (bị cưỡng ép, lừa dối hoặc đe
dọa )
Như ta đã biết, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là sự thỏa thuận giữa người mua bảo
hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, đối với người mua
bảo hiểm, sự tự nguyện thể hiện qua hồ sơ yêu cầu bảo hiểm có điền đầy đủ các thông tin
được quy định Cụ thể hơn, hồ sơ yêu cầu bảo hiểm phải do chính người mua bảo hiểm
trực tiếp điền các thông tin cần thiết nhằm thể hiện một cách rõ ràng ý chí tự nguyện của
người mua bảo hiểm Nếu trong trường hợp người mua bảo hiểm không thể tự điền hồ sơ
thì có thể yêu cầu người khác viết thay nhưng phải ghi rõ người viết thay Đối với doanh
nghiệp bảo hiểm, sự tự nguyện giao kết thể hiện qua việc chấp nhận bảo hiểm sau khi đã
xem xét đánh giá rủi ro trên hồ sơ yêu cầu bảo hiểm
Tóm lại, chỉ khi nào hợp đồng phản ánh một cách khách quan về ý muốn tham gia
giao kết của các bên thì việc giao kết mới được xem là tự nguyện
Bình đẳng - Trong quá trình giao kết cũng như thực hiện hợp đồng, các bên tham
gia luôn bình đẳng lẫn nhau Bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất khi
tham gia giao kết hợp đồng, thể hiện qua việc đối xử công bằng giữa các chủ thể với nhau,
không có sự phân biệt thành phần xã hội, kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo,…
Tuy nhiên, đặc thù trong ngành bảo hiểm có sự phân biệt giới tính và nghề nghiệp
giữa các nhóm chủ thể là cơ sở tính toán rủi ro nên phí bảo hiểm đóng khác nhau Tương tự
như vậy, khi tính phí bảo hiểm, mỗi nhóm ngành sẽ có một mức phí riêng tương ứng với
mức độ rủi ro Người làm việc văn phòng sẽ có rủi ro thấp hơn người công nhân xây dựng,
giáo viên dạy toán sẽ ít rủi ro hơn giáo viên dạy thể dục,…
Mặc dù vậy, nhưng không thể cho rằng không có sự bình đẳng trong giao kết hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ Sự bình đẳng được thể hiện trong cùng một nhóm ngành nghề và
cùng giới tính Mà ngược lại, có thể nói rằng, nhờ sự phân biệt này trong bảo hiểm nhân
thọ thể hiện tính công bằng xã hội; người đối diện với rủi ro cao thì phí đóng phải cao hơn
so với người cùng điều kiện nhưng có rủi ro thấp hơn
Trung thực và ngay thẳng - Nếu các bên không trung thực sẽ dẫn đến việc ký kết
hợp đồng không đúng với ý chí của các bên giao kết Có nghĩa là, một bên trong hợp đồng
sẽ ở trong tình trạng giao kết hợp đồng do nhầm lẫn hoặc bị lừa dối Vi phạm nguyên tắc
này cũng đồng nghĩa với vi phạm nguyên tắc tự nguyện trong giao kết hợp đồng có thể
khiến cho hợp đồng đó bị vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ
Đối với hợp đồng bảo hiểm nguyên tắc trung thực và ngay thẳng là nguyên
tắc rất quan trọng bởi khi các bên không trung thực sẽ khiến cho bên còn lại gặp tổn
thất Bên mua bảo hiểm phải chịu mọi trách nhiệm khi khai báo không trung thực
các thông tin có liên quan đến người bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm cũng phải
chịu trách nhiệm khi không giải thích trung thực nội dung hợp đồng cho bên mua
bảo hiểm
II CHỦ THỂ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1 Doanh nghiệp bảo hiểm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 39Đặt vấn đề - Ngoài đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp bảo hiểm, hoạt động của
doanh nghiệp bảo hiểm còn có sự hỗ trợ của đội ngũ đại lý tư vấn bảo hiểm Hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp bảo hiểm bị phụ thuộc khá nhiều vào hiệu quả hoạt động của đội
ngũ đại lý do doanh nghiệp đào tạo Mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người đại
lý bảo hiểm không phải là mối quả hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động mà
đó là mối quan hệ hợp tác dựa trên những thỏa thuận uỷ quyền giữa bên doanh nghiệp và
người đại lý Phân tích rõ phạm vi ủy quyền của doanh nghiệp bảo hiểm và người đại lý sẽ
xác định được tư cách của các bên khi tham gia hợp đồng bảo hiểm trong vai trò người
mua bảo hiểm
a) Doanh nghiệp bảo hiểm
Giới hạn vấn đề - Nội dung hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm đang có
mặt tại Việt Nam rất đa dạng, có thể là hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo
hiểm, giám định tổn thất…theo những quy định tại Khoản 1, Điều 60 Luật KDBH Tuy
nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài liên quan đến hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nên đề
tài chỉ đề cập những vấn đề có liên quan đến tư cách chủ thể của doanh nghiệp bảo hiểm
khi tham gia giao kết hợp đồng bảo hiểm với người mua bảo hiểm: trách nhiệm chi trả bảo
hiểm, phạm vi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và
đại lý bảo hiểm
Phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ - Theo quy định tại
Khoản 2, Điều 60 Luật KDBH thì doanh nghiệp bảo hiểm không được phép đồng thời tiến
hành kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trường hợp doanh
nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn
con người bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ Ta có thể thấy rằng các đối tượng mà luật cho
phép doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm là tất cả những đối tượng của hợp đồng
bảo hiểm con người: tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn của con người Như vậy,
ngoài những đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người, doanh nghiệp bảo hiểm nhân
thọ không được phép kinh doanh bảo hiểm liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ
Phạm vi lãnh thổ trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ của
các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ - các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đang
hoạt động tại Việt Nam chỉ được cơ quan nhà nước được cấp giấy phép thành lập và
hoạt động tại Việt Nam nên phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp này chỉ trong
lãnh thổ Việt Nam
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đại lý bảo hiểm - Đại lý bảo hiểm là tổ
chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền trên cơ sở Hợp đồng đại lý
bảo hiểm để hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật KDBH và các quy
định pháp luật khác có liên quan70
Như vậy, mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và đại lý bảo hiểm là mối quan hệ uỷ quyền Người đại lý sẽ là người đại diện
cho doanh nghiệp trong một số phạm vi được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền
Trách nhiệm chi trả bảo hiểm - Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi của doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro
của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh
nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được
bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Như vậy, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm chi
Trang 40trả bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm theo thỏa thuận đã được ghi nhận trong hợp
đồng bảo hiểm
Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm khi chuyển giao hợp đồng bảo
hiểm - Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chuyển giao hợp đồng bảo hiểm mà doanh
nghiệp đã giao kết với người mua bảo hiểm cho một doanh nghiệp bảo hiểm cho
một doanh nghiệp bảo hiểm khác theo quy định của pháp luật71 Trong trường hợp
này, quyền và nghĩa vụ của theo hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao không thay
đổi cho đến khi hết thời hạn hợp đồng bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thông
báo bằng văn bản cho người mua bảo hiểm về việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm
khi thực hiện việc chuyển giao Như vậy, dù hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao,
quyền lợi của người tham gia bảo hiểm vẫn được đảm bảo
b) Đại lý bảo hiểm
Giới hạn vấn đề - Hiện nay, đội ngũ đại lý bảo hiểm hoạt động trong ngành bảo
hiểm nhân thọ chiếm một số lượng tương đối lớn, khoảng 70 ngàn người Mặc dù,
hoạt động bảo hiểm nhân thọ chỉ mới hình thành tại Việt Nam không lâu nhưng sự
phát triển nhanh của đội ngũ này cho thấy vai trò của họ trong cuộc sống hiện đại
cũng như trong hoạt động của ngành bảo hiểm nói riêng Trên thế giới, nghề làm
đại lý bảo hiểm đã giải quyết phần lớn nhu cầu việc làm cho người lao động, Tại
Pháp 1% dân số là đại lý bảo hiểm nhân thọ72 Chế độ hoạt động của đại lý bảo
hiểm được quy định khá cụ thể trong Luật KDBH nhưng một số vấn đề liên quan
đến tư cách của đại lý bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vẫn còn nhiều
điểm chưa rõ ràng Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu về hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ, đề tài sẽ phân tích một số vấn đề liên quan giữa người mua bảo hiểm và người
đại lý bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm không được ủy quyền ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với
người mua bảo hiểm - Trong các nội dung mà doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền cho
người đại lý thực hiện thì không có nội dung đại diện doanh nghiệp ký kết hợp đồng bảo
hiểm Người đại lý bảo hiểm chỉ có quyền giới thiệu, chào bán bảo hiểm hoặc thu xếp việc
giao kết hợp đồng bảo hiểm, thu phí bảo hiểm, thu xếp chi trả bảo hiểm Như vậy, người
đại lý chỉ có thẩm quyền thu xếp việc giao kết hợp đồng, tạo điều kiện cho việc giao kết
hợp đồng được diễn ra thuận lợi còn người ký kết hợp đồng bảo hiểm với người mua bảo
hiểm chính là doanh nghiệp bảo hiểm73
Trách nhiệm pháp lý của đại lý bảo hiểm khi thực hiện công việc vượt quá
phạm vi ủy quyền - Theo quy định chung của BLDS về hậu quả của giao dịch dân sự do
người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá thẩm quyền đại diện, thì các giao dịch vượt quá
phạm vi ủy quyền của người đại diện không làm phát sinh quyền và nghĩa đối với người
đại diện nhưng theo quy định của Luật KDBH thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu
trách nhiệm bồi thường cho người tham gia bảo hiểm những thiệt hại do đại lý bảo hiểm
thực hiện vượt phạm vi ủy quyền Trong “Trường hợp đại lý bảo hiểm vi phạm hợp đồng
đại lý bảo hiểm, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm thì
doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm về hợp đồng bảo hiểm” Riêng, về phần
71
Luật KDBH 2000, Điều 74
72 Đại lý bảo hiểm nhân thọ cấp I- Phần I, Đại cương về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ- Tổng công ty Bảo
hiểm Việt Nam- Hà Nội 2002, trang 62
73 Giải thích này phù hợp với ý chí nhà làm luật - Bản tập hợp ý kiến thảo luận tại hội trường Quốc hội - Sáng
07/12/2000, trang 21
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu