Phạm vi nghiên cứu Trong luận văn, người viết chủ yếu tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật hình sự trong BLHS Việt Nam hiện hành BLHS Việt Nam năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHÓA 34 (2008 – 2012)
ĐỀ TÀI
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS Phạm Văn Beo Nguyễn Thị Anh Thư
Bộ môn Luật Tư pháp MSSV: 5085925
Lớp: Luật Tư Pháp 1 - K34
Cần Thơ, tháng 5/2012
Trang 2
Do thời gian tìm hiểu và nghiên cứu đề tài có giới hạn và sự hạn chế về mặt kiến thức nên người viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót trong việc thực hiện đề tài Người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Trong quá trình thực hiện luận văn, em xin trân trọng cảm ơn anh Bùi Trung Hiến, thư ký Tòa Hình sự Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ đã giúp đỡ
em trong quá trình thu thập, xử lý số liệu thực tế phục vụ đề tài
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy Phạm Văn Beo, giảng viên Khoa Luật, trường Đại học Cần Thơ, cảm ơn thầy đã nhiệt tình chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Em cũng chân thành cảm ơn tất cả thầy cô thuộc Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu làm hành trang cho
em trong quá trình nghiên cứu và sau này, những kiến thức ấy là hành trang cho
em từ những bước chân đầu đời vào con đường sự nghiệp
Em xin cảm ơn các anh chị, các bạn cùng khóa đã chia sẽ những kiến thức học được và đã giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường
Em xin chân thành cảm ơn
Cần Thơ, tháng 5 năm 2012
Trang 3
Cần Thơ, ngày…, tháng…,năm 2012
Ký tên
PHIẾU NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 4
Cần Thơ, ngày…, tháng…,năm 2012
Ký tên
Trang 5
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ MIỄN CHẤP HÀNH, GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT 4
1.1 Tổng quan về hình phạt 4
1.1.1 Khái niệm về hình phạt 4
1.1.2 Đặc điểm của hình phạt .5
1.1.3 Mục đích của hình phạt trong luật hình sự Việt Nam 9
1.2 Tổng quan về miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam 11
1.2.1 Khái niệm miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam hiện hành 11
1.2.2 Đặc điểm của chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt 13
1.2.3 Cơ sở thực tiễn hình thành chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt 14
1.2.4 Lược sử phát triển của chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt 17
1.2.5 Ý nghĩa của việc miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt 22
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ MIỄN CHẤP HÀNH, GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT 25
2.1 Các trường hợp miễn chấp hành hình phạt 25
2.1.1 Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt do hết thời hiệu thi hành bản án của Tòa án 25
2.1.2 Người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt 28
2.1.3 Án treo – một hình thức miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện 30
Trang 6tạm đình chỉ chấp hành hình phạt sau đó được miễn chấp hành hình phạt 40
2.1.6 Trường hợp được miễn chấp hành hình phạt cấm cư trú hoặc quản
chế 42
2.2 Các trường hợp được giảm mức hình phạt phải chấp hành 43
2.2.1 Giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong điều kiện bình thường 43 2.2.3 Giảm thời hạn chấp hành mức hình phạt trong điều kiện đặc biệt 48
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA CHẾ ĐỊNH MIỄN CHẤP HÀNH, GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT 51 3.1 Tình hình áp dụng của chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt 51 3.2 Những bất cập của chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt 56
3.2.1 Bất cập nảy sinh từ quy định của BLHS về chế định miễn chấp
3.3.1 Hoàn thiện quy định về miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành
hình phạt trong luật hình sự Việt Nam 63
3.3.2 Nâng cao hiệu quả áp dụng chế định miễn chấp hành, giảm thời
hạn chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam 65
KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội hiện nay, sự đổi mới của nền kinh tế thị trường đã mang đến
sự phát triển vượt bậc cho xã hội cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, … Song những mặt trái tồn tại của nó đã kéo theo nhiều hậu quả đáng kể cho xã hội Theo đó tình hình tội phạm trong những thập niên gần đây ngày một gia tăng về
số lượng, tính chất và mức độ phức tạp của hành vi phạm tội Trong công tác phòng và chống tội phạm, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội nhằm mục đích trừng trị, giáo dục, cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời mang tính răng đe, phòng ngừa chung Bên cạnh đó các biện pháp về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục và thuyết phục vẫn được Nhà nước sử dụng để phòng ngừa, đấu tranh nhằm giảm bớt và tiến tới loại trừ tội phạm
Chính vì vậy, Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 đã thể hiện tập trung các nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự, đồng thời quy định một hệ thống các hình thức tha bổng như: miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, án treo, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, hoãn và tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Các biện pháp miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt với tư cách là những biện pháp thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của Luật hình sự và đường lối khoan hồng trong chính sách hình sự của Nhà nước, cụ thể hóa nguyên tắc cá thể hóa trong chấp hành hình phạt Các biện pháp này được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định áp dụng khi có đủ các căn cứ và điều kiện do pháp luật hình sự quy định
Mặc dù BLHS năm 1999 đã có những bổ sung hoàn thiện nhất định so với BLHS năm 1985, tuy nhiên trên thực tế vẫn còn có những biện pháp chưa được điều chỉnh về mặt lập pháp một cách đầy đủ và thống nhất, thiếu sự hướng dẫn kịp thời và đồng bộ Vì vậy, quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn lẫn tiêu cực do sự nhận thức không đúng và áp dụng không đồng
bộ, thống nhất giữa các cơ quan, cán bộ điều tra, truy tố và xét xử Điều này cần phải giải quyết và hoàn thiện nhằm thực hiện chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt có hiệu quả trên thực tế áp dụng pháp luật
Trang 82 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có khá nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt Trên cơ sở đó, trong luận văn này người viết mong muốn hệ thống lại những quy định về chế định này trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành, nhằm tìm ra những thiếu sót của pháp luật, nghiên cứu về khả năng áp dụng trên thực tế, những vướng mắc còn tồn tại của chế định này Đồng thời, người viết cũng mong muốn đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn những quy định về miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong hệ thống Luật hình sự, nâng cao hiệu quả quá trình áp dụng pháp luật nói riêng và quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn, người viết chủ yếu tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật hình sự trong BLHS Việt Nam hiện hành (BLHS Việt Nam năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009) và những quy định pháp luật khác có liên quan đến nội dung chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành đối với các loại hình phạt được quy định theo Bộ luật này Nhằm khẳng định tính khoa học thực tế và tính thuyết phục của đề tài đối với người đọc, người viết sẽ sử dụng những số liệu thu thập được qua sách báo, báo cáo tổng kết ngành tòa án, các tạp chí khoa học chuyên ngành luật, mạng internet
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết dựa trên những kiến thức đã học, thu thập và tổng hợp tài liệu có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của đề tài kết hợp cùng với thực tiễn Nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu đạt hiệu quả, người viết sử dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp,
- Phương pháp so sánh,
- Phương pháp phân tích luật viết,
- Phương pháp sưu tầm, xử lý số liệu thực tế
5 Kết cấu luận văn
Để người đọc dễ dàng tham khảo, xem xét, đánh giá đề tài, luận văn được kết cấu gồm ba chương:
Trang 9Chương 1: Lý luận chung về miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Chương 2: Quy định pháp luật hình sự về miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Chương 3: Thực trạng và giải pháp của chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, người viết luôn cố gắng để hoàn thành luận văn một cách hoàn thiện nhất, nhưng do còn hạn chế về mặt kiến thức nên vẫn tồn tại một số thiếu sót Người viết rất mong được sự đóng góp ý kiến từ quý Thầy, Cô và các bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn Xin trân trọng cảm ơn
Trang 10Trong lịch sử lập pháp và nghiên cứu pháp luật hình sự của nước ta, khái niệm hình phạt lần đầu tiên được chính thức ghi nhận trong BLHS năm 1999 Điều này có ý nghĩa về mặt lý luận lẫn thực tiễn Khái niệm hình phạt chỉ tồn tại trong Luật hình sự, bên cạnh khái niệm tội phạm và hợp thành các chế định cơ
bản nhất Theo đó chỉ rõ “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất
của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội
Trang 11Hình phạt được quy định trong BLHS và do tòa án quyết định” (1) Khái niệm này không có gì thay đổi trong lần sửa đổi bổ sung năm 2009 vừa qua
Để đảm bảo cho các quy định của pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, Nhà nước đặt ra các biện pháp cưỡng chế thích hợp với từng loại hành vi vi phạm pháp luật, trong đó hình phạt được xem như biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc
nhất Tuy nhiên mục đích của hình phạt được ghi nhận trong BLHS “không chỉ
nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa,
Hình phạt bao giờ cũng nghiêm khắc hơn các biện pháp cưỡng chế khác (buộc bồi thường thiệt hại đã xảy ra trong luật dân sự, xử phạt vi phạm hành chính…) mặc dù về hình thức có thể giống nhau như trong xử phạt vi phạm hành chính và trong hình phạt đều có cảnh cáo, phạt tiền Nhưng cảnh cáo và phạt tiền hình sự nặng hơn cảnh cáo và phạt tiền hành chính, kể cả trong trường hợp số tiền phạt hành chính có cao hơn số tiền phạt hình sự Bởi vì, hậu quả pháp lý của hình phạt nặng nề hơn phạt hành chính, người bị áp dụng hình phạt phải mang án tích trong một thời gian nhất định và phải chịu hậu quả bất lợi trong suốt thời gian chưa được xóa án tích
Hình phạt được quy định cụ thể tại Điều 28 BLHS năm 1999 được áp dụng đối với người phạm tội và được chia làm hai loại: Các hình phạt chính như: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình và các hình phạt bổ sung như: Cấm đảm nhiệm chức vụ; cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính Ngoài các hình phạt trên đây, Tòa án không được quyền tuyên phạt bất kỳ một hình phạt nào khác đối với người phạm tội Việc quy định thêm, bớt một hình phạt nào đó để đưa vào hoặc ra khỏi BLHS phải do Quốc hội quyết định với tư cách của cơ quan lập pháp duy nhất của Nhà nước Hay nói cách khác, ngoài những hình phạt được liệt kê trong luật một cách chính thức thì không một biện pháp cưỡng chế nào khác có thể được áp dụng và xem xét với tư cách là một hình phạt
Trang 12Theo quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự, hình phạt phải do Tòa án quyết định Không một cơ quan nào khác có quyền quyết định hình phạt Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Theo pháp luật tố tụng hình sự việc kết án người phạm tội có thể được thể hiện trong bản án (Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị; Bản án phúc thẩm), hoặc trong quyết định của Tòa án (Quyết định tái thẩm; Quyết định giám đốc thẩm)
Như vậy có thể tổng kết lại khái niệm hình phạt như sau:
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự
1.1.2 Đặc điểm của hình phạt
Cũng là một biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đối với các hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội nhưng hình phạt mang những đặc trưng cơ bản nhằm phân biệt hình phạt với các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước, cụ thể:
Đặc điểm thứ nhất, hình phạt chính là biện pháp cưỡng chế mang tính
nghiêm khắc nhất của Nhà nước
Đây được xem là đặc trưng cơ bản nhất của hình phạt so với bất cứ biện pháp cưỡng chế nào khác Bởi, mặc dù trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhà nước sử dụng phối hợp nhiều biện pháp kinh tế, chính trị, xã hội,
…, nhưng hình phạt vẫn được xem là công cụ hữu hiệu nhất bởi tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nó
Tính cưỡng chế nghiêm khắc này được thể hiện ở việc người bị áp dụng hình phạt sẽ bị tước bỏ hoặc hạn chế quyền tự do (hình phạt tù, cấm cư trú, quản chế, trục xuất), quyền về tài sản (tịch thu tài sản, phạt tiền), quyền chính trị (cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định) nhất định trong thời gian theo luật định Hình phạt tù là hình phạt đặc thù hạn chế quyền tự do nhiều nhất của công dân mà biện pháp cưỡng chế khác không thể đạt được Và đặc biệt, người bị áp dụng có thể bị tước đi quyền sống, một quyền cơ bản của con người mà bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào khác ngoài hình phạt (tử hình)
Trang 13đều không thể tước bỏ như người viết đã phân tích trước đó Mặc dù người bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác như biện pháp xử lý hành chính, biện pháp bồi thường dân sự, …, cũng có thể bị tước bỏ một số quyền về tài sản, quyền chính trị hay bị quản chế về tự do nhưng có thể thấy, mức độ nghiêm khắc vẫn thấp hơn hình phạt trong Luật hình sự bởi người chịu hình phạt còn có thể phải chịu án tích trong một thời gian nhất định theo luật định Án tích là hậu quả pháp
lý của việc phạm tội, bất lợi hơn nhiều lần so với hậu quả của các hành vi vi phạm pháp luật khác, như vi phạm hành chính Bởi vì, nếu như chỉ sau thời hạn một năm người có hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt sẽ được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính thì thời hạn để xóa án tích đối với người chịu hình phạt tối thiểu là một năm (áp dụng với hình phạt tiền, cảnh cáo, hoặc cải tạo không giam giữ hoặc được hưởng án treo) và có thể tối đa là bảy năm (Điều 64 BLHS) Án tích cũng được coi là căn cứ để xác định xem hành vi phạm tội có tính chất tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm hay không nhằm xác định căn cứ để định tội và quyết định hình phạt (3)
Mặc khác, tại Điều 28 BLHS hiện hành quy định hệ thống hình phạt bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung với mức độ, nội dung cưỡng chế nặng, nhẹ khác nhau Khi áp dụng hình phạt, Tòa án được quyền áp dụng cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung để hỗ trợ Đồng thời, còn có thể áp dụng kèm theo hình phạt là các biện pháp tư pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hình phạt như tịch thu tang vật, tiền trực tiếp liên quan tới tội phạm, bắt buộc chữa bệnh, bồi thường thiệt hại… Trong khi đó không thể áp dụng hình phạt với tính chất hỗ trợ hiệu quả cho các hình thức cưỡng chế khác như xử phạt hành chính Như vậy, với việc có thể áp dụng một hệ thống bao gồm cả hình phạt chính, hình phạt bổ sung và biện pháp tư pháp cho cùng một hành vi phạm tội cũng cho thấy mức độ cưỡng chế tối đa nghiêm khắc của hình phạt so với các biện pháp cưỡng chế khác
mà Nhà nước cho phép
Tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất của hình phạt còn thể hiện ở cơ chế đảm bảo thi hành hình phạt với những thủ tục phức tạp hơn so với cơ chế đảm bảo thi hành biện pháp cưỡng chế khác Thủ tục này đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật thi hành án hình sự năm 2010… Như vậy nói đến hình phạt là nói đến sự cưỡng chế cao độ
(3)
Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 1995, tr 194
Trang 14nhất của Nhà nước đối với hành vi nguy hiểm nhất cho xã hội Có sự cưỡng chế tối đa như vậy mới đảm bảo sự trừng phạt cần thiết của Nhà nước với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Tuy vậy, tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất của hình phạt không có nghĩa là loại bỏ hoàn toàn khả năng giáo dục, cải tạo của hình phạt đối với người phạm tội Bởi Tòa án phải đánh giá, xem xét toàn diện để đưa ra hình phạt phù hợp nhất so với mức độ nguy hiểm của hành vi, cũng như yếu tố nhân thân, hoàn cảnh của người phạm tội nhằm đảm bảo đồng thời tính trừng trị và khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội, đảm bảo được mục đích phòng ngừa chung của hình phạt đối với xã hội
Đặc điểm thứ hai, hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người có hành vi
phạt nào thay cho người phạm tội dù trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện Đặc điểm
này nói lên tính chất cá nhân của hình phạt nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội cũng như cá nhân khác Đây là đặc điểm hoàn toàn khác biệt đối với hệ thống hình phạt trong thời kì phong kiến trước kia, khi mà pháp luật cho phép áp dụng chuộc tội bằng tiền, áp dụng một số hình phạt đối với người phạm tội và người thân thích của người phạm tội (ví dụ: chu di tam tộc, chu di cửu tộc…)
Đặc điểm thứ ba, hình phạt được quy định trong BLHS và do Tòa án quyết
định
Trang 15Hình phạt chỉ được quy định duy nhất trong BLHS, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất sau Hiến pháp Bởi khác một số quốc gia trên thế giới, các quy định về tội phạm của Việt Nam hiện nay chỉ được ghi nhận duy nhất trong BLHS
1999 tại Điều 2 như sau “Chỉ người nào phạm tội đã được BLHS quy định mới
phải chịu trách nhiệm hình sự” Như vậy, hình phạt được quy định trong BLHS
mới được áp dụng đối với người bị kết án Điều này thể hiện rõ nét nguyên tắc pháp chế về hình phạt trong Luật hình sự của Nhà nước pháp quyền Việt Nam Hình phạt được quy định trong phần chung của BLHS hiện hành tại Chương V về khái niệm hình phạt, hệ thống hình phạt, đặc điểm từng loại hình phạt cụ thể cũng như việc quyết định hình phạt, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt… Đồng thời hình phạt cũng được quy định cụ thể kèm với từng tội phạm với tính chất, mức độ khác nhau, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm cũng như yếu tố nhân thân, hoàn cảnh người phạm tội
Nếu như cơ quan có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác ngoài Tòa án có thể có các cơ quan khác như Ủy ban nhân dân, Công an nhân dân, …, thì Tòa án là cơ quan duy nhất được Nhà nước trao thẩm quyền được phép áp dụng hình phạt với người phạm tội Điều này xuất phát từ chức năng của Tòa án:
Là “cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (4), hay nói cách khác đây là cơ quan duy nhất có thẩm quyền phán xét một hành vi có phải
là tội phạm hay không và áp dụng chế tài đối với hành vi phạm tội đó Tòa án căn
cứ một cách toàn diện các tình tiết thể hiện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, hoàn cảnh người phạm tội để quyết định áp dụng hình phạt hay không, áp dụng hình phạt nào và thể hiện quyết định đó dưới hình thức một bản án có hiệu lực pháp luật Tuy vậy, Tòa án chỉ có thể quyết định những hình phạt được quy định trong BLHS mà không có quyền được thiết lập bất cứ hình phạt nào khác Đồng thời, mức độ hình phạt được Tòa án áp dụng phải trong khuôn khổ khung hình phạt nhất định do pháp luật quy định Việc áp dụng dưới mức khung hình phạt luật định chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ luật định (5)
Như vậy, hình phạt có những đặc trưng nhất định về tính chất cưỡng chế, về chủ thể áp dụng cũng như đối tượng áp dụng, nhằm phân biệt hình phạt với các biện pháp cưỡng chế khác của pháp luật
Trang 161.1.3 Mục đích của hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Mục đích của hình phạt được ghi nhận tại Điều 27 BLHS hiện hành như
sau: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ
trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”
Như vậy, mục đích quan trọng trước nhất của hình phạt là trừng trị người phạm tội, cũng như giáo dục, cải tạo họ, ngăn ngừa họ phạm tội mới Đây được gọi là mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt Bởi hình phạt trước hết là sự trừng phạt, sự lên án của Nhà nước, xã hội đối với người phạm tội bởi hành vi nguy hiểm của họ đã xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nội dung cơ bản của mục đích trừng trị này thể hiện ở việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền lợi nhất định đối với người phạm tội Trên thế giới
có không ít quan điểm cho rằng trừng trị là mục đích duy nhất của hình phạt hay còn gọi là “hình phạt tuyệt đối” Quan điểm này xuất phát từ nguyên tắc trừng trị, coi hình phạt là “sự trả thù của Nhà nước” đối với người phạm tội, gây ra sự đau đớn về tinh thần và thể xác cho người phạm tội, nhằm khôi phục lại các quyền bị xâm phạm Đề xướng quan điểm này chính là Immanuel Kant (1724 - 1804), sau
đó là Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831) (6) Tuy nhiên có thể thấy, nếu như hình phạt chỉ có mục đích là trừng phạt người phạm tội thì hình phạt đó chỉ đáp ứng được nhu cầu trước mắt là xác lập lại trật tự xã hội ngay tại thời điểm đó mà không có ý nghĩa cho việc duy trì và củng cố trật tự xã hội Bởi không có cơ sở nào có thể đảm bảo rằng không có sự tái phạm của người phạm tội sau khi chấp hành xong hình phạt Trong khi đó, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tội phạm là sự lệch lạc trong nhân cách và nhận thức của người phạm tội Vì vậy, chỉ khi hình phạt đưa ra đảm bảo mục đích “giáo dục, cải tạo người phạm tội thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa”, từ đó ngăn ngừa người phạm tội thì hình phạt mới thực sự hiệu quả và có ý nghĩa Chính vì vậy, mục đích giáo dục cải tạo và ngăn ngừa phạm tội mới được xem là mục đích cuối cùng và chủ yếu của hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam Nội dung của
(6)
Nguyễn Ngọc Hòa, Mục đích của hình phạt, Tạp chí Luật học số 01/1999
Trang 17sự giáo dục, cải tạo được thể hiện ở việc tạo điều kiện cơ hội và thời gian cho người phạm tội thay đổi nhận thức cũng như hành vi, có hoạt động đào tạo, giáo dục và rèn luyện tinh thần thể chất cho người phạm tội
Có thể thấy, hình phạt không phải là sự lên án, xử phạt đơn thuần mà là biện pháp đặc biệt để răn đe, giáo dục, cải tạo bằng biện pháp cưỡng chế Nhà nước nhằm hạn chế, tiến tới loại trừ điều kiện tái phạm của người bị kết án Như vậy, trong mục đích phòng ngừa riêng, việc trừng trị và cải tạo, giáo dục, phòng ngừa tội phạm luôn song song tồn tại và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau “Trừng trị
là mục đích nhưng đồng thời cũng là phương tiện để đạt mục đích cuối cùng và chủ yếu của hình phạt đối với người phạm tội là giáo dục và cải tạo họ”
Kế đến, hình phạt không chỉ có tác động trực tiếp đến bản thân người phạm tội bị áp dụng hình phạt đó mà còn ảnh hưởng lớn tới những thành viên khác trong xã hội Việc tuyên hình phạt và việc thực hiện phán quyết đó đúng đắn và nghiêm minh sẽ có tác dụng giúp những thành viên khác trong xã hội thấy trước được hậu quả pháp lý mà họ tất yếu phải gánh chịu nếu họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm Từ đó, tác động tới tâm lý của những người khác làm họ từ bỏ ý định phạm tội nếu có, lựa chọn lại hành vi xử sự phù hợp để tránh hành vi phạm tội Đồng thời, việc đưa ra bản án với quyết định về hình phạt và chấp hành nó trên thực tế được hợp lý, hợp tình, thể hiện nguyên tắc pháp chế sẽ giúp nâng cao tinh thần tôn trọng và tuân thủ pháp luật cho người dân cũng như đẩy mạnh tinh thần, khuyến khích người dân tham gia vào công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm Để đạt được mục đích này, Nhà nước cần phối hợp thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp kinh tế, xã hội, chính trị… đặc biệt cần đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật cũng như ý thức tuân thủ pháp luật của người dân
Như vậy, có thể thấy rằng mục đích phòng ngừa chung cũng như mục đích phòng ngừa riêng có mối quan hệ chặt chẽ, luôn song song tồn tại, là cơ sở quan trọng để đánh giá sự đúng đắn của hình phạt được áp dụng Để đảm bảo được giá trị cũng như mục đích của hình phạt do Nhà nước quy định đối với xã hội thì việc quyết định hình phạt cũng như công tác thực hiện, chấp hành hình phạt đã tuyên trên thực tế thực sự có ý nghĩa rất lớn
1.2 Tổng quan về miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Trang 18Hình phạt với tư cách là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước đóng một vai trò quan trọng đối với xã hội và người phạm tội, là một phần không thể thiếu trong pháp luật hình sự Tuy nhiên nhằm thực hiện tốt nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự nước ta, đồng thời đảm bảo mục đích phòng ngừa của hình phạt đối với xã hội và người phạm tội, BLHS nước ta hiện hành quy định một hệ thống các biện pháp tha miễn đối với người phạm tội Các chế định trong hệ thống này bao gồm các chế định: Chế định miễn trách nhiệm hình sự, chế định miễn hình phạt, chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, chế định hoãn và tạm đình chỉ thi hành hình phạt Trong đó chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt là một trong các chế định quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt thiết thực đối với người phạm tội bị kết án Như vậy khái niệm, đặc điểm, sự hình thành, ý nghĩa của chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt đối với người phạm tội như thế nào Những vấn đề này là mục tiêu người viết mong muốn làm rõ sau đây
1.2.1 Khái niệm miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam hiện hành
Về mặt lý luận, pháp luật hình sự Việt Nam đến nay vẫn chưa có một văn bản nào trong hệ thống pháp luật hình sự nước ta đưa ra khái niệm chính thức về miễn chấp hành và giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Mặc khác, trong pháp luật hình sự Việt Nam thì hai chế định về miễn hình phạt và chế định miễn chấp hành hình phạt thường nhầm lẫn và khó phân biệt trong lý luận hình sự lẫn thực tiễn áp dụng
Theo đó, miễn hình phạt là việc Tòa án không quyết định hình phạt trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tội Hay nói cách khác là không áp dụng đối với người này biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất khi có đầy đủ các điều kiện được quy định trong pháp luật hình sự được quy định cụ thể
tại Điều 54 BLHS năm 1999 với căn cứ “trong trường hợp phạm tội có nhiều
tình tiết giảm nhẹ do luật định tại khoản 1 Điều 46” và điều kiện là “đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự” Như
vậy việc miễn hình phạt của Tòa án có thể áp dụng đối với hình phạt chính và hình phạt bổ sung Ngoài ra, đối với trường hợp được miễn hình phạt, người phạm tội vẫn có án tích nhưng án tích này được xóa ngay khi bản án, quyết định của Tòa án về việc miễn hình phạt có hiệu lực pháp luật
Trang 19Ngược lại, miễn chấp hành hình phạt là việc Tòa án quyết định hình phạt nhất định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi phạm tội, nhưng không buộc người này phải chấp hành toàn bộ hình phạt ấy khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định Mặc dù người phạm tội chưa chấp hành hoặc đang được tạm hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hoặc đang chấp hành hình phạt đã tuyên nhưng khi
có các căn cứ và điều kiện phát sinh phù hợp và đầy đủ theo quy định của BLHS hiện hành, người phạm tội có thể được xét miễn chấp hành hình phạt như một sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội Người được miễn chấp hành hình phạt tuy không phải bị cưỡng chế buộc thi hành hình phạt nhưng vẫn phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi về án tích trong thời hạn nhất định do BLHS hiện hành quy định Án tích đối với người được miễn chấp hành hình phạt được tính
từ khi quyết định, bản án của Tòa án về việc miễn chấp hành hình phạt đối với người phạm tội có hiệu lực pháp luật (7) Việc có tồn tại án tích hay không, án tích được xóa tại thời điểm nào thực sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với người phạm tội Bởi chỉ khi án tích được xóa, người thực hiện hành vi phạm tội mới được xem như chưa bị kết án và được Tòa án cấp giấy chứng nhận Hay nói cách khác,
về mặt pháp lý người phạm tội lúc này mới thực sự trở lại là một công dân của xã hội, hành vi nguy hiểm cho xã hội do họ thực hiện được xem như không tồn tại nữa
Ngoài ra, tại Điều 58, Điều 59 BLHS năm 1999 còn đề cập đến chế định giảm mức hình phạt đã tuyên và giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt Bản chất của việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt là việc Tòa án
đã tuyên mức hình phạt nhất định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tội Nhưng sau đó, khi họ đã chấp hành hình phạt đó một thời gian thì được giảm một phần thời gian hình phạt còn lại phải chấp hành (đối với phạt tù và cải tạo không giam giữ) hoặc miễn chấp hành phần hình phạt còn lại (đối với hình phạt tiền) do họ đáp ứng được đầy đủ các căn cứ và những điều kiện được quy định trong BLHS hiện hành
Tóm lại, khái niệm về miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt
có thể được hiểu như sau:
(7)
Khoản 4 Điều 67 BLHS năm 1999
Trang 20Miễn chấp hành hình phạt là không buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với họ khi có đầy đủ các điều kiện và căn cứ theo quy định của BLHS
Giảm thời hạn chấp hành hình phạt đã tuyên là việc Tòa án quyết định giảm một phần hình phạt đối với người bị kết án trong quá trình chấp hành hình phạt bằng quyết định của Tòa án khi có đầy đủ các điều kiện theo quy định của BLHS
1.2.2 Đặc điểm của chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Xuất phát từ sự tồn tại của chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt bên cạnh các chế định khác trong hệ thống các biện pháp tha bổng, khái niệm miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt đã phân tích cùng với các quy định của BLHS, chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt có các đặc điểm như sau:
Thứ nhất, Miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt là một trong
những hình thức tha bổng mang tính nhân đạo của Nhà nước đối với người bị kết
án bằng bản án có hiệu lực pháp luật
Việc miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự như những giá trị cao quý nhất Khi người phạm tội bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật, họ chắc chắn phải thực hiện hình phạt kèm theo dưới sự giám sát, đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hình phạt, người phạm tội được Nhà nước xem xét về những điều kiện cụ thể để có thể được thôi không chấp hành toàn bộ phần hình phạt chưa chấp hành hoặc phần hình phạt còn lại hoặc được giảm bớt một phần của hình phạt Qua đó, Nhà nước thể hiện
sự quan tâm đến việc cải tạo, giáo dục người phạm tội, khuyến khích họ sửa chữa những sai lầm nhằm tránh khỏi con đường phạm tội trở về với cuộc sống lương thiện, với gia đình và sớm hòa nhập lại với cộng đồng Khác với các chế định khác, chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật hình sự ở giai đoạn người phạm tội phải chấp hành hình phạt Xét cho cùng, trong suốt các giai đoạn tố tụng và sau đó, người phạm tội có nhiều cơ hội được hưởng sự khoan hồng của pháp luật hình sự ở nhiều mức độ khác nhau
Trang 21Thứ hai, miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong Luật
hình sự phải do cơ quan tiến hành tố tụng, chủ thể có thẩm quyền quyết định áp dụng
Tùy từng trường hợp cụ thể, việc miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt có thể do kiến nghị từ Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án để Tòa án quyết định hoặc theo quyết định của Chủ tịch nước Ngoài thẩm quyền quyết định của các cơ quan, chủ thể được luật quy định, không một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được quyền quyết định việc miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt Và một điều chắc chắn rằng các quyết định không đúng thẩm quyền,
dù tồn tại cũng không được xem là có hiệu lực pháp luật để được thi hành
Thứ ba, miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt chỉ được phép
áp dụng khi có đầy đủ các căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định
Các căn cứ và điều kiện cụ thể để quyết định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt đó là các quy định về chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong BLHS hiện hành và các văn bản pháp luật hình sự khác có liên quan Người phạm tội phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật hình sự đặt ra để được xem xét áp dụng Các căn cứ và điều kiện này được xem xét bởi cơ quan áp dụng pháp luật hình sự một cách chặt chẽ và có hệ thống để đảm bảo nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự kết hợp hài hòa với nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự
Thứ tư, chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt chỉ
được áp dụng trong một số trường hợp nhất định đối với người phạm tội
Cần khẳng định rằng chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt không phải trong bất kỳ trường hợp nào cũng được áp dụng đối với người phạm tội Ngoài việc đáp ứng các điều kiện về miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt do luật định, người phạm tội muốn được áp dụng chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt còn phải được các cơ quan có thẩm quyền đánh giá là việc miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt của họ không ảnh hưởng đến chế độ chính trị và trật tự, an toàn xã hội, phù hợp với tình hình tội phạm diễn ra trên thực tế, hoàn cảnh xã hội, …
Trang 221.2.3 Cơ sở thực tiễn hình thành chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Như chúng ta đã biết, tình hình tội phạm không phải là hiện tượng bất biến trong xã hội Nó có thể thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của các hình thái kinh
tế xã hội khác nhau trong lịch sử, và ngay trong cùng một hình thái kinh tế xã hội nếu có sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ cấu giai cấp thì tình hình tội phạm cũng có sự thay đổi “Những năm gần đây, mỗi năm phát hiện trung bình trên 70 ngàn vụ phạm tội các loại, trong đó khoảng 50 ngàn vụ phạm tội về trật tự xã hội, trên 10 ngàn vụ phạm tội về kinh tế và gần 10 ngàn vụ phạm tội về
ma tuý So với các nước trên thế giới và trong khu vực thì tình hình tội phạm ở Việt Nam chỉ ở mức trung bình thấp, nhưng tính chất phức tạp Đáng lưu ý, tỷ lệ tội phạm ẩn ở nước ta cao, đặc biệt là trong lĩnh vực tội phạm về kinh tế, ma tuý Tội phạm tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã, thị trấn chiếm 70% Các tuyến, địa bàn tội phạm xảy ra nhiều: năm thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ chiếm 25% - 30% tổng số vụ phạm tội trên toàn quốc hàng năm; các tuyến Hà Nội và các tỉnh Đông Bắc như: Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang…, thành phố Hồ Chí Minh – các tỉnh miền Đông Nam Bộ như: Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu…, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như: An Giang, Kiên Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Tiền Giang…, các tỉnh miền Trung - Nam Trung Bộ và Tây Nguyên như: Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hoà, Bình Định…” (8)
Theo sự phát triển vượt bậc của xã hội và nền kinh tế thị trường hiện nay, tội phạm trong xã hội cũng tăng đột biến cả về lượng lẫn về chất Đây vẫn luôn là vấn đề nan giải cho công tác đấu tranh, phòng, chống và tiến tới loại trừ tội phạm
ở nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Trên thực tế, tội phạm được chia thành nhiều loại khác nhau, mỗi loại tội phạm lại được phân hóa thành nhiều tội phạm khác nhau, mỗi tội phạm thực hiện lại mang tính chất
và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội khác nhau Nhằm đảm bảo được trật
tự xã hội, đảm bảo tính công bằng đối với từng đối tượng phạm tội, duy trì tính
ổn định và bền vững của Nhà nước nhất thiết phải có một ngành Luật hình sự chặt chẽ, chế định hình sự chi tiết và hợp lý với thực tiễn để điều chỉnh đối tượng phạm tội Đây chính là cơ sở đầu tiên mà thực tiễn đặt ra đối với ngành Luật hình
sự nói chung và đối với chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình
(8)
http://www.hoilhpn.org.vn/NewsDetail.asp?Catid=204&NewsId=9625&lang=VN
Trang 23phạt nói riêng hình thành và phát triển Thực tiễn luôn là thước đo giá trị của một văn bản luật một cách đúng đắn, nó luôn phản ánh thực sự rõ nét mức độ hợp lý cũng như khả thi của một văn bản luật Mặc khác bất kỳ một ngành luật, một văn bản luật nào kể cả BLHS đều phải thay đổi theo sự phát triển của xã hội, theo yêu cầu của thực tiễn để hoàn thiện hơn và trở thành điều kiện cho xã hội phát triển
ổn định trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước Nếu không, nó sẽ trở thành yếu
tố gò bó, cản trở hình thái xã hội phát triển theo quy luật Bằng việc áp dụng chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt một cách đúng đắn, Nhà nước giảm mức hình phạt hoặc trả tự do cho những đối tượng xứng đáng được sớm trở về với xã hội, phấn đấu làm lại từ đầu, trở thành người lương thiện, đồng thời làm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước một cách hợp lý
Về mặt lý luận, ngành Luật hình sự nước ta được xây dựng dựa trên nhiều nguyên tắc cơ bản làm kim chỉ nam, hướng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự Các nguyên tắc này được quy định chính thức lần đầu tiên tại Điều 3 BLHS năm 1985 và được kế thừa nguyên vẹn trong BLHS năm 1999 và được sửa đổi, bổ sung năm
2009 Tuy nhiên việc xây dựng chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt chủ yếu dựa trên nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc công bằng và nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình
sự Việt Nam
Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong luật hình sự Việt Nam, nguyên
tắc này được thể hiện rõ nét qua chính sách hình sự của Nhà nước ta Trong Luật
hình sự Việt nam, nguyên tắc nhân đạo được thể hiện thông qua việc quy định nhiệm vụ của Luật hình sự, quy định cơ sở của trách nhiêm hình sự, quy định tội phạm và các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội, quy định hình phạt mà còn xuyên suốt toàn bộ hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các
cơ quan tiến hành tố tụng
Việc áp dụng hình phạt trong Luật hình sự không chỉ nhằm mục đích trừng trị, mà còn nhằm mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội thành người có ích cho xã hội Các hình phạt trong BLHS không nhằm gây đau đớn thể xác, hạ thấp nhân phẩm người phạm tội Tính nhân đạo của chính sách hình sự nước ta không chỉ thể hiện cụ thể ở việc áp dụng hình phạt mà còn thể hiện rõ nét ở chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội Nhiều chế định được đặt ra với mục đích khoan hồng cho những người biết ăn năn, hối cải, lập công chuộc
Trang 24tội,… Các chế định như miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, và các chế định mang tính chất nhân đạo khác đối với người phạm tội đã thể hiện rõ nét chính sách nhân đạo xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta Tuy nhiên nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các nguyên tắc, Nhà nước ta đặt ra các quy định về điều kiện cụ thể để người phạm tội được xem xét khoan hồng, đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, nhanh chóng và khách quan
Nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự Việt Nam, nguyên tắc công
bằng được tuân thủ triệt để trong Luật hình sự Mọi người bất kể địa vị xã hội, giới tính, tôn giáo, dân tộc đều được bình đẳng trước pháp luật Tuy nhiên tính công bằng phải tính đến các yếu tố khác để đảm bảo việc áp dụng pháp luật hình
sự được hợp lý, hợp tình Việc áp dụng hình phạt phải được đánh giá khách quan, tổng thể đối với hành vi do người phạm tội gây ra và mức độ nguy hiểm của hành
vi đó đối với xã hội Vì vậy mà BLHS tồn tại các chế định về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trong Luật hình sự, hay các chế định về miễn trách nhiệm hình
sự, miễn hình phạt, miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt với những điều kiện nhất định Bởi nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự không có nghĩa là một người được xem xét khoan hồng thì mọi người khác phải được xem xét khoan hồng như nhau Công bằng trên sự bảo đảm hợp lý, hợp tình
và hợp pháp là yêu cầu đối với công tác áp dụng pháp luật hình sự
Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, theo đó phân hóa trách nhiệm
hình sự được hiểu là tạo ra các quy phạm pháp luật hình sự thể hiện đường lối xử
lý có phân biệt của Nhà nước đối với những loại tội phạm, những trường hợp phạm tội có sự khác biệt nhất định Nguyên tắc này đòi hỏi phải được nhà làm luật sử dụng như một nguyên tắc cơ bản khi thực hiện hoạt động xây dựng pháp luật hình sự
Trong đời sống thực tiễn, các hành vi phạm tội được thực hiện rất phong phú, đa dạng và đòi hỏi phải có những hình thức xử lý khác nhau nhằm đạt được mục đích bảo vệ các quan hệ xã hội, giáo dục người phạm tội Thực trạng đó đòi hỏi nhà làm luật phải dự liệu được một cách cơ bản về sự khác biệt giữa các trường hợp phạm tội có thể xảy ra trong thực tiễn và quy định chúng theo một
“liều lượng” cụ thể, hợp lý Mức độ phân hóa trong đường lối xử lý mà nhà làm luật quy định đòi hỏi phải tương ứng với sự đa dạng, phức tạp của các hành vi phạm tội được thực hiện trong thực tiễn, sao cho các quy phạm pháp luật có thể
Trang 25là cơ sở pháp lý để xác định đúng đắn và phù hợp cho mỗi trường hợp riêng biệt Các chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt cũng được xây dựng trên khuôn khổ của nguyên tắc này Các trường hợp được miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt do nhà làm luật dự trù dựa vào tính chất của việc miễn, giảm, các điều kiện cụ thể để được xem xét sao cho phù hợp với thực tiễn, tạo cơ sở cho việc quyết định áp dụng được đúng đắn, hợp lý đối với từng người phạm tội trong từng trường hợp cụ thể Như vậy, người phạm tội sẽ được xem xét miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt dựa vào những căn
cứ, những điều kiện cụ thể khác nhau theo quy định của pháp luật hình sự
Có thể thấy, chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt ra đời trên cơ sở những yêu cầu bức thiết của thực tiễn Như một điều tất yếu, chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tồn tại nhằm đảm bảo tính hợp lý, hợp tình trong quy định pháp luật hình sự, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng cũng như mục đích của hình phạt đối với người phạm tội
Trong xã hội Phong Kiến, thì Bộ luật Hồng Đức là một trong những di chỉ
khảo cổ khá toàn vẹn, thực sự quý giá và có ý nghĩa đặc biệt cho việc nghiên cứu Nhà nước và pháp luật nói chung, việc nghiên cứu pháp luật hình sự nói riêng
Bộ luật Hồng Đức ghi nhận nhiều biện pháp tha miễn như nền tảng sơ khai của chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt sau này Ngoài các trường hợp xuất phát từ ý chí chủ quan của nhà vua vốn là hệ quả mặc nhiên của chế độ quân chủ phong kiến, còn tồn tại chế định ân giảm do nhà vua quyết định
áp dụng trong những trường hợp đặc biệt như “người phạm tội từ 80 tuổi trở lên,
10 tuổi trở xuống và những kẻ bệnh nặng là những ác tật như điên cuồng, tay chân bại liệt, mù hai mắt phạm tội phản nghịch, giết người, đáng lẽ phải xử tử thì trong trường hợp này phải tâu lên vua quyết định” Mặc khác thì Bộ luật
Trang 26Hồng Đức còn ghi nhận việc miễn chấp hành, giảm chấp hành hình phạt tiền đối
với phạm nhân “Nếu thuộc trường hợp phải nộp tiền ứng với tang vật bị tịch thu
nhưng tội nhân nghèo khổ cùng cực không nộp nổi thì thuộc lại được phép trình bản ty, để nơi đây tâu lên vua định đoạt” Trong Bộ luật Hồng Đức còn tồn tại
một quy định đặc biệt về việc giảm mức nghiêm khắc của hình phạt trong một số
tội cụ thể “những người phạm tội từ 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống và những
kẻ phế tật (tức những kẻ si, câm, cơ thể què quặt, gãy tay chân) phạm tội lưu, đồ
Mặc dù còn phụ thuộc vào ý chí, sự quyết định của Nhà vua và các quan lại phong kiến để được miễn chấp hành hình phạt tử hình, hay giảm mức hình phạt nhưng quy định này thực sự là một cơ hội đối với người phạm tội Điều này thể hiện tính nhân đạo rất lớn trong pháp luật hình sự thời tiền Lê, tiêu biểu là trong
Bộ luật Hồng Đức mà không phải Luật hình sự thời nào trong xã hội phong kiến cũng có được
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước 1985, do hoàn cảnh lịch sử
đặc biệt, Luật hình sự nước ta còn khá mới mẻ và chủ yếu chú trọng đến những tội danh liên quan đến chính trị, an ninh quốc gia Các hình thức miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt thời kỳ này chỉ thể hiện tập trung ở hình thức
án treo và việc ân giảm, ân xá nhân các ngày lễ lớn của đất nước Sắc lệnh số
33/C/SL ngày 13/9/1945, tại Điều IV quy định: “Nếu có những lý do chính đáng
khoan hồng vì ít tuổi, vì biết hối cải, vì lầm lẫn, thì Tòa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo Nghĩa là bản án làm tội tuyên lên, nhưng không thi hành; Nếu trong năm năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị Tòa án quân sự làm tội mới một lần nữa về việc mới thì bản án đã tuyên sẽ bị hủy đi, coi như là không có; Nếu trong hạn năm năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước Tòa
án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành” Hoặc theo Sắc lệnh số 148/SL ngày
10/8/1946 quy định về việc “Xét nhân dịp nhất chủ niên cuộc cách mệnh tháng tám nay ra ân cho các phạm nhân đã bị kết án nhất định;” chủ yếu là án tù khổ sai, tịch biên gia sản đối với một số tội nhất định được giảm một phần thời hạn chấp hành hình phạt, hoặc được giảm một phần tài sản không bị tịch thu để sinh sống theo điều kiện và quy định cụ thể của Sắc lệnh Cụ thể như tại Điều thứ nhất
quy định “Những người bị Tòa án quân sự xử phạt tù hay khổ sai trước ngày ký
sắc lệnh này đều được giảm một phần ba thời hạn …” hoặc “Những người bị
(9)
Điều 16 Bộ luật Hồng Đức
Trang 27Tòa án quân sự xử tịch biên tất cả gia sản thì nếu có vợ hoặc con vị thành niên, hoặc bố mẹ, ông bà phải phụng dưỡng thì chỉ tịch biên ba phần tư thôi Trừ khi nào việc phát mại đã thi hành xong và tiền phát mại đã xung vào công quỹ trước ngày ký sắc lệnh” Trong giai đoạn chưa có quy định cụ thể về cấu thành tội
phạm của các tội danh được nêu trong sắc lệnh, như vậy nếu người bị Tòa án quân sự xử tịch biên gia sản chung sống chung với gia đình, tài sản chung tồn tại giữa họ vẫn có thể bị tịch biên, không kể tài sản đó có do hành vi phạm pháp của
họ mà có hay không Hoặc trong trường hợp mặc dù có vợ hoặc con vị thành niên, hoặc bố mẹ, ông bà phải phụng dưỡng nhưng tài sản bị tịch biên và việc phát mại đã thực hiện xong, tiền phát mại đã được xử lý thì không có việc hoàn trả lại một phần tài sản để thực hiện việc phụng dưỡng, đảm bảo cuộc sống của những người này Các quy định này vẫn còn nhiều điểm thiếu sót, chưa hợp lý, chưa đảm bảo được nguyên tắc cá thể hóa trong pháp luật hình sự như hiện nay Mặc khác cơ quan ban hành cũng chưa có một giải thích chính thức nào về bản chất miễn chấp hành hình phạt của án treo và quyết định ân xá đối với người phạm tội
Với hai hình thức thể hiện là án treo và quyết định ân xá, ân giảm, tuy thể hiện được phần nào tính nhân đạo của chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt nhưng do yếu tố lịch sử ảnh hưởng đến quá trình lập pháp, cũng như mục đích của hình phạt và mục đích của quyết định tha miễn việc chấp hành hình phạt trong giai đoạn này Người viết nhận thấy rằng việc xây dựng các chế định này đôi khi chưa được khách quan và chưa đảm bảo tính công bằng cần
có của pháp luật hình sự
Từ khi BLHS 1985 ra đời, chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp
hành hình phạt lần đầu đã được đề cập đến trong một văn bản luật do Quốc hội,
cơ quan quyền lực cao nhất ban hành Tuy nhiên chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong BLHS năm 1985, thông qua tại kỳ họp khóa VII, ngày 27/6/1985 có hiệu lực ngày 01/01/1986 chưa được quy định thành một chương riêng biệt và chi tiết Việc sắp xếp các điều luật về chế định này trong BLHS năm 1985 còn có nhiều điểm chưa hợp lý Chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt được quy đinh tại chương VI về “Việc quyết định hình phạt, miễn và giảm hình phạt” BLHS năm 1985 Kết cấu của chương làm cho người đọc nhầm lẫn rằng chế định miễn, giảm hình phạt bao hàm cả chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, trong khi chế định miễn
Trang 28chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt cần thiết phải phân biệt với chế định miễn hình phạt trong cả lý luận và việc áp dụng BLHS Ngoài ra quy định miễn chấp hành hình phạt chỉ được đề cập chung nhất trong một điều luật về
“Giảm thời hạn và miễn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt” mặc dù hai khái niệm này hoàn toàn khác biệt
Trong BLHS năm 1985 tại Điều 44 chương VI có đề cập đến án treo, án
treo chỉ được áp dụng đối với người phạm tội bị kết án tù dưới năm năm và thỏa
các điều kiện được quy định trong BLHS năm 1985 “Khi xử phạt tù không quá
năm năm, căn cứ vào thân nhân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Toà án cho hưởng án treo
và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm”
Theo công văn số 36/NCLP ngày 30/4/1992 của Tòa án nhân dân (TAND) tối cao giải thích về án treo thì pháp luật hình sự nước ta từ trước đến nay chưa bao giờ xem án treo là một loại hình phạt Bởi vì án treo không phải là một trong
14 hình phạt được liệt kê tại Điều 20 BLHS năm 1985
Mặc khác, theo Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18/10/1990, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao đã định nghĩa về án treo như sau : “Án treo là miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, tức là căn cứ vào nhân thân của người bị kết án và tình tiết giảm nhẹ, Tòa án sẽ miễn cho người bị kết án không phải chấp hành hình phạt nếu trong thời gian thử thách, người đó không phạm tội mới” Như vậy theo định nghĩa của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao thì án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện
Mặc khác tại Điều 46 BLHS năm 1985 cũng quy định về việc miễn chấp hành hình phạt trong trường hợp hết thời hiệu thi hành bản án:
“1- Không buộc người bị kết án phải chấp hành bản án, nếu tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đã qua những thời hạn sau đây:
a) Năm năm đối với các trường hợp xử phạt từ năm năm tù trở xuống;
b) Mười năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên năm năm đến mười lăm năm;
c) Mười lăm năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên mười lăm năm đến hai mươi năm”
Trang 29Nếu trong trường hợp nói trên người bị kết án lại phạm tội mới và bị xử phạt tù thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu tính lại kể từ ngày phạm tội mới Trong thời hạn nói trên, nếu người bị kết án cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính, thời hiệu tính lại kể từ ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ
Đối với những trường hợp nói ở các điểm a và b khoản 1 đã nêu, nếu bị kết
án về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia và đối với những trường hợp nói ở điểm c khoản 1 Điều này không kể về tội gì, nếu có lý do đặc biệt, thì Toà án nhân dân tối cao, theo kết luận của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, có thể quyết định không áp dụng thời hiệu Việc áp dụng thời hiệu đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, sau khi qua thời hạn mười lăm năm, sẽ
do Toà nhân dân tối cao quyết định theo kết luận của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trong trường hợp không cho áp dụng thời hiệu thì tử hình sẽ đổi thành tù chung thân, tù chung thân sẽ đổi thành tù hai mươi năm
Như vậy trường hợp được miễn chấp hành hình phạt do hết thời hiệu thi hành bản án chỉ được áp dụng một cách mặc nhiên đối với người phạm tội bị phạt tù từ mười lăm năm trở xuống, đồng thời không phải là tội phạm đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia Đối với trường hợp phạm tội bị phạt tù
từ mười lăm năm trở lên, hoặc là tội phạm đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì cần phải có kết luận của Viện kiểm sát nhân dân tối cao để TAND tối cao có cơ sở để quyết định Trong trường hợp không cho áp dụng thời hiệu thì nếu là hình phạt tử hình sẽ đổi thành tù chung thân, tù chung thân sẽ đổi thành tù hai mươi năm Tuy nhiên BLHS năm 1985 không định nghĩa thế nào là phạm tội đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, nên việc vận dụng trường hợp “tội phạm đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia” khá khó khăn và phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người áp dụng pháp luật BLHS năm 1985 quy định rằng việc miễn chấp hành hình phạt do hết thời hiệu thi hành bản án không áp dụng đối với “Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh” được quy định tại chương XII của Bộ luật
Ngoài ra, BLHS năm 1985 còn có các quy định cụ thể về miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt như: Giảm thời hạn chấp hành hình phạt chính; giảm thời hạn chấp hành hình phạt bổ sung; giảm thời hạn, miễn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt (10) Mặc dù vẫn tồn tại những hạn chế
(10)
Điều 49, Điều 50, Điều 51 BLHS năm 1985
Trang 30nhất định nhưng sự ra đời của BLHS năm 1985 là một tiến bộ đáng kể về mặt xây dựng pháp luật hình sự của nước ta kể từ sau cách mạng tháng Tám năm
1945
Ngày 21/12/1999 tại kì họp thứ 6 Quốc hội khóa X nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLHS mới thay thế BLHS năm 1985 và các luật sửa đổi bổ sung trước đó, BLHS năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01/7/2000 Chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt được quy định trong BLHS năm 1999 có sự khác biệt nhất định về mặt hình thức, khắc phục được những thiếu sót mà BLHS năm 1985 mắc phải Chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt được quy định thành một chương riêng, Chương VIII “Thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt” Dựa trên nền tảng của BLHS năm 1985, BLHS năm
1999 tiếp tục phát triển các quy định về thời hiệu thi hành bản án, theo đó người phạm tội bị kết án sẽ được miễn chấp hành hình phạt khi hết thời hiệu thi hành bản án theo quy định cụ thể của điều luật, hoặc quy định về án treo Các quy định
về chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong BLHS năm
1999 có nhiều điểm thay đổi khác biệt về mặt nội dung so với các quy định của BLHS năm 1985 Mặc khác quy định về miễn chấp hành hình phạt được quy định cụ thể tại một điều luật riêng biệt và chi tiết hơn (Điều 57 BLHS năm 1999), cách phân chia các trường hợp được giảm thời hạn chấp hành hình phạt cũng có
sự thay đổi chỉ gồm hai điều luật là: Giảm mức hình phạt đã tuyên và giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt Sự ra đời của BLHS năm
1999 sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1985 như một bước tiến mới trong hệ thống pháp luật hình sự, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vừa qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19/6/2009 đã sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc thay thế một số điều, khoản, cụm từ của BLHS năm
1999 Tuy nhiên các quy định về chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt không có gì thay đổi, lần sửa đổi này chủ yếu tập trung sửa đổi,
bổ sung các điều, khoản, cụm từ ở phần các tội phạm của BLHS năm 1999
1.2.5 Ý nghĩa của việc miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Sự ra đời khá sớm của chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt thực sự mang lại ý nghĩa rất lớn đối với người phạm tội và xã hội Bên
Trang 31cạnh việc thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc đối với người phạm tội bằng việc cho họ nhận thêm cơ hội hoàn lương, sớm trở lại với gia đình và cộng đồng, Nhà nước còn đảm bảo được hiệu quả áp dụng của hình phạt đối với người phạm tội
và xã hội
Thứ nhất, chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt là
chế định phản ánh rõ chính sách nhân đạo trong pháp luật hình sự của Việt Nam Nhà nước ta đã khẳng định phương châm trong đường lối xử lý tội phạm với
người phạm tội là “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “nghiêm trị người chủ
mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm…” nhưng phải “khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra” (khoản 2 Điều 3 BLHS) “Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục”
(khoản 3 Điều 3 BLHS) Vì vậy, bên cạnh việc quy định những hình phạt có mức
độ răn đe cao, với việc ghi nhận chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, Nhà nước ta đã mở một con đường nhân đạo, thể hiện sự khoan hồng với những người phạm tội với tính chất nguy hiểm không cao, có sự hối cải…, tạo cơ hội cho họ không bị cách ly ra khỏi xã hội và giúp họ sớm “hoàn lương”, khuyến khích họ sớm thích nghi với các yêu cầu của trật tự pháp luật, phấn đấu lập công chuộc tội, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội
Thứ hai, chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt là
một trong những chế định được xây dựng nhằm đảm bảo hiệu quả của hình phạt Như chúng ta đã biết, hình phạt là hậu quả pháp lý tất yếu của tội phạm Nó thể hiện sự trừng trị của Nhà nước và xã hội đối với người có hành vi phạm tội Một hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm đòi hỏi phải quy định những loại hình phạt và mức hình phạt tương xứng cho hành vi đó Từ đó, để thấy rằng, áp dụng hình phạt là rất phổ biến của Luật hình sự và chỉ có áp dụng hình phạt mới thấy hết được sự cưỡng chế của Nhà nước đối với hành vi có tính nguy hiểm cao như tội phạm
Vậy việc ghi nhận chế định miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt có được coi là đi ngược lại “nguyên tắc hình phạt” của Luật hình sự hay không? Câu trả lời là không, bởi việc áp dụng một loại hình phạt nào đó với một tội phạm là thực sự cần thiết nhưng hiệu quả của hình phạt đó có đạt được trên
Trang 32thực tế hay không lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố Hình phạt đạt được hiệu quả khi trước hết nó phải đạt được những mục đích của hình phạt Đó không chỉ là mục đích trừng trị người phạm tội mà còn là giáo dục cải tạo người phạm tội, ngăn ngừa tội phạm mới Như vậy, nếu hình phạt đưa ra là không thỏa đáng, tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì lúc đó, hình phạt không những không đạt được mục đích của hình phạt mà còn đi ngược lại mục đích của hình phạt, bởi mục đích trừng trị người phạm tội được thực hiện nhưng mục đích giáo dục, cải tạo và ngăn ngừa tội phạm mới sẽ không hoàn thành Trong khi đó, miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt với ý nghĩa là
sự khoan hồng của Nhà nước có tác dụng rất lớn đối với tâm lý của người phạm tội đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước với các biện pháp tác động xã hội khác nên miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt có ý nghĩa lớn trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, giúp họ trở thành công dân có ích cho xã hội
Hơn nữa, “Hình phạt không có hiệu quả nếu không đạt được mục đích đặt
ra nhưng hiệu quả hình phạt cũng không cao khi mặc dù mục đích đặt ra đã được thực hiện nhưng hiệu quả tiêu cực lại trở thành yếu tố quan trọng hơn so với mục đích đạt được” (11) Điều đó có nghĩa là hiệu quả hình phạt còn được thể hiện ở dấu hiệu tiết kiệm biện pháp cưỡng chế Hiệu quả hình phạt chỉ đạt được khi mục đích hình phạt đạt được phải tương xứng với hậu quả của hình phạt đó Không thể áp dụng hình phạt ở mức quá nghiêm khắc đối với một hành vi ít nguy hiểm cho xã hội hoặc ngược lại Mặc khác, trong quá trình người phạm tội chấp hành hình phạt luôn có những điều kiện khách quan hoặc chủ quan phát sinh từ phía người phạm tội có thể làm loại trừ tính nguy hiểm của họ đối với xã hội Như vậy, khi mà hình phạt đặt ra trong một số trường hợp mà việc chấp hành hình phạt đó có hay không thì hiệu quả của hình phạt cũng không đạt được, hoặc việc tiếp tục áp dụng hình phạt không có ý nghĩa nữa thì việc miễn chấp hành, giảm thời hạn chấp hành hình phạt theo điều kiện luật định trong trường hợp đó là cần thiết
Như vậy, miễn chấp hành, giảm chấp hành hình phạt là chế định quan trọng trong pháp luật hình sự, xuất phát không chỉ từ bản chất, hiệu quả của việc áp
(11)
Trần Văn Độ, Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,
1995, tr 92 – 93
Trang 33dụng biện pháp cưỡng chế của Luật hình sự mà còn bởi chính quan điểm, chính sách hình sự của từng quốc gia
Trang 34CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ MIỄN CHẤP HÀNH, GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT
Về nguyên tắc mọi hình phạt sau khi đã tuyên bằng bản án có hiệu lực phải được thi hành một cách nghiêm chỉnh Dù vậy, thực tế có những bản án do những nguyên nhân nhất định như Tòa án quên ra quyết định thi hành án, hoặc do cơ quan thi hành án quên thi hành án, hoặc do bản án bị thất lạc…, nên hình phạt không được thi hành Thực tế, chính các cơ quan tiến hành tố tụng phải từng thừa nhận “Tuy nhiên, trong thực tế, cũng có một số trường hợp do thiếu sót của các
cơ quan thi hành án, có một số bản án bị bỏ quên hoặc bị thất lạc, không được thi hành Nếu trong một thời gian dài, người bị kết án đã làm ăn lương thiện, không phạm tội mới, không trốn tránh pháp luật, thì không cần thiết phải bắt họ thi hành bản án nữa Vì vậy, pháp luật quy định thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn bản án có hiệu lực thi hành, hết thời hạn đó, nếu chưa thi hành thì không được thi hành nữa” (12)
Về mặt xã hội và tâm lý tội phạm, trong suốt thời gian chờ thi hành án, người bị áp dụng hình phạt vẫn phải chờ đợi để được thi hành và tự mình cải tạo trở thành người tốt, sống có ích cho xã hội, không phạm tội mới, không có ý thức lẩn tránh pháp luật thì không cần buộc người bị áp dụng hình phạt phải chấp hành hình phạt nữa Ở phương diện khác, để đảm bảo mục đích hình phạt phải được áp dụng chẳng những tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà còn phải được thi hành đúng lúc Đứng ở góc độ các cơ quan thi hành
án, dù được Nhà nước trao quyền có thể dùng các biện pháp cưỡng chế cần thiết
để bảo đảm thi hành hình phạt nhưng nếu thiếu trách nhiệm dẫn đến việc người
bị kết án phải chờ đợi mà không được thi hành thì không còn quyền buộc người
(12)
Thông tư liên tịch số 04/TTLN ngày 26/12/1986 của TANDTC, VKSNDTC, BTP, BNV hướng dẫn việc áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự năm 1985
Trang 35kết án phải thi hành nữa Trên các cơ sở đó, “Thời hiệu thi hành bản án hình sự
là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên”
Mặc dù cho đến nay, cả về mặt lập pháp, lý luận và thực tiễn đều chưa có
sự xác nhận chính thức việc không buộc một người chấp hành bản án hình sự đã
có hiệu lực pháp luật là miễn chấp hành bản án hay miễn chấp hành hình phạt Tuy nhiên, một bản án kết tội buộc một người chấp hành thì luôn kèm theo hình phạt Nếu bản án không có hình phạt thì về mặt hình sự, người bị kết án không có
gì phải chấp hành Cho nên có thể khẳng định, việc không buộc một người phải chấp hành bản án hình sự do hết thời hiệu thi hành bản án thực chất là không buộc họ phải chấp hành hình phạt đã tuyên Điều này đồng nghĩa với việc miễn chấp hành hình phạt cho người bị kết án Tuy nhiên, đây là một dạng miễn chấp hành hình phạt một cách đương nhiên, không giống các trường hợp miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều 57 BLHS hiện hành, là các trường hợp cần phải có sự xem xét, đánh giá và quyết định của Tòa án
Quan điểm xem việc không buộc một người phải chấp hành bản án đã tuyên đối với mình là miễn chấp hành hình phạt đã từng được thừa nhận trong thực tiễn xét xử ở nước ta Thông tư liên ngành số 04/TTLN-TANDTC-VKSNDTC-BNV-BTP ngày 26 tháng 12 năm 1986 về việc hướng dẫn áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự, có đoạn nêu: “Tuy nhiên, đối với những người phạm tội nhẹ, chỉ
bị xử phạt từ 5 năm tù trở xuống mà vì bệnh tật, sinh đẻ hoặc hoàn cảnh quá khó khăn, được tạm hoãn thi hành án nhiều lần, thời gian tạm hoãn đã bằng thời hiệu thi hành án mà trong thời gian đó, họ không phạm tội mới, không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì Toà án ra quyết định miễn chấp hành hình phạt tù.”
BLHS hiện hành không quy định thời hiệu thi hành đối với tất cả các quyết định trong bản án, mà chỉ quy định thời hiệu thi hành đối với một số loại hình phạt như: Phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn, tù chung thân hoặc tử hình, không quy định thời hiệu thi hành đối với các hình phạt khác như trục xuất, quản chế, cấm cư trú, … Mặc dù trong bản án hình sự hoặc quyết định tái thẩm, giám đốc thẩm hình sự có thể đề cập đến nhiều loại chế tài khác nhau như: Hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp…, đồng thời cũng không quy định thời hiệu thi hành đối với quyết định của bản án về áp dụng các biện pháp tư pháp như: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, … Đối với các quyết định dân sự trong bản án hình sự thì thời hiệu thi
Trang 36hành được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự thông qua ngày
14 tháng 11 năm 2008
Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật Các bản án có hiệu lực pháp luật bao gồm: Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật định (kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp, kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, hoặc niêm yết công khai, 30 ngày nếu là Viện kiểm sát cấp trên), bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay, quyết định tái thẩm, quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực ngay khi xét xử
vụ án hình sự theo thủ tục tái thẩm hoặc giám đốc thẩm
Tuy nhiên, thời hiệu thi hành bản án hình sự sẽ được tính lại nếu rơi vào các trường hợp được luật dự liệu như sau: (khoản 3 Điều 55 BLHS hiện hành)
Thứ nhất, nếu sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án lại phạm
tội mới thì thời hiệu được tính kể từ ngày phạm tội mới
Thứ hai, nếu sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án cố tình
trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh và bị truy nã không được tính vào thời hiệu thi hành bản án Thời hiệu sẽ tính kể từ ngày người này ra trình diện hoặc bị bắt giữ Tương tự như thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chỉ sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án đã trốn tránh và cơ quan Công an đã ra quyết định truy nã anh ta về việc trốn tránh đó thì thời hiệu mới không được tính và thời hiệu sẽ được tính lại kể từ ngày người này ra trình diện hoặc bị bắt giữ Nếu người bị kết án có trốn tránh nhưng không bị truy nã thì thời hiệu vẫn áp dụng đối với người này
Thời hiệu thi hành bản án đối với hình phạt tù chung thân hoặc tử hình
được điều chỉnh bởi BLHS hiện hành như sau: “Việc áp dụng thời hiệu đối với
các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm, do Chánh án TAND tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trong trường hợp không cho áp dụng thời hiệu thi hành bản án thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân,
tù chung thân được chuyển thành tù ba mươi năm” (khoản 4 điều 55 BLHS)
Như vậy, Chánh án TAND tối cao sẽ có toàn quyền quyết định có áp dụng hay không thời hiệu thi hành bản án đối với người bị kết án hình phạt tù chung thân hoặc tử hình theo đề nghị của Viện trưởng VKSND tối cao Tuy nhiên, luật không quy định rõ cơ sở để xem xét và quyết định rằng có áp dụng thời hiệu hay
Trang 37không, thời hạn xem xét này là bao lâu Đồng thời, chưa có một văn bản nào hướng dẫn chi tiết cho việc áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự trong BLHS hiện hành
Mặc dù với tinh thần nhân đạo mà Nhà nước mong muốn mang đến cho người phạm tội bị kết án, nhưng do tính chất đặc biệt của hành vi phạm tội, nên việc miễn chấp hành hình phạt do hết thời hiệu thi hành bản án quy định tại Điều
55 BLHS hiện hành không được áp dụng cho các tội phạm quy định tại Chương
XI về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và Chương XXIV về các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh
2.1.2 Người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt
BLHS hiện hành quy định người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt dựa theo thái độ hoặc bệnh tật của họ ảnh hưởng đến khả năng nguy hiểm cho xã hội như sau:
“Đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chưa chấp hành hình phạt mà lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và nếu người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.” (khoản 1 Điều
bộ hình phạt nên việc quy định “chưa chấp hành hình phạt” là hoàn toàn phù hợp, nếu không việc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt sẽ không tồn tại và không có ý nghĩa nữa Do mức độ khoan hồng ở đây là rất lớn nên người phạm tội bị kết án
Trang 38tù có thời hạn hoặc cải tạo không giam giữ phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện khác để được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt
Thứ hai, trong thời gian chờ thi hành bản án, người phạm tội phải lập công
lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm nữa
Quy định về trường hợp lập công lớn và mắc bệnh hiểm nghèo không được điều chỉnh trực tiếp trong BLHS hiện hành, mà được giải thích ở các văn bản dưới luật khác Quy định về trường hợp lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo phải được hiểu theo hướng như sau: (13)
“Lập công lớn” là trường hợp người bị kết án đã có hành động giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn; có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị hoặc thành tích xuất sắc đột xuất khác được các cơ quan có thẩm quyền xác nhận Hay nói cách khác việc lập công có ý nghĩa và hiệu quả lớn trong đời sống, sản xuất, đấu tranh giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội thì
có thể được coi là lập công lớn
“Mắc bệnh hiểm nghèo” là mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng, thực tiễn cho thấy các bệnh như: Bệnh AIDS giai đoạn cuối, bệnh ung thư,
xơ gan cổ chướng, bại liệt… Bên cạnh đó theo hướng dẫn cụ thể thì việc mắc bệnh hiểm nghèo phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên chứng minh người bị kết án đang bị những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị
Chúng ta cần lưu ý rằng, lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo là điều kiện cần nhưng chưa phải là điều kiện đủ để được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt cải tạo không giam giữ, hoặc toàn bộ hình phạt tù Bởi vì, theo quy định của khoản 1 Điều 57 BLHS hiện hành, ngoài điều kiện “lập công lớn” hoặc “mắc bệnh hiểm nghèo”, người phạm tội phải được Tòa án xem xét, đánh giá toàn diện các yếu tố khách quan và chủ quan để kết luận là “người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” thì mới đủ căn cứ để cho miễn chấp hành toàn bộ hình phạt Người bị kết án không còn nguy hiểm cho xã hội nữa được chứng minh
(13)
Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Trang 39bằng việc họ đã hoàn lương, chăm chỉ làm ăn, tham gia các hoạt động xã hội…, hoặc do họ mắc bệnh hiểm nghèo không còn hoạt động được
Theo quy định này, một người bị phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn từ ba mươi năm trở xuống có thể được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt Vì vậy, giá trị của việc miễn chấp hành hình phạt rất lớn Điều này yêu cầu Viện kiểm sát và Tòa án khi xem xét có thể miễn chấp hành hình phạt đối với người bị kết án hay không cần cân nhắc một cách toàn diện, khách quan, đặc biệt là các yếu tố thuộc về nhân thân để xác định một người thật sự không còn nguy hiểm cho xã hội nữa
Nhắc lại rằng, miễn chấp hành toàn bộ hình phạt trong trường hợp này chỉ
áp dụng đối với hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc hình phạt tù có thời hạn Đối với các hình phạt bổ sung khác trong cùng bản án như: Phạt tiền, tịch thu tài sản, cấm cư trú , nếu người phạm tội bị kết án về các hình phạt bổ sung này thì
họ vẫn phải chấp hành theo quy định chung
2.1.3 Án treo – một hình thức miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện
Có thể cho rằng, án treo là trường hợp ngoại lệ, đặc biệt của việc thi hành hình phạt tù, người bị kết án tù có thời hạn không buộc phải chấp hành hình phạt tại trại giam, mà được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện khi có những căn cứ nhất định như sau:
Căn cứ cho hưởng án treo đối với người bị kết án phạt tù:
“Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm” (khoản 1 Điều 60 BLHS)
Như vậy, căn cứ vào câu chữ của luật, những người phạm tội bị Tòa án kết
án tù không quá ba năm, không kể phạm tội gì đều được xem xét cho hưởng án treo Hoặc đối với người bị xét xử một lần về nhiều tội hoặc có nhiều bản án mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không vượt quá ba năm tù thì có thể xem xét để cho hưởng án treo Đây được xác định là căn cứ đầu tiên để người phạm tội bị kết án được hưởng án treo theo quy định
Ngoài ra, để được hưởng án treo người phạm tội phải có nhân thân tương
đối tốt Nghĩa là, người đó phải là người “luôn chấp hành đúng chính sách, pháp
Trang 40luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng”, không kể lần phạm
tội mà họ đang bị xét xử Ngoài ra không có giải thích nào khác về căn cứ nhân thân tốt để xem xét cho hưởng án treo Tuy nhiên, đối với những người có tiền
án, tiền sự, nếu xét thấy tính chất của tiền án, tiền sự cùng với tính chất của tội phạm mới thực hiện, cũng như các căn cứ khác thấy không cần thiết bắt họ phải chấp hành hình phạt tù thì cũng có thể cho hưởng án treo, nhưng theo tinh thần chung là phải hạn chế và xem xét thật chặt chẽ (14)
Khi đánh giá nhân thân của người bị kết án, cần phải xem xét toàn diện tất
cả các yếu tố thuộc về nhân thân kể cả thái độ của họ sau khi phạm tội và qua đó đối chiếu với yêu cầu phòng ngừa chung để xem xét có cần phải bắt họ chấp hành hình phạt tù hay cho họ hưởng án treo
Cuối cùng, để được xem xét cho hưởng án treo, người phạm tội phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ Mặc dù BLHS không quy định người bị kết án có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới được cho hưởng án treo, nhưng cụm từ “Các tình tiết giảm nhẹ” cho thấy người bị kết án phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ Khi người phạm
tội “Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó
phải có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên” Như vậy các tình
tiết giảm nhẹ đề cập đến trong Điều 60 BLHS hiện hành có thể được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS Các tình tiết giảm nhẹ của người phạm tội được xem xét trong mối quan hệ và cùng với các căn cứ khác để quyết định cho hoặc không cho hưởng án treo
Tuy nhiên, nhà làm luật nước ta cũng chưa quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được cân nhắc ở giai đoạn quyết định hình phạt có được Tòa án xem xét và áp dụng để cho người phạm tội bị kết án được hưởng án treo hay không
Mặc dù vậy, theo người viết các tình tiết giảm nhẹ dùng làm căn cứ cho hưởng án treo phải là những tình tiết chưa được Tòa án cân nhắc để quyết định hình phạt Nếu không, việc sử dụng các tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt và quyết định việc áp dụng án treo sẽ có thể bị chồng chéo lên nhau, sử
(14)
Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam quyển 1- phần chung, Nxb Chính trị quốc gia, 2009