1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP các BIỆN PHÁP bảo vệ QUYỀN tác GIẢ và QUYỀN LIÊN QUAN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

88 237 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng giống như quyền tác giả, chỉ những đối tượng được pháp luật bảo hộ thì mới được xem là khách thể của quyền đó, nếu khách thể của quyền tác giả là tác phẩm thì khách thể của quyền li

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ

VÀ QUYỀN LIÊN QUAN THEO PHÁP LUẬT

VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Lê Văn Thẩm

Trang 2

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

MỤC LỤC

Trang LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN

QUAN 9

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của quyền tác giả và quyền liên quan 9

1.1.1 Trên thế giới……… 9

1.1.1.1 Quyền tác giả, quyền liên quan từ những thập niên giữa thế kỷ trở về trước.……… 9

1.1.1.2 Quyền tác giả, quyền liên quan trên thế giới từ nửa sau thế kỷ 19 đến nay……… 1

0 1.1.2 Tại Việt Nam ………

12 1.1.2.1 Giai đoạn từ trước năm 2005.……….12

1.1.2.2 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay ……… 15

1.2 Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả 16

1.2.1.Quyền tác giả ……… 16

1.2.1.1 Chủ thể của quyền tác giả ……….17

1.2.1.2 Khách thể của quyền tác giả ……….19

1.2.1.3 Quyền nhân thân ……….19

1.2.1.4 Quyền tài sản ……….20

1.2.2 Quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền kề cận) ……… 21

1.2.2.1 Khái niệm ……… …….21

1.2.2.2 Chủ thể của quyền liên quan ……….21

1.2.2.3 Khách thể của quyền liên quan ……….21

1.3 Hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và ngoại lệ 22

1.3.1 Hành vi xâm phạm ……… 22

1.3.1.1 Hành vi xâm phạm quyền tác giả ……….23

Trang 5

1.3.1.2 Hành vi xâm phạm các quyền liên quan

……….24

1.3.2 Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không bị coi là xâm phạm ……… 24

1.4 Bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan 24

1.4.1 Tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan ….25 1.4.2 Các biện pháp bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan theo pháp luật Viêt Nam ………25

1.4.2.1 Trước khi có luật SHTT 2005 ……….25

1.4.2.2 Từ khi có Luật SHTT 2005 26 CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN 28

2.1 Quyền tự bảo vệ 28

2.1.1 Khái niệm quyền tự bảo vệ ………28

2.1.2 Ưu và nhược điểm ……… 29

2.1.3 Quyền tự bảo vệ đối với chủ thể quyền tác giả và quyền liên quan ….30 2.1.3.1 Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan ……….30

2.1.3.2 Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại 32 2.1.3.3 Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan 33 2.1.3.4 Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình 34 2.2 Áp dụng biện pháp xử lý xâm phạm để bảo vệ 34

2.2.1 Biện pháp dân sự 34 2.2.2 Biện pháp xử lý hành chính 36 2.2.3 Biện pháp hình sự 38 2.3 Tự bảo vệ thông qua việc thành lập tổ chức quản lý tập thể 39

2.3.2 Ưu điểm của tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan 40

Trang 6

2.3.3 Sự cần thiết phải có tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên

2.3.3.1 Trong lĩnh vực in và xuất bản sách 43

2.3.3.5 Trong lĩnh vực phần mềm máy tính 46

2.3.4 Các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan 47

2.3.4.2 Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam 51

2.3.4.4 Hiệp hội Quyền sao chép Việt Nam 56

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN

QUAN

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 58

3.1.Thực trạng bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan hiện nay 58

3.1.1 Trong lĩnh vực tác phẩm nhiếp ảnh……….59

3.1.2 Trong lĩnh vực phần mềm máy tính………60

3.1.3 Trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật……… 62

3.1.4 Trong lĩnh vực xuất bản sách……… 63

3.1.5 Trong lĩnh vực kinh doanh băng đĩa……… 64

3.2 Nguyên nhân 65

3.2.1 Đời sống kinh tế người dân khó khăn, thu nhập thấp……….65

3.2.2 Hành vi sao chép lậu, in lậu luôn tạo ra siêu lợi nhuận……… 67

3.2.3 Quyền tác giả, quyền liên quan bị bỏ quên trong thời gian dài……… 68

3.2.4 Sự phát triển mạnh mẽ của internet………71

3.3 Hoàn thiện về bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan và một số đề xuất71 3.3.1 Nên ban hành Luật bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan……….71

3.3.2 Thành lập thêm một số tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả …………715

3.3.3 Nâng cao ý thức, kiến thức pháp luật của cá nhân, tổ chức về quyền tác giả và quyền liên quan……… …………777

3.3.4 Đẩy mạnh công tác kiểm tra, xử lý vi phạm……… 78

Trang 7

3.3.5 Giao lưu tiếp thu kiến thức về bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan với các nước trên thế giới

80……….70

3.3.6 Bảo vệ quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học, luận văn tốt nghiệp

………811 KẾT LUẬN……… 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

 Lý do chọn đề tài

Quyền tác giả, quyền liên quan không còn là điều mới tại Việt Nam, ngay

từ bản Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận những quyền cơ bản của công dân liên quan đến quyền tác giả như quyền tự do xuất bản Và năm 1986, lần đầu tiên quyền tác giả ở Việt Nam được quy định trong Nghị định 142/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng

Nhiều năm qua, do ảnh hưởng của thói quen trong thời gian quá dài không quan tâm đến chuyện bản quyền nên “vấn nạn” xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan ngày càng trở nên trầm trọng hơn, làm đau đầu cho giới văn - nghệ sĩ

Họ là những người phải đầu tư công sức, thời gian, tiền của cho tác phẩm của mình nhưng trái lại chẳng thu hồi được bao nhiêu, trong khi người không bỏ ra thì lại thu rất nhiều lợi nhuận và làm cho danh dự, uy tín các tác giả, chủ sở hữu quyền bị ảnh hưởng nghiêm trọng Đó là một sự bất công

Không chỉ thế, hiện nay do sự phát triển một cách nhanh chóng, vượt bậc của khoa học kỹ thuật hiện đại, đã cho ra đời nhiều phương tiện, công cụ, máy móc hỗ trợ thêm cho việc xâm phạm, hành vi xâm phạm thì càng lúc càng tinh vi

và có tổ chức Đặc biệt với sự gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, đã đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức, bảo vệ tốt quyền tác giả, quyền liên quan Việt Nam mới có thể phát triển tốt kinh tế trong nước và xứng tầm với các nước bạn về sở hữu trí tuệ Nhưng làm sao có thể bảo vệ các quyền đó một cách tốt nhất và hiệu quả nhất, khi tình trạng hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan còn hạn chế, quy định rải rác, thiếu tính hệ thống và tính thống nhất thể hiện điển hình trong các quy định về thực thi quyền tác giả Đó là vấn đề cần được cải thiện đối với pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của nhà nước

ta về quyền tác giả cũng như quyền liên quan

Với những vấn đề đặt ra, người viết mong rằng những vấn đề đó sẽ được nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan, để từ đó thấy rỏ cái cần được phát huy cũng như hạn chế của pháp luật hiện hành, đồng thời mong muốn góp phần tham gia vào việc tìm hiểu nhằm từng bước hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ của nước nhà nói chung, quyền tác giả, quyền liên quan nói rêng Trong giới hạn của luận văn và vì thời gian nghiên cứu có hạn nên người viết xin đề cập một phần trong lĩnh vực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đó là “Các biện pháp bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan theo pháp luật Việt nam”, để từ đó người viết có thể tập trung nghiên cứu một cách có hiệu quả nhất”

Trang 9

 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu về các vấn đề lý luận của quyền tác giả, quyền liên quan, các quy định của pháp luật hiện hành về các biện pháp bảo vệ quyền đó Phân tích sự cần thiết của việc bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan, đặc biệt là quyền tự bảo vệ đối với các chủ thể quyền, đồng thời tìm hiểu thực tiễn bảo vệ các quyền

đó hiện nay, cũng như nguyên nhân của hành vi xâm phạm đó Và cuối cùng là việc đề xuất trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan Đây là những mục tiêu mà người viết cần nghiên cứu trong đề tài

 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi của đề tài, người viết tìm hiểu quy định của pháp luật về các biện pháp bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan Nhưng do giới hạn về thời gian nghiên cứu nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu về quyền tự bảo vệ đối với các chủ thể quyền đó

 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở quy định của pháp luật, người viết đã liệt kê những quy định pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan theo pháp luật hiện hành cũng như các văn bản luật đã bị sửa đổi, bổ sung Thực hiện theo phương pháp phân tích các quy định hiện hành, kết hợp với thực tiễn thi hành đối chiếu với luật viết, tham khảo tài liệu chuyên ngành và tài liệu có liên quan đến vấn đề trên sách, báo, tạp chí, web…, từ đó đưa ra những nhận định về thực trạng cũng như hướng hoàn thiện về bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan ở nước ta

 Bố cục đề tài

Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1 Lý luận chung về quyền tác giả và quyền liên quan

Chương 2 Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan

Chương 3 Thực tiễn bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan Một số vướng mắc

và hướng hoàn thiện

Trang 10

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của quyền tác giả và quyền liên quan

Khoảng năm 1440 khi công nghệ in ra đời, việc in ấn bắt đầu thuận lợi hơn, những người làm ra tác phẩm vui mừng vì tác phẩm của họ không những được in, xuất bản một cách dễ dàng mà nhà in hay nhà xuất bản còn trả cho một

số tiền cho bản viết tay Tuy nhiên, quyền tác giả của họ chưa có nên việc in đầu tiên bị các nhà in khác in lại Việc này làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc kinh doanh của nhà in đầu (vì họ đã tốn chi phí nhiều hơn so với người in lại) Điều đó đặt ra yêu cầu quyền của người in đầu tiên phải được bảo vệ, vì thế các nhà in đã xin các quyền lợi đặc biệt từ phía chính quyền, cấm in lại một tác phẩm ít nhất là trong một thời gian nhất định

cá nhân trở nên quan trọng hơn, chẳng hạn “đặc quyền tác giả” cũng được ban

đặc quyền lãnh thổ được đưa ra, cấm in lại trong một vùng nhất định trong một

1

Theo khoản 1, Điều 736 BLDS: trong trường hợp có hai người hoặc nhiều người cùng sáng tạo ra tác phẩm thì những người đó là các đồng tác giả

Trang 11

thời gian nhất định, như thế quyền tác giả bắt đầu được định hình và xem trọng Tuy nhiên, điều này chưa mang lại cho tác giả một lợi ích kinh tế nào

Đến thế kỷ 18 , lý thuyết về các quyền giống như sở hữu cho lao động trí

óc mới ra đời Dưới ảnh hưởng của nó, nhiều quốc gia mới thật sự quan tâm đến quyền tác giả Họ xem đây như một dạng sở hữu “phi vật chất” Ví dụ, Statue of

của tác giả, Propriété littéraire et artistique (Sở hữu văn học và nghệ thuật), được

1.1.1.2 Quyền tác giả, quyền liên quan trên thế giới từ nửa sau thế kỷ

19 đến nay

Từ nửa sau thế kỷ 19, quyền tác giả, quyền liên quan được quy định trên

thế giới ở nhiều Hiệp định, và cho đến nay quy định về quyền tác giả, quyền liên quan từng bước càng thêm hoàn thiện

Hiệp định về quyền tác giả đầu tiên là Công ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật Công ước Berne được thông qua ngày 9 tháng

1886, hoàn thiện tại Paris năm 1896, chỉnh lý tại Berlin năm 1908, hoàn thiện tại Berne năm 1914, chỉnh lý tại Rome năm 1928, tại Bỉ năm 1948, tại Stockholm

Từng là một tổ chức mà khởi đầu là của nhiều nước Châu Âu, Công ước Berne quy định việc bảo hộ phải được mở rộng đến tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kể hình thức thể hiện của nó là gì Việt Nam nộp đơn tham gia Công ước vào ngày 26 tháng 7 năm 2004, và ba tháng sau đó, Công ước Berne chính thức có hiệu lực tại Việt Nam Hiệp định có liên quan đến Công ước Berne là Thỏa ước Trips, hai Hiệp định phụ thuộc vào nhau, cụ thể Điều 9.1 Thỏa ước Trips bắt buộc các nước thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới “tuân thủ từ Điều 1 đến Điều 21 Công ước Berne năm 1971 và Phụ lục kèm theo”, ngược lại nguyên tắc đối xử quốc gia theo Công ước Berne được thông qua bởi Điều 3 Thỏa ước Trips Ngoài ra các quy định về quyền tác giả của Thỏa ước TRIPS mở rộng đến nhiều quy định cơ bản của Công ước Berne Ví dụ Điều 10.1 quy định rằng “các chương trình máy tính, cho dù là nguồn hay là hệ thống

mã số, sẽ được bảo hộ như các tác phẩm văn học theo Công ước Berne năm 1971”

2

Gs Michael Blakeney, Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary, Đại học London - “tài liệu giảng dạy về sở hữu trí tuệ”, trang 30

Trang 12

Tiếp theo Công ước Berne là Công ước toàn cầu về quyền tác giả 1952, được chỉnh lý tại Paris năm 1971

Được sự ủng hộ của Hoa Kỳ, tổ chức Unesco mới thành lập đã triệu tập hàng loạt các cuộc họp trù bị giữa những năm 1947 và 1951, tại đó các dự thảo của Công ước toàn cầu về quyền tác giả (UCC) đã được xem xét Trong Hội nghị Ngoại giao được tổ chức tại Geneva từ ngày 18 tháng 8 đến ngày 6/9/1952, các dự thảo của Công ước toàn cầu về quyền tác giả được thông qua Không như Công ước Berne, Công ước toàn cầu về quyền tác giả không chứa đựng danh mục chi tiết các tác phẩm được bảo hộ Tuy không có một liên minh nào được thành lập theo Công ước toàn cầu về quyền tác giả, nhưng đã thành lập một Ủy ban liên chính phủ để nghiên cứu việc thực thi Công ước và chuẩn bị cho sự chỉnh lý định kỳ đối với Công ước này

Đến năm 1961, Công ước quốc tế về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát sóng ra đời (hay còn gọi là Công ước Rome) Công ước Rome có hiệu lực từ 26/10/1961 Lần đầu tiên, Công ước này mở rộng việc bảo hộ quyền tác giả từ tác giả của tác phẩm cho đến những người sáng tạo

và chủ sở hữu của các trình diễn dưới dạng vật chất đặc thù của sở hữu trí tuệ, như các băng ghi âm, cacsett hoặc đĩa DVD Việt Nam gia nhập và Công ước Rome có hiệu lực ngày 1 tháng 3 năm 2007

Sự ra đời của Công ước Rome chưa đủ hiệu lực để bảo hộ đối với bản ghi

âm và chưa phù hợp với một số đặc thù về hệ thống pháp luật của một số quốc gia, nên nhiều quốc gia không thể gia nhập Công ước này được Điều này đặt ra nhu cầu cần có một Công ước điều chỉnh phù hợp với tình hình mới Ngày 29 tháng 10 năm 1971, Công ước bảo hộ bản ghi âm chống lại hành vi sao chép, gọi tắt là Công ước Geneva được thông qua tại Geneva Việt Nam gia nhập Công ước này vào ngày 6 tháng 7 năm 2005

Nhằm bổ sung cho việc bảo hộ mà quy định Công ước Rome, cũng như Công ước Geneva một cách có hiệu quả, ngày 21/5/1974, Brussels - Công ước về phân phối các tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh (hay Công ước Vệ tinh) đã được thông qua tại Bỉ Việt Nam gia nhập và Công ước có hiệu lực chính thức ngày 12 tháng 1 năm 2006 Quyền tác giả, quyền liên quan không chỉ được phát triển dừng lại ở đó, tại Hội nghị Ngoại giao Wipo về các vấn đề quyền tác giả và quyền kề cận tại Geneva ngày 20/12/1996 Hiệp định Wipo về quyền tác giả và Hiệp định Wipo về trình diễn và các bản ghi âm đã được thông qua Những năm gần đây, trong các cuộc thảo luận về việc quyền tác giả “phải phản ứng như thế nào trước các phát triển kỹ thuật hiện tại đều tương tự như

Trang 13

nhau trên toàn thế giới” Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tham gia ký kết Điều ước quốc tế và có những quy định tương tự nhau về quyền tác giả, quyền liên quan Trong số đó cũng có một vài quốc gia có quy định khác về quyền tác giả, quyền liên quan Đây có thể coi là lợi thế không công bằng vì những quốc gia có quy định khác đó, họ chỉ có một phạm vi tự do hạn hẹp trong việc định hình cho quyền tác giả, không được các đối tác thương mại thế giới chấp nhận

rộng lớn nhất và định sẵn chiều hướng chung của quyền tác giả, đi đến việc bảo

vệ quyền tác giả một cách nghiêm ngặt hơn

Ở Châu Âu, Liên minh châu Âu đã đưa ra nhiều chỉ thị để thống nhất quyền tác giả trong toàn Liên minh châu Âu Ví dụ, Chỉ thị phần mềm

bảo vệ như là các tác phẩm văn học theo ý nghĩa về quyền tác giả, hoặc Chỉ thị

về hòa hợp thời gian bảo vệ quyền tác giả và một số quyền bảo vệ có liên quan

Với Chỉ thị quyền tác giả của Liên minh châu Âu (Chỉ thị 2001/29/EG) các quy định luật pháp châu Âu về quyền tác giả được nâng lên cùng với thời đại số và

trí tuệ thế giới (WIPO) Một số quốc gia cũng hưởng ứng tích cực theo Chỉ thị,

châu Âu là bước kế tiếp trong hướng đi đến thắt chặt hơn nữa các luật lệ về quyền tác giả Việc hoàn toàn hủy bỏ quyền được phép có bản sao dùng cho mục

1.1.2 Tại Việt Nam

1.1.2.1 Giai đoạn từ trước năm 2005

Trong bối cảnh nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành các đạo luật về quyền tác giả từ vài chục năm nay hoặc lâu hơn nữa, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học, công nghệ, mua bán hàng hóa quốc tế, giao lưu văn hóa giữa các nước ngày càng mở rộng, các đạo luật về quyền tác giả của nhiều nước vẫn tiếp tục được bổ sung, trong đó có Việt Nam

3

Http://vi.wikipedia.org/wiki/Quy%E1%BB%81n_t%C3%A1c_gi%E1%BA%A3

Trang 14

Ở Việt Nam, lĩnh vực pháp luật về quyền tác giả được xây dựng trong những tám mươi Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật, trong đó có quy định việc bảo hộ quyền tác giả như Hiến pháp 1992, Luật báo chí, Luật xuất bản, Bộ luật hình sự… Tuy vậy, trên thực tế việc bảo hộ quyền tác giả được điều chỉnh chủ yếu trong Nghị định số 142/HĐBT ngày 14/11/1986 quy định về quyền tác giả Qua một số năm thực hiện, Nghị định số 142/HĐBT đã tạo tiền đề pháp lý nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả,

là căn cứ để cơ quan bảo hộ quyền tác giả (nay là Cục Bản quyền tác giả) thực hiện việc đăng ký quyền tác giả và giải quyết các tranh chấp về tác giả Tuy nhiên, trong việc áp dụng thực hiện Nghị định đã bộc lộ một số hạn chế cả về nội dung lẫn hình thức, hạn chế về nội dung như một số đối tượng của quyền tác giả chưa được quy định bảo hộ như: chương trình phần mềm máy tính; thời hạn bảo

hộ quyền tác giả còn quá ngắn (30 năm sau khi tác giả chết), chưa có quy định về bảo hộ các quyền liên quan (quyền của người biễu diễn, của tổ chức sản xuất băng, đĩa ghi âm, ghi hình và của tổ chức phát thanh, truyền hình) Hạn chế về hình thức như Nghị định 142/HĐBT là văn bản dưới luật nên bị hạn chế về hiệu lực thi hành, Nghị định này chưa đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả ở nước ta trong thời kỳ đầu của công cuộc chuyển đổi nền kinh tế Đối với nước ngoài, Nghị định 142/HĐBT chưa được coi văn bản có giá trị pháp lý cao để Nhà nước ta tham gia các hiệp định song phương hoặc đa phương về quyền tác giả

Để khắc phục các khiếm khuyết trên của Nghị định số 142/HĐBT, ngày 12/12/1994, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả Với bố cục 7 chương và 47 điều, Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả đã quy định tương đối đầy đủ và cụ thể những vấn đề về bảo hộ quyền tác giả So với Nghị định 142/HĐBT, Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả quy định đầy đủ hơn về các đối tượng được bảo hộ, bao gồm cả phần mềm máy tính; quy định cụ thể các quyền của tác giả Về thời hạn bảo hộ, Pháp lệnh đã tăng thời hạn bảo hộ đối với quyền tác giả trong suốt cuộc đời của tác giả và 50 năm tiếp theo sau năm tác giả chết Ngoài ra, Pháp lệnh còn quy định cụ thể về mốc tính thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm đồng tác giả, tác phẩm di cảo; quy định về các quyền và nghĩa vụ của người biểu diễn, của tổ chức sản xuất băng, đĩa ghi âm, ghi hình và của tổ chức phát thanh, truyền hình

Với sự ra đời của Bộ luật năm 1995, quyền tác giả lần đầu tiên được quy định tập trung từ Điều 745 đến Điều 779, Chương một Phần thứ sáu trong Bộ luật dân sự 1995, những quy định này đã kế thừa các quy định còn hợp pháp của

Trang 15

Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả 1994, bên cạnh đó Bộ luật dân sự 1995 đã bổ

luật dân sự 1995 ra đời, theo đó hàng loạt luật, văn bản dưới luật cũng như các hiệp ước song phương có liên quan đến quyền tác giả và quyền liên quan được ký kết ban hành, cụ thể một số văn bản:

- Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự;

- Nghị định số 60/CP ngày 06/06/1997 của Chính phủ hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật dân sự có yếu tố nước ngoài;

- Công văn số 97/KHXX ngày 21/8/1997 của Tòa án nhân dân tối cao xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp;

- Vào năm 1997, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ký kết Hiệp định về thiết lập quan hệ quyền tác giả;

- Thông tư số 166/1998/TT-BTC ngày 19/12/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu lệ phí đăng ký quyền tác giả;

- Nghị định số 72/2000/NĐ-CP ngày 05/12/2000 của Chính phủ về công

bố, phổ biến tác phẩm ra nước ngoài;

- Hiệp định thương mại giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Hỳ năm 2000;

- Thông tư số 27/2001/TT-BVHTT ngày 10/5/2001 của Bộ Văn hóa – Thông tin hướng dẫn thực hiện Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1996; Nghị định

số 60/CP ngày 06/6/1997 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự;

- Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT ngày 05/12/2001 giữa Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và

Bộ văn hóa – Thông tin hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền tác giả tại Tòa án nhân dân tối cao;

- Nghị định số 61/2002/ NĐ-CP ngày 11/6/2002 của Chính phủ về chế độ nhuận bút;

4

Nhóm tác giả Luật gia: Nguyễn Bình, Nguyễn Thị Chính, Nguyễn Huy Ngát, Nguyễn Bích Ngọc - Bình

luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam - nhà xuất bản Tư pháp, trang 8; 9

Trang 16

- Thông tư liên tịch số 34/2003/TTLT-BVHTT-BXD ngày 24/01/2003 của

Bộ Văn hóa – Thông tin và Bộ xây dựng hướng dẫn về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc;

- Quyết định số 17/2004/QĐ-BVHTT ngày 05/5/2004 của Bộ văn hóa – Thông tin ban hành quy chế sao chép tác phẩm tạo hình

1.1.2.2 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

Năm 2005 là năm hệ thống pháp luật của nước ta có nhiều chuyển biến đáng kể, ngày 1 tháng 1 năm 2005 Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực, các quy định giải quyết các vụ việc dân sự như: “tranh chấp về quyền sở hữu tài sản,

điều chỉnh, giải quyết Ngày 14 tháng 6 năm 2005, Bộ luật dân sự đã được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 7 Quyền tác giả, quyền liên quan trong sở hữu trí tuệ được quy định từ Điều 736 đến Điều 749 Chương 34 Phần thứ sáu của

ra, quyền tác giả và quyền liên quan cũng được quy định, hướng dẫn ở Nghị định

số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 Nghị định đã quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều luật của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan

Luật sở hữu trí tuệ 2005 ra đời, được xem là một bước tiến quan trọng trong ngành lập pháp nước ta, góp phần xây dựng một hệ thống các tiêu chuẩn bảo hộ và các thủ tục bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách kịp thời, hiệu quả, công bằng, ít phiền hà và hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, cũng như hướng đến việc gia nhập WTO trong một tương lai gần Bên cạnh đó, nó đã đánh dấu bước phát triển mới, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và hội nhập quốc tế Đây là một bước tiến dài trong việc bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam Có thể nói, với việc thông qua một đạo luật thống nhất về sở hữu trí tuệ, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam

đã xích lại gần hơn với thế giới Tuy nhiên, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn diễn ra đối với hầu hết các đối tượng được bảo hộ, trong đó có quyền

5

Khoản 2; 4 Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004

Trang 17

tác giả và quyền liên quan Nguyên nhân của tình trạng này là nhận thức, hiểu biết trong công chúng, người có quyền và nghĩa vụ còn hạn chế, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao Ngoài ra, bản thân Luật sở hữu trí tuệ còn một số tồn tại, bộc lộ nhiều hạn chế

Trước tình hình đó, ngày 19 tháng 6 năm 2009 tại kỳ họp thứ 5 khóa XII của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009 và có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 2010 Việc sửa đổi bổ sung này tạo thêm sự phù hợp của Luật sở hữu trí tuệ đối với các chuẩn mực quốc tế, các cam kết của Việt Nam khi tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Tiếp theo Luật sở hữu trí tuệ được sửa đổi bổ sung là Nghị định 47/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ quy định

xử phạt hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan

Tóm lại, pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan không còn mới ở Việt Nam nhưng do ảnh hưởng của thói quen trong thời gian quá dài không quan tâm đến chuyện bản quyền nên việc thực thi các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này vẫn gặp rất nhiều khó khăn Ngày nay, Nhà nước ta đã có nhiều cố gắn khắ phục khó khăn Tuy kết quả đạt được còn hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu phát triển và hội nhập, song có thể thấy pháp luật về tác giả của Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định Trong thời gian tới, việc hoàn chỉnh

hệ thống pháp luật và gia nhập Điều ước quốc tế về quyền tác giả, tăng cường sự hiểu biết và thực thi pháp luật trong lĩnh vực này là yêu cầu bức thiết nhằm

1.2 Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả

1.2.1 Quyền tác giả

một tác giả cho tác phẩm của người này

Theo nghĩa khách quan, đây là một chế định pháp luật dân sự, được quy định trong Bộ luật dân sự và trong các văn bản pháp luật có liên quan, là một trong ba bộ phận cấu thành của quyền sở hữu trí tuệ (quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng) Theo nghĩa chủ quan, quyền tác giả là quyền của người làm ra tác phẩm hoặc quyền của người có được tác phẩm một cách hợp pháp và tác phẩm đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và bảo hộ

6

Nhóm tác giả Luật gia: Nguyễn Bình, Nguyễn Thị Chính, Nguyễn Huy Ngát, Nguyễn Bích Ngọc - Bình luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam - nhà xuất bản Tư pháp, trang 11

Trang 18

Pháp luật hiện hành đã ghi nhận quyền tác giả được ở mục 1, Chương 34 Phần thứ sáu Bộ luật dân sự 2005 và được khái niệm cụ thể ở Khoản 2, Điều 4 Luật Sở

hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bổ sung 2009, đó là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu

Bên cạnh việc bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa, thí dụ như các bài viết về khoa học, văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chương trình truyền thanh… gọi chung là tác phẩm Đồng thời, quyền tác giả còn được dùng để bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm của họ Hiểu một cách đơn giản, quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữu tác phẩm (gọi chung là chủ thể quyền tác giả) được độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép bất hợp pháp7 Thí dụ, tác giả một tác phẩm văn học được làm chủ thành quả lao động trí tuệ của mình, được độc quyền công bố hay xuất bản bài văn của anh ta Việc sao chép, phổ biến nội dung tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả là xâm phạm quyền tác giả

Quyền tác giả tự động phát sinh từ thời điểm tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, bất kể tác phẩm đã công bố hay chưa công

bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký Theo luật SHTT hiện hành, đối với một tác

phẩm quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản

1.2.1.1 Chủ thể của quyền tác giả

Quyền tác giả được trao cho hai loại chủ thể: tác giả và chủ sở hữu

Tác giả

Quy định ở Điều 736 BLDS, tác giả là người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (gọi chung là tác phẩm), hay là người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh từ tác phẩm của người khác, bao gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác phẩm phái sinh đó Tuy vậy, BLDS không quy định rõ như thế nào gọi là sáng tạo Theo một số tài liệu, sáng tạo trong quan

hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả được coi là việc sử dụng sức lao động và khả năng suy xét để tạo ra tác phẩm Như vậy, sáng tạo là việc tạo ra tác phẩm từ

Để được xem là một tác giả, khi đó người sáng tạo phải là người trực tiếp

ra một phần hay toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học Pháp luật hiện hành cũng đã quy định những ai sẽ được xem là tác giả của tác phẩm Theo

Trang 19

đó, cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, hay cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam, có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam hoặc có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam

là thành viên thì đương nhiên họ sẽ là tác giả

Quy định tác giả phải là người trực tiếp sáng tạo nhưng trực tiếp sáng tạo không có nghĩa tác giả không có quyền kế thừa sáng tạo của người khác Một trong số các trường hợp người dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, sưu tầm, tuyển chọn những tác phẩm khác cũng được coi là tác giả của tác phẩm họ đã kế thừa đó Tuy nhiên, những tổ chức, cá nhân làm công việc hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả 9

Bên cạnh khái niệm tác giả chúng ta còn có khái niệm đồng tác giả, đó là những người cùng trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm Có hai loại đồng tác giả Loại thứ nhất là những người cùng sáng tạo một tác phẩm thống nhất mà phần sáng tác của mỗi người không thể tách ra để sử dụng riêng Loại thứ hai là những người cùng sáng tạo ra một tác phẩm thống nhất mà phần sáng tác của mỗi người

có thể tách ra để sử dụng riêng Vị trí của các đồng tác giả lúc này sẽ giống nhau như vị trí của những chủ sở hữu chung theo phần

Chủ sở hữu quyền tác giả

Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc

giả sẽ đồng thời là chủ sở quyền tác giả

Theo quy định tại điều 27 Nghị định 100/2006/NĐ-CP thì chủ sở hữu quyền tác giả sẽ thuộc về tổ chức, cá nhân Việt Nam hay là tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam, hoặc có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam, hoặc có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên

Và khi đó những tổ chức cá nhân này nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản của các quyền làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho

Trang 20

thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính thì đương nhiên tổ chức, cá nhân đó sẽ là chủ sở hữu quyền tác giả

Bên cạnh đó, luật cũng phân định ra nhiều loại chủ sở hữu, có thể dễ dàng nhận biết chủ sở hữu là tác giả; các đồng tác giả; tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả Hay chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế; người được chuyển giao quyền; hay cũng có thể chủ sở hữu quyền tác giả sẽ là Nhà nước Tùy thuộc vào thời gian bảo hộ tác phẩm, tài chính, cơ sở vật chất, giao nhiệm vụ sáng tác tác phẩm…, mà sẽ tương ứng với từng chủ sở hữu khác nhau

1.2.1.2 Khách thể của quyền tác giả

Khách thể của quyền tác giả là tác phẩm - được nói dưới gốc độ là đối tượng của quyền tác giả Tác phẩm ở đây bao gồm các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, được bảo hộ quy định ở Khoản 1, Điều 14 Luật SHTT, được hướng dẫn chi tiết ở Nghị định 100/NĐ-CP từ Điều 9 đến Điều 18, điển hình như tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu… Ngoài ra còn có tác phẩm phái sinh của các tác phẩm quy định trên, nhưng tác phẩm phái sinh đó chỉ được coi là khách thể của quyền tác giả khi nó không gây hại đến quyền tác giả

Nói tóm lại, khách thể của quyền tác giả là tác phẩm mà tác phẩm đó là sản phẩm sáng tạo thể hiện tính cách riêng của tác giả trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kì phương tiện hay hình thức nào

1.2.1.3 Quyền nhân thân

Trong bảng Hiến pháp hay trong một số ngành Luật đều có quy định

“quyền bất khả xâm về đời tư an toàn điện tín, thư tín hay quyền tự do nghiên cứu - sáng tạo…”, như vậy pháp luật đã trao cho cá nhân một quyền nhất định

Đó là quyền nhân thân

Đối với Luật SHTT, quyền nhân thân gọi cách khác là “quyền tinh thần”,

là một trong hai bộ phận hợp thành quyền tác giả, bao gồm quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản, đây là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác ngoại trừ trường

11

Đ i ều 24 , BLDS 2005

Trang 21

Luật đã liệt kê một cách khá đầy đủ về quyền nhân thân của tác giả Theo

đó, đây là một tập hợp các quyền nhằm bảo vệ các lợi ích tinh thần của tác giả, bao gồm các quyền đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; quyền được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả

Đối với tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, có các tác phẩm

mà mình sáng tạo sẽ có các quyền đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, cho phép hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung của tác phẩm Và với chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả thì lại có các quyền tương tự, đó là công bố, phổ biến tác phẩm, cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm thuộc quyền sở hữu của

chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả không có quyền đặt tên cho tác phẩm

Thông thường, đối với tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền như được hưởng nhuận bút, thù lao khi tác phẩm được sử dụng hoặc được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức như xuất bản, tái bản, truyển lãm, biểu diễn, ghi âm, ghi hình, cho thuê…,

Trang 22

và quyền được nhận giải thuởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả Còn tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm thì các quyền của họ được hưởng ít hơn,

đa số là quyền được hưởng thù lao, quyền được hưởng nhuận bút

Và đối với chủ sở hữu không đồng thời là tác giả thì chủ yếu được hưởng các lợi ích vật chất từ việc sử dụng tác phẩm dưới nhiều hình thức chẳng hạn như

Như vậy, cả Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009 và Bộ Luật dân sư

2005, hay các Nghị định hướng dẫn thi hành đều chưa đưa ra khái niệm thế nào

là quyền tài sản của tác giả mà chỉ liệt kê các quyền tài sản của quyền tác giả

1.2.2 Quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền kề cận)

1.2.2.1 Khái niệm

“Liên quan” – đây là một cụm từ thể hiện sự phụ thuộc và sự tồn tại song song của một quyền đối với quyền tác giả Cụm từ này đặt ra phải có một thực thể tồn tại độc lập thì mới xuất hiện thực thể khác liên quan tới nó Khoản 3 Điều

4 Luật sở hữu trí tuệ quy định đây là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”

Có ba loại quyền liên quan đến quyền tác giả:

 Quyền của nghệ sỹ biểu diễn đối với các trình diễn của họ

 Quyền của người sản xuất bản ghi âm đối với các bản ghi âm của họ

 Quyền của tổ chức phát sóng đối với các chương trình phát thanh hoặc truyền hình của

1.2.2.2 Chủ thể của quyền liên quan

Chủ thể của quyền liên quan được liệt kê gồm ba nhóm, đó là người biểu diễn; nhà sản xuất bản ghi âm ghi hình và tổ chức phát sóng Có thể dễ dàng nhận thấy các quyền của ba chủ thể này mang tính chất bổ trợ, và cùng tồn tại với quyền tác giả Ví dụ, nếu tác giả sáng tạo ra một tác phẩm (bài hát) mà không có người biểu diễn thì tác phẩm ấy không thể đến được với công chúng, tương tự một bài hát của ca sỹ cũng không thể nào được mọi người biết đến nếu không có nhà xuất bản ghi âm ghi hình, hay tổ chức phát sóng

Do đó, hoạt động của nhà sản xuất bản ghi âm ghi hình, của tổ chức phát sóng đóng vai trò quan trọng để tác phẩm được phổ biến rộng rãi

1.2.2.3 Khách thể của quyền liên quan

14

Điều 22 Luật SHTT, Điều 23 Nghị định 100/2006/NĐ-CP

Trang 23

Cũng giống như quyền tác giả, chỉ những đối tượng được pháp luật bảo hộ thì mới được xem là khách thể của quyền đó, nếu khách thể của quyền tác giả là tác phẩm thì khách thể của quyền liên liên có khác hơn, đó là những cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình và chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá thuộc một trong các trường hợp được bảo hộ theo quy định tại điều 17 của Luật SHTT hiện hành thì đương nhiên là khách thể của quyền liên quan Ví dụ như cuộc biểu diễn do công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài thuộc một trong các cuộc biểu diễn được bảo hộ theo điều 17 thì đương nhiên cuộc biểu diễn đó là khách thể của quyền liên quan

1.3 Hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và ngoại lệ 1.3.1 Hành vi xâm phạm

Theo tiến sĩ Lê Nết - trường Đại học Luật TPHCM, xâm phạm là các hành

vi sử dụng tác phẩm hay chương trình biểu diễn nhằm mục đích kinh doanh mà không có sự đồng ý của chủ thể quyền tác giả, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Các hành vi này còn gọi là hành vi ăn cắp bản quyền hay sao chép lậu Quyền quan trọng nhất trong các quyền tác giả hay quyền kế cận là quyền cho hay không cho người khác sử dụng tác phẩm, chương trình biểu diễn của mình Nó thể hiện bản chất độc quyền của quyền tác giả và quyền kế cận Chính

vì vậy mà mọi hành vi sử dụng tác phẩm hay chương trình biểu diễn nhằm mục đích kinh doanh mà không có sự đồng ý của chủ thể quyền đều bị coi là xâm phạm quyền tác giả trừ các trường hợp sử dụng không bị coi là xâm phạm

Ngày nay, sự phát triển hết sức nhanh chóng của công nghệ thông tin, đặc biệt là Internet, đã làm cho việc sao chép tác phẩm qua mạng trở nên hết sức dễ dàng Không chỉ thế, các công cụ sao chép ngày càng nhiều, tốc độ ngày càng nhanh và giá thành ngày càng giảm làm vấn đề xâm phạm quyền tác giả ngày càng trầm trọng

Xét về khía cạnh nhân thân, những người sao chép, ăn cắp thành quả lao động sáng tạo của người khác đã xúc phạm đến uy tín của cá nhân và cả của tổ chức Xét về khía cạnh kinh tế, hành vi của những người sao chép tác phẩm của người khác để kinh doanh không phải nộp thuế và trả thù lao công như phí li- xăng quảng cáo Vì vậy họ được lợi bất chính từ thành quả lao động của người

người trung gian phát hành tác phẩm (nhà xuất bản chẳng hạn), đến những người tiêu dùng vì mua phải sản phẩm kém chất lượng và nhà nước sẽ bị thất thu thuế

15

Ts Lê Nết, trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh – “Quyền sở hữu trí tuệ - tài liệu bài giảng”, trang 46

Trang 24

1.3.1.1 Hành vi xâm phạm quyền tác giả

Một hành vi sử dụng tác phẩm mà không được phép của tác giả xem như xâm phạm quyền tác giả, cụ thể theo điều 28 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm

2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì tổ chức hay cá nhân có các hành vi chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; mạo danh tác giả; công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả hoặc các đồng tác giả dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả; sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, hay không được phép của đồng tác giả đó Tuy nhiên trong số các hợp được xem là xâm phạm quyền tác giả ở điều luật này, cũng có nhiều trường hợp có ngoại lệ, ví dụ như trường hợp “sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật” thì ngoại lệ của trường hợp này là:

 Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của

cá nhân; sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;

 Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình, không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu; trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;

 Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;

 Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;

 Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;

 Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;

 Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng

Nói tóm lại Luật SHTT đã quy định khá đầy đủ những trường hợp nào được coi là hành vi xâm phạm, trường hợp nào là không xâm phạm quyền tác giả Căn cứ vào đó mà các cơ quan có thẩm quyền cũng như tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ có những biện pháp nhất định để ngăn chặn sự xâm phạm đó, đồng thời sẽ có những biện pháp chế tài tương ứng khi phát hiện được hành vi xâm phạm

Trang 25

1.3.1.2 Hành vi xâm phạm các quyền liên quan

Không khác nhiều so với hành vi xâm phạm quyền tác giả, khi cá nhân, tổ chức có những hành vi trái với ý muốn của chủ thể quyền liên quan coi như là xâm phạm quyền liên quan Được xem là xâm phạm quyền liên quan, khi đó sẽ là các hành vi thuộc quy định tại điều 35 Luật SHTT hiện hành, đó là các hành vi như chiếm đoạt, mạo danh, sữa chữa, thay đổi, xuyên tạc, công bố tác phẩm khi không được sự đồng ý của chủ thể quyền liên quan, sao chép, trích dẫn không hợp lý…, nói chung là những hành vi không được sự đồng ý của chủ thể quyền liên quan và pháp luật cũng không cho phép họ thực hiện

Ví dụ những nhà in lậu đã mạo để xuất bản giáo dục để xuất bản những cuốn sách giáo khoa kém chất lượng cho học sinh học, đây là một hành vi xâm phạm quyền liên quan

1.3.2 Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không bị coi là xâm phạm

Đối với quyền tác giả, những hành vi sử dụng tác phẩm đã công bố không

bị coi là xâm phạm khi hành vi sử dụng tác phẩm đó thuộc một trong các trường hợp mà pháp luật đã quy định là không xâm phạm ở khoản 1 điều 25 Luật SHTT hiện hành, hay đó là trường hợp ngoại lệ của hành vi xâm phạm quyền tác giả ở Điều 28 (hay mục 1.3.1.1) Luật cũng quy định chặt chẽ đối với các trường ngoại

lệ của hành vi xâm phạm quyền tác giả Theo đó tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm thuộc một trong những trường hợp ngoại lệ đó không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, đồng thời phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm

Đối với các quyền liên quan, các trường hợp ngoại lệ đó là: tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học của cá nhân; hay nhằm mục đích giảng dạy, trừ trường hợp cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã được công bố để giảng dạy; trích dẫn hợp lý nhằm mục đích cung cấp thông tin; và đối với tổ chức phát sóng thì họ có thể tự làm bản sao tạm thời

để phát sóng khi được hưởng quyền phát sóng thì không bị coi là xâm phạm Các

tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm thuộc một trong các quyền ngoại lệ đó cũng không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và không gây phương hại đến quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng

1.4 Bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan

Trang 26

1.4.1 Tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan

Sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào khả năng sáng tạo của người dân ở quốc gia đó, việc khuyến khích khả năng sáng tạo của cá nhân

và truyền bá nó là điều kiện thiết yếu cho sự tiến bộ Quyền tác giả là yếu tố cấu thành quan trọng của quá trình phát triển

Kinh nghiệm cho thấy, sự giàu có của di sản văn hoá quốc gia phụ thuộc trực tiếp vào trình độ bảo hộ, bảo vệ đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, hay việc bảo vệ những người trợ giúp cho “các nhà sáng tạo trí tuệ” truyền bá thông điệp hoặc đưa các tác phẩm của họ tới công chúng một cách rộng rãi Nói cách khác, đó là việc bảo vệ các quyền tác giả và quyền liên quan của tác phẩm

Số lượng các sáng tạo trí tuệ của quốc gia càng nhiều thì danh tiếng của quốc gia ấy càng cao, số lượng các sản phẩm trong văn học và nghệ thuật càng nhiều thì càng có nhiều cộng sự trong các ngành công nghiệp giải trí, sách báo, ghi âm Và thực vậy, suy cho cùng thì việc thúc đẩy sáng tạo trí tuệ là một trong

Ngày nay, việc bảo hộ cũng như bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan ngày càng có vị trí quan trọng, có vai trò tích cực đối với công cuộc phát triển kinh tế trong thương mại quốc tế cũng như đối với nền kinh tế mỗi quốc gia Đối với nền kinh tế trong nước, làm tốt việc bảo vệ quyền tác giả cũng như quyền liên quan tốt sẽ có tác dụng tốt trong việc phát triển óc tư duy của cá nhân, thúc đẩy sự sáng tạo công nghệ và kinh doanh lành mạnh, hạn chế tối ưu tình trạng buôn bán lậu, làm giả (nhái) sản phẩm Đối với quốc tế, bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan tốt là tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự sáng tạo, giao lưu trao đổi văn hóa quốc tế, có ảnh hưởng tốt đến các quốc gia khác, thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển vì tạo được uy tín cho sản phẩm

1.4.2 Các biện pháp bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan theo

pháp luật Viêt Nam

1.4.2.1 Trước khi có luật SHTT 2005

Trước khi có Luật sở hữu trí tuệ 2005, các văn bản pháp luật có liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan như Bộ Luật dân sự 1995, Nghị định số 76/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 1996 hướng dẫn thi hành một số quy định về

16

Gs Michael Blakeney, Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary, Đại học London - “tài liệu giảng dạy về sở hữu trí tuệ”, trang 4

Trang 27

quyền tác giả trong Bộ luật dân sự 1995 không nêu lên biện pháp bảo vệ quyền

Mặc dù không quy định việc bảo vệ nhưng chủ thể quyền tác giả, quyền

liên quan khi bị người khác xâm phạm quyền của mình, có quyền yêu cầu người

có hành vi xâm phạm hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người đó phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại

1.4.2.2 Từ khi có Luật SHTT 2005

Từ khi Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được thông qua và sửa đổi bổ sung vào năm 2009, điều đó như một bước tiến dài trong việc bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, đã đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước nhà Một trong những nội dung quan trọng của việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ là vấn đề “bảo vệ quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ” (trong đó có quy định chung cho cả việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan) Luật đã dành riêng một phần gồm 3 chương, 22 điều quy định về vấn

đề này, bao gồm các nội dung về quyền tự bảo vệ của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp xử lý về hành chính, dân sự, hình sự khi phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Tuy vậy có một số điểm đáng chú ý

Quyền tự bảo vệ

Luật đã quy định rõ các quyền mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ được phép tiến hành, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời chỉ rõ được vai trò chủ động của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ trong việc bảo vệ quyền

tác giả, quyền liên quan có quyền áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền của mình; yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan; khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Đối với tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quan phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm

Trang 28

Http://luatviet.net/Home/nghien-cuu-trao-doi/so-huu-tri-tue/2009/8513/Bao-ve-quyen-so-huu-tri-tue-quyền xử lý hành vi xâm phạm Http://luatviet.net/Home/nghien-cuu-trao-doi/so-huu-tri-tue/2009/8513/Bao-ve-quyen-so-huu-tri-tue-quyền đó theo quy định của Luật SHTT và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Áp dụng các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Theo đó tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan của tổ chức, cá nhân khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, có thể

bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự Các cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm ở đây cũng được quy định cụ thể và có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, tạo điều kiện cho các cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ cũng như phối hợp với nhau tốt hơn trong quá trình xử lý hành vi xâm phạm, bảo vệ quyền của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan

Bên cạnh đó, mặc dù không được quy định trong Luật SHTT nhưng theo điều lệ, mục đích hoạt động của các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, thì các chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan cũng được các tổ chức đó bảo vệ Như vậy các chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan cũng có thể tự bảo vệ quyền của mình thông qua việc thành lập tổ chức quản lý tập thể

Trang 29

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN

2.1.1 Khái niệm quyền tự bảo vệ

Theo quy định ở Điều 255 BLDS 2005 ghi nhận chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật, từ quy

định đó có thể khái niệm: “Tự bảo vệ quyền sở hữu là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản tự mình tiến hành các biện pháp trong khuôn khổ pháp luật nhằm bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình 19

Bên cạnh đó, Bộ Luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 tại Khoản 1 Điều 15

cũng có ghi nhận “người vì bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm đến các lợi ích đó thì hành vi của người chống trả đó là phòng vệ chính đáng”

Như vậy, quyền tự bảo vệ được quy định trong nhiều lĩnh vực, ở các lĩnh vực khác nhau, mặc dù tên gọi, hình thức của quyền tự bảo vệ sẽ khác nhau nhưng bản chất nó sẽ không thay đổi đó là tự mình áp dụng các biện pháp cần thiết trong khuôn khổ pháp luật cho phép để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Khái niệm quyền tự bảo vệ quyền tác giả, quyền liên theo Luật SHTT hiện hành thì không được đề cập đến, nhưng chúng ta có thể hiểu đó là quyền của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan (gồm tác giả và chủ sở hữu, tổ chức phát sóng,

19

Http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/01/03/5145/

Trang 30

ghi âm ghi hình ) áp dụng các biện pháp trong khuôn khổ pháp luật sở hữu trí

tuệ cho phép để ngăn ngừa hành vi xâm phạm và thành lập tổ chức quản lý tập

thể để tự bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan

Tự bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan cũng chính là việc các chủ thể thực hiện hành vi bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

2.1.2 Ưu và nhược điểm

Quyền tự bảo vệ cho phép chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan được áp dụng các biện pháp nhất định (chẳng hạn như biện pháp công nghệ) để ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình Khi đó, biện pháp mà các chủ thể áp dụng để tự bảo vệ sẽ mang tính kịp thời, tạo khả năng ngăn chặn hành vi xâm phạm ngay từ đầu Tức là trước khi có hành vi xâm phạm, hoặc ngay khi phát hiện ra có hành vi xâm phạm, chủ thể quyền có thể áp dụng ngay lập tức mà không cần chờ bất kỳ một thủ tục nào, ví dụ như khi có tranh chấp quyền tác giả xảy ra thì chủ thể quyền đưa ra các thông tin quản lý quyền gắn với bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng để

tự bảo vệ Đặc điểm này cũng phần nào tránh được vụ việc xâm phạm trở nên nghiêm trọng hơn Tuy nhiên các biện pháp mà các chủ thể áp dụng không mang tính cưỡng chế

Trong một số trường hợp quyền tự bảo vệ sẽ không làm xấu đi quan hệ giữa các bên tranh chấp Vì khi có tranh chấp, xâm phạm xảy ra, pháp luật luôn khuyến khích các bên chủ thể chủ động thương lượng, hoà giải chẳng hạn như trường hợp yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, và như vậy vừa tiết kiệm được chi phí, thời gian hơn nếu phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý, yêu cầu trọng tài hay tòa án giải quyết Tuy vậy, không phải tranh chấp hay xâm phạm nào cũng phải giải quyết bằng thỏa thuận mà có trường hợp cần phải nhờ vào trọng tài hoặc tòa án

Một chủ thể quyền không thể kiểm soát tất cả người khác việc sử dụng tác phẩm của mình, khi đó họ sẽ thành lập một tổ chức quản lý đại diện cho quyền của mình Việc thành lập tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan, các chủ thể này sẽ ủy quyền cho tổ chức đại diện đó kịp thời phát hiện và yêu cầu

xử lý các hành vi xâm phạm quyền tác giả của mình, như vậy không chỉ có một người bảo vệ mà lúc này sẽ là một tổ chức, một tập thể cùng bảo vệ quyền tác giả cũng như quyền liên quan Đôi khi trong nội bộ tổ chức có những ý kiến bất đồng, ranh ghét nhau giữa các thành viên làm cho việc tự bảo vệ sẽ gặp nhiều

khó khăn hơn

Trang 31

2.1.3 Quyền tự bảo vệ đối với chủ thể quyền tác giả và quyền liên quan

Quyền tự bảo vệ cho phép chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan có quyền áp dụng các biện pháp sau để bảo vệ quyền của mình:

2.1.3.1 Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan

Định nghĩa thuật ngữ “Công nghệ”

chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người Tuỳ vào từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu: công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề; các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề; các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt

Công nghệ ở đây được hiểu như công cụ, phương tiện, bằng chứng hoặc các chương trình máy tính, những mưu mẹo giúp con người giải quyết các vấn đề tranh chấp và tự bảo vệ quyền của mình của chủ thể quyền khi có các hành vi xâm phạm

N ội dung

Các chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan được quyền áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm, đó là các quyền gì?

Thứ nhất, chủ thể quyền tác giả quyền liên quan có quyền đưa ra các

thông tin quản lý quyền gắn với bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng để tự bảo vệ

Các thông tin quản lý quyền có thể là thông tin về tên tác phẩm, thể loại tác phẩm, tên chương trình phát sóng, thông tin cá nhân về tên, tuổi, địa chỉ của tác giả hay chủ sở hữu tác phẩm… Ở đây chúng ta cũng cần hiểu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng cũng như các các thông tin quản lý quyền gắn với nó là gì Được giải thích ở điều 4 Nghị định 100/NĐ-CP, theo đó:

 Bản gốc tác phẩm là bản được tồn tại dưới dạng vật chất mà trên đó việc sáng tạo tác phẩm được định hình lần đầu tiên

 Bản sao tác phẩm là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ tác phẩm Bản sao chụp tác phẩm cũng là bản sao tác phẩm

20

Http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87

Trang 32

 Bản ghi âm, ghi hình là bản định hình các âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác, hoặc việc định hình sự tái hiện lại các âm thanh, hình ảnh không phải dưới hình thức định hình gắn với tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm nghe nhìn khác

 Bản sao bản ghi âm, ghi hình là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ bản ghi âm, ghi hình

Đối với một tác phẩm có đăng ký bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan thì các thông tin về quản lý quyền sẽ được các cơ quan có thẩm quyền ghi nhận một cách rõ ràng và chủ thể quyền sẽ được cấp “Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả” hay “Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan” nếu đơn đăng ký bảo

hộ hợp lệ và đúng quy định Và hiển nhiên, tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan hay tổ chức, cá nhân đã đăng ký bảo hộ không có nghĩa vụ chứng minh khi có tranh chấp xảy ra Có nghĩa là tổ chức, cá nhân đó không cần

phải đưa ra các thông tin quản lý quyền gắn với bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng để tự bảo vệ

Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan không đăng ký bảo hộ, khi có tranh chấp, xâm phạm xảy ra thì họ cần phải chứng minh mình là tác giả hay chủ sở hữu tác phẩm, như vậy họ cần phải đưa ra các thông tin quản lý quyền gắn với bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà mình đã sáng tạo ra để bảo vệ

Ví dụ, Ông A sáng tác ra được một bài thơ và bài thơ của ông A được đăng trên

“nhật báo” Khi đó có một tác giả sáng tác thơ B, đọc được và cảm nhận bài thơ

đó hay quá, lại có nội dung phù hợp với tập thơ của B đang viết nên tác giả B đã đưa bài thơ của A vào tập thơ của mình và không ghi nguồn gốc của bài thơ là

đã trích dẫn bài thơ đó từ ông A, người đọc nhằm tưởng bài thơ đó là do B sáng tác, lúc này ông A yêu cầu ông B đính chính lại, thì ông A sẽ đưa ra các thông tin quản lý về bài thơ đó như phương tiện, công cụ mà ông A đã viết lên tác phẩm chẳng hạn như tờ giấy đầu tiên có ghi bài thơ mà ông A viết

Thứ hai, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan có quyền đưa thông tin

quản lý quyền xuất hiện cùng với việc truyền đạt tác phẩm tới công chúng nhằm xác định tác phẩm, tác giả của tác phẩm, chủ sở hữu quyền, thông tin về thời hạn, điều kiện sử dụng tác phẩm và mọi số liệu hoặc mã, ký hiệu thể hiện thông tin

đó

Thứ ba, các chủ thể quyền có thể áp dụng các biện pháp công nghệ để bảo

vệ các thông tin quản lý quyền, ngăn chặn các hành vi tiếp cận tác phẩm, khai

Trang 33

thác bất hợp pháp quyền sở hữu của mình theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 43 Nghị định 100/2006/NĐ-CP)

Như đã đề cập ở phần lý luận chương 1, người tạo ra một tác phẩm có quyền cho phép hoặc ngăn cấm việc sử dụng tác phẩm của mình Nhà soạn kịch

có thể đồng ý cho phép tác phẩm của mình được biểu diễn trên sân khấu theo một

số điều kiện đã được thỏa thuận; nhà văn có thể thỏa thuận hợp đồng với nhà xuất bản để xuất bản và phân phối một cuốn sách Như vậy, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan có quyền cho phép hay không cho phép người khác khai thác tác tác phẩm của mình Trong trường hợp người khai thác bất hợp pháp, trái với ý muốn của chủ thể quyền thì xem như người đó đã xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trừ trường hợp bắt buộc chuyển giao Khi đó để bảo vệ quyền của mình, cũng như ngăn chặn các hành vi tiếp cận tác phẩm, tránh tình trạng khai thác bất hợp pháp quyền sở hữu của mình theo quy định của pháp luật, chủ thể quyền tác giả cần có biện pháp công nghệ để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng đó Các biện pháp công nghệ ở đây có thể là những mưu mẹo của họ, những chương trình máy tính có mật mã… mà người khác nếu không có sự cho phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan thì không thể nào tiếp cận, truy cập vào được

Ví dụ, để quản lý những tài liệu của mình, ngăn chặn sự truy nhập không hợp pháp, các nhà quản lý thư viện điện tử (trang web http://www.thuvienphapluat.vn) chỉ cho phép người nào đã đăng ký là thành viên mới được quyền truy nhập và sử dụng tài liệu trong thư viện điện tử đó, và khi đó người truy nhập cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình là hàng tháng đều phải trả phí sử dụng là 39.000đ/tháng/ 01 người sử dụng cùng lúc đối với thành viên Basic là thành viên đơn; 09 USD/tháng/01 người sử dụng cùng lúc đối với thành viên LawSoft Pro

Theo nội dung trên, các biện pháp công nghệ có vai trò quan trọng trong việc quản lý, bảo vệ quyền tác giả cũng như quyền liên quan

2.1.3.2 Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại

Khi quyền của mình bị xâm phạm, ngoài việc áp dụng các biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa các hành vi xâm phạm đó, các chủ thể quyền tác giả,

quyền liên quan còn có thể yêu cầu các tổ chức hay cá nhân có hành vi xâm

phạm quyền của mình phải chấm dứt ngay hành vi xâm phạm, ví dụ như một người có hành vi sao chép tác phẩm nhưng không được sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thì lúc này tác giả hay chủ sở hữu quyền tác giả đó có

Trang 34

quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền của mình phải chấm dứt việc sao chép ngay

Bên cạnh đó, nếu như trong trường hợp người có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đã sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm làm cho công chúng hiểu lầm về tác giả gây phương hại đến danh dự và uy tín của chủ thể quyền Trong lúc này chủ thể quyền có quyền yêu cầu người đó phải xin lỗi, cải chính công khai nhằm khôi phục danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng , để bảo vệ quyền nhân thân của mình Về nội dung, cách thức xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện việc xin lỗi, cải chính đó các bên có thể thỏa thuận với nhau nhưng thoả thuận đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội Nếu một người có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan gây thiệt hại về vật chất hay thiệt hại về tinh thần cho chủ thể quyền thì các chủ thể quyền đó cũng được quyền yêu cầu việc bồi thường thiệt hại

Ví dụ, một người mạo danh trình bày những ca khúc của ca sỹ A, nhưng việc trình diễn rất tệ, lúc này thính giả cứ nghĩ là do ca sỹ A trình bày, nên không mua đĩa của A, làm cho việc bán đĩa của ca sỹ A trở nên thất thoát, nên ca sỹ A

có quyền yêu cầu người mạo danh đó bồi thường thiệt hại cho anh ta

Cách thức bồi thường thiệt hại các bên cũng có thể thỏa thuận nếu như thỏa thận đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội

2.1.3.3 Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Cơ quan có thẩm quyền là những cơ quan mang quyền lực Nhà nước, nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn của mình

Theo Luật sở hữu trí tuệ hiện hành thì các cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan là Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp Tùy theo từng hành vi, mức độ xâm phạm mà khi chủ thể quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm đó, các

cơ quan có thẩm quyền xử lý sẽ là khác nhau cụ thể như xử lý đến mức độ dân

sự, hay hình sự thì thuộc thẩm quyền của Toà án, mức độ hành chính thì thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan,

Uỷ ban nhân dân các cấp

Ngoài việc yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của Luật SHTT, các chủ thể quyền có thể yêu cầu các cơ quan xử lý theo pháp luật có

liên quan Ví dụ một hành vi in sách lậu xâm phạm đến quyền tác giả của mình,

Trang 35

khi ấy chủ thể quyền yêu cầu Tòa án xử lý hành vi đó theo Luật SHTT, và Luật xuất bản

2.1.3.4 Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Khi một người xâm phạm đến quyền của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan và đã gây phương hại đến danh dự, uy tín của họ Khi đó, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình chủ thể quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm đó phải xin lỗi, cải chính công khai nhằm khôi phục danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng , cho mình Trong trường hợp yêu cầu đó được chấp nhận, và các bên đã thỏa thuận được với nhau về nội dung, cách thức xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện việc xin lỗi, cải chính thì sự việc coi như đã được giải quyết Nhưng trong trường hợp các bên không tự thoả thuận được với nhau về nội dung, cách thức thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện…, thì khi đó chủ thể quyền sẽ khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Toà án, hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Và dường như đã trở thành thói quen, thực tế khi tranh chấp phát sinh, các bên thường lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án, ít lựa chọn giải quyết vụ việc thông qua hình thức trọng tài, mặc dù họ đã biết nhiều nhược điểm của việc giải quyết bằng Tòa

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

2.2 Áp dụng biện pháp xử lý xâm phạm để bảo vệ

Quyền tự bảo vệ cho phép chủ thể quyền quyền tác giả, quyền liên quan tự bảo vệ quyền của mình Nhưng các quyền đó sẽ không thể nào thực hiện được một cách có hiệu quả nếu như không có các biện xử lý mang tính cưỡng chế của Nhà nước, vì đa số những cá nhân, tổ chức vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan họ luôn cố tình xâm phạm Tùy theo tính chất mức độ vi phạm khác nhau,

mà tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đó có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự

2.2.1 Biện pháp dân sự

Để bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong trường hợp chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan và bên xâm phạm không thể tự thỏa thuận với nhau được, lúc này họ phải nhờ vào sự can thiệp của Tòa án, tức là một trong hai bên chủ thể

Trang 36

quyền khởi kiện ra Tòa án, nhưng thường thì bên bị xâm quyền khởi kiện Và với điều kiện hành vi xâm phạm quyền chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình

sự khi ấy Toà án sẽ áp dụng một, một số hoặc tất cả các biện pháp dân sự để xử

lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền quyền tác giả và quyền liên quan

Các biện pháp dân sự mà tòa án áp dụng có thể là buộc bên vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa

vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại hay buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan… Tùy theo mức độ xâm phạm, mà Tòa án sẽ áp dụng các biện pháp xử lý dân sự khác nhau

Ví dụ, theo yêu cầu của của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, Toà án quyết định buộc người có hành vi in lậu sách phải chấm dứt ngay việc in lậu, hay trong trường hợp sách lậu bán ra thị trường có chất lượng xấu làm ảnh hưởng đến uy tín nhà xuất bản thì theo yêu cầu của nhà xuất bản, tòa án buộc người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại

Đặc biệt, trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật, điển hình như các biện pháp thu giữ; kê biên; niêm phong; cấm thay đổi hiện trạng; cấm di chuyển hay cấm dịch chuyển

chi tiết, chẳng hạn về quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự, quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Đáng chú ý là quy định về nguyên tắc và căn cứ xác định thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền gây ra Cụ thể tại Điều

204 và Điều 205 Luật SHTT hiện hành, thiệt hại được xác định bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Thiệt hại về vật chất được xác định trên

cơ sở xác định các tổn thất thực tế, nếu không xác định được thì mức bồi thường thiệt hại do toà án ấn định, nhưng không quá năm trăm triệu đồng Thiệt hại về tinh thần có thể được bồi thường từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng Với những quy định về các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm trên, rõ ràng Luật

sở hữu trí tuệ đã đề cao khía cạnh dân sự của quyền sở hữu trí tuệ nói chung,

21

Điều 207 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009

Trang 37

quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng Làm rõ về vấn đề này, trong quy định của Luật đã dành một chương gồm 9 điều (từ Điều 202 đến Điều 210), cho việc

xử lý xâm phạm quyền bằng biện pháp dân sự, trông khi việc áp dụng biện pháp

xử lý hành chính và hình sự chỉ trọn vẹn có 5 điều (từ Điều 211 đến 215), lại quy định chung trong một mục của một chương

Việc các tranh chấp hay xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan được

xử lý tại toà án mà cụ thể là Tòa dân sự được xem xét đầy đủ làm cho việc xử lý

vi phạm đúng đắn, có hiệu quả Đây cũng là sự khẳng định rõ hơn của pháp luật, coi quyền sở hữu trí tuệ (trong đó có quyền tác giả và quyền liên quan), là một quyền dân sự (gồm quyền nhân thân, quyền tài sản) Có thể nói rằng, quy định về

xử lý xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan bằng biện pháp dân sự trong Luật

Sở hữu trí tuệ đã nâng cao vai trò của hệ thống cơ quan tư pháp, giảm bớt sự can thiệp của cơ quan hành chính nhà nước vào các vấn đề mang tính dân sự, tránh

2.2.2 Biện pháp xử lý hành chính

Cùng với xử lý xâm phạm quyền bằng biện pháp hình sự, mặc dù Luật được quy định chỉ có 5 điều (từ Điều 211 đến 215), thì quy định riêng cho xử lý bằng biện pháp hành chính lại chiếm hết bốn Điều Đáng chú ý nhất trong bốn này, Luật SHTT hiện hành đã sửa đổi bổ sung hết hai điều (gồm điều 211 và 214) Như vậy phần nào cũng thấy được hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan kể cả xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là rất phổ biến, tinh vi, nên những điều luật cũ không thể nào điều chỉnh được hết mà phải cho ra đời những điều luật mới cụ thể hơn và phù hợp hơn với từng hành vi xâm phạm Đặc biệt, điều này có ý nghĩa thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta trong việc xử lý bằng biện pháp hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả và quyền liên quan nói riêng

Một điểm đáng lưu ý khác là trong hai điều sửa đổi bổ sung trên, cụ thể ở Điều 214, Luật đã bỏ đi, không quy định mức tiền phạt cụ thể như ở khoản 4, Điều 214 Luật Sở hữu trí 2005 cũ Và thay vào việc quy định mức tiền phạt đó, Luật đã dành riêng cho việc xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan bằng Nghị định số 47/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ Theo Nghị định này, mức phạt tiền cao nhất hiện nay về việc xử phạt

vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan do Chính phủ ban hành là

500 triệu đồng, tăng lên đến 430 triệu so với Nghị định 56/2006/NĐ-CP trước

22

mot-che-dinh-quan-trong.aspx

Trang 38

Http://luatviet.net/Home/nghien-cuu-trao-doi/so-huu-tri-tue/2009/8513/Bao-ve-quyen-so-huu-tri-tue-đây (mức phạt theo quy định tại Nghị định 56/2006/NĐ-CP, mức phạt tối đa đối với các hành vi vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan là 70 triệu đồng) Các hành vi bị xử lý đến mức phạt này như: sao chép tác phẩm, sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn, sao chép bản định hình chương trình phát sóng mà không được phép của chủ sở hữu quyền (trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị trên 500 triệu đồng); chiếm đoạt quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng, quyền sao chép tác phẩm, quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, quyền phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng Nghị định đã có hiệu lực vào ngày 30 tháng 6 năm 2009

Có thể thừa nhận rằng, một hành vi bị xử lý hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan, tức có nghĩa là hành vi đó đã xâm phạm đến trật

tự quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan Cá nhân hay tổ chức có hành vi xâm phạm và được xem là bị xử lý hành chính, khi ấy hành vi của cá nhân, tổ chức đó đã xâm phạm đến quyền tác giả, quyền liên quan gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm, người tiêu dùng hoặc cho xã hội Tuy nhiên, hành vi sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan cũng sẽ bị xử phạt hành chính

Không phải tất cả các cơ quan có thẩm quyền đều có quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan bằng biện pháp hành chính Luật cũng quy định cụ thể đối một hành vi xâm phạm quyền xảy ra Tương ứng với quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm xử lý hành vi xâm phạm của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan, khi đó bên vi phạm sẽ bị một trong các cơ quan có thẩm quyền như cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp xử lý và áp dụng hình thức xử lý hành chính như cảnh cáo hoặc phạt tiền Các hình thức xử lý hành chính này phải kèm theo việc buộc phải chấm dứt hành

vi xâm phạm

Ví dụ, A có hành vi buôn bán sách lậu và băng đĩa lậu trên lề đường Mậu Thân thuộc Thành phố Cần Thơ, thì cơ quan có thẩm quyền quản lý thị trường, hoặc công an sẽ xử lý hành vi của A Lúc này là cơ quan đó sẽ căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm mà cảnh cáo hoặc phạt tiền và phải buộc A phải chấm dứt ngay hành vi buôn bán lậu đó

Thông thường, như chúng ta đã biết, một hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan có thể sẽ xâm phạm đến nhiều lĩnh vực khác nữa Không đơn thuần chỉ áp dụng việc xử phạt hành chính cho một hành vi xâm phạm đó là đủ

Trang 39

Ví dụ như một người bị xử phạt hành chính về hành vi buôn bán sách lậu, không

lẽ cơ quan có thẩm quyền chỉ xử phạt, buộc chấm dứt ngay hành vi xâm phạm, trong khi việc buộc chấm dứt ngay hành vi xâm phạm thì điều đó cũng chỉ có hiệu lực trong một khoản thời gian nhất định, sau khi việc xử phạt của cơ quan có thẩm quyền đối với anh ta đã hoàn thành, anh ta vẫn có thể tiếp tục thực hiện buôn bán sách lậu để lấy lại số tiền mà mình đã bị xử phạt vì lúc này sách lậu của anh ta còn rất nhiều Điều này đặt ra yêu cầu cần phải có thêm những hình phạt khác đối với tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm

Vì thế, bên cạnh việc xử phạt bằng tiền, hay cảnh cáo, và buộc chấm dứt ngay hành vi xâm phạm, các cơ quan có thẩm quyền còn căn cứ vào tính chất, mức độ xâm phạm, của tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm mà áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung đối với họ như tịch thu hàng hoá giả mạo về quyền tác giả, quyền liên quan; tịch thu nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được

sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về quyền tác giả quyền liên quan; và đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm

Ngoài ra, nếu gây ra hậu quả thì tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá giả mạo về quyền tác giả-quyền liên quan; buộc đưa vào sử dụng nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo quyền đó với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền; hoặc buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về quyền tác giả, quyền liên quan, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về quyền tác giả, quyền liên quan sau khi

đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá

Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn

và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật

2.2.3 Biện pháp hình sự

Mặc dù trong hệ thống pháp luật hiện hành, quyền tác giả và quyền liên quan được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nhưng lại rất ít đề cập đến vấn đề xử lý hành vi xâm phạm quyền bằng biện pháp hình sự Trong khi

Trang 40

có nhiều cá nhân có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan có quy mô lớn, lại có tổ chức đáng lý họ phải bị áp dụng biện pháp xử lý hình sự

Để chứng minh cho vấn đề này, trong Luật sở hữu trí tuệ hiện hành chỉ quy định duy nhất Điều 212, lại không hướng dẫn chi tiết mà chỉ nêu lên “cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự” Như vậy Luật chỉ quy định chung cho các quyền sở hữu trí tuệ Bên cạnh đó, Bộ Luật hình sự hiện hành (trước đây có quy định thêm ở Điều 131, nay đã bỏ điều này) thì theo Điều 271 hình phạt quy định quá nhẹ cụ thể “tội vi phạm các quy định về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hĩnh, băng hình hoặc các ấn phẩm khác” sẽ được xử lý: đối với cá nhân mà vi phạm các quy định về xuất bản và phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình hoặc các ấn phẩm khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm Cá nhân phạm tội còn có thể bị phạt tiền

từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, và cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Thay lời kết, có thể nói vấn đề xử lý xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan bằng biện pháp hình sự còn quy định quá ít, không có văn bản hướng dẫn

cụ thể, hình phạt lại nhẹ, điều này không tạo được sự răng đe lớn đối với đối với những cá nhân có hành vi xâm phạm

2.3 Tự bảo vệ thông qua việc thành lập tổ chức quản lý tập thể

2.3.1 Khái niệm quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan

Quản lý tập thể quyền tác giả và quyền liên quan là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với Việt Nam, chưa có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào của tác giả trong nước được công bố để làm tài liệu nghiên cứu và áp dụng trên

thực tế Để đưa ra một khái niệm về quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên,

trước tiên có một số ví dụ:

Một tác giả của một tác phẩm có quyền cho phép hoặc không cho phép đối với việc sử dụng tác phẩm của mình, nhà viết kịch có thể đồng ý để vở kịch ông ta viết ra được thực hiện trên sân khấu theo một số điều kiện thoả thuận, một nhà văn có thể thương lượng một hợp đồng xuất bản và phân phối ấn phẩm của mình cùng nhà xuất bản, và một nhạc sĩ có thể đồng ý việc thu âm bài hát của họ vào đĩa Những điều này cho thấy rõ về cách mà chủ sở hữu quyền thực hiện và quản

lý các quyền của họ theo cách riêng của mỗi người Một số ví dụ khác, việc tự cá nhân quản lý các quyền của mình là hầu như không thực tế đối với một số loại

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w