1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP bảo vệ QUYỀN tác GIẢ đối với tác PHẨM văn học TRÊN INTERNET

87 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy làm thế nào để bảo vệ hữu hiệu đối với quyền tác giả trong môi trường Internet nói chung và bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet nói riêng, nhằm tạo môi trư

Trang 1

Cô: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Đào Thị Thanh Tâm - 5075141

Khóa: 33 – Niên khóa: 2007-2011

Cần Thơ, tháng 4 năm 2011

Trang 2

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

………

………

………

………

………

………

………

….………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, người viết đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và

góp ý nhiệt tình của Giảng viên hướng dẫn – cô Nguyễn Thị Ngọc Tuyền, bộ môn Tư

Pháp – Khoa Luật Trường Đại Học Cần Thơ Người viết xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô, người đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu và làm luận văn Bên cạnh đó người viết chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô đã dạy dỗ, nhiệt tình truyền đạt kiến thức cho người viết trong suốt quá trình học tập, rèn luyện và

nghiên cứu tại Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ

Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện luận văn, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những sai sót nhất định do những hạn chế về mặt thời gian, kiến thức và thực tiễn áp dụng Rất mong sự góp ý từ phía giảng viên hướng dẫn và các thầy cô Xin chân thành cảm

ơn và chúc sức khỏe

Cần Thơ, ngày tháng năm 2011

Sinh viên thực hiện

Đào Thị Thanh Tâm

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Việt Nam hội nhập với thế giới từ nhiều năm và đã có những bước phát triển vượt bậc về nền kinh tế cũng như nâng cao vị thế trên trường Quốc tế Bên cạnh đó Việt Nam đã gia nhập nhiều công ước, điều ước Quốc tế với tinh thần hợp tác, hữu nghị và cùng phát triển

Với tinh thần trên năm 2004, Việt Nam gia nhập Công ước Berne về bảo vệ quyền tác giả, đến năm 2005 ban hành Bộ luật Dân Sự với những quy định về quyền tác giả cụ thể hơn so với Bộ Luật Dân sự 1995 Mặc dù vậy, khi Luật Sở hữu trí tuệ ra đời mới thật sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả Trong thời gian qua, các văn bản quy phạm quy định, hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đã được ban hành và có những thành tích đáng kể Tuy nhiên, các mối quan hệ trong Luật Sở hữu trí tuệ cũng như những về quyền tác giả đã có những chuyển biến nhất định, nhanh chóng đòi hỏi những thay đổi của quy định pháp luật Vấn đề bảo vệ quyền tác giả ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đẩu của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, đặc biệt trong môi trường Internet toàn cầu hiện nay Một môi trường mà cần chỉ một cú bấm chuột

đã có thể tiếp xúc và lưu trữ hàng ngàn tác phẩm một cách bất hợp pháp Các tác phẩm bị vi phạm thuộc mọi lĩnh vực như âm nhạc, điện ảnh, truyền hình, văn học…

Trong các lĩnh vực trên thì việc các tác phẩm văn học bị xâm phạm quyền tác giả được ví như làn sóng ngầm luôn tồn tại bên cạnh các hành vi xâm phạm quyền tác giả trong các lĩnh vực khác nhau Bởi tác phẩm văn học được xem như hình thức lưu giữ các giá trị tinh thần cũng như truyền thống dân tộc đồng thời luôn có một lượng độc giả lớn mạnh Và khi Internet trở nên toàn cầu hóa, người ta có thể tìm thấy mọi thông tin một cách dễ dàng với chi phí thấp thì nhu cầu tiếp cận các tác phẩm văn học cũng trở nên cấp thiết hơn Đáp ứng nhu cầu tiếp cận đó, nhiều cá nhân, tổ chức lợi dụng việc sáng lập các trang thông tin điện tử dễ dàng đã tạo nên nhiều trang thông tin điện tử lưu trữ, cung cấp cũng như sao chép bất hợp pháp các tác phẩm văn học Việc xâm phạm trên ngày càng nghiêm trọng và khiến tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả bức xúc Bên cạnh đó, hành lang pháp lý quản lí vấn nạn trên còn khá lỏng lẻo và chưa theo kịp thực tế khiến cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cũng như phía cơ quan chức năng lung túng trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cũng như trong

Trang 6

thực thi luật Để làm rõ hơn những quy định của pháp luật liên quan vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nhất là trong môi trường kỹ thuật số, người viết đã chọn đề “Internet và vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học” để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu thì sở hữu trí tuệ ngày càng được các nước xem trọng và nhất là vấn đề bảo vệ quyền tác giả Sự hội nhập về kinh tế đồng thời kéo theo sự phát triển về công nghệ thông tin nhất là Internet Vì vậy làm thế nào

để bảo vệ hữu hiệu đối với quyền tác giả trong môi trường Internet nói chung và bảo

vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet nói riêng, nhằm tạo môi trường lành mạnh thúc đẩy sự sáng tạo của các tác giả là mục đích nghiên cứu của người viết

3 Phạm vi nghiên cứu

Sở hữu trí tuệ là một phạm trù có phạm vi nghiên cứu rộng, bao gồm nhiều đối tượng được Nhà nước bảo hộ Trong phạm vi nghiên cứu, do hạn chế về hiểu biết và thời gian nghiên cứu nên sinh viên thực hiện chỉ nghiên cứu về những quy định của pháp luật quốc tế và trong nước liên quan quyền tác giả Đồng thời phân tích những quy định đó dựa trên đối tượng là tác phẩm văn học trên Internet Từ đó đưa ra những

ý kiến đánh giá và những đề xuất theo quan điểm cá nhân

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình làm luận văn, người viết đã sử dụng các phương pháp tổng hợp

từ các tạp chí, sách báo cũng như những tài liệu nghiên cứu khác trên Internet… Đồng thời áp dụng phương pháp phân tích để tiến hành phân tích các nguồn tài liệu trên Bên cạnh đó tiến hành so sánh các tài liệu, so sánh pháp luật giữa các nước cũng như pháp luật giữa các lĩnh vực Các biện pháp trên được áp dụng nhằm đánh giá khái quát tình trạng bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet, đồng thời đưa ra những biện pháp nhằm khắc phục, hạn chế những vi phạm trong bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet

5 Bố cục đề tài

Gồm 3 phần:

Phần 1: Phần mở đầu

Phần 2: Phần nội dung

Trang 7

Chương 1: Nhận thức chung về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học và Internet

Chương 2: Những quy định của pháp luật về bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet

Chương 3: Thực trạng xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet Nguyên nhân và một số giải pháp

Phần 3: Kết luận

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM

VĂN HỌC VÀ INTERNET

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển quyền tác giả

1.1.1 Trên thế giới:

1.1.1.1 Giai đoạn trước thế kỉ 18

Trong lịch sử loài người, vấn đề quyền tác giả được thừa nhận tương đối muộn Thời kì Cổ đại, người ta chưa xác định cụ thể về quyền lợi cho một tác phẩm trí tuệ và cũng chưa có khái niệm về quyền tác giả mà chỉ có những quy định về bảo vệ các vật

phẩm trí tuệ ví dụ như cấm ăn trộm một quyền sách Như trong luật một số nước Châu

Âu thời cổ đại chỉ có một quy định duy nhất là không được phép ăn trộm sách, nhưng được phép chép lại nội dung sách đó Chính vì thế có trường hợp nhiều tác giả cùng làm chung một đề tài, thậm chí có người còn lấy một phần hoặc toàn bộ nội dung tác phẩm của tác giả khác Trong giai đoạn đó, các tác giả có một biện pháp duy nhất để tránh trường hợp bị ăn cắp nội dung là tác giả đó đặt một lời nguyền vào quyền sách của mình Với niềm tin những ai trộm nội dung quyền sách đó thì lời nguyền sẽ ứng

với người đó Ví dụ: vào thế kỉ thứ XIII, tại Đức, trong cuốn Sachsenspiegel, tác giả

Eike von Repgow đã đặt một lời nguyền đối với những ai ăn cắp nội dung trong cuốn sách của ông ấy, người đó sẽ bị bệnh hủi.1 Đồng thời tại Ai Cập cổ đại, nơi được xem

là cội nguồn của những cuốn sách cũng chưa có những khái niệm về quyền tác giả Những tác giả khi đưa tác phẩm ra ngoài chỉ ghi tên vị thần, hay vị Pharaon xem như việc nguyền rủa đối với những ai ăn cắp nội dung cuốn sách đó Tới Hy Lạp cổ đại và

La Mã cổ đại, lần đầu tiên khái niệm “xuất bản” xuất hiện trong đó thể hiện qua việc tác giả của chính tác phẩm giám sát việc sao chép tác phẩm của mình ra nhiều bản nhằm phục vụ được nhiều độc giả và đây được xem như một hình thức kiếm sống của nhà văn Vì vậy hành vi đạo văn mà không được sự giám sát của tác giả bị xem là làm

ô nhục danh dự và nếu nặng có thể bị đuổi ra khỏi cộng đồng, nhóm người đang sinh sống nơi đó

1 Minh Hương, Quỳnh Chi, Kiên Nhung, Phạm Chung, Quốc Bảo, Cuộc chiến bản quyền, Hồ sơ Sự kiện

chuyên san Tạp chí Cộng sản, số 129 ngày 28/8/2010, tr4

Trang 9

Đến năm 1436, Johannes Gutenbergh phát minh ra kỹ thuật in bằng chữ kim loại khiến việc in ấn trở nên dễ dàng hơn Vào năm 1440, máy in kim loại ra đời, việc

in ấn tác phẩm trở nên rộng rãi, nhưng hầu hết các tác giả cũng chưa được quyền hưởng những lợi ích từ quyền tác giả, và hầu như luật pháp cũng không thừa nhận đúng bản chất của quyền tác giả Tình trạng các tác phẩm bị sao chép lại nhiều lần trở nên phổ biến, khiến công việc kinh doanh của các nhà in trở nên sa sút, có những nhà

in đi đến phá sản, những nhà đầu tư cũng trở nên không quan tâm đến lĩnh vực in ấn Trong tình trạng trên, nhu cầu điều chỉnh pháp luật nhằm chống lại việc trộm cắp nội dung tác phẩm đã trở nên cấp thiết Các nhà đầu tư, nhà in đã xin phép Chính phủ ban cho những quyền lợi đồng thời yêu cầu xử lí nghiêm những trường hợp sao chép, in lậu Trong cuộc đấu tranh trên, Đức được xem là đi đầu khi nâng cao giá trị của bản quyền tác giả và tìm cách ngăn chặn việc in lậu một cách thành công Có thể nói quy định trên của Đức được xem là mầm mống đầu tiên của việc bảo vệ quyền tác giả đã hình thành trong hệ thống pháp luật

Đến thời kì Phục hưng, vai trò của cá nhân được xem trọng hơn, người ta chú ý đến giá trị sáng tạo của cá nhân hơn Quyền tác giả ở một số nước Châu âu đã được hình thành nhằm ban thưởng cho sự sáng tạo của các tác giả, những người đã tạo nên những tác phẩm có giá trị Đây cũng được coi là thời điểm xuất hiện đầu tiên của những quy định về bảo hộ quyền tác giả Tuy nhiên, những đặc quyền này chỉ là những đặc quyền gắn liền với cá nhân chứ chưa phải là những đặc quyền liên quan đến thu nhập của tác giả Hay nói cách khác, những đặc quyền này có ảnh hưởng đối với tác giả về mặt danh dự, và tiếng tăm hơn là những lợi ích kinh tế Đến giữa thế kỉ XVI, khi các nhà xuất bản bắt đầu trả tiền nhuận bút cho các tác giả, việc này đã chính thức ghi dấu sự ra đời của chế độ bản quyền hay còn gọi là quyền tác giả Tuy nhiên, thời gian này mới chỉ khẳng định quyền kinh doanh của các nhà xuất bản, chưa chú trọng nhiều đến quyền tác giả

1.1.1.3 Giai đoạn từ thế kỉ 18 đến nay

Thế kỉ XVIII, lần đầu tiên xuất hiện lí thuyết về quyền sở hữu của tác giả Đặc biệt là khi đạo luật của nước Anh hay còn gọi là Đạo luật Anne ra đời năm 1710 Đây được xem là đạo luật đầu tiên thừa nhận tác giả có một số quyền trong hai mươi mốt năm đối với sách đã in trước ngày ban bố đạo luật và thêm 14 năm nữa nếu tác giả còn sống hết trong lần hết hạn đầu tiên, tuy nhiên để được hưởng bản quyền đó, tác giả đăng ký tác phẩm và tên tác giả, phải nộp lưu chiểu 9 (chín) bản tác phẩm cho các

Trang 10

trường đại học và thư viện2 Từ đó cũng bắt đầu hình thành những quy định pháp luật đầu tiên về quyền tác giả trong pháp luật của các nước phương Tây Tại Mỹ năm 1795

đã áp dụng biện pháp như các tác phẩm đều được ghi vào danh mục của Hiệp hội các nhà xuất bản, và phải ghi thêm ghi chú Copyright để được bảo vệ Đến năm 1791,

1793, Pháp cũng đề ra đạo luật về sở hữu văn học nghệ thuật.3

Cơ sở quan trọng của bảo hộ quốc tế về quyền tác giả là Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật Tại thời điểm hình thành năm 1883, các quy định cơ bản của Công ước tất yếu phải lệ thuộc vào các công nghệ nhân bản in thời

đó Trên cơ sở tính đến các tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực này, nhiều hội nghị sửa đổi dẫn đến các bổ sung Công ước đã được tiến hành năm 1886, hoàn thiện tại Paris năm 1896, chỉnh lý tại Berlin năm 1908, hoàn thiện tại Berne năm 1914, chỉnh lý tại Rome năm 1928, tại Bỉ năm 1948, tại Stockholm năm 1967, tại Paris năm 1971, và bổ sung năm 1979 tại Liên hiệp Berne Có thể nói Công ước Berne, là tổ chức đầu tiên của các nước Châu Âu, đồng hành với Công ước toàn cầu về quyền tác giả (UCC) năm 1952 trên Tây bán cầu Sau sự gia nhập của Hoa Kỳ vào Công ước Berne và sự phê chuẩn Thỏa ước TRIPs, tạo thành một phần quan trọng của Công ước Berne, Công ước toàn cầu Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp về quyền tác giả trở nên tiếp tục có hiệu lực rộng rãi Ảnh hưởng của các công nghệ kỹ thuật số tới vấn đề bản quyền đã được ghi nhận trong Hiệp định WIPO về quyền tác giả năm 19964

Một vài quốc gia chỉ còn có một phạm vi tự do hạn hẹp trong việc định hình cho quyền tác giả vì những quy định khác thường có thể được coi là lợi thế không công bằng, không được các đối tác thương mại thế giới chấp nhận mà không có phản ứng chống lại Trong tương quan về thế mạnh hiện tại Mỹ là quốc gia có phạm vi tự

do rộng lớn nhất và với Digital Millennium Copyright Act (DMCA) là quốc gia đã định sẵn chiều hướng chung của quyền tác giả, đi đến việc bảo vệ quyền tác giả một cách nghiêm ngặt hơn Luật tương tự ở châu Âu là European Union Copyright Directive (EUCD- Chỉ thị Copyright Liên minh châu Âu) Tại châu Âu các chỉ thị của Liên minh châu Âu chỉ có tính chất tạo khuôn khổ và phải được bổ sung bằng các

2

Ts,Ls Lê Xuân Thảo, Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về Sở hữu trí tuệ, NXB Tư pháp, Hà Nội 2005, tr 24

3 Minh Hương, Quỳnh Chi, Kiên Nhung, Phạm Chung, Quốc Bảo, Cuộc chiến bản quyền, Hồ sơ Sự kiện

chuyên san Tạp chí Cộng sản, số 129 ngày 28/8/2010, tr5

4 Gs Michael Blakeney Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary Đại học London, Tài liệu Giảng dạy về Sở

hữu trí tuệ,tr30

Trang 11

luật lệ của từng quốc gia Bắt đầu từ ngày 13 tháng 9 năm 2003 một quyền tác giả được sửa đổi có hiệu lực tại Đức mà trong đó, ngoài những điều lệ khác, việc vô hiệu hóa các phương pháp bảo vệ chống sao chép cho các mục đích thương mại cũng như

cá nhân đều sẽ bị phạt Điều 95a của Luật quyền tác giả quy định về việc "bảo vệ các biện pháp kỹ thuật" thì các biện pháp kỹ thuật không được phép vô hiệu hóa khi chưa

có sự đồng ý của người đang sở hữu quyền Các biện pháp bảo vệ chống sao chép ở các đĩa compact – đĩa CD, ghi âm thanh hay DVD không còn được phép vô hiệu hóa

vì mục đích sao chép cho cá nhân nữa Tại Áo việc thực hiện EUCD đã có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2003 Trong thời gian gần đây IP-Enforcement Directive của Liên minh châu Âu là bước kế tiếp trong hướng đi đến thắt chặt hơn nữa các luật lệ về quyền tác giả.5

1.1.2.Tại Việt Nam:

1.1.2.1 Giai đoạn trước năm 2005

Ở nước ta, lĩnh vực pháp luật về quyền tác giả đã được xây dựng trong những năm 80 (tám mươi) Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật, trong đó phải

kể đến Hiến pháp 1992, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Bộ luật Dân sự… Tuy vậy, thực

tế, việc bảo hộ quyền tác giả được điều chỉnh chủ yếu trong Nghị định số 142/ HĐBT Qua một số năm thực hiện, Nghị định số 142-HĐBT đã tạo tiền đề pháp lý nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, đây là căn cứ để cơ quan bảo hộ quyền tác giả (nay là Cục bản quyền tác giả) thực hiện việc đăng kí quyền tác giả và giải quyết các tranh chấp về quyền tác giả Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Nghị định 142-HĐBT đã bộc lộ một số hạn chế cả về nội dung và hình thức

Để khắc phục các khiếm khuyết của Nghị định 142-HĐBT, ngày 12/2/1994, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả Với bố cục 7 chương và 47 điều, pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả đã quy định tương đối đầy đủ và

cụ thể những vấn đề về bảo hộ quyền tác giả so với Nghị định 142-HĐBT như: đối tượng được bảo hộ (thêm phần mềm máy tính vào đối tượng bảo hộ), quy định cụ thể

về quyền tác giả, thời hạn bảo hộ, thời hạn bảo hộ đối với đồng tác giả…

Tuy nhiên đến khi Bộ luật dân sự 1995 được ban hành thì quyền tác giả mới chính thức lần đầu tiên được quy định tập trung tại Chương I Phần thứ sáu của Bộ luật dân sự (từ điều 745 đến điều 779 và tại một số điều khác) Bộ luật dân sự 1995 ra đời

5 Bách khoa toàn thư mở, Quyền tác giả,

http://vi.wikipedia.org/wiki/Quy%E1%BB%81n_t%C3%A1c_gi%E1%BA%A3#Ph.C3.A1t_tri.E1.BB.83n_hi E1.BB.87n_t.E1.BA.A1i_c.E1.BB.A7a_quy.E1.BB.81n_t.C3.A1c_gi.E1.BA.A3

Trang 12

đã kế thừa và phát triển các quy định của Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả ngoài ra còn

kế thừa các quy định phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả như: khái niệm tác giả, thời điểm phát sinh quyền tác giả, các loại hình tác phẩm được bảo hộ, các tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ Bên cạnh đó còn bổ sung thêm một số quy định mới so với Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả như: quy định rõ và

cụ thể về chủ sở hữu quyền tác giả, quy định quyền liên quan đến người biểu diễn, tổ chức ghi âm, ghi hình, sản xuất băng đĩa…Mặc dù vậy Bộ luật dân sự 1995 chỉ đề cập đến quyền tác giả dưới góc độ là một quyền dân sự Tuy nhiên, đây cũng được xem là

cơ sở pháp lý để Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế trong lĩnh vực quyền tác giả như: Việt Nam kí kết hai hiệp định song phương về quyền tác giả với Hoa Kỳ và Thụy Sĩ

và kỳ Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, trong đó phần quan trọng của Hiệp định là quyền sở hữu trí tuệ

1.1.2.2 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

Năm 2004 Việt Nam gia nhập công ước Berne là tiền đề cho một loạt những văn bản pháp lý quy định về quyền tác giả được ban hành Từ năm 2005, Việt Nam đã ban hành Luật Sở hữu trí tuệ Vấn đề bản quyền tác giả đã được quy định và áp dụng theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (quy định tại Phần hai gồm 6 chương và 45 điều) và Bộ Luật Dân sự 2005 (quy định từ điều 736 đến đều 749 tại chương 34 Phần thứ sáu) Theo đó, quyền tác giả đối với những tác phẩm gốc được bảo hộ không phân biệt hình thức, ngôn ngữ thể hiện và chất lượng của tác phẩm Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 bảo đảm thực hiện điều 3 của Hiệp định TRIPS và điều 3 của Công ước Berne Theo điều 13 của Luật Sở hữu trí tuệ công dân của nước thành viên Công ước Berne hoặc

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) sẽ được bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam.6

Bên cạnh ban hành các văn bản pháp lý trên là các Nghị định

100/2006/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan đã hướng dẫn về quyền tác giả cũng như nêu ra những khái niệm cơ bản nhằm đưa quyền tác giả tiếp cận đến người dân nói chung và giới tác giả nói riêng Luật sở hữu trí tuệ ra đời là bước ngoặt có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp lý nước ta Góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo nền tảng cho Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2006 Luật Sở hữu trí tuệ là cơ sở pháp lý vững chắc

6 Trang Luật gia Phạm, Cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, nguyen/7-so-huu-tri-tue/20-cam-ket-cua-viet-nam-trong-linh-vuc-so-huu-tri-tue.html

Trang 13

http://www.luatgiapham.com/tai-cho việc bảo hộ, bảo vệ những thành quả lao động sáng tạo của người dân nói chung

và của giới văn sĩ nói riêng Đây coi như một cách thể hiện sự công nhận giá trị nhân văn, giá trị kinh tế của Nhà nước một cách công bằng, hữu ích và kịp thời Tuy nhiên, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, do những thay đổi của xã hội, sự phát triển vượt bậc của công nghệ

kỹ thuật số khiến cho những quy định trong luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả chưa thật sự phù hợp Đòi hỏi những quy định mang tính theo kịp sự phát triển của thế giới

và trong nước

Vì vậy tại kì họp thứ 5 Quốc Hội khóa XII ngày 19 tháng 6 năm 2009, Quốc Hội đã tiến hành sửa đổi bổ sung luật Sở hữu trí tuệ và những quy định về quyền tác giả cũng được xem xét sửa đổi bổ sung, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư đồng thời thúc đẩu sự phát triển về mặt kinh tế trong nước Bên cạnh đó ban hành nghị định 47/2009/ NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính về quyền tác giả và quyền liên quan đã phần nào có tính răn đe đối với những trường hợp vi phạm quyền tác giả

1.2 Khái niệm về quyền tác giả và quyền tác giả đối với tác phẩm văn học

1.2.1 Quyền tác giả:

1.2.1.1 Khái niệm quyền tác giả:

Quyền tác giả còn được hiểu là bản quyền (copyright) Nó được dùng để bảo

vệ cho các sáng tạo tinh thần Có thể nói quyền tác giả là quyền lợi của tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học… Là một quyền độc quyền của tác giả trong việc sử dụng hay cho phép người khác sử dụng tác phẩm của mình

Quyền tác giả được hiểu như là một tập hợp các quyền về nhân thân và tài sản của tác giả Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu7 Theo khái niệm trên ta có thể hiểu luật thừa nhận hai chủ thể có quyền tác giả: tác giả của tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả Từ đây ta cũng có thể hiểu, cá nhân

có thể là chủ sở hữu quyền tác giả hay tác giả của tác phẩm hoặc cả hai tư cách đó Còn tổ chức chỉ có thể là chủ sở hữu của tác phẩm Theo nghĩa khách quan ta có thể hiểu quyền tác giả là tập hợp tất cả những quy phạm điều chỉnh những quan hệ có liên quan đến việc tạo dựng, sử dụng và chuyển giao các tác phẩm thuộc đối tượng của quyền tác giả

7 Điều 4 khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009

Trang 14

1.2.1.2 Căn cứ phát sinh quyền tác giả:

Quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo ra và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng kí hay chưa đăng kí8

Có hiểu quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm những ý tưởng sáng tạo hình thành trong tư duy bộ não con người được thể hiện dưới dạng hình thái vật chất nhất định, không phụ thuộc vào bất kì thể thức nào, có thể được thể hiện trên giấy, trên gỗ, trên tường, đá, băng, đĩa,… Điều này chứng tỏ những ý tưởng chỉ hình thành trong não mà chưa được thể hiện ra bằng vật chất nhất định sẽ không được nhà nước bảo

hộ Quyền tác giả cũng không phụ thuộc vào việc công bố hay chưa công bố, bởi khi

ấy quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm vẫn phát sinh kể từ thời điểm sáng tạo ra tác phẩm và được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định Quyền tác giả phát sinh không nhất thiết phải qua thủ tục đăng kí bảo hộ Việc đăng kí bảo

hộ quyền tác giả không phải là căn cứ làm phát sinh quyền tác giả

1.2.1.3 Nội dung quyền tác giả:

Nội dung quyền tác giả là tập hợp các quyền về nhân thân và tài sản của tác giả tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả9

Quyền nhân thân là tập hợp các quyền nhằm bảo vệ các lợi ích về tinh thần của tác giả Những lợi ích đó được bảo đảm bằng việc được quyền đặt tên cho tác phẩm; được quyền đứng tên thật hay bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; được quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm, ngoài ra còn được bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm

Thực chất, quyền công bố, phổ biến, cho phép người khác công bố tác phẩm có thể xem là quyền nhân thân và có tính chất tài sản Vì khi tác giả thực hiện hoặc trao quyền công bố hay có phép người khác công bố tác phẩm của mình, tác giả sẽ thu được những lợi ích kinh tế nhất định Đây là quyền mà tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đều có quyền hưởng Ngược lại quyền đặt tên, đứng tên hoặc bút danh cũng như bảo vệ toàn vẹn tác phẩm hoàn toàn là những quyền gắn liền với nhân thân tác giả Những quyền này thể hiện đúng bản chất bảo vệ giá trị về mặt tinh thần cho tác

8 Điều 739 khoản 1 Bộ luật Dân sự 2005

9 Điều 738 Bộ luật Dân sự 2005

Trang 15

giả Một cách thể hiện sự tôn trọng thành quả lao động sáng tạo của tác giả Chính vì thế đây là những quyền không thể chuyển giao cũng như không thể lấy đi của tác giả cho dù việc sáng tạo tác phẩm đó dựa trên một hợp đồng, giao kèo hay kí kết của tác giả với cá nhân, tổ chức Những quyền nhân thân này sẽ được bảo vệ thông qua Nhà nước hoặc xã hội sau khi tác giả qua đời thông qua quy định của pháp luật và các chuẩn mực đạo đức

Quyền tài sản nhằm bảo vệ lợi ích được khai thác, tham gia vào quá trình sử dụng, khai thác các giá trị kinh tế của tác phẩm Khai tác những lợi ích kinh tế dựa trên những quyền về sao chép tác phẩm; Hay quyền cho phép tạo tác phẩm phái sinh; Hoặc được quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc và bản sao tác phẩm; Ngoài ra còn được quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng; Hay cho thuê bản gốc hoặc bản sao chương trình máy tính

Các quyền tài sản trên do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của luật Sở hữu trí tuệ Cá nhân, tổ chức có thể sử dụng một, một số hay toàn bộ các quyền tài sản trên hoặc muốn công bố tác phẩm phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả Quyền tài sản là một bộ phận của quyền tác giả nhằm bảo vệ lợi ích về mặt vật chất đối với tác giả Một tác giả chỉ có thể sáng tạo nghệ thuật, chỉ có thể tạo ra các tác phẩm có giá trị khi có tiền đề vững chắc về mặt kinh tế Tuy nhiên, quyền tài sản được trao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả chỉ

có giới hạn thời gian, và quyền này có thể chuyển giao cho người khác một phần hoặc toàn bộ

Ngoài ra bên cạnh việc xét đến nội dung quyền tác giả ta còn cần phải xét đến chủ thể và khách thể của quyền tác giả để hiểu hơn về quyền tác giả

** Về mặt chủ thể: Chủ thề của quyền tác giả được giao cho hai đối tượng là tác giả

và chủ sở hữu quyền tác giả

Tác giả

Mọi người đều biết việc tạo ra các tác phẩm văn học là cả một quá trình hoạt động sáng tạo của cá nhân Bởi vậy, tác giả các tác phẩm văn học phải là những con người cụ thể và họ phải trực tiếp sử dụng khả năng sáng tạo của mình để tạo ra tác phẩm Theo điều 736 Bộ luật dân sự 2005 thì tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Điều này cũng có nghĩa là pháp nhân hoặc các chủ thể khác không thể là tác giả mà chỉ có thể là người nắm giữ các quyền của tác giả (chủ

Trang 16

sở hữu quyền tác giả) Thuật ngữ tác giả còn dùng trong trường hợp một người sáng tạo ra tác phẩm từ tác phầm của người khác, bao gồm: dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn10 Tuy nhiên, sáng tạo của nhóm người này là dựa trên sự tồn tại từ tác phẩm có sẵn của người khác, do đó nhóm tác giả trên phải ghi rõ tên tác giả của tác phẩm gốc Mặc dù vậy hiểu theo phương diện nào thì tác giả cũng phài là người trực tiếp thực hiện các hoạt động sáng tạo để tạo ra tác phẩm Hay nói cách khác tác phẩm phải là thành quả sáng tạo được thể hiện ra một hình thức vật chất nhất định, cụ thể và có tính mới về nội dung, ý tưởng hay ngôn ngữ thể hiện tác phẩm Có thể trong quá trình sáng tạo, tác giả nhận được sự ủng hộ về mặt vật chất, cung cấp tài chính hay đóng góp ý kiến

từ các tổ chức, cá nhân khác để có ý tưởng trong sáng, thì họ vẫn được thừa nhận là tác giả của tác phẩm, những chủ thể trên không phải là tác giả của tác phẩm

Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp tác phẩm được tạo ra từ thành quả sáng tạo của một cá nhân hoặc một nhóm người Trường hợp có hai hay nhiều người cùng trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm thì những người đó là đồng tác giả Đồng tác giả là tình trạng các cá nhân hoạt động trong cùng lĩnh vực hợp tác sáng tạo nên tác phẩm Mỗi người có thể đảm nhận từng phần riêng biệt của tác phẩm hoặc cùng hợp tác làm nên

một phần hay toàn bộ tác phẩm mà không thể phân riêng biệt được Ví dụ:Tác giả A

và tác giả B cùng hợp tác sáng tác một tác phẩm văn học C Họ phân công nhau A sẽ sáng tác phần đầu và B sẽ sáng tác phần cuối Trường hợp này là những phần riêng biệt Nhưng nếu A và B cùng nhau trao đổi ý tưởng và trong quá trình viết lẫn lộn không phân biệt phần nào của A, phần nào của B được thì quyền tác giả không thể tách rời riêng biệt được. Trường hợp đồng tác giả thì được hưởng những quyền tác giả như nhau đối với tác phẩm

Chủ sở hữu quyền tác giả

Theo điều 36 luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009 thì chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hay toàn bộ quyền tài sản của quyền tác giả Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là tác giả, đồng tác giả hoặc là các tổ chức giao nhiệm vụ hoặc kí kết hợp đồng với tác giả nhằm tạo ra tác phẩm với nội dung nào đó Chủ sở hữu quyền tác giả cũng có thể là người thừa kế, người được chuyển giao quyền tác giả Chủ sở hữu quyền tác giả là người trực tiếp hay không trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm đó

10 Điều 736 Bộ luật Dân sự 2005, khoản 2

Trang 17

Đối với từng trường hợp thì chủ sở hữu quyền tác giả có những quyền về nhân thân và tài sản nhất định

* Chủ sở hữu quyền tác giả đồng thời là tác giả: Tác giả được thừa nhận đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả trong trường hợp tác giả đã sử dụng thời gian, công sức, tiền của, cơ sở vật chất để sáng tạo ra tác phẩm mà không thông qua một thỏa thuận nào, hay kí hợp đồng với chủ thể khác nhằm tạo ra tác phẩm Trường hợp này thì chủ sở hữu quyền tác giả sẽ được hưởng toàn bộ quyền nhân thân và quyền tài sản như tác giả11

* Chủ sở hữu quyền tác giả là đồng tác giả: trường hợp nhiều người cùng bỏ ra công sức, tiền của, cơ sở vật chất để tạo ra tác phẩm đồng thời sáng tạo tác phẩm không thông qua hợp đồng, thỏa thuận thì được thừa nhận là những chủ sở hữu quyền tác giả là đồng tác giả Nếu việc phân chia tách biệt các phần sáng tạo trong tác phẩm không thể tách biệt thì các quyền nhân thân và tài sản đều được hưởng đầy đủ như trường hợp tác phẩm được sáng tạo bởi một tác giả; Nếu có thể tách biệt các phần trong tác phẩm mà không phương hại đến quyền và lợi ích trong phần còn lại của tác giả khác thì mỗi tác giả chỉ được hưởng đầy đủ quyền tác giả đối với từng phần riêng biệt đó12

* Trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả là một tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ,

kí kết hợp đồng với tác giả tạo ra tác phẩm: Theo nguyên tắc thì trong trường hợp này tác giả của tác phẩm sẽ nắm toàn bộ quyền nhân thân, chủ sở hữu quyền tác giả chỉ được hưởng quyền tài sản trọn vẹn và hưởng quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm13

* Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế: Chỉ những tổ chức, cá nhân được người để lại thừa

kế quyền tác giả là chủ sở hữu quyền tác giả mới là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đó Nếu có nhiều người thừa kế mà người để lại thừa kế không phân định rõ từng phần người thừa kế được hưởng đối với chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm thì sẽ được hưởng quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm14

11 Điều 37 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sđ bs 2009

12 Điều 38 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sđ bs 2009

13 Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sđ bs 2009

14 Điều 40 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sđ bs 2009

Trang 18

* Trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền: Cá nhân, tổ chức được các chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao một số, hoặc toàn bộ quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm hay cho phép người khác công bố tác phẩm thông qua thỏa thuận hợp đồng là chủ sở hữu các quyền được chuyển giao15

* Nhà nước: Đối với tác phẩm khuyết danh, những tác phẩm mà trong thời gian bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tác giả chết, không còn người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản hay tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu cho nhà nước thì nhà nước

là chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm đó16

** Về mặt khách thể:

Đối tượng được bảo hộ bởi quyền tác giả chính là khách thể của quyền tác giả Trong trường hợp này khách thể của quyền tác giả chính là tác phẩm Một tác phẩm trở thành khách thể của quyền tác giả phải là tác phẩm gốc Có nghĩa là tác phẩm được hình thành trực tiếp từ thành quả lao động của tác giả, không phải là từ tác phẩm sao chép từ tác phẩm đã có Bởi những tác phẩm sao chép có thể bị xâm phạm về nội dung, xu hướng trong tác phẩm… làm mất đi tính đặc trưng của tác giả trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm đó Có thể nói nét riêng cũng như phong cách của từng tác giả được thể hiện rõ ràng qua tác phẩm gốc của họ, chính vì vậy bảo hộ tác phẩm gốc chính là bảo hộ nét riêng, phong cách sáng tạo riêng của tác giả

Về nguyên tắc nhà nước bảo hộ tác phẩm không phân biệt nội dung hay hình thức thể hiện cũng như ngôn ngữ thể hiện Không có sự phân biệt về chất lượng, giá trị sử dụng hay mục đích Đây là điểm khác giữa bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong sở hữu công nghiệp, bảo hộ đối với giống cây trồng

Giá trị hay ý nghĩa văn học trong một tác phẩm phụ thuộc vào ý nghĩ chủ quan của mỗi người, có người xem tác phẩm này hay, ý nghĩa nhưng một số khác lại không đồng tình Ngoài ra còn phụ thuộc vào thời gian tiếp nhận tác phẩm, số lần đọc hay tâm trạng của người đọc Những người khác nhau sẽ có sự tiếp nhận rất khác nhau đối với tác phẩm văn học đó, không thể lấy giá trị của người này áp đặt lên tác phẩm, làm tiêu chuẩn đánh giá để bảo hộ tác phẩm Mục đích sử dụng của tác phẩm phụ thuộc vào chính tác giả cũng như cá nhân người sử dụng tác phẩm đó quyết định, lựa chọn

15 Điều 41 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sđ bs 2009

16 Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sđ bs 2009

Trang 19

Một tác phẩm có thể có một hay nhiều mục đích sử dụng khác nhau Đôi khi chính tác

giả lại không thể kiểm soát được mục đích sử dụng của tác phẩm của chính mình Ví

dụ: như một người sử dụng tác phẩm của tác giả B nhằm hoàn thiện hơn bài luận của mình trong khi tác giả B sáng tác ra tác phẩm chỉ nhằm mục đích chia sẻ cảm nhận

cá nhân…

1.2.1.4 Giới hạn quyền tác giả:

Quyền tác giả có thể bị giới hạn bởi thời gian theo quy định của luật từng nước

cụ thể Ngoài ra còn có thể bị giới hạn bởi một vài nhân tố khác trong đó có giới hạn bởi không gian: Một tác phẩm có thể được bảo hộ ở nước này nhưng qua nước khác

do không đáp ứng được những yêu cầu mà pháp luật nước đó quy định nên không được bảo hộ Mặt khác quyền tác giả còn có thể bị giới hạn bởi phạm vi trong một quốc gia Có nghĩa là quyền tác giả chỉ có hiệu lực pháp luật trong quốc gia quy định

về quyền tác giả

1.2.2 Nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm văn học:

Để hiểu hơn về quyền của tác giả đối với tác phẩm văn học người viết đưa ra những khái niệm cơ bản về tác phẩm văn học đồng thời phân loại các tác phẩm văn học Việc phân loại nhằm mục đích cho người đọc có cách nhìn tổng thể hơn về các tác phẩm văn học trên Internet qua đó có thể hiểu hơn về nội dung những quyền của tác giả đối với từng loại văn học trên Internet

1.2.2.1 Khái niệm tác phẩm văn học:

Tác phẩm văn học bao gồm: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, và các loại văn viết khác bất kể nội dung là gì (hư cấu hay không hư cấu), độ dài, mục đích (giải trí, giáo dục, thông tin, quảng cáo, truyền hình…), hình thức (viết tay, đánh máy, in, sách, tờ rơi, báo, tạp chí), được xuất bản hay không xuất bản.17

Đặc trưng của tác phẩm văn học là cách thể hiện Tác phẩm thuộc thể loại này được thể hiện bằng chứ viết (viết tay hoặc đánh máy) hoặc ở dạng kí tự khác là kí tự thay thế cho chữ viết: ví dụ như chữ nổi, kí tự tốc kí, các loại kí hiệu tương tự khác Tuy nhiên các loại kí hiệu khác này cũng phải có khả năng chuyển hóa thành chữ viết, hoặc có thể hiểu và tiếp cận được, có thể sao chép được dưới các hình thức khác nhau

1.2.2.2 Phân loại tác phẩm văn học:

Người viết phân loại theo cách thức hình thành tác phẩm và hiện trạng đối với tác phẩm khi đưa lên Internet Theo cách người viết phân loại thì hiện nay có hai dòng

17 Cẩm nang Sở hữu trí tuệ: chính sách, pháp luật và áp dụng, Tổ chức WIPO, 2001, tr 43

Trang 20

văn học: dòng văn học truyền thống được đưa lên mạng Internet và dòng văn học mạng

** Văn học truyền thống:

Những tác phẩm văn học truyền thống là những tác phẩm được xuất bản thành sách,báo… đến tay người đọc thông qua kênh xuất bản Những tác phẩm này sau khi xuất bản thành sách hay bài báo… có thể được đánh máy lại đưa lên Internet Hoặc những tác phẩm được tác giả sáng tác hoàn thiện sau đó tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đã xuất bản và phát hành trên Internet Đối với những tác phẩm này tác giả là người làm chủ tác phẩm của mình từ ý tưởng, cách thể hiện đến nội dung của tác phẩm Hoàn toàn không có sự tham gia sáng tạo từ bên ngoài, nói cách khác là không

có được sự tương tác giữa tác giả và độc giả

** Văn học mạng:

Văn học mạng là đề cập đến cả quá trình từ sáng tác trên mạng, được khẳng định, đón đọc, sửa chửa cho đến xuất bản trên mạng18 Có nhiều người cho rằng văn học mạng chính là những tác phẩm văn học đã được xuất bản sau đó đưa lên Internet, cách hiểu này là không đúng Bởi đó chỉ là văn học được đưa lên mạng, văn học mạng phần quan trọng nhất chính là khi tác phẩm chưa hoàn chỉnh được đưa ra có sự tham gia đóng góp ý kiến của chính người đọc, các độc giả; đôi khi từ những ý kiến, sự sáng tạo của độc giả ấy có thể làm thay đổi cả kết cấu về nội dung của tác phẩm Đây chính là sự tương tác giữa tác giả và độc giả

1.2.2.3 Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học:

** Quyền nhân thân:

Theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009 thì quyền được công bố tác phẩm hay cho phép người khác công bố tác phẩm của tác giả tác phẩm văn học được bảo hộ suốt đời tác giả và năm mươi năm sau khi tác giả chết nếu trường hợp đồng tác giả thì quyền này được bảo hộ tới năm mươi năm sau khi tác giả cuối cùng chết19 Riêng quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền đứng tên hay bút danh, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng, quyền được bảo bảo toàn tác phẩm không bị cắt xén, sửa chữa tác phẩm… 20 thì được bảo hộ vô thời hạn

18 Thể thao và Văn hóa, Chính độc giả khai sinh ra Văn học mạng, Đông Kinh

http://thethaovanhoa.vn/173N20090717041231563T133/chinh-doc-gia-khai-sinh-ra-tac-pham-van-hoc-mang.htm

19 Điêu 27 khoản 2 điểm b Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sđ bs 2009

20 Điều 27 khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sđ bs 2009

Trang 21

Đối với tác giả tác phẩm văn học truyền thống được đưa lên Internet thì vấn đề bảo vệ những tác phẩm văn học có thể dễ dàng xác định quyền cũng như dễ dàng xác định chủ thể quyền tác giả Chỉ cần tên một tác phẩm hay tên một tác giả của tác phẩm được đưa lên Internet người đọc cũng như những người có quyền lợi liên quan

có thể xác định ngay tên tác giả và nhà xuất bản tác phẩm đó và liên hệ khi có hành vi xâm phạm bản quyền xãy ra Đối với tác phẩm văn học mạng để bảo vệ quyền nhân thân của họ trở nên khó hơn do vấn đề những tác giả này thường nổi trên mạng–môi trường ảo và họ thường không cung cấp thông tin chính xác Ngoài ra những tác phẩm văn học mạng là những tác phẩm dễ bị cắt xén, xuyên tạc và mạo danh làm mất uy tín, danh dự của tác giả nên vấn đề bảo vệ quyền nhân thân của tác giả tác phẩm văn học mạng là vấn đề cần được quan tâm đúng mực

** Quyền tài sản:

Tất cả quyền tài sản của tác giả tác phẩm văn học đều được bảo hộ suốt đời tác giả và năm mươi năm sau khi tác giả chết nếu trường hợp đồng tác giả thì tương tự như quyền công bố tác phẩm hay cho phép người khác công bố tác phẩm quy định tại quyền nhân thân của tác giả21 Có thể nói quá trình từ lúc hình thành ý tưởng đến khi một tác phẩm văn học đến tay người đọc tác giả cũng như chủ sở hữu quyền tác giả đã tốn không ít công sức và tiền của nên quyền tài sản là một phần đền đáp công sức và kích thích sự sáng tạo của tác giả Đối với những tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thì vấn đề quyền tài sản có vẻ như không được xem trọng, nó chỉ là vấn đề khi tác giả hay chủ sở hữu quyền tác giả được độc giả nồng nhiệt đón nhận tác phẩm và được xuất bản thành bản in

Tác phẩm văn học là tác phẩm mang đậm tính dân tộc, truyền thống và thể hiện sự phát triển của một đất nước Chính vì thế nhuận bút chính là phần thưởng xứng đáng cho nỗ lực của tác giả, giúp tác giả dành hết thời gian và sự quan tâm của bản thân đến những tác phẩm văn học có giá trị Việc bảo vệ quyền tài sản của tác giả cũng cần tương xứng với bảo đảm quyền lợi của chủ sở hữu quyền tác giả, các nhà xuất bản vì vấn đề phổ biến tác phẩm, bảo vệ bản quyền tác phẩm một phần phụ thuộc vào sự tích cực từ phía chủ sở hữu quyền tác giả hay nhà xuất bản Mặc khác bảo vệ quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả còn phải hài hòa với lợi ích chung, lợi ích của toàn xã hội

21 Điêu 27 khoản 2 điểm b Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sđ bs 2009

Trang 22

1.3 Internet và bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet

1.3.1 Khái quát chung về Internet:

1.3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Internet:

* Trên thế giới:

Năm 1962, J.C.R Licklider cho ra đời ý tưởng đầu tiên về mạng kết nối các máy tính với nhau Tuy nhiên, phải đến năm 1969, mạng này mới được đưa vào hoạt động và là tiền thân của Internet Có thể nói tiền thân của Internet ngày nay là mạng ARPANET Cơ quan quản lý dự án nghiên cứu phát triển ARPA thuộc bộ quốc phòng Mỹ liên kết 4 địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1969 bao gồm: Viện nghiên cứu Stanford, Đại học California, Los Angeles, Đại học Utah và Đại học California,

Santa Barbara Đó chính là mạng liên khu vực (Wide Area Network - WAN) đầu tiên

được xây dựng22 Đến năm 1982, bộ giao thức TCP/IP (Transmission Control Protocol) được thành lập, đây được coi như một chuẩn mực đối với ngành quân sự

Mỹ và tát cả máy tính nối với ARPANET đều phải sử dụng chuẩn mới này Giao thức này giúp cho các máy có thể dễ dàng nối kết thông tin truyền thông với nhau và cũng chính là giao thức chuẩn trên Internet Năm 1983, ARPANET sử dụng bộ giao thức TCP/IP, sau đó tổ chức Khoa học Quốc gia Mỹ ( National Scinece Founddation – NSF) tài trợ xây dựng NSFNET thay thế cho ARPANET

Thời kì bùng nổ của Internet là vào năm 1986 khi NSFNET liên kết hơn 60 (sáu mươi) trường đại học ở Mỹ và ba trường đại học ở Châu Âu Điểm đặc biệt của mạng NSFNET là cho phép mọi người cùng lúc sử dụng Năm 1990, với tư cách là một dự án, ARPANET dừng hoạt động nhưng mạng do NSF và ARPANET tạo ra đã được sử dụng vào mục đích dân dụng, đó chính là tiền thân của mạng Internet ngày nay Một số hãng lớn bắt đầu tổ chức kinh doanh trên mạng Đến lúc này đối tượng sử dụng Internet chủ yếu là những nhà nghiên cứu và dịch vụ phổ biến nhất là E-mail (thư điện tử) Internet trở thành một phương tiện đại chúng Đến năm 1991, tại Trung tâm Nghiên cứu nguyên tử Châu Âu (CERN), Tim Berners – Lee đã phát minh và triển khai thành công dịch vụ World Wide Web (www) Có thể nói đây là cuộc cách mạng vĩ đại và là bước ngoặt quan trọng trên Internet Vì người dùng có thể truy cập, trao đổi thông tin một cách dễ dàng Đây là điểm thu hút nhiều người sử dụng Internet trên toàn cầu Nhưng Internet chỉ được biết đến với khái niệm là mạng thông tin toàn cầu một cách chính thức vào năm 1993 khi NSF lập InterNIC cung cấp nhiều dịch vụ

22 Bách khoa toàn thư mở, Internet, http://vi.wikipedia.org/wiki/Internet

Trang 23

Ngày nay, Internet thực sự là mạng máy tính toàn cầu cho phép mỗi người sử dụng tự tìm thấy những dịch vụ cần thiết cho mình và hầu như đáp ứng mọi nhu cầu của người sự dụng và có thể trung thực nói rằng, Internet đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống công việc của không ít người Trở thành dịch vụ được sử dụng nhiều nhất và luôn có nhu cầu cần cải tiến Từ những mạng dây chằn chịt đến mạng không dây, mạng LAN, mạng Wi-Fi ra đời - công nghệ kết nối cục bộ không dây đã đươc chuẩn hóa Đến mạng Internet trên điện thoại di động, hệ thống GPRS, 3G và tiếp đây là 4G… đang ngày càng thu hút đông đảo người sử dụng Internet

* Ở Việt Nam:

Dịch vụ Internet ở Việt Nam được Nhà nước cho phép thực hiện từ ngày 5/3/1997 Nhưng phải đến 19/11/1997, cánh cổng mở ra với thế giới mới chính thức khai trương, sau tám tháng chuẩn bị Cùng với việc mở cửa, Ban điều phối quốc gia

về Internet Việt Nam cũng được thành lập năm 1997 nhằm giúp Thủ tướng trong việc chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa các cơ quan hữu quan Với Nghị định số 21/1997/NĐ-CP ra đời tạo lập cơ sở hành lang pháp lý tạm thời cho các hoạt động Internet Việt Nam ở thời điểm hiện tại Sau ba năm phát triển, mạng lưới hạ tầng mạng đã kết nối đến 61/61 tỉnh thành trên toàn quốc, người dân đều có thể truy nhập Internet qua mạng điện thoại công cộng tại địa phương Trong thời kỳ này, các dịch

vụ cung cấp cho người tiêu dùng chủ yếu là dịch vụ kết nối Internet

Cùng với sự phát triển không ngừng của Internet, Nghị định số

21/1997/NĐ-CP đã không còn phù hợp với yêu cầu phát triển mới, Nghị định 55/2001/NĐ21/1997/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và khai thác sử dụng Internet đã được ban hành thay thế cho Nghị định 21/1997/NĐ-CP Đến năm 2000, Việt Nam có một nhà cung cấp dịch vụ truy cập mạng, 5 nhà cung cấp dịch vụ Internet, 14 nhà cung cấp nội dung thông tin, 9 mạng dịch vụ Internet dùng riêng Ba năm sau đó, cả nước có trên 85.000 người sử dụng (tương đương 1 người dùng/1.000 dân) với khoảng 700.000 máy tính cá nhân (1 máy/100 dân) và cứ 10 PC thì có một máy kết nối Internet Có các báo điện tử như Báo Nhân Dân (cả phiên bản tiếng Việt và tiếng Anh), tạp chí Quê Hương, Vietnam News, Thời báo kinh tế VN Bắt đầu vào tháng 5/2003, dịch vụ truy nhập Internet tốc

độ cao ADSL được cung cấp và luôn trong tình trạng cung không đủ cầu Cho đến tháng 5/2005, hạ tầng kết nối Internet Việt Nam với quốc tế đã phát triển đa hướng Băng thông quốc tế đạt bình quân 0,95Kbps/thuê bao Hướng đi quốc tế lên đến mười

Trang 24

hai hướng qua các tám vùng quốc gia có lưu lượng trao đổi Internet lớn gồm: Mỹ, Nhật bản, Hàn quốc, Singapore, Trung quốc, Hồng Kông, Đài loan, Malaysia 23

Đến ngày 28 tháng 8 năm 2008 Chính phủ ban hành Nghị định

97/2008/NĐ-CP quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thay thế Nghị định 55/2001/NĐ-CP tạo môi trường pháp lý tương đối đầy đủ cho sự phát triển của Internet tại Việt Nam Các công nghệ từ Internet đường truyển tốc độ cao ADSL đến cáp quang, Internet không dây (wi-fi) đến công nghệ mạng trên

di dộng 3G… đã thu hút đông đảo người sử dụng Internet với giá thành tương đối phù hợp với mọi thành phần Riêng năm 2010, lĩnh vực Internet của Việt Nam đã có những dấu mốc lớn Ngày 9/10/2010, Hiệp hội Internet Việt Nam đã chính thức được thành lập, góp phần nâng cao tỷ lệ người sử dụng Internet, phấn đấu đạt mục tiêu 50-60% số hộ gia đình và cá nhân có Internet băng rộng, tăng cường đẩy mạnh việc đưa ứng dụng Internet vào đời sống xã hội, đặc biệt tập trung cho các lĩnh vực: giáo dục, y tế… Cũng trong năm 2010, thêm một dấu mốc quan trọng đối với Internet Việt Nam, ngày 1 tháng 12 hàng năm đã được chọn là ngày kỷ niệm Internet Việt Nam chính thức hoà vào mạng Internet toàn cầu24 Có thể nói Internet ngày càng phát triển nhanh chóng về chất lượng và cả số lượng người sử dụng tại Việt Nam

1.3.1.2 Khái quát về Internet và khái niệm liên quan

* Khái quát về Internet:

Trong luật hầu như không có định nghĩa về Internet mà chỉ có thể hiểu Internet

là hệ thống thông tin toàn cầu sử dụng giao thức Internet (Internet Protocol - IP) và tài nguyên Internet để cung cấp các dịch vụ và ứng dụng khác nhau cho người sử dụng25 Trong công nghệ thông tin thì có thể hiểu như sau: Internet là Inter + net Trong đó Inter nghĩa là International (quốc tế) và net là mạng nhện Từ đó ta có thể hiểu Internet nghĩa là mạng quốc tế Hay chính xác hơn là mạng của các mạng, tức là bao gồm các mạng kết nối với nhau Mạng Internet là mạng chung không có một tổ chưc tối cao nào quản lí mà chỉ có một tổ chức đứng ra điều phối hoạt động là Hiệp hội Internet IOSC Mỗi phần nhỏ của mạng do các tổ chức khác nhau của từng khu vực

23 Tác giả Nguyễn Lê Thúy, Lê Nam Trung, Báo cáo toàn cảnh Internet Việt Nam năm 2005, tr2

24 Website VNPT, Chặng đường 13 năm phát triển Internet tại Việt Nam

trien-Internet-Viet-Nam/Default.aspx

http://www.vnpt.com.vn/News/Tin_Tuc/ViewNews/tabid/85/newsid/13338/seo/Chang-duong-13-nam-phat-25 Điều 3 khoản 1, Nghị định 97/2008/NĐ-CP quy định về quản lí, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet

Trang 25

quản lí Không ai hay một thực thể cố định cũng như trung tâm mạng nào có quyền điểu khiển Mỗi mạng liên kết với nhau tạo ra mạng toàn cầu

Về bản chất, Internet là công nghệ thông tin liên lạc mới, là một phương tiện cần thiết như điện thoại hay tivi, nhưng ở một mức độ bao quát hơn nhiều Chẳng hạn, điện thoại chỉ cho phép bạn trao đổi thông tin qua âm thanh, giọng nói (bỏ qua công nghệ 3G hiện nay) Với tivi thì thông tin bạn nhận được sẽ trực quan hơn Còn Internet lại hơi khác Nó đưa bạn vào một thế giới có tầm nhìn rộng hơn và bạn có thể làm mọi thứ: viết thư, đọc báo, xem bản tin, giải trí, tra cứu và thậm chí còn có thể bàn công việc làm ăn hay trực tiếp mua bán

Internet từ khi mới xuất hiện cho đến nay đã nhanh chóng trở thành công cụ hữu ích trong việc trao đổi thông tin và liên lạc Hằng ngày có hàng trăm thậm chí hàng ngàn người gia nhập vào hệ thống mạng thông tin này Các thông tin trao đổi thông qua Internet cũng ngày càng nhiều và đa dạng: từ những thông tin đơn giản hình thành trên những bài báo, trang điện tử, đến xem truyền hình trực tuyến, thậm chí bạn có thể đọc được một quyền sách hay sáng tác và trao đổi với độc giả một cách nhanh chóng và ít tốn kém nhất

Chính vì sự phát triển ngày càng nhiều và đa dạng các hình thức tiếp cận thông tin từ những dòng kí tự đơn giản đến sự xuất hiện của website cho phép tiếp cận thông tin thông qua truy tìm theo chế độ đồ họa Chính sự xuất hiện này của website và sự bao trùm rộng lớn của nó đã khiến cho một ấn phẩm không thể xuất bản nay trở thành

ấn phẩm mang tính toàn cầu hay nói cách khác trên website các thông tin của bạn sẽ được thế giới biết đến, vì vậy mà hiện tượng sao chép và vi phạm bản quyền ngày càng nhiều dẫn đến tổn thất về tinh thần cũng như tài chính của chính tác giả hay chủ

sở hữu quyền tác giả Mặt khác cũng ảnh hưởng đến người sử dụng Internet bởi họ phải tiếp cận thông tin không phải bao giờ cũng chính xác, kém chất lượng và dẫn đến tình trạng mất khả năng chọn lọc thông tin phù hợp Về lâu dài có thể họ sẽ không thể tiếp cận thông tin một cách đầy đủ và chính xác cũng như không có thông tin để tiếp nhận do tác giả hay chủ sỡ hữu thông tin e ngại sự vi phạm bản quyền mà không thông tin ra ngoài, chỉ giữ riêng cho bản thân

* Lưu trữ thông tin:

Lưu trữ thông tin là nhu cầu có từ tất yếu từ khi xuất hiện từ lâu Ban đầu những thông tin được viết và lưu lại trên các thanh gỗ, khi giấy xuất hiện thì được lưu lại bằng những dòng trên giấy Những thông tin sau khi được lưu trữ lại đều không

Trang 26

bền và chiếm nhiều diện tích cũng như tốn kém Chính vì vậy khi máy vi tính xuất hiện với bộ nhớ lớn đồng thời xuất hiện các ổ đĩa, các CD, VCD, DVD khiến cho việc lưu trữ thông tin trở nên dễ dàng hơn và ít tốn kém hơn đã trở thành trào lưu Khi nhu cầu lưu trữ thông tin được đáp ứng đầy đủ người ta bắt đầu nghĩ đến chia sẻ thông tin

họ có được Ban đầu là những dòng tin gửi qua mẫu giấy, từ từ thành những cuốn sách, bài báo… truyền tay nhau Khi mạng xuất hiện thì nhu cầu chia sẻ trở nên nhiều hơn và cấp bách hơn Các thông tin lúc đầu được chia sẻ bằng cách trực tiếp hay thông qua dạng file đính kèm trong các email – thư điện tử Nhưng cách chia sẻ này cũng dừng lại giữa những người chia sẻ và được chia sẻ, không mang tính cộng đồng cao Blog hay còn gọi là trang cá nhân ra đời cùng với các trang thông tin điện tử đã đưa trình độ chia sẻ thông tin lên cao Các thông tin được đưa lên và lưu trữ trong các trang thông tin điện tử những ai muốn tìm hiểu chỉ việc đến và đọc Cách chia sẻ này hiệu quả hơn và mang tính cộng đồng nhiều hơn, đúng với bản chất của Internet

Tuy nhiên, với hình thức thông tin được lưu trữ dưới dạng số hóa đã khiến cho tình trạng sao chép và đánh cắp thông tin trở nên tràn làn và khó kiểm soát Khiến cho việc truy tìm nguồn gốc của thông tin trở nên khó khăn hơn khi các trang mạng thay phiên sao chép nhằm thu hút nhiều người xem Dẫn đến nhu cầu bảo vệ thông tin trở nên cấp thiết

* Bảo mật thông tin:

Khi nhu cầu trao đổi thông tin dữ liệu ngày càng lớn và đa dạng, các tiến bộ về điện tử - viễn thông và công nghệ thông tin không ngừng được phát triển và được ứng dụng để nâng cao chất lượng và lưu lượng truyền tin thì các quan niệm ý tưởng và biện pháp bảo vệ thông tin dữ liệu cũng được đổi mới Bảo vệ an toàn thông tin dữ liệu là một chủ đề rộng, có liên quan đến nhiều lĩnh vực và trong thực tế có thể có rất nhiều phương pháp được thực hiện để bảo vệ an toàn thông tin dữ liệu Hầu như không có một giải pháp nào là an toàn tuyệt đối nên việc sử dụng nhiều biện pháp cùng lúc là điều thường thấy Tuy nhiên, có thể nói đến các giải pháp sau:

Quyền truy cập: Lớp bảo vệ trong cùng là quyền truy nhập nhằm kiểm soát các tài nguyên của mạng và quyền hạn trên tài nguyên đó Dĩ nhiên là kiểm soát được các cấu trúc dữ liệu càng chi tiết càng tốt Hiện tại việc kiểm soát thường ở mức tệp – các file Khi tiếp cận một trang thông tin nào đó có thể bạn với tư cách là khách hoặc là thành viên tham gia Chính quyền truy cập này cho phép bạn có quyền hay không tiếp

Trang 27

cận được các thông tin trên trang đó và có hay không quyền phản hồi đối với các thông tin trên

Đăng kí tên và mật khẩu: Đây là phương pháp bảo vệ phổ biến nhất vì nó đơn giản ít phí tổn và cũng rất hiệu quả Mỗi người sử dụng muốn được tham gia vào mạng để sử dụng tài nguyên đều phải có đăng ký tên và mật khẩu trước Người quản trị mạng có trách nhiệm quản lý, kiểm soát mọi hoạt động của trang thông tin điện tử

và xác định quyền truy nhập của những người sử dụng khác nhau theo thời gian và không gian (nghĩa là người sử dụng chỉ được truy nhập trong một khoảng thời gian nào đó tại một vị trí nhất định nào đó) Hình thức bảo vệ này cho phép người quản lí trang thông tin đó có thể kiểm soát được những thông tin mà đã người đăng kí tên và mật khẩu trước đó đưa ra Mỗi người khi đăng kí tên và mật khẩu của một trang nào

đó, trên nguyên tắc họ sẽ có một tài khoản nhất định trong trang đó (giống như một folder trong máy tính vậy) Các bài viết cũng như các thông tin của người dùng tên và mật khẩu đó đều được lưu lại kể cả ngày giờ như các bài viết trong các file trong các folder Các thông tin này không thể sửa được Khi muốn truy suất cũng rất dễ dàng

Mã hóa dữ liệu: Để bảo mật thông tin trên đường truyền người ta sử dụng các phương pháp mã hoá Dữ liệu bị biến đổi từ dạng nhận thức được sang dạng không nhận thức được theo một thuật toán nào đó và sẽ được biến đổi ngược lại ở trạm nhận (giải mã) Đây là lớp bảo vệ thông tin rất quan trọng Mỗi một trang thông tin sẽ có một cách thức viết mã hóa, ngôn ngữ mã hóa riêng Các thông tin khi được truyền tới

sẽ dựa trên các mã nguồn đã viết để được mã hóa để lưu trữ Do mỗi lập trình viên có cách viết cũng như ngôn ngữ mã hóa riêng nên nếu các thông tinh bị đánh cắp cũng phải giải mã mới có được các thông tin mật đó, việc giải mã cần rất nhiều thời gian, công sức tuy nhiên vẫn có thể xâm nhập được

Tường lửa – firewall: Ngăn chặn thâm nhập trái phép và lọc bỏ các gói tin không muốn gửi hoặc nhận vì các lý do nào đó để bảo vệ một máy tính hoặc cả mạng nội bộ Đây là lớp bảo vệ thường thấy ở các trang thông tin nhằm tránh tình trạng bị đánh cắp thông tin hay sự phá hoại từ tác nhân bên ngoài Hình thức bảo vệ này giống như một ngôi nhà sẽ có cánh cửa đóng kín Chủ nhà muốn cho ai vào thì mở cửa còn không thì đóng lại đối với người đó Tuy nhiên, nếu trộm muốn vào có thể sẽ bẻ khóa hay chui lỗ hổng Biện pháp này cũng vậy, cũng có những chỗ hổng và những tin tặc hay còn thường gọi là các hacker sẽ theo đó xâm nhập đánh cắp cũng như phá hủy các thông tin

Trang 28

Quản trị mạng: việc bảo đảm cho hệ thống mạng máy tính hoạt động một cách

an toàn, không xảy ra sự cố là một công việc cấp thiết hàng đầu Bất kì một trang thông tin nào cũng đều có một hay một nhóm quản trị Họ quản lí các thông tin, thường xuyên thẽo dõi các diễn biến của trang thông tin đó Xem xét có sự xâm nhập nào không cũng như luôn tìm cách khắc phục các khiếm khuyết trong việc bảo mật thông tin

Có nhiều biện pháp nhưng không một giải pháp nào là an toàn tuyệt đối nên việc thường xuyên kiểm tra, lập trình phải được đưa lên hàng đầu Ngoài ra cần thường xuyên cập nhật thông tìn cần thiết để thực hiện việc bảo mật thông tin tốt nhất

1.3.2 Bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet

1.3.2.1 Mối quan hệ giữa Internet và bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet:

Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, Internet ngày càng phổ biến trong đời sống xã hội Có thể nói ưu điểm lớn nhất của truyền thông trực tuyến là nội dung của nó phổ biến và có thể truy cập trong thời gian rất ngắn Thêm vào đó truyền thông trực tuyến ngày càng trở nên mở, khiến người bình thường được trao quyền và có thể phản ánh bất cứ thông tin nào và cung cấp thông tin một cách thuận tiện và nhanh chóng Một ưu điểm khác nữa chính là thu hút một lượng lớn giới trẻ Bởi giới trẻ dành phần lớn thời gian cho Internet, chính vì thế họ dễ dàng tiếp cận với các thông tin Sự phát triển ồ ạt của các trang thông tin điện tử, với sức hút mãnh liệt đối với độc giả trẻ nhờ công nghệ đa phương tiện đã dành được một lượng độc giả lớn Các trang thông tin mạng đang tồn tại theo một hình thức khá bất minh Công nghệ copy- and – paste (sao chép và dán) đã giúp nhiều trang thông tin đánh cắp và tồn tại bên cạnh những nổ lực cũng như công sức của những người cung cấp thông tin

Có thể hiểu rằng Internet đang ngày càng làm mất đi dấu ấn cá nhân Các thông tin trên mạng hiện nay có độ chính xác không cao, nhiều khi bỏ qua các chuẩn mực đạo đức xã hội, gây bức xúc trong dư luận Tác giả của thông tin cũng không còn được quan tâm Người ta thường không chỉ ra được website nào, hay báo mạng nào đăng tải thông tin thì tác giả đưa thông tin đó đối với đọc giả chỉ là một khái niệm mơ

hồ

Internet theo đánh giá một số tổ chức thế giới là công cụ chính trong ăn cắp bản quyền Nhiều website công khai buôn bán nhạc, cho sao chép, dowload (tải về)

Trang 29

những bài báo, những tác phẩm văn học một cách đơn giản như copy – paste hay đăng

kí một user, password riêng để tải về Hầu như các website này không sử dụng các biện pháp nhằm tránh trường hợp ăn cắp bản quyền một cách phổ biến và dễ dàng Các website này mục đích duy nhất là thu hút càng nhiều độc giả mạng càng tốt Và hầu hết các website này đều không thu bất kì phí nào từ độc giả mạng ngoài trừ tiền

sử dụng mạng người dùng phải trả cho nhà cung cấp nên việc thu hút độc giả trở nên

dễ dàng Các website này tồn tại một cách ngang nhiên mà không bị bất kì sự cản trở nào từ phía cơ quan chức năng Cộng thêm khi lập các website này người lập lại không tốn tiền để có các tên miền (ngoại trừ tên miền vn) nên các website với tính chất cộng đồng như vậy ngày càng đa dạng và ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của tác giả cũng như người chủ sở hữu quyền tác giả

1.3.2.2 Thuận lợi và khó khăn thách thức với việc bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet:

* Thuận lợi:

Có thể xem Internet là môi trường tạo điều kiện thuận lợi cho những cá nhân,

tổ chức cố ý có hành vi xâm phạm quyền tác giả nhưng chính môi trường mạng cũng tạo ra những thuận lợi nhất định cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cũng như cơ quan chức năng phát hiện và ngăn chặn kịp thời hành vi xâm phạm bản quyền Sự thông dụng của Internet khiến một tác phẩm văn học có thể dễ dàng phổ biến đến cho những người tiếp cận Internet Nhờ thế tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, cơ quan chức năng có thể tìm kiếm và phát hiện hành vi xâm phảm bản quyền tác phẩm một cách nhanh chóng và kịp thời Ngoài ra, tác giả cũng như những nhà xuất bản có thể tìm đến nhau kí kết hợp đồng xuất bản một tác phẩm văn học mạng đang được quan tâm hoặc dịch một tác phẩm sang ngôn ngữ khác.v.v Thông qua hoạt động này tác giả có thể có thêm nguồn thu kinh tế mà không tốn nhiều chi phí đầu tư quảng bá, tìm kiếm nhà xuất bản Những tác phẩm có thể dễ dàng đến với những công chúng vùng sâu (những nơi có thể tiếp cận với Internet thông qua mạng điện thoại di động)

Internet còn là môi trường mang tính tương tác cao, có thể nhận được phản hồi một cách nhanh chóng từ phía độc giả về tình trạng tác phẩm văn học bị xâm phạm bản quyền Vì suy cho cùng độc giả chính là người tiếp cận nhiều nhất đến các trang web cung cấp tác phẩm văn học, và cũng chính độc giả là những người hâm mộ trung thành, bất bình khi thấy tác phẩm của tác giả mình yêu thích bị xâm phạm, họ sẽ lên tiếng trong khi tác giả có thể chưa kịp phát hiện Độc giả cũng chính là người có ảnh

Trang 30

hưởng nhất đến những tác phẩm văn học mạng, đôi khi nó quyết định sự kết thúc hay tiếp tục phát triển của tác phẩm đó đồng thời cũng chính độc giả là người có tác động đến việc xuất bản một tác phẩm văn học mạng

* Khó khăn, thách thức:

Sự phát triển về công nghệ Internet và các phương tiện nối mạng như máy vi tính cá nhân, điện thoại di động đã khiến mạng truyền thông ngày càng lớn mạnh kéo theo những mặt trái của công nghệ kỹ thuật số mang lại Và một trong những lĩnh vực

bị tác động mạnh nhất là bản quyền đối với tác phẩm văn học Do nhu cầu đọc, tiếp cận các tác phẩm văn học của người dân, giới trẻ ngày càng cao nhưng khoản tiền bỏ

ra để được một cuốn sách văn học đối với đa phần giới trẻ là khá lớn Nhận thấy khó khăn đó như một ngưỡng cửa kinh doanh, các website lưu truyền các tác phẩm văn học mở ra ngày càng nhiều Họ tận dụng những người ham đọc sách, những người yêu sách, yêu văn học với mong muốn mang giá trị của một quyền sách đến cho nhiều người không có điểu kiện đọc bằng cách đánh máy lại nội dung quyền sách đó đưa lên mạng Internet Những ngưởi quản lí các trang web trên với vẻ ngoài như trung gian không vụ lợi để đưa từ người cung cấp nội dung sách đến những người có nhu cầu tiếp cận, nhưng thật ra chính những người quản lí lại thu lợi nhuận bằng cách thu hút nhiêu quảng cáo trên trang web của họ Số tiền thu được dựa trên số lượng người truy cập vào địa chỉ họ Và cách thu hút nhiều người bấm chuột chính là đáp ứng nhu cầu sách online (sách trực tuyến) của đọc giả mạng Họ cung cấp nội dung những đầu sách đang có ngoài thị trường, đến những đầu sách đang trong quá trình dịch chưa tung ra thị trường do những thành viên trang web có khả năng dịch và cung cấp, đến những tác phẩm văn học mạng do chính các tác giả đang sáng tác đưa lên nhằm tiếp thu ý kiến của người đọc

Môi trường Internet là một môi trường có nhiều điều kiện thuận lợi Tuy nhiên, chính những thuận lợi đó lại tạo nên những khó khăn cho việc bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học như:

Dễ dàng sao chép: Tác phẩm văn học truyền thống có thể dễ dàng, thuận lợi, nhanh chóng bị số hóa bằng sự kiên nhẫn đánh máy lại nội dung tác phẩm mà chi phí thấp lại bảo toàn nội dung cũng như chất lượng Mỗi bản copy được đưa lên Internet lại được sao chép thành nhiều bản mà vẫn giữ nguyên chất lượng ban đầu Như vậy chỉ cần một bản copy được tung lên Internet cũng đủ đáp ứng nhu cầu của hàng triệu người Và thiệt hại về mặt kinh tế là điều dễ thấy đối với những tác giả cũng như chủ

Trang 31

sở hữu quyền tác giả của tác phẩm được đưa lên Internet Cái khó khăn là ở chỗ không thể kiểm soát được hành vi cũng như số người vi phạm đồng thời việc xử phạt trở nên khó thực thi khi các trang web hầu như không có cơ sở tính toán nguồn thu Tạo điều kiện cho việc thoái thác trách nhiệm

Đối với những tác phẩm văn học mạng thì việc sao chép còn dễ dàng hơn và nhanh chóng hơn do các tác phẩm sáng tác từ ban đầu đã có trên Internet, những người có nhu cầu không cần phải tốn công ngồi đánh máy lại nội dung Họ chỉ cần một thao tác đơn giản là Ctrl+C (copy) và Ctrl+V (past) là đã có toàn bộ nội dung tác phẩm cũng như dễ dàng đưa nội dung tác phẩm từ trang cá nhân tác giả đến những trang thông tin điện tử khác Điều này gây trở ngại cho việc kiểm soát hành vi vi phạm cũng như truy tìm nguồn gốc tác phẩm, tác giả

Dễ dàng phổ biến: Sự toàn cầu hóa của Internet đã khiến việc phổ biến tác phẩm trở nên nhanh chóng trên toàn thế giới Internet có thể truyền phát đến hàng triệu nhà, cá nhân một cách dễ dàng Mặt khác chính Internet còn là môi trường tạo cho mỗi cá nhân trở thành chủ thể truyền phát tác phẩm văn học, khiến cho số lượng người tiếp cận tác phẩm đó trở thành cấp số nhân Khi Internet trở nên phố biến đồng thời với sự cải tiến về tốc độ đường truyền thì khả năng truyền tải một tác phẩm văn học vi phạm bản quyền cũng tăng theo Việc ngăn chặn sự phát tán hành vi vi phạm trở nên không dễ dàng và đòi hỏi nhiều sức lực và cả nhân lực

Dễ dàng lưu trữ: Internet có thể được xem là một kho lưu trữ thông tin với dung lượng lớn và mỗi giây dung lượng này càng được mợ rộng ra nhiều hơn Nếu một chiếc CD với dung lượng 600 megabytes có thể lưu trữ hàng ngàn thông tin, tác phẩm và thu được mức lợi nhuận kinh tế đáng kể thì giờ đây chỉ cần một chiếc điện thoại di động có kết nối mạng Internet có thể lưu trữ một khối lượng tác phẩm gấp nhiều lần như thế đồng thời có thể kịp lúc sao chép, phổ biến các tác phẩm văn học được đưa lên mạng hay các tình tiết, tác phẩm văn học mạng mới một cách kịp thời Việc xác định thiệt hại kinh tế trong trường hợp này trở nên không chính xác và chỉ

có tính ước chừng

Thách thức về bản quyền của tác phẩm văn học trên Internet là làm sao bảo vệ được quyền lợi của tác giả cũng như chủ sở hữu quyền tác giả trong việc lưu hành, sử dụng công nghệ mới phục vụ nhu cầu tiếp cận tác phẩm của độc giả khi phải đối mặt

Trang 32

với hành vi ăn cắp bản quyền và cạnh tranh bất hợp pháp ở khắp nơi26 Hầu như không ai mất tiển để có thể sao chép, phân phối hàng triệu bản sao tác phẩm văn học thông qua mạng Internet Thật khó cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả xác định và tiến hành các biện pháp pháp lý để chống lại hiện tượng ăn cấp bản quyền trên Ineternet một cách tràn lan Và ngay cả khi có thể tiến hành các biện pháp thì người vi phạm đôi khi cũng không đủ khả năng bồi thường thiệt hại họ đã gây ra một cách cố tình hay vô ý

Tóm lại, bảo vệ bản quyền tác phẩm văn học trên Internet luôn chứa đựng nhiều khó khăn thách thức Đòi hỏi sự quyết tâm, kiên định từ phía tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, cơ quan chức năng và chính độc giả Bên cạnh đó cần có một hệ thống pháp lý cần thiết và phù hợp quy định vấn đề này

** Tóm lại: Internet là môi trường vừa tạo nhiều khó khăn thách thức cho vấn

đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet nhưng đồng thời lại có những điều kiện thuận lợi nhất định đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, cơ quan chức năng Vấn đề quan trọng là biết cách sử dụng Internet vào mục đích hợp pháp, biết tận dụng những lợi thế mà mạng cộng đồng mang lại để đẩy mạnh vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học Ngoài ra cần có hệ thống pháp luật vững chắc

và có tính răng đe đối với chủ thể xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet

1.3.2.3 Sự cần thiết bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet:

Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì việc bảo vệ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học có một vai trò nhất định trong việc thu hút đầu tư, ổn định tinh thần của các nhà văn, đồng thời kích thích khả năng sáng tạo trong nhân dân Đặc biệt là trong một nền kinh tế mà Internet phát triển nhanh chóng như nước

ta

Thực hiện tốt việc bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet cho thấy sự quan tâm đúng mức của phía cơ quan chức năng đến lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật Nước ta vốn là nước có truyền thống văn hóa lâu đời nên có thể hiểu nhu cầu tiếp cận những tác phẩm văn học đa đạng luôn ở mức cao, bên cạnh đó giới văn sĩ chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong xã hội chưa kể đến những văn sĩ trẻ còn ngồi trên ghế

26 Marybeth Peter, Thách thức về vấn đề bản quyền trong thời đại kỹ thuật số, Tạp chí Quyền sở hữu trí tuệ,

NXB Từ điển Bách khoa năm 2006, tr63

Trang 33

nhà trường Việc bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet cần phải được đặt ra hàng đầu

Trong khi các nhà xuất bản còn đang phải mệt mỏi với vấn nạn in lậu sách khiến sách có bản quyền bị ế ẩm vì giá cao thì một đối thủ mới đã xuất hiện là sách điện tử (ebook) đang tràn lan trên mạng Internet Rất nhiều các trang web đang cung cấp bản điện tử của nhiều cuốn sách và thậm chí có cả những sách đã bị tịch thu, đình bản Việc đăng tải lên mạng với các website này dường như không tốn nhiều công sức

và thời gian và các website này luôn có cả một đội ngũ tình nguyện gõ lại những cuốn sách hay và ăn khách để đưa lên Sinh viên là đối tượng chủ yếu của việc đọc sách trực tuyến vì giá thành sách in với họ là cao và thư viện của nhà trường cũng không đáp ứng được với nhiều đầu sách mà họ cần Bên cạnh hình thức này, thị trường cũng

đã có nhiều loại điện thoại di động thông minh có chức năng về sách điện tử Tải nội dung sách về, người ta có thể lật từng trang để xem bằng cách bấm nút và có thể phóng to, thu nhỏ những nội dung cần xem27 Trước tình hình trên, việc thực thi quyền tác giả trên môi trường mạng trở nên khó khăn, cấp thiết Bảo vệ tốt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học mạng sẽ khuyến khích được tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đưa tác phẩm đã được bảo hộ lên môi trường Internet nhằm thu hút nhiều độc giả, tiếp cận được với độc giả một cách nhanh chóng bằng nhiều phương cách, thu hút giới đầu tư vào lĩnh vực xuất bản trên mạng vì đây là môi trường nếu quản lí tốt sẽ thu được mức lợi nhuận cao hơn rất nhiều so với xuất bản bản in

27Website Tin học bình dân, Bản tin giữa tháng 12-2010, Hữu Thanh

http://web.dongtak.net/spip.php?article1552

Trang 34

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI

VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC TRÊN INTERNET

2.1 Những quy định pháp luật trên thế giới về bảo vệ quyền tác giả đối với tác phầm văn học trên Internet:

2.1.1 Công ước Berne về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật:

2.1.1.1 Sự cần thiết sử dụng công ước Berne khi bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet tại Việt Nam:

Công cuộc đổi mới đất nước đã đẩy mạnh sự phát triển của khoa học công nghệ Ngoài ra sự phát triển của đất nước, quá trình mở cửa giao lưu với các nước trên thế giới đồng thời nhu cầu tiếp xúc với kiến thức văn hóa đa dạng ngày càng tăng, nhiều tác phẩm đã được dịch và xuất bản ở nhiều quốc gia khác nhau Việc này mang lại nhiều lợi ích về mặt giao lưu văn hóa, tiếp cận trao dồi tri thức cùng sự sáng tạo của nhân loại nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức Việc một tác phẩm chỉ được bảo hộ trong phạm vi một nước nên nạn xâm phạm quyền tác giả ở nước ngoài diễn ra ngày càng nhiều và hầu như không có biện pháp khắc phục bởi pháp luật một nước chỉ bảo

vệ được quyền tác giả trong giới hạn một nước nơi tác phẩm phát sinh không thể bảo

vệ tác phẩm đó bên ngoài lãnh thổ, hay tình trạng tác phẩm phát sinh ở nước ngoài nhưng lại bị xâm phạm trong nước Trước tình trạng đó việc tham gia một công ước mang tính bảo vệ toàn vẹn cho các tác phẩm văn học với phạm vi ảnh hưởng rộng lớn

là điều cần thiết và ở đây chính là Công ước Berne Việt Nam gia nhập vào ngày 26 tháng 7 năm 2004 và chính thức trở thành thành viên ngày 26 tháng 10 năm 2004 Việc gia nhập mở ra nhiều hy vọng cho các tác phẩm văn học tại Việt Nam đồng thời

có thể đưa tri thức, nền văn hóa của đất nước thông qua sự sáng tạo các tác phẩm văn học đến gần với những độc giả trên thế giới mà không lo vấn đề bị xâm phạm quyền tác giả

2.1.1.2 Những nội dung của Công ước Berne có lợi cho tác phẩm văn học trên Internet:

Hầu như luật Việt Nam đều tiếp thu đầy đủ tinh hoa của Công ước Berne trong quá trình soạn thảo Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 Những quy định về tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, thời gian bảo hộ hay cách thức bảo

Trang 35

hộ … đều được hình thành trên cơ sở của Công ước Với việc xây dựng luật dựa trên Công ước đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất định trong bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học

Xét về mặt giới hạn của quyền tác giả thì quyền tác giả có thể bị giới hạn trong phạm vi một quốc gia Tức là một tác phẩm văn học chỉ được bảo vệ trong phạm vi quốc gia mà tác phẩm gốc được công bố Trong trường hợp đó thì khi tác phẩm bị xâm phạm trái phép ở nước khác thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không thể yêu cầu bảo vệ quyền tác giả của mình Tuy nhiên, nếu quốc gia gia nhập Công ước Berne thì tại những nước là thành viên Công ước, tác phẩm sẽ được bảo vệ Hiện nay số nước thành viên của Công ước lên đến gần 160 thành viên Điều này có một ý nghĩa nhất định trong kỉ nguyên kỹ thuật số Khi mà một tác phẩm dễ dàng được đưa lên Internet, dễ dàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia để đến với người sử dụng Internet trên toàn thế giới Đồng thời tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả còn có thể hưởng được những lợi ích kinh tế lớn hơn do phạm vi tác phẩm được bảo hộ, bảo vệ rộng lớn hơn

so với phạm vi một nước

Theo quy định của Công ước Berne về nguyên tắc bảo hộ tác phẩm văn học thì một tác phẩm văn học được bảo hộ không cần phải đáp ứng một thể thức hay bất kì thủ tục nào mà chỉ cần được định hình dưới dạng vật chất nhất định Tức là khi tác phẩm được hình thành bằng cách viết trên giấy hay dưới dạng kí tự trên như đánh máy tính cá nhân hay trên mạng Internet tác phẩm đã được bảo hộ bởi Công ước Berbe Nguyên nhân là khi tác phẩm hình thành trên Internet các tác phẩm đã có thể

dễ dàng chỉnh sửa, sao chép và đánh cắp nên đó cũng phải được xem là được định hình dưới dạng vật chất nhất định Tuy nhiên, theo Công ước Berne khuyến khích nên đăng kí bảo vệ quyền tác giả vì khi ấy đó là bằng chứng hữu hiệu nhất cho việc chứng minh toàn bộ quá trình sáng tạo tác phẩm Khi ấy có thể dễ dàng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cho dù là đối với tác phẩm văn học truyền thống được đưa lên Internet hay tác phẩm văn học mạng Các tiêu chuẩn bảo

hộ tác phẩm của Công ước Berne có quy định về trường hợp tác giả là công dân hoặc

cư trú thường xuyên ở một trong những nước là thành viên của Công ước Theo tiêu chuẩn này thì nếu tác giả là công dân nước Việt Nam hoặc không phải là công dân nước Việt Nam nhưng cư trú thường xuyên tại Việt Nam thì tất cả các tác phẩm của

Trang 36

họ đều được bảo hộ ở tất cả các nước thành viên của Công ước Berne28 trong đó có Việt Nam Với môi trường Internet lan rộng như hiện nay việc một tác giả Việt Nam

có tác phẩm được những độc giả các nước khác biết đến là điều tất yếu Việc xác định vấn đề bảo hộ đối với tác phẩm trong trường hợp này có ý nghĩa đối với tác giả, chủ

sở hữu quyền tác giả Ngoài ra việc bảo hộ tác phẩm văn học đối với tác giả không phải công dân Việt Nam nhưng cư trú thường xuyên tại Việt Nam có tác dụng thu hút nguồn lực sáng tạo từ nhiều nơi đến nước ta nói riêng và các nước thành viên Công ước Berne nói chung

Tại điều 9 Công ước Berne có quy định về tác giả có tác phẩm được Công ước bảo hộ đều có quyền cho phép sao in các tác phẩm dưới bất kì hình thức, phương tiện nào Quy định này được xem như một cơ sớ pháp lý mang tính quốc tế dành cho tác giả trong môi trường các tác phẩm văn học được tải lên Internet một cách tùy tiện Ngoài ra, ngày nay nhiều tác phẩm được công bố đồng thời bằng hình thức in ấn và được truyền trên Internet Nếu việc truyền tác phẩm trên Internet tạo thành việc công

bố tác phẩm sẽ tạo thành điều khoản của Công ước Berne, một tác phẩm được công

bố trên Internet sẽ có sự bảo hộ ở mỗi nước mà có thể truy cập Internet 29

2.1.2 Hiệp ước WIPO về quyền tác giả:

Hiệp ước WIPO về quyền tác giả hay còn gọi tắt là WCT ra đời trên tinh thần

của điều 20 Công ước Berne nhằm mong muốn duy trì và phát triển sự bảo hộ các

quyền tác giả đối với tác phẩm văn học và nghệ thuật một cách có hiệu quả và đồng

bộ nhất Thừa nhận sự cần thiết đưa ra những quy định quốc tế mới và xác định rõ nội dung của các quy định hiện có nhằm đặt ra các giải pháp thoả đáng cho các vấn đề nảy sinh do sự phát triển mới về nền kinh tế, xã hội, văn hoá và công nghệ Thừa nhận ảnh hưởng sâu rộng của sự phát triển và thành tựu của công nghệ tin học và truyền thông đối với việc sáng tạo và sử dụng các tác phẩm văn học và nghệ thuật

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền tác giả như là sự khích lệ công việc sáng tạo ra tác phẩm văn học và nghệ thuật Thừa nhận sự cần thiết duy trì cân bằng

giữa quyền của tác giả và lợi ích của công chúng, đặc biệt trong giáo dục, nghiên cứu

và tiếp cận thông tin, như được nêu trong Công ước Berne30

28 Ths Nguyễn Bá Tùng, CV Phạm Thanh Tùng, Công ước Berne 1886 công cụ hữu hiệu bảo hộ quyền tác giả,

NXB Tư Pháp Tr72

29 Danniel Seng, Giáo sư Luật ĐH Tổng hợp Singapore, Một số vấn đề quan trọng về quyền tác giả và quyền

liên quan trong môi trường kỹ thuật số, Tài liệu tham khảo Hội thảo WIPO khu vực Châu Á-Thái Bình Dương

về quyền tác giả trong môi trường lỹ thuật số New Delhi, Ấn Độ 2004 Tr9

30 Lời mở đầu Hiệp ước WIPO

Trang 37

Trong hiệp ước WIPO, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được thừa nhận

những quyền thuộc về kỹ thuật số Thứ nhất là quyền sao chép, đặc biệt là việc sử

dụng tác phẩm kỹ thuật số Trong đó có thể nói tác phẩm văn học truyền thống được đưa lên Internet và tác phẩm văn học mạng là một dạng tác phẩm kỹ thuật số Những tác phẩm văn học trên được thừa nhận là một trong những tác phẩm được bảo hộ dưới hình thức kỹ thuật số do việc sao chép tác phẩm bằng các biện pháp điện tử tạo thành

Thứ hai, tác giả các tác phẩm văn học được hưởng độc quyền “cho phép bất kì sự truyền thông nào tác phẩm của họ đến với công chúng” Bao gồm việc truyền đạt tới công chúng tác phẩm của họ và công chúng có thể truy cập tác phẩm từ một địa điểm hay tại một thời điểm tùy sự lựa chọn – điều này có thể hiểu việc truyền đạt tác phẩm

trên Internet cũng là một dạng truyền thông cần được sự cho phép từ phía tác giả Thứ

ba, thừa nhận việc sử dụng ngày càng nhiều các biện pháp công nghệ nhằm quản lí quyền, nhận biết tác phẩm kỹ thuật số cũng như việc đưa ra các biện pháp chế tài đối với bất kì hành vi nhằm có ý định gây ra, cho phép đối với hành vi làm mất, sửa đổi thông tin quản lí quyền điện tử hay nhằm che đậy việc xâm phạm quyền tác giả hoặc hành vi tiến hành giao dịch thương mại đối với tác phẩm, bản sao đã bị mất hay có sự sửa đổi về thông tin quản lí Đồng thời chấp nhận các biện pháp chế tài đã được đưa

ra nhằm ngăn cản sự phá hoại đối với các giải pháp công nghệ trên

WCT đã đánh dấu sự kiện quan trọng trong vấn đề nghiên cứu luật quyền tác giả và quyền liên quan Các điều khoản trong hiệp ước này là thành quả nghiên cứu cũng như kinh nghiệm của các quốc gia, các chuyên gia hàng đầu Tuy nhiên, trong cùng thời điểm sự phát triển của môi trường kỹ thuật số không ngừng tăng lên ảnh hưởng không ít đến quyền lợi của người nắm giữ quyền tác giả, người sử dụng trong lĩnh vực văn học cũng như những nhóm người khác thì việc những quy định trong hiệp ước cần được thể chế, quy định rõ ràng hơn trong luật của từng quốc gia thành viên nhằm bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet trong nước và quốc tế

2.1.3 Quy định của một số quốc gia về vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trong môi trường kỹ thuật số:

Một dự thảo luật, tập hợp các quy định chung trên mạng kết nối toàn cầu, đã được đưa ra thảo luận nhiều lần trong hai thập kỷ qua nhưng chưa đi tới đâu Lần này, các chuyên gia Internet quyết tâm hiện thực hóa bộ luật Nguyên nhân của việc tiến hành bộ luật trên theo Giáo sư Stefano Rodota, cựu Giám đốc Hội đồng bảo vệ dữ

Trang 38

liệu châu Âu (Council of European Data Protection), là người đi đầu trong chiến dịch vận động xây dựng bộ luật về quyền Internet thì bởi "thế giới mạng hiện nay là sự tập hợp hỗn độn của các xung đột" Còn Robin Gross thuộc tổ chức IP Justice cho hay lí

do là vì ông cho rằng "Những quyền và nghĩa vụ mà chúng ta có trong đời sống cũng cần được áp dụng vào thế giới số" Bản dự thảo sẽ được xây dựng trong năm năm, bắt đầu tính từ năm 2007 31

Tại Hoa Kỳ, đất nước có nền công nghiệp phát triển và là nơi khai sinh của mạng Internet, sự phát triển của công nghệ có thể được xem là hàng đầu thì vấn đề bảo vệ quyền tác giả đã được đặt ra từ rất lâu Điển hình là Luật Bản Quyền của Hoa

Kỳ được ban hành năm 1976 và sửa đổi bổ sung có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm

1978 Luật gồm tất cả 11 chương, quy định toàn bộ thuộc lĩnh vực quyền tác giả: những khái niệm cơ bản, quyền lợi của chủ thể có quyền, thời hạn bảo hộ, hành vi xâm phạm quyền cũng như những biện pháp thực thi đối với hành vi xâm phạm, nhiệm vụ chức năng của cục bản quyền tác giả… Theo Luật Bản quyền của Hoa Kỳ tại điều 412 thuộc chương 4 quy định việc đăng kí quyền tác giả được xem như điều kiện cần cho những biện pháp thực thi cụ thể đối với sự xâm phạm Theo quy định tại điều luật này thì chỉ những tác phẩm đã đăng kí bảo hộ thì mọi khiếu kiện về hành vi xâm phạm mới chấp nhận và được thực thi Ngoài ra tại chương 5 của Đạo luật quy định về xâm phạm quyền tác giả và biện pháp thực thi gồm mười một điều, theo đó là tập hợp các quy định chi tiết về hành vi bị xem là xâm phạm quyền tác giả đồng thời quy định những biện pháp có thể thực thi khi có hành vi xâm phạm Ngoài ra, Hoa Kỳ còn có Đạo luật với tên gọi Đạo luật quyền tác giả trong kỉ nguyên công nghệ số hay được viết tắt là DMCA với tên tiếng Anh là Digital Millennium Copyright Act Đạo luật kết tội sự sản xuất và phổ biến các công nghệ, thiết bị, dịch vụ qua mặt các biện pháp quản lý việc truy cập và sử dụng các sản phẩm đã được đăng ký bản quyền (thường được gọi là “quản lý quyền kỹ thuật số” – DRM) Ngoài ra, DMCA cũng tăng hình phạt với sự vi phạm bản quyền trên Internet Được thông qua ngày 12 tháng 10 năm 1998 bởi một cuộc bỏ phiếu nhất trí trong Thượng viện Hoa Kỳ và ký thành luật bởi Tổng thống Bill Clinton vào ngày 28 tháng 10 năm 1998, DMCA đã sửa đổi Quyền 17 của Luật Hoa Kỳ để mở rộng phạm vi của quyền tác giả, đồng thời giới hạn trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến trên đối với sự vi phạm

31 Trang VNExpress, Hệ thống luật riêng dành cho Internet đang hình thành, tác giả T.N (theo BBC),

http://vnexpress.net/gl/vi-tinh/2006/11/3b9effea/

Trang 39

bản quyền gây ra bởi người dùng của họ Đạo luật được áp dụng tại Mỹ, và áp dụng cho toàn bộ các đối tượng có hành vi vi phạm bản quyền theo điều luật của DMCA Điều này có nghĩa là nếu bạn là người Việt Nam, sinh sống và làm việc tại Việt Nam, nhưng có những hành vi vượt qua những biện pháp bảo vệ bản quyền tác giả, thì bạn

có thể sẽ bị bắt giữ tại Mỹ khi bạn tới đó Việc xử lý những người vi phạm luật DMCA ngoài nước Mỹ cũng có thể áp dụng, tùy thuộc vào việc ký kết và thông qua các công ước, điều khoản DMCA của nước sở tại32

Việc Quốc Hội Hoa Kì ban hành Đạo luật bản quyền kỉ nguyên công nghệ số giúp luật bản quyền tác giả giữ nguyên hiệu lực trong môi trường số Đạo luật quy định những vấn đề bản quyền trong mội trường mạng, ở đó bản thân người sử dụng phải biết rằng bất cứ những gì viết ra đều được bảo hộ mà không cần khai báo Tuy nhiên người sử dụng có thể sử dụng những thông tin có bản quyền dưới dạng trích dẫn nhưng không quá năm ngàn từ và 10% bài viết Ngoài ra, khi muốn dịch tác phẩm sang ngôn ngữ khác bạn phải được sự cho phép từ phía tác giả DMCA dạy cho người

sử dụng học cách tôn trọng luật bản quyền bằng các quy định, do đó khi ra tòa không thể viện cớ không biết luật để bào chữa cho hành vi xâm phạm Ngay cả việc sao chép hay đăng tải bài viết dù có đường dẫn đến tác phẩm gốc mà chưa hỏi ý kiến của chủ thể có quyền vẫn bị xem là xâm phạm33 Thông qua những quy định về bản quyền của Hoa Kì ta có thể thấy rằng việc đấu tranh dành lại bản quyền là việc nên làm và chính đáng Chủ thể có quyền không nên lo sợ những rắc rối mà bỏ qua việc làm sai trái Để sáng tạo ra một tác phẩm tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả phải bỏ ra công sức, thời gian, tiền bạc thì họ phải được bảo vệ quyền lợi một cách xứng đáng và được mọi người công nhận

Nói đến việc bảo vệ quyền tác giả văn học cần nói đến Thụy Điển Thụy Điển

có riêng một luật nói về quyền tác giả văn học và nghệ thuật được ban hành theo Luật

số 729 ngày 30 tháng 12 năm 1960, được sửa đổi, bổ sung ngày 1 tháng 4 năm 2000 Với lịch sử ra đời từ rất lâu, Thụy Điển có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học bởi Thụy Điển đã trãi qua một khoản thời gian dài để đạt được sự đồng thuận trong từng quy định của Luật như: sự đồng thuận của

Trang 40

cộng đồng văn học, nghệ thuật với các ngành khi giải thích về luật, về các sự kiện thực tế, về các tổ chức tập thể, các ràng buộc hợp đồng34… Có thể nói Thụy Điển điển hình trong việc bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet bằng các tổ chức tập thể đại diện Việc xây dựng hệ thống tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan ở đây vừa tạo điều kiện cho tác giả, chủ sở hữu quyền hưởng lợi ích hợp pháp, vừa giúp người tiêu dùng có thể khai thác, sử dụng tác phẩm thuận lợi

đã sớm được quan tâm và không ngừng củng cố

Việc hội nhập quốc tế có những bước tiến vượt bậc, Việt Nam đã gia nhập những Công ước trong lĩnh vực bảo vệ quyền tác giả như Công ước Berne, hiệp ước WIPO, nghị định thư TRIPS… Đồng thời kết hợp những quy định quốc tế với việc học tập kinh nghiệm bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trong môi trường Internet hiện nay là vấn đề quan trọng và cấp thiết Thông qua việc học tập kinh nghiệm từ các nước, Việt Nam có thể rút ngắn được thời gian cũng như có được

những quy định tiến bộ về vấn đề bảo vệ tác quyền trong kỉ nguyên kỹ thuật số

2.2 Những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet:

Trong luật Sở hữu trí tuệ không có khái niệm về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo vệ quyền tác giả nói riêng Có thể nói bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là một chế định quan trọng trong Luật Sở hữu trí tuệ Ở góc độ pháp luật ta có thể hiểu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về các phương thức mà chủ thể quyền Sở hữu trí tuệ, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được phép áp dụng để bảo đảm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không bị xâm phạm bởi hành vi trái pháp luật của các chủ thể khác hoặc áp dụng các chế tài đối với chủ thể có hành vi xâm phạm Ở góc độ hẹp hơn thì bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ thể quyền thực hiện các hành vi, biện pháp được luật cho phép để ngăn chặn các hành vi xâm phạm, yêu cầu người có hành vi xâm phạm khắc phục hậu quả do hành vi xâm phạm gây ra, đồng thời là các biện pháp mà cơ quan nhà nước có thể áp dụng theo thẩm quyền để buộc các nhân, tổ chức có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm và gánh chịu các hậu quả pháp lý nhất định Người viết sẽ tiến hành phân tích những quy định trên trong lĩnh vực bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet

34 Trang Luật Việt, Bảo hộ tác quyền ở Việt Nam-so sánh với Thụy Điển, Tác giả Nguyên Anh,

So-sanh-voi-Thuy.aspx

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w