Cụ thể Việt Nam đã tham gia các Công ước như: Công ước Ganeva về bảo hộ sản xuất ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ; Công ước Rome về bảo hộ người người biểu di
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Khóa 34 (2008-2012)
ĐỀ TÀI:
Cần Thơ, tháng 5/2012
Trang 2Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cám ơn đến gia đình, người thân và những bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên những ngày gian khó, giúp đỡ,
hỗ trợ và đồng hành cùng em đi suốt chặn đường qua
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình Tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Cần thơ, tháng 04/2012
Sinh viên
Thạch Thị Liễu
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 5
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết 7
2 Mục đích nghiên cứu 8
3 Phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Kết cấu đề tài 8
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM - GHI HÌNH 1.1 Lịch sử hình thành bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 10
1.1.1 Trên thế giới 10
1.1.2 Ở Việt Nam 12
1.2 Khái quát chung về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 14
1.2.1 Khái niệm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 14
1.2.2 Đặc điểm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 16
1.2.3 Các khái niệm liên quan 17
1.2.3.1 Khái niệm quyền tác giả 17
1.2.3.2 Khái niệm quyền liên quan 18
1.2.4 Phân biệt quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với quyền ghi âm, ghi hình 20
1.2.5 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với tác giả và các chủ thể của các quyền liên quan khác 20
1.2.5.1 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với quyền tác giả 21
1.2.5.2 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với các chủ thể của quyền liên quan khác 24
1.3 Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 25
1.3.1 Khái niệm bảo hộ quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 25
1.3.2 Đặc trưng của sản phẩm ghi âm, ghi hình 26
1.3.3 Tính tất yếu, sự cần thiết phải bảo hộ quyền quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 27
1.3.4 Tác động của khoa học công nghệ đối với việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 28
1.4 Một số điều ước quốc tế liên quan đến việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 29
1.4.1 Công ước Rome về bảo hộ các nhà biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng 29
1.4.2 Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ 30
1.4.3 Hiệp ước WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) 31
1.4.4 Hiệp định Trips về khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ 32
CHƯƠNG 2 BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM - GHI HÌNH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Trang 62.1 Điều kiện bảo hộ quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 34
2.1.1 Chủ thể được bảo hộ quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 34
2.1.2 Đối tượng bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 34
2.2 Nội dung quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 35
2.2.1 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 35
2.2.1.1 Quyền sao chép 36
2.2.1.2 Quyền phân phối 37
2.2.1.3 Quyền được hưởng thù lao 38
2.2.2 Nghĩa vụ của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 39
2.2.2.1 Nghĩa vụ giao kết hợp đồng bằng văn bản với tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, người biểu diễn 39
2.2.2.2 Nghĩa vụ ghi tên tác giả, tên người biểu diễn, đảm bảo sự toàn vẹn của tác phẩm và trả thù lao 40
2.3 Căn cứ xác lập quyền, thời hạn bảo hộ của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 41
2.3.1 Căn cứ phát sinh quyền 41
2.3.2 Thời hạn bảo hộ 42
2.4 Đăng ký bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 43
2.4.1 Khái niệm của việc đăng ký bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 43
2.4.2 Mục đích của việc đăng ký 44
2.4.3 Chủ thể nộp đơn đăng ký bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 45
2.4.4 Quy trình đăng ký bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 46
2.4.4.1 Hồ sơ đăng ký bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 46
2.4.4.2 Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 47
2.4.4.3 Thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 48
2.4.4.4 Hiệu lực cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 48
2.4.4.5 Đăng bạ và đăng ký bảo hộ quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 48
2.4.4.6 Các trường hợp cấp lại, đổi, hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 48
2.5 Chuyển giao quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 49
2.5.1 Chuyển nhượng quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 50
2.5.2 Chuyển quyền sử dụng quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 51
2.6 Giới hạn quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 52
2.6.1 Các trường hợp sử dụng quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao 52
2.6.2 Các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao 53
2.7 Các hành vi xâm phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 55
2.8 Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền đối với bản ghi âm, ghi hình 58
2.9 Các biện pháp bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 59
2.9.1 Quyền tự bảo vệ của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 59
Trang 72.9.2 Biện pháp pháp lý 60
2.10 Các biện pháp xử lý đối với hành vi xâm phạm 60
2.10.1 Biện pháp dân sự 61
2.10.2 Biện pháp hành chính 61
2.10.3 Biện pháp hình sự 63
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM - GHI HÌNH TẠI VIỆT NAM 3.1 Thực trạng bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình tại Việt Nam 65
3.1.1 Thực trạng làm băng đĩa lậu trái phép 65
3.1.2 Thực trạng xâm phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình trên Internet 67
3.2 Công nghệ kỹ thuật số và Internet 69
3.2.1 Vụ kiện Hiệp hội thu thanh Mỹ (RIAA) - Napster 69
3.2.2 Vụ kiện của Hiệp hội công nghiệp ghi âm Việt Nam (RIAV) và Nokia 73
3.3 Nguyên nhân của thực trạng vi phạm bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 75
3.4 Một số kiến nghị nhằm thực thi có hiệu quả công tác bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 80
3.4.1 Áp dụng các biện pháp công nghệ trong việc bảo vệ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 80
3.4.2 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 81
3.4.3 Tăng cường thực thi quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 82
3.4.4 Nâng cao chất lượng thông tin về bảo hộ quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 83
3.4.5 Nâng cao nhận thức, đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật, vai trò của Tòa án 84
3.4.6 Nâng cao hơn nửahiệu quả hoạt động các tổ chức quản lý tập thể 85
3.4.7 Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 86
KẾT LUẬN 88
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy sự sáng tạo, phát triển nền kinh tế, văn hóa và trở thành điều kiện tiên quyết trong hội nhập quốc tế của mỗi quốc gia
Suốt chiều dài lịch sử phát triển của xã hội loài người, tri thức luôn là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển Sự bùng nổ của công nghệ thông tin
và công nghệ kỹ thuật số với những ứng dụng to lớn của nó trong mọi mặt của đời sống xã hội thì ngày càng tạo ra nhiều mặt trái song song tồn tại
Ở Việt Nam hiện nay, thị trường băng đĩa lậu được báo động về tình trạng nhập lậu, sao chép tùy tiện không phép đã gây thiệt hại rất lớn cho chủ sở hữu các bản ghi
âm, ghi hình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các nhà sản xuất, làm thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm Đồng thời, ảnh hưởng đến chính sách đầu
tư phát triển sản phẩm trí tuệ của Nhà nước Tình trạng sao chép trái phép này ngày càng tinh vi, hiện đại và càng lúc càng trở nên phổ biến và có dấu hiệu gia tăng cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ Đặc biệt là sự xuất hiện của Internet đã tạo nên một cạnh tranh rất lớn đối với ngành công nghiệp ghi âm Việt Nam
Điều này đã tạo một thách thức vô cùng to lớn cho nước ta, do đó việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đang là mục tiêu cấp thiết Bảo hộ tốt quyền này sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta đi lên, nhất là vững chắc trên trường quốc tế Xuất phát từ đó chúng ta phải có những biện pháp bảo hộ thích đáng quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, từ đó khuyến khích hoạt động sản xuất của họ, phục vụ đời sống tinh thần của xã hội Đó cũng là điều kiện để nền văn hóa phong phú, đặc sắc và lâu đời của dân tộc được giữ gìn, phát huy và giới thiệu đến thế giới
Việc ghi nhận và bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình ở Việt Nam dường như vẫn là một vấn đề mới mẻ Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã và đang dành sự quan tâm đặc biệt tới việc bảo hộ quyền này Cụ thể Việt Nam đã tham gia các Công ước như: Công ước Ganeva về bảo hộ sản xuất ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ; Công ước Rome về bảo hộ người người biểu diễn, nhà sản xuất ghi âm, tổ chức phát sóng; Hiệp ước WIPO về biểu diễn và bản ghi
âm (WPPT), Hiệp định Trips về khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu
trí tuệ
Chính vì những lý do trên và với sự quan tâm đến vấn đề này, người viết đã chọn
đề tài “BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM – GHI HÌNH
Trang 9THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM” để làm đề tài nghiên cứu hoàn thành chương trình
tốt nghiệp cử nhân luật của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Bài viết mang tính chất tìm hiểu, hướng tới việc làm rõ cơ sở lý luận của việc bảo
hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình Đồng thời tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình ở Việt Nam qua đó phản ánh thực tiễn áp dụng các quy định này trên thực tế
và nêu lên thực trạng vi phạm trong lĩnh vực ghi âm, ghi hình ở nước ta hiện nay Trên
cơ sở đó, đối chiếu, so sánh để tìm ra những vướng mắc để đề xuất đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật đối với việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình; nâng cao khả năng thực thi của chúng; bảo hộ có hiệu quả quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình Dù là chuyện rất khó nhưng người viết hy vọng rằng trong tương lai tình trạng xâm phạm loại quyền này trong tương lai sẽ được loại trừ triệt để
3 Phạm vi nghiên cứu
Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là một trong những quyền liên quan đến quyền tác giả, do vậy đây là một nội dung nghiên cứu tương đối hẹp Song, với yêu cầu của bài viết cùng với sự hạn chế của kiến thức, kinh nghiệm, thời gian cũng như nguồn tài liệu ít ỏi nên trong bài viết người viết nghiên cứu tập trung vào việc làm
rõ các quy định Pháp Việt Nam về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và xem xét tình hình thực thi trên thực tế các quy định này Qua đó nêu lên những điểm bất cập để từ đây tìm ra nguyên nhân và đề xuất hướng hoàn thiện
4 Phương pháp nghiên cứu
Người viết dựa trên nguyên tắc xem xét sự vật một cách toàn diện để làm sáng tỏ những bản chất của vấn đề có liên quan Ngoài ra, người viết còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội nói chung, khoa học pháp lý nói riêng để nghiên cứu, đánh giá, kết luận về một vấn đề cụ thể, đó là các phương pháp: lịch sử, hệ thống, so sánh, phân tích và tổng hợp Các phương pháp này được kết hợp nhằm làm
rõ các quy định của pháp luật thực định, nhìn nhận, đánh giá chúng trong mối liên hệ với pháp luật quốc tế cũng như trong thực tiễn áp dụng
Trang 10Chương 2 Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình theo pháp luật
Việt Nam
Chương 3 Thực trạng bảo hộ và những giải pháp nhằm tăng cường bảo hộ
quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Trang 11là gián tiếp bảo hộ quyền tác giả Hơn nữa, hiện nay những nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình này lại đang phải đối mặt với những tổn thất rất lớn do nạn xâm phạm bản quyền Vì vậy, bảo hộ những nhà sản xuất chân chính, những người đã thực sự phải bỏ công sức, tiền bạc ra trước các đối thủ cạnh tranh, chống các hành vi xâm phạm thành quả của người khác bằng việc sao chép bất hợp pháp băng đĩa ghi âm, ghi hình là điều tất yếu
1.1 Lịch sử hình thành bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
1.1.1 Trên thế giới
Những ý tưởng đầu tiên nhằm vào bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm đã dựa trên cơ
sở bảo hộ bản quyền tác giả Ý tưởng về bảo hộ quyền tác giả chỉ được bắt đầu kể từ khi sáng chế ra công nghệ in ấn cho phép các tác phẩm văn học được nhân bản nhờ các tiến trình cơ khí thay cho việc sao chép bằng tay Điều này dẫn đến sự ra đời của một nền thương mại mới Đó là thương mại của những thợ in ấn và những người bán sách,
mà người ta gọi là “người bán văn hóa phẩm” Những người này đã đầu tư khoản tiền
đáng kể vào việc mua giấy, xây dựng nhà máy in và việc thuê lao động Trong trường hợp này, do không có hình thức nào chống việc cạnh tranh mua bán các bản sao, việc đầu tư in ấn và mua bán sách là một việc đầu tư mạo hiểm và nhiều người đã bị phá sản Những yêu cầu bức bách đã hình thành một dạng bảo hộ đặc quyền do những cơ quan quyền lực ban cho.1
1
TS.LS Lê Xuân Thảo, Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, Nxb Tư pháp Hà nội, 2005, tr 23
Trang 12tác phẩm đến công chúng và qua đó làm cho công chúng biết đến tác giả Và đã đến lúc trợ thủ đó cũng đòi hỏi cho mình được hưởng sự bảo hộ, không có họ tác phẩm không thể đến với công chúng được.2
Hơn nữa, kể từ khi hệ thống bảo hộ quyền tác giả ra đời, các loại hình tác phẩm được bảo hộ dưới dạng quyền tác tác giả ngày một tăng, cùng với sự phát triển của phương tiện lưu trữ, truyền thông Ban đầu là tác phẩm viết, tác phẩm sân khấu, rồi đến tác phẩm điện ảnh, video, âm nhạc… Điều đó có nghĩa là các loại hình tác phẩm của tác giả sáng tác ra ngày càng nhiều và cùng với sự phát triển của xã hội cần thiết phải bảo hộ các quyền liên quan của tác giả để hạn chế những hành vi xâm phạm
quyền tác giả và trong đó có quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình Sự ra đời và
phát triển không ngừng của khoa học công nghệ kỹ thuật là con dao hai lưỡi đối với sự phát triển của ngành công nghiệp ghi âm lúc bấy giờ Một mặt, nó khiến cho các bản ghi âm được sản xuất ra với số lượng lớn và chất lượng tốt hơn trước nhiều lần, là động lực thúc đẩy ngành công nghiệp giàu tiềm năng này phát triển Tuy nhiên, chính những thành tựu đó lại tạo ra các bản sao trái phép trở lên dễ dàng hơn, với chi phí thấp hơn
Do vậy, để nền công nghiệp ghi âm có thể tồn tại và phát triển, yêu cầu cấp thiết được đặt ra là phải hình thành một cơ chế bảo hộ đối với đối tượng này không chỉ ở mỗi quốc gia mà trên phạm vi khắp thế giới Điều này là có cơ sở, bởi lẽ cũng như những quyền liên quan khác, quyền của các nhà sản xuất bản ghi âm có mối quan hệ chặt chẽ với bản quyền tác giả Hơn nửaở thời điểm này, Công ước Berne đã ra đời và sớm khẳng định vai trò nền tảng đối với việc bảo hộ quyền tác giả trên phạm vi quốc
tế Cho nên, thiết lập mối quan hệ với bản quyền tác giả là điều hợp lý
Năm 1934, tổ chức CISAC – Hiệp hội các Nhà soạn nhạc và soạn lời quốc tế3cùng Liên đoàn quốc tế về công nghiệp thu thanh đã hợp lại và yêu cầu trong những lần sửa đổi sắp tới của Công ước Berne việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm phải được đề xuất trong Phụ lục kèm theo Công ước
Sau đó, các tổ chức này đã hợp tác tích cực với Văn phòng của Liên hiệp quốc đề
ra dự thảo về việc xây dựng một Điều ước đa phương bảo hộ quyền liên quan trong đó
có quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Đến đầu những năm 60 của thế kỷ XX, các chuyên gia của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới - WIPO,4
Trang 13và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc - UNESCO,5
Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO6 đã gặp nhau tại Lahay và đưa ra dự thảo Công ước Ngày 26/10/1961, Công ước Rome - Công ước quốc tế về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng đã được thông qua tại Rome Cùng với Công ước Berne, Công ước Rome ra đời
là cơ sở cho sự hình thành nhiều Điều ước quốc tế đa phương và song phương quan trọng khác, là nền tảng pháp lý quan trọng cho việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm trên thế giới
Ở các nước theo truyền thống pháp lý Anglo – Xacxon họ nghiên về việc bảo hộ những người truyền bá tác phẩm bằng tác giả Ở nước Anh và Hoa Kỳ, nơi có nền công nghiệp đĩa hát phát triển mạnh mẽ, họ coi bản ghi âm là tác phẩm và được bảo hộ như quyền tác giả Còn ở Pháp, trong Luật quyền tác giả công bố ngày 03/07/1985 bên cạnh quyền tác giả có ghi quyền kề cận, quyền kề cận này bảo hộ các quyền cho nhà sản xuất băng nhạc, đĩa CD.7
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được đặt ra chậm hơn nhiều so với sự phát triển của các quan hệ sở hữu trí tuệ khác và rất chậm so với thế giới Trên thực tế, ngay từ trước năm 1992, một loạt các văn bản liên quan đến sở hữu trí tuệ lần lượt ra đời trong đó có Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả ngày 10/02/1994, tại chương IV của Pháp lệnh có quy định về tổ chức sản xuất hàng băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình đĩa hình - đây là văn bản đầu tiên ở Việt Nam về bảo hộ quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, trước đó có nghị định 142 của Hội đồng Bộ trưởng ngày 14/11/1986 quy định về quyền tác giả nhưng không quy định về quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình Tuy nhiên do văn bản được ban hành từ Hiến pháp 1992, nên vẫn còn những bất cập giữa cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thời kỳ bao cấp
và cơ chế bảo hộ trong nền kinh tế thị trường
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu giải trí của con người ngày càng tăng cao đòi hỏi một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện Ngày 28/10/1995, tại kỳ họp thứ
8, quốc hội khóa IX đã thông qua Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính thức thiết lập chế độ pháp lý cao nhất cho việc xác lập, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam (phần thứ sáu và thứ bảy của Bộ luật Dân sự cũng có quy định về việc bảo hộ tổ chức sản xuất băng đĩa ghi âm, ghi hình) Bộ luật Dân sự 1995 chỉ dành 2 Điều là Điều 776 và 777 để điều chỉnh quyền này Văn bản
Trang 14tiếp theo là Quyết định số 55/1999/QĐ-BVHTT ngày 5/8/1999 ban hành quy chế sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu hành, kinh doanh băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình ca nhạc, sân khấu
Sau này để phù hợp với tình hình mới của đất nước, Quốc hội đã tiếp tục sửa đổi một số điều của Bộ luật Dân sự ngày 14/06/2005 và quy định rõ hơn về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình Cũng thời điểm đó, ngày 12/12/2005 Việt Nam chính thức ban hành Luật Sở hữu trí tuệ nhằm tạo hành lang pháp lý cho những đối tượng của Sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được quy định rất cụ thể
Như vậy, việc nghiên cứu về lĩnh vực này mới chỉ thực sự được quan tâm khoảng 15-20 năm trở lại đây, khi Nhà nước có chủ trương đổi mới nền kinh tế Tuy vậy, chúng ta cũng đã xây dựng được một khung pháp lý khá đầy đủ về lĩnh vực này
Cụ thể nó đã được quy định trong các văn bản sau đây:
- Bộ luật Dân sự 2005;
- Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009;
- Luật Hải quan 2001 sửa đổi, bổ sung 2005;
- Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009;
- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi, bổ sung các năm 2007, 2008;
- Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan;
- Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ;
- Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28/08/2008 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch
vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet;
- Nghị định 47/2009/NĐ-CP ngày 13/05/2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan;
- Nghị định 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ;
- Nghị định 85/2011/NĐ-CP của Chính phủ 20/9/2011 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và
Trang 15hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan;
- Nghị định 109/2011/ NĐ-CP ngày 02/12/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 47/2009/NĐ-CP ngày 13/05/2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan;
- Thông tư của Bộ thông tin và truyền thông số 05/2008/TT-BTTTT ngày 12/11/2008 về hướng dẫn một số nội dung về hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân trong Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28/08/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet;
- Thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Công An – Bộ Tư pháp số 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 29/02/2008 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
- Thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Văn hóa, Thể thao Và Du lịch – Bộ Khoa học Công nghệ – Bộ Tư pháp số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKHCN-BTP ngày 03/04/2008 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp
về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân;
- Quyết định của Bộ Văn hóa – Thông tin số 88/2006/QĐ-BVHTT ngày 17/10/2006 về việc ban hành các mẫu tờ khai, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan;
- Chỉ thị của Thủ Tướng Chính Phủ số 36/2008/CT-TTg ngày 31/12/2008 về việc tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan
1.2 Khái quát chung về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
1.2.1 Khái niệm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Theo Điều 2(d) Hiệp ước WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) 1996: “nhà
sản xuất bản ghi âm là cá nhân hoặc pháp nhân khởi xướng và có trách nhiệm đối với việc định hình lần đầu tiên những âm thanh biểu diễn hoặc những âm thanh khác, hoặc sự tái hiện lại của những âm thanh đó”
Điều 2(b) Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ 1971 và Điều 3(c) Công ước Rome về bảo
hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng 1961 đều quy định: nhà sản xuất bản ghi âm là một cá nhân hoặc pháp nhân định hình lần đầu các âm thanh của buổi biểu diễn hoặc các âm thanh khác
Trang 16Cơ bản khái niệm về nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình của Việt Nam giống với Công ước Geneva và Công ước Rome Theo khoản 3 Điều 16 Luật Sở hữu trí tuệ 2005
sửa đổi, bổ sung 2009 quy định: “nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác” Có nghĩa là sản phẩm mà nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình tạo ra
phải là bản gốc của tác phẩm, là sự hiện thân nguyên bản âm thanh, hình ảnh của một buổi biểu diễn trực tiếp hoặc bất kỳ một âm thanh, hình ảnh nào khác mà không được
lấy lại từ một bản ghi âm, ghi hình có trước
Như vậy, các âm thanh, hình ảnh khác trong quy định này có thể được hiểu là âm
thanh, hình ảnh không liên quan đến quyền tác giả, ví dụ một người ghi tiếng chim kêu, vượn hót, hình hươu, nai nhảy múa trong rừng, tiếng nước chảy… thì theo khoản 3
Điều 16 được bảo hộ theo quyền liên quan
Các bản ghi âm có thể chỉ ghi riêng phần nhạc, riêng phần lời hoặc cả phần nhạc
và phần lời Để được phép ghi âm, ghi hình người muốn ghi âm, ghi hình phải được sự cho phép của cả chủ sở hữu quyền tác giả đối với một tác phẩm phần nhạc cũng như chủ sở hữu quyền tác giả đối với phần lời bài hát Một số quốc gia còn quy định, người ghi âm cũng phải được phép của các nghệ sĩ trình bày phần nhạc và hát phần lời
Mặt khác, luật không định nghĩa thế nào là bản ghi hình nên không thể xác định được đối tượng bảo hộ, bởi vậy có thể nhầm lẫn bản ghi hình với tác phẩm điện ảnh
theo quy định tại Điều 14 Nghị định 100/2006/NĐ-CP: “Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự quy định tại điểm e khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là những tác phẩm được hợp thành bằng hàng loạt hình ảnh liên tiếp tạo nên hiệu ứng chuyển động kèm theo hoặc không kèm theo âm thanh, được thể hiện trên một chất liệu nhất định và có thể phân phối, truyền đạt tới công chúng bằng các thiết bị kỹ thuật, công nghệ, bao gồm loại hình phim truyện, phim tài liệu, phim khoa học, phim hoạt hình và các loại hình tương tự khác”
Để tránh việc đồng nhất bản ghi âm, ghi hình với tác phẩm điện ảnh và cũng để minh họa cho quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật Sở hữu trí tuệ, khoản 6 Điều 4
Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết: “Bản ghi âm, ghi hình là bản định hình các âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác hoặc việc định hình sự tái hiện lại các âm thanh, hình ảnh không phải dưới hình thức định hình gắn với tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm nghe nhìn khác” Như quy định này đã
tạo ra một thuật ngữ mới, đó là tác phẩm nghe nhìn và tác phẩm nghe nhìn khác, cần lưu ý rằng Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 100/2006/NĐ-CP không định nghĩa tác
Trang 17phẩm nghe nhìn Sau nữa, quy định chi tiết này cũng không thể cho biết bản ghi hình một trận đấu thể thao được bảo hộ theo cơ chế nào.8
Cũng cần bàn thêm là khi đưa bản ghi hình là một đối tượng của quyền liên quan,
luật đã đưa thêm một đối tượng mới vào phạm vi bảo hộ đó là “bản ghi hình”, mà cho
đến nay chưa có một Điều ước quốc tế nào quy định – đó là sự khác biệt giữa luật Việt
Nam và các Điều ước quốc tế Sở dĩ có sự khác biệt trên là do bản thân thuật ngữ “bản ghi âm” trong các Điều ước quốc tế nó đã bao hàm cả bản ghi hình trong đó, ví dụ bản ghi âm của một cuộc biểu diễn nó bao gồm cả âm thanh và hình ảnh của người nghệ sĩ trong đó Hơn nữa, sự khác biệt đó cũng xuất phát từ quan niệm, văn hóa, lịch sử…
của mỗi quốc gia
Như vậy, chỉ được coi là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình khi người đó thực hiện việc định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của buổi biểu diễn hay âm thanh, hình ảnh khác Việc định hình âm thanh, hình ảnh này, có thể được thực hiện trên băng đĩa
hoặc trong bộ nhớ số Chẳng hạn Bến Thành Audio đã tổ chức việc định hình âm lần đầu chương trình ca nhạc Làn Sóng Xanh Bến Thành Audio là nhà sản xuất bản ghi
âm đối với chương trình ca nhạc này
Tóm lại : quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là tổng thể các quy phạm
quy định và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đối với các chương trình ghi âm, ghi hình dựa trên tác phẩm gốc của chủ sở hữu quyền tác giả
1.2.2 Đặc điểm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Cũng như các quyền liên quan khác, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
có hai đặc điểm sau:9
- Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình cũng được hình thành dựa trên
việc sử dụng một tác phẩm gốc Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình tổ chức thu âm, thu hình buổi biểu diễn của các nghệ sĩ, nhưng các nghệ sĩ này lại phải dùng những bài hát của những nhạc sĩ khác để trình diễn Như vậy, xét cho đến cùng quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình cũng được hình thành dựa trên việc sử dụng một tác phẩm gốc Do đó, chủ thể quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân và quyền tài sản không chỉ của người biểu diễn mà cả của tác
8
TS Trần Văn Hải, Những bất cập trong quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành về quyền tác
giả, quyền liên quan, Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2010, http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/10/01/nh%E1%BB%AFng-b% E1 c% E1%BA%ADp-trong-quy-d%E1%BB%8Bnhc%E1%BB%A7a-php-lu%E1%BA%ADt-s% E1 %BB%9F- h% E 1%BB%AFu-tr-tu%E1%BB%87-vi%E1%BB%87t-nam-hi%E1%BB%87n-hnh-v% E1% BB %81-quy/ , [truy cập ngày 04/01/2012]
%BA%A5t-9
TS Lê Nết, Tài liệu giảng dạy sở hữu trí tuệ, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2005, tr 72
Trang 18giả, chủ sở hữu tác phẩm gốc Việc công nhận và bảo hộ quyền nhà sản xuất bản ghi
âm, ghi hình không được làm ảnh hưởng quyền đối với tác giả của tác phẩm
- Chương trình ghi âm, ghi hình cũng phải có tính nguyên gốc nghĩa là do chính
công sức của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình tạo ra và là bản ghi âm, ghi hình đầu
tiên Ví dụ: chương trình ca nhạc Làn Sóng Xanh là do công sức của Trung tâm Băng nhạc Bến Thành Audio dàn dựng Việc sao chép băng đĩa chương trình này mà không
có sự đồng ý của chủ thể trên là xâm phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
1.2.3 Các khái niệm liên quan
1.2.3.1 Khái niệm quyền tác giả
Tác phẩm là sự kết tinh lao động sáng tạo của tác giả Do đó, quyền của tác giả đối với tác phẩm cần được pháp luật ghi nhận và bảo hộ Quyền của tác giả đối với tác phẩm được xem là một loại quyền tài sản nằm trong phạm vi các loại tài sản được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 Cụ thể được quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự
2005 Mỗi tài sản điều có chủ sở hữu xác định và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự Các quyền đối với tác phẩm cũng vậy Cũng cần xác định chủ sở hữu của chúng và chuyển giao trong giao lưu dân sự như thế nào?
Khái niệm về quyền tác giả được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009
Bộ luật Dân sự quy định: “đối tượng quyền tác giả bao gồm mọi sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới bất kỳ hình thức
và bằng bất kỳ phương tiện nào, không phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào”.10
Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”.11
Như vậy, quyền tác giả được trao cho hai loại chủ thể: tác giả và chủ sở hữu
Tóm lại: quyền tác giả là quyền mà pháp luật ban cho người đã sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (như sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm tạo hình và mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiến trúc, phần mềm máy tính) Quyền này được hiểu là quyền cho phép
và quyền nhận thù lao Quyền cho phép có nghĩa là quyền tự quyết định cho phép người khác khai thác, sử dụng tác phẩm của mình và quyền nhận thù lao có nghĩa là quyền yêu cầu người khác trả thù lao cho việc khai thác, sử dụng tác phẩm
Trang 19Quyền tác giả tự động phát sinh từ thời điểm tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, bất kể tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký Tác phẩm, theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, phải là sản phẩm của lao động trí tuệ của tác giả mà không đơn thuần chỉ là sự sao chép từ các nguồn đã biết
Quyền tác giả được hiểu như là một nhóm các quyền, gồm các quyền nhân thân
và các quyền tài sản Các quyền tài sản được gọi là độc quyền khai thác hoặc cho người khác khai thác tác phẩm của chủ sở hữu quyền tác giả Các quyền nhân thân (ngoại trừ quyền công bố tác phẩm) được bảo hộ vô thời hạn Với đa số các loại hình tác phẩm, các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm được bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết
Theo quy định của pháp luật, quyền tác giả bao gồm: quyền nhân thân và quyền tài sản
- Quyền nhân thân bao gồm: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất
kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.12
- Quyền tài sản bao gồm: làm tác phẩm phái sinh; truyền đạt tác phẩm đến công
chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.13
1.2.3.2 Khái niệm quyền liên quan
Hiện nay, khái niệm về quyền liên quan được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân
sự 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009
Bộ luật Dân sự quy định: “đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi
âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu mang chương trình được mã hóa”.14
Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu mang chương trình được mã hóa”.15
Trang 20Như vậy, quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu mang chương trình được mã hóa Các quyền của ba chủ thể nói trên (người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm ghi hình, tổ chức phát sóng) được gọi là quyền liên quan vì chúng bổ sung và tồn tại song song với quyền tác giả, giúp tác giả thể hiện nội dung tác phẩm Nói cách khác, đó là quyền của những người trung gian, làm cầu nối giữa tác giả và công chúng
Để một tác phẩm đến được với công chúng ví dụ một bản nhạc và được công
chúng đánh giá cao, đôi khi cần phải có sự giúp sức của một số người có khả năng thể
hiện tác phẩm ví dụ ca sĩ và các nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng
Các chủ thể đó sẽ được bảo hộ dưới dạng quyền liên quan Quyền liên quan là tổng hợp các quy phạm quy định và bảo vệ quyền nhân thân, quyền tài sản của người biểu diễn; quyền tài sản của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, của tổ chức phát thanh, truyền hình đối với các chương trình được thực hiện dựa trên tác phẩm gốc của chủ sở
hữu quyền tác giả Ví dụ: một chương trình ca nhạc của một ca sĩ, một buổi phát sóng của đài truyền hình là những đối tượng bảo hộ của quyền liên quan
Tóm lại: quyền liên quan là quyền của những người tham gia vào việc thể hiện,
định hình, đưa tác phẩm đến công chúng Chủ sở hữu quyền liên quan có thể là người biểu diễn, người đầu tư để thực hiện cuộc biểu diễn, người đầu tư để tạo ra bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng… Quyền tác giả và các quyền liên quan được bảo hộ một
cách riêng biệt Vì vậy, mỗi quyền cần có sự cho phép riêng Ví dụ: như khi thực hiện sao chép một bản ghi âm, ghi hình người sử dụng không những cần xin phép người soạn nhạc và người viết lời bài hát (là người sở hữu quyền tác giả) mà còn phải được
sự đồng ý của cả người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình (là người sở hữu quyền liên quan)
Quyền của người biểu diễn được bảo hộ 50 năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ
50 tính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc 50 kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố Quyền của tổ chức phát sóng được bảo hộ 50 năm tính từ năm tiếp theo năm chương trình phát sóng được thực hiện
Thời hạn bảo hộ chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ các quyền liên quan.16
16
Khoản 4 Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009
Trang 21Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, việc xuất hiện ngày càng nhiều các hình thức cung cấp các loại hình giải trí cho con người đã dẫn tới nhu cầu cần thiết phải bảo hộ quyền liên quan trên các lĩnh vực ngày càng phong phú hơn
1.2.4 Phân biệt quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với quyền ghi âm, ghi hình
Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là quyền của tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của buổi biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác
Họ là người sáng tạo, đầu tư công sức, tiền của để tạo ra bản ghi âm, ghi hình, nên họ
là chủ sở hữu đối với các bản ghi âm, ghi hình đó Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là những độc quyền đối với các đối tượng theo Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ Còn quyền ghi âm, ghi hình là quyền của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào Quyền ghi âm, ghi hình thuộc về nhiều đối tượng như: người biểu diễn, quyền của tổ chức phát sóng… Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có nhiều quyền và quyền ghi âm,
ghi hình là một trong những quyền đó Ví dụ: theo Khoản 2 Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ thì người biểu diễn có quyền định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình nếu người biểu diễn là nhà đầu tư Và nếu nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình muốn định hình cuộc biểu diễn đó thì phải được người biểu diễn chuyển giao quyền đó và khi đó nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có quyền ghi âm, ghi hình đối với cuộc biểu diễn đó
1.2.5 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với tác giả và các chủ thể của các quyền liên quan khác
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có mối quan hệ chặt chẽ với tác giả và chủ thể của các quyền liên quan khác Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình sử dụng các tác phẩm
đã có để hình thành ra các vật phẩm là các băng đĩa âm thanh, hình ảnh Tác phẩm mà các tổ chức này sử dụng có thể là các tác phẩm gốc, có thể là các chương trình biểu diễn Cho nên, các tổ chức này trong quan hệ với tác giả, người biểu diễn, họ chính là những người sử dụng tác phẩm - những người sử dụng đặc biệt Nhưng khi các vật phẩm băng đĩa ghi âm, ghi hình được tạo ra thì họ lại chính là tác giả của những tác phẩm mới Những tác phẩm này lại có thể được các tổ chức phát sóng sử dụng để truyền sóng, phổ biến
Như vậy, nhà sản xuất vừa là người sử dụng, vừa là tác giả Từ vị trí có thể xâm phạm quyền của các chủ thể khác, nhà sản xuất trở thành chủ thể có nguy cơ bi xâm phạm quyền Họ là trung gian, là cầu nối giữa tác giả và công chúng, giúp tác giả phổ biến tác phẩm, nhưng chính họ lại cần một tổ chức khác giúp truyền bá, phổ biến các tác phẩm của mình Như vậy, các chủ thể này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ
Trang 22trợ qua lại với nhau Bảo hộ hiệu quả quyền lợi của chủ thể này tức là đã gián tiếp bảo
hộ quyền của chủ thể khác Các mối quan hệ trên được cụ thể hóa như sau
1.2.5.1 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với quyền tác giả
Quan hệ giữa quyền liên quan đến quyền tác giả và quyền tác giả
Các sáng tạo trí tuệ trong lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật luôn hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu của con người Để thực hiện chức năng đó, các sản phẩm tinh thần này phải được phổ biến rộng rãi tới đông đảo công chúng càng rộng rãi càng tốt Việc chuyển tải tác phẩm tới công chúng, đặc biệt đối với các tác phẩm nghệ thuật lại thường không phải do tác giả thực hiện mà thông qua đội ngũ những người trung gian khác và trong nhiều trường hợp sự tham gia của các lực lượng này là không thể thiếu,
ví dụ: một vở kịch cần phải được trình diễn trên sân khấu bởi một diễn viên cùng với những người phụ trách ánh sáng, âm nhạc… mà rõ ràng nếu tác giả có tham gia cũng
chỉ đóng góp một phần nhất định Hoặc một bài hát muốn đến được với khán giả một cách hiệu quả thì không có cách nào hơn là nó phải được thể hiện bởi một người ca sĩ chứ không thể chỉ là những câu chữ và nốt nhạc trên giấy và người nhạc sĩ sáng tác nên bài hát lại ít khi là người thể hiện tác phẩm của mình thành công nhất Rõ ràng đội ngũ những người nghệ sĩ chuyên nghiệp đóng vai trò là cầu nối đưa tác phẩm đến với công chúng một cách hiệu quả nhất Bên cạnh đó, sự tham gia của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng là hết sức quan trọng trong việc mở rộng khả năng tiếp cận công chúng của tác phẩm: thay vì chỉ giới hạn trong phạm vi những khán giả trực tiếp tới sân khấu để thưởng thức, vở kịch được truyền qua sóng phát thanh, truyền hình hay bài hát được ghi lại trên đĩa có thể tiếp cận với khối lượng khán giả đông đảo hơn gấp nhiều lần
Vai trò của đội ngũ trung gian, hỗ trợ tác giả đưa tác phẩm đến công chúng cần phải được đánh giá đúng mức, và một sự bảo hộ dành riêng cho bộ phận này nhằm chống lại việc sử dụng bất hợp pháp những đóng góp sáng tạo của họ là rất cần thiết Xem nhẹ và không bảo hộ những người liên quan này không chỉ tác động trực tiếp đến quyền lợi của họ, mà còn làm suy giảm đến chất lượng truyền tải các tác phẩm nghệ thuật, tất yếu ảnh hưởng đến tác giả - do tác phẩm không thể hiện đúng giá trị của nó, đồng thời tác động tiêu cực đến khả năng tiếp cận tác phẩm của công chúng Những hiện tượng này không nên xuất hiện nếu một xã hội muốn hài hòa lợi ích các thành viên trong nó và phát triển toàn diện, bền vững
Mối quan hệ giữa quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với quyền tác giả
Như đã phân tích ở trên, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình tuy là một trong những người sử dụng tác phẩm của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, song là người sử
Trang 23dụng đặc biệt Họ đã đóng vai trò rất lớn giúp cho tác giả truyền đạt được tác phẩm của mình đến công chúng Tác giả chỉ là những người sáng tạo nên tác phẩm, nhưng một tác phẩm không thể có giá trị lớn nếu như chỉ một vài người biết đến nó và theo thời gian tác phẩm ấy sẽ không còn ai biết đến nửanếu như không có đội ngũ những nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình bỏ tiền của, công sức, thời gian để thu ghi lại những
tác phẩm đó Để phổ biến tác phẩm ví dụ dưới hình thức bản ghi âm, ghi hình nhiều
tác phẩm sáng tạo được bảo hộ theo quyền tác giả thường đòi hỏi sự phân phối, truyền đạt đại chúng cũng như đầu tư về tài chính Vì lẽ đó, người sáng tạo thường chuyển nhượng các quyền của mình đối với tác phẩm cho cho những cá nhân, hoặc công ty có khả năng tập hợp, đưa ra thị trường và phân phối tác phẩm, đổi lại họ được trả tiền (trả một lần hoặc nhuận bút).17
Người ta nhận thấy rằng lợi ích của nhà sản xuất nhiều hơn lợi ích của tác giả, câu hỏi đặt ra là làm sao để cân bằng lợi ích của nhà sản xuất với lợi ích của tác giả với nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình? Khi mà một tác phẩm được tạo ra người ta chỉ biết đến nhà sản xuất mà không biết đến tác giả thật sự đã sáng tạo ra tác phẩm đó Và khi bán bản sao hoặc phân phối tác phẩm thì phần lợi nhuận đó sẽ thuộc về những nhà sản xuất còn tác giả chỉ nhận được tiền thù lao từ việc chuyển giao tác phẩm đó cho nhà sản xuất, chỉ một phần nhỏ lợi nhuận thu được từ việc khai thác tác phẩm đến được tay tác giả Nếu quyền lợi và lợi nhuận của họ không được thương thảo suôn sẻ thì nhà sản xuất sẽ không có tác phẩm để sản xuất, phân phối khi đó người gánh chịu hậu quả sẽ là công chúng Nếu như những tác phẩm văn học, nghệ thuật, âm nhạc là món ăn tinh thần của công chúng thì đây quả là một sự mất mát rất lớn đòi hỏi những nhà làm luật
phải quan tâm và quy định cụ thể Quyền sở hữu trí tuệ tạo nên một “tam giác vàng”
giữa tác giả, nhà sản xuất, công chúng
Hình 1: Mối quan hệ giữa tác giả - nhà sản xuất – công chúng
Trong tam giác này, mũi tên liền là chiều của sản phẩm trí tuệ, mũi tên đứt đoạn
là chiều của thu nhập Tam giác vàng là một mô hình khá hấp dẫn để biện minh cho quan hệ sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, nó không thể hiện được mối quan hệ trực tiếp giữa công chúng và tác giả, bởi lẽ xã hội càng phát triển, các nghiên cứu, phát minh, sản
Trang 24phẩm càng phức tạp, các tác giả đơn lẻ không thể tự mình sáng tạo các sản phẩm này Tác giả không thể tự mình rời khỏi mối quan hệ với nhà sản xuất để trực tiếp với công chúng Công chúng cũng không đủ thông tin để biết tác giả nào thực sự có tài để liên
hệ trực tiếp Vì thế tác giả ngày nay bị “cột chặt” với nhà sản xuất Thành quả lao
động sáng tạo của tác giả sẽ vun đắp cho uy tín của nhà sản xuất đối với công chúng, trong khi không hẳn công chúng nào cũng biết đến ai là tác giả những sản phẩm mình
đang tiếp cận Mối quan hệ “tam giác vàng” ngày một lỏng lẻo, dần dần hình thành
một mối quan hệ theo hàng dọc: tác giả – nhà sản xuất – công chúng.18
Hình 2: Mối quan hệ giữa tác giả - nhà sản xuất - công chúng
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là người đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để nhằm truyền tải tác phẩm của tác giả đến với công chúng Do vậy nhà sản xuất đóng vai trò then chốt trong việc làm cầu nối giữa tác giả và công chúng Tất cả các sản phẩm của tác giả nếu muốn đến được công chúng thì phải thông qua những đội ngũ trung gian - đó là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình Nhà sản xuất là người nắm rõ nhu cầu thị hiếu của công chúng nên họ dễ dàng biết được công chúng đang cần gì để
từ đó yêu cầu tác giả cung cấp tác phẩm như thế nào, nhưng có khi tác giả lại là người chủ động yêu cầu nhà sản xuất tạo ra những tác phẩm đáp ứng thị hiếu đó của công chúng
Việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, góp phần củng cố và hoàn thiện cơ chế bảo hộ quyền tác giả Một khi quyền của nhà sản xuất bị xâm phạm
nó sẽ gián tiếp xâm phạm đến quyền của tác giả Vì một khi tác phẩm do những nhà sản xuất sáng tạo ra được đăng tải trên Internet, bất kỳ ai cũng có thể tiếp cận, họ không cần phải mua những đĩa nhạc, cũng không cần tới rạp nữa Như vậy các tác giả
- người đầu tư sáng tạo ra tác phẩm không thu được bất cứ khoản thù lao nào và như thế không xứng đáng đối với công sức họ đã bỏ ra, nên không còn ai muốn sáng tạo nữa Ngược lại, nếu quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ, họ sẽ càng nỗ lực truyền tải các sản phẩm sáng tạo của các tác giả, nâng cao giá trị của các tác phẩm Bởi vậy, bảo hộ quyền của nhà sản xuất sẽ gián tiếp bảo hộ quyền tác giả Đồng thời, khi sản xuất bản ghi âm, ghi hình, các nhà sản xuất trước tiên phải tuân thủ các nghĩa vụ xin phép và trả tiền bản quyền cho tác giả theo quy định của pháp luật, khi đó nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được thụ hưởng các quyền mà pháp luật cho phép
18
TS Lê Nết, Tài liệu bài giảng quyền sở hữu trí tuệ, Nxb Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, 2005, tr 17
Tác giả Nhà sản xuất Công chúng
Trang 25Tóm lại: các quyền sử dụng và quyền định đoạt về một tác phẩm thường không
dành cho tác giả ví dụ cho một nghệ sĩ mà lại dành cho những người khai thác các
quyền này về mặt kinh tế ví dụ như nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình Tác giả chỉ giữ
lại các quyền phủ quyết có giới hạn nhằm để ngăn cản việc lạm dụng sao chép từ phía những người khác thác các quyền này Với việc nhà sản xuất gắn bó khắng khít với tác giả như vậy, tuy một số thành phần mang tính kinh tế của quyền (tức quyền liên quan) được chuyển giao cho nhà sản xuất, nhưng quyền tác giả vẫn được tôn trọng
1.2.5.2 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với các chủ thể của quyền liên quan khác
Mối quan hệ giữa nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với người biểu diễn
Sự ra đời phát triển của công nghệ trong thời gian vừa qua đã đem đến nhiều lợi ích cho con người Sự phát triển của công nghệ ghi âm, ghi hình đã tạo ra khả năng ghi lưu, định hình các buổi biểu diễn dưới những phương tiện đa dạng như đĩa hát, băng cát sét, băng từ… Nếu trước đây một buổi biểu diễn được tổ chức tại một hội trường với một lượng khán giả hạn chế vốn mang tính riêng biệt tại chỗ và trực tiếp, mang tính giới hạn về không gian, thời gian thì ngày nay không còn giới hạn này nửavà ngày càng có khả năng được tái hiện lặp đi lặp lại với số lần không hạn chế và trình diễn cho một lượng khán giả không hạn chế vượt ra ngoài biên giới quốc gia Bởi lẽ, những bản ghi âm, ghi hình đã tái hiện những buổi biểu diễn của những nghệ sĩ đó và sử dụng lại chúng nhiều lần mà không cần có sự có mặt của họ Nhờ vậy mà công chúng tiếp cận với các tác phẩm âm nhạc dễ dàng hơn, phổ biến hơn với chi phí rẻ hơn Chỉ cần một bản copy thôi cũng đủ đáp ứng cho nhu cầu của hàng triệu người Tuy có sự liên quan như vậy, việc tạo nên những bản ghi âm, ghi hình không được xuyên tạc hình tượng biểu diễn
Những bản ghi âm, ghi hình rõ ràng đã giúp các tác giả, các nhạc sĩ, nghệ sĩ biểu diễn có thể quảng bá tác phẩm của mình, khẳng định tên tuổi của mình tới đông đảo quần chúng một cách thuận lợi và tiết kiệm hơn nhiều so với trước đây Một ca sĩ không cần phải thực hiện những chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới nhưng các fan hâm mộ trên toàn cầu vẫn có thể biết đến họ, nghe các tác phẩm của họ thông qua những chiếc đĩa - CD, VCD hoặc thông qua việc tải nhạc từ các trang web
Như vậy, một cuộc biểu diễn đã được định hình thì sẽ được bảo hộ như quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình.19
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình cũng góp phần làm cầu nối giữa người biểu diễn với công chúng Khi ghi lại cuộc biểu diễn nhà sản xuất phải tôn trọng, bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không được sửa
19
Điểm C khoản 1 Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009
Trang 26chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự
và uy tính của người biểu diễn
Mối quan hệ giữa nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với tổ chức phát sóng
Để đưa chương trình phát sóng đến người xem bằng các hình thức như: truyền hình cable, truyền hình kỹ thuật số, truyền hình Internet, truyền hình qua vệ tinh và truyền hình qua điện thoại di động, thì việc phân phối đó phải được phép của các nhà tạo ra bản ghi âm, ghi hình đó, không có những chương trình của nhà sản xuất bản ghi
âm, ghi hình thì làm sao có chương trình để cho tổ chức phát chức phát sóng phổ biến đến công chúng Các tổ chức được quyền phân phối đó phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền
Một tổ chức phát sóng sẽ kém hiệu quả nếu tự mình tìm kiếm sự cho phép của tất
cả các tác giả cho việc sử dụng có bản quyền Trung bình hàng năm có 60.000 tác phẩm âm nhạc trong các bản ghi âm, ghi hình được trình chiếu trên truyền hình, và vì vậy phải có hàng ngàn tác giả âm nhạc được tìm kiếm để đạt được thỏa thuận sử dụng tác phẩm của họ20
và nhà sản xuất chính là người trung gian để giải quyết vấn đề đó Thông thường tổ chức phát sóng sẽ trả thù lao cho tác giả, người biểu diễn thông qua nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình Nếu tác giả chuyển giao quyền sở hữu cho nhà sản xuất thì nhà sản xuất sẽ là người trung gian giữa tác giả và tổ chức phát sóng Và nếu như, một cuộc biểu diễn đã được định hình được bảo hộ như quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, thì khi sử dụng tác phẩm của tác giả tổ chức phát sóng chỉ cần xin phép nhà sản xuất
Như vậy, trong mối quan hệ với tổ chức phát sóng, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đóng vai trò là tác giả của tác phẩm mới, là chủ sở hữu tác phẩm, nếu muốn sử dụng các chương trình của nhà sản xuất thì tổ chức phát sóng cần phải thực hiện một thao tác đó là xin phép và trả thù lao cho nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
1.3 Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
1.3.1 Khái niệm bảo hộ quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là những cách thức, biện pháp được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sử dụng nhằm tạo ra hành lang pháp
lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình cũng như những chủ thể có liên quan khác, chống lại bất kỳ sự vi phạm nào Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ quyền phải là tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của buổi biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác
20
Tổng hợp Internet, Quyền tác giả, http://www.thamtu.com.vn/lu%E1%BA%ADt-b%E1%BA%A3n-quy% E 1%BB%81n/ , [truy cập ngày 09/01/2012]
Trang 271.3.2 Đặc trƣng của sản phẩm ghi âm, ghi hình
Với sự phát triển của của khoa học - công nghệ như hiện nay thì công chúng có thể tiếp cận các bản ghi âm, ghi âm, ghi hình một cách dễ dàng vì hầu hết các bản ghi âm, ghi hình đều có chung đặc trưng là:21
Dễ dàng sao chép
Một tác phẩm khi đã được số hóa có thể sao chép một cách dễ dàng, nhanh chóng, chi phí thấp mà chất lượng vẫn bảo đảm Mỗi bản copy lại tiếp tục được sao thành nhiều bản khác mà vẫn giữ nguyên chất lượng ban đầu Như vậy chỉ cần một bản copy thôi cũng có thể đáp ứng nhu cầu của hàng triệu người Chúng ta đã được từng chứng kiến những đĩa nhạc CD từ những năm 80, 90 được sao chép thành hàng tỉ bản và trở nên phổ biến như thế nào trên mạng Internet trong những năm gần đây
Dễ dàng phổ biến
Mạng số hóa toàn cầu cho phép phổ biến tác phẩm dưới dạng số một cách nhanh chóng trên toàn thế giới Giống như phát thanh trên truyền hình, mạng kỹ thuật số cho phép từ một trung tâm có thể truyền tới hàng triệu cá nhân (mặc dù có điểm khác biệt
ở đây là các tác phẩm số hóa không nhất thiết phải đến tay người nhận cùng một lúc) Tuy nhiên, mạng số hóa còn cho phép mỗi cá nhân có thể trở thành chủ thể truyền phát, khiến cho số lượng phân phối tăng theo cấp số nhân, đôi khi gọi là hiệu ứng virus Điều này cùng với khả năng dễ dàng sao chép cũng có nghĩa là một bản copy số hóa của một tác phẩm có thể được tái bản hàng chục nghìn lần chỉ trong vài tiếng đồng
hồ Khi được phân phát bằng đường truyền tốc độ cao như mạng lưới cáp đòng trục hoặc thậm chí đường dây cáp quang thì quá trình đó sẽ nhanh hơn rất nhiều, đồng thời thì khả năng truyền tải các tác phẩm cũng tăng lên
Dễ dàng lưu trữ
Có thể dễ dàng lưu trữ một lượng lớn các thông tin số hóa, và mỗi năm giới hạn dung lượng đó lại được mở ra rất nhiều Chưa bao giờ một số lượng lớn thông tin lại
có thể được lưu trữ trong một không gian ngày càng nhỏ như ngày nay Đầu thập kỷ
1990, những chiếc đĩa CD với dung lượng trên 600 Megabytes đã được những kẻ làm băng đĩa giả sử dụng tràn lan và thu được lợi nhuận lên đến hàng triệu đôla Giờ đây, một thiết bị nghe nhạc di động chỉ to bằng hộp thuốc lá cũng có thể chứa đựng một khối lượng thông tin lớn gấp 70 lần (khoảng 10.000 bài hát)
21
Marybeth Peters,Thách thức về vấn đề bản quyền trong thời đại kỹ thuật số, http://www tinkinhte com/luat/
so-huu-tri-tue/thach-thuc-ve-van-de-ban-quyen-trong-thoi-dai-ky-thuat-so.nd5 dt.37619.021154.html, [truy cập ngày 12/01/2012]
Trang 281.3.3 Tính tất yếu, sự cần thiết phải bảo hộ quyền quyền của nhà sản xuất bản ghi
âm, ghi hình
Sự phát trển ngày càng cao của công nghệ, nhất là trong lĩnh vực ghi âm, ghi hình, đĩa hát băng cassette… Nhưng gần đây nhất là đĩa CD – (Compact Disc) và sự gia tăng nhanh chóng của chúng, dẫn đến sự cần thiết phải bảo hộ các nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình Sức lôi cuốn của bản ghi âm, ghi hình cũng như việc dễ dàng có được trên thị trường nhiều chủng loại mặt hàng ghi âm, ghi hình âm phức tạp, đã gây nên một vấn nạn sao chép lậu ngày càng gia tăng mà hiện nay trở thành một vấn nạn toàn cầu Không chỉ những tổ chức quy mô mới có khả năng làm băng đĩa lậu mà sự tiện dụng ngày càng cao của phương tiện ghi thu, lưu trữ cá nhân còn cho phép những người sử dụng riêng lẻ có những khả năng xâm phạm tới quyền lợi chính đáng của bộ phận sản xuất các bản ghi âm, ghi hình
Bên cạnh đó, Internet đã giúp nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình sao chép và truyền phát bản ghi âm, ghi hình này tới đông đảo công chúng một cách nhanh chóng, nhưng cũng chính những bản sao bản ghi âm, ghi hình đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng kiểm soát công chúng tiếp cận với bản ghi âm, ghi hình Thị trường băng đĩa lậu hiện nay đã phát sinh và phổ biến với nhiều hình thức và các kiểu mới tinh vi, phức tạp Với giá thành rẻ hơn 2 - 3 lần so với giá đĩa gốc, một đĩa bán dạo ngoài thị trường bao gồm hầu hết các chương trình được bán với giá 12.000đồng/1 DVD Trong khi đó, giá đĩa một chương trình gốc ở dạng VCD – (Video Compact disk) và DVD – (Digital Versatile Disk) thì được bán với giá từ 20.000 - 40.000đồng/1 đĩa22
và với vô
số bản sao băng từ hay bản lưu dưới dạng điện tử, khả năng kiểm soát và khống chế các cá nhân, tổ chức tiếp cận, sử dụng và khai thác bản ghi âm, ghi hình bị thu nhỏ, khả năng thụ hưởng thù lao, thu hồi chi phí và đầu tư cho bản ghi âm, ghi hình bị đe doạ Vì vậy, yêu cầu bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình càng trở nên
bức thiết
Ngoài ra, có một thực tế là các bản ghi âm, ghi hình ngày càng trở thành một thành phần không thể thiếu được trong các chương trình hàng ngày của các tổ chức phát sóng Và việc các tổ chức phát sóng tăng cường sử dụng các bản ghi âm, ghi hình, điều này cũng là nguy cơ xâm phạm quyền đối với nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình Kết quả là, không chỉ có người biểu diễn tìm kiếm sự bảo hộ cho chính mình, mà người sản xuất bản ghi âm, ghi hình cũng bắt đầu theo đuổi việc bảo vệ bản thân chống lại sự nhân bản trái phép các bản ghi, ghi hình và cũng vì tiền thù lao cho việc
22
Hoàng Minh, Cận tết, băng đĩa lậu tung hoành, báo Văn hóa, lau-tung-hoanh.htm [truy cập ngày 30/01/2012]
Trang 29http://danviet.vn/28719p1c30/can-tet-bang-dia-sử dụng các bản ghi âm, ghi hình nhằm mục đích phát sóng hoặc các hình thức truyền
bá khác tới công chúng Như vậy, nhu cầu bảo hộ đặc biệt đối với người sản xuất bản ghi âm, ghi hình được hình thành
Những nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình ngày càng ý thức rõ nhu cầu cấp thiết của việc bảo hộ chống lại việc sao chép trái phép các chương trình ghi âm, ghi hình của họ cũng như việc trả tiền thù lao để sử dụng chương trình vào mục đích phát thanh, truyền hình hay các hình thức truyền tải khác tới công chúng Và những nỗ lực vận động của họ không ngoài mục đích đạt được sự bảo hộ chính thức và hiệu quả của Nhà nước và được Nhà nước ghi nhận bằng pháp luật và đảm bảo thực hiện Cho đến nay quyền lợi của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đã được bảo hộ trên phạm vi quốc
tế cũng như được ghi nhận trong rất nhiều các hệ thống pháp luật quốc gia với tư cách
là một trong những quyền liên quan đến quyền tác giả
Bằng việc bảo vệ các nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình ngoài việc bảo đảm truyền bá văn hóa dân tộc cả ở trong nước và trên thế giới, còn có thể bổ sung thêm một nguồn lợi tức quan trọng nửacho nền kinh tế đất nước, và khi các hoạt động của
nó vượt ra khỏi biên giới quốc gia, thì đây còn có thể là hiện thân của luồng thu hút ngoại tệ
1.3.4 Tác động của khoa học công nghệ đối với việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Cùng những bước tiến trước sự phát triển kinh tế là sự phát triển của khoa học công nghệ, đã tạo nên sự xuất hiện của những công nghệ mới, các hệ thống viễn thông
và công nghệ số mới mẻ, tiên tiến, cùng với sự liên kết của chúng trong mạng thông
tin toàn cầu Internet đã tạo ra hướng tiêu cực cho ngành công nghiệp ghi âm Việt
Nam, nó sẽ làm kìm hãm sự phát triển của các nhà sản xuất chân chính Việc sử dụng ngày càng phổ biến các nơi trao đổi trong Internet và các công nghệ khác của thời đại
số Ngày nay chương trình phát thanh hay truyền hình có thể nghe hay xem được qua Internet, được coi như là một cạnh tranh của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình Trước kia, khi muốn nghe nhạc thì tất cả mọi người đều phải mua một đĩa hát hoặc khi muốn xem một vở kịch thì mọi người đều phải đến rạp hát… Khi các máy quay video, máy thâu băng và máy thu thanh được phổ biến rộng rãi, nhưng bây giờ thì chỉ cần một cái nhấp chuột thì chúng ta có thể xem bất những gì mình muốn như: nghe nhạc, xem phim… và sức lan truyền của Internet rất nhanh chóng, chúng ta không phải mất nhiều thời gian và tiền bạc Điều này là một thách thức lớn đối với ngành công nghiệp ghi
âm Việt Nam
Trang 30Khi các chương trình ngày càng nhiều và hấp dẫn thì các chương trình ghi âm, ghi hình ngày càng bị sao chép tinh vi hơn, hiện đại hơn Cũng chính vì vậy mà nạn sao chép trái phép các băng đĩa trong lĩnh vực ghi âm, ghi hình ngày càng nhiều gây trở ngại cho hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta Bên cạnh
đó, việc sử dụng băng đĩa ngày càng nhiều của tổ chức phát thanh truyền hình đã góp phần quảng bá cho các chương trình ghi âm, ghi hình đến công chúng Và nó đã trở thành một phần không thể thiếu của tổ chức phát sóng
Như vậy, cũng như lĩnh vực biểu diễn, pháp luật cần có sự bảo hộ cho riêng họ chống việc sao chép trái phép các chương trình ghi âm, ghi hình cũng như việc trả thù lao trong việc sử dụng các chương trình ghi âm, ghi hình nhằm mục đích phát thanh truyền hình hay bất kỳ một hình thức truyền tải nào khác trước sự phát triển không
ngừng của sự tiến bộ khoa học kỹ thuật
1.4 Một số điều ƣớc quốc tế liên quan đến việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm
Các Điều ước quốc tế cùng với pháp luật quốc gia giữ vai trò quan trọng trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn cầu Chúng không chỉ là công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ những thành quả sáng tạo của con người mà còn giúp các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, những nghệ sĩ biểu diễn, các nhà sản xuất bản ghi
âm, các tổ chức phát sóng có khả năng thu hồi một cách có hiệu quả những chi phí đã
bỏ ra để đầu tư cho việc sáng tạo tác phẩm, giúp họ có thể tiếp tục tái đầu tư để tạo ra những tác phẩm mới có chất lượng hơn Đồng thời coi trọng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế đặc biệt là các ngành công nghiệp giải trí, tạo nên sự cân bằng giữa quyền lợi của chủ sở hữu tài sản trí tuệ với nhu cầu của xã hội Điều ước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm có thể kể đến đó là:
- Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng;
- Công ước Geneve về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm;
- Công ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm;
- Hiệp định Trips về khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
1.4.1 Công ƣớc Rome về bảo hộ các nhà biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng
Công ước bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng được kí kết ngày 26-10-1961 tại Rome, vì vậy còn được gọi là Công ước Rome Công
Trang 31ước gồm 34 điều với các quy định bảo đảm sự bảo hộ tại các quốc gia thành viên, đối với các cuộc biểu diễn của người biểu diễn, các bản ghi âm của các nhà sản xuất bản ghi âm các các chương trình phát sóng của các tổ chức phát sóng Công ước Rome có hiệu lực tại Việt Nam ngày 1/3/2007
Nhà sản xuất bản ghi âm được hưởng quyền cho phép hoặc ngăn cấm việc sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm của họ Theo Điều 3(b) Công ước Rome thì
“bản ghi âm là bất kì sự định hình thuần túy về âm thanh của các âm thanh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh khác” Khi các bản ghi âm được công bố nhằm mục đích
thương mại thì việc sử dụng (như là phát sóng hoặc truyền đạt tới công chúng bằng bất
kì hình thức nào, tại nhà hàng, khách sạn… ), phải trả thù lao tương xứng cho những người biểu diễn, hoặc cho những nhà sản xuất bản ghi âm hoặc cả hai người đó một khoản thù lao thỏa đáng Tuy nhiên, các nước thành viên có thể không áp dụng quy tắc này hoặc có thể giới hạn về việc áp dụng quy tắc này
Thời hạn bảo hộ phải kéo dài ít nhất cho đến khi kết thúc thời hạn 20 năm, tính từ khi kết thúc năm bản ghi âm được thực hiện (Điều 14(a))
Công ước Rome cho phép luật các quốc gia được quy định ngoại lệ, gồm việc sử dụng tác phẩm được bảo hộ nhằm mục đích cá nhân, việc sử dụng các đoạn trích dẫn ngắn để đưa tin thời sự, việc ghi tạm thời các tổ chức phát thanh, truyền hình của chính các tổ chức đó, việc sử dụng chỉ nhằm mục đích giảng dạy hoặc nghiên cứu
khoa học và trong bất kỳ trường hợp nào khác mà luật quốc gia quy định ngoại lệ 1.4.2 Công ƣớc Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không đƣợc phép bản ghi âm của họ
Công ước bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép không được phép các bản ghi âm của họ, Công ước được ký kết tại Geneva ngày 29-10-1971, vì vậy còn được gọi là Công ước Geneva Công ước để mở cho bất kì quốc gia thành viên nào của Liên hợp quốc hoặc thành viên của bất kì tổ chức nào thuộc hệ thống các tổ chức của Liên hợp quốc Văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập phải được gửi
tới Tổng thư ký Liên hợp quốc
Điều 2 Công ước Geneva quy định: “mỗi quốc gia ký kết sẽ bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm là công dân của các quốc gia ký kết khác chống lại việc làm bản sao mà không được sự đồng ý của nhà sản xuất bản ghi âm đó và chống lại việc nhập khẩu các bản sao đó, với điều kiện là việc làm bản sao hoặc nhập khẩu đó là nhằm mục đích phân phối tới công chúng, và chống lại việc phân phối các bản sao đó tới công chúng” Bản ghi âm là bất kỳ bản định hình các âm thanh biểu diễn hoặc các âm thanh
khác dành riêng cho cơ quan thính giác (Điều 1(a)) Nhà sản xuất bản ghi âm là người
Trang 32hoặc pháp nhân định hình lần đầu câc âm thanh của buổi biểu diễn hoặc các âm thanh khác (Điều 1(b))
Theo Điều 4 Công ước thì “thời hạn bảo hộ sẽ tùy thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia ký kết Tuy nhiên, nếu luật pháp quốc gia quy định một thời hạn cụ thể cho sự bảo hộ này, thì thời hạn đó sẽ không ít hơn 20 năm kể từ khi kết thúc năm mà các âm thanh thể hiện trong bản ghi âm được ghi lần đầu hoặc năm mà các âm thanh thể hiện trong bản ghi âm công bố lần đầu”
Theo thông báo số 83 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), ngày 06/4/2005, Tổng giám đốc WIPO nhận được đơn của Việt Nam về việc tham gia Công ước Geneva Theo thông báo này, ngày Công ước có hiệu lực tại Việt Nam là ngày 06/7/2005 Việt Nam là thành viên thứ 74 của Công ước.23
1.4.3 Hiệp ƣớc WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT)
Hiệp ước WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) được thông qua bởi Hội nghị Ngoại giao WIPO về các vấn đề quyền tác giả và các quyền kề cận, được tổ chức
vào tháng 12/1996 Các quy định của Hiệp ước này liên quan tới “chương trình nghị
sự kỹ thuật số” bao gồm: các quyền áp dụng đối với việc lưu giữ và truyền các buổi
biểu diễn và bản ghi âm trong các hệ thống kỹ thuật số, các giới hạn và ngoại lệ đối với các quyền trong một môi trường kỹ thuật số, các giải pháp công nghệ của việc bảo
hộ các quyền quản lý thông tin
Trong Hiệp ước WIPO về biểu diễn và bản ghi âm, các quy định liên quan tới sự truyền dẫn trong các mạng kỹ thuật số được nêu tại Điều 14 Theo đó, nhà sản xuất
bản ghi âm phải có “độc quyền cho phép cung cấp tới công chúng bản ghi âm của họ bằng phương tiện hữu tuyến hoặc vô tuyến, theo cách thức mà bên ký kết trong xã hội
có thể tiếp cận chúng từ địa điểm và vào thời gian mà họ do cá nhân họ lựa chọn”
Hiệp ước WIPO về biểu diễn và bản ghi âm quy định các quyền đối với nhà sản xuất các bản ghi âm: quyền sao chép, quyền phân phối, quyền cho thuê, quyền cung cấp bản ghi âm tại các Điều 11, Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15 Theo Điều 16(1)
Hiệp ước WIPO về biểu diễn và bản ghi âm, các quốc gia ký kết có thể “quy định các hạn chế và ngoại lệ tương tự đối với việc bảo hộ người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm như quy định trong các luật quốc gia của mình đối với việc bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật”
Theo Điều 17(2) Hiệp ước WIPO về biểu diễn và bản ghi âm thì: “thời hạn bảo
hộ đối với nhà sản xuất bản ghi âm sẽ kéo dài ít nhất cho đến khi kết thúc thời hạn 50 năm, tính từ khi kết thúc năm mà bản ghi âm đã được công bố, hoặc nếu không có việc
23
TS.LS Lê Xuân Thảo, Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, Nxb Tư pháp Hà Nội, 2005, tr 98
Trang 33công bố này trong vòng 50 năm kể từ khi định hình bản ghi âm, 50 năm tính từ khi kết thúc năm mà việc định hình được thực hiện”
Như vậy, Hiệp ước WIPO về biểu diễn và bản ghi âm ra đời đã tạo một cơ sở pháp lý lập một cơ sở pháp lý quan trọng trong việc bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, giúp bảo hộ tốt quyền lợi của các nhà sản xuất trên trường quốc tế
1.4.4 Hiệp định Trips về khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
Xã hội càng phát triển thì việc tạo lập một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
có tính bắt buộc trên phạm vi quốc tế nhằm ngăn chặn việc sử dụng trái phép tài sản trí tuệ và khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo đang ngày càng trở nên bức thiết Phần lớn các quốc gia đều nhất trí rằng cần phải nghiên cứu, thảo luận nhằm hình thành một Công ước mới điều tiết các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ Hiệp định Trips của WTO (được ký kết năm 1994 và chính thức có hiệu lực vào tháng 1/1995) đã ra đời nhằm giải quyết một cách toàn diện vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Với Hiệp định này, lần đầu tiên những quy định về quyền sở hữu trí tuệ được đưa vào hệ thống
thương mại và người ta kỳ vọng rằng Hiệp định sẽ "góp phần thúc đẩy việc cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, mang lại lợi ích cho cả người sáng tạo và người
sử dụng công nghệ cũng như lợi ích kinh tế - xã hội nói chung và đảm bảo sự cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ" (Điều 7, Hiệp định Trips)
Các quy định mới điều chỉnh những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ thông qua Hiệp định Trips đã trở thành một phương tiện giúp củng cố trật tự, cũng như giải quyết tranh chấp một cách có hệ thống hơn trên phạm vi toàn cầu Hiệp định nêu ra các nguyên tắc và ấn định mức độ bảo hộ tối thiểu mà mỗi quốc gia thành viên phải bảo đảm cho quyền sở hữu trí tuệ của các quốc gia thành viên khác Trên cơ sở đó, Hiệp định tạo ra sự cân bằng giữa lợi ích lâu dài và chi phí ngắn hạn đối với xã hội Cũng như trong các hiệp định khác của WTO, Hiệp định Trips dựa trên một số nguyên tắc cơ bản, đó là nguyên tắc đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc
và bảo hộ cân bằng Các nguyên tắc này không chỉ áp dụng đối với các tiêu chuẩn về nội dung bảo hộ mà còn áp dụng cả đối với những vấn đề liên quan đến khả năng đạt được, xác lập phạm vi, duy trì và thực thi quyền sở hữu trí tuệ
Hiệp định Trips đề cập chi tiết đến các quyền sở hữu trí tuệ khác nhau và cách thức bảo hộ Các thành viên của WTO đều bắt buộc phải xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ quốc gia nhằm đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu được nêu trong Hiệp định theo hai chuẩn mực cơ bản về bảo hộ, đó là tính đầy đủ và tính hiệu quả của hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ hiện hành Nền tảng của Hiệp định
Trang 34là những nghĩa vụ được nêu trong các hiệp định quốc tế ký kết trong khuôn khổ Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) như Công ước Paris, Công ước Bern Ngoài ra, Hiệp định Trips còn bổ sung một số lượng lớn các quy định mới Cụ thể, các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định Trips bao gồm: quyền tác giả và quyền liên quan; nhãn hiệu hàng hóa và thương hiệu; chỉ dẫn địa lý; bản vẽ và kiểu dáng công nghiệp; bằng sáng chế; sơ đồ bố trí mạch tích hợp và bảo vệ thông tin bí mật
Quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là một dạng quyền liên quan được bảo
hộ Theo quy định tại Điều 14.2 thì các nhà sản xuất ghi âm có quyền cho phép hoặc ngăn cấm việc táo tạo, nhân bản trực tiếp hoặc gián tiếp các bản ghi âm của họ Quyền cho thuê được cấp cho các nhà sản xuất, và một số chủ thể của quyền khác, đối với bản ghi âm của họ; các thành viên có thể duy trì những hệ thống, có hiệu lực ngày 15/04/1994, về các khoản thù lao thích đáng đối với việc thuê các bản ghi âm, miễn là
hệ thống này không phương hại đến độc quyền tái tạo, nhân bản (Điều 14.4) Thời hạn bảo hộ đối với các nhà sản xuất bản ghi âm tối thiểu là 50 năm tính từ khi kết thúc năm
mà việc ghi thu lưu định được tiến hành
Với những quy định trên, Hiệp định đã thiết lập một chuẩn mực tối thiểu cho việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình trên phạm vi toàn cầu
Từ những phân tích trên cho ta thấy, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có vai trò quan trọng trong việc làm phong phú văn hóa, làm giàu lên tinh thần của người dân Việt Nam Vì vậy pháp luật Việt Nam cần có những quy định cụ thể để tạo một hành lang pháp lý thông thoáng để bảo vệ quyền lợi của họ nhằm hạn chế, khắc phục những hành vi xâm phạm Để hiểu rõ hơn về quy định của pháp luật Việt Nam trong việc bảo
hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình chúng ta sẽ cùng tìm hiểu tiếp chương
2 “Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình theo quy định của pháp
luật Việt Nam”
Trang 35CHƯƠNG 2 BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM - GHI HÌNH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1 Điều kiện bảo hộ quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
2.1.1 Chủ thể được bảo hộ quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác (gọi chung là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình) thì được bảo hộ quyền ghi âm, ghi hình.24
Trong điều kiện kinh tế hiện nay của nước ta, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
có thể là cá nhân hoặc tổ chức Vì không chỉ tổ chức mới có đủ khả năng về kỹ thuật
và tài chính để sản xuất băng đĩa ghi âm, ghi hình mà chính cá nhân cũng có khả năng thực hiện được hoạt động sản xuất này Hơn nữa, chỉ được coi là nhà sản xuất bản ghi
âm, ghi hình khi người đó thực hiện việc định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của buổi biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác Việc định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh có thể được thực hiện trên băng đĩa hoặc một số bộ nhớ số
Bản ghi âm, ghi hình đầu tiên có nghĩa là sự thể hiện nguyên bản dưới dạng vật chất chứa âm thanh, hình ảnh của một buổi biểu diễn trực tiếp hay bất kỳ âm thanh, hình ảnh nào khác mà không được lấy lại từ một bản ghi âm, ghi hình đã có trước, dưới hình thức là những chất liệu bền vững như băng đĩa hay bất kỳ phương tiện phù hợp nào khác cho phép ta có thể thưởng thức, sao chép hay lặp đi lặp lại
2.1.2 Đối tượng bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Đối tượng bảo hộ của bộ phận pháp luật này là thành quả lao động, đầu tư để sản xuất ra băng đĩa của các tổ chức sản xuất băng đĩa ghi âm, ghi hình Trong nhiều trường hợp, các thành quả lao động của đối tượng trên có liên quan đến tác phẩm văn
học, nghệ thuật Ví dụ: sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật để sản xuất ra băng đĩa ghi âm, ghi hình… Do đó, nó còn được gọi là một trong những quyền kề cận của
quyền tác giả
Bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:25
- Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có quốc tịch Việt Nam;
- Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Trang 36Lưu ý: Bản ghi âm, ghi hình chỉ được bảo hộ với điều kiện không gây phương hại đến quyền tác giả.26
Điều đó đồng nghĩa với việc bản ghi âm, ghi hình đó phải phù hợp với ý chí của tác giả, không được sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm với bất
kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín tác giả Hơn nữa, bản ghi âm,
ghi hình đó cũng không được gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế của tác giả ví dụ như ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác giả… Như vậy, nếu một bản ghi âm, ghi
hình được tạo ra mà gây thiệt hại đến tinh thần và lợi ích kinh tế của tác giả thì nó sẽ không được bảo hộ
Ở đây một câu hỏi lại được đặt ra, nếu như việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình gây thiệt hại đến quyền của các chủ thể của quyền liên quan khác
thì bản ghi âm, ghi hình đó có được bảo hộ hay không? Ví dụ đối với người biểu diễn
theo điểm a khoản 3 Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 thì
“người biểu diễn có quyền định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi
âm, ghi hình”, “định hình” ở đây là tạo ra bản ghi âm, ghi hình Tuy nhiên nếu nhà sản
xuất thực hiện việc ghi âm, ghi hình cuộc biểu diễn đó mà không xin phép người biểu diễn thì rõ ràng nhà sản xuất này đã vi phạm quyền của người biểu diễn Như vậy, luật chỉ quy định trường hợp bản ghi âm, ghi hình gây phương hại đến quyền tác giả thì không được bảo hộ, còn trường hợp bản ghi âm, ghi hình gây phương hại đến quyền của chủ thể khác thì có được bảo hộ hay không? Luật lại không điều chỉnh trường hợp này, đây là một thiếu sót cần phải bổ sung để hoàn thiện
2.2 Nội dung quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
2.2.1 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Cũng giống như quyền của tổ chức phát sóng, quyền của nhà sản xuất bản ghi
âm, ghi hình là quyền tài sản Điều này có sự khác biệt so với quyền của tác giả, của người biểu diễn Sự khác biệt đó có thể nói xuất phát từ sự đóng góp chất xám vào sản phẩm của các nhóm quyền Nói như vậy không có nghĩa là thành quả của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình không có chất xám Tất cả các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ đều là những thành quả của lao động trí tuệ sáng tạo Tuy nhiên, đối với nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình thì thành quả ấy chịu tác động của hoạt động đầu tư về kinh tế, kỹ thuật nhiều hơn, đồng thời không để lại dấu ấn cái tôi đậm nét như ở tác phẩm văn học, nghệ thuật và chương trình biểu diễn Quyền được bảo hộ của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là quyền tài sản Trong quyền tài sản này có chứa giá trị phi vật chất
Đó chính là năng lực cạnh tranh của nhà sản xuất Do là quyền tài sản nên quyền này
có thể được chuyển dịch cho người khác thông qua hợp đồng, thừa kế hoặc thông qua
26
Khoản 4 Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009
Trang 37việc thừa kế quyền (chuyển dịch quyền của một tổ chức sang một tổ chức khác do sáp nhập chuyển nhượng doanh nghiệp…)
Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 thì nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có các quyền sau đây đối với sản phẩm do mình tạo ra
- Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:
+ Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình;
+ Nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hìnhcủa mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện
kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được
- Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được hưởng quyền lợi vật chất khi bản ghi
âm, ghi hình của mình được phân phối đến công chúng
2.2.1.1 Quyền sao chép
Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử.27Bản sao bản ghi âm, ghi hình là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ bản ghi âm, ghi hình28
tức là nó thể hiện toàn bộ hoặc phần chủ yếu của các âm thanh, hình ảnh được định hình trong bản ghi âm, ghi hình gốc Như vậy, về phạm vi, việc sao toàn bộ hay phần chủ yếu một băng hoặc đĩa ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất mà không được nhà sản xuất cho phép cũng bị coi là xâm phạm độc quyền của nhà sản xuất Về cấp độ sao, cả việc sao trực tiếp và việc sao gián tiếp từ bản định hình âm thanh, hình ảnh gốc của nhà sản xuất mà không được nhà sản xuất đồng ý cũng bị coi là xâm phạm quyền của nhà sản xuất
Đây là quyền độc quyền của nhà sản xuất Chỉ duy nhất nhà sản xuất mới có quyền sao chép, nhân bản bản ghi âm, ghi hình của mình, còn mọi hành vi sao chép, nhân bản nếu không được sự đồng ý của nhà sản xuất đều bị coi là xâm phạm quyền Theo nghĩa rộng, thì nhà sản xuất có quyền cấm bất kỳ người thứ ba nào sao chép trái phép sản phẩm của mình Nhà sản xuất có thể tự mình thực hiện độc quyền hoặc cho người khác sử dụng độc quyền đó thông qua các hợp đồng chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng
Trang 38Các cá nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đài phát thanh có nhu cầu sử dụng các bản ghi âm, ghi hình, phải liên hệ với các đối tác để xin phép, thoả thuận về việc
sử dụng và phải trả thù lao cho nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình hoặc thông qua các
tổ chức quản lý tập thể như Hiệp hội công nghiệp ghi âm Việt Nam
Pháp luật Việt Nam quy định mọi hành vi sao chép mà không được phép của nhà sản xuất điều bị coi là xâm phạm quyền của nhà sản xuất, trừ các trường hợp ngoại lệ quy định tại Điều 32, Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ, vì các trường hợp đó mục đích là nhằm phục vụ nhu cầu chung của cộng đồng
Trên thực tế, quyền cho phép người khác thực hiện sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình là thường xuyên bị xâm phạm hiện nay Bởi vì, việc sang băng đĩa lậu rất khó kiểm soát có những trường hợp băng đĩa chưa phát hình tới công chúng thì đã xuất hiện băng đĩa lậu trên thị trường Vậy nên làm thế nào để bảo đảm một cách hữu hiệu quyền này của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là một vấn đề không dễ giải quyết hiện nay.29
2.2.1.2 Quyền phân phối
Phân phối tới công chúng có nghĩa là bất kỳ hành vi nào mà thông qua đó các bản sao của bản ghi âm, ghi hình được đưa ra chào bán trực tiếp hoặc gián tiếp cho rộng rãi công chúng hoặc bất kỳ bộ phận công chúng.30
Theo điểm b khoản 1 Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ: nhà sản xuất có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc phân phối đến công chúng bản gốc
và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được
Khi công việc ghi âm, ghi hình hoàn tất thì bộ phận dễ nhận thấy nhất là công đoạn phân phối những bản ghi âm, ghi hình đó Nhà sản xuất có thể tự mình thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác như: truyền tải đến đài phát thanh, cáp hữu tuyến, vệ tinh hoặc Internet, nhạc chuông, nhạc chờ điện thoại và được nhận thù lao từ các hoạt động này Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào thực hiện việc phân phối bản gốc hoặc bản sao không được phép của chủ sở hữu điều bị coi là xâm phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Đối với việc cho thuê bản ghi âm, ghi hình ngoài việc trả tiền thù lao tương xứng cho nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình Đối với việc cho thuê bản ghi âm, ghi hình họ
có thể được duy trì chế độ đó với điều kiện là việc cho thuê thương mại bản ghi âm,
Trang 39ghi hình không làm phương hại về vật chất đối với độc quyền sao chép của chủ sở hữu Tức là việc cho thuê đó không dẫn tới tình trạng sao chép rộng rãi làm tổn hại tới độc quyền sao chép, tái tạo, nhân bản của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Ở nhiều nước, quyền phân phối bản ghi âm, ghi hình bị giới hạn bởi cơ chế “bán lần đầu” hay còn gọi là nguyên tắc “khai thác hết quyền” Theo đó, khi chủ sở hữu đã
cho phép bán hoặc phân phối lần đầu đối với một bản sao hoặc bản ghi âm, chủ sở hữu
sẽ không còn quyền can thiệp vào cách thức phân phối sau đó của bản sao hoặc bản ghi âm trong lãnh thổ của các nước có liên quan, nói cách khác, chủ sở hữu quyền bản
ghi âm có thể quản lý gần như mọi chi tiết “lần bán hàng đầu tiên” của bản ghi âm kể
cả thời gian, giá cả và các điều kiện bán hàng Nhưng một khi đã bán đi rồi, người mua hàng có thể bán lại bản sao hoặc bản ghi âm có liên quan, cho người khác mượn hay cho đi… Tuy nhiên, người mua hàng không thể nhân bản bản ghi âm này.31
2.2.1.3 Quyền được hưởng thù lao
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có quyền hưởng thù lao khi bản ghi âm, ghi hình hoặc bản sao của họ được sử dụng vào mục đích thương mại Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đã đầu tư không ít công sức, kỹ thuật, tài chính để tạo ra các bản ghi
âm, ghi hình lẽ đương nhiên họ phải được hưởng thành quả lao động sáng tạo này Họ
có quyền cho thuê hoặc bán bản gốc hoặc bản sao bản ghi âm, ghi hình để sử dụng nhằm đạt được mục đích thương mại Thù lao nhận được sẽ là cơ sở kích thích họ tiếp tục đầu tư sáng tạo ra các tác phẩm có giá trị và chất lượng cao hơn
Về nguyên tắc, đối với các bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ bản quyền, trước khi sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố vào mục đích thương mại thì không cần xin phép nhưng phải thực hiện nghĩa vụ trả thù lao cho nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình theo thoả thuận, trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.32
Việc trả thù lao cho việc sử dụng quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình hiện nay có thể thực hiện đơn giản và dễ dàng Người sử dụng có thể theo các thông tin quản lý quyền có trên bản ghi âm, ghi hình liên hệ trực tiếp với nhà sản xuất để trả thù lao hoặc thông qua các tổ chức quản lý tập thể nếu nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đã ủy thác quyền cho các tổ chức này quản lý
31
Wipo – Kipo – Kipa, Bài 5 quyền tác giả quyền liên quan ,https://docs Google com/viewer?a=v&q= cache:
8AKaSf6_h7AJ:www.noip.gov.vn/html/panorama/documents/pdf/ip_panorama_5_learning_points.pdf+o+nhieu +nuoc,+phan+phoi+ban+ghi+am,+ghi+hinh+bi+gioi+han+boi+co+che+ban+lan+dau&hl=vi&gl=vn&pid=bl&sr cid=ADGEEShtiDEjuGuoLwHDyyOaPXbmReLC8ef2YBNNPKdQ0pMYKy8adfelDQDlSt7ybGerF3O2rXWK 3Kc7aZGD77VzHK0h7KHhq7jE7_bCQ4kl7rnVfQtL8UN7YT6pb4Q9lAB06qFWron5&sig=AHIEtbTvwOaFm
r68GZi1GxDaSGHum6eaWQ, [truy cập ngày 04/02/2012]
32
Khoản 2 Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009
Trang 40Ở Việt Nam, chủ thể sử dụng các bản ghi âm có thể tìm đến 3 nơi để thanh toán bản quyền: Trung tâm Bảo vệ bản quyền âm nhạc Việt Nam (VCPMC) - Vietnam Center for Protection of music, Hiệp hội Ghi âm Việt Nam (RIAV) - Recording Industry Association of Vietnam và Trung tâm Bản quyền tác giả văn học Việt Nam (VLCC) - VietNam Literary Copyright center Phương thức thanh toán tùy hai bên quyết định.33
Pháp luật Việt Nam có quy định nguyên tắc và phương thức thanh toán tiền thù lao và quyền lợi vật chất được thực hiện theo Điều 45 Nghị định 85/NĐ-CP Tuy nhiên luật cũng chưa quy định rõ mức trả thù lao như thế nào, điều này đã gây nhiều khó khăn cho người sử dụng
2.2.2 Nghĩa vụ của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Bên cạnh các quyền mà nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được hưởng theo quy định của pháp luật thì nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình còn có các nghĩa vụ sau:34
2.2.2.1 Nghĩa vụ giao kết hợp đồng bằng văn bản với tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, người biểu diễn
Người sử dụng tác phẩm có nghĩa vụ giao kết hợp đồng bằng văn bản với tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm (hoặc người thừa kế của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm), nếu sử dụng tác phẩm chưa được công bố để sản xuất chương trình của mình
Ký kết hợp đồng là hình thức xin phép tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm Hợp đồng phải bằng hình thức văn bản Hình thức văn bản là hình thức bắt buộc theo luật định Nếu vi phạm hình thức văn bản, thì hợp đồng không có hiệu lực Trong trường hợp này, người sản xuất phải cố gắng đạt được việc ký kết hợp đồng bằng văn bản Nếu không ký kết hợp đồng bằng văn bản, mà vẫn tiến hành việc sử dụng tác phẩm để sản xuất băng hoặc đĩa âm thanh, băng đĩa hình thì người sản xuất bị coi là đã vi phạm quyền tác giả và tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc người đó phải chấm dứt hành
vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại
Đối với những tác phẩm đã được công bố thì người sản xuất phải xin phép tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, nếu tác phẩm còn thời hạn bảo hộ Tuy nhiên, trong những trường hợp này, có thể xin phép miệng hoặc xin phép bằng hành vi thực tế tức là cứ sử dụng tác phẩm để sản xuất, rồi trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm
33
Hương Lan, Việt Nam gia nhập Công ước Geneva băng, đĩa nhạc nước ngoài sẽ hiếm và đắt hơn, Việt Báo,
hon/45158432/181/ , [truy cập ngày 05/02/2012]
http://vietbao.vn/Van-hoa/Viet-Nam-tham-gia-Cong-uoc-Geneva-Bang-dia-nhac-nuoc-ngoai-se-hiem-va-dat-34
Luật gia Nguyễn Bình, Nguyễn Thị Chính, Nguyễn Huy Cát, Nguyễn Bích ngọc, Bình luận về quyền tác giả
theo pháp luật Việt Nam, Nxb Tư pháp Hà Nội, 2005, tr 175