1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP bảo hộ bí mật KINH DOANH TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

94 510 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được vai trò quan trọng của bí mật kinh doanh trong sự phát triển kinh tế của đất nước, Chính phủ đã ban hành Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2000 về bảo hộ quyền

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện

ThS Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Nguyễn Thị Muội

Bộ môn Tư pháp MSSV : 5085975

Lớp : Tư pháp 1- K34

Cần Thơ, 4/2012

Trang 2

Lời cảm ơn



Vậy là bốn năm đại học đã dần khép lại Luận văn như là một cánh cửa cuối cùng khép lại đời sinh viên với nhiều kỷ niệm buồn vui Nhưng để vượt qua được ngưỡng cửa cuối cùng này thật sự là một việc không phải dễ dàng Đòi hỏi phải có sự nổ lực rất lớn của bản thân, đặc biệt là sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè

Để hoàn thành được luận văn này người viết xin gởi lời tri ân đến

cô hướng dẫn Ths Nguyễn Thị Ngọc Tuyền, người đã luôn ở bên cạnh động viên, hướng dẫn người viết những lúc khó khăn nhất trong suốt quá trình làm luận văn

Người viết cũng xin gởi lời cảm ơn đến toàn thể quý thầy cô khoa luật đã trang bị kiến thức cho người viết suốt bốn năm qua Để người viết

có những kiến thức cơ bản nhất hỗ trợ cho quá trình làm luận văn

Bên cạnh đó, xin cảm ơn bạn bè đã luôn là người bên cạnh, giúp

đỡ, chia sẻ với người viết những lúc vui buồn và khó khăn nhất trong suốt quãng đường dài bốn năm đại học và cả thời gian làm luận văn

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ BÍ MẬT KINH DOANH 1.1 Lược sử hình thành và phát triển của việc bảo hộ bí mật kinh doanh 4

1.1.1 Trên thế giới 4

1.1.2 Ở Việt Nam 4

1.2 Khái niệm về bí mật kinh doanh và bảo hộ bí mật kinh doanh 6

1.2.1 Khái niệm bí mật kinh doanh 6

1.2.2 Khái niệm về bảo hộ bí mật kinh doanh 8

1.2.3 So sánh bảo hộ bí mật kinh doanh với các đối tượng khác của sở hữu công nghiệp 10

1.2.3.1 So sánh bảo hộ bí mật kinh doanh với bảo hộ sáng chế 10

1.2.3.2 So sánh bảo hộ bí mật kinh doanh với bảo hộ nhãn hiệu 13

1.2.4 Mối quan hệ giữa bảo hộ bí mật kinh doanh và quyền sở hữu công nghiệp 15

1.3 Đặc điểm của việc bảo hộ bí mật kinh doanh 16

1.4 Sự cần thiết của việc bảo hộ bí mật kinh doanh trong thời kỳ hội nhập hiện nay 18

1.5 Hiệp ước quốc tế liên quan đến vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh 20

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ BÍ MẬT KINH DOANH 2.1 Điều kiện đăng ký bảo hộ bí mật kinh doanh 24

2.2 Quy trình bảo hộ bí mật kinh doanh 25

Trang 6

2.2.2 Đối tượng không được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh 27

2.2.3 Xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh 28

2.2.4 Thời hạn của việc bảo hộ bí mật kinh doanh 29

2.3 Quyền của chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh 30

2.3.1 Quyền sử dụng đối với bí mật kinh doanh 32

2.3.2 Quyền ngăn cấm sử dụng bí mật kinh doanh 33

2.3.3 Quyền chuyển giao bí mật kinh doanh 39

2.3.3.1 Chuyển nhượng quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh 40

2.3.3.2 Quyền chuyển quyền sử dụng bí mật kinh doanh 43

2.3.4 Quyền thừa kế bí mật kinh doanh 49

2.3.5 Quyền yêu cầu xử lý khi quyền bị xâm phạm 50

2.4 Nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh 51

2.5 Các biện pháp bảo vệ bí mật kinh doanh 54

2.5.1 Biện pháp tự bảo vệ của chủ sở hữu bí mật kinh doanh 54

2.5.2 Bảo vệ bí mật kinh doanh bằng các biện pháp dân sự, biện pháp hành chính và biện pháp hình sự 56

2.5.2.1 Xác định các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh 56

2.5.2.2 Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh 60

2.6 Cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh 64

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ BÍ MẬT KINH DOANH 3.1 Tình hình chung về công tác bảo hộ bí mật kinh doanh hiện nay 66

3.1.1 Vụ đánh cắp bí mật kinh doanh của Coca-cola, Intel và thực tiễn bảo hộ bí mật kinh doanh tại Việt Nam 69

3.1.2 Nguyên nhân 74

3.1.2.1 Hạn chế trong chế định pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh 74

3.1.2.2 Nhận thức của xã hội chưa cao 79

3.2 Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh 80

3.2.1 Giải pháp từ phía pháp luật 80

3.2.1.1 Hoàn thiện khái niệm bí mật kinh doanh 80

3.2.1.2 Giải thích cụ thể về phạm vi bảo hộ đối với bí mật kinh doanh 80

Trang 7

3.2.1.3 Bổ sung thêm quyền của chủ sở hữu bí mật kinh doanh 81 3.2.1.4 Quy định thời điểm chấm dứt quyền sở hữu đối với bảo hộ bí mật kinh doanh 82

3.2.1.5 Quy định các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động

và người sử dụng lao động đối với việc quản lý, bộc lộ, khai thác đối với bảo hộ bí mật kinh doanh 82 3.2.1.6 Hoàn thiện các quy định về việc xác định các hành vi xâm phạm bảo hộ bí mật kinh doanh 83 3.2.1.7 Hoàn thiện các quy định về biện pháp xử lý hành vi xâm phạm về bảo hộ

bí mật kinh doanh 83 3.2.2 Nâng cao nhận thức của xã hội đối với bảo hộ bí mật kinh doanh 84 3.2.3 Một số đề xuất để tăng cường thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong thời gian tới 85

KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trước khi bước vào lĩnh vực kinh doanh, các nhà doanh nghiệp đã trang bị cho mình tất cả những yếu tố quan trọng như là bản lĩnh kinh doanh, nguồn nhân lực, nguồn tài chính, thị trường phân khúc… Tuy nhiên, để có thể phát triển và đứng vững trên thương trường thì có những yếu tố này thôi là chưa đủ mà các nhà doanh nghiệp cần phải nắm trong tay một yếu tố quan trọng hơn hẳn đó là bí mật kinh doanh Có thể nói bí mật kinh doanh đã thật sự trở thành một vũ khí cạnh tranh lợi hại, nhiều doanh nghiệp hiện nay đã đạt được sự thống trị trong một lĩnh vực kinh doanh nhất định nhờ

có được bí mật kinh doanh Chính vì thế nhu cầu bảo hộ bí mật kinh doanh luôn là vấn

đề nóng bỏng và cấp thiết không chỉ là vấn đề riêng lẻ của từng quốc gia mà nó là vấn

đề mang tính toàn cầu trong bối cảnh tự do hóa, toàn cầu hóa thương mại hiện nay Việc bảo hộ bí mật kinh doanh đã được thế giới quan tâm từ những năm 1883 khi Công ước PARIS ra đời Đối với nước ta thì bí mật kinh doanh cũng đã từng bước được nhà nước quan tâm bằng việc ban hành các văn bản pháp luật Tuy nhiên, vấn đề

về bảo hộ bí mật kinh doanh ở nước ta vẫn còn khá mới mẽ trong lý luận và cả thực tiễn, chính sự non trẻ này đã dẫn đến sự bất cập, thiếu sót trong quy định và thực thi pháp luật hiện nay Điều này, có thể tạo điều kiện cho những hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh càng phổ biến và tinh vi hơn làm cho quyền lợi của các nhà doanh nghiệp chân chính không được bảo vệ triệt để Chính vì vậy, vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh đang ngày càng trở nên cấp thiết, để tạo được một môi trường kinh doanh lành mạnh Đây cũng là đòi hỏi chính đáng của các nhà doanh nghiệp chân chính trong nước cũng như ngoài nước

Trong bối cảnh hiện nay, khi nhu cầu hội nhập là vấn đề mang tính tất yếu khách quan, kinh tế tri thức chiếm ưu thế trong nền kinh tế toàn cầu thì vấn đề bảo hộ

bí mật kinh doanh càng được đặt ra là vấn đề bức thiết của bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt là Việt Nam Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam năm 2010 đến năm 2020 đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong thời kỳ hội nhập là “hoàn thiện pháp luật thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng…” Hiện nay, chúng ta đã là thành viên của ASEAN, APEC, và quan trọng nữa

là chúng ta cũng đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Điều này càng đặt vấn đề về hoàn thiện pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh để cùng bạn bè quốc tế hội nhập Trước những yêu cầu khách quan đó ngày

Trang 9

19/11/2005 Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và đã có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 (sửa đổi bổ sung năm 2009) Tuy pháp luật Việt Nam đã có những quy định nhìn chung là phù hợp tương đối với quan hệ xã hội trong nước và xu hướng quốc tế Nhưng bảo hộ bí mật kinh doanh

ở Việt Nam vẫn còn khá xa lạ, nên việc tiếp cận đối tượng này dưới góc độ khoa học pháp lý để nâng cao nhận thức về pháp luật thực định cũng như lý luận, thực tiễn là điều cần thiết

Chính vì những lý do trên mà người viết chọn đề tài “Bảo hộ bí mật kinh doanh trong pháp luật Việt Nam” để làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ cũng như các quy định của các công ước, hiệp định quốc tế, quy định của các nước trên thế giới liên quan đến vấn đề sở hữu trí tuệ Qua đó người viết sẽ phân tích, so sánh giữa các quy định của pháp luật nội tại và pháp luật Việt Nam với công ước, hiệp ước quốc tế mà Việt Nam tham gia cũng như các nước trên thế giới về quyền bảo hộ này Để tập trung làm rõ các vấn đề về lý luận, nội dung, bản chất, vai trò, ý nghĩa… của việc bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam Đồng thời, cũng qua đây người viết cũng sẽ có một số đánh giá thực trạng về bảo hộ bí mật kinh doanh, từ đó tìm ra giải pháp để hoàn thiện và thực thi việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bảo hộ bí mật kinh doanh đạt được nhiều hiệu quả hơn trong thời gian tới

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của một luận văn cử nhân, người viết sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và một số thực tiễn liên quan đến việc bảo hộ bí mật kinh doanh dựa trên cơ sở quy định Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành và các văn bản pháp luật trong nước và quốc tế có liên quan Để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của công tác bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với đối tượng này

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu luận văn này, người viết dùng nhiều phương pháp để

phục vụ cho việc nghiên cứu như phương pháp phân tích chứng minh và phép so sánh đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn về việc bảo hộ bí mật kinh doanh của pháp luật Đồng thời người viết cũng sử dụng một số tài liệu tham khảo như bài bình luận, sách báo, trang web thêm vào đó là những kiến thức đã có được trong quá trình học tập trong nhà trường và kinh nghiệm có được từ thầy cô, bạn bè và thực tế bản thân trải nghiệm để hoàn chỉnh đề tài của mình

Trang 10

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về bảo hộ bí mật kinh doanh

Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về việc bảo hộ bí mật kinh doanh Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ BÍ MẬT KINH DOANH

1.1 Lược sử hình thành và phát triển của việc bảo hộ bí mật kinh doanh

cập tới các bí mật kinh doanh nhưng ở Điều 10bis về cạnh tranh không lành mạnh, đòi

hỏi việc bảo hộ chống lại bất kỳ hoạt động cạnh tranh đối nghịch với những thông lệ không trung thực trong các vấn đề thương mại hay công nghiệp Nhu cầu bảo hộ

chống tiết lộ sai trái “thông tin không được tiết lộ” ở Điều 10bis, đây là một điều

khoản khác về bí mật kinh doanh nhìn chung đã được thừa nhận Tiếp tục sự vận hành của thời đại để đáp ứng nhu cầu không ngừng phát triển của nhân loại nhiều công ước

đã lần lược ra đời như Hiệp ước Washington, Thỏa ước Madrid… nhưng hầu như trong các công ước này đều không có một quy định nào về việc bảo hộ bí mật kinh doanh Mãi đến năm 1994, bảo hộ bí mật kinh doanh mới được ghi nhận một cách chính thức ở Điều 39 của Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) Đây là lần đầu tiên bí mật kinh doanh được bảo hộ trong một điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ vượt ra ngoài quy định chung tại

Điều 10bis Công ước PARIS

1.1.2 Ở Việt Nam

 Giai đoạn trước khi Luật Sở hữu trí tuệ ra đời

Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI Việt Nam mới hoàn toàn xóa bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, thực hiện nhất quán chính

sách kinh tế nhiều thành phần bước vào thời kỳ hội nhập Cùng với sự phát triển này là thành quả sáng tạo của trí óc lần đầu tiên đã được ghi nhận ở Hiến pháp 1992 “công

dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp.”1Thực tế, trước khi Hiến pháp năm 1992 ra đời đã có nhiều văn bản pháp luật quy định

Trang 12

về bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp Nhưng vì đất nước ta xuất phát điểm từ nền kinh tế nông nghiệp nên khái niệm kinh doanh ở thời kỳ này với nhiều người vẫn còn khá mới mẽ, khái niệm bảo hộ bí mật kinh doanh lại là một phạm trù xa lạ hơn Chính vì thế ở pháp lệnh về bảo hộ sở hữu công nghiệp ngày 28 tháng 1 năm 1989 bí mật kinh doanh chưa được quy định ở Điều 4 về các đối tượng sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộ, mà ở thời kỳ này chỉ có sáng chế mật, giải pháp hữu ích mật liên quan đến quốc phòng an ninh quốc gia mới được nhà nước bảo hộ Đến khi Luật Dân sự năm 1995 ra đời thì bí mật kinh doanh đã được nhắc đến

nhưng bằng các thuật ngữ “bí quyết”, “kiến thức kỹ thuật” ở khoản 2 Điều 807 quy định về chuyển giao công nghệ và “thông tin bí mật” ở Điều 820 quy định về nghĩa vụ

giữ bí mật Tương tự, ở khoản 5 Điều 2 của Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày

1/7/1998 quy định ở phần chuyển giao công nghệ thì "bí quyết là những kinh nghiệm,

kiến thức, thông tin kỹ thuật quan trọng, mang tính chất bí mật được tích lũy, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, có khả năng tạo ra những dịch

vụ, sản phẩm có chất lượng cao, đem lại hiệu quả kinh tế lớn, có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường”

Nhận thức được vai trò quan trọng của bí mật kinh doanh trong sự phát triển kinh

tế của đất nước, Chính phủ đã ban hành Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2000 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa

lý, tên thương mại và bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp (Nghị định 54/2000/NĐ-CP) nhằm điều chỉnh những vấn đề liên quan Nghị định này quy định những điều kiện để một thông tin được bảo hộ dưới danh nghĩa bí mật kinh doanh, những thông tin nào được bảo hộ, thông tin nào không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh, hành vi nào là xâm phạm bí mật kinh doanh… Nghị định ra đời là một bước tiến mới đáng ghi nhận trong việc mở rộng và

cụ thể hóa các quy định của Bộ Luật Dân sự năm 1995 về các đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung và bí mật kinh doanh nói riêng Tuy nhiên, những quy định này chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội

 Giai đoạn sau khi Luật Sở hữu trí tuệ ra đời

Đến khi Bộ Luật Dân sự năm 2005 ra đời thì bí mật kinh doanh là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được quy định ở chương XXXV Bộ Luật Dân sự này Nhưng vẫn còn là những quy định khá chung cho các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp Trong khi đó, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới nhu cầu tự do sáng tạo, tự do sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật ngày càng trở nên cấp thiết Việc ban hành Luật Sở hữu trí tuệ riêng và cụ thể để điều chỉnh cho các đối tượng sở hữu trí tuệ nói chung và bí mật kinh doanh nói riêng, là một nhu cầu tất

Trang 13

yếu Vì vậy Luật Sở hữu trí tuệ đã được Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và đã có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 quy định chi tiết hơn về

sở hữu trí tuệ và bí mật kinh doanh Điều này đánh dấu một bước ngoặc quan trọng,

vai trò chủ chốt của pháp luật trong việc định hướng về bảo vệ bí mật kinh doanh cũng như bảo vệ lợi ích của những nhà kinh doanh chân chính Ngoài ra, luật còn có những quy định về những dữ liệu thử nghiệm như thuốc, nông phẩm phải đi đăng ký bảo hộ

bí mật kinh doanh, để đảm bảo những thử nghiệm này không gây hại cho môi trường

và con người xung quanh Có thể nói, đây là lần đầu tiên những quy định về sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ bí mật kinh doanh nói riêng được thống nhất và quy định chặt

chẽ trong một bộ luật

1.2 Khái niệm về bí mật kinh doanh và bảo hộ bí mật kinh doanh

1.2.1 Khái niệm bí mật kinh doanh

Bí mật kinh doanh (Business secret) còn được gọi là bí mật thương mại2

(Trade secret) có nhiều thuật thuật ngữ liên quan như thông tin bí mật (Secret information), thông tin không tiết lộ (Undisclosed information) Đồng thời, ở một số nước bí quyết

kỹ thuật (Know how)3 cũng được dùng tương đối khi nhắc đến bí mật kinh doanh Ngoài ra, trước đó ở Bộ Luật Dân sự Việt Nam 1995 bí mật kinh doanh còn được nhắc

tới với thuật ngữ “bí quyết”, “thông tin bí mật” trong quy định về chuyển giao công

nghệ Vậy có rất nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng khi nhắc tới đối tượng này Tuy nhiên, thuật ngữ bí mật kinh doanh là thuật ngữ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay

Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Hiệp định TRIPS, thông tin bí mật là một trong các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ mà các nước thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WTO) có nghĩa vụ bảo hộ Tuy nhiên, các quy định của Hiệp định TRIPS chưa có quy định nào giải thích cụ thể về bí mật thương mại, thay vào đó Hiệp định chỉ đưa ra các điều kiện để bảo hộ Theo hướng dẫn của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới về thực hiện Hiệp định TRIPS, khi giải thích về Điều 39, văn bản có nêu rõ

“thông tin bí mật” có thể được gọi là “bí mật thương mại”.4

Hay tại Điều 2 khoản 1

của Hiệp định Việt – Mỹ thì thông tin bí mật được giải thích “thông tin bí mật bao

gồm bí mật thương mại, thông tin độc quyền, các thông tin không bị tiết lộ khác chưa trở thành đối tượng phải bị tiết lộ công khai cũng không hạn chế theo quy định của pháp luật”. Trên thực tế, không có một định nghĩa thống nhất ở trên toàn thế giới về

2 Bí mật thương mại và bí mật kinh doanh trong đề tài nghiên cứu được hiểu là một

3 Hiện nay ở Việt Nam bí quyết kỹ thuật không phải là bí mật kinh doanh theo quy định tại khoản 1 Điều 3, Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006

Trang 14

đối tượng này Theo từ điển bách khoa toàn thư, bí mật kinh doanh được giải thích là

“phương thức, quy trình, thiết kế, công cụ, mẫu hình hoặc sự tập hợp các thông tin được sử dụng bởi một doanh nghiệp để có được một lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh trong cùng một ngành công nghiệp hoặc trong cùng một lĩnh vực chuyên môn.”5 Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới lại đưa ra một định nghĩa khái quát hơn về bí mật thương

mại, theo đó bí mật thương mại là “bất kỳ thông tin kinh doanh bí mật nào cung cấp

cho doanh nghiệp một ưu thế cạnh tranh đều được coi là bí mật thương mại Bí mật thương mại bao gồm những bí mật về sản xuất về công nghiệp và những bí mật về kinh doanh.”6 Nhìn chung các bí mật thương mại có thể là:7

- Liên quan đến kinh doanh: kế hoạch và chiến lược kinh doanh, mô hình hoạt động được lựa chọn, kế hoạch tiếp thị, danh sách khách hàng, thông tin tài chính, hồ sơ nhân sự, các phương pháp, các quy trình và thời gian biểu vận hành công việc

- Liên quan đến kỹ thuật: kế hoạch và chiến lược nghiên cứu phát triển tài liệu hướng dẫn, thiết kế, công thức, bí quyết sản xuất, quy trình sản xuất hoặc sửa chữa, kỹ thuật, nguyên liệu và bản mô tả kỹ thuật, các thuật toán và phương pháp được thực hiện trong chương trình máy tính, bản vẽ kiến trúc, các cơ sở dữ liệu độc quyền, phương pháp tìm tài liệu, bản vẽ, mô hình, vật mẫu, bản thiết kế và sơ đồ

Dưới góc độ pháp luật Việt Nam thì theo khoản 10 Điều 3 Luật Cạnh tranh, bí mật kinh doanh là những thông tin không phải là hiểu biết thông thường, có khả năng

áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó

có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó, được chủ

sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không

dễ dàng tiếp cận được

Theo khoản 23 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, bí mật kinh doanh

được giải thích là “thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được

bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”

Như vậy, trong pháp luật Việt Nam đã có khái niệm bí mật kinh doanh Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa làm rõ phạm vi các thông tin được bảo hộ Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về bí mật kinh doanh Có quan điểm cho rằng, bí mật kinh doanh đơn thuần là các thông tin về các hoạt động kinh doanh của các chủ thể Quan điểm khác lại xác định bí mật kinh doanh bao gồm cả các thông tin về khoa

4, 5, 6 Nguyễn Thái Mai, Khái niệm thông tin bí mật – đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật thương

mại quốc tế, Tap chí Nhà nước và pháp luật, viện khoa học và xã hội, năm 2010, tr 48.

7 Đoàn Văn Trường, Các phương pháp thẩm định giá quyền sở hữu trí tuệ, Nxb Khoa học và kỹ thuật, năm

2007, tr 38.

Trang 15

học kỹ thuật, thông tin về các hoạt động kinh doanh của chủ thể Nhưng nhìn chung một thông tin được gọi là bí mật kinh doanh trước hết phải có tính mật, có giá trị thương mại và được người kiểm soát hợp pháp thông tin đó đã có những nổ lực cần thiết để bảo vệ tránh bộc lộ phù hợp trên thực tế Việc xác định thông tin này không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích của chủ sở hữu thông tin, mà còn ngăn chặn việc bảo hộ quá rộng là một trong các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tiêu cực trong xã hội như lạm dụng xâm phạm, che dấu các hành vi phạm pháp luật Ngoài ra, đối với Việt Nam việc nắm vững khái niệm về bí mật kinh doanh còn có ý nghĩa quan trọng để hoàn thiện khung pháp lý về lĩnh vực sở hữu trí tuệ, đáp ứng các yêu cầu của thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

1.2.2 Khái niệm về bảo hộ bí mật kinh doanh

Ngày nay, để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp buộc phải tìm kiếm những giải pháp tối ưu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong một môi trường kinh doanh mang tính chất quốc tế như cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm Trong đó, việc xây dựng các phương thức kinh doanh mới nhằm thu hút khách hàng tiêu thụ đang được nhà đầu tư trong nước và ngoài nước đặc biệt ưu tiên

Và làm thế nào để tránh được sự bộc lộ những phương thức kinh doanh ra bên ngoài cũng là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp Sự hơn thua nhau luôn trong ngang tất nếu bí quyết kinh doanh bị tiết lộ Vì vậy, đối tượng sở hữu trí tuệ là các phương pháp kinh doanh này được nhà nước bảo hộ dưới dạng bảo hộ bí mật kinh doanh

 Ở một số nước trên thế giới

Do vai trò ngày càng quan trọng của bí mật kinh doanh đối với sự phát triển của các doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước có nền công nghiệp phát triển Nên bảo hộ bí mật kinh doanh là một khái niệm được các nước hết sức quan tâm

 Theo Điều 10 Nghị định số 240/96 ngày 31 tháng 1 năm 1996 cuả Pháp thì thông tin bí mật được bảo hộ là tổng thể những thông tin mang tính kỹ thuật, công nghiệp hoặc thương mại có tính chất mật, hữu ích và được người nắm giữ thông tin đó bảo mật bằng biện pháp cần thiết phù hợp.8

 Theo Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh ở Nhật thì bảo hộ bí mật thương mại được định nghĩa là bất kỳ thông tin nào liên quan tới một phương thức sản

Trang 16

xuất, phương thức mua bán hoặc bất kỳ thông tin nào khác về công nghiệp hay kinh doanh mà công chúng không biết đến9

 Hay Luật Bí mật thương mại ở Hoa Kỳ thì bí mật kinh doanh cũng được bảo

hộ là bất kỳ thông tin nào liên quan tới một phương thức sản xuất, phương thức mua bán hoặc bất kỳ thông tin nào khác về công nghiệp hay kinh doanh mà công chúng không biết đến.10

Như vậy, ở một số nước trên thế giới yếu tố cần và đủ để được bảo hộ dưới dạng

bí mật kinh doanh là tất cả những thông tin mật liên quan đến kỹ thuật công nghệ, có khả năng áp dụng vào sản xuất kinh doanh Và các thông tin này đã được chủ sở hữu bảo mật bằng biện pháp cần thiết Trong ba khái niệm trên thì khái niệm bảo hộ bí mật kinh doanh ở Pháp là tiến bộ nhất vì một đối tượng được bảo hộ ở Pháp khi nó mang tính hữu ích Tính hữu ích ở đây được hiểu trong phạm vi rất rộng, có nghĩa là thông tin bí mật được bảo hộ có thể áp dụng và mang lại lợi ích không chỉ trong các hoạt động kinh doanh thương mại

 Ở Việt Nam

Hiện nay không có một khái niệm chính thức nào về bảo hộ bí mật kinh doanh, bởi vì bí mật kinh doanh được bảo hộ tự động Nhưng theo khoản 1 Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ quy định thì bí mật kinh doanh được bảo hộ khi đáp ứng được các điều kiện

- Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;

- Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;

- Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh

đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được

Vậy những thông tin bí mật hay còn gọi là bí mật kinh doanh, mà có tính chất chất mật, có giá trị và được giữ bí mật bằng những biện pháp phù hợp trên thực tế bởi những người kiểm soát hợp pháp thì những thông tin này sẽ được bảo hộ theo cơ chế bảo hộ bí mật kinh doanh Bên cạnh đó, theo khoản 23 Điều 4 quy định, thì pháp luật chỉ bảo hộ cho những thông tin bí mật liên quan đến kinh doanh còn những thông tin

bí mật khác không liên quan đến quá trình kinh doanh sẽ không được bảo hộ ngay cả khi chúng có những giá trị kinh tế nhất định

9

Xem Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Cẩm nang sở hữu trí tuệ, năm 2005, tr 151.

10 Xem Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Cẩm nang sở hữu trí tuệ, năm 2005, tr 151

Trang 17

1.2.3 So sánh bảo hộ bí mật kinh doanh với các đối tượng khác của sở hữu công nghiệp

Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và bí mật kinh doanh Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm độc quyền sử dụng, độc quyền chuyển giao sở hữu hoặc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp nói trên cho các tổ chức cá nhân khác Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm

về các đối tượng sở hữu công nghiệp nói trên có thể phân đối tượng sở hữu công nghiệp thành hai nhóm

- Nhóm các sản phẩm sáng tạo trí tuệ, bao gồm: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh Tiêu biểu cho nhóm này là sáng chế

- Nhóm các công cụ hướng dẫn và xúc tiến thương mại, bao gồm: nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý Tiêu biểu cho nhóm này là nhãn hiệu

1.2.3.1 So sánh bảo hộ bí mật kinh doanh với bảo hộ sáng chế

Ý tưởng bảo hộ độc quyền sáng chế đối với phương pháp kinh doanh mới được bắt đầu hình thành và pháp triển mạnh vào những năm cuối thế kỷ 20 Khởi đầu từ những giải pháp hệ thống tự động tính cước điện thoại và tính tiền bán hàng trước thập niên 90 đến hệ thống giao dịch tài chính vào những năm 1999 Các quyết định xem xét và tiến hành cấp bằng độc quyền sáng chế đối với phương pháp kinh doanh ở một

số quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Singapore đã và đang có ảnh hưởng sâu sắc đến những quan điểm truyền thống về “dấu hiệu kỹ thuật” của sáng chế vốn đã tồn tại phổ biến hàng trăm năm nay trên thế giới.11

Ở Việt Nam, theo quy định khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ thì sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên Để được cấp bằng sáng chế thì giải pháp kỹ thuật đó phải hội đủ các điều kiện về tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng trong công nghiệp Như vậy, không phải đối tượng nào cũng có thể bảo hộ với danh nghĩa sáng chế, chẳng hạn cách thức thể hiện thông tin, giải pháp chỉ mang tính thẩm mỹ, hay như các quy trình sản xuất thực vật, động vật chỉ mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh Ngoài ra, sáng chế còn được bảo hộ với danh nghĩa là giải pháp hữu ích nếu không phải là những giải pháp thông thường và đáp ứng đủ các

11 Trần Trung Kiên Công ty Luật S&B LAW, Tìm kiếm giải pháp bảo hộ độc quyền sáng chế đối với giải pháp

Trang 18

điều kiện về tính mới và khả năng áp dụng công nghiêp Giải pháp hữu ích về cơ bản cũng là một sáng chế nhưng ở trình độ thấp hơn về trình độ sáng tạo

Trên thực tế, có nhiều người muốn làm đơn đăng ký bảo hộ sáng chế nhưng lại không muốn bộc lộ bí quyết kỹ thuật bởi họ lo sợ nếu nói ra thì có thể bị người khác lấy ngay lập tức Nhưng nếu không bộc lộ thông tin một cách chi tiết thì không được cấp bằng sáng chế vì vậy nhiều người đã chọn giải pháp bảo hộ bí mật kinh doanh Sáng chế và bí mật kinh doanh điều là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật về sở hữu trí tuệ bảo hộ Những bí mật kinh doanh liên quan đến các sáng chế hoặc quy trình sản xuất mà không đáp đủ các điều kiện để cấp bằng thì có thể chọn cách bảo hộ dưới danh nghĩa bí mật kinh doanh Ngược lại, có những bí mật kinh doanh liên quan đến sáng chế đủ điều kiện cấp bằng nên có thể được bảo hộ dưới dạng cấp bằng sáng chế Nếu so sánh giữa hai đối tượng ta sẽ thấy có những điểm giống và khác nhau cơ bản

- Có khả năng áp dụng trong công nghiệp như chế tạo, sản xuất ra sản phẩm và

giúp cho người ứng dụng nó đạt được kết quả cao và ổn định

- Bí mật kinh doanh và sáng chế đều có thể tạo ra những giá trị kinh tế nhất định cho người nắm giữ so với đối thủ cạnh tranh, giúp người nắm giữ có một vị trí vững chắc trong một lĩnh vực kinh doanh nhất định Chính vì những lợi ích mà bí mật kinh doanh và sáng chế đem lại nên chủ sở hữu, người sử dụng bí mật kinh doanh và sáng chế phải có những nổ lực cần thiết để bảo vệ tránh bị bộc lộ ra bên ngoài

 Khác nhau

- Về trình tự thủ tục bảo hộ, bí mật kinh doanh được bảo hộ tự động mà không cần đăng ký nên để được bảo hộ không cần tuân theo một trình tự thủ tục nhất định Còn sáng chế phải đi đăng ký theo thủ tục luật định, bắt đầu bằng việc nộp đơn Hình thức, nội dung, trình tự thủ tục phải đúng theo quy định của pháp luật.12

- Về thời gian bảo hộ, việc bảo hộ bí mật kinh doanh không bị giới hạn về mặt thời gian Thời gian bảo hộ sẽ kéo dài tới khi nào bí mật chưa bị bộc lộ ra bên ngoài,

12

Xem Điều 100, Điều 102 và Mục 3 về thủ tục xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp và cấp bằng bảo hộ, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009)

Trang 19

và hiệu lực phát sinh lập tức Còn thời gian bảo hộ sáng chế phát sinh hiệu lực kể từ ngày cấp và kéo dài đến hai mươi năm kể từ ngày cấp Bảo hộ sáng chế sẽ bị chấm dứt hiệu lực nếu rơi vào các trường hợp ở Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ, hoặc bị cơ quan nhà nước hủy bỏ nếu rơi vào các trường hợp ở Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ Luật không có quy định về trường hợp chấm dứt hay bị hủy bỏ bí mật kinh doanh như văn bằng sáng chế, nhưng một người có thể đăng ký bảo hộ sáng chế đối với bí mật kinh doanh của người khác nếu người đó tìm ra sáng chế tương tự với bí mật kinh doanh này bằng các biện pháp hợp pháp và độc lập Trong trường hợp này bí mật kinh doanh không được bảo hộ độc quyền nữa

- Về đối tượng bảo hộ, không phải đối tượng nào cũng được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế Có những đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế theo quy định tại Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ Còn về phần bí mật kinh doanh cũng quy định các đối tượng không được bảo hộ như bí mật về nhân thân, bí mật về quản lý nhà nước, bí mật về quốc phòng an ninh, thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh13 Nhìn chung, những quy định về đối tượng không được bảo hộ của sáng chế rộng hơn nên trong nhiều trường hợp chủ sở hữu các đối tượng vượt ngoài tầm bảo hộ sáng chế chọn cách bảo hộ bí mật kinh doanh

- Về cơ chế thực thi việc bảo hộ

+ Đối với sáng chế có khả năng được cấp bằng độc quyền, nhược điểm của việc bảo hộ sáng chế đó dưới hình thức bí mật kinh doanh là nếu những bí mật kinh doanh có trong sản phẩm sẽ bị phân tích ngược lại và sử dụng một cách hợp pháp Trong trường hợp này, việc bảo hộ sáng chế dưới dạng bí mật kinh doanh thật sự không an toàn, có thể bị bên thứ ba phân tích, mổ xẻ và sử dụng bất cứ lúc nào Nhưng

ưu điểm của việc bảo hộ dưới dạng này là không phải bộc lộ thông tin cho cơ quan đăng ký như bảo hộ dưới dạng sáng chế

+ Đối với bí mật kinh doanh dù không đòi hỏi phải tiến hành đăng ký nhưng chủ sở hữu bí mật kinh doanh phải bỏ ra chi phí cao cho việc bảo hộ Như phải có hẳn hoi một quy trình bảo mật khép kín để tránh lộ bí mật, có chính sách đãi ngộ nhân viên trong doanh nghiệp Còn đối với sáng chế sau khi đã được cấp bằng thì quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu sẽ được bảo hộ thông qua bằng bảo hộ, không cần chủ sở hữu phải có những nổ lực như đối với việc bảo hộ bí mật kinh doanh

Nhìn chung, việc bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh khó thực thi hơn so với sáng chế Vì sáng chế được pháp luật bảo hộ trên cơ sở cấp văn bằng, nên khi có xâm phạm, tranh chấp xảy ra thì trách nhiệm chứng minh của chủ sở hữu đơn giản hơn, là

Trang 20

chỉ cần chứng minh các hành vi xâm phạm sáng chế của mình Còn bí mật kinh doanh được bảo hộ không cần thông qua bất kỳ thủ tục pháp lý nào nên nếu xảy ra tranh chấp thì chủ sở bí mật kinh doanh phải chứng minh được các điều kiện để một bí mật kinh doanh được bảo hộ theo đúng quy định của pháp luật, chứng minh tư cách chủ thể, chứng minh hành vi xâm phạm rõ ràng là không đơn giản Mà pháp luật chỉ can thiệp bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu bí mật kinh doanh khi chủ thể này chứng minh được tất cả các yếu tố trên

1.2.3.2 So sánh bảo hộ bí mật kinh doanh với bảo hộ nhãn hiệu

Nhãn hiệu là một yếu tố đặc trưng gắn liền với thị trường thương mại và sở hữu công nghiệp Nó được sử dụng trong một thời gian dài bởi các nhà sản xuất hay thương nhân trong việc xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa hay dịch vụ để phân biệt với hàng hóa dịch vụ khác Chức năng phân biệt nguồn gốc hàng hóa dịch vụ luôn được xem là yếu tố quan trọng của nhãn hiệu

Theo pháp luật Việt Nam, một nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng đủ các điều

kiện là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả

hình ba chiều hoặc sự kết hợp giữa các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc, có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.14

Nhãn hiệu và bí mật kinh doanh đều là đối tượng của sở hữu công nghiệp nếu đem so sánh sẽ có những điểm giống và khác nhau cơ bản như sau

 Giống nhau

- Quyền đối với nhãn hiệu và bí mật kinh doanh đều có thể phát sinh trên cơ sở

sử dụng, không cần đi đăng ký nhưng vẫn được nhà nước bảo hộ Sự độc quyền sử dụng đối với nhãn hiệu và bí mật kinh doanh có thể là vĩnh viễn

- Nhãn hiệu và bí mật kinh doanh cùng đem lại cho chủ sở hữu nhãn hiệu và bí mật kinh doanh những lợi ích kinh tế nhất định và có thể đứng vững trên thương trường Có thể thấy một trong những khó khăn cơ bản hiện nay của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nguồn vốn, thì nhãn hiệu và bí mật kinh doanh sẽ là những cứu cánh cho các doanh nghiệp trong vấn đề này

 Khác nhau

- Trình tự thủ tục đăng ký, tuy việc bảo hộ nhãn hiệu có thể không cần phải đăng ký nhưng pháp luật vẫn có quy định về trình tự thủ tục đăng ký15 Vì vậy chủ sở hữu nhãn hiệu có thể chọn cách đăng ký hoặc không đăng ký Trong khi đó, luật không có quy định nào về các trình tự thủ tục đăng ký dành riêng cho bí mật kinh

14

Xem Điều 72, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009)

15 Xem Điều 100 và Điều 105, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009)

Trang 21

doanh Vì vậy, bí mật kinh doanh được bảo hộ tự động sau khi thỏa các điều kiện luật định là cách duy nhất

- Điều kiện bảo hộ của hai đối tượng về cơ bản có những điểm khác nhau như sau

+ Bí mật kinh doanh nhất định phải là những sáng tạo của trí tuệ, trong khi

đó nhãn hiệu không cần phải là những sáng tạo trí tuệ

+ Bí mật kinh doanh phải có khả năng áp dụng trong sản xuất kinh doanh, còn nhãn hiệu thì phải có khả năng phân biệt với hàng hóa dịch vụ của chủ sở hữu với chủ thể khác Đây là sự khác nhau cơ bản giữa hai đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp này

- Bảo hộ bí mật kinh doanh có thể bị một chủ thể khác tìm ra một cách hợp

pháp, độc lập và trở thành chủ sở hữu của nó Đến lúc này, chủ sở hữu bí mật kinh doanh không còn được độc quyền sử dụng đối với bí mật kinh doanh Trong khi đó khi

đó nếu một nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ hoặc đã trở nên quen thuộc trên thị trường thì chủ sở hữu sẽ được độc quyền sử dụng đối với nhãn hiệu đó Ngay khi một nhãn hiệu không hoàn toàn trùng với nhãn hiệu đã đăng ký nhưng nếu khi sử dụng gây cho người tiêu dùng nhằm lẫn với nhãn hiệu đăng ký thì nhãn hiệu đó cũng bị cấm sử dụng

1.2.4 Mối quan hệ giữa bảo hộ bí mật kinh doanh và quyền sở hữu công nghiệp

Quyền sở hữu công nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp trong việc xác lập vị thế của mình trên thị trường trong nước và càng trở nên quan trọng hơn khi tham gia vào thị trường quốc tế Những doanh nghiệp nắm giữ các đối tượng sở hữu công nghiệp sẽ có khả năng phát triển sản xuất, từ đó lôi cuốn được nhiều khách hàng giành thị phần Một doanh nghiệp nắm nhiều đối tượng sở hữu công nghiệp được xem là doanh nghiệp tiềm năng và có khả năng phát triển cao Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là biện pháp chống sự bộc lộ kết quả lao động sáng tạo, tránh bị làm giả hàng hóa, bảo vệ thị trường cho các sản phẩm của doanh nghiệp ở trong và ngoài nước Hơn thế nữa, xác lập quyền sở hữu công nghiệp là cơ sở để doanh nghiệp kinh doanh trên tài sản trí tuệ, phát triển lượng tài sản vô hình của doanh nghiệp

Theo khoản 4 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh Như định nghĩa

Trang 22

nghiệp Đây là đối tượng đặc thù nhất vì quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó Tuy nhiên, vì bí mật kinh doanh cũng là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nên như các đối tượng sở hữu công nghiệp khác bảo hộ bí mật kinh doanh và quyền sở hữu công nghiệp có một số quan hệ cơ bản

- Thuật ngữ “sở hữu công nghiệp” làm cho người ta hiểu lầm là loại hình vốn

chỉ liên quan đến các sáng chế, giải pháp hữu ích và bí mật kinh doanh được sử dụng trong các ngành công nghiệp vì mục tiêu kinh tế Trường hợp này, chỉ đặc biệt đúng đối với bí mật kinh doanh vì bí mật kinh doanh chỉ được bảo hộ khi liên quan đến kinh doanh và mục tiêu tạo ra giá trị kinh tế cho người sử dụng

- Về mặt tính chất thì quyền của chủ sở hữu công nghiệp là quyền tài sản Bí mật kinh doanh là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nên cũng có đầy đủ các quyền quy định dành cho quyền sở hữu công nghiệp Bao gồm một số quyền cơ bản như sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp Bí mật kinh doanh là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nên nếu luật điều chỉnh về quyền sở hữu công nghiệp thì cũng là gián tiếp điều chỉnh về bí mật kinh doanh Bảo hộ tốt quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ tốt quyền và lợi ích chủ sở hữu

bí mật kinh doanh

- Những đối tượng sở hữu công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng… khi chưa quyết định đăng ký bảo hộ thì lúc này chúng tồn tại dưới dạng bí mật kinh doanh Tùy thuộc vào tình hình phát triển công nghệ trên thị trường, bí mật kinh doanh có thể được đăng ký sẽ trở thành một đối tượng sở hữu công nghiệp cụ thể Và muốn được bảo hộ dưới dạng đối tượng nào của quyền sở hữu công nghiệp thì các đối tượng trên phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu chung khi đăng ký về đối tượng bảo hộ của quyền sở hữu công nghiệp

Như vậy, một hệ thống sở hữu công nghiệp đầy đủ, có hiệu qủa sẽ tạo ra những lợi ích tiềm năng đối với việc thúc đẩy khả năng cạnh tranh và phát triển cho các doanh nghiệp Nhất là việc bảo hộ bí mật kinh doanh không cần phải đăng ký thì có thể bị khám phá và sử dụng, gây thiệt hại cho chủ sở hữu bí mật kinh doanh bất cứ lúc nào Vì thế xây dựng một hệ thống pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp khả thi sẽ tạo ra được một rào chắn an toàn bảo vệ quyền và lợi ích của chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Trang 23

1.3 Đặc điểm của việc bảo hộ bí mật kinh doanh

Cũng như các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp, bảo hộ bí mật kinh doanh có những đặc thù riêng

 Một là, bí mật kinh doanh phải có tính mật, nếu một thông tin có giá trị kinh tế cao nhưng không có tính mật thì cũng không được xem là bí mật kinh doanh Tính chất mật còn thể hiện ở phạm vi người biết được thông tin này rất hạn chế Người muốn biết, tìm hiểu được bí mật này cũng không phải dễ dàng Tuy nhiên, tính bí mật này không phải là hoàn toàn tuyệt đối mà bí mật này có thể được một số người biết như nhân viên, hay người có liên quan đến bí mật kinh doanh… Những đối tượng trên phải ký cam kết về bảo mật bí mật kinh doanh với chủ sở hữu bí mật kinh doanh Về

tính chất mật ở Điều 39 của Hiệp định TRIPS cũng đã có giải thích rõ “có tính chất bí

mật với nghĩa là những người thường xuyên xử lý loại thông tin đó nói chung không biết đến hoặc không thể dễ dàng tiếp cận thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ, tức

là dưới dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó”

 Hai là, phải có khả năng sử dụng và có giá trị thương mại Một bí mật kinh doanh phải có khả năng sử dụng được trên thực tế như khả năng ứng dụng trong sản xuất kinh doanh, tạo ra được nhiều sản phẩm cho chủ sở hữu… Một thông tin được thu thập áp dụng mọi biện pháp bảo mật nhưng không có khả năng sử dụng trên thực tế thì không được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh Bên cạnh đặc điểm phải có khả năng

sử dụng, thì một bí mật phải có giá trị tạo ra được cho chủ sở hữu bí mật kinh doanh một vị thế nhất định khi đã ứng dụng bí mật kinh doanh

 Ba là, phải được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết các thông tin bí mật đó để không bị bộc lộ, tiếp cận và sử dụng Sự bảo hộ quyền của chủ sở hữu

bí mật kinh doanh gần như phụ thuộc vào sự toàn vẹn và hiệu quả của các biện pháp

mà chủ thể quyền áp dụng để bảo vệ sự độc quyền của mình đối với bí mật kinh doanh Việc bảo hộ này có thể gây tốn kém hơn rất nhiều so với bảo hộ dưới dạng các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp Nếu chủ sở hữu bí mật kinh doanh đã quyết định bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh thì đây là một trong những điều kiện tiên quyết để một bí mật kinh doanh được bảo hộ theo pháp luật

 Cuối cùng, việc bảo hộ bí mật kinh doanh không cần phải đăng ký Khác với một số đối tượng sở hữu công nghiệp khác việc bảo hộ bí mật kinh doanh không cần phải tiến hành đăng ký theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, việc bảo hộ bí mật kinh doanh là vô thời hạn, chính vì đặc điểm này mà bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh đặc biệt hấp dẫn, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Vì những bí mật kinh doanh của họ có thể chưa đủ điều kiện để được bảo hộ dưới dạng sáng chế, hay

Trang 24

họ ngại đi đăng ký vì tốn thời gian, tiền bạc mà thời gian bảo hộ dưới dạng sáng chế chỉ có hai mươi năm

Ví dụ: Một doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển một quy trình để sản xuất sản phẩm của mình cho phép sản xuất ra hàng hóa với phương thức hiệu quả cao hơn về mặt chi phí Quy trình này tạo ra lợi thế cạnh tranh hơn các đối thủ của mình Do vậy doanh nghiệp đã đánh giá bí quyết kỹ thuật của mình như một bí mật kinh doanh Và không muốn đối thủ cạnh tranh biết được nó nhưng lại không tiến hành đăng ký bảo

hộ với danh nghĩa sáng chế vì đây chưa đáp ứng đủ điều kiện để cấp bằng sáng chế Phải đảm bảo rằng chỉ có một số người hạn chế biết được bí mật này và những người biết được bí mật này phải nhận thức được nó là một bí mật Và khi giao dịch với bên thứ ba, hoặc chuyển giao bí quyết kỹ thuật đã ký các hợp đồng không tiết lộ bí mật Trong trường hợp này việc xâm phạm bí mật kinh doanh của bên thứ ba bất kỳ xem như đã xâm phạm bí mật kinh doanh 16

Từ những đặc điểm phân tích trên, việc bảo hộ bí mật kinh doanh có những ưu điểm và nhược điểm cơ bản

 Ưu điểm

- Bảo hộ bí mật kinh doanh không mất chi phí, thời gian đăng ký

- Bảo hộ bí mật kinh doanh không đòi hỏi phải bộc lộ thông tin cho cơ quan nhà nước

- Bảo hộ bí mật kinh doanh không yêu cầu về tính mới, tính nguyên gốc, tính riêng biệt

- Bảo hộ bí mật kinh doanh không bị hạn chế về thời gian Nó kéo dài tới khi nào bí mật đó còn chưa bộc lộ ra công chúng, việc bảo hộ này phát sinh hiệu lực ngay lập tức

 Nhược điểm

- Bảo hộ bí mật kinh doanh không được độc quyền khai thác Nó có thể bị khám phá ra và sử dụng một cách hợp pháp hay có thể đem đi đăng ký bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế hay nhãn hiệu Nếu bí mật kinh doanh thể hiện dưới dạng sản phẩm có thể bị mang đi mổ xẻ, phân tích ngược lại và tìm ra bí mật từ sản phẩm đó

- Chi phí giữ gìn bí mật cao Để giữ gìn bí mật bản thân chủ sở hữu bí mật kinh doanh có thể bỏ ra chi phí rất tốn kém

- Khi bí mật kinh doanh bị công bố thì bất kỳ người nào cũng có thể tiếp cận

và sử dụng một cách tùy ý

16 Hoàng Dũng, Bảo hộ bí mật kinh doanh, http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/06/11/116008/,

[ngày truy cập 6/1/2012]

Trang 25

1.4 Sự cần thiết của việc bảo hộ bí mật kinh doanh trong thời kỳ hội nhập hiện nay

Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, kinh doanh ngày càng trở nên khó khăn hơn vì các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh mà ở đâu có cạnh tranh thì ở đó

sẽ có cạnh tranh không lành mạnh Nếu không được bảo hộ tốt từ phía pháp luật thì quyền lợi của những nhà kinh doanh chân chính sẽ không được bảo hộ triệt để Nói đến kinh doanh thì không thể không nói đến bí mật kinh doanh vì bí mật kinh doanh là một yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sự thành công của doanh nghiệp Việc bảo

hộ thông tin bí mật này ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và nghiên cứu, có thể quyết định vị thế của một doanh nghiệp trên thương trường và hầu như doanh nghiệp nào cũng có bí quyết kinh doanh của riêng mình

 Đối với chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Như đã trình bày, để có được bí mật kinh doanh một cách chân chính thì có thể chủ sở hữu phải bỏ ra rất nhiều thời gian, tiền bạc và tâm quyết Có thể nói, bí mật kinh doanh quyết định sự sống còn của một doanh nghiệp Một doanh nghiệp muốn có được chỗ đứng vững chắc trên thương trường thì phải có một bí quyết nào đó hơn hẳn đối thủ cạnh tranh Chỉ cần bí mật kinh doanh bị mất đi, rơi vào tay chính đối thủ cạnh tranh đó thì chổ đứng của doanh nghiệp sẽ không còn là vị thế độc quyền nữa mà phải sang sẻ cho doanh nghiệp khác Điều này, cũng đồng nghĩa với việc sang sẻ lợi nhuận,

uy tín và dẫn đến uy cơ phải thu hẹp phạm vi sản xuất của mình Cụ thể vì một số lý

do sau, việc bảo hộ bí mật kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng

- Bảo vệ bí mật kinh doanh là bảo vệ quyền tài sản của chủ sở hữu bí mật kinh doanh Tức là của chủ sở hữu được quyền sử dụng độc quyền và cho phép hay không cho phép người khác sử dụng và hưởng những lợi ích từ việc sử dụng bí mật kinh doanh mang lại

- Bảo hộ bí mật kinh doanh là khuyến khích phát triển công nghệ Nghĩa là khuyến khích, tạo động lực cho các doanh nghiệp nghiên cứu sáng tạo Bao giờ cũng vậy, một người chỉ nổ lực đầu tư cho nghiên cứu, sáng tạo khi họ có được những đặc quyền nhất định đối với những gì họ tạo ra và những quyền này được pháp luật bảo hộ Đặc biệt, đối với những sáng tạo không được cấp bằng sáng chế hoặc chưa đủ điều kiện cấp bằng sáng chế

- Hạn chế các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh khi tham gia vào quá trình kinh doanh hội nhập như hiện nay Nếu không có cơ chế bảo hộ bí mật kinh doanh thì các đối thủ cạnh tranh có thể dùng những thủ đoạn khác nhau để có được nó và sử

Trang 26

dụng bí mật này mà không phải gánh chịu bất kỳ hậu quả nào Nhất là hiện nay, những thủ đoạn không hợp pháp của các đối thủ cạnh tranh vô cùng tinh vi và phổ biến Bảo hộ bí mật kinh doanh nhằm khuyến khích tạo ra những chuẩn mực công bằng trong kinh doanh thương mại Đó luôn là mục tiêu hướng đến của pháp luật bất

kỳ quốc gia nào

 Đối với sự phát triển kinh tế đất nước

Nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới hiện nay mà Đảng ta đã đề ra là “tiếp tục thực hiện

tốt phương châm, nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm…”.17

Muốn đạt được mục tiêu này nước ta phải tạo điều kiện thực sự tốt cho các nhà kinh doanh được tự do sáng tạo và được bảo vệ những thành quả sáng tạo này Ở Việt Nam vì kinh doanh chỉ mới phát triển mạnh trong những năm gần đây nên vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh chưa được quan tâm đúng mức, cũng như các hành vi vi phạm chưa phổ biến Nhưng vì đây

là một đối tượng có vai trò quyết định trong kinh doanh của nhà doanh nghiệp nên cần phải được bảo hộ thật tốt, chỉ khi quyền lợi của nhà doanh nghiệp chân chính được bảo

vệ thì họ mới có thể tạo ra hàng hóa từ sản phẩm của trí tuệ cho thị trường khoa học và công nghệ gián tiếp góp phần bảo vệ quyền lợi của đất nước, giúp phát triển đất nước Đặc biệt, đối với các đất nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay, thì thu hút đầu tư trực tiếp vốn của người nước ngoài cũng là một trong những chính sách quan trọng trong việc phát triển kinh tế Nhưng nếu muốn có sự hợp tác quốc tế trước tiên pháp luật của quốc gia phải chặt chẽ, tạo môi trường pháp lý hấp dẫn khuyến khích, thu hút các hoạt động đầu tư và khả năng chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam Vì trước khi quyết định đầu tư vào đất nước nào thì các nhà doanh nghiệp nước ngoài đã nghiên cứu về chế độ bảo hộ và thực thi pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình tại đó Họ chỉ chấp nhận đầu tư khi quyền lợi của mình thực sự được bảo đảm Có được những yếu tố trên nền kinh tế của của một đất nước mới không mất cơ hội hợp tác quốc tế và nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Như hiện nay, đang trong quá trình hội nhập sâu và rộng, bảo vệ bí mật kinh doanh là một nhu cầu của tất cả những chủ thể sáng tạo Trước hết là bảo vệ các thành quả chính đáng chống lại mọi hành vi lạm dụng xâm phạm và tạo cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước có một thương trường lành mạnh, để phát triển đầu tư kinh doanh góp phần làm cho đất nước ngày càng giàu mạnh

17 Trần Quang Nhiếp, Đảng với sự nghiệp phát triển đất nước, Báo điện tử Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội

Chủ Nghĩa Việt Nam,

http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Dang-voi-su-nghiep-phat-trien-dat-nuoc/20101/27101.vgp/, [ngày truy cập 6/2/2012]

Trang 27

1.5 Hiệp ước quốc tế liên quan đến vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh

Nhu cầu của nhân loại là sáng tạo, phải có sáng tạo để tồn tại và phát triển Sự sáng tạo này không ngừng phát triển theo sự phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại Cùng với nhu cầu sáng tạo là nhu cầu được bảo hộ của các chủ thể sáng tạo vì nếu có

sự bảo hộ thì những sáng tạo này sẽ được bảo vệ và sử dụng độc quyền Điều này làm thúc đẩy khả năng chinh phục kiến thức khoa học, tạo ra những sản phẩm trí tuệ ngày càng đa dạng và phong phú hơn Bí mật kinh doanh cũng là một sản phẩm của những sáng tạo vượt bậc này Do đó, đối tượng này cũng cần phải được bảo hộ Tuy nhiên, ở Công ước PARIS năm 1883 là công ước đầu tiên đặt nền tảng cho những quy định về quyền sở hữu công nghiệp, bí mật kinh doanh chỉ được nhắc đến trong một điều khoản quy định cho quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

Khi Công ước Stockholm về thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) được ra đời vào năm 1967 Công ước cũng nêu được những đối tượng được bảo hộ nhưng trong chừng mực nào đó những đối tượng này không còn phù hợp với nhu cầu phát triển của thời đại nữa Vì quyền Sở hữu trí tuệ đối với những đối tượng khác thuộc về thành quả của trí óc cũng cần được bảo hộ chẳng hạn như bí mật kinh doanh, giống thực vật…

Những hạn chế trong công ước Stockholm được hoàn thiện ở Hiệp định TRIPS

ký kết ngày 15/4/1994 và có hiệu lực vào ngày 1/1/1995 Trong khuôn khổ của hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới Hiệp định đã tổng hợp và xây dựng trên

cơ sở các hiệp định quan trọng và mới nhất về sở hữu trí tuệ do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thực thi về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật Đây là hiệp ước có vị thế độc nhất trong số các điều ước quy định những vấn đề liên quan đến thương mại ở lĩnh vực sở hữu trí tuệ Hiệp định TRIPS còn có vai trò củng cố lại trật tự quốc tế và đưa ra những quy chuẩn chung về bảo hộ và xử lý vi phạm trong phạm vi toàn cầu

Hiệp định đã quy định các tiêu chuẩn tối thiểu mà các quốc gia thành viên phải đáp ứng đó là tính đầy đủ và hiệu quả của pháp luật hiện hành về sở hữu trí tuệ, để trao quyền về bảo hộ và thực thi quyền này Hiệp định cũng đã quy định những điều kiện riêng biệt để các đối tượng được bảo hộ Đối với bí mật kinh doanh thì đây là lần đầu tiên bí mật kinh doanh được một hiệp định quốc tế chính thức ghi nhận là một trong bảy loại tài sản trí tuệ được thừa nhận và bảo hộ bởi công ước quốc tế Tuy nhiên, đây

là một đối tượng mới nên bí mật kinh doanh chỉ quy định ngắn gọn trong khoản 2 Điều

39 của hiệp định với thuật ngữ thông tin bí mật về điều kiện bảo hộ cụ thể như sau:

“- Có tính chất bí mật với nghĩa là những người thường xuyên xử lý loại thông

Trang 28

dạng thông tin toàn bộ, tức là dưới dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó;

- Có giá trị thương mại vì có tính chất bí mật; và

- Được người kiểm soát hợp pháp thông tin đó giữ bí mật bằng những biện pháp phù hợp thực tế.”

Khi tham gia Hiệp định TRIPS các quốc gia thành viên sẽ được áp dụng nguyên tắc tối huệ quốc, nguyên tắc đối xử quốc gia và bảo hộ công bằng trong tất cả các lĩnh vực về sở hữu trí tuệ Hiệp định TRIPS cũng định hướng mọi quyền lợi về thương trường quốc tế và các lợi ích khác của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới mà các quốc gia thành viên có được khi tham gia hiệp định Bên cạnh đó, Hiệp định TRIPS cũng nêu lên những hạn chế và ngoại lệ có thể chấp nhận được nhằm hài hòa lợi ích của chủ sở hữu tài sản trí tuệ với những vực khác Nhìn chung tính đến thời điểm này, Hiệp định TRIPS của WTO là văn bản quốc tế đầy đủ, hoàn thiện và phù hợp nhất về sở hữu trí tuệ trong thời đại hiện nay

Đối với Việt Nam trước khi tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới vào ngày 7/11/2006, và có những cam kết về sở hữu trí tuệ của Hiệp định TRIPS Việt Nam đã tiến hành ký kết Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực

từ ngày 10 tháng 12 năm 2001 Đây là lần đầu tiên Việt Nam đàm phán theo tiêu chuẩn của tổ chức thương mại thế giới Dựa trên những tiêu chuẩn của WTO tạo bước đệm để Việt Nam gia nhập WTO Cũng như những cam kết khác, Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ bao gồm một loạt các cam kết thương mại song phương mà Việt Nam phải thực hiện như thương mại hàng hóa, dịch vụ, Luật Sở hữu trí tuệ, dịch vụ, đầu tư, minh bạch, tranh chấp tạo thuận lợi trong kinh doanh cũng như quy chế thương mại Ở hiệp định này, về lĩnh vực sở hữu trí tuệ hai bên đã cam kết dành cho công dân của hai nước sự bảo hộ đầy đủ và hiệu quả đối với các quyền sở hữu trí tuệ Trong đó gồm các quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hóa, sáng chế, thông tin bí mật… Các bên còn cam kết giành cho công dân nước còn lại nguyên tắc đối xử quốc gia trong việc bảo hộ và mỗi bên phải tạo điều kiện cho việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả Theo đó, hiệp định cũng đã quy định các điều kiện để một bí mật kinh doanh được bảo hộ và đối tượng này được quy định thời gian để thực hiện các nghĩa vụ có liên quan là mười tám tháng.18 Theo Điều 9 Chương 2 Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ thì một bí mật kinh doanh được bảo hộ phải đủ các điều kiện sau đây:

“ - Thông tin đó không phải là hiểu biết thông thường hoặc không dễ dàng có

được;

18 Xem điểm b khoản 1 Điều 18 chương 2, Hiệp định thương mại Việt – Mỹ năm 2000

Trang 29

- Thông tin đó có giá trị thương mại vì có tính bí mật; và

- Người có quyền kiểm soát hợp pháp thông tin đó đã thực hiện các biện pháp phù hợp với hoàn cảnh để giữ bí mật thông tin đó.”

Quy định điều kiện bảo hộ bí mật kinh doanh của Hiệp định Việt – Mỹ về cơ bản tương tự như các điều kiện bảo hộ của Hiệp định TRIPS Vì Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ được ký kết dựa trên các tiêu chuẩn quy định của Hiệp định TRIPS Điều này cho thấy dù Việt Nam chưa tham gia vào Hiệp định TRIPS, nhưng những gì quy định trong Hiệp định TRIPS cũng đã được thể hiện rõ ràng và đầy đủ trong Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ

Việc bảo hộ tốt quyền chủ sở hữu trí tuệ nói chung và bí mật kinh doanh nói riêng trên phạm vi quốc tế đã góp phần hòa hợp cũng như bảo vệ những thành quả trí tuệ của chủ sở hữu tạo ra nó Tạo điều kiện để những sản phẩm của trí tuệ khác tiếp tục ra đời Sự bảo hộ này còn giúp các quốc gia trên thế giới được tiếp cận, hưởng lợi ích từ những thành quả này mang lại, để từ đó có thể góp phần xây dựng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia mình

Tóm lại, bí mật kinh doanh là những sản phẩm lao động của trí tuệ có vai trò

quan trọng góp phần khẳng định vị thế của doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh Nên bảo hộ bí mật kinh doanh hiện nay là một vấn đề ngày càng nóng ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới Chính vì vai trò quan trọng của bí mật kinh doanh đã được khẳng định nên các chủ thể kinh doanh luôn muốn chiếm hữu Và đã có những biện pháp không hợp pháp đã được sử dụng nhằm muốn có được bí mật kinh doanh Ở Việt Nam đã và đang trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế quốc tế nên bảo hộ bí mật kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng Một trong những thách thức hiện nay được đặt

ra là phải có một hệ thống pháp luật thật hoàn thiện để điều chỉnh đối tượng này Vậy

ở lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được luật pháp Việt Nam điều chỉnh, bảo hộ như thế nào, tiếp tục ở chương hai người viết sẽ phân tích làm

rõ vấn đề trên

Trang 30

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ

BÍ MẬT KINH DOANH 2.1 Điều kiện đăng ký bảo hộ bí mật kinh doanh

 Đối tượng đăng ký bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh

Đối tượng đăng ký bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh là những thành quả của

sự đầu tư về trí tuệ hoặc tài chính Những đối tượng này được thể hiện dưới dạng thông tin như công nghệ, bí quyết kỹ thuật, hay bất kỳ bí mật nào liên quan đến kinh doanh mà tạo ra cho chủ sở hữu nắm giữ một giá trị kinh tế nhất định ở hiện tại hoặc trong tương lai Bí mật này người khác không biết hoặc không dễ dàng tìm hiểu ra được

 Chủ thể đăng ký bảo hộ bí mật kinh doanh

Theo khoản 3 Điều 112 của Luật Sở hữu trí tuệ thì chủ sở hữu bí mật kinh doanh

là tổ chức cá nhân có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện biện pháp bảo mật bí mật kinh doanh đó Bí mật kinh doanh mà bên làm thuê, bên thực hiện nhiệm vụ được giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc giao việc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Vì vậy muốn đăng ký bảo hộ bí mật kinh doanh trước tiên người đi đăng ký phải thỏa về điều kiện chủ thể phải là tổ chức cá nhân có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và có những biện pháp nhất định để bảo mật đối tượng này Tuy luật có quy định về chủ thể bí mật kinh doanh nhưng không ghi nhận quyền đăng ký bảo hộ bí mật kinh doanh Vì nếu đi đăng ký có thể làm lộ bí mật thì bí mật kinh doanh không còn là

bí mật kinh doanh nữa

 Nơi đăng ký bảo hộ bí mật kinh doanh

Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan pháp lý, quản lý về sở hữu trí tuệ và chịu trách nhiệm trước chính phủ theo tinh thần được quy định ở Điều 11 Luật Sở hữu trí tuệ Cụ thể hơn ở Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 về sở hữu công nghiệp (Nghị định 103/2006/NĐ-CP),19

theo Điều 3 thì Cục Sở hữu trí tuệ là cơ quan thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, có trách nhiệm giúp Bộ Trưởng Bộ Khoa học

và Công nghệ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp Do đó việc đăng ký bảo hộ bí mật kinh doanh có thể thực hiện ở Cục Sở hữu trí tuệ

 Điều kiện chung đối với đơn đăng ký bảo hộ bí mật kinh doanh

19

Hiện nay, Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 về sở hữu công nghiệp, đã được sửa đổi

bổ sung một số điều bởi Nghị định 122/2010/NĐ-CP ban hành ngày 31/12/2010.

Trang 31

Cục Sở hữu trí tuệ chỉ tiếp nhận đơn đăng ký các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp khi đáp ứng đủ các tài liệu tối thiểu tại khoản 1 Điều 108 Luật Sở hữu trí tuệ Ngoài ra, đơn đăng ký phải đáp ứng nhu cầu chung quy định tại Điều 100 và Điều

101 của Luật Sở hữu trí tuệ và các yêu cầu riêng của từng đối tượng sở hữu công nghiệp muốn đăng ký bảo hộ Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ các loại đơn đăng

ký sở hữu công nghiệp đều được Cục Sở hữu trí tuệ xử lý theo các trình tự như tiếp nhận đơn,20

thẩm định hình thức đơn,21 công bố đơn hợp lệ,22 thẩm định nội dung đơn (trừ thiết kế bố trí) sau đó tiến hành cấp bằng hoặc từ chối cấp bằng, đăng bạ và công

bố quyết định cấp bằng

Riêng đối với bí mật kinh doanh chủ sở hữu muốn đăng ký bảo hộ cũng phải đáp ứng đủ các yêu cầu chung về đơn đăng ký bảo hộ và trải qua các thủ tục chung mà luật quy định đối với đơn đăng ký Tuy nhiên, đây là một đối tượng bảo hộ tự động nên luật không có quy định về điều kiện riêng cho đơn đăng ký bảo hộ đối tượng này

2.2 Quy trình bảo hộ bí mật kinh doanh

2.2.1 Điều kiện chung đối với bí mật kinh doanh được bảo hộ

Trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ ra đời thì một bí mật kinh doanh được bảo hộ

nếu đáp ứng đủ các yêu cầu tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 54/2000/NĐ-CP là “không

phải là những hiểu biết thông thường, có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó, được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được”

Nhìn chung điều kiện để đối tượng này được bảo hộ quy định khá cụ thể, chính vì vậy đến khi có Luật Sở hữu trí tuệ thì điều kiện để một bí mật kinh doanh được bảo hộ

cơ bản không có sự thay đổi Theo đó các điều kiện bảo hộ bí mật kinh doanh được quy định tại Điều 84 của Luật Sở hữu trí tuệ thì:

- Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;

- Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;

- Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh

đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được

Theo quy định trên, thì một bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng đủ các điều kiện trước hết là thông tin phải có tính mật Tính mật ở đây không phải là mỗi phần của thông tin đều là bí mật Có thể tất cả những thông tin mang tính bí mật chỉ là

20 Xem Điều 108, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009)

Trang 32

những thông tin bình thường nhưng khi xâu kết với nhau, lại có một giá trị nhất định

và được chủ sở hữu xem đó là bí mật kinh doanh của mình Nhưng sự kết hợp những kiến thức thông thường này để tạo nên một bí mật kinh doanh, thì không phải chủ thể nào cũng có thể làm được Bên cạnh đó, chủ thể biết được thông tin này rất hạn hẹp và đều đã ký hợp đồng bảo mật với chủ sở hữu bí mật kinh doanh Đồng thời, những người quan tâm tìm hiểu thông tin về bí mật kinh doanh cũng không dễ dàng lấy được thông tin từ những nguồn tin công cộng

Điều quan trọng để một bí mật kinh doanh được bảo hộ là đối tượng này phải đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất tạo ra sản phẩm, dịch vụ giúp chủ sở hữu

nâng cao vị trí và ưu thế cạnh tranh của mình so với đối thủ Ví dụ: bí quyết sản xuất

Coca-cola đã tạo cho công ty này đứng vững trên thương trường hơn một trăm năm qua so với các công ty nước giải khát khác Như vậy, chỉ những bí mật kinh doanh

đem lại những lợi thế nhất định cho người nắm giữ mới được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh Lợi thế này có thể là về chất lượng sản phẩm, giá thành sản phẩm, giá hương - vật liệu sản xuất…

Tiêu chí cuối cùng để bí mật kinh doanh được bảo hộ là sự nổ lực của chủ sở hữu nắm giữ bí mật kinh doanh đã áp dụng các biện pháp hợp pháp tránh bí mật bị tiết lộ ra bên ngoài Các biện pháp bảo mật này phải đủ tính cần thiết để tránh bí mật kinh doanh bị bộc lộ Tính cần thiết để bảo mật được áp dụng tùy vào từng trường hợp đối với từng đặc điểm của bí mật kinh doanh mà chủ sở hữu đang nắm giữ Nếu chủ sở hữu không thực hiện tốt tiêu chí này đến khi bí mật kinh doanh bị bộc lộ thì chính chủ

sở hữu bí mật kinh doanh sẽ là người phải gánh chịu những tổn thất đầu tiên

Về cơ bản, các điều kiện bảo hộ theo quy định của pháp luật nước ta đã thể hiện được ba đặc điểm chính của bí mật kinh doanh là tính bí mật, có giá trị, và được chủ sở hữu thực hiện việc bảo mật Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên thì bí mật kinh doanh sẽ không được bảo hộ

2.2.2 Đối tượng không được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh

Ngoài các quy định cụ thể về điều kiện để một bí mật kinh doanh được bảo hộ, thì pháp luật Việt Nam cũng quy định các đối tượng bí mật kinh doanh không được bảo hộ Nếu các thông tin bí mật có liên quan đến bí mật về nhân thân, bí mật về quản

lý nhà nước, bí mật về quốc phòng, an ninh quốc gia và thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh theo khoản 2 Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ

Bí mật nhân thân không được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh vì bí mật về nhân thân có thể hiểu là những gì gắn với nhân thân của con người, là những quyền cơ bản Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên, tuổi, các mối quan hệ gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khác biết

Trang 33

Những bí mật này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai Nhìn chung,

bí mật nhân thân là những thông tin thông thường của một người và người khác có thể

dễ dàng có được nếu tìm hiểu So với bí mật kinh doanh thì một chủ thể muốn có được

bí mật về nhân thân dễ dàng hơn nhiều Ngoài ra, bí mật nhân thân không tạo được lợi thế cho chủ sở hữu trước đối thủ canh tranh trong sản xuất kinh doanh vì bản thân bí mật nhân thân không thể nào là những đối tượng dùng trong sản xuất kinh doanh Bí mật về nhân thân không tạo ra lợi nhuận, nên chủ các bí mật nhân thân cũng sẽ giữ kín

bí mật của mình nhưng họ không cần áp dụng các biện pháp bảo mật cần thiết như bảo mật bí mật kinh doanh Các thông tin về bí mật nhân thân sẽ được luật bảo hộ dưới dạng bí mật đời tư theo các quy định tại Điều 38 của Luật Dân sự năm 2005

Đối tượng thứ hai không được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh là bí mật về quản lý nhà nước Bí mật quản lý nhà nước là những thông tin thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác mà Nhà nước không công bố hoặc chưa công bố và nếu bị tiết lộ có thể gây nguy hại cho Nhà nước So với bí mật kinh doanh thì bí mật nhà nước có vai trò hết sức quan trọng

nó không chỉ là quyết định số phận tồn vong của một hay nhiều doanh nghiệp mà nó quyết định số phận của một quốc gia Chính vì sự quan trọng này nên bí mật quản lý nhà nước phải được nhà nước bảo hộ theo những những chính sách tuyệt mật riêng Cũng tương tự như bí mật quản lý nhà nước, bí mật quốc phòng an ninh cũng là đối tượng nằm ngoài phạm vi bảo hộ của bí mật kinh doanh Vì đây cũng là một dạng bí mật nhà nước không đơn thuần là những quy trình hay công nghệ, nên phải được bảo mật theo đúng tầm quan trọng của nó Hiện nay, bí mật nhà nước, bí mật về quốc phòng an ninh quốc gia có thể được bảo hộ dưới dạng sáng chế mật Những sáng chế mật này chỉ được cấp bằng độc quyền sáng chế mật hoặc bằng độc quyền giải pháp hữu ích mật.23

Bảo hộ bí mật kinh doanh là bảo hộ những bí quyết, quy trình hay bất cứ thông tin nào liên quan đến sản xuất kinh doanh, giúp chủ sở hữu tạo ra lợi nhuận Nên những đối tượng bí mật không liên quan đến kinh doanh sẽ không được luật bảo hộ Ngoài ra, theo tinh thần Điều 787 Luật Dân sự năm 2005, thì các bí mật kinh doanh nếu trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng, nguyên tắc nhân đạo cũng không được nhà nước bảo hộ

Trang 34

2.2.3 Xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh

Quyền sở hữu có thể được xác lập theo nhiều cách do lao động, sản xuất kinh

doanh hợp pháp, được chuyển quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được thừa kế… Tuy nhiên đó là cách xác lập quyền

sở hữu đối với tài sản hữu hình còn đối với tài sản trí tuệ thì cách xác lập quyền sở hữu

cơ bản nhất là phải tiến hành đi đăng ký Tinh thần chung là vậy, nhưng riêng đối với

bí mật kinh doanh là một ngoại lệ, nghĩa là quyền sở hữu vẫn được xác lập mà không cần tiến hành bất kỳ một thủ tục đăng ký nào Vấn đề này được quy định điểm c khoản

3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ “quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh

được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó” Hay như Nghị định 103/2006/NĐ-CP đã quy

định một cách rõ ràng hơn về quyền sở hữu bí mật kinh doanh được xác lập tại khoản

4 Điều 6 “quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ

sở đầu tư tài chính, trí tuệ hay bất kỳ cách thức hợp pháp nào để tìm ra, tạo ra hoặc đạt được thông tin và bảo mật thông tin tạo thành bí mật kinh doanh đó mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký”

Vậy quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh được xác lập một cách tự động Nếu

các bí mật kinh doanh này có được là do sự đầu tư tài chính thông qua hình thức như

hỗ trợ, cung cấp chi phí, tiền của tạo điều kiện cho bí mật kinh doanh được tạo ra, hay các bí mật kinh doanh có được là do sự vận động của tư duy bao gồm những khả năng

tư duy, thu nhận tri thức để có thể tạo ra bí mật kinh doanh Tóm lại, là bất kỳ các hình thức nào mà chủ sở hữu có được bí mật kinh doanh một cách chân chính không phải là dùng các thủ đoạn bất hợp pháp Bên cạnh đó chủ sở hữu còn phải dùng các biện pháp tự bảo vệ chẳng hạn như dùng chỉ số bảo mật (serial number) khóa bảo vệ (key maker), hay các biện pháp tự bảo mật khác phù hợp với bí mật kinh doanh đang

sở hữu để tự bảo vệ bí mật của mình Đến lúc này, tư cách chủ sở hữu bí mật kinh doanh cũng sẽ được xác lập mà không cần đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền

Tuy nhiên, luật cũng quy định một số trường hợp ngoại lệ, người nộp đơn xin cấp giấy phép kinh, lưu hành dược phẩm hoặc nông hóa phẩm thì phải cung cấp kết quả thử nghiệm hoặc bất kỳ dữ liệu nào khác là bí mật kinh doanh thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.24 Vì những dữ liệu thử nghiệm có thể là công thức pha chế thuốc, hay hóa phẩm dùng trong sản xuất nên phải tiến hành đăng ký để tránh ảnh hưởng đến con người và môi trường

24

Xem Điều 128, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009)

Trang 35

Ngoài quy định của pháp luật đã phân tích thì ở nước ta hiện nay, quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh còn được xác lập trong các trường hợp do chuyển giao quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh, do được thừa kế, hoặc các trường hợp khác được quy định ở khoản 3 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ

Nhìn chung, quy định của pháp luật Việt Nam về việc xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh không cần phải tiền hành đăng ký là phù hợp với luật pháp quốc

tế và các nước trên thế giới Hiện nay hầu hết pháp luật quốc tế và của các nước đều thừa nhận việc bảo hộ bí mật kinh doanh khi thỏa một số điều kiện nhất định mà không cần một thủ tục đăng ký nào

2.2.4 Thời hạn của việc bảo hộ bí mật kinh doanh

Thời hạn bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp được quy định ở Điều

93 Luật Sở hữu trí tuệ

- Văn bằng bảo hộ có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam

- Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn

- Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn

- Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết năm năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần năm năm

- Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn có hiệu lực từ ngày cấp và chấm dứt vào ngày sớm nhất trong số những ngày sau đây:

+ Kết thúc mười năm kể từ ngày nộp đơn;

+ Kết thúc mười năm kể từ ngày thiết kế bố trí được người có quyền đăng ký hoặc người được người đó cho phép khai thác thương mại lần đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới;

+ Kết thúc mười lăm năm kể từ ngày tạo ra thiết kế bố trí

- Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm

- Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý có hiệu lực vô thời hạn kể từ ngày cấp

Vì bí mật kinh doanh là một đối tượng đặc biệt được nhà nước bảo hộ mà không phải qua bất kỳ thủ tục pháp lý nào, nên thời hạn bảo hộ bí mật kinh doanh không có quy định như ở Điều 93 Vì vậy, trên thực tế một bí mật kinh doanh có thể được bảo

hộ vô thời hạn Nhưng không phải việc bảo hộ vô thời hạn này phát huy tác dụng vĩnh

Trang 36

được giữ bí mật hoặc bảo mật bởi người sở hữu nó và những người khác không có được bí mật đó một cách độc lập và hợp pháp Nên khi các doanh nghiệp chọn cách bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh, thì phải xây dựng cho mình quy trình quản lý bí mật thật khép kín để ưu điểm về thời gian bảo hộ của bí mật kinh doanh thật sự phát huy tác dụng

2.3 Quyền của chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh

Quyền sở hữu công nghiệp khuyến khích sự cạnh tranh năng động bằng việc cổ

vũ các nhà doanh nghiệp đầu tư vào việc phát triển và quy trình cải tiến mới tạo ra sản phẩm Bên cạnh đó pháp luật cũng đã trao cho chủ sở hữu những quyền nhất định đối với sản phẩm do mình tạo ra như các quyền sử dụng, chiếm hữu, định đoạt Tương tự như vậy, quyền liên quan đến bí mật kinh doanh là các quyền về tài sản được pháp luật thừa nhận, các quyền này được chủ sở hữu thực hiện theo quy định của pháp luật

Theo khoản 3 Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ thì “chủ sở hữu bí mật kinh doanh là

tổ chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó Bí mật kinh doanh mà bên làm thuê, bên thực hiện nhiệm vụ được giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác”

Như vậy, người nắm giữ bí mật kinh doanh có thể là tổ chức cá nhân đã đầu tư tiền bạc, công sức hoặc trí tuệ để có được nó Trong trường hợp tổ chức cá nhân này chỉ đầu tư tiền bạc mà không bỏ ra trí tuệ hay công sức gì, thì họ vẫn được công nhận

là chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh Vì tuy rằng họ không bỏ ra trí tuệ hay công sức, nhưng lại bỏ ra sự đầu tư về tài chính tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho tác giả tạo ra bí mật kinh doanh Trường hợp tiếp theo, là bí mật kinh doanh được tạo ra từ người làm thuê thì quyền đối với bí mật kinh doanh vẫn thuộc về bên thuê Đây là một quy định khá hợp tình, hợp lý vì trong suốt quá trình người làm thuê, làm việc và tạo

ra bí mật kinh doanh thì đều thực hiện trong những điều kiện đã có của người thuê như trang thiết bị, máy móc, quy trình kỹ thuật sẵn có… để từ đó tạo ra được bí mật kinh doanh, đặt trường hợp ngược lại nếu bên thuê không thuê bên làm thuê thì liệu người này có thể tạo ra được bí mật kinh doanh không Nhưng do bí mật kinh doanh là một đối tượng được điều chỉnh bởi luật chung là Bộ Luật Dân sự nên phương pháp thỏa thuận được áp dụng trong trường hợp này như một ngoại lệ Nếu bên làm thuê và bên thuê có thể thỏa thuận với nhau về tư cách chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh được tạo ra, có thể hai bên sẽ đồng là sở hữu bí mật này hoặc là bên thuê là chủ sở hữu và sẽ trả công cho người làm thuê đã tạo ra được bí mật kinh doanh Hoặc bên làm thuê sẽ là chủ sở hữu nếu việc tạo ra bí mật kinh doanh này độc lập với lợi ích của bên thuê và

Trang 37

phải trả hao phí, thiệt hại nếu có cho bên thuê trong quá trình bên làm thuê tạo ra được

bí mật kinh doanh

So với bí mật kinh doanh thì nếu một sáng chế được tạo ra do người làm thuê thì sản phẩm sáng tạo thuộc về người thuê, do đó người thuê có quyền sở hữu các đối tượng mới tạo ra đó Điều này mang tính chất tương tự như đối với bí mật kinh doanh Tuy nhiên, đối với sáng chế tác giả sẽ được hưởng một số quyền nhân thân đối với công nghệ sáng chế ra, được ghi tên là tác giả sáng chế trong các giấy tờ liên quan đến bằng sáng chế cũng như trong bất kỳ tài liệu nào mà công nghệ này được công bố hoặc giới thiệu theo quy định tại Điều 122 Luật Sở hữu trí tuệ Bên cạnh đó, các tác giả nêu trên còn được trả thù lao theo quy định tại Điều 135 Luật Sở hữu trí tuệ Về cơ bản quyền của tác giả tạo ra sáng chế được pháp luật quy định cụ thể hơn, còn về quyền của tác giả tạo ra được bí mật kinh doanh thì chưa được luật quy định hướng giải quyết

cụ thể Nếu như không có thỏa thuận khác thì bí mật kinh doanh thuộc về bên thuê, trường hợp này tác giả sẽ được hưởng được những lợi ích nào để trả công cho sáng tạo của mình và nếu đó là một số tiền thì là bao nhiêu, được tính như thế nào Việc không quy định cụ như trên có thể bên thuê sẽ các những hành vi lạm quyền chèn ép làm ảnh hưởng đến quyền lợi của tác giả tạo ra bí mật kinh doanh Trong trường hợp này, theo người viết cần phải quy định cụ thể mức thù lao tối thiểu bên thuê phải trả cho bên làm thuê khi bên làm thuê tạo ra được bí mật kinh doanh Để đảm bảo cơ bản rằng người lao động được thưởng tương xứng với những nỗ lực sáng tạo của họ nhưng vẫn mang lại lợi ích cho người sử dụng lao động

Theo quy định của pháp luật thì người nắm giữ bí mật kinh doanh có quyền sử dụng, định đoạt đối với bí mật kinh doanh Có quyền ứng dụng vào sản xuất kinh doanh và hưởng dụng sản phẩm, có quyền cho người khác sử dụng bí mật này bằng một hợp đồng để đổi lấy thu nhập hoặc một lợi ích nào đó do hai bên thỏa thuận, có quyền chuyển nhượng bí mật kinh doanh, hưởng bí mật kinh doanh bằng con đường thừa kế do người có bí mật kinh doanh qua đời để lại Nhìn chung, quy định của luật

về các hành vi sử dụng bí mật kinh doanh khá cụ thể, nhưng về cơ bản luật vẫn chưa bao quát hết các hành vi sử dụng của chủ sở hữu bí mật kinh doanh trên thực tế như góp vốn, cầm cố, thế chấp bí mật kinh doanh

2.3.1 Quyền sử dụng đối với bí mật kinh doanh

Theo Điều 192 Luật Dân sự năm 2005 thì quyền sử dụng là “quyền khai thác

công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản” Như vậy quyền sở hữu bao gồm quyền

khai thác và thụ hưởng các lợi ích vật chất từ việc khai thác tài sản này đem lại Tương

tự, quyền sử dụng của chủ sở hữu bí mật kinh doanh cũng được Luật Sở hữu trí tuệ

Trang 38

được do tạo ra hoặc bằng các biện pháp hợp pháp Vậy chủ sở hữu bí mật kinh doanh được quyền quyết định phương thức sử dụng đối với bí mật kinh doanh của mình là tự khai thác và thụ hưởng các lợi ích vật chất từ việc áp dụng bí mật kinh doanh mang lại Hoặc để cho người khác sử dụng thông qua một hợp đồng chuyển giao quyền để đổi lấy một lợi ích nào đó Đối với việc sử dụng bí mật kinh doanh được luật quy định tại khoản 4 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ Gồm các hành vi sau:

- Áp dụng bí mật kinh doanh để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại hàng hóa

- Bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu sản phẩm được sản xuất

do áp dụng bí mật kinh doanh

Đối với việc áp dụng bí mật kinh doanh để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại hàng hóa Đây là một quyền chủ yếu của chủ sở hữu bí mật kinh doanh, vì một trong những đặc điểm đặc thù của bí mật kinh doanh là khả năng áp dụng vào sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm giúp cho chủ sở hữu bí mật kinh doanh tiến hành việc kinh doanh, cung ứng dịch vụ hàng hóa tạo ra lợi nhuận Cũng như hành vi bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu sản phẩm được sản xuất do áp dụng bí mật kinh doanh cũng được coi là hành vi sử dụng bí mật kinh doanh Vì để thụ hưởng các lợi ích từ bí mật kinh doanh thì sản phẩm tạo ra từ bí mật kinh doanh phải được đưa vào thị trường và đến tay người sử dụng mang lại lợi nhuận cho chủ sở hữu Để thực hiện được mục đích này, chủ sở hữu bí mật kinh doanh phải tiến hành các công đoạn như sản xuất, quảng bá, bán ra bên ngoài… Luật đã trao cho chủ sở hữu bí mật kinh doanh tất cả các quyền để một bí mật kinh doanh được ứng dụng phát huy vai trò của mình đem lại lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu

Tuy nhiên, quyền sử dụng bí mật kinh doanh sẽ bị hạn chế trong một số trường hợp theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ

- Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan

- Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại luật này, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp

Như vậy, chủ sở hữu bí mật kinh doanh được quyền quyết định hình thức sử dụng theo ý mình nhưng sự quyết định này không được xâm phạm lợi ích của nhà nước, công cộng và quyền lợi cá nhân khác Cũng như chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Trang 39

phải tuân theo các quy định của pháp luật khi thực hiện quyền sử dụng của mình Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, cộng đồng, lợi ích chính đáng của cá nhân khác và tránh sự lạm dụng của chủ sở hữu Bên cạnh đó, khi có sự xung đột giữa lợi ích chủ sở hữu bí mật kinh doanh và lợi ích của nhà nước, lợi ích giữa chủ sở hữu bí mật kinh doanh với lợi ích của người khác mà việc bảo vệ những quyền lợi này là cần thiết thì quyền của chủ sở hữu bí mật kinh doanh vẫn bị bắt buộc hạn chế thực hiện

2.3.2 Quyền ngăn cấm sử dụng bí mật kinh doanh

Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh nhằm đảm bảo cho chủ sở hữu có vị trí độc quyền sử dụng đối với bí mật kinh doanh, để bù lại công sức của họ đã tạo ra bí mật kinh doanh Vì vậy, ngoài việc chỉ có họ mới được quyền

sử dụng, hưởng lợi từ việc khai thác bí mật kinh doanh mang lại thì pháp luật phải bảo

hộ cho họ quyền ngăn cấm người khác sử dụng Nếu quyền này không được pháp luật bảo đảm thì vị thế sử dụng bí mật kinh doanh không còn mang tính độc quyền nữa, mà các đối thủ cạnh tranh sẽ tìm mọi cách dù bất hợp pháp để khai thác, sử dụng làm ảnh hưởng đến lợi ích của chủ sở hữu thật sự

Quyền ngăn cấm sử dụng quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 3 của Luật Sở hữu trí tuệ, thì chủ sở hữu có

một trong các quyền là “ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp

theo quy định tại Điều 125” Theo đó tại khoản 1 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ thì chủ

sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức cá nhân được trao quyền sử dụng có quyền ngăn cấm người khác sử dụng bí mật kinh doanh

Theo quy định này, thì chủ sở hữu bí mật kinh doanh có quyền ngăn cấm các hành vi sử dụng, khai thác trái phép bí mật kinh doanh của mình Các hành vi được coi

là sử dụng, khái thác trái phép bí mật kinh doanh là thực hiện các quyền sử dụng bí mật kinh doanh mà lẽ ra các quyền này chỉ có chủ sở hữu bí mật kinh doanh mới có tư cách thực hiện Chẳng hạn như áp dụng bí mật kinh doanh vào sản xuất, bán, quảng cáo, tàng trữ bí mật kinh doanh…

 Một số ngoại lệ

Chủ sở hữu bí mật kinh doanh sẽ là người duy nhất có quyền đối với bí mật kinh doanh của mình Do đó chủ thể này có quyền cấm người khác khai thác, nếu người khác muốn khai thác các bí mật kinh doanh này phải được đồng ý của chủ sở hữu Nhưng điều này, đã xuất hiện mâu thuẫn giữa độc quyền cá nhân và nguyên tắc tự do cạnh tranh, mâu thuẫn giữa độc quyền cá nhân và nhu cầu tự do tìm tòi sáng tạo mà luật pháp ở hầu hết các nước đều khuyến khích phát triển Để giải quyết vấn đề trên và chống lại hành vi lạm dụng độc quyền của chủ sở hữu bí mật kinh doanh, pháp luật

Trang 40

sử dụng bí mật kinh doanh Theo quy định ở Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ thì chủ sở hữu bí mật kinh doanh được quyền ngăn cấm người khác sử dụng bí mật kinh doanh của mình, ngoại trừ một số trường hợp được quy định tại khoản 3 của điều này

 Thứ nhất, bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh thu được khi không biết và không có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được một cách bất hợp pháp Như vậy, bí mật kinh doanh có thể bị một chủ thể khác để lộ ra bên ngoài, dùng bí mật kinh doanh này vào các mục đích nào đó mà họ muốn như áp dụng vào sản xuất, hay tiến hành chuyển nhượng, để lại thừa kế Khi người này không biết

và cũng không có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó có được là do các hành vi bất hợp pháp như đánh cắp, mua chuộc, đe dọa người nắm giữ bí mật kinh doanh để

những người này đưa cho họ chẳng hạn Thuật ngữ “không có nghĩa vụ phải biết”, có

thể hiểu là pháp luật không bắt buộc người này có trách nhiệm phải tìm hiểu về việc bí mật kinh doanh mà mình đang sử dụng có nguồn gốc từ đâu Như trong trường hợp bí mật kinh doanh được để lại thừa kế như một tài sản thông thường, nhưng tài sản thừa

kế này có nguồn gốc bất hợp pháp Trường hợp này, nếu người thừa kế ngay tình cho rằng bí mật kinh doanh thật sự do người thừa kế để lại, sau đó đã đem sử dụng và hưởng lợi ích từ tài sản thừa kế Thì người sở hữu thật sự của bí mật kinh doanh không

có quyền ngăn cấm người thừa kế đó sử dụng bí mật kinh doanh

Ví dụ: Ông A làm nhân viên bảo vệ cho công ty B sản xuất nước giải khát, trong quá trình làm việc ông A đã lẻn vào khu vực sản xuất và nhìn thấy bí quyết sản xuất nước giải khát này, nhưng ông A không hề bộc lộ việc này cho ai biết Sau một thời gian ông A nghỉ việc tại công ty B trở về quê, hai năm sau ông A bệnh và qua đời, trong di chúc ông A đã để lại tất cả tài sản cho đứa con trai duy nhất là C, cùng với tài sản là một công thức sản xuất nước giải khát rõ ràng cụ thể Sau khi biết được công thức sản xuất C đã lên thành phố Cần Thơ mở một công ty nước giải khát và áp dụng công thức sản xuất do ông A để lại, và thu được rất nhiều lợi nhuận Về phần công ty B sau khi phát hiện nước giải khát do công ty của C sản xuất có mùi vị giống sản phẩm của mình thì đã ngăn chặn không cho công ty của C tiếp tục sản xuất và nhờ pháp luật dành quyền độc quyền sử dụng bí quyết sản xuất lại cho mình Trong tình huống trên công ty C sản xuất theo di chúc được để lại là không sai với quy định của pháp luật Đồng thời, theo quy định thì Công ty B không có quyền ngăn cấm công ty C sản xuất, vì C ngay tình không biết bí mật kinh doanh này có được là do Ông A xâm phạm bí mật công ty B

Tuy nhiên, sau khi đã biết bí mật kinh doanh mà mình đang sử dụng có được do hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh của người khác, mà vẫn tiếp tục sử dụng, bộc lộ thì đây có được coi là hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w