1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP bán đấu GIÁ tài sản TRONGTHI HÀNH án dân sự

79 188 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động này cần có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, trong đó chủ yếu là giữa cơ quan thi hành án dân sự và tổ chức bán đấu giá tài sản, do đó bao gồm nhiều nghĩa vụ, quan hệ phá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Cần Thơ, 01/2013

Trang 2



Cần Thơ, ngày …tháng… năm……

Trang 3



Cần Thơ, ngày …tháng… năm……

Trang 4

  

Trang

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái quát chung về thi hành án dân sự 5

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thi hành án 5

1.1.1.1 Khái niệm thi hành án 5

1.1.1.2 Đặc điểm thi hành án 7

1.1.2 Khái niệm, vai trò của thi hành án dân sự 8

1.1.2.1 Khái niệm thi hành án dân sự 8

1.1.2.2 Vai trò của thi hành án dân sự 9

1.2 Khái quát chung về tài sản 10

1.2.1 Khái niệm về tài sản 10

1.2.2 Đặc điểm của tài sản 11

1.2.2.1 Tài sản là vật 11

1.2.2.2 Tài sản là tiền 13

1.2.2.3 Giấy tờ có giá 13

1.2.2.4 Các quyền tài sản 14

1.2.3 Phân loại tài sản 14

1.2.3.1 Phân loại theo kiểu truyền thống 14

1.2.3.2 Một số cách phân loại khác 18

1.3 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, lịch sử hình thành và phát triển của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 19

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 19

1.3.1.1 Khái niệm của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 19

1.3.1.2 Đặc điểm của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 20

Trang 5

án dân sự Việt Nam 21

1.3.2.1 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1996 21

1.3.2.2 Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2005 22

1.3.2.3 Giai đoạn từ sau năm 2005 đến nay 23

1.3.3 Vai trò của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 24

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 2.1 Nguyên tắc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 26

2.1.1 Tính công khai 26

2.1.2 Tính khách quan, trung thực 26

2.1.3 Tính liên tục 27

2.1.4 Tính bình đẳng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia 27

2.2 Tài sản bán đấu giá trong thi hành án dân sự 28

2.2.1 Tài sản bán đấu giá là quyền sở hữu trí tuệ 28

2.2.1.1 Quyền tác giả 28

2.2.1.2 Quyền sở hữu công nghiệp 29

2.2.1.3 Quyền đối với giống cây trồng 29

2.2.2 Tài sản bán đấu giá là vật 30

2.2.3 Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất 32

2.3 Các chủ thể tham gia vào hoạt động bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 32

2.3.1 Người có tài sản bán đấu giá 32

2.3.2 Người bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự 33

2.3.2.1 Chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự 33

2.3.2.2 Đấu giá viên của tổ chức bán đấu giá 35

2.3.3 Người tham gia đấu giá tài sản 37

2.4 Quy trình bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 37

2.4.1 Kê biên tài sản để bán đấu giá 37

2.4.1.1 Kê biên quyền sở hữu trí tuệ 38

2.4.1.2 Kê biên tài sản là vật 39

2.4.1.3 Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất 42

2.4.2 Định giá tài sản đã kê biên 42

2.4.3 Bán đấu giá tài sản đã kê biên 45

Trang 6

2.4.3.2 Đăng kí tham gia bán đấu giá tài sản 46

2.4.3.3 Trưng bày, xem tài sản bán đấu giá 46

2.4.3.4 Trình tự tiến hành cuộc bán đấu giá 47

2.4.4.Giao tài sản đã được bán đấu giá thành 48

2.4.4.1 Đối với tài sản bán đấu giá là vật 48

2.4.4.2 Đối với tài sản bán đấu giá là nhà 49

2.4.4.3 Đối với tài sản là quyền sử dụng đất 49

2.4.5 Xử lý tài sản bán đấu giá không thành 50

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 3.1 Thực tiễn của việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 52

3.1.1 Những thuận lợi trong việc áp dụng pháp luật về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 52

3.1.1.1 Những thuận lợi trong việc kê biên tài sản để bán đấu giá 52

3.1.1.2 Những thuận lợi trong việc định giá tài sản để bán đấu giá 53

3.1.1.3 Những thuận lợi trong việc bán tài sản đã kê biên 54

3.1.2 Những bất cập của việc áp dụng pháp luật về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự 54

3.1.2.1 Khách hàng ngại mua tài sản vì sợ không được xem trước tài sản 54

3.1.2.2 Dừng bán đấu giá do người phải thi hành án nhận lại tài sản theo quy định tại Điều 101 Luật thi hành án dân sự năm 2008 55

3.1.2.3 Bất cập từ việc kê biên quyền sử dụng đất 57

3.1.2.4 Bất cập về quy định yêu cầu định giá lại tài sản 58

3.1.2.5 Hạn chế trong trường hợp không có người đăng kí tham gia đấu giá 60

3.1.2.6 Xử lý tài sản bán đấu giá không thành 63

3.2 Một số giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong việc bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự 64

3.2.1 Trường hợp khách hàng ngại mua tài sản để thi hành án dân sự 64

3.2.2 Dừng bán đấu giá do người phải thi hành án nhận lại tài sản 65

3.2.3 Bất cập từ việc kê biên quyền sử dụng đất 66

3.2.4 Bất cập về quy định yêu cầu định giá lại tài sản 67

3.2.5 Hạn chế trong trường hợp không có người đăng kí tham gia đấu giá 68

Trang 7

KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

Thực tế hiện nay, việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự đã đóng một vai trò khá quan trọng việc thi hành án Hoạt động này diễn ra ngày càng phổ biến, đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm và chú ý của mọi người Đa số các vụ thi hành án dân sự mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì sẽ phải qua thủ thục bán đấu giá tài sản Hoạt động này cần có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, trong đó chủ yếu là giữa cơ quan thi hành án dân sự và tổ chức bán đấu giá tài sản, do đó bao gồm nhiều nghĩa vụ, quan hệ pháp luật phát sinh như nghĩa vụ trả nợ của người phải thi hành án đối với người được thi hành án; quan hệ pháp luật phát sinh giữa Chấp hành viên và tổ chức bán đấu giá khi kí hợp đồng bán đấu giá; quan hệ mua bán giữa tổ chức bán đấu giá và người mua được tài sản bán đấu giá;…

Những năm qua công tác bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự đã từng bước được đẩy mạnh và đã thu được những kết quả to lớn, giúp cho công tác thi hành án diễn ra nhanh chóng hơn và giải quyết được một lượng lớn án tồn đọng Pháp luật về hoạt động này đã và đang được củng cố và hoàn thiện ngày càng phù hợp với những yêu cầu mới đặt ra của sự phát triển kinh tế, xã hội

Tuy nhiên, tình hình kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường các giao lưu dân sự ngày một mở rộng thì số vụ việc tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng làm cho số lượng bản án, quyết định phải thi hành ngày càng nhiều Dẫn đến hoạt động bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự cũng gia tăng theo nhưng pháp luật về vấn đề này lại tồn tại nhiều bất cập cần giải quyết Bên

Trang 9

cạnh đó, về mặt lý thuyết thì những quy định pháp luật về vấn đề này rất hoàn chỉnh, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia vào hoạt động, nhưng trên thực tế thi hành thì không phải lúc nào quyền lợi của người tham gia vào hoạt động này cũng được đảm bảo Có rất nhiều bất cập phát sinh khi áp dụng vào thực tế các quy định của pháp luật về bán đấu giá sản trong thi hành án dân sự

Nguyên nhân do các qui định pháp luật chưa thật sự nghiêm minh khi áp dụng vào thực tế nên dẫn đến sự chống đối, cản trở của những người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản như người có tài sản bị bán đấu giá Đồng thời, cũng do những quy định của pháp luật còn những thiếu sót làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người liên quan như người tham gia mua tài sản bán đấu giá, người mua được tài sản bán đấu giá, người được thi hành án, nên làm hạn chế việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự trên thực tế Bên cạnh những nguyên nhân trên thì còn nhiều nguyên nhân khác, cho nên để hoạt động bán đấu giá tài sản thi hành án dân

sự phát huy hết được vai trò của mình thì cần tìm ra những bất cập của nó trong thực tiễn áp dụng pháp luật và các biện pháp giải quyết

Trước tình hình đó, cần phải hoàn thiện hơn nữa pháp luật bán đấu giá trong thi hành án dân sự góp phần đẩy nhanh hoạt động thi hành án đạt hiệu quả hơn

về số lượng cũng như chất lượng, từng bước giảm dần số lượng bản án, quyết định tồn đọng chưa được thi hành, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cường tính pháp chế xã hội chủ nghĩa Vì vậy việc nghiên cứu pháp luật về bán đấu giá trong thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề cần thiết không chỉ đối với các nhà lập pháp, tư pháp, các luật gia mà còn cần thiết đối với những sinh viên khi nghiên cứu về pháp luật Việt Nam Đây là một vấn đề lớn đòi hỏi phải

có trình độ nghiên cứu cũng như thời gian nghiên cứu nhất định Do vậy, trong luận

văn tốt nghiệp của mình người viết đã chọn nghiên cứu đề tài “Bán đấu giá tài sản

sản trong thi hành án dân sự”, người viết hi vọng rằng qua luận văn mà mình đã

nghiên cứu sẽ giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về hoạt động này Đồng thời có thể góp phần giải quyết được phần nào những bất cập đang tồn tại hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu đề tài là để tìm hiểu rõ các quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự hiện hành, thực tiễn áp dụng chúng tại các cơ quan thi hành án dân sự, từ đó thấy được những bất cập trong thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động này Tránh tình trạng cố tình lợi dụng kẽ hở của pháp luật để thực hiện những hành vi nhằm có lợi cho bản thân mà xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của người

Trang 10

khác Đặc biệt, qua việc nghiên cứu đề tài người viết có thể hoàn thiện hơn kiến thức pháp luật của mình và nâng cao năng lực của bản thân

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu đề tài là những cơ sở lý luận về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự, một số quy định cơ bản của pháp luật về hoạt động này, những bất cập khi áp dụng các quy định vào thực tế và một số biện pháp nhằm giải quyết các bất cập này

Phạm vi nghiên cứu: do thời gian nghiên cứu đề tài còn hạn chế nên người viết chỉ có thể nghiên cứu một số quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự chủ yếu tại các Mục 5, 6, 8, 9 của Chương IV, Luật thi hành án dân sự năm 2008 và một số quy định tại Nghị định 17/2010/NĐ-CP về tiêu chuẩn Đấu giá viên, Tổ chức bán đấu giá tài sản thi hành án và quy trình tổ chức buổi bán đấu giá tài sản Và một số văn bản có liên quan như một vài Điều quy định về tài sản của Bộ luật dân sự năm 2005

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, để có thể diễn đạt được nội dung của luận văn người viết đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, người viết còn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp

và phương pháp thực tiễn Trong đó:

- Phương pháp phân tích có vai trò phân tích để tìm hiểu, giải thích những quy định của pháp luật

- Phương pháp so sánh giữa luật cũ và luật mới trong quá trình nghiên cứu nhằm đưa ra những điểm giống và khác giữa chúng, từ đó có thể chỉ ra những bất cập hay tiến bộ khi áp dụng vào thực tế

- Phương pháp tổng hợp để tổng hợp những gì đã phân tích, đưa ra kết quả quá trình nghiên cứu đã đạt được

- Phương pháp thực tiễn nhằm tìm hiểu trong thực tế áp dụng, đưa ra những

Trang 11

Trong nội dung chương 1 người viết sẽ phân tích các cơ sở lý luận của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự và một số lĩnh vực có liên quan như thi hành

án dân sự và bán đấu giá tài sản để tạo nền tảng lý luận của quy định pháp luật về lĩnh vực này

Chương 2. Những quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

Ở nội dung chương 2 người viết sẽ trình bày các quy định của pháp luật và phân tích chúng để hiểu rõ việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự Đồng thời để hoạt động này được tiến hành một cách nhanh chóng, áp dụng chính xác theo đúng trình tự pháp luật

Chương 3. Thực tiễn và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

Sau khi đã biết được cơ sở lý luận và tìm hiểu các quy định của pháp luật

về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự nên trong chương 3 người viết sẽ tiếp tục trình bày những thuận lợi của các quy định này khi áp dụng vào thực tế, đồng thời chỉ ra một số bất cập và các biện pháp giải quyết nhằm hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật

Đây là một đề tài hoàn toản mới đối với người viết và do những nguyên nhân như nguồn tài liệu và thời gian nghiên cứu còn hạn chế,… nên trong quá trình nghiên cứu không tránh được những sai sót nhất định Chính vì vậy, người viết rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để người viết

có thể hoàn thiện hơn về đề tài của mình

Chân thành cảm ơn!

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự là một hoạt động diễn ra ngày càng phổ biến đối với việc thi hành án dân sự, nó góp phần đảm bảo cho các bản án, quyết định được thi hành trên thực tế Tuy hoạt động này rất phổ biến nhưng không phải người dân nào cũng hiểu chính xác về nó, bên cạnh đó hoạt động này lại có liên quan đến việc bán đấu giá tài sản nên để hiểu rõ nó là một vấn đề không phải dễ dàng Chính vì thế trong chương 1 này người viết sẽ trình bày và phân tích các cơ sở

lý luận về hoạt động bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự để có thể hiểu rõ hơn về hoạt động này trước khi tìm hiểu những quy định của pháp luật có liên quan

1.1 Khái quát chung về thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thi hành án

1.1.1.1 Khái niệm thi hành án

Kể từ khi hoạt động thi hành án dân sự được chuyển giao từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ thì khái niệm thi hành án (nhất là thi hành án dân sự) trở thành đề tài tranh luận sôi nổi trên diễn đàn khoa học pháp lý

Có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những lập luận và cách tiếp cận khác nhau

về thi hành án nhưng trong đó nổi lên hai quan điểm cơ bản, đó là quan điểm coi thi hành án là giai đoạn tố tụng và quan điểm coi thi hành án là hoạt động hành chính -

tư pháp

Theo quan điểm thứ nhất, thi hành án là giai đoạn cuối cùng của quá trình

tố tụng Theo quan điểm này thì thi hành án là giai đoạn nằm trong quá trình giải quyết vụ án, theo đó giai đoạn tố tụng trước của giai đoạn xét xử là giai đoạn chuẩn

bị xét xử, còn thi hành án là giai đoạn kế tiếp của giai đoạn xét xử, giai đoạn thực thi các phán quyết của Tòa án trên thực tế Căn cứ duy nhất để thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật Tính lệ thuộc của thi hành

án vào công tác xét xử được thể hiện ở việc khẳng định xét xử là tiền để của thi hành án Trong quá trình thi hành án, vai trò và trách nhiệm của Tòa án gắn chặt với hoạt động thi hành án, thể hiện ở trách nhiệm của Tòa án trong việc "giải thích những điểm chưa rõ, có sai sót hoặc sai lầm về số liệu" trong bản án, quyết định khi

cơ quan thi hành án yêu cầu, hoặc thẩm quyền của Tòa án trong việc hoãn thi hành

án theo thời gian luật định, hay "xem xét, kháng nghị để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án quyết định có vi phạm thủ tục tố tụng" khi cơ quan thi hành án kiến nghị Hậu quả pháp lý của việc xem xét theo trình tự này có

Trang 13

thể làm thay đổi kết quả thi hành án hay cách thức tiến hành thi hành án của cơ quan thi hành án Với quan điểm này, thi hành án được hiểu là giai đoạn kết thúc trình tự

tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử làm cho phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật

Theo quan điểm thứ hai, coi thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp

Theo quan điểm này, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án chấm dứt khi Tòa án ra phán quyết nhân danh Nhà nước, trong đó Tòa án đã xác định quyền, nghĩa vụ các bên, còn việc thi hành phán quyết đó là giai đoạn khác, không thuộc quá trình tố tụng Thi hành án không phải là giai đoạn tố tụng, bởi vì "thi hành

án có mục đích khác với mục đích tố tụng, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các

vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra phương án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật"

Ngoài hai quan điểm cơ bản nêu trên, còn có quan điểm khác về thi hành án:

Theo quan điểm thứ ba, thi hành án là hoạt động tư pháp Bởi vì, gốc của hoạt

động thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định theo quy định của pháp luật Khi thực hiện nhiệm vụ, Cơ quan thi hành án phải thi hành theo đúng quyết định của Tòa án chứ không phải theo mệnh lệnh hành chính Thi hành án phần lớn thông qua vai trò hoạt động của các cá nhân những người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định như Chấp hành viên, Giám thị viên hoặc các cơ quan tổ chức và người có thẩm quyền khác Hoạt động hành chính trong lĩnh vực thi hành án chẳng qua cũng chỉ để đảm bảo phục vụ cho chức năng chính của cơ quan thi hành án là tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật Nếu cho rằng thi hành án (nhất là thi hành án dân sự) là giai đoạn độc lập có tính hành chính - tư pháp vì hoạt động thi hành án được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan của Chính phủ là không hợp lý vì một hoạt động mang bản chất như thế nào không thể phụ thuộc nhiều vào chủ thể thực hiện nó

Theo quan điểm thứ tư, coi thi hành án là thủ tục tố tụng tư pháp Theo quan

điểm này thì không nên hiểu "tố tụng" chỉ là "thưa kiện tại Tòa án nói chung", là hoạt động của cơ quan Tòa án xét xử để đi tìm "chân lý", mà cần xem xét đến bản chất của tố tụng Đó là việc thực hiện các quy định của pháp luật hình thức theo thủ tục nhất định để giải quyết các quan hệ xã hội theo đúng sự điều chỉnh của pháp luật nội dung nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Tố tụng được thực hiện bởi nhiều cơ quan, hoạt động nào tuân theo thủ tục do pháp luật hình thức quy định là hoạt động tố tụng Do đó có nhiều loại tố tụng: tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, tố tụng thi hành án Ngoài ra, khi xem

Trang 14

xét về tính chất của việc thi hành án, thì tất cả các bản án, quyết định của Tòa án và của Trọng tài đều có tính chất tư pháp hiểu theo nghĩa rộng, tức không chỉ là việc xét xử mà bao gồm cả lĩnh vực bổ trợ tư pháp Vì tất cả những lý do nêu trên thi hành án được hiểu theo nghĩa rộng là thủ tục tố tụng tư pháp

Mỗi quan điểm trên đều có những lập luận và cơ sở khoa học riêng Tuy nhiên, theo người viết, quan điểm thứ hai coi thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp là

có nhiều điểm hợp lý hơn cả Bởi vì, thi hành án không chỉ đơn thuần là hoạt động mang tính tư pháp, hay là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng, cũng không nên hiểu tố tụng theo một nghĩa không truyền thống như quan điểm thứ tư để coi thi hành

án là hoạt động tố tụng tư pháp Mà bản chất thi hành án thể hiện cả hai đặc điểm rất rõ

đó là tính hành chính và tính tư pháp trong hoạt động của mình Vì thế nên coi thi hành

án là hoạt động hành chính - tư pháp

1.1.1.2 Đặc điểm thi hành án

Thi hành án với những đặc điểm của hoạt động quản lý hành chính

Thi hành án là một hoạt động diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa án Các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án Do đó, không có kết quả của hoạt động xét xử thì không có hoạt động thi hành án Là một dạng hoạt động hành chính nhà nước, thi hành án thể hiện tính chấp hành, quản lý rất rõ "bởi toàn bộ quá trình thi thành án với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau đều nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các bản án, quyết định của Tòa án và theo các quy định cụ thể của pháp luật"

Trong quá trình thi hành án, Cơ quan thi hành án tác động tới đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, quyết định khác theo quy định của pháp luật Qua đó, giáo dục họ và những người xung quanh về ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của tập thể và cá nhân, kỷ cương của Nhà nước Để thực hiện được điều đó, yêu cầu của hoạt động thi hành án phải có tính kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra, đó là những tính chất của hoạt động quản lý

Đối với thi hành án, phương pháp giáo dục, thuyết phục là cần thiết nhưng phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc phải thực hiện lại mang tính đặc trưng (đặc biệt là trong thi hành án hình sự) Tuy nhiên, thi hành án không chỉ mang tính hành chính đơn thuần mà nó còn thể hiện tính hành pháp

Trang 15

Thi hành án với những đặc điểm của hoạt động tư pháp

Thi hành án chủ yếu do cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) tiến hành Có nhiều cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án, nhất là trong việc tổ chức thi hành

án các bản án và quyết định phức tạp Nhưng thực tế đã chứng minh vai trò của các

cơ quan tư pháp là hết sức quan trọng Trong hoạt động thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án là Phòng Thi hành án thuộc Sở Tư pháp, Đội Thi hành án thuộc phòng

Tư pháp,… Ngoài ra còn có sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức khác như Công

an, tài chính,…

Hoạt động của cơ quan thi hành án phần lớn thông qua vai trò của Chấp hành viên, những người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án Khi thi hành nhiệm vụ họ chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ Điều đó thể hiện tính độc lập rất cao trong hoạt động nghiệp vụ thi hành án

Cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án Bao gồm các quy định của pháp luật (được thể hiện trong các văn bản qui phạm pháp luật) và các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật (văn bản áp dụng pháp luật)

Mục đích của hoạt động thi hành án là đảm bảo cho nội dung của các bản

án, quyết định nói trên được thực thi trên thực tế Xuất phát từ những đặc điểm nêu

trên của thi hành án, có thể hiểu thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp của

Nhà nước, do các cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định, nhằm đảm bảo thi hành các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền

1.1.2 Khái niệm, vai trò của thi hành án dân sự

1.1.2.1.Khái niệm thi hành án dân sự

Vì thi hành án dân sự là một loại hình của thi hành án, nên cũng có thể hiểu thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp của Nhà nước, do cơ quan thi hành án tiến hành theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm đảm bảo thi hành các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án hoặc quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền

Hiện nay có hai ý kiến hiểu về nghĩa từ “dân sự” trong cụm từ thi hành án

dân sự:

Đầu tiên, "dân sự" được hiểu theo nghĩa hẹp Cơ sở để đưa ra ý kiến này

xuất phát từ quy định của Điều 1 Bộ luật dân sự năm 2005 cho rằng, quan hệ dân sự bao gồm địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong

Trang 16

các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Vì vậy, những bản án, quyết định dân sự trong thi hành án bao gồm bản án, quyết định liên quan đến quan hệ tài sản và nhân thân phi tài sản (như bản án, quyết định về tranh chấp các loại hợp đồng dân sự, về hôn nhân gia đình và một số loại bản án, quyết định có tính chất dân sự)

Ý kiến thứ hai hiểu "dân sự" theo nghĩa rộng Theo pháp luật của nhiều nước

trên thế giới, việc tổ chức thi hành các bản án có nguồn gốc pháp luật về nội dung là luật tư (luật dân sự, luật kinh doanh, thương mại, lao động) được thực hiện theo một thủ tục chung qui định trong bộ luật tố tụng dân sự

Người viết đồng ý với quan điểm thứ hai Tuy nhiên, theo pháp luật Việt

Nam thì "dân sự" trong thi hành án cần được hiểu một cách cụ thể Đó là: “Bản án,

quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử

lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định); hệ thống tổ chức thi hành án dân sự và Chấp hành viên; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thi hành án dân sự 1

1.1.2.2 Vai trò của thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự góp phần giữ gìn trật tự, kỷ cương an toàn xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Công tác thi hành án nói chung, thi hành

án dân sự nói riêng có một ý nghĩa, vai trò quan trọng trong hoạt động Nhà nước Thông qua hoạt động thi hành án, những phán quyết của Tòa án nhân danh Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà nước được trở thành hiện thực, công lý xã hội được thực hiện Quá trình giải quyết một vụ án chỉ kết thúc khi bản án quyết định của Tòa

án được thi hành kịp thời và đầy đủ Nếu công tác thi hành án dân sự không được quan tâm và không có hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực, tác động đến toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực nhà nước bị xem thường, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm hại Thi hành án dân sự đạt hiệu quả sẽ mang lại niềm tin cho nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần lập lại kỷ cương, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Ngược lại, một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà

1 Điều 1 Luật thi hành án dân sự năm 2008

Trang 17

không được thi hành trên thực tế cho thấy sự thiếu nghiêm minh của pháp luật, dễ gây ra sự mất đoàn kết, xung đột kéo dài trong nhân dân, tạo kẽ hở để các phần tử phản động lợi dụng tuyên truyền lôi kéo nói xấu chế độ, kích động thù hận, gây chia

rẽ trong nội bộ nhân dân

Thi hành án là thước đo hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án và hoạt động tư pháp khác Với ý nghĩa đó, thi hành án dân sự là một hoạt động không thể

thiếu được trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Thông qua thi hành án, kết quả của công tác xét xử được củng cố, hiệu lực các bản án, quyết định của Tòa án được đảm bảo Mặt khác, thi hành án dân sự còn là giai đoạn kiểm nghiệm qua thực tiễn những phán quyết của Tòa án, phản ánh, trung thực chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử Vì nếu như bản án tuyên đúng với bản chất, hiện thực khách quan, có lý, có tình thì trong quá trình thi hành án sẽ thuận lợi hơn những trường hợp bản án, quyết định của Tòa án không đúng sự thật, không phù hợp với thực tế khách quan Thực tế cho thấy có nhiều vụ việc đương sự không tự nguyện thi hành hoặc gửi đơn khiếu nại, tố cáo đi nhiều nơi không phải vì cơ quan thi hành án làm sai mà vì không đồng tình với quyết định của Tòa án nên cố tình trì hoãn việc thi hành án

Thi hành án dân sự góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân Đặc

thù của thi hành án dân sự là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án và sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, sự phối hợp các cơ quan tổ chức có liên quan và sự đồng tình của quần chúng, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng Trong hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án không chỉ là hoạt động nghiệp vụ riêng của

cơ quan thi hành án, Chấp hành viên mà còn là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, đoàn thể xã hội và mọi thành viên trong cộng đồng Thông qua công tác thi hành án, ý thức pháp luật của nhân dân, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức được nâng lên

1.2 Khái quát chung về tài sản

1.2.1 Khái niệm về tài sản

Tài sản là vấn đề trung tâm, là cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng Theo như cách hiểu thông thường, tài sản chính là của cải vật chất do con người tạo ra hoặc sử dụng trong quá trình sống, lao động và tồn tại Với sự phát triển của loài người, cuộc sống ngày được nâng cao và tiến bộ hơn, khái niệm về của cải luôn có sự thay đổi và hoàn thiện theo sự phát triển đó

Những quy định về tài sản lần đầu tiên được đề cập một cách tương đối đầy đủ trong Bộ luật dân sự (BLDS) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 18

năm 1995 với khái niệm về tài sản (Điều 172), về bất động sản và động sản (Điều 181), về hoa lợi, lợi tức (Điều 182) và về vật (Điều 183 đến Điều 187) lần lượt được trình bày cùng với định nghĩa Tài sản là một thuật ngữ vừa mang tính phổ thông vừa mang tính pháp lý sâu sắc Trong ngôn ngữ thông dụng hằng ngày, tài sản là một vật cụ thể mà có thể nhận biết bằng các giác quan và được con người sử dụng trong đời sống của mình Về phương diện pháp lý theo quy định BLDS năm 1995

thì: “Tài sản bao gồm các vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các

quyền tài sản” 2 Như vậy, BLDS năm 1995 đã dựa vào tiêu chí tài sản là đối tượng của quyền sở hữu phải trị giá bằng tiền và có thể được đưa vào giao lưu dân sự để

định nghĩa về tài sản Trên tinh thần đó BLDS năm 2005 quy định: “Tài sản bao

gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” 3 Đây là cách định nghĩa tài sản mang

tính cách liệt kê chứ không mang tính khái quát như các khái niệm pháp lý thông thường Theo quy định này thì tài sản được liệt kê một cách khép kín chỉ tồn tại một trong bốn loại là: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản So với BLDS năm

1995, thì BLDS năm 2005 có nhiều điểm tiến bộ hơn khi định nghĩa về tài sản Khái niệm tài sản theo BLDS năm 2005 đã mở rộng hơn BLDS năm 1995 về những đối

tượng nào được coi là tài sản, theo đó, không chỉ những “vật có thực” mới được gọi

là tài sản mà cả những vật được hình thành trong tương lai cũng được gọi là tài sản

1.2.2 Đặc điểm của tài sản

Tùy vào tài sản thuộc loại nào mà đặc điểm của những tài sản có những nét riêng biệt của loại đó Theo quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản tồn tại một trong bốn dạng sau: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản

1.2.2.1 Tài sản là vật

Vật là bộ phận của thế giới vật chất, bao gồm cả động vật và thực vật Vật được coi là tài sản phải là vật hữu hình, cảm nhận được bởi các giác quan của con người và chiếm giữ một phần nào trong không gian Ngoài ra, vật được coi là tài sản khi nó đáp ứng một nhu cầu nào đó về vật chất hoặc tinh thần của con người

Theo quy định tại Điều 172 BLDS năm 1995 thì chỉ những vật có thực mới được coi là tài sản, là đối tượng của quyền sở hữu Tuy nhiên, BLDS năm 2005 không chỉ hạn chế vật có thực mới được coi là tài sản, là đối tượng của quyền sở hữu mà đã mở rộng tài sản còn có thể là vật được hình thành trong tương lai Trong thực tế các giao dịch dân sự, ngoài đối tượng của các giao dịch là vật có thực mà

Trang 19

con người đang có quyền sở hữu, thì cũng có thể sử dụng chính tài sản hình thành trong tương lai để làm đối tượng giao dịch

Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự phải thỏa mãn những đặc điểm sau: vật là bộ phận của thế giới vật chất; con người có thể chiếm hữu được và mang lại lợi ích, đáp ứng được một nhu cầu nào đó cho con người; có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai

Phân loại vật bao gồm:

Vật chính và vật phụ 4 BLDS năm 2005 quy định: vật chính là vật độc lập,

có thể khai thác công dụng theo tính năng sử dụng của nó Vật chính được sử dụng

mà không cần có vật phụ Vật phụ là vật phục vụ trực tiếp cho việc khai thác công dụng cũng như tính năng của vật chính, là bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vật chính Ví dụ: máy vi tính xách tay (Laptop) và chuột ngoài của laptop, như vậy laptop là vật chính còn chuột ngoài là vật phụ vì chuột ngoài có vai trò phục vụ cho laptop hoạt động nhưng khi tách rời chuột ra khỏi laptop thì laptop vẫn có thể hoạt động bình thường bởi theo cấu tạo của laptop thì đã có chuột Kính lọc của màn hình máy vi tính cũng là một ví dụ về vật phụ

Căn cứ vào tính chất vật lý và tính năng sử dụng của vật mà có thể chia vật

thành vật chia được và vật không chia được 5 Vật chia được là vật sau khi phân chia vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử dụng ban đầu Ví dụ như gạo, xăng, dầu là vật chia được Những vật mà khi phân chia nó mất đi hoặc không giữ được tính chất

và tính năng ban đầu thì gọi là vật không chia được Ví dụ nhà, tivi,…

Vật tiêu hao và vật không tiêu hao 6 Về phương diện vật lý, mọi vật khi sử

dụng đều bị hao mòn Chính vì vậy, việc phân chia vật thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao chỉ mang tính chất tương đối Đối với những vật mà qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không còn giữ nguyên được hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng ban đầu (vật có thể bị giảm về số lượng, chất lượng, trọng lượng, ) thì được gọi là vật tiêu hao Ví dụ như thực phẩm, xà phòng, Đối với vật tiêu hao thì chủ sở hữu có thể bán hoặc cho tài sản này Tuy nhiên, vật tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng mượn tài sản Vật không tiêu hao là vật mà khi qua nhiều lần sử dụng mà cơ bản vẫn giữ nguyên được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu Ví dụ như nhà, xe máy, tủ lạnh,

Trang 20

Vật cùng loại và vật đặc định 7 Vật cùng loại là vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường Vật cùng loại có cùng tính chất có thể thay thế cho nhau Ví dụ như gạo, muối, xăng, Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính Khi thực hiện chuyển giao vật đặc định thì phải chuyển giao cho đúng vật đó Ví dụ xe máy, laptop,…

1.2.2.3 Giấy tờ có giá

Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay, đặc biệt là các giao dịch trong hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác9 Giá tờ có giá hiện nay tồn tại rất nhiều dạng khác nhau như cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, hối phiếu, công trái, séc, Khác với tiền, tiền chỉ do cơ quan duy nhất là Ngân hàng Nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá có thể do nhiều cơ quan ban hành như Chính phủ, ngân hàng, các tổ chức tín dụng, kho bạc, các công

ty cổ phần, Giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có thể có

Trang 21

thời gian sử dụng hoặc không có thời gian sử dụng và việc định đoạt đối với giấy tờ

có giá cũng không bị hạn chế

1.2.2.4 Các quyền tài sản

Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể được chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ10 Theo đó thì quyền tài sản trước tiên phải được là xử sự được phép của chủ thể mang quyền Quyền ở đây là quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền này trị giá được bằng tiền hay nói cách khác là phải tương đương với một đại lượng vật chất nhất định Đây là những quyền gắn với tài sản mà khi thực hiện quyền đó thì chủ sở hữu sẽ có được một tài sản Như vậy một quyền dân sự được coi là quyền tài sản khi hội tụ đủ hai yếu tố: thứ nhất, quyền đó phải trị giá được bằng tiền; thứ hai, quyền đó chuyển giao được trong giao lưu thông dân sự Quyền tài sản có thể được chia thành hai loại là quyền đối vật và quyền đối nhân Quyền đối vật được biểu hiện như quyền cầm đồ, quyền thế chấp, quyền hưởng hoa lợi, lợi tức, Quyền đối nhân thường tương ứng với nghĩa vụ tài sản đối với người khác Ví dụ như quyền yêu cầu người khác phải làm một việc hoặc không được làm một việc, Hiện nay, pháp luật dân sự Việt Nam công nhận một số quyền tài sản như: quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ, các quyền liên quan đến sở hữu trí tuệ như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với cây trồng,

1.2.3 Phân loại tài sản

1.2.3.1 Phân loại theo kiểu truyền thống

Tài sản được chia thành bất động sản và động sản Dựa vào các thuộc

tính tự nhiên của tài sản, tài sản được chia thành động sản và bất động sản Khoản

1 Điều 181 BLDS năm 1995 khẳng định: “Bất động sản là các tài sản không di

dời được” Tính chất không di dời được theo quy định này là tài sản không thể

chuyển dịch một cách cơ học trong không gian Các tài sản là bất động sản không phải là đất đai thì có một điểm chung đó là tài sản đó gắn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp với đất đai Tài sản gắn trực tiếp với đất đai như nhà, công trình xây dựng, cây cối gắn với đất Tài sản gắn gián tiếp vào đất đai là các tài sản gắn vào nhà và công trình xây dựng

Trong quá trình xây dựng BLDS năm 2005, có nhiều ý kiến cho rằng nên

bỏ đi cụm từ “không di dời được” vì nó đã thể hiện rõ trong cách liệt kê sau đó

Ngoài ra, không chỉ có nhà được sử dụng vào mục đích ở mới là bất động sản, mà bất cứ nhà được sử dụng để ở hoặc kinh doanh hay làm văn phòng, trụ sở làm việc

10

Điều 181 BLDS năm 2005

Trang 22

gắn cố định với đất đều được khẳng định là bất động sản Do đó, BLDS năm 2005

có sự thay đổi tiến bộ hơn so với quy định ở BLDS năm 1995 Cụ thể như sau:

“Bất động sản là các tài sản bao gồm:

- Đất đai;

- Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó;

- Các tài sản khác gắn liền với đất đai;

- Các tài sản khác do pháp luật quy định.” 11

Cũng giống như cách định nghĩa tài sản, BLDS cũng đã sử dụng cách liệt

kê để định nghĩa về bất động sản Theo đó đất đai và các tài sản gắn liền với đất đai như nhà, công trình xây dựng, cây cối, tài nguyên, sẽ được coi là bất động sản Ngoài ra, những tài sản do pháp luật chuyên ngành khác quy định cũng được coi là bất động sản Như theo Điều 6 luật kinh doanh bất động sản năm 2006 thì quyền sử dụng đất cũng là bất động sản

Đất đai được hiểu là một diện tích đất nhất định bao gồm cả chiều rộng, chiều dài, chiều cao và chiều sâu Đất đai bao gồm cả đất, đá, cát, sỏi, phù sa khi chúng ta chưa khai thác tách rời khỏi đất Đất đai không thể di dời từ địa giới hành chính này sang địa giới hành chính khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác, vì vậy đất đai luôn được coi là bất động sản

Tài sản gắn liền với đất đai như nhà, công trình xây dựng và tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó Những tài sản này phải liên hệ chặt chẽ với đất đai, nhà, công trình xây dựng và không thể tách rời Những vật khác như lều tạm, giàn giáo, công trình ngắn ngày, không thường xuyên gắn liền với đất, do đó chúng không được xem là bất động sản Những tài sản khác gắn liền với đất đai như tài nguyên khoáng sản trong lòng đất chưa được phát hiện hoặc chưa được khai thác khỏi lòng đất, cũng được coi là bất động sản

Ở cả hai Bộ luật dân sự đều không đưa ra khái niệm về động sản, mà chỉ liệt kê tài sản nào là bất động sản, sau đó phải sử dụng phương pháp loại trừ để quy

định về động sản “Động sản là những tài sản không phải là bất động sản”12 Như vậy, dựa theo tiêu chí phân loại này tài sản chỉ có thể tồn tại ở hai dạng hoặc là động sản, hoặc là bất động sản

Tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức Việc phân chia tài sản thành tài sản gốc và

hoa lợi, lợi tức dựa trên nguồn gốc và cách thức hình thành tài sản Hoa lợi và lợi

Trang 23

tức đều là những tài sản được sinh ra hay thu được từ một tài sản khác (được gọi là tài sản gốc) Tài sản gốc được hiểu là tài sản khi sử dụng, khai thác công dụng thì

sinh ra lợi ích vật chất nhất định Điều 175 BLDS năm 2005 quy định:

“Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại

Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản”

Quy định về hoa lợi và lợi tức tại điều luật này vẫn giữ nguyên quy định tại Điều 182 của BLDS năm 1995 Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại Ví

dụ như: trứng do gia cầm đẻ ra; hoa màu có được khi trồng các loại cây lương thực, thực phẩm; hoa quả có được khi trồng cây ăn trái,… Ngay sau khi được tách khỏi vật, hoa lợi được trở thành vật độc lập, từ thời điểm đó, hoa lợi thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu vật, trừ khi trong giao dịch dân sự các bên có quy định khác Lợi tức

là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản Thông thường lợi tức được tính thành một số tiền nhất định

Chỉ được gọi là hoa lợi, lợi tức khi những tài sản sinh ra từ tài sản gốc mà không làm giảm súc chất liệu của tài sản gốc (ở mức có thể nhận thấy được)

Việc phân loại tài sản thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức có ý nghĩa pháp

lý trong một số trường hợp sau:

Một là có ý nghĩa trong việc xác định chủ sở hữu của tài sản Về nguyên tắc

thì hoa lợi thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản, còn lợi tức sẽ thuộc về người

có quyền sử dụng hợp pháp tài sản đó Do đó, khi thuê hay mượn tài sản thì hoa lợi

sẽ thuộc về chủ sở hữu tài sản còn lợi tức sẽ thuộc về người sử dụng tài sản đó

Hai là để xác định trong một số trường hợp người chiếm hữu tài sản gốc

chỉ được hưởng hoa lợi sinh ra từ tài sản mà không được khai thác công dụng của tài sản để thu lợi tức Ví dụ như trường hợp chiếm hữu hợp pháp gia súc, gia cầm thất lạc thì người chiếm hữu được hưởng một nửa số gia súc hoặc toàn bộ số gia cầm sinh ra13; trường hợp cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ thì bên cầm giữ tài sản

có quyền thu hoa lợi từ tài sản cầm giữ và được dùng để bù trừ nghĩa vụ14

Tài sản có đăng ký quyền sở hữu, tài sản không có đăng ký quyền sở hữu Căn cứ vào giá trị của tài sản, vào vai trò và ý nghĩa của tài sản đối với chính

trị, kinh tế, an ninh quốc phòng và quản lý Nhà nước mà pháp luật có quy định về việc có đăng ký quyền sở hữu đối với một số loại tài sản nhất định Tài sản có đăng

ký quyền sở hữu là tài sản mà pháp luật bắt buộc phải đăng ký, nếu việc đăng ký không được thực hiện thì sẽ không được công nhận quyền sở hữu đối với tài sản đó Tài sản có đăng ký quyền sở hữu hiện nay như nhà, tàu thuyền, ô tô,… tài sản sản

13

Điều 242, 243 BLDS năm 2005

14 Điều 416 BLDS năm 2005

Trang 24

không có đăng ký quyền sở hữu là tài sản sản theo quy định của pháp luật không

buộc phải đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Việc phân loại tài sản thành tài sản có đăng ký quyền sở hữu và tài sản không có đăng ký quyền sở hữu có ý nghĩa trong việc xác định thời điểm phát sinh

và chuyển giao quyền sở hữu Theo đó, đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì theo quy định của pháp luật quyền sở hữu chỉ phát sinh khi hoàn thành thủ tục đăng

ký không phụ thuộc vào tài sản đó là động sản hay bất động sản15

Trường hợp chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán tài sản, đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật có quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì thời điểm chịu rủi ro của bên bán đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, kể cả khi bên mua chưa nhận được tài sản, nếu các bên không có thỏa thuận khác16

Tài sản cấm lưu thông, hạn chế lưu thông và tự do lưu thông Căn cứ vào

chế độ pháp lý đối với tài sản, người ta phân chia thành ba loại: Tài sản cấm lưu

thông, tài sản hạn chế lưu thông và tài sản tự do lưu thông

Tài sản cấm lưu thông là tài sản mà vì lợi ích của nó đối với nền kinh tế quốc dân, an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nhà nước cấm giao dịch như vũ khí quân dụng, ma túy, động vật quý hiếm,…

Tài sản hạn chế lưu thông là tài sản khi dịch chuyển trong giao dịch dân sự nhất thiết phải tuân thủ theo những quy định riêng của pháp luật Trong đó một số trường hợp phải có sự đồng ý, cho phép của cơ quan chức năng có thẩm quyền

Tài sản tự do lưu thông là những tài sản mà không có quy định nào của pháp luật cấm hoặc hạn chế lưu thông, dịch chuyển đối với các loại tài sản đó Trong giao dịch dân sự với các loại tài sản này, các chủ thể không cần phải xin phép Hầu hết các tài sản dùng trong sinh hoạt hằng ngày hiện nay đều là các tài sản

tự do lưu thông như xe máy, tivi, lương thực, thực phẩm,…

Việc xác định đúng loại tài sản này có ý nghĩa lớn trong việc xác định hiệu lực pháp lý của giao dịch dân sự Cụ thể, tài sản cấm lưu thông không thể trở thành đối tượng của giao dịch dân sự Vì vậy, nếu các bên vẫn xác lập các giao dịch này thì giao dịch đó sẽ là giao dịch vô hiệu tuyệt đối do có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật17 Còn đối với các loại tài sản hạn chế lưu thông thì khi xác lập các giao dịch các bên phải tuân thủ chặt chẽ các điều kiện giao dịch, nếu pháp luật có quy định phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các thủ tục đó

Trang 25

Tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai Căn cứ vào thời

điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu, tài sản sảm được phân loại thành tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai Tài sản hiện có là tài sản đã tồn tại vào thời điểm hiện tại và đã được xác lập quyền sở

hữu cho chủ sở hữu của tài sản đó

Tài sản được hình thành trong tương lai được hiểu là tại thời điểm xác lập nghĩa vụ hoặc giao dịch được giao kết, tài sản chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ nhưng chắc chắn sẽ có hoặc được hình thành trong tương lai Ví dụ như tiền lương chưa nhận, hoa màu sẽ được thu hoạch,… Ngoài ra, tài sản hình thành trong tương lai còn bao gồm tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểm giao kết tài sản sản đó mới thuộc sở hữu của các bên Như tài sản có được do mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, thừa kế nhưng chưa hoàn thành thủ tục chuyển giao quyền sở hữu18

1.2.3.2 Một số cách phân loại khác

Tài sản chung, tài sản riêng Việc phân loại thành tài sản chung và tài sản

riêng được dựa trên số lượng chủ sở hữu của tài sản Tài sản riêng là tài sản của một chủ sở hữu tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình Chủ sở hữu ở đây có thể là cá nhân hoặc chủ thể khác như Nhà nước, hợp tác xã, tổ chức xã hội… Tài sản chung

là tài sản của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản Sở hữu của các chủ sở hữu chung có thể tồn tại ở dạng sở hữu chung hợp nhất hay sở hữu chung theo phần

Tài sản xác định được chủ sở hữu, tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu. Cách phân loại nay dựa trên mối liên hệ giữa đối tượng và chủ thể quyền Tài sản xác định chủ sở hữu là tài sản tại thời điểm xem xét có chủ sở hữu đối với tài sản đó Tài sản vô chủ là tài sản tại thời điểm xem xét thì chủ sở hữu

đã từ chối quyền sở hữu của mình đối với tài sản đó và chưa có ai xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó Tài sản không xác định được chủ sở hữu là tài sản mà vào thời điểm xem xét không xác định được chủ sở hữu và cũng không có căn cứ để chứng minh rằng chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản đó

Tài sản hữu hình và tài sản vô hình là hai khái niệm được nhắc đến rất

nhiều trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn Tuy nhiên, hai khái niệm này vẫn chưa được đề cập chính thức trong BLDS năm 2005 Căn cứ để phân chia hai loại tài sản này là dựa vào trạng thái tồn tại trên thực tế có tồn tại hay không Tài sản hữu hình được hiểu là những tài sản được tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể mà con người có thể dùng các giác quan của mình nhận biết được hoặc có thể dùng đơn

18 Lê Đình Nghị, Giáo trình luật dân sự Việt Nam – Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2009, trang 179

Trang 26

vị cân đo đong đếm được Do đó, ngay cả những tài sản mà con người không nhìn thấy được như năng lượng, sóng phát thanh truyền hình cũng được coi là tài sản hữu hình bởi con người vẫn cảm giác được nó thông qua các giác quan của mình và được xác định được nó qua đơn vị đo lường Tài sản vô hình được hiểu là tài sản mà con người không thể dùng các giác quan để thấy được và không thể dùng các đại lượng để tính Xét theo nghĩa rộng, thì tài sản vô hình hiện nay chính là các quyền tài sản Tuy nhiên, trên thực tế nhắc đến tài sản vô hình người ta thường nhắc đến tài sản trí tuệ Do đó, theo một cách hiểu nhất định thì tài sản vô hình thường được hiểu

là các quyền tài sản phát sinh từ quyền sở hữu trí tuệ như quyền đối với quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng

1.3 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, lịch sử hình thành và phát triển của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

1.3.1.1 Khái niệm của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

Theo quan niệm truyền thống, đấu giá là việc mua bán hàng hóa, tài sản công khai mà những người mua sẽ trả giá từ giá thấp cho tới khi trả giá cao nhất và người bán đấu giá đồng ý bán bằng cách gõ búa Dưới góc độ pháp lý, định nghĩa

về bán đấu giá tài sản thường được quy định trong những điều luật cụ thể: Chẳng hạn điều 3, Luật bán đấu giá tài sản nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1996 quy định “Bán đấu giá là hình thức bán và mua tài sản công khai, theo đó các tài sản

và quyền tài sản được bán cho người trả giá cao nhất” Còn đạo luật của Floriada năm 2003 đưa ra khái niệm “Bán đấu giá tuyệt đối” là cuộc bán đấu giá không yêu cầu giá khởi điểm tối thiểu mà hàng hoá sẽ được bán cho người trả giá cao nhất

Ở Việt Nam, theo Từ điển Luật học thì: “Bán đấu giá tài sản là hình thức

bán công khai một tài sản, một khối tài sản; theo đó có nhiều người muốn mua tham gia trả giá, người trả giá cao nhất nhưng không thấp hơn giá khởi điểm là người mua được tài sản”

Theo quy định của pháp luật thì khái niệm bán đấu giá tài sản trên được xem xét trong từng lĩnh vực cụ thể: Chẳng hạn trong lĩnh vực thương mại, Luật Thương mại năm 2005 coi đấu giá hàng hóa là một trong số hoạt động thương mại cụ thể, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức bán đấu giá thực hiện việc bán hàng hóa công khai để chọn người mua trả giá cao nhất19 Những quy định liên quan đến đấu giá hàng hóa trong Luật thương mại năm 2005 nhằm phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ đấu giá hàng hóa, nâng cao hiệu quả và hiệu lực pháp lý

19

Khoản 1, Điều 185 Luật thương mại năm 2005

Trang 27

của hoạt động thương mại này Song trên thực tế, hoạt động bán đấu giá hàng hoá trong thương mại chưa thực sự phát triển mà chủ yếu là người bán hàng tự mình thực hiện việc bán hàng hóa qua thỏa thuận

Theo quy định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản thì bán đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá và tuân theo quy định của pháp luật về đấu giá

Theo quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010

của Chính phủ về bán đấu giá tài sản thì “Bán đấu giá tài sản là hình thức bán tài

sản công khai theo phương thức trả giá lên, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục được quy định tại Nghị định này Phương thức trả giá lên là phương thức trả giá từ thấp lên cao cho đến khi có người trả giá cao nhất 20 ” Những người tham gia mua tài sản bán đấu giá phải nộp một khoản lệ phí

theo quy định của pháp luật Khoản tiền này nhằm ràng buộc người đã đăng kí phải tham gia mua tài sản bán đấu giá Do đó, người đăng kí mà không tham gia đấu giá thì số tiền này không được lấy lại Nếu người đăng kí có tham gia đấu giá nhưng không mua được tài sản thì có thể nhận lại số tiền lệ phí mà mình đã đóng Khi tham gia đấu giá tài sản, người nào trả giá cao nhất và không thấp hơn giá khởi điểm thì người đó mua được tài sản Nếu trong cuộc bán đấu giá mà không có ai trả giá cao hơn giá khởi điểm thì cuộc bán đấu giá xem như bán không thành

Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự thật chất là một phần của hoạt động bán đấu tài sản được quy định trong Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản Nên khái niệm về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự cũng giống như khái niệm về bán đấu giá nhưng trong hoạt động này đối tượng được đem

ra bán đấu giá cụ thể hơn, liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự Như vậy

thông qua đó có thể hiểu rằng “Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự là là

hình thức bán tài sản công khai theo phương thức trả giá lên, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Tài sản bán đấu giá ở đây phải là tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án và người có tài sản bán đấu giá trong trường hợp này là chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự”

1.3.1.2 Đặc điểm của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

Không giống như hoạt động bán đấu giá trong lĩnh vực thương mại, hoạt động này được thực hiện thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền – Cơ quan thi

20

Khoản 1, Điều 2 Nghị định 17/2010/NĐ-CP

Trang 28

hành án dân sự Chính vì có sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên

về mặt lý thuyết sẽ đảm bảo quyền lợi của người mua được tài sản bán đấu giá, sau khi mua được tài sản nếu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không giao tài sản bán đấu giá thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ áp dụng thủ tục cưỡng chế để người mua nhận được tài sản

Việc bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự thường được hình thành không theo mong muốn của người phải thi hành án trong các bản án, quyết định được quy định tại Luật thi hành án dân sự năm 2008 Vì nếu người phải thi hành án

tự nguyện thì đã tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người được thi hành

án, không cần phải bán đấu giá thông qua cơ quan thi hành án dân sự Mặt khác, trong quá trình bán đấu giá nếu như muốn tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình thì người phải thi hành án cũng có thể thoả thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án

1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển của bán đấu giá tài sản trong thi hành

án dân sự Việt Nam

1.3.2.1 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1996

Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 28 tháng 8 năm 1989

Có thể nói dịch vụ bán đấu giá tài sản tại Việt Nam được hình thành và phát triển từ việc bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự Bởi lẽ, các quy định về bán đấu giá tài sản được xuất hiện đầu tiên trong pháp luật về thi hành án dân sự

Pháp luật về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự được đánh dấu bằng sự ra đời của Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 28 tháng 8 năm 1989 (Pháp lệnh năm 1989) Khoản 1, Điều 28 của Pháp lệnh năm 1989 quy định về bán đấu giá tài sản đã kê biên

Để thực hiện Pháp lệnh năm 1989, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ Tư pháp có Thông tư liên ngành số 06-89/TTLN ngày 07 tháng 12 năm 1989 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh năm 1989

Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993

Năm 1993, Pháp lệnh Thi hành án dân sự được ban hành mới thay thế cho Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989 (Pháp lệnh năm 1993) Pháp lệnh năm 1993

bổ sung thêm một số quy định về bán đấu giá tài sản thi hành án Quy định cụ thể hơn về thành phần Hội đồng định giá gồm đại diện cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan và do chấp hành viên chủ trì để đánh giá sơ bộ tài sản đã

kê biên21, người được thi hành án, người phải thi hành án được tham gia ý kiến vào

21

Điều 34 của Pháp lệnh năm 1993

Trang 29

việc định giá, nhưng quyền quyết định giá thuộc Hội đồng định giá Tài sản không bán được thì được định giá lại để tiếp tục bán đấu giá

1.3.2.2 Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2005

Nghị định số 86/1996/CP về việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản

Năm 1995, BLDS đầu tiên ở nước ta được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 8 thông qua Đây là một văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh các quan hệ dân sự trong đó có quan hệ về bán đấu giá tài sản BLDS năm 1995 đã quy định giao cho Chính phủ ban hành quy chế bán đấu giá Trên cơ sở đó, ngày 19/12/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 86/1996/CP về việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản Đây là văn bản pháp lý chuyên ngành đầu tiên điều chỉnh về lĩnh vực bán đấu giá tài sản với những quy định về tài sản bán đấu giá, người bán đấu giá, trình tự, thủ tục bán đấu giá, giải quyết khiếu nại, tranh chấp về bán đấu giá Có thể nói hoạt động bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp ở nước ta được hình thành từ năm 1997 trên

cơ sở của BLDS năm 2005 và Nghị định số 86/CP ngày 19/12/1996 của Chính phủ ban hành Quy chế bán đấu giá tài sản

Ngày 07 tháng 04 năm 1997 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 399/PLDSKT hướng dẫn một số quy định về bán đấu giá tài sản Ở đa số địa phương, quán triệt tinh thần Nghị định số 86/CP và Thông tư số 399/PLDSKT ngày

07 tháng 4 năm 1997 của Bộ Tư pháp, các Trung tâm đã tổ chức bán đấu giá công khai, rộng rãi, đúng trình tự, thủ tục; khách hàng tham gia đấu giá ngày càng nhiều Giá tài sản bán được phần lớn tăng hơn nhiều so với giá khởi điểm, làm lợi cho người có tài sản bán đấu giá Khoản lệ phí nộp ngân sách đạt được chỉ tiêu mà các Trung tâm đề ra, đảm bảo cho hoạt động bán đấu giá được liên tục và có hiệu quả

Nghị định số 86/1996/CP là văn bản pháp luật quan trọng đặt nền móng cho dịch vụ đấu giá trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, nội dung của Nghị định số 86/1996/CP được ban hành trong những năm đầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam nên vẫn chứa đựng các điều khoản bất cập, hạn chế nhất định, không còn phù hợp cần thay đổi cho phù hợp với thực tế

Nghị định số 05/2005/NĐ-CP của Chính phủ về bán đấu giá tài sản

Ngày 18/01/2005, Nghị định số 05/2005/NĐ-CP của Chính phủ về bán đấu giá tài sản được ban hành thay thế Nghị định số 86/1996/CP Ngay sau khi Nghị định số 05/2005/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2005/TT-BTP hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP

Nghị định số 05/2005/NĐ-CP là văn bản pháp luật chuyên ngành, là cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển dịch vụ bán đấu giá tài sản trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, cùng với Nghị định số

Trang 30

05/2005/NĐ-CP thì còn có nhiều văn bản quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh hoạt động bán đấu giá tài sản như BLDS năm 2005; Luật Thương mại năm 2005; Luật quản lý và sử dụng tài sản nhà nước năm 2008; Luật kinh doanh bất động sản năm 2006; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về bán đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất, Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng

10 năm 2004 về thi hành luật đất đai; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng

05 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT/BTNMT-BNV ngày 31/12/2004 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Tổ chức phát triển quỹ đất

1.3.2.3 Giai đoạn từ sau năm 2005 đến nay

Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản

Sau khi Nghị định số 05/2005/NĐ-CP được ban hành, hoạt động bán đấu giá tài sản đã đạt được những kết quả đáng kể, tạo cơ sở pháp lý quan trọng đối với việc củng cố và phát triển các tổ chức bán đấu giá tài sản ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, góp phần thống nhất pháp luật về trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản và đáp ứng phần lớn nhu cầu của cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực này

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, pháp luật về hoạt động bán đấu giá tài sản trong thời kỳ này còn nhiều vấn đề bất cập

Do vậy, việc thay thế Nghị định số 05/2005/NĐ-CP là sự cần thiết khách quan, để thiết lập cơ sở pháp lý chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ hơn cho hoạt động bán đấu giá tài sản Ngày 04 tháng 3 năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định

số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản

Luật Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008

Luật Thi hành án dân sự được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 14-11-2008, Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 28-11-2008, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2009

Trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, Luật Thi hành án dân

sự ăm 2008 là một đạo luật mới gồm 9 chương, 183 điều, lần đầu tiên được ban hành nhằm hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án, xác định rõ địa

Trang 31

vị pháp lý của cơ quan thi hành án, nhằm hạn chế tối đa tình trạng án tồn đọng kéo dài, bên cạnh việc sửa đổi một số quy định hiện hành, Luật Thi hành án dân sự năm

2008 bổ sung rất nhiều quy định mới, trong đó có những quy định trong việc bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự Cụ thể là Luật Thi hành án dân sự năm 2008

đã đổi mới cơ bản cơ chế xử lý tài sản để bảo đảm thi hành án theo hướng chuyên nghiệp hóa việc định giá tài sản kê biên Việc định giá, định giá lại và bán đấu giá chủ yếu do tổ chức thẩm định giá, tổ chức bán đấu giá thực hiện Mặt khác, việc định giá lại chỉ được thực hiện trong trường hợp có vi phạm về việc định giá và khi đương sự có yêu cầu định giá lại Trong trường hợp tài sản bán đấu giá không thành nếu giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho

người phải thi hành án Pháp lệnh thì quy định “Nếu sau hai lần giảm giá mà tài sản

vẫn không bán được thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản theo giá đã giảm để thi hành án Nếu người được thi hành án không nhận thì Chấp hành viên trả lại tài sản đó cho người phải thi hành án và áp dụng biện pháp cưỡng chế khác”

1.3.3 Vai trò của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

Trong tổ chức bộ máy nhà nước ta, thi hành án dân sự là lĩnh vực hoạt động được chú trọng và là một nhiệm vụ của ngành Tư pháp Trong những năm qua sự hình thành và phát triển của hoạt động này tạo ra những tiền đề quan trọng, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển ngành Tư pháp, xây dựng Nhà nước Cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Chính vì

thế, thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng Bản án, quyết định của Toà án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế Hoạt động thi hành án là công đoạn cuối cùng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Toà án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị -

xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước Chính vì vậy, Hiến

pháp năm 1992 đã quy định rõ: "Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân có

hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành"

Mặc dù quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng quyền và lợi ích cũng như nghĩa vụ của các đương sự vẫn còn là điều mang tính lý thuyết Để các bản án, quyết định đó trở thành hiện thực thì đòi hỏi sự tự nguyện của các bên

Trang 32

Trong trường hợp họ không chịu thi hành thì cần phải có sự can thiệp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Đối với vụ việc mà người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền nhưng lại không chịu thực hiện nghĩa vụ mặc dù có điều kiện sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế để bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự Với mục đích là nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án thực sự được thi hành trên thực tế nên việc quy định về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự mang nhiều ý nghĩa không chỉ đối với việc bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật mà còn cả đối với việc bảo vệ lợi ích của người bị hại, tránh được việc cố tình làm kéo dài quá trình thi hành án Mặt khác, việc áp dụng quy định về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự còn nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật thi hành án, nhằm khuyến khích người phải thi hành án tự nguyện trong việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án

Từ vai trò của việc thi hành án dân sự có thể nhận thấy được tầm quan trọng của việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự Bán đấu giá tài sản góp phần làm cho công tác thi hành án diễn ra nhanh hơn, sau khi bán đấu giá được tài sản giúp cho người được thi hánh án nhanh chóng nhận được tài sản của mình theo quyết định của bản án (tài sản này là một số tiền có được từ việc bán đấu giá tài sản của người phải thi hành án) Rất nhiều bản án sau khi có hiệu lực vẫn không thi hành được nếu như không qua công đoạn bán đấu giá tài sản Từ những vai trò quan trọng này nên pháp luật về việc bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự cần được hoàn thiện hơn nữa nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân (người phải thi hành án, người được thi hành án, người tham gia mua tài sản đấu giá,…)

Trong nội dung chương 1, người viết đã trình bày và phân tích kĩ về cơ sở

lý luận của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự qua các khái niệm, đặc điểm, vai trò và lịch sử hình thành, phát triển của hoạt động này Bên cạnh đó, người viết cũng đã phân tích nội dung những vấn đề có liên quan như về tài sản trong bộ luật dân sự, khái quát chung về hoạt động thi hành án Qua những phân tích trên người đọc có thể hiểu về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự Tiếp theo để nắm rõ việc áp dụng hoạt động này vào thực tế như thế nào thì người viết sẽ tìm hiểu những quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự và các quy định có liên quan

Trang 33

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Để việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự được tiến hành một cách nhanh chóng, áp dụng chính xác theo đúng trình tự pháp luật thì cần tìm hiểu

rõ những quy định của pháp luật về vấn đề này Chính vì thế trong chương 2, người viết sẽ tập trung trình bày nội dung và phân tích những quy định của pháp luật về việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự Hai văn bản quy phạm pháp luật chính chủ yếu điều chỉnh về vấn đề này là Luật thi hành án dân sự năm 2008 và Nghị định 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản Bên cạnh đó còn có những văn bản hướng dẫn thi hành khác như Nghị định 58/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự và Thông tư 23/2010/TT-BT Quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản

2.1 Nguyên tắc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

Việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự cũng được thực hiện theo các nguyên tắc giống như hoạt động bán đấu giá tài sản quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 17/2010/NĐ-CP Đó là các nguyên tắc: công khai, liên tục, khách quan, trung thực, bình đẳng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia Các nguyên tắc này nhằm đảm bảo việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật về lĩnh vực bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự, đồng thời cũng đảm bảo sự công bằng của những chủ thể tham gia

2.1.1 Tính công khai

Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự là hình thức bán tài sản một cách công khai Tính công khai thể hiện ở chỗ việc bán đấu giá được thông báo trước một thời gian trên các phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại nơi bán đấu giá để có thể thu hút được nhiều người quan tâm đến tài sản đấu giá tham gia Ngoài ra, tính công khai còn thể hiện qua toàn bộ quy trình, thủ tục bán đấu giá tài sản rất chặt chẽ do pháp luật quy định gồm việc thông báo giá khởi điểm, đăng kí tham gia đấu giá, có người điều hành phiên đấu giá tại buổi đấu giá có người tham gia trả giá

2.1.2 Tính khách quan, trung thực

Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự được thực hiện thông qua tổ chức bán đấu giá hoặc thông qua Chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự

Trang 34

Để đảm bảo tính khách quan Nghị định 17/2010/NĐ-CP cũng quy định rõ một số chủ thể đặc biệt không được tham gia đấu giá tài sản bao gồm như: Người làm việc trong tổ chức bán đấu giá tài sản, nơi thực hiện việc bán đấu giá tài sản đó, cha, mẹ,

vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của người đó; người trực tiếp giám định, định giá tài sản, cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của người đó; người được chủ sở hữu ủy quyền bán tài sản; người có thẩm quyền quyết định bán tài sản nhà nước; người kí hợp đồng thuê tổ chức bán đấu giá tài sản để bán đấu giá tài sản nhà nước Những người này có liên quan hoặc nguời thân của họ có liên quan nhất định đến tài sản đến tài sản bán đấu giá cũng như hoạt động bán đấu giá vì vậy nếu họ cũng được tham gia đấu giá tài sản thì không thể hiện được tính khách quan trong hoạt động bán đấu giá tài sản

+ Mở đầu cuộc bán đấu giá tài sản, đấu giá viên điều hành cuộc bán đấu giá giới thiệu bản thân, người giúp việc; thông báo nội dung cuộc bán đấu giá tài sản; công bố danh sách người đăng kí mua tài sản bán đấu giá và điểm danh để xác định người tham gia đấu giá tài sản; giới thiệu tài sản bán đấu giá; nhắc lại giá khởi điểm, thông báo bước giá và khoảng thời gian tối đa giữa các lần trả giá; trả lời các câu hỏi của người tham gia đấu giá;

+ Đấu giá viên yêu cầu người tham gia đấu giá tài sản trả giá Sau mỗi lần người tham gia đấu giá tài sản trả giá, đấu giá viên công bố công khai về giá đã trả cho người người tham gia đấu giá tài sản;

+ Nếu sau ba lần đấu giá viên nhắc lại giá cao nhất đã trả mà không có người trả giá cao hơn thì đấu giá viên công bố người mua được tài sản bán đấu giá Sau khi đấu giá viên công bố, người mua được tài sản bán đấu giá được coi là đã chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá

2.1.4 Tính bình đẳng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia

Cá nhân, đại diện cho tổ chức có đủ điều kiện đều có thể tham gia đấu giá

để mua tài sản bán đấu giá trong thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật Các bên đều bình đẳng như nhau, đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong hoạt động bán đấu giá Theo quy định thì người mua được tài sản bán đấu giá là người trả

Trang 35

giá cao nhất so với giá khởi điểm và so với những người cùng trả giá với mình Trong trường hợp không ai trả giá cao hơn giá khởi điểm thì tài sản được bán bằng giá khởi điểm Như vậy, việc xác định người mua được tài sản không dựa vào bất kỳ yếu tố nào khác mà chỉ dựa vào yếu tố giá mua, người nào đưa ra giá cao nhất sẽ là người mua được tài sản Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào hoạt động bán đấu giá tài sản bao gồm người có tài sản bán đấu giá, người bán đấu giá, người tham gia bán đấu giá, người mua được tài sản bán đấu giá Trong trường hợp các bên thực hiện không đúng thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Pháp luật về bán đấu giá tài sản đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia

Ngoài ra, theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản thì mọi cuộc bán đấu giá đều phải do đấu giá viên điều hành theo đúng trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản được quy định tại Nghị định 17/2010/NĐ-CP, trừ trường hợp Hội đồng bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt quy định tại Điều 20 của Nghị định 17/2010/NĐ-CP22

2.2 Tài sản bán đấu giá trong thi hành án dân sự

2.2.1 Tài sản bán đấu giá là quyền sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ bao gồm quyền tác giả và các quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng23

2.2.1.1 Quyền tác giả

Quyền tác giả 24 là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Quyền liên quan đến quyền tác giả25 (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa Quyền tác giả bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật

22

Điều 20 Hội đồng bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt

1 Hội đồng bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt được thành lập để bán đấu giá tài sản nhà nước, tài sản là quyền sử dụng đất giá có giá trị lớn, phức tạp hoặc trong trường hợp không thuê được tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp thực hiện việc bán đấu giá

2 Hội đồng bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt bao gồm đại diện của cơ quan có thẩm quyền quyết định bán đấu giá tài sản, cơ quan tài chính, cơ quan tư pháp cùng cấp và đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan

Trang 36

Chúng ta thường thấy các ví dụ về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc hay chương trình máy tính Đối với quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền sử dụng và khai thác tác phẩm Mọi hành vi sao chép, trích dịch, công bố phổ biến nhằm mục đích kinh doanh mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả đều bị coi là xâm phạm quyền tác giả (chúng ta thường thấy các lời cảnh báo như vậy trên băng đĩa) Sao băng đĩa lậu, sao chép phần mềm vi tính, in lậu sách giáo khoa bán ra thị trường,… cũng là hành vi xâm phạm quyền tác giả Trong một

số trường hợp, pháp luật cho phép chúng ta sao chép, trích đoạn một phần của tác phẩm (người ta gọi là sử dụng hạn chế)

2.2.1.2 Quyền sở hữu công nghiệp

Quyền sở hữu công nghiệp 26 là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh Quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ quyền

sử dụng độc quyền vì mục đích kinh tế và quyền định đoạt của các chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp

Luật về sở hữu công nghiệp bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo và uy tín kinh doanh Sở hữu công nghiệp không phải là một loại sở hữu có liên quan đến tài sản hữu hình dùng trong công nghiệp mà là sở hữu đối với tài sản vô hình Đó là sáng chế, giải pháp hữu ích,… Kể cả những đối tượng mà chúng ta có thể tưởng là tài sản hữu hình như kiểu dáng công nghiệp hay nhãn hiệu hàng hoá cũng không phải là tài sản hữu hình Cái mà pháp luật hướng tới bảo vệ (khách thể) trong quan

hệ pháp luật dân sự về sở hữu công nghiệp không phải là kiểu dáng một chiếc xe hay một bộ quần áo, hay một dấu hiệu gắn trên hàng hoá, mà là những đối tượng vô hình đứng đằng sau kiểu dáng hay nhãn hiệu, là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của chủ sở hữu đối tượng đó

2.2.1.3 Quyền đối với giống cây trồng

Quyền đối với giống cây trồng 27 là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu nhân giống Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp

Trang 37

của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được Ví dụ, sự kết hợp của giống lúa jasmin hạt dài của Ấn Độ (có mùi hương đặc biệt) với giống lúa hạt vàng của Hoa Kỳ (có tính kháng bệnh và cho năng suất cao, song có mùi khó chịu) có thể cho ra một giống lúa vừa có tính kháng bệnh và cho năng suất cao, vừa

có mùi hương dễ chịu Cái mà pháp luật hướng tới bảo vệ đối với giống cây trồng chính là tính mới, tính ổn định, đồng nhất và khả năng phân biệt với các giống cây trồng khác Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng

ký quy định tại Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

2.2.2 Tài sản bán đấu giá là vật

Theo quy định tại Mục 6 của Luật thi hành án dân sự 2008 thì những tài sản

là vật được bán đấu giá là:

Bất động sản: Theo quy định tại Điều 174 BLDS năm 2005 thì Bất động

sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai,

kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định

Tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm: Một

số loại tài sản cần phải đăng kí quyền sở hữu là nhà ở, quyền sử dụng đất và những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu (ôtô, môtô, tàu thuyền,…) Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm ghi vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm Các giao dịch bảo đảm sau đây phải đăng ký: Thế chấp quyền sử dụng đất; Thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng; Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay; Thế chấp tàu biển; Các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định Các giao dịch bảo đảm bằng tài sản không thuộc các trường hợp quy định nhu trên được đăng ký khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu

Vốn góp: Theo giải thích tại khoản 4 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2005

thì “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ

sở hữu chung của công ty Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ,

bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty” Như vậy, tài sản để tham gia vào việc góp vốn là rất đa

dạng Tuy nhiên, để tài sản góp vốn trở thành phần vốn góp, thì những tài sản trên

phải được định giá Cụ thể, tại khoản 1 Điều 30 Luật doah nghiệp quy định “Tài sản

Trang 38

góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá” Từ

những quy định trên cho thấy có sự phân biệt rõ ràng giữa phần vốn góp và tài sản góp vốn

Tại khoản 5 Điều 4 Luật doanh nghiệp giải thích về phần vốn góp như sau:

“Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp

vào vốn điều lệ” Ví dụ: công ty A có vốn điều lệ là 1000 tỉ VND, ông B góp 300 tỉ

VND vào vốn điều lệ của công ty A Như vậy tài sản góp vốn của ông B là tiền Việt Nam, phần vốn góp là 30% vốn điều lệ Theo các quy định của pháp luật, chủ sở hữu phần vốn góp (người góp vốn) có các quyền sau:

+ Quyền tài chính: được phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp tương ứng

với tỷ lệ giá trị phần vốn góp; gánh chịu phần lỗ tương ứng với tỷ lệ giá trị phần vốn góp nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, khi đang hoạt động cũng như khi doanh nghiệp kết thúc hoạt động; nhận phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp sau khi đã thanh toán hết các nghĩa vụ của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bị giải thể, phá sản

+ Quyền phi tài chính như quyền biểu quyết, quyền thông tin

Ngoài ra, phần vốn góp với tư cách là một tài sản có giá trị tiền tệ nên chủ

sở hữu được tự do chuyển giao trong giao dịch dân sự Tuy nhiên, việc chuyển giao này bị hạn chế bởi một số quy định theo Luật doanh nghiệp nhằm bảo đảm sự hoạt động lành mạnh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế

Như vậy, phần vốn góp là một tài sản đặc biệt, được hình thành thông qua việc góp vốn vào doanh nghiệp và tồn tại song song với sự tồn tại của doanh nghiệp Phần vốn góp không phải là tài sản cụ thể như những tài sản khi đem góp vốn

Tóm lại, tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty Những tài sản này khi được người góp vốn đem góp vào doanh nghiệp theo một trình tự, thủ tục nhất định thì nó đã trở thành tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp (pháp nhân) Do đó, cá nhân người góp vốn không còn quyền sở hữu đối với tài sản đã góp vốn Đổi lại, họ được sở hữu phần vốn góp và có các quyền như đã nêu trên

Một số loại động sản khác như: đồ vật bị khóa, đóng gói là những đồ vật

được buộc hay xếp hàng cho gọn để thuận tiện việc cất giữ, chuyên chở, mua bán Phương tiện giao thông bao gồm đường bộ, đường thủy, đường hàng không Một số loại phương tiện giao thông thường biết như ô tô, mô tô, tàu bay, tàu biển,…

Trang 39

Hoa lợi: theo quy định tại khoản 1, Điều 175 BLDS năm 2005 thì “Hoa

lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại” Như vậy theo quy định của pháp luật

thì hoa lợi cũng là một loại tài sản được đem ra để bán đấu giá trong thi hành án dân

sự

2.2.3 Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất

Quyền sử dụng đất là một loại tài sản, đó là bất động sản theo quy định của BLDS năm 2005, Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thi hành án dân sự năm 2008 quy định quyền sử dụng đất được kê biên, đấu giá để đảm bảo thi hành án

Quyền sử dụng đất được kê biên, đấu giá để thi hành án phải là quyền sử dụng đất của người phải thi hành án mà theo quy định của pháp luật về đất đai được phép chuyển quyền sử dụng Việc xác định quyền sử dụng đất nào của người phải thi hành án được chuyển quyền sử dụng đất căn cứ quy định của Luật Đất đai năm

2003

Người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có

quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó

2.3 Chủ thể tham gia vào hoạt động bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự

2.3.1 Người có tài sản bán đấu giá

Người có tài sản bán đấu giá là chủ sở hữu của tài sản, người được chủ sở hữu của tài sản ủy quyền bán tài sản, người có trách nhiệm chuyển giao tài sản để bán đấu giá hoặc cá nhân, tổ chức có quyền bán tài sản của người khác theo quy định của pháp luật Cụ thể, tại Thông tư 23/2010/TT-BTP hướng dẫn thi hành Nghị định 17/2010/NĐ-CP đã lý giải người có tài sản bán đấu giá là cá nhân, tổ chức sau đây:

- Chủ sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu ủy quyền bán tài sản;

- Người có trách nhiệm chuyển giao tài sản để bán đấu giá là cơ quan quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý sử dụng hoặc chủ trì xử lý tài sản nhà nước;

- Ngân hàng, tổ chức tín dụng đối với tài sản bảo đảm;

- Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự, cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền xử lý tài sản của người khác thông qua bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w