1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP áp DỤNG PHÁP LUẬT về bảo vệ NGƯỜI tố GIÁC, NGƯỜI làm CHỨNG, NGƯỜI bị hại TRONG tố TỤNG HÌNH sự và GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

87 288 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người tố giác, người làm chứng, người bị hại là những chủ thể có vai trò vô cùng to lớn trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự vì những thông tin cung cấp của họ có ý nghĩa hết sức

Trang 1

NGƯỜI TỐ GIÁC, NGƯỜI LÀM CHỨNG,

NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Lớp: Luật Tư Pháp 2-K35

Cần Thơ, 11/2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN



Trong suốt quá trình ho ̣c tâ ̣p , nghiên cứu và hoàn thành luâ ̣n văn này , tác giả đã nhâ ̣n được sự hướng dẫn , giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, các anh chị và các bạn sinh viên Với lòng kính tro ̣ng và biết ơn sâu sắ c, tác giả xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành

Trước tiên, tác giả xin chân thành cảm ơn tập thể quý thầy cô công tác tại Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ, những người đã truyền đạt kiến thức pháp lý, làm nền tảng để tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, các anh chị và các bạn sinh viên trong Khoa , xin chân thành cảm ơn gia đình đã luôn ở bên ca ̣nh đô ̣ng viên và giúp đỡ tác giả học tập và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến ThS Mạc Giáng Châu, người đã hết lòng giúp đỡ và tận tình hướng dẫn để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài nhưng chắc chắn rằng luận văn này không tránh khỏi một vài thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn sinh viên

Cần Thơ, ngày 16 tháng 11 năm 2012

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Văn Cảnh

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN



Cần Thơ, ngày tháng năm

Giảng viên hướng dẫn

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN



Cần Thơ, ngày tháng năm

Giảng viên phản biện

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ GIÁC, NGƯỜI LÀM CHỨNG, NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 5

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 5

1.1.1 Khái niệm người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 5

1.1.1.1 Khái niệm người tố giác 5

1.1.1.2 Khái niệm người làm chứng 7

1.1.1.3 Khái niệm người bị hại 10

1.1.2 Đặc điểm tố tụng của người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 13

1.1.2.1 Đặc điểm tố tụng của người tố giác 13

1.1.2.2 Đặc điểm tố tụng của người làm chứng 17

1.1.2.3 Đặc điểm tố tụng của người bị hại 21

1.1.3 Địa vị pháp lý của người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 24

1.1.3.1 Địa vị pháp lý của người tố giác 24

1.1.3.2 Địa vị pháp lý của người làm chứng 25

1.1.3.3 Địa vị pháp lý của người bị hại 27

1.2 Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 28

1.2.1 Cơ sở lý luận về bảo vệ người người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 28

1.2.1.1 Vai trò của người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 28

Trang 6

1.2.1.2 Tầm quan trọng của việc bảo vệ người tố giác, người làm

chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 33

1.2.2 Quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 35

1.2.2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 35

1.2.2.2 Quy định của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự 38

1.2.2.2 Các quy định pháp luật khác có liên quan 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ GIÁC, NGƯỜI LÀM CHỨNG, NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 43

2.1 Thực tiễn về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 43

2.1.1 Hình thức đe dọa, xâm hại người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 43

2.1.1.1 Dụ dỗ, mua chuộc người tố giác, người làm chứng, người bị hại 43

2.1.1.2 Khống chế, đe dọa người tố giác, người làm chứng, người bị hại 44

2.1.1.3 Trả thù người tố giác, người làm chứng, người bị hại 45

2.1.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 46

2.1.2.1 Về phía cơ quan tiến hành tố tụng 46

2.1.2.2 Về phía người tố giác, người làm chứng, người bị hại 49

2.2 Các giải pháp pháp lý và giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 51

2.2.1 Các giải pháp pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 51

Trang 7

2.2.1.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ người

tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 51 2.2.1.2 Kiến nghị ban hành đạo luật bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 55

2.2.2 Các giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự 64

2.2.2.1 Bố trí lực lượng bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người

bị hại và những người thân thích của họ 64 2.2.2.2 Không tiếc lộ hoặc tiết lộ hạn chế các thông tin liên quan đến người tố giác, người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ 65 2.2.2.3 Sơ tán tạm thời người tố giác, người làm chứng, người bị hại

và những người thân thích của họ đến địa điểm an toàn 67 2.2.2.4 Thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc học tập và thay đổi các yếu

tố về nhân thân của người tố giác, người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ 68 2.2.2.5 Xác định rõ nguồn tài chính cấp cho công tác bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ 69 2.2.2.6 Các giải pháp khác 70

KẾT LUẬN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, đòi hỏi cần phải xây dựng một

xã hội có những quy định pháp luật chặt chẽ, cụ thể, trong đó, quyền của con người phải được tôn trọng và bảo vệ Theo quy định của pháp luật hiện hành, mọi công dân đều có quyền được Nhà nước bảo vệ tránh các nguy cơ bị xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Người tố giác, người làm chứng, người bị hại là những chủ thể có vai trò vô cùng to lớn trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự vì những thông tin cung cấp của họ có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp các cơ quan chức năng phát hiện tội phạm và giải quyết đúng đắn, triệt để các vụ án đó Với nghĩa vụ công dân của mình, người tố giác, người làm chứng, người bị hại đã tích cực phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ tội phạm và người phạm tội, góp phần áp dụng các hình thức xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (sau đây viết tắt là BLTTHS năm 2003) cũng đã có những quy định ngày càng hoàn thiện hơn các chế định về người tố giác, người làm chứng, người bị hại, theo hướng mở rộng quyền của họ và những biện pháp bảo đảm tố tụng cho các quyền đó Trong BLTTHS năm 2003, một nguyên tắc

đã được khẳng định: “Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật”

(Điều 7 BLTTHS năm 2003) Cụ thể hoá nguyên tắc này, BLTTHS năm 2003 đã quy định trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người làm chứng, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ khi tính mạng, sức khoẻ của người đó bị đe doạ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của họ bị xâm hại Khoản

3 Điều 55 BLTTHS năm 2003 cũng quy định: “Người làm chứng có quyền yêu cầu

cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng” Tuy nhiên, việc

quy định về vấn đề bảo vệ những người này trong BLTTHS năm 2003 vẫn chưa tạo

Trang 9

cơ sở pháp lý phù hợp để khuyến khích họ tích cực thực hiện nghĩa vụ công dân của mình

Hoạt động của tội phạm thì lại ngày càng nguy hiểm và tinh vi hơn trong việc trả thù, đe dọa, hành hung người tố giác, người làm chứng, người bị hại, từ đó đã tạo nên thực tế là trong nhiều vụ án hình sự, người tố giác, người làm chứng, người bị hại đã tỏ ra e ngại, bất hợp tác hoặc hợp tác nhưng không tích cực với các cơ quan

có thẩm quyền trong các quá trình phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm Nguyên nhân của tình trạng trên không chỉ do chủ quan của người tố giác, người làm chứng, người bị hại, mà còn do những thiếu sót, bất cập của chế định pháp lý hiện hành về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại Thực tế trên đây bắt nguồn từ vấn đề nhận thức như thế nào là người tố giác, người làm chứng, người bị hại, phạm

vi những người này, họ xuất hiện từ thời điểm nào, họ cần được bảo vệ như thế nào, quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng đối với người tố giác, người làm chứng, người bị hại ra sao,… vẫn chưa có sự nhận thức và hành động thống nhất, dẫn đến nhiều quy định pháp luật, đặc biệt là BLTTHS năm 2003 đang còn bỏ ngỏ hoặc có quy định nhưng chưa đủ những phương tiện cần thiết để bảo vệ cho người

tố giác, người làm chứng, người bị hại

Với những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Áp dụng pháp luật về

bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự và giải pháp hoàn thiện” để góp phần nâng cao hiệu quả pháp luật về bảo vệ những người

này là rất cần thiết và mang tính thực tiễn cao Đó cũng chính là lý do thúc đẩy tác giả lựa chọn và nghiên cứu đề tài luận văn này

2 Phạm vi nghiên cứu

Về phạm vi nghiên cứu, đề tài này tập trung phân tích quy định của BLTTHS năm 2003 về quyền được bảo vệ của người tố giác, người làm chứng, người bị hại trên cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn thực hiện những quy định của pháp luật

về những quyền này của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết các

vụ án hình sự

3 Mục đích nghiên cứu

Về mục đích nghiên cứu, đề tài làm rõ một số vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn của việc quy định về bản chất và địa vị pháp lý của người tố giác, người làm

Trang 10

chứng, người bị hại, thực trạng của việc bảo vệ những người này trong vụ án hình sự; từ đó, tìm ra những nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, đề tài đặt ra những nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Phân tích cụ thể quy định về bản chất và địa vị pháp lý người tố giác, người làm chứng, người bị hại; vai trò của họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

- Nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật và bất cập của thực tiễn trong việc bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại

- Tìm kiếm và phân tích những nguyên nhân của thực trạng, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự

- Hoàn thành đề tài nghiên cứu mang tính khoa học và tính thực tiễn cao để làm nguồn tư liệu phục vụ học tập, nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền con người, đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh; phương pháp nghiên cứu trên tài liệu, sách vở; phương pháp nghiên cứu, phân tích luật viết và một số phương pháp luận khác Trong đó, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh là các phương pháp quan trọng và được tác giả sử dụng chủ yếu trong quá trình thực hiện đề tài này

Trang 11

- Chương 2 Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự

Đề tài “Áp dụng pháp luật về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người

bị hại trong tố tụng hình sự và giải pháp hoàn thiện”là một đề tài khá phức tạp và manh tính thực tiễn cao, đòi hỏi tác giả cần có kiến thức sâu rộng cả về lý luận lẫn thực tiễn về bảo vệ người tố giác, người làm chứng và người bị hại trong tố tụng hình sự Ngoài ra, tác giả phải biết nắm bắt được những vấn đề cốt lõi, những tồn tại

và bất cập còn gặp phải để từ đó mạnh dạn đề xuất giải pháp giải quyết Là một sinh viên năm cuối, lần đầu tiên làm quen với một đề tài nghiên cứu khoa học và là một

đề tài còn mới mẻ, với thời gian nghiên cứu còn hạn chế cũng như vốn kiến thức hiểu biết có giới hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót hay khiếm khuyết trong việc nghiên cứu đề tài Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, đánh giá, phê bình của thầy cô và các bạn sinh viên

Trang 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ GIÁC, NGƯỜI LÀM CHỨNG, NGƯỜI BỊ HẠI TRONG

TỐ TỤNG HÌNH SỰ1.1 Một số vấn đề lý luận chung về người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự

1.1.1.1 Khái niệm người tố giác

Người tố giác tội phạm là một trong những người có liên quan đến vụ án hình

sự Trong lịch sử lập pháp của tố tụng hình sự Việt Nam, Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) là bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều đại nhà Lê đã đề

cập đến người tố giác tội phạm tại Điều 500 Bộ luật này: “Những người biết có kẻ mưu phản loạn, mưu đại nghịch, thì phải đến mật báo ngay với các quan ty gần đó,…” Tiếp đến, Điều 158 Bộ luật Hồng Đức cũng đã quy định về việc tố giác tội

phạm thông qua việc phân biệt trách nhiệm phát hiện, tố giác tội phạm giữa quan và

dân thường như sau: “Các quan giám lâm, quan chủ ty biết thuộc viên phạm tội mà không phát giác, xử biếm hai tư, đàn cư quan biết mà không phát giác, tội cũng như thế Những người biết hàng xóm của mình phạm tội mà không phát giác, tội giảm một bậc,…”

Theo hướng dẫn thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 (sau đây viết tắt

là BLTTHS năm 1988) tại Thông tư liên ngành số 03-TT/LN năm 1992 thì “Tố giác

và tin báo về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự do công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (gọi tắt là

cơ quan, tổ chức) cung cấp cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết, do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú” Trong khi đó, theo Từ điển Luật học thì: “Tố giác về tội phạm là báo cho cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền biết về hành vi phạm tội của người nào đó”1

; “Tin báo về tội phạm

là thông tin về tội phạm do cơ quan, tổ chức cung cấp dùng làm cơ sở để khởi tố vụ

1 Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, 2006, tr 785

Trang 13

án hình sự”2 Theo tác giả thì tố giác tội phạm là khái niệm có nội hàm bao gồm cả

tố giác và tin báo về tội phạm bởi vì về bản chất, các khái niệm tố giác về tội phạm

và tin báo về tội phạm đều là những nguồn thông tin thuộc một trong những nội dung quan trọng để góp phần xác định dấu hiệu tội phạm mà các cơ quan tiến hành

tố tụng nắm được thông qua các chủ thể khác (bên cạnh nguồn thông tin này, các cơ quan tiến hành tố tụng còn có thể xác định được dấu hiệu của tội phạm qua các kênh khác như trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm hoặc người phạm tội tự thú)

Về khái niệm người tố giác tội phạm không được quy định cụ thể trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành BLTTHS năm 2003 và các văn bản dưới luật mới chỉ quy định về giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, không có định nghĩa thế nào là tố giác và tin báo về tội phạm Theo đó, tại Điều 100

BLTTHS năm 2003 quy định: “Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1 Tố giác của công dân; 2 Tin báo của cơ quan, tổ chức; 3 Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng,…” Trong khi đó, tại khoản 1 Điều 25 BLTTHS

năm 2003 trong việc quy định trách nhiệm của các tổ chức và công dân trong đấu

tranh phòng ngừa và chống tội phạm đã nêu rõ: “Các tổ chức, công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức” Như vậy, thông qua khái niệm tố giác về tội phạm và tin báo về

tội phạm cũng như quy định của BLTTHS năm 2003, chúng ta có thể thấy việc tố giác tội phạm có thể do cá nhân, tổ chức thực hiện

Vấn đề đặt ra là người tố giác tội phạm sẽ tố giác vào thời điểm nào, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hay tội phạm đã hoàn thành Theo quy định của Bộ luật

hình sự hiện hành (sau đây viết tắt là BLHS) thì “Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm” (Điều 17 BLHS); “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội” (Điều 18 BLHS) còn đối với tội phạm đã hoàn thành thì một tội

phạm xem đã hoàn thành khi hành vi phạm tội đã thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm Như chúng ta đã biết, một trong những mục

2 Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, 2006, tr 765

Trang 14

đích quan trọng của tố tụng hình sự là phát hiện kịp thời và ngăn chặn hành vi phạm tội, điều đó cho thấy việc tố giác tội phạm cũng phải đảm bảo tính kịp thời và do đó,

có thể kết luận rằng người tố giác tội phạm có thể tố giác tội phạm bất thời điểm nào với cơ quan có thẩm quyền khi biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện

Từ những phân tích và lập luận trên đây, có thể đưa ra khái niệm người tố

giác tội phạm như sau: Người tố giác tội phạm là cá nhân, tổ chức biết được một tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện và trình báo với cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về những gì mình biết

1.1.1.2 Khái niệm người làm chứng

Chế định người làm chứng là một trong những chế định cổ xưa nhất trong lịch

sử tố tụng hình sự.3 Theo quy định của pháp luật tố tụng của nhiều nước trong đó có Việt Nam, người làm chứng trong vụ án hình sự là người bằng mắt thấy, tai nghe hoặc do những nguồn thông tin khác cung cấp mà biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án hình sự được cơ quan điều tra lấy lời khai, được tòa án triệu tập đến làm chứng tại phiên tòa Trong lịch sử lập pháp của tố tụng hình sự Việt Nam, Điều

714 Bộ luật Hồng Đức lần đầu tiên đã quy định về người làm chứng: “Những người làm chứng trong việc kiện tụng nếu xét ra ngày thường đôi bên kiện tụng là người thân tình hay có thù oán, thì không cho phép ra làm chứng Nếu những người ấy giấu giếm ra làm chứng, thì khép vào tội không nói đúng sự thực Hình quan, ngục quan biết mà dung túng việc đó đều bị tội”

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự áp dụng tại Bắc kỳ dưới thời Pháp thuộc, người làm chứng được quy định tại các Điều 20 - 30.4

Điều 20 Bộ luật này quy định:

“Phàm người chứng đã liệt danh trong đơn khống và các người mà quan thẩm phán liệu nghĩ đến chất vấn trong khi thẩm cứu, thì đều phải bị đòi gọi đến Tòa án để chất vấn” Nghĩa vụ của người làm chứng cũng được quy định tại Điều 22 của Bộ luật này: “Phàm người chứng đã bị chiếu lệ đòi gọi, không có cớ gì hợp lẽ mà tự ý không đến hầu trước Tòa sơ cấp nghĩ xử việc vi cảnh, hoặc trước Tòa án tỉnh, hoặc trước Tòa đệ tam cấp hoặc trước quan thẩm cứu, thì có thể bị ép bắt phải đến hầu,

Trang 15

và vì cớ không đến hầu phải bị xử phạt bạc từ 1 đồng đến 5 đồng, và phạt giam từ 1 ngày đến 5 ngày, hoặc hai thứ chỉ phải chịu một”

BLTTHS năm 1988 cũng đã có quy định về người làm chứng tại khoản 1

Điều 43 Theo Điều luật này thì “Người nào biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng”

Như vậy, chế định người làm chứng nói chung cũng như việc quy định về quyền, nghĩa vụ của người làm chứng nói riêng được đề cập từ rất sớm trong lịch sử lập pháp của tố tụng hình sự Việt Nam Pháp luật hầu hết các quốc gia đều có những quy định về người làm chứng và lời khai của người làm chứng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án một cách chính xác, khách quan, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm, tăng niềm tin của nhân dân vào pháp luật Với những ý nghĩa trên, BLTTHS năm 2003 đã ghi nhận người làm chứng là người tham gia tố tụng hình sự tại Điều 55, có sự bổ sung, kế thừa các quy định của BLTTHS năm 1988 Theo đó, khoản 1 Điều 55 BLTTHS năm 2003 quy định:

“Người nào biết được các tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng” Như vậy, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì một

người chỉ có thể mang tư cách của người làm chứng khi thỏa mãn các điều kiện sau:

- Người làm chứng là người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án Nhận

thức của người làm chứng về các tình tiết của vụ án có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nên cũng có thể chia người làm chứng thành hai loại là người làm chứng trực tiếp và người làm chứng gián tiếp Ví dụ, Học và Soạn là hai đối tượng ham chơi, lười làm

và đã sống với nhau như vợ chồng một thời gian dài Để có tiền ăn chơi, sài thuốc

“lắc” và tổ chức đám cưới, cặp “mèo mả, gà đồng” đã nghĩ ra thủ đoạn cho Soạn đến xin làm tiếp viên tại quán gội đầu thư giãn để tìm cách phối hợp với Học cướp tài sản của tiếp viên khác Để thực hiện âm mưu ấy, Soạn đã đến quán gội đầu, thư giãn Việt Thanh ở Quán Trắng, thị trấn Lim, Tiên Du để xin làm tiếp viên Trưa ngày 7/2/2012, trong quán chỉ có Soạn và một tiếp viên khác là chị Nguyễn Thị Huế với nhiều tài sản trên người Soạn đã tìm cách lánh mặt và báo cho Học giả làm khách gội đầu đến quán Khi chị Huế ra đón khách thì bị Học dùng thanh sắt, bình xịt hơi cay tấn công liên tiếp vào đầu và mặt, bịt miệng, trói chặt chân tay và cướp đi

1 nhẫn, 1 lắc, 1 điện thoại di động và 2 triệu đồng Sau khi Học đã cao chạy xa bay, Soạn mới quay lại cùng mọi người giúp đỡ “đồng nghiệp”, trình báo cơ quan chức

Trang 16

năng, vờ như không biết về diễn biến sự việc.5 Như vậy, trong vụ án này không có người làm chứng trực tiếp mà chỉ có người làm chứng gián tiếp là Soạn Những tình tiết mà người làm chứng biết được có thể liên quan đến đối tượng chứng minh được quy định tại Điều 63 BLTTHS năm 2003 hoặc các tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án (có ý nghĩa chứng minh) Việc người làm chứng biết được các tình tiết của vụ án là một thực tế khách quan và do đó, họ có thể được triệu tập đến

để khai báo về thực tế khách quan đó với tư cách người làm chứng cung cấp chứng

cứ cho người có trách nhiệm chứng minh Việc một người biết về các tình tiết liên quan đến vụ án hình sự là một thực tế khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan tiến hành tố tụng hay người tiến hành tố tụng

- Người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án chỉ có thể trở thành người làm chứng khi được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập Trong thực tiễn điều tra

có nhiều người biết tình tiết của vụ án đang điều tra nhưng không trở thành người làm chứng bởi luật quy định những trường hợp này không được làm chứng.6 Cũng

có trường hợp cơ quan có thẩm quyền xét thấy không cần thiết phải triệu tập họ để lấy lời khai với tư cách người làm chứng trong vụ án Trường hợp có nhiều người biết các thông tin liên quan đến vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng phải có sự lựa chọn Những người biết được nhiều tin tức quan trọng, biết được các tình tiết một cách sâu sắc, chính xác, đầy đủ; những người có khả năng mô tả lại một cách tốt nhất những hiểu biết của họ mà cơ quan điều tra đang cần; những người có thiện chí,

có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ người làm chứng thường được các cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn Việc lựa chọn triệu tập ai là người làm chứng sẽ làm giảm được khối lượng công việc, tránh tình trạng lan man trong thu thập chứng cứ Trường hợp điển hình là trong vụ án chấn động ở Sóc Trăng với 130 người liên quan, trong vụ án này việc có quá nhiều lời khai của nhiều nhân chứng đã làm cho việc điều tra, truy tố bị cáo còn nhiều vấn đề chưa chính xác, thuyết phục có thể dẫn

5 Ngô Tuấn: Đóng vai tiếp viên để cướp tài sản của “đồng nghiệp”, Báo điện tử Bắc Ninh, 2012,

http://baobacninh.com.vn/news_detail/72979/dong-vai-tiep-vien-de-cuop-tai-san-cua-dong-nghiep.html , [truy cập ngày 22/9/2012]

6 Xem phần 1.1.2.2 Chương 1 của Luận văn này, tr 18

Trang 17

tới oan sai, do đó, việc triệu tập ai là người làm chứng có vai trò rất quan trọng trong việc thu thập chứng cứ.7

Với những phân tích và lập luận trên, có thể kết luận về khái niệm người làm

chứng như sau: “Người làm chứng là người biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án và được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến để làm rõ những tình tiết đó”.8

1.1.1.3 Khái niệm người bị hại

Người bị hại là một khái niệm quen thuộc trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, thế nào là người bị hại thì cho đến nay vẫn chưa có sự nhận thức đầy đủ, các ý kiến còn khác nhau, chưa có sự thống nhất Để có sự nhận thức đầy đủ và thống nhất về khái niệm người bị hại, cần tiếp cận khái niệm này dưới những phương diện khác nhau:

Thứ nhất, về mặt ngôn ngữ học, có thể hiểu người bị hại là con người cụ thể

trong xã hội, chịu sự tác động tiêu cực của sự việc, hành vi hoặc bất kỳ sự tác động nào khác khác dẫn đến những thiệt thòi, mất mát hay tổn thương cho chính họ Tất nhiên, sự tác động đó là trái với ý muốn của người bị hại và họ tiếp nhận một cách thụ động Thiệt hại gây ra cho người bị hại có thể là thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất và không cần phải giới hạn mức độ thiệt hại

Thứ hai, về mặt ngôn ngữ pháp lý thì “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra Người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể là pháp nhân”.9

Thứ ba, theo quy định pháp luật hiện hành, tại Điều 51 BLTTHS năm 2003 quy định: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra” Với quy định này, người bị hại thường được hiểu là “con người cụ

7

Xem chi tiết tại đây: Phiên Giang, Vụ án chấn động Sóc Trăng với 130 người liên quan, Báo điện tử Người

đưa tin, 2012, http://www.nguoiduatin.vn/vu-an-chan-dong-soc-trang-voi-130-nguoi-lien-quan-a34799.html , [truy cập ngày 13/10/2012]

8 Mạc Giáng Châu – Nguyễn Chí Hiếu: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam – Học phần 1 “Những vấn

đề chung của Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ, tr 55

9 Trường Đại học Luật Hà Nội: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, 1999, tr 198

Trang 18

thể bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại Thể chất, tinh thần, tài sản của họ phải là đối tượng của tội phạm”.10

Ở nước ta, khái niệm người bị hại lần đầu tiên được quy định trong Thông tư

số 16/TATC ngày 27/09/1974 của Tòa án Nhân dân tối cao.11 Theo đó, người bị hại

được định nghĩa “là công dân đã bị kẻ phạm pháp trực tiếp xâm phạm đến thể chất, tài sản, hoặc xâm phạm về tinh thần (như bị lăng nhục, đánh, giết, trộm cắp, lừa đảo )” Định nghĩa đã chỉ ra người bị hại là cá nhân, không thể là cơ quan, tổ chức,

đồng thời đối tượng tác động của tội phạm là thể chất, tinh thần hoặc tài sản của cá nhân đó

Sau đó, BLTTHS năm 1988 đã đưa ra khái niệm người bị hại tại khoản 1

Điều 39 như sau: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc

về tài sản do tội phạm gây ra” Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 BLTTHS năm

2003 thì “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra” Như vậy, giữa hai khái niệm về người bị hại trong hai Bộ luật Tố

tụng hình sự trên không có sự thay đổi về chất mà chỉ có sự thay đổi về hình thức, văn phạm ngắn gọn hơn Đây có thể được coi là một quy phạm định nghĩa nêu ra khái niệm pháp lý về người bị hại Quy phạm này chứa đựng các dấu hiệu để xác định người bị hại

Về chủ thể, có hai quan điểm về người bị hại Quan điểm thứ nhất cho rằng người bị hại chỉ có thể là thể nhân, một con người cụ thể, tổ chức hoặc pháp nhân không thể là người bị hại Quan điểm thứ hai thì cho rằng, ngoài cá nhân là người bị hại, trong trường hợp tổ chức, pháp nhân bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì phải xem tổ chức hoặc pháp nhân đó là người bị hại.12

Theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam, chỉ coi người bị hại là công dân, pháp nhân hay tổ chức xã hội không được coi

là người bị hại.13 Tuy nhiên, về vấn đề kiểm tra căn cước của những người được triệu tập và có mặt tại phiên toà, Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004

của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao lại hướng dẫn như sau: “Trong trường hợp người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,

10

Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, 2005,

tr.103

11 Lê Tiến Châu: Người bị hại trong tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 1, 2007

12 Lê Tiến Châu: Người bị hại trong tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 1, 2007

13

Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, 2005, tr

103

Trang 19

nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cơ quan, tổ chức thì khai về: tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức; họ tên; tuổi; nghề nghiệp; nơi cư trú của người đại diện hợp pháp cho cơ quan, tổ chức” Do đó, nếu hiểu theo hướng dẫn này thì người bị

hại cũng có thể là cơ quan, tổ chức Tuy nhiên, có thể thấy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt nam hiện hành thì tổ chức không thể là người bị hại Người bị hại trong

tố tụng hình sự chỉ có thể là một con người cụ thể, bị hành vi phạm tội gây ra về thiệt hại thể chất (tính mạng, sức khỏe), tinh thần (danh dự, nhân phẩm) hoặc tài sản

Cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra không thể trở thành người

bị hại trong tố tụng hình sự, nếu họ bị thiệt hại về thể chất và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, họ sẽ được xác định là nguyên đơn trong vụ án hình sự Thân nhân của người bị hại (trong trường hợp người bị hại đã chết) cũng không được xác định

là người bị hại mà chỉ được xác định là người đại diện hợp pháp của người bị hại, có các quyền của người bị hại theo quy định của pháp luật.14

Về thiệt hại, người bị hại bị tội phạm xâm phạm đến thể chất, tinh thần hoặc tài sản Thiệt hại về thể chất là bị xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ như bị giết, bị gây thương tích,… Thiệt hại về tinh thần là bị xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm,

uy tín như bị xỉ nhục, vu khống, miệt thị,… Thiệt hại về tài sản là tài sản của người

bị hại bị cướp, bị cưỡng đoạt, bị trộm cắp,… Trong các loại thiệt hại trên đây thì chỉ

có thiệt hại về thể chất và thiệt hại về tài sản là có thể xác định được trên thực tế còn đối với thiệt hại về tinh thần thì rất khó xác định

Về nguồn gốc, thiệt hại của người bị hại do tội phạm trực tiếp gây ra bởi cái

mà tội phạm hướng đến chính là thể chất, tinh thần hoặc tài sản của người bị hại

Tuy nhiên, thế nào là do tội phạm gây ra, theo tác giả Đinh Văn Quế thì “khoa học luật hình sự chỉ coi là tội phạm khi có đủ bốn yếu tố cấu thành và khi đã là tội phạm rồi thì lúc đó mới có người bị hại trong vụ án hình sự”.15

Như vậy, có thể hiểu người bị hại như sau: Người bị hại là người bị thiệt hại

về thể chất, tinh thần và tài sản do tội phạm gây ra

Trang 20

1.1.2 Đặc điểm tố tụng của người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự

1.1.2.1 Đặc điểm tố tụng của người tố giác

Người tố giác tội phạm có thể không phải là người bị hại hoặc là người có quan hệ trực tiếp đến tội phạm đã xảy ra Trong khi đó, tin của các Cơ quan khác

của Nhà nước hoặc của các tổ chức xã hội về tội phạm có thể là tin báo về tội phạm

mà các cơ quan hoặc tổ chức đó trực tiếp thấy có hành vi phạm tội xảy ra Điều đó cho thấy, một đặc điểm tố tụng của người tố giác tội phạm là không giới hạn phạm

vi chủ thể tố giác, có nghĩa là bất cứ cá nhân, tổ chức nào khi biết được một tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện thì đều có thể trình báo với cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về những gì mình biết Do

đó, mọi công dân có quyền tố giác tội phạm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ngay cả khi tội phạm đó đã xảy ra từ lâu.16

Theo quy định tại Điều 101 BLTTHS năm 2003 thì “Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan, tổ chức khác Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú có trách nhiệm báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát.” Tiếp đến, tại Điều 103 BLTTHS năm

2003 quy định: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố

do cơ quan nhà nước chuyển đến Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.” Tố giác của công dân là sự tố cáo

về những hành vi nào đó mà họ cho là tội phạm Chẳng hạn như hành vi sau đây: Vào lúc 3 giờ ngày 4/12/2010 tại đường Xô Viết Nghệ Tĩnh thuộc phường Hòa Cường Nam, anh Nguyễn Đức Kiên đã phát hiện một thanh niên có hành vi đập bể nắp cống công trình công cộng để lấy gang thép Sau khi phát hiện anh Kiên đã nhanh chóng báo cho Công an phường Hòa Cường Nam để cùng phối hợp bắt giữ đối tượng ngay tại hiện trường, đó là Võ Đức Duy (27 tuổi, trú tổ 9, phường Hòa Khánh Nam, Liên Chiểu), Duy chính là kẻ đã gây ra hàng loạt vụ trộm cắp và phá

16 Đức Toàn: Bố dượng quấy rối, tố cáo thế nào?, Báo điện tử VietNamNet, 2012,

http://vietnamnet.vn/vn/ban-doc-phap-luat/87328/bo-duong-quay-roi to-cao-the-nao-.html , [truy cập ngày 12/9/2012]

Trang 21

hủy các công trình công cộng trên địa bàn Đà Nẵng mà Công an quận đang truy tìm.17 Trong ví dụ trên, anh Nguyễn Đức Kiên đã phát hiện một thanh niên có hành

vi đập bể nắp cống công trình công cộng để lấy gang thép và theo anh thì hành vi này tội phạm nên anh đã trình báo với cơ quan có thẩm quyền Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong việc trình báo với các cơ quan có thẩm quyền về hành

vi phạm tội, BLTTHS năm 2003 không chỉ cho phép công dân có quyền tố giác tội phạm với các cơ quan tiến hành tố tụng là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án

mà còn quy định công dân được tố giác tội phạm với các cơ quan, tổ chức khác,

Đó có thể là các cơ quan Nhà nước như Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội,… hoặc tổ chức, đoàn thể xã hội như Hội liên hiệp phụ nữ, Ủy ban Bảo vệ quyền trẻ em, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,… Như trường hợp của tỉnh Thái Bình mới đây: Sáng ngày 18/9/2012, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh này đã mở lớp chuyên đề nâng cao kiến thức phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội Tại hội nghị, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đã trao 8 hòm thư tố giác tội phạm cho 8 Chi hội phụ nữ của thị trấn, với mong muốn chị em sẽ tham gia tích cực hơn vào công tác đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tội phạm, tệ nạn xã hội, ma túy trên địa bàn, theo dõi, cung cấp các thông tin quan trọng về các đối tượng phạm tội giúp lực lượng công an theo dõi, triệt phá, xử lý kịp thời.18 Qua đó, với việc trao

8 hòm thư tố giác tội phạm cho cho cán bộ, hội viên phụ nữ Thị trấn Vũ Thư như việc làm trên của tỉnh Thái Bình đã giúp cho người dân cực hơn vào công tác đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tội phạm, khi giờ đây họ không chỉ tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án mà còn có thể tố giác tội phạm với một tổ chức gần gũi hơn với mình là Hội Liên hiệp Phụ nữ Các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội phải tiếp nhận tin tố giác của công dân về tội phạm chứ không được giới thiệu họ đến nơi khác Với quy định như vậy, đã tạo điều kiện cho cơ chế thông tin

về tội phạm được nhanh chóng, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia rộng rãi và thuận lợi vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Ngoài ra, để cho người tố giác tội phạm thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình, BLTTHS

17 Hoài Thu: Đà Nẵng: Khen thưởng công dân tố giác tội phạm, Báo điện tử Công an Nhân dân, 2010,

http://ca.cand.com.vn/vi-vn/binhyencuocsong/ghichep/2010/12/173041.cand , [truy cập ngày 24/9/2012]

18 Thu Hiền: Trao 8 hòm thư tố giác tội phạm cho phụ nữ Thị trấn Vũ Thư, Báo điện tử Thái Bình, 2012,

http://baothaibinh.com.vn/15/11228/Trao_8_hom_thu_to_giac_toi_pham_cho_phu_nu_Thi_tran_Vu_Thu_.ht

m , [truy cập ngày 24/9/2012]

Trang 22

năm 2003 cũng đã có quy định về hình thức tố giác, công dân có thể trực tiếp tố giác bằng miệng, bằng thư, điện thoại, văn bản,… Trong trường hợp tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác tội phạm

Một đặc điểm tố tụng nữa là người tố giác tội phạm không phải là người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTHS năm 2003, nghĩa là họ không có tư cách tham gia tố tụng Theo quy định tại Chương IV BLTTHS năm 2003, người

tham gia tố tụng gồm có người bị tạm giữ (Điều 48), bị can (Điều 49), bị cáo (Điều 50), người bị hại (Điều 51), nguyên đơn dân sự (Điều 52), bị đơn dân sự (Điều 53), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Điều 54), người làm chứng (Điều 55), người bào chữa (Điều 56), người bảo vệ quyền lợi của đương sự (Điều 59), người giám định (Điều 60), người phiên dịch (Điều 61) Người tham gia tố tụng là những chủ thể có quyền và lợi ích bản thân cần được bảo vệ trước pháp luật, những người có nghĩa vụ pháp lý phải tham gia vào việc giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và những người tham gia tố tụng để hỗ trợ pháp

lý cho những người tham gia tố tụng khác Như vậy, xét theo khía cạnh này thì người tố giác tội phạm không phải là người tham gia tố tụng nhưng người tố giác tội phạm vẫn có thể tham gia tố tụng khi tư cách của họ được chuyển hóa sang tư cách của người làm chứng hoặc của người bị hại Một công dân bình thường khi tố giác tội phạm nếu họ biết được những tình tiết liên quan đến vụ án và được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập để làm chứng thì họ sẽ trở thành người làm chứng Cũng với công dân trên, nếu họ cũng đồng thời là người mà quyền và lợi ích pháp lý của bản thân liên quan đến vụ án, họ bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản

do tội phạm gây ra thì họ cũng có thể chuyển hóa tư cách của mình thành người bị hại Trong thực tiễn, cũng có nhiều trường hợp người tố giác tội phạm cũng đồng thời là người bị hại như trong vụ án tống tiền gây xôn xao dư luận tại Đà Nẵng: Theo cáo trạng, năm 2009 Nguyễn Trung Thành (25 tuổi, trú tại tổ 34, phường Mân Thái, quận Sơn Trà, Đà Nẵng) là bạn trai của Nguyễn Ngọc Huyền (19 tuổi, trú tại phường Thạch Thang, quận Hải Châu) Khi nghe Huyền kể về việc đã có quan hệ tình dục với ông Trần Minh Sơn, Thành đã xúi giục và cùng Huyền nhắn tin dọa tố cáo ông Sơn có quan hệ tình dục với Huyền khi mới 16 tuổi để ông Sơn lo sợ buộc phải đưa tiền cho Thành và Huyền Do bị hăm dọa và lo sợ nên từ ngày 3/5/2010 đến 24/5/2011, ông Sơn đã tám lần chuyển cho Thành và Huyền số tiền 1,34 tỉ đồng

Trang 23

(sáu lần chuyển qua tài khoản, hai lần chuyển tiền mặt) Lần cuối cùng vào ngày 24/5/2011, khi Huyền đang nhận 150 triệu đồng của ông Trong vụ án này, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố Huyền và Thành tội cưỡng đoạt tài sản (có mức án từ 12-20 năm tù) Trong đó, người tố tố cáo hành vi cưỡng đoạt của hai bị cáo cũng chính là người bị hại ông Trần Minh Sơn. 19 Điều đó cho thấy, khi ông Trần Minh Sơn thấy hành vi cưỡng đoạt của hai bị cáo là tội phạm ông này đã

tố cáo, khi đó ông là người tố giác tội phạm nhưng trong vụ án này ông cũng là người mà quyền và lợi ích pháp lý của bản thân liên quan đến vụ án, là nạn nhân trực tiếp của hành vi trên nên ông cũng đồng thời là người bị hại trong vụ án

Một người biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác thì có thể chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm theo Điều 314 BLHS Tố giác tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ

buộc phải thực hiện của bất cứ công dân hoặc cá nhân nào, có nghĩa là khi công dân hoặc cá nhân biết rõ hành vi hoặc người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm thì không ai có quyền cấm họ được tố giác nhưng nếu họ không tố giác thì cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, trong không ít vụ án, một số công dân không làm tròn nghĩa vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, không tố giác tội phạm, cho nên các cơ quan bảo vệ pháp luật phải tốn rất nhiều công sức để điều tra, khám phá vụ án Việc một số công dân không thực hiện quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội, có nghĩa là

họ không tham gia đấu tranh chống tội phạm nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và trong các trường hợp do pháp luật hình sự quy định, hành vi không tố giác tội phạm do họ thực hiện đã cấu thành tội không tố giác tội phạm Do đó, trong những trường hợp này cần có biện pháp chế tài

để họ thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân của mình Trong khi đó, người

tố giác tội phạm không đúng sự thật cũng không phải chịu trách nhiệm pháp lý, tức

là họ có thể báo những thông tin chủ quan, nhất thời, thiếu căn cứ, thậm chí có thể là thông tin thất thiệt nhưng pháp luật cũng không buộc họ phải chịu trách nhiệm.20

19 Đ.Nam - H.Khá: Tòa hoãn để triệu tập người “bị cưỡng đoạt tiền”, Báo điện tử Tuổi Trẻ, 2011,

doat-tien%E2%80%9D.html , [truy cập ngày 25/9/2012]

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Phap-luat/491891/Toa-hoan-de-trieu-tap-nguoi-%E2%80%9Cbi-cuong-20

Phạm Quốc Huy: Bàn về các khái niệm “tố giác về tội phạm”, “tin báo về tội phạm” và “kiến nghị khởi

tố” trong Bộ luật tố tụng hình sự, Tạp chí Kiểm sát, số 17, 2009

Trang 24

1.1.2.2 Đặc điểm tố tụng của người làm chứng

Người làm chứng tham gia vào vụ án trên cơ sở quyết định triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng theo Điều 133 BLTTHS năm 2003 Việc triệu tập người làm

chứng do Điều tra viên thực hiện, trong trường hợp này khi triệu tập người làm chứng, Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập Giấy triệu tập người làm chứng phải ghi

rõ họ tên, chỗ ở của người làm chứng, ngày, giờ, tháng, năm và địa điểm có mặt; gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không có lý do chính đáng Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho người làm chứng hoặc thông qua chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng cư trú hoặc làm việc Các cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm tạo điều kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa

vụ Trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu tập phải được ký nhận Giấy triệu tập người làm chứng chưa đủ 16 tuổi được giao cho cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác của họ Trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể triệu tập người làm chứng Việc triệu tập người làm chứng được thực hiện theo quy định tại Điều

Người làm chứng tham gia vụ án hình sự không phải lợi ích cá nhân của họ

mà là lợi ích chung của xã hội, đó làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, cho nên, việc tham gia vụ án hình sự là một nghĩa vụ pháp lý mà họ phải thực hiện

Hoàn toàn khác với sự tham gia tố tụng của người bị hại, nguyên đơn dân sự, người

có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan,… người làm chứng tham gia tố tụng là một chủ thể đặc trưng Từ một người dân không có liên quan đến vụ án hình sự, họ chỉ biết được các tình tiết của vụ án, được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập để khai báo,

Trang 25

giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án.21 Vì vậy, những lời khai của họ thường có tính khách quan cao vì họ không bị ràng buộc về mặt vật chất hay tinh thần Điều quan tâm duy nhất của người làm chứng là sự thật khách quan của vụ án phải được sáng tỏ và sự tham gia của họ góp phần cho nhiệm vụ đó Đối với người làm chứng thì tham gia vào vụ án và trình bày lời khai trung thực tất cả những gì mà mình biết vừa là nghĩa vụ công dân vừa là nghĩa vụ tố tụng của họ Nhưng đối với Nhà nước thì người làm chứng chính là những người cộng tác với Nhà nước, với cơ quan tiến hành tố tụng nên Nhà nước cần đến sự hợp tác đó

Người làm chứng không được hưởng một lợi ích vật chất hay tinh thần nào khi tham gia vào vụ án, dù là lợi ích nhỏ nhất Các quyền mà BLTTHS năm 2003

thừa nhận cho người làm chứng chỉ là quyền yêu cầu được bù đắp những thiệt thòi, mất mát hoặc ngăn chặn những mất mát, tổn thất có thể xảy ra đối với họ liên quan đến sự hợp tác của họ với cơ quan tiến hành tố tụng

Người làm chứng còn là người không thể thay thế trong vụ án hình sự nên họ phải trực tiếp tham gia tố tụng không thể thông qua người đại diện, nếu một người

đã tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng thì không thể tham gia tố tụng với một tư cách khác khi tham gia tố tụng trong cùng một vụ án.22

Nếu đã là người tiến hành tố tụng trong cùng một vụ án như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán mà lại tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng thì họ phải bị thay đổi (Điều 42 BLTTHS năm 2003) Các chủ thể tham gia tố tụng có thể có quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch, người giám định,… nhưng không có quyền thay đổi người làm chứng

Để đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án, BLTTHS năm

2003 quy định những người sau đây không được làm chứng:

- Người bào chữa của bị can bị cáo Theo quy định tại Điều 56 BLTTHS năm

2003 thì người bào chữa có thể là luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân Người bào chữa của bị can, bị cáo có thể biết được các tình tiết của vụ án từ nhiều nguồn và trong những khoảng thời gian khác nhau; có thể biết trước khi tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa từ

21 Trần Văn Hội: Cần sửa đổi, bổ sung các quy định của bộ luật hình sự về chế định người làm chứng, ban

hành luật bảo vệ người làm chứng, Tạp chí Kiểm sát, số 21, 2011

22

Trần Văn Hội: Cần sửa đổi, bổ sung các quy định của bộ luật hình sự về chế định người làm chứng, ban

hành luật bảo vệ người làm chứng, Tạp chí Kiểm sát, số 21, 2011

Trang 26

những thông tin không phải do bị can, bị cáo cung cấp, có thể biết được các tình tiết

đó do có mặt ở nơi xảy ra tội phạm, do quen biết bị can, bị cáo hoặc do được người khác kể lại, Cũng có thể người đó biết được các tình tiết vụ án trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bào chữa do được đọc hồ sơ vụ án, do tiếp xúc với bị can, bị cáo Người bào chữa tham gia tố tụng để thực hiện chức năng gỡ tội nên chỉ đưa ra các chứng cứ có lợi cho bị can, bị cáo Họ không thể làm chứng vì nghĩa vụ của người làm chứng là khai báo trung thực những gì họ biết về vụ án, nghĩa vụ này mâu thuẫn với nghĩa vụ của người bào chữa Vì vậy, điểm b khoản 2 Điều 56 BLTTHS năm

2003 cũng đã quy định nếu một người nào đó đã tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa thì không được làm chứng trong vụ án đó

- Người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan đến vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn Điểm b khoản 2 Điều 55 BLTTHS năm 2003 quy định những người

do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan đến vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn thì không được làm chứng Theo quy định của pháp luật thì người làm chứng là người biết được các tình tiết liên quan tới vụ án, những người có nhược điểm về thể chất biết được các tình tiết theo cách riêng của họ Người điếc không nghe thấy được nhưng có thể nhìn thấy, người mù không thể nhìn thấy được nhưng có thể nghe thấy

Vì vậy, nếu vào thời điểm nhận thức hoặc khai báo sự việc mà do có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà không có khả năng nhận thức hoặc khai báo đúng đắn thì không được làm chứng Nếu các nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần không làm ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và khai báo thì có thể tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng

Người làm chứng có thể bị dẫn giải nếu vắng mặt không có lý do chính đáng

và gây khó khăn trở ngại cho việc điều tra, xét xử theo quy định tại Điều 134 BLTTHS năm 2003 Cụ thể, trong trường hợp người làm chứng đã được Cơ quan

điều tra, Viện kiểm sát triệu tập nhưng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc họ vắng mặt gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố thì cơ quan đã triệu tập người làm chứng có thể ra quyết định dẫn giải Theo quy định tại Điều 134 BLTTHS năm 2003 thì quyết định dẫn giải người làm chứng ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm

Trang 27

sinh, nơi cư trú của người làm chứng; thời gian, địa điểm người làm chứng phải có mặt Người thi hành quyết định dẫn giải phải đọc, giải thích quyền và nghĩa vụ của người làm chứng và lập biên bản về việc dẫn giải Không được dẫn giải người làm chứng vào ban đêm Như vậy, việc ra quyết định dẫn giải chỉ áp dụng khi có đủ hai yếu tố: Người làm chứng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc họ vắng mặt gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố Khi dẫn giải, cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện đúng các quy định vừa viện dẫn

Người làm chứng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 BLHS nếu từ chối việc khai báo hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng Đây là điểm khác biệt so với người làm chứng trong tố tụng dân sự vì trong vụ

án dân sự người làm chứng được từ chối khai báo nếu lời khai của mình liên quan đến bí mật Nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư hoặc việc khai báo đó có ảnh hưởng xấu, bất lợi cho đương sự là người có quan hệ thân thích với mình (khoản 3 Điều 66 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011)) Ngược lại, trong vụ án hình sự, nếu người làm chứng từ chối việc khai báo hoặc trốn tránh việc khai báo có thể bị truy cứu trách nhiệm hình

Người làm chứng không thể đồng thời là người bị hại Điều này có thể hiểu

được bởi lẽ người làm chứng khác với người bị hại, người làm chứng tham gia vụ án hình sự không phải lợi ích cá nhân của họ mà là lợi ích chung của xã hội còn người

bị hại tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích pháp lý của bản thân liên quan đến

vụ án Người bị hại là nạn nhân trực tiếp của hành vi tội phạm nên lời khai của họ có thể phản ánh đậm nét hơn những đánh giá, cảm xúc chủ quan của họ về các tình tiết của vụ án so với lời khai của người làm chứng Lời khai người bị hại không chỉ là nguồn chứng cứ làm sáng tỏ sự thật của vụ án mà còn là lời buộc tội, là công cụ bảo

Trang 28

vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người đó Trình bày lời khai không chỉ là nghĩa vụ tố tụng mà đồng thời còn là quyền tố tụng của người bị hại Ở góc độ này người bị hại được nhìn nhận là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội Còn người làm chứng là chủ thể của chức năng hỗ trợ tư pháp - chức năng không cơ bản trong tố tụng hình sự Chức năng này hiện chưa được đề cập nhiều trong khoa học tố tụng hình sự ở nước ta Như vậy, nếu người làm chứng đồng thời là người bị hại sẽ không đảm bảo khách quan trong quá trình giải quyết vụ án bởi vì người bị hại thường bị chi phối bởi lợi ích của họ, quyền và lợi ích của họ liên quan trực tiếp đến vụ án khi bản án của Tòa án có hiệu lực nên họ luôn khai báo ở mức độ và giới hạn mà họ cho

là để bảo vệ quyền lợi cho chính bản thân họ

1.1.2.3 Đặc điểm tố tụng của người bị hại

Người bị hại tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích pháp lý của bản thân liên quan đến vụ án Đây cũng là điểm khác biệt so với người làm chứng vì như đã

phân tích, người làm chứng tham gia vụ án hình sự không phải lợi ích cá nhân của

họ mà là lợi ích chung của xã hội nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, đó

là một nghĩa vụ pháp lý mà họ phải thực hiện Vì người bị hại tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích pháp lý của bản thân liên quan đến vụ án nên cũng vì vậy

mà họ mong muốn nhanh chóng làm rõ vụ án, họ có thể nhớ được những tình tiết có

ý nghĩa cho việc giải quyết nhanh vụ án Tuy vậy, cũng vì đặc điểm đó mà người bị hại thường bị chi phối bởi lợi ích của họ, cho nên, họ luôn khai báo ở mức độ và giới hạn ở mức độ mà họ cho là để bảo vệ quyền lợi của chính bản thân họ, thậm chí, họ cũng có những đặc điểm không phải luôn luôn có lợi cho việc điều tra như

họ có thể khai tăng những thiệt hại so với thiệt tế,…23

Người bị hại còn có thể yêu cầu khởi tố vụ án hình sự trong một số trường hợp theo Điều 105 BLTTHS năm 2003 Quyền được yêu cầu khởi tố vụ án là quyền

đặc thù của người bị hại Về nguyên tắc, tất cả các vụ án hình sự xảy ra đều phải do

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, các cơ quan này trong nhiều trường hợp không bảo vệ được quyền và lợi ích của người bị hại một cách hiệu quả Điều đó có nghĩa là, việc khởi tố vụ án là do cơ quan tiến hành tố tụng quyết định nhưng trong một số trường hợp luật định, việc khởi tố vụ án lại phụ thuộc vào ý chí của người bị hại, vụ án chỉ được khởi tố khi có

23 Nguyễn Văn Cừ: Chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2005, tr 100

Trang 29

đơn yêu cầu của người bị hại Trong một số trường hợp, hành vi phạm tội gây nguy hại không lớn cho xã hội (những tội thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại đều là tội ít nghiêm trọng, trừ khoản 1 Điều 111 và khoản 1 Điều 113 BLHS) và việc giải quyết vụ án trên thực tế có thể mang lại những hậu quả bất lợi

mà người bị hại không mong muốn thì Nhà nước cho phép người bị hại được quyết định có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự hay không Chính vì vậy, để hạn chế việc khởi

tố vụ án hình sự có thể mang lại những hậu quả bất lợi, một lần nữa làm tổn thương đến người bị hại, pháp luật quy định cho người bị hại được quyền yêu cầu khởi tố vụ

án hình sự trong một số trường hợp Như vậy, người bị hại có thể yêu cầu pháp luật bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, thoả thuận với người gây thiệt hại hoặc cũng có thể tha thứ cho họ Việc cho phép người bị hại trong một số trường hợp có quyền yêu cầu khởi tố vụ án đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước tới quyền lợi thực sự của người bị hại, sự đồng cảm của xã hội đối với những người là nạn nhân của tội phạm Đó cũng là chế định thể hiện tính dân chủ, sự tôn trọng và cảm thông trước những thiệt hại, mất mát, đau đớn của người bị hại, tránh trường hợp trong quá trình giải quyết vụ án có thể gây thêm những tổn thương về tinh thần đối với họ

Người bị hại có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường cũng như về hình phạt đối với bị cáo Đây là một điểm khác biệt so với

người làm chứng Khi tội phạm xảy ra, quan hệ pháp luật hình sự xuất hiện là quan

hệ giữa Nhà nước và chủ thể của tội phạm (về quan hệ pháp luật tố tụng hình sự thì

đó là giữa cơ quan tiến hành tố tụng và bị can, bị cáo), còn mối quan hệ giữa bị can,

bị cáo và người bị hại chỉ là quan hệ dân sự trong việc bồi thường những thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra Mặc dù vậy, do người bị hại là nạn nhân của hành vi phạm tội, những thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu không chỉ là những thiệt hại về vật chất mà còn là những tổn thất khác về tinh thần, không chỉ bồi thường thiệt hại vật chất mà có thể giải quyết được Vì vậy, ngoài quyền kháng cáo về mức bồi thường, pháp luật còn quy định cho người bị hại được quyền kháng cáo cả về phần hình phạt, được thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình trong việc yêu cầu Nhà nước xử lý thích đáng về hình sự đối với bị cáo

Khác với người làm chứng, người bị hại có thể cử người đại diện tham gia tố tụng trong trường hợp người bị hại chết Theo đó, khoản 5 Điều 51 BLTTHS năm

2003 quy định: “Trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp

Trang 30

của họ có những quyền được quy định tại điều này” BLTTHS năm 2003 chỉ quy

định trường hợp người bị hại chết, vậy thì thì trường hợp người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần, thể chất khi tham gia tố tụng thì đại diện hợp pháp của họ có được tham gia tố tụng và có được hưởng các quyền của người bị hại không Theo tinh thần nội dung Điều 51 BLTTHS năm 2003 thì người đại diện hợp pháp của người bị hại trong trường hợp này được tham gia tố tụng nhưng không được thực hiện các quyền của người bị hại Tuy nhiên, theo tinh thần của quy định tại Điều 59 BLTTHS năm 2003 thì người bảo vệ quyền lợi cho người

bị hại được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại Nội dung các quyền của người này không khác nhiều so với nội dung các quyền quy định cho người bị hại (Điều 51 BLTTHS năm 2003) Vì vậy, thực tế gặp trường hợp này cơ quan tiến hành tố tụng thường cho phép đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất sử dụng các quyền của người bị hại như tinh thần của khoản 5 Điều 51 BLTTHS năm 2003

Việc khai báo vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của người bị hại Xét về mặt

hình thức, người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra chỉ trở thành người bị hại trong tố tụng hình sự khi họ được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận là người bị hại thông qua hành vi triệu tập họ đến khai báo với tư cách người bị hại Người bị hại có thể khai báo ở bất cứ thời điểm nào của quá trình tố tụng Họ phải chịu trách nhiệm về lời khai của mình Trong nhiều trường hợp, hành vi phạm tội không bị phát hiện và xử lý hoặc không xác định được người bị thiệt hại thì mặc

dù trên thực tế có người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra nhưng người đó cũng không thể trở thành người bị hại trong vụ

án hình sự

Người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, nếu từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu” theo Điều 308 của BLHS Người bị hại phải có mặt khi cơ

quan tiến hành tố tụng triệu tập để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án Không những vậy, người bị hại còn phải có nghĩa vụ phải khai báo, cung cấp những thông tin cần thiết giúp cho việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án Việc giải quyết đúng đắn vụ án không chỉ nhằm bảo

Trang 31

vệ lợi ích của người bị hại nên người bị hại thường chủ động tích cực trong việc khai báo Việc họ từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng là việc không bình thường, không phù hợp với tâm lý của nạn nhân nên theo quy định, nếu người bị hại chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình

sự Quy định này được nêu rõ tại khoản 4 Điều 51 BLTTHS năm 2003

1.1.3 Địa vị pháp lý của người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự

1.1.3.1 Địa vị pháp lý của người tố giác

Theo Từ điển Luật học, địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật Địa

vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp

lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình Thông qua địa vị pháp lý ta có thể phân biệt được chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí, tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ pháp lý.24

Do vậy, việc nắm vững địa

vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng đối với mọi chủ thể Đối với chủ thể có địa vị pháp lý thì sẽ giúp họ thực hiện tốt hơn các quyền và nghĩa vụ của mình Còn đối với các chủ thể khác việc nắm vững địa vị pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật sẽ giúp họ không xâm phạm đến quyền

và nghĩa vụ của người khác Trong tố tụng hình sự, thì việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể càng có vai trò quan trọng hơn hết Bởi vì, khi giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua rất nhiều giai đoạn khác nhau Và tại mỗi giai đoạn thì địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố tụng cũng không giống nhau Khi đó, việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể này sẽ đảm bảo cho việc thực hiện đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo cho việc xác định sự thật vụ án Như vậy, có thể thấy việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể đặc biệt là những người tiến hành tố tụng đối với những người tham gia tố tụng có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Đối với người tố giác tội phạm, họ cũng là người có liên quan đến vụ án, tuy

họ không phải là người tham gia tố tụng nhưng họ cũng có một vị trí nhất định theo

24 Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, 2006, tr 58

Trang 32

quy định của BLTTHS năm 2003 Như đã phân tích, BLTTHS năm 2003 và các văn bản dưới luật mới chỉ quy định về giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, không có định nghĩa thế nào là tố giác và tin báo về tội phạm Theo đó, tại Điều 101 BLTTHS năm 2003 quy định công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan, tổ chức khác Những công dân này là những con người biết được một tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện và trình báo với cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về những gì mình biết Họ có thể là một công dân bất kỳ vì BLTTHS năm 2003 không có quy định giới hạn về độ tuổi công dân được thực hiện việc tố giác tội phạm Nhà nước khuyến khích mọi người thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, không phải công dân nào trong trường hợp này đều được xem là người tố giác tội phạm mà họ chỉ có tư cách đó khi không phải là người tham gia tố tụng Những thông tin của người tố giác tội phạm chỉ là những nguồn thông tin ban đầu về tội phạm mang tính chủ quan theo suy nghĩ của chủ thể đưa ra thông tin, tức

là họ cho rằng, có hành vi nào đó đã xảy ra, đang xảy ra, sắp xảy ra có dấu hiệu phạm tội hay có người nào đó đã thực hiện, đang thực hiện hoặc sẽ thực hiện hành

vi có dấu hiệu phạm tội; những nguồn thông tin này hầu hết chưa được kiểm chứng

về tính xác thực và khách quan, những chứng cứ đưa ra chưa mang tính pháp lý, cần phải qua quá trình điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan có thẩm quyền thì mới có cơ sở kết luận hành vi nào đó có dấu hiệu tội phạm và người thực hiện hành vi đó có dấu hiệu tội phạm hay không hay hành vi đó chỉ là quan hệ hành chính, quan hệ kỷ luật hoặc quan hệ dân sự.25

Qua đó cho thấy, người tố giác tội phạm chỉ có quyền và nghĩa vụ công dân của mình mà không có quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hình sự, việc tố giác tội phạm là quyền và nghĩa vụ mà công dân phải thực hiện còn về quyền và nghĩa vụ của người tố giác thì BLTTHS năm 2003 không

có quy định

1.1.3.2 Địa vị pháp lý của người làm chứng

Khác với người tố giác tội phạm, người làm chứng có quyền và nghĩa vụ tố tụng hình sự Một người được xác định tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng khi họ phải biết các tình tiết liên quan đến vụ án Họ là người không tham gia

25

Phạm Quốc Huy: Bàn về các khái niệm “tố giác về tội phạm”, “tin báo về tội phạm” và “kiến nghị khởi

tố” trong Bộ luật tố tụng hình sự, Tạp chí Kiểm sát, số 17, 2009

Trang 33

vào vụ việc phạm tội, cũng không bị người phạm tội gây thiệt hại về tài sản, tính mạng hay tinh thần Nếu họ bị người phạm tội gây thiệt hại, tư cách của họ trong vụ

án có thể là người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự Trong trường hợp họ tham gia vào

vụ việc phạm tội nhưng được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, họ có thể tham gia với tư cách bị đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Việc họ biết những thông tin này hay tình tiết liên quan đến vụ án hình sự hoàn toàn

do khách quan và không phụ thuộc vào ý chí của họ Chính những thông tin mà người làm chứng biết là những dấu hiệu về nội dung quyết định họ có thể trở thành người làm chứng

Kế thừa BLTTHS năm 1988, địa vị pháp lý của người làm chứng được BLTTHS năm 2003 bổ sung thêm tại khoản 3 Điều 55 về quyền của người làm chứng và bổ sung thêm tại khoản 4 Điều 55 về nghĩa vụ của người làm chứng Theo quy định tại khoản 1 Điều 55 BLTTHS năm 2003 thì người làm chứng là người biết được tình tiết liên quan tới vụ án (trực tiếp hoặc gián tiếp biết) và người đó chỉ được xem là người làm chứng khi họ được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập với tư cách người làm chứng Từ một người dân không có liên quan đến vụ án hình sự, họ chỉ biết được các tình tiết của vụ án, được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập để khai báo Khi được triệu với tư cách người làm chứng, họ trở thành người tham gia tố tụng trong vụ án Như vậy, có thể thấy tư cách người làm chứng của một người chỉ được chính thức xác định khi người này được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng và người làm chứng không được tự thay đổi Họ có địa vị pháp lý của mình, địa vị pháp

lý này là độc lập, riêng biệt với địa vị pháp lý của bị can, bị cáo cũng như các chủ thể có tư cách tố tụng khác trong vụ án hình sự Người làm chứng cũng không phải

là người có quyền và lợi ích liên quan tới vụ án, sự có mặt của họ chỉ nhằm mục đích là làm sáng tỏ vụ án hay nói cách khác họ là những người cộng tác với Nhà nước mà cụ thể là các cơ quan tiến hành tố tụng Tuy vậy, BLTTHS năm 2003 chưa bảo đảm cho người làm chứng có một địa vị pháp lý xứng đáng và cần thiết khi tham gia tố tụng trong xét xử Điều này được biểu hiện ở quy định không tương xứng giữa quyền và nghĩa vụ của người làm chứng, trong khi nghĩa vụ thì quá nặng

nề thì quyền lợi lại chưa đầy đủ, chưa đảm bảo cần thiết Cụ thể, người làm chứng

có quyền yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố

Trang 34

tụng; Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật (khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003) Trong khi nghĩa vụ của người làm chứng là phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải; Khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án Người làm chứng

từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự; khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 của Bộ luật hình sự (khoản 4 Điều 55 BLTTHS năm 2003)

1.1.3.3 Địa vị pháp lý của người bị hại

Tương tự như người làm chứng, người bị hại cũng là người có quyền và nghĩa

vụ tố tụng hình sự Người bị hại là người tham gia tố tụng có mặt hầu hết trong các

vụ án hình sự Người bị hại là người phải gánh chịu thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Thiệt hại này về bản chất không thể khôi phục lại như cũ, nhưng xét trên khía cạnh nhân đạo, người bị hại cần phải được bồi thường để bù đắp phần nào những mất mát đó Người bị thiệt hại trong các tội phạm đã hoàn thành cũng như các tội phạm chưa đạt đều được xem là người bị hại Cũng vì vậy mà người bị hại có những quyền lợi mà không phải người tham gia tố tụng nào cũng có được Chẳng hạn, người bị hại có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu Người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền đưa ra những tài liệu, đồ vật để chứng minh hành

vi phạm tội, chứng minh những thiệt hại mà họ đã phải chịu do hành vi phạm tội gây ra,… Người bị hại cũng có quyền yêu cầu mời thêm người làm chứng, yêu cầu giám định mức độ thương tật,… Ngoài ra, người bị hại còn được thông báo về kết quả điều tra Người bị hại được thông báo kết quả điều tra để họ biết được những vấn đề thuộc về nội dung vụ án, trên cơ sở đó họ biết được những vấn đề thuộc nội dung vụ

án, trên cơ sở đó họ chuẩn bị chứng cứ, lý lẽ hoặc yêu cầu để buộc tội bị cáo hoặc để chứng minh những thiệt hại mà bị can gây ra cho mình Trong quá trình tham gia vụ

án, người bị hại còn có quyền đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường Người bị hại rất quan tâm đến việc quyền lợi của họ được giải quyết như thế nào, họ không những có quyền được đề nghị mức bồi thường cho thỏa đáng mà còn

Trang 35

có quyền đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo bồi thường như kê biên tài sản hoặc các biện pháp khác

Như vậy, người bị hại có một địa vị pháp lý rất quan trọng trong vụ án hình

sự, điều đó được biểu hiện thông qua các quyền mà người tố giác và người làm chứng không thể có được so với người bị hại Về quyền và nghĩa vụ của người bị hại

cụ thể như sau: Người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Được thông báo về kết quả điều tra; Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;

Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường; Tham gia phiên toà; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường cũng như

về hình phạt đối với bị cáo (khoản 2 Điều 51 BLTTHS năm 2003) Còn nghĩa vụ của người bị hại là trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 của Bộ luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà (khoản 3 Điều 51 BLTTHS năm 2003); Người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án (khoản 4 Điều 51 BLTTHS năm 2003); nếu từ chối khai báo mà không

có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự (khoản 5 Điều 51 BLTTHS năm 2003)

1.2 Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về bảo vệ người người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự

1.2.1 Cơ sở lý luận về bảo vệ người người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự

1.2.1.1 Vai trò của người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự

Người tố giác, người làm chứng và người bị hại trong các vụ án hình sự là những người đưa ra lời khai hoặc cung cấp các thông tin về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án, góp phần làm sáng tỏ sự thật và giải quyết đúng đắn vụ

án Vì vậy, họ có vai trò vô cùng quan trọng trong tố tụng hình sự

Trang 36

- Về vai trò của người tố giác:

Những thông tin về tội phạm do người tố giác tội phạm cung cấp có vai trò đặc biệt quan trọng, đó là một trong những căn cứ để khởi tố vụ án hình sự theo quy định Điều 100 BLTTHS năm 2003 Đồng thời, đó cũng là cơ sở để xác định có dấu hiệu tội phạm Dấu hiệu tội phạm là điều cần và đủ để khởi tố vụ án hình sự Đối với người tố giác tội phạm, những thông tin về tội phạm của họ là những thông tin cơ bản ban đầu để các cơ quan chức năng xác nhận về sự việc phạm tội nói chung Chẳng hạn như trong vụ án cố ý làm trái tại Sabeco, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố, điều tra vụ án hình sự, dựa trên cơ sở đơn tố giác tội phạm của một số cán bộ công nhân viên đang làm việc tại Sabeco.26

Người tố giác tội phạm góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, đồng thời phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử

lý kịp thời mọi hành vi phạm tội Trong nhiều trường hợp, người dân đã có nhiều đóng góp quan trọng cho lực lượng Công an trong việc nắm tình hình, phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hoạt động liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn

xã hội, Chẳng hạn như tấm gương anh Nguyễn Xuân Việt, tài xế taxi, đã kịp thời cung cấp thông tin quý giá giúp cơ quan công an tìm ra thủ phạm vụ bắt cóc trẻ em gây xôn xao dư luận tại Bệnh viện Phụ sản trung ương Khoảng gần trưa 3/11/2011, khi anh Nguyễn Xuân Việt đang chờ khách ở đoạn đường Ô Cách, Đức Giang (Hà Nội), một phụ nữ khoảng 30 tuổi, bế theo một cháu bé mới sinh, đến gặp anh, yêu cầu chở về Bắc Giang Phụ nữ này cho biết, bế con về quê chơi một, hai ngày Theo lời anh Việt, người phụ nữ vẫn nói chuyện, trao đổi bình thường với anh, nhưng một

số lúc tỏ ra vội vã, hoảng hốt Đến Bắc Giang, không có tiền trả cước taxi, người phụ nữ này phải gọi điện nhờ bố mẹ trả tiền hộ Đón con gái và cháu bé sơ sinh trở

về, cả nhà đều rất vui mừng Lấy tiền xong, như thường lệ, anh Việt lái xe trở về Những ngày sau đó, anh Việt vẫn tiếp tục công việc của mình Ngồi trên xe taxi, qua bản tin của VOV giao thông, anh Việt nghe được thông tin một cháu bé sơ sinh mới hai ngày tuổi bị bắt cóc tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương Anh Việt nghĩ đến người phụ nữ cùng cháu bé được anh chở về Bắc Giang ngày 3/11/2011 và có đôi chút nghi ngờ Sau đó, đến 8 giờ sáng 8/11/2011, anh quyết định đến cơ quan công

26 Xem chi tiết tại đây: Phùng Bắc: Cố ý làm trái tại Sabeco: Ai đã làm thiệt hại hàng trăm tỉ đồng?, Báo điện

tử Lao động, 2011, ti-dong/27196.bld , [truy cập ngày 14/10/2012]

Trang 37

http://laodong.com.vn/Phap-luat/Co-y-lam-trai-tai-Sabeco-Ai-da-lam-thiet-hai-hang-tram-an trình báo những thông tin về phụ nữ và cháu bé được http://laodong.com.vn/Phap-luat/Co-y-lam-trai-tai-Sabeco-Ai-da-lam-thiet-hai-hang-tram-anh chở về Bắc Gihttp://laodong.com.vn/Phap-luat/Co-y-lam-trai-tai-Sabeco-Ai-da-lam-thiet-hai-hang-tram-ang.27

Trong vụ án này, sự trình báo kịp thời của người tố giác tội phạm với cơ quan có thẩm quyền đã có một vai trò rất lớn, đó là phát hiện và ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội

- Về vai trò của người làm chứng:

Người làm chứng là người không thể thay thế trong tố tụng bởi lẽ họ tham gia

tố tụng không phụ thuộc vào ý chí của họ hay ý chí của những người tiến hành tố tụng mà do chính họ biết được những tình tiết của vụ án bằng việc nhìn thấy, nghe thấy được Trong tố tụng hình sự, vai trò của người làm chứng rất quan trọng, họ là người biết được tình tiết của vụ án, được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng, có nghĩa vụ khai báo những tình tiết về vụ án với cơ quan tiến hành tố tụng,

họ không phải là người có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án nên lời khai của họ thường trung thực khách quan, có ý nghĩa lớn trong việc xác định sự thật của

vụ án Lời khai người làm chứng là loại chứng cứ do những con người cụ thể thực hiện nên có tính cá biệt cao Những thông tin về vụ án được phản ánh và tái hiện lại qua lời khai của những con người cụ thể hoàn toàn khác nhau về tâm lý, về kinh nghiệm xã hội, về tính cách và nhân cách,

Qua việc khai báo, người làm chứng sẽ cung cấp các tình tiết mà họ biết về vụ

án, có thể cung cấp những tài liệu, những tình tiết mới, từ đó cơ quan có thẩm quyền

sẽ cùng với các nguồn chứng cứ khác dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án Hoạt động tố tụng càng có tính tranh tụng cao bao nhiêu, sự bình đẳng về quyền của các bên trong hoạt động chứng minh càng được thừa nhận đầy đủ bao nhiêu thì vai trò người làm chứng càng được khẳng định Sự phát triển của khoa học kỹ thuật chỉ có thể mở rộng khả năng, làm thuận tiện hơn, dễ dàng hơn quá trình thu thập, lưu trữ, truyền tải các nguồn chứng cứ chứ không thể thay thế được những gì mà người làm chứng đã thấy được, biết được trong vụ án Các chủ thể khi tham gia tố tụng trong vụ án hình sự với các tư cách pháp lý khác nhau quan tâm đến sự tham gia của người làm chứng với mục đích

27 Trường Phong: Gặp tài xế taxi cung cấp thông tin về cháu bé bị bắt cóc, Báo điện tử Tiền Phong, 2011,

http://www.tienphong.vn/xa-hoi/557627/Gap-tai-xe-taxi-cung-cap-thong-tin-ve-chau-be-bi-bat-coc-tpov.html , [truy cập ngày 14/9/2012]

Trang 38

khác nhau Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, nguồn tin có được từ người làm chứng có ý nghĩa trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự Các chủ thể như người bị hại, nguyên đơn dân sự cũng cần sự có mặt của người làm chứng

để xác định những thiệt hại do người phạm tội gây ra cho họ, làm căn cứ để xác định bồi thường thiệt hại 28

Tuy pháp luật quy định nhiều nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự nhưng theo ý nghĩa nguyên thủy của chứng cứ thì có hai loại chứng cứ quan trọng đó là vật chứng và nhân chứng (người làm chứng) Người làm chứng có vị trí, vai trò đặc biệt

có ý nghĩa trong quá trình chứng minh tội phạm, đôi khi lời khai của họ còn có tác dụng hơn cả vật chứng trong quá trình điều tra tội phạm.29

Những tình tiết mà người làm chứng biết được vẫn là một trong những chứng cứ không thể thiếu được trong quá trình làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng niềm tin của nhân dân vào pháp luật, công lý

- Về vai trò của người bị hại:

Cũng tương tự như người làm chứng, vai trò của người bị hại được thể hiện qua lời khai của người bị hại Người bị hại là nạn nhân trực tiếp của hành vi tội phạm nên lời khai của họ có thể phản ánh đậm nét hơn những đánh giá, cảm xúc chủ quan của họ về các tình tiết của vụ án so với lời khai của người làm chứng Lời khai người bị hại không chỉ là nguồn chứng cứ làm sáng tỏ sự thật của vụ án mà còn là lời buộc tội, là công cụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người đó Trình bày lời khai không chỉ là nghĩa vụ tố tụng mà đồng thời còn là quyền tố tụng của người bị hại Như vậy, ở góc độ này người bị hại được nhìn nhận là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội Lời khai của người bị hại trong vụ án hình sự có thể nói cũng là một nguồn chứng cứ rất quan trọng, diễn tả lại trực tiếp hành vi phạm tội và nói lên thiệt hại mà họ phải gánh chịu.30 Cơ quan điều tra sử dụng hoạt động nghiệp

vụ của mình để có được những lời khai, còn Hội đồng xét xử có vai trò thẩm định lại

30

Trịnh Tiến Việt: Về chứng cứ và nguồn chứng cứ quy định tại điều 64 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Tạp chí Nghề Luật, số 2, 2006

Trang 39

những lời khai đó một lần nữa tại phiên tòa Tính theo vị trí mở đầu vụ án thì người

bị hại là nhân tố đầu tiên xác định vụ án hình sự nên lời khai của người bị hại rất quan trọng, có ý nghĩa khi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và đề ra hướng điều tra Là nhân chứng sống nên lời khai của người bị hại là cơ sở quan trọng để các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật truy lần những đầu mối của vụ án Do đó, giá trị chứng minh của nguồn chứng cứ này cao hơn so với lời khai của những người khác

Vai trò của người bị hại trọng vụ án hình sự còn quan trọng hơn trong những

vụ án chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại theo Điều 105 BLTTHS năm 2003 Không phải tất cả các vụ án đều được cơ quan có thầm quyền khởi tố mà trong một

số trường hợp còn phải phụ thuộc vào ý chí của người bị hại, nếu vụ án có tính nguy hiểm không đáng kể và người bị hại không muốn khởi tố vì sợ ảnh hưởng đến danh

dự, nhân phẩm,… của mình thì nhất thiết không được khởi tố Xét trường hợp khởi

tố khi có yêu cầu của người bị hại sau: Theo tài liệu cơ quan Cảnh sát điều tra Công

an huyện Hà Trung cung cấp, vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 16/12/2010, tại bãi đổ đất của nhà máy gạch Hà Bắc, xã Hà Bắc, huyện Hà Trung (Thanh Hóa) có xảy ra vụ đánh nhau gây thương tích Đó là việc tranh chấp làm ăn giữa Công ty TNHH Bắc Giang và Hợp tác xã Thịnh Phát (đều đóng trên địa bàn huyện Hà Trung), từ cãi cọ rồi dẫn đến xô xát Cơ quan Công an đã xác định được đối tượng tham gia trực tiếp đánh ông Thương và ông Thủy phải nhập viện gồm các tên Tống Duy Thắng (sinh năm 1989, ở Hà Bắc, Hà Trung), Lại Thế Tân (sinh năm 1975, ở Khu phố 6, phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa) và Tống Văn Thành (sinh năm 1984, ở Trại Sơn, Hà Bắc, Hà Trung) Tại cơ quan Công an, các đối tượng trên khai nhận toàn bộ việc đánh người gây thương tích khi đang làm việc tại Công ty TNHH Bắc Giang gây hậu quả khiến ông Thương bị đa chấn thương, ông Thủy bị gãy chân, tay và phía mạn sườn cùng nhiều vết thương khác, đang được điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung (Thanh Hóa) Theo giám định tỷ lệ thương tật là 12%.31

Như vậy, trong trường hợp này, phía bị hại có đơn đề nghị khởi tố vụ án, Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố ngay

31 Trần Đại: Sẽ khởi tố vụ án khi bị hại yêu cầu, Báo điện tử Pháp luật và Xã hội, 2010,

http://phapluatxahoi.vn/2010121709437708p1002c1020/se-khoi-to-vu-an-khi-bi-hai-yeu-cau.htm , [truy cập ngày 15/9/2012]

Trang 40

1.2.1.2 Tầm quan trọng của việc bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự

Người tố giác, người làm chứng và người bị hại là những người liên quan đến

vụ án hình sự mà Nhà nước cần phải áp dụng các biện pháp bảo vệ họ, xuất phát từ tầm quan trọng của việc bảo vệ những người này trong tố tụng hình sự, đó là:

Người tố giác, người làm chứng, người bị hại là những người có vai trò đặc biệt trong tố tụng hình sự, họ là người cộng tác, phối hợp với cơ quan nhà nước trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm Họ cung cấp lời khai hoặc các thông tin khác góp phần giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Vì vậy, họ có nguy cơ bị người phạm tội đe doạ, xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản với ý đồ nhằm ngăn cản, trả thù do sự cộng tác, phối hợp đó Trong vụ án lừa bán phụ nữ qua biên giới sau, một trong những thủ đoạn táo tợn của các đối tượng mua bán phụ nữ ở Lào Cai là khống chế người bị hại, không cho trình báo Theo đó, ngày 22/10/2008, trong khi làm nhiệm vụ, Đồn Biên phòng cửa khẩu Lào Cai phát hiện 3 cô gái trẻ, đi cùng một phụ nữ trung tuổi có nhiều điểm nghi vấn Qua khai thác ban đầu, ba cô gái tỏ thái độ sợ sệt, hoang mang

và khai rằng không quen biết với Vàng Thị Quyết, người phụ nữ đi cùng đường Thái độ bất thường của 3 cô gái khiến các trinh sát biên phòng đặt nhiều nghi vấn

Họ đã tách riêng, người phụ nữ khai tên là Vàng Thị Quyết ra để khai thác Quyết khai báo quanh co rằng, vào tháng 5, Quyết gặp hai người 1 nam và 1 nữ giới thiệu

là vợ chồng Quyết không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể của họ chỉ biết người phụ nữ tên là Mủi ở huyện Tam Đường (Lai Châu) Sau 2 lần gặp gỡ, hai người trên nói với Quyết đi Hà Khẩu (Trung Quốc) làm ăn, công việc là quét dọn với mức lương là 1,5 triệu đồng/tháng Khi lên xe đi Lào Cai, Quyết đã nhìn thấy 3 người phụ nữ trên, sau

đó đi cùng thì bị Đồn Biên phòng cửa khẩu phát hiện Trước những biểu hiện bất thường của người phụ nữ tên Quyết, Đồn Biên phòng cửa khẩu phối hợp Cục Trinh sát Biên phòng và Công an Lai Châu tổ chức xác minh Qua đó, xác định Vàng Thị Quyết có tên thật là Mò Thị Xôm, 30 tuổi, trú tại thị trấn Tam Đường, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Xôm đã cùng với 3 đối tượng là Hà Văn Chức, Hà Văn Bay,

43 tuổi và Hà Thị Ân, 38 tuổi, trú tại xã Nậm Ngò, huyện Than Uyên cùng tham gia mua bán phụ nữ Bọn chúng đã lừa ba cô gái là Tòng Thị L., 16 tuổi; Lò Thị A và Tòng Thị N đều 15 tuổi để đưa sang Trung Quốc bán Điều đáng nói, thủ đoạn của

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w