1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP các HÀNH VI xâm PHẠM bảo hộ NHÃN HIỆU ở VIỆT NAM HIỆN NAY

102 183 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ nhất, về hình thức thể hiện, theo quy định của pháp luật “nhãn hàng hóa” được hiểu là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đúc, chạm, khắc trực

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

 

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Khóa 35 (2009-2013)

CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM BẢO HỘ NHÃN HIỆU

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Lê Thị Kim Ba

Bộ môn Luật Tư Pháp MSSV: 5095307

Lớp: Luật Thương Mại 3

Cần Thơ – 11 /2012

Trang 2



Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN



Trang 4

MỤC LỤC



Trang LỜI MỞ ĐẦU 01

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM BẢO HỘ NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 04

1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU 04

1.2.1 Trên thế giới 04

1.2.2 Ở Việt Nam 05

1.2.2.1 Sự phát triển của pháp luật về nhãn hiệu trước khi có Luật sở hữu trí tuệ ra đời 05

1.2.2.2 Sự phát triển của pháp luật về nhãn hiệu từ khi có Luật sở hữu trí tuệ ra đời 06

1.1 KHÁI QUÁT VỀ NHÃN HIỆU VÀ NHỮNG KHÁI MIỆM CÓ LIÊN QUAN07 1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu 07

1.1.2 Các loại nhãn hiệu 07

1.2.2.1 Nhãn hiệu nổi tiếng 07

1.2.2.2 Nhãn hiệu tập thể 08

1.2.2.3 Nhãn hiệu liên kết 09

1.2.2.4 Nhãn hiệu chứng nhận 09

1.2.3 Vai trò của nhãn hiệu 10

1.2.3.1 Đối với nhà sản xuất 10

1.2.3.2 Đối với người tiêu dùng 11

Trang 5

1.2.3.3 Trên bình diện kinh tế 12

1.2.4 Phân biệt nhãn hiệu với một số đối tượng quyền sở hữu công nghiệp 12

1.2.4.1 Phân biệt nhãn hiệu với nhãn hàng hoá 12

1.2.4.2 Phân biệt nhãn hiệu với thương hiệu 13

1.2.4.3 Phân biệt nhãn hiệu với tên thương mại 16

1.2.4.4 Phân biệt nhãn hiệu với kiểu dáng công nghiệp 16

1.3 KHÁI NIỆM BẢO HỘ NHÃN HIỆU 17

1.4 CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM BẢO HỘ NHÃN HIỆU 23

1.4.1 Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu 23

1.4.2 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu 24

1.4.3 Phân biệt giữa hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và hành vi vi phạm quyền đối với nhãn hiệu 26

1.4.4 Đặc điểm của các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu 27

1.4.5 Hành vi vi phạm tên miền trên Internet liên quan đến nhãn hiệu 29

1.4.5.1 Khái quát về tên miền 29

1.4.5.2 Các hành vi vi phạm tên miền trên Internet liên quan đến nhãn hiệu 30

1.4.6 Sự cần thiết phải xử các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu 32

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM BẢO HỘ NHÃN HIỆU 35

2.1 CƠ SỞ XÁC ĐỊNH HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 35

2.2 NHỮNG HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 37

2.3 HÀNG HÓA GIẢ MẠO NHÃN HIỆU 49

2.4 HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU 51

Trang 6

2.4.2 Theo quy định của pháp luật cạnh tranh 53

2.6 BIỆN PHÁP XỬ LÝ CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM BẢO HỘ NHÃN HIỆU 55

2.6.1 Biện pháp hành chính 55

2.6.2 Biện pháp dân sự 58

2.6.3 Biện pháp hình sự 59

2.6.4 Biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ 60

CHƯƠNG 3 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ XÂM PHẠM QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HIỆN NAY NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 62

3.1 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ XÂM PHẠM QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 62

3.2 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG XÂM PHẠM BẢO HỘ NHÃN HIỆU 74

3.2.1 Những quy định của pháp luật còn chung chung, chưa có quy định rõ ràng 74

3.2.2 Cơ chế thực thi pháp luật còn nhiều bất cập, chưa đủ sức răn đe 75

3.2.3 Vai trò của nhãn hiệu chưa được các doanh nghiệp, người tiêu dùng nhận thức một cách đầy đủ 76

3.2.4 Đội ngũ cán bộ chuyên ngành vừa thiếu, vừa yếu 77

3.2.5 Hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu tạo lợi nhuận cao 78

3.2.6 Cơ cấu, tổ chức của cơ quan thực thi còn thiếu đồng bộ và chồng chéo 78

3.3 MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 79

3.3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành và pháp luật có liên quan 79

Trang 7

3.3.3 Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan chức năng 81

3.3.4 Nâng cao ý thức của doanh nghiệp về vai trò của nhãn hiệu 82

3.3.5 Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức người dân về tác hại của sản phẩm bị làm nhái, làm giả 84

3.3.6 Tăng cường đội ngũ cán bộ về sở hữu trí tuệ 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, nước ta đang ngày càng phát triển trên tất cả các lĩnh vực đặc biệt là nền kinh tế thị trường Bên cạnh sự phát triển đó thì cũng có những tiêu cực liên quan đến Sở hữu trí tuệ Do áp dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến nên tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu đối với nhãn hiệu nói riêng, đặc biệt là nhãn hiệu hàng hóa đang ngày càng tăng về số lượng

và đa dạng về mẫu mã, chủng loại Với nhu cầu hiện nay thì nhãn hiệu hàng hóa đóng vai trò hết sức quan trọng đối với người tiêu dùng và cả doanh nghiệp Thế nhưng, vi phạm liên quan đến nhãn hiệu như hành vi xâm phạm quyền liên quan đến nhãn hiệu, hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đang bị xâm phạm một cách mạnh mẽ, phổ biến và ngày càng tinh vi, phức tạp hơn; gây hậu quả nghiêm trọng cho chủ sở hữu đối với nhãn hiệu, người tiêu dùng và

xã hội Trong khi đó việc thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung và công tác đấu tranh phòng chống các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu nói riêng còn nhiều bất cập, chưa thật sự hiệu quả và không theo kịp tốc độ phát triển của các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Bên cạnh đó các đối tượng xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu thường rất ngoan cố, mặc dù đã bị các cơ quan quản lý thị trường, cảnh sát kinh tế… kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm nhưng họ vẫn ngang nhiên bày bán công khai dẫn đến tình trạng “bắt cóc bỏ đĩa”

Theo báo cáo của hội nghị toàn quốc về sở hữu trí tuệ năm 2011, tổng số lượng các vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trên cả nước là 1711 vụ và tổng số tiền đã xử phạt là 9.31402.5000 đồng trong đó số lượng các vụ xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là 1.561 vụ chiếm 91,23%, số tiền xử phạt về các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là 9.021.421.000 đồng chiếm 96,87% trên tổng số tiền đã xử phạt các vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.1 Trong 5 năm (2002-2007), lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế của 43 địa phương của các tỉnh, thành phố đã phát hiện 1092 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả

1

Thy Vũ, Tràn lan hàng vi phạm quyền Sở hữu trí tuệ, http:// pham-quyen-so-huu-tri-tue.aspx, (truy cập ngày 06/01/2012)

Trang 9

www.baohaiquan.vn/Pages/Tran-lan-hang-vi-Trước tình hình xâm phạm liên quan đến nhãn hiệu nêu trên người viết đã chọn đề tài: “Các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu trong luận văn này nhằm phân tích các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu theo lý luận- thực tiễn, nguyên nhân của sự vi phạm, biện pháp xử lý để bảo vệ chủ sở hữu và người tiêu dùng tránh những thiệt hại xảy ra và đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ và ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở các quy định của pháp luật và so sánh với thực tiễn từ đó nêu lên các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu, cách xác định các hành vi xâm phạm, nguyên nhân của sự vi phạm, hướng hoàn thiện nhằm ngăn chặn, đẩy lùi và hạn chế hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu, đảm bảo cho một môi trường cạnh tranh lành mạnh cũng như bảo vệ cho chủ sở hữu nhãn hiệu, người tiêu dùng góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và ổn định xã hội

3 Phạm vi nghiên cứu

Sở hữu trí tuệ là lĩnh vực tương đối mới mẽ và rộng lớn Tuy nhiên; trong đề tài này người viết chỉ tập trung làm rõ một số vấn đề cơ bản như : các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam theo quy định của pháp luật và từ thực tiễn, phân tích, so sánh đối chiếu; nguyên nhân của sự xâm phạm và nêu lên một số ý kiến đề xuất

4 Phương pháp nghiên cứu :

Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã sử dụng những kiến thức có được

từ quá trình học; đọc sách, báo, trang web và những tài liệu có liên quan đến đề tài cũng như vận dụng phương pháp : tổng hợp, phân tích , liệt kê, so sánh đối chiếu giữa

Trang 10

- Chương 2: Quy định của pháp luật về các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu

- Chương 3: Tình hình xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hiện nay Nguyên nhân và ,một số kiến nghị

- Kết luận

- Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 11

sự, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật sở hữu trí tuệ năm 2005; Sửa đổi bổ sung năm 2009 được xem là mốc đánh dấu cho sự phát triển một đạo luật chuyên ngành đầu tiên về sở hữu trí tuệ của Việt Nam trên cơ sở pháp điển hóa các quy định của pháp luật về Sở hữu trí tuệ đã được ban hành; tuy nhiên Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam không có điều khoản cụ thể nào về khái niệm nhãn hiệu, khái niệm nhãn hiệu chỉ được quy định trong phần giải thích từ ngữ Theo đó, “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”2 Các dấu hiệu để phân biệt

có thể là: từ ngữ (dấu hiệu chữ), hình ảnh (hình vẽ, hình chụp hoặc hình ba chiều) hoặc

sư kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc Như vậy, nhãn hiệu đã thực hiện chức năng chỉ dẫn nguồn gốc, giúp cho người tiêu phân biệt hàng hóa, dịch vụ do một cá nhân hay một doanh nghiệp sản xuất này với một cá nhân hay một doanh nghiệp khác sản xuất cùng loại sản phẩm

1.1.2 Các loại nhãn hiệu

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì nhãn hiệu bao gồm các loại: nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu chứng nhận

1.1.2.1 Nhãn hiệu nổi tiếng

Khoản 4 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” Khi nhãn hiệu được sử dụng một cách liên tục cho các

2

Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005(Sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Trang 12

sản phẩm, dịch vụ thì nhãn hiệu đó sẽ được người tiêu dùng tín nhiệm và sử dụng nhiều hơn Khi đó, nhãn hiệu sẽ được biết đến một cách rộng rãi và trở thành nhãn hiệu nổi tiếng Quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ và thuộc về chủ sở hữu nhãn hiệu mà không cần đăng ký Chủ sở hữu nhãn hiệu phải chứng minh quyền sở hữu nhãn hiệu của mình đối với nhãn hiệu và chứng minh nhãn hiệu đáp ứng những điều kiện được coi là nổi tiếng (đáp ứng các điều kiện như: quy mô, mức độ, tính liên tục ) Nhãn hiệu nổi tiếng thường là nhãn hiệu mang tính độc quyền, có nghĩa là nhãn hiệu nổi tiếng được mặc nhiên bảo hộ cho chủ sở hữu nhãn hiệu mà không cần phải đăng ký, trên nhãn hiệu nổi tiếng thường gắn chữ R bên cạnh nhãn hiệu

Trang 13

“Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đối với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức,

cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó” (Điều 14 khoản 17 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Nhãn hiệu tập thể có thể do một tổ chức, hiệp hội sở hữu; song chính bản thân của hiệp hội này lại không sử dụng nhãn hiệu tập thể mà các thành viên của hiệp hội

đó có thể sử dụng nhãn hiệu này Hiệp hội được thành lập để đảm bảo sự tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng bởi chính các thành viên của hiệp hội Các thành viên có thể sử dụng nhãn hiệu tập thể nếu họ tuân thủ các yêu cầu đặt ra trong quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể Như vậy, chức năng của nhãn hiệu tập thể là thông tin cho công chúng biết về những phẩm chất đặc trưng của sản phẩm sử dụng nhãn hiệu tập thể Một doanh nghiệp được sử dụng nhãn hiệu tập thể có quyền dùng kèm thêm cùng với nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu hàng hóa của riêng mình

1.1.2.3 Nhãn hiệu liên kết

“Nhãn hiệu liên kết là nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau” (Điều 4 khoản 19 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Nhãn hiệu liên kết mang lại cho người chủ sở hữu nhãn hiệu nhiều quyền lợi lớn như: chủ nhãn hiệu được độc quyền sử dụng dấu hiệu có khả năng phân biệt cho nhiều loại hàng hóa, dịch vụ không cùng nhóm của mình Với điều kiện: hàng hóa, dịch vụ đó liên quan với nhau Đồng thời, tạo ra cho người tiêu dùng một sự liên tưởng của hàng hóa, dịch vụ này có cùng nguồn gốc xuất xứ Ngoài ra, khi một trong các nhãn hiệu liên kết được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ rồi thì việc đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu liên kết cũng được thực hiện một cách dễ dàng, thuận tiện hơn

1.1.2.4 Nhãn hiệu chứng nhận

“Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của

Trang 14

hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu” Điều 4 khoản 18 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Sửa đổi, bổ sung năm 2009

Nhãn hiệu chứng nhận chỉ có thể sử dụng đúng các tiêu chuẩn xác định Chủ

sở hữu có nhãn hiệu chứng nhận chính là khẳng định sự cam kết về chất lượng, tăng

uy tín trên thị trường xuất khẩu Một điều quan trọng đối với việc đăng ký nhãn hiệu chứng nhận là chủ thể nộp đơn phải có thẩm quyền chứng nhận các sản phẩm có liên quan Như vậy, chủ sở hữu chứng nhận phải là người chịu trách nhiệm về chất lượng của sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận đó Đây là biện pháp quan trọng để bảo vệ công chúng chống lại hành vi lừa dối Thực tế chứng chỉ ISO 9002 ở Việt Nam là một loại nhãn hiệu chứng nhận

Từ sự phân tích hai khái niệm về nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận

ta thấy có một số điểm khác biệt giữa hai loại nhãn hiệu này:

Đối với nhãn hiệu tập thể thì chỉ riêng các doanh nghiệp nhất định mới có quyền sử dụng Ví dụ: thành viên của hiệp hội tập thể Trong khi nhãn hiệu chứng nhận có thể được sử dụng bởi bất kì ai hể đáp ứng được các tiêu chuẩn đặt ra Như vậy, trong khi nhãn hiệu tập thể hình thành một “câu lạc bộ” khép kín, đóng cửa thì ngược lại ở nhãn hiệu chứng nhận, người ta áp dụng chính sách mở cửa

1.1.3 Vai trò của nhãn hiệu

1.1.3.1 Đối với nhà sản xuất

 Tạo dựng được uy tín trước khách hàng:

Nhãn hiệu có thể làm thay đổi nhận thức và kinh nghiệm của họ về sản phẩm Các sản phẩm giống nhau có thể được khách hàng đánh giá và trả tiền khác nhau, tùy thuộc vào uy tín của nhãn hiệu hoặc thuộc tính của sản phẩm Ví dụ khi nói đến Nệm Kim Đan thì không ai là không biết đến độ bền, dai và dẻo của loại nệm này, vì thế sản phẩm này tạo được uy tín, lòng tin của khách hàng khi chọn mua sản phẩm Nhờ sự tín nhiệm của khách hàng đối với nhãn hiệu, người sở hữu hàng hóa, dịch vụ có lợi thế lớn hơn trong việc bán và phát triển sản phẩm của mình Từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng sản xuất, thu được lợi nhuận cao cho doanh nghiệp

Hơn nữa, nhãn hiệu còn tạo nên một rào cản, gây khó khăn cho các doanh nghiệp khác muốn xâm nhập thị trường Trên thực tế, mặc dù các quá trình sản xuất

Trang 15

các thiết bị sản phẩm (liên quan đến sáng chế, kiểu dáng công nghiệp) có dễ bị sao chép nhưng sự tín nhiệm của khách hàng đối với nhãn hiệu thì không dễ “bị sao chép”

 Công cụ để nhận diện và khác biệt hàng hóa sản phẩm:

Nhãn hiệu đáp ứng được mục đích nhận diện để đơn giản hóa sản phẩm hoặc truy tìm nguồn gốc sản phẩm của công ty, giúp cho các tổ chức có thể kiểm kê, tính toán và thực hiện các ghi chép khác

 Là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh:

Nhãn hiệu được xem là một vũ khí cạnh tranh sắc bén của doanh nghiệp đặc biệt là những nhãn hiệu nổi tiếng Lợi thế cạnh tranh được thể hiện:

Thứ nhất, tính độc đáo của sản phẩm có nhãn hiệu sẽ được pháp luật bảo hộ

tránh sự sao chép bất hợp pháp

Thứ hai, giảm bớt được chi phí maketing vì mức độ biết đến và trung thành

với nhãn hiệu đã cao, tạo được ưu thế đàm phán với các đối tác khác

 Nhãn hiệu là tài sản của doanh nghiệp:

Nhãn hiệu không chỉ là công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp, mà nhãn hiệu còn là một tài sản vô cùng quý giá của doanh nghiệp Nhãn hiệu càng nổi tiếng thì giá trị của nhãn hiệu càng lớn

Một ví dụ cụ thể cho thấy nhãn hiệu là tài sản lớn của nhà sản xuất, doanh nghiệp: Trong việc mua bán hãng sản xuất đồng hồ LIP (một hiệu đồng hồ nổi tiếng của Thụy Sĩ), người mua cho biết điều ông ta quan tâm không phải là nhà xưởng, máy móc, nhân viên tay nghề của xí nghiệp mà là nhãn hiệu LIP Khi hãng xe DODGE (Hoa Kỳ) được bán năm 1924 với giá 146 triệu USD thì 76 triệu là giá nhãn hiệu , và năm 1980 nhãn hiệu COCA COLA được định giá là 3 tỷ USD.3 Đến năm 2008, nhãn hiệu COCA COLA được định giá khoảng 68 tỷ USD.4

1.1.3.2 Đối với người tiêu dùng

Trang 16

 Xác định nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm: Nhãn hiệu hàng hóa xác định nguồn gốc của sản phẩm, người sản xuất ra sản phẩm và giúp khách hàng xác định nhà

sản xuất cụ thể hoặc nhà phân phối phải chịu trách nhiệm khi có sự cố xảy ra

 Giảm thiểu rủi ro trong tiêu dùng: Nhãn hiệu cũng có thể làm giảm rủi ro cho người tiêu dùng khi họ quyết định mua và tiêu dùng sản phẩm: rủi ro chức năng, rủi ro vật chất ( ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng) để giảm thiểu những rủi ro đó thì chắc chắn người tiêu dùng sẽ chọn mua những sản phẩm có nhãn hiệu mà họ biết, đặc biệt là những nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu đã được họ dùng quen thuộc từ xưa đến nay

Có thể nói nhãn hiệu còn là người chỉ đường, giúp người tiêu dùng tiết kiệm được thời gian

 Yên tâm về chất lượng: Người mua có thể đánh giá chất lượng hàng hóa thông qua nhãn hiệu.Nếu không có nhãn hiệu thì việc lựa chọn sản phẩm sẽ rất khó khăn, bởi khách hàng không biết lấy gì để đảm bảo rằng mình đã mua đúng sản phẩm mình muốn Khi đó là một nhãn hiệu nổi tiếng, một nhãn hiệu mà người tiêu dùng đã biết đến sẽ giúp cho họ yên tâm hơn về chất lượng của sản phẩm mà mình mua

1.1.3.3 Trên bình diện kinh tế

Nhãn hiệu được coi là biểu tượng của nền kinh tế ngày nay Ở vào thời đại mà

kỷ nghệ quảng cáo phát triển không ngừng, thì đương nhiên vai trò của nhãn hiệu càng ngày càng quan trọng Nhãn hiệu được hỗ trợ đắc lực bởi quảng cáo là một yếu tố thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm Từ đó, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng lên, góp phần đáng kể vào việc tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động Tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng kinh tế, đưa đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh hơn

1.1.4 Phân biệt nhãn hiệu với một số đối tượng quyền sở hữu công nghiệp

1.1.4.1 Phân biệt nhãn hiệu với nhãn hàng hoá

Nhãn hiệu và nhãn hàng hóa là hai khái niệm rất dễ nhầm lẫn vì nghe qua ta nghĩ đó là một khái niệm khi nhãn hiệu là một khái niệm chung cho nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ Như vậy, nhãn hàng hóa sẽ rất dễ nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa chỉ hơn kém nhau một từ “hiệu”, tuy vậy tính chất của chúng khác biệt rõ rệt:

Trang 17

Thứ nhất, về hình thức thể hiện, theo quy định của pháp luật “nhãn hàng hóa”

được hiểu là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán,

in, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa.5

Và việc ghi “nhãn hàng hóa” tuân thủ theo quy định của pháp luật là mang tính bắt buộc đối với một sản phẩm khi lưu thông trên thị trường nhằm mục đích để người tiêu dùng nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng; để nhà sản xuất, kinh doanh quảng bá cho hàng hóa của mình và để các cơ quan chức năng thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát, 6 trong khi đó thì việc đăng ký “nhãn hiệu” hàng hóa hay dịch vụ là hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện của chủ sở hữu nhãn hiệu

Thứ hai, về chức năng, nhãn hàng hóa chỉ thực hiện chức năng thông tin về

hàng hóa cho người tiêu dùng, nhãn hiệu lại thực hiện chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của những nhà sản xuất khác nhau đồng thời sẽ có giá trị như một tài sản nếu được đăng ký Minh chứng là nhãn hiệu nổi tiếng nếu được chuyển nhượng sẽ mang đến gía trị thương mại rất lớn

Thứ ba, các nội dung bắt buộc như: tên hàng hóa, tên tổ chức, cá nhân chịu

trách nhiệm về hàng hóa; định lượng; ngày sản xuất; hạn sử dụng; xuất xứ hàng hóa phải được ghi trên nhãn hàng hóa và phải đảm bảo trung thực, rõ ràng, chính xác, phản ánh đúng bản chất của hàng hóa Như vậy, nhãn hàng hóa dùng cho từng loại hàng hóa, lô, loạt hàng hóa khác nhau thì cũng khác nhau Tức là, mỗi một sản phẩm đều có nhãn hàng hóa riêng của mình Trái lại, nhãn hiệu hàng hóa hay dịch vụ có thể được dùng chung cho toàn bộ hoặc từng loại hàng hóa của một chủ sở hữu Nhãn hiệu có thể được gắn lên sản phẩm còn nhãn hàng hóa là bắt buộc phải có, ta có thể nói rắng nhãn hiệu có thể được xem là một phần của nhãn hàng hóa nếu nhãn hiệu đó được gắn trên nhãn hàng hóa

1.1.4.2 Phân biệt nhãn hiệu với thương hiệu

Thương hiệu là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau

Trang 18

Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới thì thương hiệu là một dấu hiệu đặc biệt

để nhận biết một sản phẩm, một hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất, được cung cấp bởi một tổ chức hoặc một cá nhân.7

Theo Hiệp hội nhãn hiệu thương mại quốc tế (ITA) thì thương hiệu được định nghĩa là bao gồm từ ngữ, tên gọi, biểu tượng hay bất kỳ sự kết hợp nào giữa các yếu trên được dùng trong thương mại để xác định và phân biệt của các nhà sản xuất hoặc người bán với nhau và để xác định nguồn gốc của hàng hóa đó.8

Tại Việt Nam, hai khái niệm “nhãn hiệu” và “thương hiệu” đã từng được phân biệt một cách rõ ràng ở cả hai khía cạnh pháp lý lẫn ngôn ngữ học Việt Nam Luật học

số 13/57 ngày 01/08/1957 ở miền nam đã quy định “nhãn hiệu sản xuất” dùng cho các sản phẩm kỹ nghệ hoặc canh nông và “thương hiệu” dùng cho các thương phẩm Theo

từ điển Việt Nam do Ban tu thư Khai Trí biên soạn thì “thương hiệu” là “tên hiệu” của nhà buôn còn “nhãn hiệu” là “giấy dán ngoài để làm hiệu” Trong từ điển Việt Anh của Nguyễn Văn Khôn, “thương hiệu” được dịch là “sign board” và “nhãn hiệu” là

“trademark, board”.9 Hiện tại thương hiệu không được quy định một cách chính thức trong văn bản pháp luật nên có thể hiểu theo hai cách

Cách thứ nhất, thương hiệu là một khái niệm rộng bao hàm cả nhãn hiệu hàng hóa: tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại

Ví dụ: Là một nhà sản xuất có thể đặc trưng bởi một thương hiệu nhưng kèm theo đó có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau như Honda là một thương hiệu có các nhãn hiệu hàng hoá kèm theo như: Wase S, RSX, SH, Click, Airblaek,

Đồng thờ còn có sự khác biệt giứa hai khái niệm này là ngoài hai phần giống nhau là tên gọi (name) và biểu tượng (logo) thì thương hiệu thường có khẩu hiệu (slogan) đi kèm, chẳng như, Bitis’-“ nâng niu bàn chân Việt”, Henikens- “chỉ có thể là Henikens”

Trang 19

Cách thứ hai, theo nghĩa hẹp thì thuật ngữ thương hiệu mang ý nghĩa tương đồng với nhãn hiệu hàng hóa vì xuất phát từ một thuật ngữ pháp lý tiếng Anh là

“trademark”, được dịch sang tiếng Việt có nghĩa là nhãn hiệu thương mại gọi tắt là thương hiệu, theo quy định của pháp luật các nước sử dụng tiếng Anh, Công ước Paris đều có nghĩa là nhãn hiệu hàng hóa.10

Tóm lại, ta có thể thấy rằng thương hiệu và nhãn hiệu là hai khái niệm mang

tính chất tương đồng bởi chúng đều xuất phát từ một cái tên, một biểu tượng nào đó Tuy nhiên, xét ở góc độ khác thì hai thuật ngữ này vẫn có điểm khác nhau

Thứ nhất, thuật ngữ thương hiệu và nhãn hiệu là hai thuật ngữ được dùng

trong những ngữ cảnh khác nhau Ở góc độ pháp lý, sử dụng thuật ngữ nhãn hiệu là dùng như trong các quy định của pháp luật ở Việt Nam, nhưng ở góc độ quản trị doanh nghiệp và marketing thì người ta thường dùng thuật ngữ thương hiệu Trong tiếng Anh, hai thuật ngữ Brand và Trademark cũng tồn tại song song và người ta cũng dùng trong những ngữ cảnh tương tự như vậy Thực tế, trong các tài liệu của nước ngoài, chúng ta thường gặp các cụm từ “Building Brand”, “Brand Strategy”; “Brand Image”;

“Brand Vision”; “Brand Manager” được hiểu là “Xây dựng thư”; “Quản trị thương hiệu” Trong khi đó thuật ngữ “Trademark” chỉ gặp khi nói về vấn đề đăng ký bảo hộ hoặc trong các văn bản pháp lý (registered trademark), mà không gặp các cụm từ tương ứng là “Building trademark”; “Trademark Manager”; “Trademark Vision” Sự tranh cãi về thuật ngữ thương hiệu và nhãn hiệu vẫn chưa ngã ngũ, mà chủ yếu là do cách tiếp cận từ những góc độ khác nhau của vấn đề

Thứ hai, cũng có thể phân biệt thương hiệu với nhãn hiệu hàng hóa trên một

số khía cạnh như sau:

Một là, thương hiệu được hiểu không chỉ là các dấu hiệu như nhãn hiệu mà

quan trọng hơn nó là hình tượng về hàng hóa, dịch vụ trong tâm trí người tiêu dùng

Hai là, nhãn hiệu được tạo ra có thể trong thời gian ngắn hoặc rất ngắn, trong

khi đó để tạo dựng nên một thương hiệu được người tiêu dùng tin dùng đôi khi là cả cuộc đời của doanh nhân

10

Đinh Thị Mai Phương – Phan Thị Hải Anh- Điêu Ngọc Tuấn, Cẩm nang pháp luật về Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2004, tr 157-158

Trang 20

Ba là, thương hiệu nổi tiếng sẽ tồn tại theo thời gian nhưng nhãn hiệu lại có

giá trị pháp lý trong thời gian nhất định (thời hạn bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa thường là

10 năm và có thể được kéo dài bằng việc gia hạn)

Bốn là, nhãn hiệu hàng hóa được các cơ quan quản lý Nhà nước công nhận và

bảo hộ còn thương hiệu là kết quả phấn đấu lậu dài của doanh nghiệp và người tiêu dùng chính là người công nhận.11

1.1.4.3 Phân biệt nhãn hiệu với tên thương mại

Theo quy định tại Điều 4 Khoản 21 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005; Sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì tên thương mại là “tên gọi của cá nhân, tổ chức dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh” Khu vực kinh doanh tại khoản này là khu vực địa lý của chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng Tên thương mại phải bao gồm các từ ngữ, chữ số phát âm phát âm được và một doanh nghiệp chỉ có một tên thương mại

So với tên thương mại thì nhãn hiệu có điểm khác nhau, nhãn hiệu là “dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” Một doanh nghiệp có thể sản xuất nhiều sản phẩm hoặc có thể kinh doanh nhiều dịch vụ Như vậy, một doanh nghiệp có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa

Một sự khác biệt nữa là bản thân tên thương mại có thể tự động được bảo hộ (nếu đáp ứng các tiêu chí đã được quy định) mà không cần đăng ký kinh doanh (khoản

3 Điều 6 Nghị định 103/2006) Tên thương mại được tiếp nhận là tên đầy đủ của công

ty ghi trong Giấy đăng ký kinh doanh.Còn nhãn hiệu bắt buộc phải trả qua thủ tục nộp đơn đăng ký và quyền sở hữu đối với nhãn hiệu được xác lập sau khi nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trừ trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng và thẩm định

1.1.4.4 Phân biệt nhãn hiệu với kiểu dáng công nghiệp

Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm Được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này (khoản 13 Điều

4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam) Với định nghĩa này, kiểu dáng công nghiệp có thể được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả kiểu dáng công nghiệp hai chiều(ví dụ: cách

11

Nguyễn Quốc Thịnh, phân biệt sự khác nhau giứa thương hiệu và nhãn hiệu, http:// gomm.com.vn/10385- phan-biet-su-khac-nhau-giua-thuong-hieu-và-nhan-hieu/ (Truy cập ngày 24/10/2012)

Trang 21

trình bày trên một nhãn sản phẩm), kiểu dáng công nghiệp ba chiều (ví dụ: hình ảnh, cách trang trí và màu sắc của một chiếc xe máy Và nhìn chung là bất cứ cái gì, có thể nhìn thấy được từ bên ngoài sản phẩm, gây được sự chú ý và ấn tượng thẩm mỹ từ người tiêu dùng

Hơn thế nữa, kiểu dáng công nghiệp có chức năng chủ yếu là hấp dẫn thị giác người tiêu dùng, còn chức năng chủ yếu của nhãn hiệu là để phân biệt sản phẩm và dịch vụ của nhà sản xuất này với sản phẩm và dịch vụ của nhà sản xuất khác cùng lĩnh vực.Đồng thời về mặt pháp lý, kiểu dáng công nghiệp phải tuân theo một hệ thống đăng ký nhằm bảo vệ những đặc điểm riêng biệt tránh việc “xâm phạm” còn nhãn hiệu không bắt buộc đối với nhãn hiệu nổi tiếng thì việc bảo hộ trở nên mặc nhiên

Ngoài ra; thời hạn bảo hộ, gia hạn của nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp cũng khác nhau: thời gian bảo hộ nhãn hiệu là mười năm, còn kiểu dáng công nghiệp

là năm năm; thời gian gia hạn của nhãn hiệu có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp và mỗi lần là mười năm, còn kiểu dáng công nghiệp là hai lần và mỗi lần là năm năm

Khái quát về bảo hộ nhãn hiệu và các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu

1.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU 1.2.1 Trên thế giới

Ngay từ thời Cổ đại, nhiều vùng có tục lệ dùng một dấu hiệu riêng gắn lên sản phẩm để đánh dấu người sản xuất của chủ sở hữu sản phẩm đó VD : người nguyên thủy đã sử dụng những biểu tượng, ký hiệu riêng để đánh dấu lên sườn các con vật để khẳng định quyền sở hữu của mình

Đến thế kỷ XIX, khi sản xuất hàng hóa phát triển, nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa những người khác nhau trong xã hội có điều kiện phát triển Để giúp cho người tiêu dùng nhận biết được hàng hóa một cách nhanh nhất, các nhà sản xuất đã nghĩ ra cách là cần phải gắn nhãn mác lên hàng hóa, sản phẩm do mình sản xuất ra Do đó nhãn hiệu được ra đời

Trong quá trình cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ sản phẩm thì hiện tượng bắt được nhãn hiệu của nhau và gây thiệt hại cho chủ nhãn hiệu ngày càng nhiều, số vụ xử kiện tại tòa án ngày càng tăng Vấn đề Tòa án thời đó cần phán quyết

là quyền đối với nhãn hiệu cụ thể nào thuộc về ai ? Trong các trường hợp này nguyên

Trang 22

tắc được Tòa án áp dụng là: nhãn hiệu thuộc về người đầu tiên sử dụng nhãn hiệu hàng hóa đó Lúc đầu các sổ nhãn hiệu chỉ dùng theo dõi các nhãn hiệu bị tranh chấp, sau đó ghi cả những nhãn hiệu không bị tranh chấp để đề phòng các tranh chấp trong tương lai Cuối cùng ngay cả các nhãn hiệu chưa được sử dụng nhưng chủ nhãn hiệu có ý định sử dụng cũng được ghi vào sổ Theo dõi nhãn hiệu, đăng ký nhãn hiệu tại Tòa án Tuy nhiên việc đăng ký nhãn hiệu như vậy theo thông lệ chứ không theo một quy định của văn bản pháp luật nào

Theo tài liệu của WIPO, luật nhãn hiệu hàng hóa được ban hành đầu tiên vào năm 1857 tại Pháp Theo Luật này, quyền đối với một nhãn hiệu thuộc về người thực hiện sớm nhất trong việc sử dụng nhãn hiệu và đăng ký nhãn hiệu theo quy định của luật Nếu người đăng ký nhãn hiệu nhưng thời điểm sử dụng nhãn hiệu của người đó lại sau người đăng ký nhãn hiệu thứ hai thì quyền đối với nhãn hiệu thuộc về người thứ hai

Tiếp theo Pháp là các nước: Italia năm 1868, Bỉ năm 1879, Mỹ năm 1881, Anh năm 1883, Đức năm 1894, Nga năm 1896 đều lần lược ban hành Luật nhãn hiệu của mình Đến nay, hầu hết các nước đều có Luật nhãn hiệu cho riêng mình Số đơn đăng ký và số giấy chứng nhận đăng bạ nhãn hiệu ngày càng tăng lên ở từng nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển Trong những năm gần đây hàng năm trên thế giới có từ 600 đến 700 nghìn nhãn hiệu được cấp giấy chứng nhận.12

Cùng với sự ra đời Luật nhãn hiệu ở các nước, nhiều công ước liên quan đến nhãn hiệu cũng được ban hành như : Công ước Paris năm 1883 về: Bảo hộ sở hữu công nghiệp liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế Với sự ra đời của Công ước Paris và Thỏa ước Madrid đã góp phần quan trọng vào việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa cho các chủ sở hữu Ngoài ra, sự ra đời của Hiệp định TRIPS được ký kết với các thành viên trong khuôn khổ WTO càng làm cho việc thực thi việc bảo hộ nhãn hiệu được tốt hơn

Trang 23

Trong Bộ Luật Hồng Đức, đã có quy định về hình thức xử phạt đối với tội làm hàng giả, đây có thể xem là nền móng, là cơ sở đầu tiên để bảo vệ các nhãn hiệu Về sau, những quy định về nhãn hiệu đã được ban hành dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật: Nghị định số 97 của Hội đồng Bộ trưởng ngày 14 tháng 12 năm 1982 quy định “ Điều lệ về nhãn hiệu hàng hóa “, đây là văn bản đầu tiên nhắc đến việc độc quyền bảo hộ nhãn hiệu Nghị định số 201/HĐBT ngày 28 tháng 12 năm 1988 về mua bán quyền sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa và bí quyết kĩ thuật Vấn đề về nhãn hiệu đã thật sự quan tâm dến Năm 1989 với pháp lệnh bảo hộ sở hữu công nghiệp được công bố theo pháp lệnh 13/LCT/HĐNN ngày 11 tháng 12 năm 1989 đã mở ra giai đoạn mới trong lính vực bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra những phương hướng nhằm làm cho việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói riêng ngày càng phát triển Những phương hướng đó được quy định cụ thể tại Điều

60 Hiến Pháp 1992 Ngày 28 tháng 10 năm 1995 tại kỳ hợp thứ 8 Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ Luật Dân Sự nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Bộ Luật dân

sự năm 1995 chính thức thiết lập chế độ pháp lý cao nhất cho việc xác lập, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp 13 Định nghĩa về nhãn hiệu hàng hóa được quy định tại Điều 785 Mục 1, chương II, phần thứ VI Đây được xem là định nghĩa đầu tiên về nhãn hiệu tại Việt Nam

Bộ luật dân sự năm 2005 ở chương XXXV về quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng thì nhãn hiệu cũng được đề cập đến Bộ luật dân sự

2005 ra đời, đánh dấu bước phát triển trong việc xây dựng hệ thống pháp luật và đặc biệt là về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam Sau Bộ luật dân sự là các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, các Bộ, ban ngành được ban hành Có thể kể đến các văn bản như: Nghị định 63/NĐ Chính Phủ ngày 24 tháng 10 năm 1996 quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp Thông tư số 3055 ngày 31 tháng 12 năm 1996 của Bộ khoa học công nghệ và Môi trường hướng dẫn thi hành nghị định 63

1.2.2.2 Sự phát triển của pháp luật về nhãn hiệu từ khi có Luật sở hữu trí tuệ ra đời

13

Lê Nết, Quyền sở hữu trí tuệ, Tài liệu bài giảng, Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005, Tr

31

Trang 24

Năm 2005, Luật sở hữu trí tuệ được ban hành đã thay thế toàn bộ các Nghị định và các văn bản trước đó, đây là Luật chuyên ngành đầu tiên về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam Kể từ khi Luật sở hữu trí tuệ 2005 ra đời , nhãn hiệu được điều chỉnh bởi Luật này và một số văn bản khác có liên quan: Luật hình sự, Luật hành chính Bên cạnh Luật sở hữu trí tuệ, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định, thông tư hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cho việc thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ như: Nghị định 100/2006/NĐ- CP ngày 21 tháng 9 năm 2006; Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày

22 tháng 9 năm 2006 Luật sở hữu trí tuệ ra đời, đã góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về Sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ về nhãn hiệu nói riêng Tạo điều kiện thuận lợi đưa nền kinh tế nước ta hòa nhập vào tiến trình phát triển chung của nền kinh tế thế giới

1.2.3 Khái niệm bảo hộ nhãn hiệu

Theo cách lý giải trong từ điển Tiếng Việt thì Bảo hộ được hiểu là “che chở, không để bị tổn thất”14 Như vậy, bảo hộ nhãn hiệu là những hành động mang tính chất che chở quyền sở hữu đối với nhãn hiệu nhằm không để xảy ra tổn thất về cả tinh thần

và vật chất của nhãn hiệu được bảo hộ

Một nhãn hiệu được coi là hợp pháp nếu được đăng ký bảo hộ và sử dụng theo quy định của Pháp luật sở hữu trí tuệ Ngay từ xưa, một nhãn hiệu hàng hóa có thể được bảo hộ dựa trên cơ sở là việc sử dụng hoặc đăng ký, nghĩa là chỉ cần một trong hai cơ sở đó thì nhãn hiệu được bảo hộ Ngày nay, các hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa thường kết hợp cr hai yếu tố trên ( đăng ký và sử dụng ) Công ước Paris ( Việt Nam là thành viên ) buộc các nước thành viên có nghĩa vụ phải thiết lập đăng ký nhãn hiệu hàng hóa Hiện nay có hơn một trăm năm mươi quốc gia gia nhập công ước này Gần như tất cả các quốc gia đều quy định đăng ký nhãn hiệu hàng hóa

và việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa một cách đầy đủ chỉ được bảo đảm thích đáng thông qua việc đăng ký

Ở Việt Nam thì việc bảo hộ nhãn hiệu là việc Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật xác lập quyền của các chủ thể ( có thể là tổ chức, cá nhân ) đối với nhãn hiệu

và bảo vệ quyền đó chống lại bất kỳ sự vi phạm nào của bên thứ ba 15 Việc xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu được thực hiện dưới hình thức cấp văn bằng bảo hộ

Trang 25

cho chủ thể có quyền sở hữu đối với nhãn hiệu hàng hóa đó Tuy nhiên không phải bất

kỳ nhãn hiệu nào cũng được Nhà nước thừa nhận và xác lập quyền sở hữu đối mà nhãn hiệu đó phải thỏa các điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ

Theo Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau :

 Tính hợp pháp:

Nhãn hiệu là những dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc Các dấu hiệu này phải không thuộc các dấu hiệu bị cấm đoán Theo Điều 6 Công ước Paris buộc các nước thành viên từ chối đăng ký hoặc cấm các nhãn hiệu chứa các biểu tượng quốc gia và các dấu hiệu chính thức mà không được phép Quy trình này áp dụng cho huy hiệu, cờ, các biểu tượng khác, các chữ viết tắt và tên của tổ chức Liên Chính Phủ

Ngoài ra theo Điều 787 Bộ luật dân sự 2005, các dấu hiệu trái đạo đức xã hội, trật

tự công cộng không thể được sử dụng làm nhãn hiệu: Nhãn hiệu bằng từ ngữ phản cách mạng hoặc một hình ảnh khiêu dâm không thể được hưởng sự bảo hộ của Nhà nước Nhãn hiệu có tính cách lừa dối người tiêu dùng cũng bị coi là trái trật tự công cộng: không thể dùng từ “ nước khoáng thiên nhiên “ làm nhãn hiệu cho nước lọc tinh khiết.16 Việc sử dụng nhãn hiệu có tính chất gian trá là một lõi khiến nhãn hiệu vô giá trị và có thể dẫn tới trách nhiệm bồi thường

 Tính cá biệt của nhãn hiệu:

Tính cá biệt phải được thể hiện dưới hai mặt: trước hết không thể sử dụng một

từ ngữ thông dụng mà mọi người đều phải dùng để chỉ các sản phẩm hay dịch vụ cùng loại Việc giành độc quyền sử dụng từ ngữ này sẽ gây trở ngại nghiêm trọng cho việc kinh doanh của các người khác Vì vậy nên nhãn hiệu phải có tính độc đáo

Mặt khác, nhãn hiệu phải chưa được ai đăng ký Nghĩa là nhãn hiệu phải mới

Về tính độc đáo của nhãn hiệu, điều này không có nghĩa là từ ngữ, hình ảnh dùng làm nhãn hiệu phải có tính độc đáo tuyệt đối Nhãn hiệu đó không nhất thiết là tác phẩm văn chương nghệ thuật, một sự sáng tạo, nó có thể là một từ ngữ bình thường

16

Lê Xuân Thảo, Đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, NXB Tư Pháp, năm 2005,Tr.123

Trang 26

trong nhân gian Điều cần biết là việc lựa chọn một từ ngữ hay hình ảnh làm nhãn hiệu không dẫn đến việc chiếm đoạt cho riêng mình một dấu hiệu cần thiết cho mọi nhà kinh doanh để giới thiệu sản phẩm hay dịch vụ đó ( Moka cho cà phê, Bảo lộc cho trà ) Khi đó ta có nhãn hiệu chủng loại , thông dụng không cá biệt Nó cũng có thể bao gồm một từ ngữ chỉ tính chất cơ bản của sản phẩm hay dịch vụ ( hảo hạng, lý tưởng…), khi đó nhãn hiệu có tính chất mô tả Trong cả hai trường hợp này nhãn hiệu

bị xem là vô hiệu vì một cá nhân không thể chiếm đoạt cho riêng mình từ ngữ cần thiết cho mọi người để giới thiệu sản phẩm hay dịch vụ của mình cho công chúng.17

Về tính mới của nhãn hiệu, nhãn hiệu phải mới nghĩa là vào lúc đăng ký chưa

có ai đăng ký nhãn hiệu ấy hoặc là dấu hiệu được sử dụng chưa là đối tượng của một quyền đối nghịch khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động Như vậy không được dung

để làm nhãn hiệu: các dấu hiệu đã được đăng ký trước; các tên thương mại, tên công ty

có khả năng gây nhầm lẫn; tên gọi xuất xứ hàng hóa được bảo hộ

Ngoài ra theo Điều 73 Luật sở hữu trí tuệ, các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu:

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -

xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;

17

Lê Xuân Thảo, Đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, NXB Tư Pháp, năm 2005, Tr.124

Trang 27

Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ

Nhãn hiệu thường là những dấu hiệu có khả năng phân biệt Tuy nhiên, chỉ dẫn địa lý thường bị coi là không có khả năng phân biệt Vì vậy, những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý không thể coi là đối tượng của bảo hộ nhãn hiệu Theo Khoản 2 Điều

74 Luật sở hữu trí tuệ 2005 liệt kê các nhãn hiệu bị xem là không có khả năng phân biệt, trong đó có trường hợp nhãn hiệu là “ dấu hiệu chỉ nguồn gốc, hàng hóa của dịch

vụ “

Tuy nhiên, trên thực tế ở nước ta có nhiều dấu hiệu mang nguồn gốc địa lý được bảo hộ như một nhãn hiệu18 Vì thế, tại Điểm d Khoản 2 Điều 74 Luật sở hữu trí tuệ có dành một trường hợp ngoại lệ cho việc đăng ký nhãn hiệu là dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý nếu “ dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại luật này “ Như vậy, luật đã liệt kê ba trường hợp ngoại lệ chỉ dẫn địa lý được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu:

Thứ nhất, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý đã được sử dụng và thừa nhận rộng

rãi với một danh nghĩa nhãn hiệu19 Ví dụ: nhãn hiệu “ vang Đà Lạt “ của công ty cổ phần thực phẩm Lâm Đồng, nhãn hiệu “ Bia Sài Gòn “ của công ty bia rượu, nước giải khát Sài Gòn…Tuy nhiên, việc xác định dấu hiệu chỉ dẫn địa lý nào được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa nhãn hiệu là điều không dễ Như thế nào mới đạt tiêu chuẩn “ đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi “, Luật không có một quy định cụ thể đã gây không ít khó khăn trong việc thi hành

Thứ hai, các nguồn gốc địa lý được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu tập thể Theo

khoản 3 Điều 87 Luật sở hữu trí tuệ: “ Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên cuả mình sử dụng theo quy chế sử dụng tập thể; đối với dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức

có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất kinh doanh tại đại phương đó “

Trang 28

Thứ ba, các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý được bảo hộ dưới nhãn hiệu chứng

nhận Việc quy định về nhãn hiệu chứng nhận là một điểm mới của Luật sở hữu trí tuệ Nhãn hiệu này như là một lời cam kết các sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu chứng nhận có tính chất chung về xuất xứ địa lý, nguyên vật liệu, phương pháp sản xuất

1.2.4 Hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu

1.2.4.1 Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Tại khoản 1 Điều 129 Luật sở hữu trí tuệ Việt năm 2005; Sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu Theo đó, hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được hiểu là các hành vi sử dụng đối với nhãn hiệu

mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu một cách mặc nhiên khi đã cảnh báo bằng ký hiệu R (Registered- có nghĩa là đã được đăng ký), và cả trong trường hợp Li-xăng theo thời gian và lãnh thổ, sản phẩm và dịch vụ, chủ sở hữu cho phép thông qua hợp đồng Li-xăng nhãn hiệu – hợp đồng theo đó chủ sở hữu một nhãn hiệu cho phép một người thứ ba được dán nhãn hiệu trên các sản phẩm do người sản xuất và sử dụng nhãn hiệu trong việc kinh doanh nhưng vượt quá thời gian hoặc phạm vi được cho phép

Ví dụ: Một hợp đồng Li-xăng nhãn hiệu có thời hạn hai năm nhưng hết thời hạn đó bên được nhượng quyền không ký tiếp hợp đồng mới mà vẫn tiếp tục sử dụng

và chỉ cho sử dụng sản phẩm, dịch vụ này nhưng lại sử dụng sản phẩm, dịch vụ khác không được ghi nhận trong hợp đồng Ngoài ra vẫn có những trường hợp do không biết sự tồn tại của nhãn hiệu được bảo hộ mà sử dụng nhãn hiệu giống hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn cho hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đang được bảo hộ

Như vậy, suy cho cùng dù với lỗi cố ý hay vô ý thì các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu đều dẫn đến hậu quả là làm mất khả năng phân biệt của nhãn hiệu, khi đó khả năng phân biệt là yếu tố quan trọng để người tiêu dùng nhận diện sản phẩm cần hướng đến trong hàng loạt các sản phẩm cùng loại trên thị trường Vì thê, mục đích của các hành vi trên chính là gây ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng trong quá trình chọn lựa sản phẩm nhằm thu lợi bất chính cho mình

1.2.4.2 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu

Trang 29

Bên cạnh pháp luật cạnh tranh, thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như: Luật sở hữu trí tuệ năm 2005; Sửa đổi, bổ sung năm 2009, Bộ Luật dân sự năm 2005

Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật cạnh tranh Việt Nam thì “hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” Tại Điều 10 bis của Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đã có quy định: “Tạo thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh mọi hành vi đi ngược lại các tập quán trung thực trong lĩnh vực công nghiệp hoặc thương mại” Như vậy, hai khái niệm cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong Luật cạnh tranh hiện hành và công ước Paris năm

1883 có cách hiểu khá giống nhau, vẫn là tiêu chí đánh giá không rõ ràng, rất khó xác định và gây khó khăn cho hoạt động thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam là “các tiêu chuẩn thông thường về đạo đức kinh doanh”

Theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ, hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu được quy định là hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại

để gắn lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó 20 So với quy định trong văn bản nêu trên thì quy định trong Luật sở hữu trí tuệ mang tính chất hẹp hơn, hành vi cạnh tranh không lành mạnh chủ yếu bao gồm hành vi cố tình tạo ra sự nhầm lẫn về cơ sở sản xuất, sản phẩm hoặc hoạt động kinh doanh của một đối thủ cạnh tranh; viện dẫn hoặc chỉ dẫn tạo nên

sự nhầm lẫn trong suy nghĩ của người dân về bản chất, phương thức sản xuất, đặc tính, khả năng ứng dụng hoặc số lượng hàng hoá…

Tóm lại, khi nói đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh tức là nói đến những hành vi cạnh tranh không đẹp, trái đạo đức xã hội kinh doanh và những hành vi này có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực đến Nhà nước, nhà sản xuất hay người tiêu dùng, làm náo loạn trật tự kỷ cương, an ninh kinh tế

20

Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005; Sửa đổi , bổ sung năm 2009

Trang 30

Như vậy, hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và hành vi cạnh tranh không lành mạnh có điểm giống nhau là những biểu hiện ra bên ngoài của sản phẩm nhằm gây nhầm lẫn, ấn tượng sai lệch cho sản phẩm của doanh nghiệp chân chính Tuy nhiên, xuất phát từ chính bản chất pháp lý của mỗi loại hành vi thì giữa chúng vẫn

có những điểm khác biệt Đó chính là sự khác khau về phạm vi áp dụng, yếu tố chủ thể

và yếu tố lỗi.21

Một là; về phạm vi áp dụng, chỉ có thể tạo thành hành vi xâm phạm quyền đối

với nhãn hiệu khi nhãn hiệu đó đang được đăng ký bảo hộ hợp pháp Nói một cách khác đi sẽ không có khái niệm về xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu khi mà quyền đó không hề tồn tại, ví dụ như trường hợp một nhãn hiệu không đăng ký thì không thể căn

cứ vào pháp luật về Sở hữu trí tuệ để bảo vệ khi bị xâm phạm Tuy nhiên, cũng trong trường hợp này lại hoàn toàn có thể áp dụng Luật cạnh tranh để điều chỉnh, theo đó hành vi sử dụng chỉ dẫn làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh là một dạng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh, không phụ thuộc vào việc dấu hiệu chỉ dẫn đó đã được đăng ký hay chưa Từ sự phân tích này có thể thấy những “đối tượng có liên quan đến Sở hữu trí tuệ” thuộc phạm vi

áp dụng Luật cạnh tranh rộng hơn so với pháp luật về Sở hữu trí tuệ Các đối tượng như khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng, bao bì… nếu không được bảo hộ bằng các quy định riêng về Sở hữu trí tuệ thì hoàn toàn có thể tìm thấy cơ sở pháp lý để bảo vệ trong Luật cạnh tranh

Hai là yếu tố chủ thể, không thể nói đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh

khi mà trên thực tế các chủ thể không ở trong vị thế “cạnh tranh” với nhau Cụ thể, chỉ

có thể kết luận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh nếu các chủ thể có hành vi bị cấm đối với đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan, bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan (Khoản 1 Điều 3 Luật cạnh tranh) theo nguyên tắc được pháp luật các nước thừa nhận rằng “Mọi thương nhân trung thực phải có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp cần thiết để cá biệt hoá sản phẩm của mình nhằm không gây nhầm lẫn với sản phẩm khác” Trong khi đó, có thể kết luận hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu với bất kỳ chủ thể nào vi phạm độc quyền của chủ sở hữu đã được pháp luật quy định Có thể lấy một ví dụ hình tượng như một doanh

21

Nguyễn Hữu Huyên, phân biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm quyền sở hữu tri tuệ Tạp chí Cạnh tranh và người tiêu dùng, số 05, năm 2009, tr.25

Trang 31

nghiệp tại Cà Mau đã copy nguyên vẹn một nhãn hiệu đã đăng ký cho cùng nhóm sản phẩm của doanh nghiệp khác có trụ sở và phạm vi hoạt động tại Cao Bằng Giả sử rằng hai doanh nghiệp này không có quan hệ cạnh tranh với nhau trên thị trường địa lý liên quan (do ở quá xa nhau), thì chủ nhãn hiệu vẫn hoàn toàn có thể kiện về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu đó nhưng sẽ không thể kiện về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Ba là yếu tố lỗi,hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi có lỗi cố ý

theo pháp luật hiện hành cũng như được ghi nhận từ lâu trong pháp luật các nước Điều 40 của Luật cạnh tranh chỉ rõ hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn phải “nhằm mục đích cạnh tranh”, do đó không thể nói tới cạnh tranh không lành mạnh khi mà người chủ thể không biết mình đang thực hành vi bị cấm Đối với lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, lỗi không phải là yếu tố bắt buộc cấu thành hành vi xâm phạm Một khi nhãn hiệu đã được đăng

ký theo đúng trình tự pháp luật quy định thì các chủ thể khác được suy đoán là đã biết tới quyền của chủ sở hữu Do đó, sẽ cấu thành hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu mọi hành vi thuộc độc quyền của chủ sở hữu quyền đối với nhãn hiệu mà không được chủ sở hữu cho phép.22

Tóm lại, hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và hành vi cạnh tranh

không lành mạnh đều là những hành vi vi phạm pháp luật nhưng mỗi hành vi lại mang những tính chất khác nhau có biện pháp xử lý khác nhau, phân biệt các hành vi trên trong mối quan hệ tương hỗ nhằm mục đích tìm ra cơ sở bảo vệ cho người bị xâm phạm một cách hữu hiệu nhất trong việc lựa chọn pháp luật áp dụng

1.2.4.3 Phân biệt giữa hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và hành vi vi phạm quyền đối với nhãn hiệu

Khái niệm “xâm phạm quyền” và “vi phạm quyền” là hai khái niệm gần như mang ý nghĩa tương đồng nhưng xét dưới góc độ quản lý Nhà nước thì đó là hai khái niệm khác nhau bởi vì xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là hành vi xâm phạm đến các quyền của chủ thể quyền sở hữu đối với nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Một khi cá nhân, tổ chức nào không được sự cho phép của chủ sở hữu quyền đối với nhãn hiệu trong thời gian bảo hộ thì được xem là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu Còn hành vi vi phạm quyền đối với nhãn hiệu là hành vi vi phạm các quy định quản lý

22

http:/ mot.gov.vn

Trang 32

nhà nước về sở hữu đối với nhãn hiệu Nhà nước đề ra các biện pháp quản lý như các quy định trong việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu, thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên đối với nhãn hiệu Các quy định quản lý này nhằm đảm bảo sự ổn định, thống nhất trong quản lý nhà nước Vì vậy, cá nhân, tổ chức vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định ở mức độ hành chính hay hình sự

Một thực tế hiện nay cho thấy tình hình xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mà nhãn hiệu là một trong những đối tượng bị xâm phạm phổ biến, quy mô và mức độ tinh vi hơn trước do áp dụng thành tựu khoa học công nghệ và kỹ thuật hiện đại, gây hậu quả nghiêm trọng cho nhiều người Do đó cần có những biện pháp xử lý thật thích đáng nhằm phòng chống và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

1.2.4.4 Đặc điểm của các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu

 Xâm phạm quyền đối với nhãn hiêu phải được thực hiện trong phạm vi độc quyền được bảo hộ

Một khi nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu thì người chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ có quyền đối với nhãn hiệu đó theo quy định của pháp luật và được cấp văn bằng bảo hộ như là một công cụ pháp lý để chứng minh quyền sở hữu nhãn hiệu Văn bằng bảo hộ tạo lập một độc quyền khai thác nhãn hiệu Quyền này có ba giới hạn đó

là giới hạn về không gian, về thời gian và về đối tượng của sở hữu công nghiệp được bảo hộ

- Giới hạn về không gian

Theo nguyên tắc lãnh thổ tính của văn bằng bảo hộ thì chỉ có những hành vi xảy ra trên lãnh thổ của quốc gia cấp văn bằng bảo hộ mới cấu thành vi phạm đối với nhãn hiệu Do đó hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được bảo hộ bởi một văn bằng do Việt Nam cấp xảy ra tại Pháp không phải là một sự vi phạm theo luật Việt Nam; ngược lại việc nhập khẩu các sản phẩm sản xuất tại Pháp vào Việt Nam có thể xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam

- Giới hạn về thời gian

Một hành vi được xem là xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu nếu hành vi đó xảy ra trong thời gian bảo hộ nhãn hiệu Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được

Trang 33

xác định kể từ ngày phát sinh độc quyền của người được cấp văn bằng bảo hộ cho đến ngày văn bằng bảo hộ hết hiệu lực.Văn bằng bảo hộ hết hiệu lực khi thời hạn hiệu lực chấm dứt, khi đó độc quyền khai thác nhãn hiệu cũng chấm dứt, độc quyền phát sinh

từ ngày nộp đơn yêu cầu bảo hộ (ngàu ưu tiên), tức là trước ngày cấp văn bằng Tuy nhiên ngày nộp đơn chỉ có thể đối kháng với người thứ ba nếu đã được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp; do đó hành vi thực hiện trước ngày công bố không phải

là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu Ngoài ra văn bằng bảo hộ cũng có thể hết hiệu lực nếu bị hủy bỏ theo quyết định của Cục Sở hữu Công nghiệp hoặc bị Tòa

án tuyên bố vô hiệu

- Giới hạn về đối tượng của văn bằng

Một hành vi chỉ bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu khi xâm phạm đến nhãn hiệu trong văn bằng bảo hộ Do đó cần xác định nhãn hiệu được bảo hộ, sau

đó phải so sánh hành vi bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu với nhãn hiệu hợp pháp Chủ sở hữu văn bằng bảo hộ nhãn hiệu phải có nghĩa vụ chứng minh những yếu

tố nào được xem là bị xâm phạm trình lên Tòa án Sau đó, Tòa án sẽ xem xét so sánh đối chiếu các chứng cứ với nhãn hiệu được bảo hộ, có thể căn cứ vào các mô tả kèm theo đơn xin cấp văn bằng bảo hộ, các hình vẽ, và nếu cần có thể trưng cầu ý kiến của các cơ quan chuyên môn khác

 Sự xâm phạm phải hội đủ các yếu tố cấu thành theo quy định của pháp luật Xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là hành vi sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ

mà không xin phép chủ sở hữu nhãn hiệu đó Yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn vói nhãn hiệu được bảo hộ theo quy định của pháp luật Để có thể đưa ra các kết luận về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu thì nội dung quan trọng là phải xác định có yếu tố xâm phạm hay không Muốn biết được có yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu thì ta đem so sánh giữa nhãn hiệu bị nghi ngờ xâm phạm với nhãn hiệu, phạm vi và nội dung bảo hộ nhãn hiệu tại các văn bằng bảo hộ Thêm vào đó dấu hiệu trùng hoặc tương tự, gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ phải thỏa mãn hai điều kiện:

Thứ nhất, dấu hiệu nghi ngờ trùng khi có cùng cấu tạo (kể cả cách phát âm,

phiên âm đối với chữ cái, ý nghĩa) và cách trình bày, hoặc tương tự khi có một số đặc điểm hoàn toàn trùng hoặc tương tự đến mức không thể dễ dàng phân biệt với nhau về

Trang 34

cấu tạo, cách phát âm, phiên âm ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc so với dấu hiệu thuộc phạm vi bảo hộ

Thứ hai, hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự về

bản chất, hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng hệ thống tiêu thụ với hàng hóa thuộc danh mục, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ, gây ấn tượng sai lệch người

sử dụng dấu hiệu là chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc có mối liên hệ với chủ sở hữu nhãn hiệu được quy định tại Điều 11.3 Nghị định 105 ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ.23

Tóm lại một hành vi được xem là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu khi đáp ứng các điều kiện về yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn giống nhau về cấu tạo, bản chất, cách trình bày, chức năng, công dụng với nhãn hiệu được bảo hộ nhằm gây khó phân biệt cho người tiêu dùng và các nhà sản xuất khác

1.2.4.5 Hành vi vi phạm tên miền trên Internet liên quan đến nhãn hiệu

1.2.4.5.1 Khái quát về tên miền

Theo quy định tại điểm 3.1 và 3.8 của Thông tư 01/2008/TT-BTTTT về giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” thì tên miền được hiểu là tên được

sử dụng để định danh các địa chỉ Internet và việc “sử dụng tên miền” được hiểu là việc gắn tên miền đó với địa chỉ Internet (địa chỉ IP) cảu máy chủ đang hoạt động phục vụ các ứng dụng trên mạng; hoặc để bảo vệ thương hiệu, nhãn hiệu, tên dịch vụ, tên tổ chức khỏi bị chiếm dụng

Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam không cho tên miền một khái niệm rõ ràng,

và tên miền chỉ được tìm thấy bên cạnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 130 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành: “đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không

có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến

uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng”

23

http://bktech.hut.edu.vn/?p=333

Trang 35

1.2.4.5.2 Các hành vi vi phạm tên miền trên Internet liên quan đến nhãn hiệu

Nếu so về mặt khái niệm thì tên miền và nhãn hiệu hoàn toàn khác nhau, tuy nhiên chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau bởi vì trên thực tế tên miền có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp Khi một doanh nghiệp muốn phát triển, quảng bá sản phẩm của mình trên Internet bằng cách dung tên thương mại hay nhãn hiệu làm địa chỉ trang web, như thế doanh nghiệp sẽ gặp nhiều rắc rối khi tên nhãn hiệu của mình bị người khác sử dụng làm tên miền Các tranh chấp về tên miền diễn ra ngày càng phổ biến do tính đa dạng và cạnh tranh cao của môi trường thương mại, nhiều chủ thể đăng

ký nhiều tên miền một lúc với mục đích “đầu cơ tên miền” để kinh doanh tên miền thu lợi sau này hay “chiếm dụng tên miền” để gây khó khăn trong sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp đối thủ Bởi vậy, có thể nói các hành vi vi phạm tên miền không phải ngẫu nhiên mà tồn tại Từ ngày 01/01/2007 khi luật Công nghệ thông tin có hiệu lực, các tranh chấp về đăng ký, sử dụng tên miền quốc gia.vn được giải quyết thong qua các hình thức: thương lượng, hòa giải, trọng tài và khởi kiện tại Tòa án Theo đó Bộ Thông tin vầ Truyền thông ban hành Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT hướng dẫn cụ thể vấn đề giải quyết tranh chấp này

* Cơ sở phát sinh quyền khởi kiện

Ngoài các yêu cầu chung về điều kiện khởi kiện và nội dung đơn khởi kiện theo yêu cầu của pháp luật, nội dung đơn khởi kiện của chủ thể có tranh chấp phải đáp ứng đầy đủ ba yêu cầu sau:

Một là, tên miền tranh chấp trùng hoặc giống đến mức nhầm lẫn với nhãn

hiệu thương mại hay nhãn hiệu dịch vụ mà người khiếu kiện có quyền và lợi ích hợp pháp

Hai là, người bị khiếu kiện không có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan

Ba là, tên miền đã được người bị khiếu kiện sử dụng với ý đồ xấu đối với

người khiếu kiện theo hướng dẫn tại phần II điểm 2 của Thông tư 10/2008/TT-BTTTT thì tên miền được coi là sử dụng với ý đồ xấu nếu nhằm thực hiện một trong các hành vi:

Hành vi thứ nhất là, cho thuê hay chuyển giao tên miền cho người khiếu kiện

là người chủ của tên, nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu dịch vụ trùng hoặc giống đến

Trang 36

mức gây nhầm lẫn với tên miền đó; cho thuê hay chuyển giao cho đối thủ cạnh tranh của người khiếu kiện vì lợi ích riêng hoặc để kiếm lời bất chính; hoặc

Hành vi thứ hai là, chiếm dụng, ngăn không cho người chủ của tên, nhãn hiệu

thương mại, nhãn hiệu dịch vụ đăng ký tên miền tương ứng với tên miền, nhãn hiệu thương mại hay nhãn hiệu dịch vụ đó; hoặc

Hành vi thứ ba là, hủy hoại danh tiếng của người khiếu kiện, cản trở hoạt

động kinh doanh của người khiếu kiện hoặc gây sự nhầm lẫn, gây mất lòng tin cho công chúng đối với tên, nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu dịch vụ của người khiếu kiện; hoặc

Hành vi thứ tư là, các trường hợp khác chứng minh được việc sử dụng tên

miền với ý đồ xấu

Như vậy, tính chất toàn cầu của đăng ký tên miền đặt ra vấn đề phát sinh từ phạm vi lãnh thổ của đăng ký nhãn hiệu hàng hóa Internet có phạm vi toàn cầu trong khi đó Luật nhãn hiệu hàng hóa có phạm vi quốc gia do đó cùng một nhãn hiệu đã được những người khác nhau đăng ký ở những nước khác nhau có thể cạnh tranh một

vị trí duy nhất làm tên miền

Ví dụ: Một nhãn hiệu “abc” được đăng ký ở nước Anh có thể có một chủ thể khác và có ý nghĩa sử dụng khác so với nhãn hiệu được đăng ký tại Singapo và cả hai chủ nhãn hiệu này có thể rơi và tình trạng xung đột nếu họ tìm cách đăng ký

“abc.com” làm tên miền ở cùng một vị trí tên miền internet.24

* Kết quả giải quyết những tranh chấp

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, sau khi đã có biên bản hòa giải thành; Quyết định đã có hiệu lực của trọng tài; Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, Nhà đăng ký tên miền vn và Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) sẽ căn cứ vào đó để thực hiện việc xử lý tên miền tranh chấp như: thu hồi tên miền để ưu tiên người khiếu kiện đăng ký sử dụng hoặc giữ nguyên hiện trạng: thực hiện các quyết định khác liên quan đến việc thu hồi, treo, giữ có thời hạn tên miền có tranh chấp Ngoài ra, trong qua trình giải quyết tranh chấp, tên miền phải được giữ nguyên hiện trạng, không được phép trả lại, chuyển đổi nhà đăng ký tên miền vn hay chuyển

24

New York Times, Trích “Một trận lụt đơn yêu cầu đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho thấy rõ internet là nơi doanh nghiệp muốn tìm đến”, ngày 15 tháng 5 năm 2000

Trang 37

đổi tổ chức, cá nhân mới Nếu sau khi giải quyết tranh chấp, người khiếu kiện được ưu tiên đăng ký sử dụng tên miền thì phải đăng ký trong vòng 10 ngày; hết thời hạn này

mà người khiếu kiện không thực hiện việc đăng ký sử dụng tên miền, tên miền sẽ được đăng ký tự do.25

Như vậy, tuy không phải là một đối tượng được bảo hộ theo quy định của pháp luật về bảo hộ sở hữu công nghiệp nhưng tên miền có giá trị thương mại và có mối quan hệ mật thiết với nhãn hiệu, tên thương mại Khi đó tên miền được đặt trùng hoặc gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ, tên thương mại của doanh nghiệp khác, được xem là hành vi vi phạm pháp luật Cạnh tranh quy định tại điểm d khoản 1 Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Sửa đổi, bổ sung năm 2009 Và trên thực tế không ít những trường hợp sử dụng những nhãn hiệu nổi tiếng để làm tên miền nhằm mục đích thu hút mọi người vào trang web nhiều hơn

Vi dụ: Nhãn hiệu xe máy Honda bị sử dụng với tên miền “Honda.com” một điều tất yếu là người truy cập sẽ dễ nhầm lẫn vì nghĩ đó là trang thông tin chính thức của nhà sản xuất Honda

1.2.4.6 Sự cần thiết phải xử các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu

Thứ nhất; cá nhân, tổ chức đang sở hữu nhãn hiệu có uy tín nhưng bị cá nhân,

tổ chức khác xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của mình thì dĩ nhiên uy tín đó sẽ giảm hoặc mất đi Một khi quyền sở hữu đối với nhãn hiệu bị xâm phạm thì lúc này chủ thể có quyền như doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sẽ bị mất uy tín, lòng tin của khách hàng bởi vì những sản phẩm do hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu tạo ra, được thực hiện một cách cố ý thì phần lớn có chất lượng không bằng sản phẩm của doanh nghiệp có nhãn hiệu được bảo hộ Như vậy người tiêu dùng một khi sử dụng phải sản phẩm xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và nghĩ rằng đó là sản phẩm mang nhãn hiệu được bảo hộ, kết quả chất lượng sản phẩm kém hơn so với sự mong muốn của người tiêu dùng sẽ dẫn đến lòng tin của khách hàng đối với sản phẩm bị giảm sút

và người tiêu dùng không muốn sử dụng mặt hàng này nữa Tình trạng này kéo dài sẽ đánh mất uy tín của doanh nghiệp chân chính, từ đó dẫn đến sản phẩm không bán được, doanh thu giảm sút và cuối cùng rất dễ rơi vào trường hợp giải thể, phá sản Chính vì thế, cần có những biện pháp xử lý cần thiết đối với các hành vi xâm phạm

25

Điểm 2 phần IV Thông tư 10/2008/TT-BTTTT quy định giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia Việt Nam

“.vn”

Trang 38

quyền đối với nhãn hiệu nhằm bảo vệ quyền cho chủ sở hữu nhãn hiệu theo quy định của pháp luật

Thứ hai, hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu dù cố ý hay vô ý cũng để

lại những ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế- xã hội Hành vi này không những xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của chủ sở hữu mà còn gây tác hại trực tiếp cho chính người tiêu dùng như: tính mạng, sức khỏe bị đe dọa nếu như sử dụng phải các sản phẩm bị làm giả, làm nhái là lương thực, thực phẩm;thuốc chữa bệnh; mỹ phẩm; xăng dầu Vì vậy, công tác đấu tranh phòng chống hàng nhái, hàng giả và biện pháp điều tra, thanh tra và xử lý hành vi xâm phạm là hết sức quan trọng và thực sự cần thiết Một mặt xử

lý các hành vi xâm phạm theo quy định của pháp luật Mặt khác, áp dụng các biện pháp chế tài đủ mạnh để cảnh cáo, răn đe người vi phạm không tái phạm lần nữa Từ

đó tuyên truyền, phổ biến để người dân được biết góp phần nâng cao ý thức của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và người tiêu dùng cẩn trọng khi chọn mua sản phẩm sử dụng

Thứ ba, có thể nói cạnh tranh là quy luật tất yếu và đặc biệt quan trọng khi

bước vào nền kinh tế thị trường Nếu môi trường cạnh tranh thực sự lành mạnh, tức là dựa trên cơ sở pháp lý chặt chẽ thì nó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Ngược lại, các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng bất ổn trong hoạt động kinh tế, mà kết quả là cả nền kinh tế và các doanh nghiệp làm ăn chân chính và người tiêu dùng đều bị thiệt hại

Đặc điểm của cạnh tranh:

- Một là, cạnh tranh kinh tế là một quy luật của sản xuất hàng hoá vì nó xuất

phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá Trong sản xuất hàng hoá, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết để thu được nhiều lãi Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn có cạnh tranh

-Hai là, cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ

chế thị trường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng

Trang 39

hoá để đạt được lợi nhuận cao nhất Câu nói cửa miệng của nhiều người hiện nay

"thương trường như chiến trường", phản ánh phần nào tính chất gay gắt khốc liệt đó của thị trường cạnh tranh tự do

Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá,…) hoặc cạnh tranh phi giá cả (quảng cáo,…) Hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành.26

Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Nó buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học công nghệ, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại,…) hoặc những hành vi cạnh tranh làm phân hóa giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái

Sự khác biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh và cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh là một bên có mục đích bằng mọi cách tiêu diệt đối thủ để tạo vị thế độc quyền cho mình, một bên là dùng cách phục vụ khách hàng tốt nhất để khách hàng lựa chọ mình chứ không lựa chọn đối thủ của mình Chính vì vậy, việc cạnh tranh lành mạnh sẽ góp phần tạo môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng Từ đó thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển một cách mạnh mẽ, vượt bậc đa dạng về chủng loại,

số lượng và nâng cao chất lượng sản phấm sản xuất ra

26

http://www.saga.vn/Marketing/Canhtranh/16278.saga

Trang 40

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM

Mặc dù đăng ký nhãn hiệu không phải là thủ tục bắt buộc để được sử dụng nhưng việc đăng ký nhãn hiệu lại rất cần thiết và là cơ sở để xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu Theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền đối với nhãn hiệu (trừ nhãn hiệu nổi tiếng) được xác lập trên cơ sở nhãn hiệu đã được đăng

ký tại Việt Nam theo quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu của Cục Sở hữu trí tuệ hoặc quyết định chấp nhận bảo hộ hoặc Giấy chứng nhận nhãn hiệu đăng

ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam do Cục Sở hữu trí tuệ cấp Người được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là chủ sở hữu nhãn hiệu đã đăng

ký và hưởng quyền đối với nhãn hiệu trong phạm vi bảo hộ ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.Khi xảy ra tranh chấp, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu làm căn cứ chứng minh quyền của mình mà không cần chứng cứ nào khác

Tổ chức, cá nhân được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được độc quyền sử dụng nhãn hiệu đã được đăng ký đó cho hàng hóa, dịch vụ đã đăng ký kèm theo nhãn hiệu Do đó Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là cơ sở để chủ sở hữu nhãn hiệu khai thác lợi ích thương mại và là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nhãn hiệu chống lại các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Như vậy, Quyền đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở cấp văn bằng bảo

hộ của Cục Sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở

sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký tại Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ Khi thực

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w