Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật và chuyển d
Trang 1A – KIẾN THỨC CHUNG: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ
1 Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn
là quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp và nông thôn theo định hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại,gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, cho phép phát huy có hiệuquả cao mọi nguồn lực và lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, mở rộnggiao lưu trong nước và quốc tế nhằm nâng cao năng suất lao động xã hộitrong nông nghiệp và nông thôn, xây dựng nông thôn mới giàu có, côngbằng, dân chủ, văn minh và xã hội chủ nghĩa Thực chất CNH, HĐH nôngnghiệp và nông thôn là quá trình phát triển nông thôn theo hướng tiến bộkinh tế - xã hội của một nước công nghiệp Điều đó có nghĩa là không chỉphát triển công nghiệp nông thôn mà bao gồm cả việc phát triển toàn bộcác hoạt động, các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, và đời sống văn hóa, tinhthần ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp ở nông thôn và cảnước nói chung
Như vậy, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyểnbiến quy trình kĩ thuật sản xuất từ trình độ thủ công sang một nền sản xuấttiên tiến, hướng tới một nền sản xuất hàng hóa lớn, gắn kết vối công nghệchế biến và thị trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọngcác ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp
Trang 22 Chủ trương, đường lối của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Trong từng thời kỳ phát triển, Đảng ta lại hoàn thiện những quanđiểm xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phù hợp với điều kiện thực tế và xuthế vận động của thời đại Trên cơ sở quan điểm phát triển chung, cácngành, các cấp vận dụng cho phù hợp với yêu cầu phát triển của ngànhmình Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn cần quán triệt các quan điểm sau:
- Coi trọng thực hiện CNH, HĐH trong nông nghiệp và xây dựngnông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn Đây lànhiệm vụ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hìnhkinh tế, chính trị xã hội, củng cố liên minh công nông với tầng lớp trí thứcđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa
- CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn phải tạo ra một nền nôngnghiệp hàng hóa đa dạng trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh, đáp ứngnhu cầu trong nước và hướng mạnh về xuất khẩu
- CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn phải ưu tiên phát triển cácngành công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn nhằm khai thác nguyên vật liệutại chỗ, sử dụng nhiều lao động và yêu cầu ít vốn, chú trọng phát triển các
cơ sở có quy mô vừa và nhỏ kể cả quy mô hộ gia đình
- CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn phải đảm bảo cho côngnghiệp nông thôn có trình độ công nghệ tiên tiến kết hợp với công nghệtruyền thống để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao đủ khả năng cạnh tranhtrên thị trường trong nước và quốc tế Phát huy lợi thế của từng vùng và cảnước, áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học và công nghệ để phát triển hànghóa đa dạng, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu nông sản thực phẩm với nhiềuthành phần kinh tế
Trang 3- CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn phải gắn bó chặt chẽ với sựphát triển kinh tế đô thị và các khu công nghiệp, trong đó cần khuyến khíchphát triển các ngành công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao động hiện đangtập trung ở đô thị vào phát triển ở nông thôn
- CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn phải dựa trên cơ sở sử dụnghợp lí các nguồn tài nguyên đất, nước, rừng; đảm bảo những yêu cầu về cảitạo môi trường sinh thái ở nông thôn
II Mục tiêu và giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1 Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Mục tiêu tổng quát của CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn là xâydựng một nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn có cơ sở vật chất kĩ thuậthiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp để tăngnăng suất lao động, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nhanh chóngnâng cao thu nhập và đời sống của dân cư nông thôn, đưa nông thôn nước
ta tiến lên văn minh, hiện đại
Nội dung cơ bản của CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn:
- Phát triển nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, xây dựng các vùngchuyên canh sản xuất trên quy mô lớn và từng bước hiện đại hóa, đáp ứngyêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu Trước mắt tập trung một
số ngành chủ lực như: cây lương thực (lúa, ngô), cây công nghiệp (cao su,
cà phê, chè, mía, lạc), cây ăn quả, rau, hoa, chăn nuôi và nuôi trồng thủy, hảisản
- Thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thônbao gồm thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa Phát triển giao thông nôngthôn, phát triển thông tin liên lạc, phát triển giáo dục, văn hóa, y tế, khoahọc công nghệ và ứng dựng các thành tựu của cách mạng khoa học côngnghệ sản xuất vào đời sống
Trang 4- Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn như: côngnghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; công nghiệp dệt may, giày dép, thủytinh, sành sứ, cơ khí sửa chữa; các ngành nghề truyền thống tại các địaphương.
- Phát triển các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống ở nông thônnhư: dịch vụ thủy nông, dịch vụ thú y, dịch vụ bảo vệ thực vật, dịch vụcung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm
- Xây dựng nông thôn mới sạch về môi trường, giàu có, công bằng,dân chủ, văn minh
2 Giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
a) Hiện đại hóa nền nông nghiệp
- Gia tăng nhanh quá trình hiện đại hóa nền nông nghiệp phù hợp vớiđiều kiện tự nhiên, sinh thái của từng vùng và từng loại sản phẩm Như vậymới rút được lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp mà vẫn bảo đảm nôngnghiệp đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ngày cànggia tăng
- Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp
+ Điều chỉnh quy hoạch phù hợp và ổn định các vùng sản xuất lươngthực phù hợp với nhu cầu và khả năng tiêu thụ, tăng năng suất lao động điđôi với nâng cấp chất lượng Xây dựng các vùng sản xuất tập trung lúahàng hóa; tận dụng điều kiện thích hợp trên các địa bàn khác để sản xuấtlương thực có hiệu quả Có chính sách bảo đảm lợi ích của người sản xuấtlương thực
+ Phát triển theo quy hoạch và chú trọng đầu tư thâm canh các câycông nghiệp như cà phê, chè, dừa bông, mía, lạc , hình thành các vùng rauquả có giá trị cao gắn với phát triển các cơ sở bảo quản, chế biến
Trang 5+ Phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả chăn nuôi gia súc, giacầm, áp dụng rộng rãi phương pháp chăn nuôi gắn với chế biến sản phẩm,tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp.
+ Phát huy lợi thế của các ngành thủy sản, tạo thành một ngành kinh
tế mũi nhọn Phát triển mạnh nuôi trồng thủy, hải sản theo phương thức tiến
bộ và bền vững môi trường; nâng cao năng lực và hiệu quả đánh bắt hải sản xabờ
+ Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, nâng độ che phủ của rừng lên43% Hoàn thành việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài, kết hợp lâmnghiệp với nông nghiệp để định canh, định cư ổn định và cải thiện đời sốngngười dân miền núi Đẩy mạnh trồng rừng kinh tế và ngăn chặn nạn đốtphá rừng, tạo nguồn gỗ, nguyên liệu cho công nghiệp bột giấy, chế biến đồ
gỗ gia dụng và mỹ nghệ xuất khẩu
b) Phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
- Phát triển các làng nghề truyền thống để khai thác các tiềm năng
kinh tế của các địa phương và phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấukinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH Thu hút đầu tư của mọi thànhphần kinh tế vào phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn với nhữngchính sách ưu đãi như: đất đai, thuế, tín dụng
- Chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành nghềkhác; từng bước tăng quỹ đất canh tác cho mỗi lao động nông nghiệp; mởrộng quy mô sản xuất, tăng việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn
- Chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn phải đặt trong điềukiện của kinh tế thị trường, tránh chủ quan duy ý chí; chú ý tới các yếu tốkhách quan như khả năng về vốn, tổ chức quản lý, công nghệ và điều kiệnthị trường
c) Giảm bớt tỷ trọng lao động làm nông nghiệp
Đây là một tiêu chí quan trọng nhất để thực hiện và đánh giá kết quảquá trình CNH, HĐH ở nông thôn Hiện nay, cơ cấu lao động nông nghiệp
Trang 6và nông thôn đang chuyển dịch theo hướng tích cực Theo số liệu tại Văn kiệnĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, cơ cấu lao động trong nông nghiệp từ57,1% (năm 2005) giảm xuống còn 48,2% (năm 2010) Như vậy, sự chuyểndịch cơ cấu lao động trong những năm qua đã có một bước tiến đáng kể.Với thực tiễn này, chương trình Chiến lược phát triển nông thôn bền vững
ở Việt Nam đã đề ra mục tiêu đến năm 2015 tỷ trọng lao động nông nghiệpchiếm 40-41% lao động xã hội, đến năm 2020 còn khoảng 25-30% laođộng xã hội Để đạt được những mục tiêu đó, phải có thêm nhiều việc làmphi nông nghiệp được tạo ra ngay tại khu vực nông thôn và những đô thịvừa và nhỏ nằm rải rác trên khắp các vùng ngay sát với các làng xóm nôngthôn còn xa các thành phố lớn
d) Phát triển nông nghiệp và nông thôn nhìn theo giác độ vùng
- Đối với các vùng trung du miền núi:
Đặc điểm của các vùng trung du miền núi là đất đai nhiều (bình quânđầu người chiếm đất nông nghiệp, lâm nghiệp là 4.624m2, trong đó đất nôngnghiệp là 1.267m2) song chất lượng đất thấp, bạc màu, thoái hóa Hệ sinh thái
ở các vùng này thuận lợi cho phát triển các cây lương thực như: ngô, khoai,sắn, lạc đậu, chè, cây rừng (cả rừng cây nguyên liệu giấy, gỗ trụ mỏ, rừngphòng hộ đầu nguồn) Tuy đất và lao động làm nông nghiệp khó khăn songviệc chuyển đổi lao động sang làm việc phi nông nghiệp, công nghiệp là cóđiều kiện tương đối thuận lợi, nếu có vốn để phát triển nhiều loại chế biếnnông sản, công nghiệp chế tác Ở các vùng trung du miền núi có điều kiệnphát triển kinh tế trang trại vì có thể tập trung ruộng đất, có nhiều ngành nghề:trồng trọt, chăn nuôi Khó khăn lớn ở vùng miền núi là do đất làm lương thực
ít, trồng các cây có giá trị kinh tế không nhiều, một bộ phận du canh, du cưhoặc chưa ổn định sản xuất Vì vậy yêu cầu đặt ra phải tìm cách ổn định sảnxuất và phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa, cùng với phát triển côngnghiệp chế biến đi kèm với các loại sản phẩm cây công nghiệp, cây ăn quả,phấn đầu nâng cao thu nhập của tất cả nông dân và xóa đói giảm nghèo ở
Trang 7những địa bàn còn khó khăn Việc phát triển hạ tầng vẫn phải đầu tư nhiềucho giao thông đường xá, cấp nước, thủy lợi, lưới điện, viễn thông, cơ sở giáodục, y tế, văn hóa Vấn đề cộng đồng người thiểu số chiếm tỉ lệ đáng kể( 50%) với 42 dân tộc thiểu số khác nhau đặt ra yêu cầu về phát triển kinh tế
để nâng mức sống, về thực hiện các chính sách để nâng cao dân trí, đoàn kếtdân tộc, giữ gìn và phát huy bản số văn hóa dân tộc
e) Đẩy mạnh ứng dựng khoa học công nghệ trong nông nghiệp và nông thôn
CNH, HĐH đất nước đòi hỏi phải trang bị kỹ thuật cho các ngànhcủa nền kinh tế theo hướng hiện đại Do đó phát triển kinh tế nông thôntrong điều kiện CNH, HĐH cần phải đẩy mạnh ứng dụng của tiến bộ khoahọc công nghệ vào sản xuất nông nghiệp Ngoài những việc về thủy lợihóa, sử dụng giống mới đã có phương thức, quy hoạch thực hiện tốt, trênnhiều lĩnh vực còn có chưa có phương thức, cách làm có hiệu quả như cơgiới hóa, sinh học hóa, đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất rấtcần có những mô hình được xây dựng từ thực tiễn, thích hợp với từng địabàn sinh thái và tính chất của từng hoạt động sản xuất Cần đưa nhanh côngnghệ mới vào sản xuất thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêuthụ sản phẩm nông nghiệp; ứng dụng công nghệ sạch trong nuôi trồng vàchế biến thực phẩm, hạn chế việc sử dụng hóa chất độc hại trong nôngnghiệp, tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật viên bám sát đồngruộng, huấn luyện về kỹ năng cho người nông dân
f) Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế phổ biến ở nông thôn trongcác làng nghề, trong hoạt động dịch vụ và sản xuất nông nghiệp Nhà nướccần khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế hộ trang trại phát triểnsản xuất hàng hóa với quy mô ngày càng lớn Bên cạnh đó, phát triển kinh
tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xãdựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể Đối với kinh tế tư
Trang 8nhân cần có chính sách hỗ trợ hướng dẫn tạo điều kiện cho thành phần kinh
tế này phát triển vì đây là lực lượng quan trọng và năng động trong cơ chếthị trường, có khả năng về vốn, tổ chức quản lý và kinh nghiệm sản xuất.Thành phần kinh tế nhà nước đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế nôngnghiệp nông thôn
h) Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp và nông thôn
Nguồn nhân lực ở nông thôn có đặc điểm là trình độ học vấn thấp vàphần lớn không qua đào tạo Đây là một cản trở lớn trong quá trình CNH,HĐH nông nghiệp và nông thôn Do vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực chonông nghiệp, nông thôn phải có chính sách giáo dục đào tạo riêng, khôngchỉ tính đến trình độ đầu vào, ưu đãi về tài chính cho khu vực nông nghiệp
mà còn phải tính đến nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao độngđược đào tạo trong hiện tại và tương lai
i) Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn
Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn bao gồm: hệ thống đường
xá, thông tin, thủy lợi, trạm biến thế, trạm giống, trường học, nhà văn hóarất cần thiết cho sự phát triển nông nghiệp và nông thôn Cần quy hoạchhợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nguồn nước, vốn, rừng, gắn vớibảo vệ môi trường Quy hoạch các khu dân cư phát triển các thị trấn, thị tứ,các điểm văn hóa ở làng, xã; nâng cao đời sống vật chất văn hóa tinh thần,xây dựng cuộc sống dân chủ, công bằng, văn minh ở nông thôn
III Phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam theo hướng bền vững
1 Khái niệm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sựphát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục pháttriển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tớinhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã
Trang 9hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợpnhất với quốc gia đó.
Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm
1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội
Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nộidung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tớiphát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội
và sự tác động đến môi trường sinh thái học” Đến năm 1987, khái niệmphát triển bền vững chính thức xuất hiện và được phổ biến rộng rãi trongBáo cáo “Tương lai của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường vàPhát triển như là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại,nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau.Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vậtchất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng giữa các công dân và
sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triểnphải kết hợp chặt chẽ, hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển
xã hội và bảo vệ môi trường
Ở Việt Nam hiện nay, phát triển bền vững đã trở thành đường lối,quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước ta Theo Văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI, khái niệm phát triển bền vững được hiểu là
sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không gây trởngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau, và phải bảo đảm có
sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển: pháttriển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường; coi trọng giữ vững ổnđịnh chính trị - xã hội Tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIcũng đề ra quan điểm về phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiệnđại, hiệu quả, bền vững
2 Chiến lược phát triển bền vững
* Chiến lược phát triển nông thôn bền vững:
Trang 10Các ưu tiên cần được triển khai thực hiện trong 10 năm tới 2020) trước mắt được xác định trong định hướng chiến lược phát triểnnông thôn bền vững ở Việt Nam bao gồm:
(2010 Mục tiêu và cũng là động lực phát triển nông thôn bền vững là nângcao chất lượng cuộc sống của người dân, xét trên cả khía cạnh kinh tế, xãhội và môi trường Theo đó, nông dân phải là nhân vật trung tâm, ngườiđược hưởng lợi trước tiên từ những thành quả của quá trình phát triển
Nội dung của phát triển nông thôn bền vững bao gồm 4 quá trình:công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đô thị hóa; kiểm soát dân số; bảo vệ môitrường sinh thái
Có thể nói về thực chất của công cuộc xây dựng và phát triển đấtnước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là phát triển nông thôn bền vữngvới 4 quá trình đó
- Xét riêng quá trình phát triển nông nghiệp bền vững (bao gồm trồngtrọt, chăn nuôi, trồng rừng, nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản), yếu tố đầutiên và căn bản là nông sản phải đảm bảo 4 yêu cầu:
+ Chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thịtrường, trước hết là đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế về vệ sinh an toàn thựcphẩm Đồng thời sản phẩm nông nghiệp phải đa dạng, có hàm lượng côngnghệ cao
+ Giá cả nông sản hợp lý, có sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.+ Khối lượng nông sản phải có quy mô đủ lớn theo yêu cầu thịtrường, cụ thể là theo từng yêu cầu của nhà phân phối, nhất là của nhà nhậpkhẩu nông sản từ Việt Nam
+ Thời gian cung ứng nông sản phải đáp ứng yêu cầu khắt khe củanhà phân phối, nhất là của nhà nhập khẩu nông sản từ Việt Nam
Muốn đáp ứng 4 yêu cầu trên, nền nông nghiệp phải được phát triểntrên các cơ sở: thực hiện một nền nông nghiệp đa chức năng, vừa sản xuấtnông phẩm hàng hóa vừa kết hợp phát triển du lịch sinh thái và tạo cảnh
Trang 11quan môi trường sống tốt đẹp cho con người; nông sản phải được sản xuấttheo tiêu chuẩn và quy trình GAP (good agriculture practice), ISO.1.4000
và HCACCP; và áp dụng công nghệ cao trong tất cả các khâu của quá trìnhsản xuất nông nghiệp, từ chọn, tạo, sản xuất giống đến sản xuất và chếbiến, bảo quản, tiêu thụ nông sản
Muốn vậy cần triển khai các mô hình sản xuất sau:
Các trang trại có quy mô lớn về diện tích đất chủ yếu tồn tại dướihình thức trang trại gia đình hay trang trại cá nhân, trang trại hợp doanh có
1 cấp quản trị phải trở thành lực lượng sản xuất nông sản hàng hóa chủ yếukết hợp với du lịch nông thôn trên các vùng nông nghiệp sinh thái
Các Hợp tác xã (HTX) làm dịch vụ đầu vào - đầu ra cho các trangtrại phải trước hết và chủ yếu là của các chủ trang trại này, được thành lập
và phát triển do nhu cầu và khả năng quản lý của chính các chủ trang trạisản xuất hàng hóa nông sản có quy mô lớn Đồng thời, việc điều hành hoạtđộng kinh tế của các HTX phải do những nhà quản trị chuyên nghiệp (đượcđào tạo và trả công xứng đáng theo giá cả sức lao động trên thị trường)đảm trách
Sản xuất theo hợp đồng (Contrac farming) giữa các trang trại vàdoanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản trên thị trường trong và ngoàinước cũng như các doanh nghiệp du lịch sinh thái, phải trở thành hình thứcgiao dịch buôn bán nông sản phổ biến và chủ yếu Doanh nghiệp kinhdoanh chế biến, tiêu thụ nông sản và du lịch nông thôn phải là lực lượngnòng cốt tổ chức lại nền nông nghiệp hàng hóa của đất nước
Những mô hình sản xuất kể trên là yếu tố quan trọng để nâng caonăng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất nông nghiệp - cơ sở của sựphát triển bền vững đối với một nước có mức bình quân diện tích/nhânkhẩu thấp như nước ta
Muốn thực hiện được mô hình sản xuất nói trên, thể chế quản lý vĩ
mô của Nhà nước phải đảm bảo:
Trang 12Tạo khung pháp lý cho thị trường đất nông nghiệp hoạt động lànhmạnh để quá trình tích tụ ruộng đất diễn ra thuận lợi, hình thành các trangtrại quy mô lớn.
Đào tạo miễn phí cho con em nông dân, từ bậc tiểu học đến trung học
cơ sở và trung học cao đẳng nghề nông nghiệp, để tạo ra một đội ngũ chủtrang trại “canh nông tri điền” và các kỹ thuật viên nông nghiệp trên tất cảcác vùng nông nghiệp sinh thái
Đầu tư cho hoạt động khuyến nông để nâng cao kỹ năng cho đội ngũnông dân hiện hữu theo nhu cầu của nông dân và thị trường nông sản,không phân biệt chủ thể (tổ chức) hoạt động khuyến nông
Tài trợ 100% kinh phí cho các đề tài khoa học kỹ thuật và kinh tế
-xã hội phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, không phân biệt chủ thể(tổ chức và cá nhân) thực hiện các đề tài khoa học này
- Quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nông thôn phải theo mô hìnhnhiều trung tâm trên các vùng sinh thái tự nhiên và nhân văn; mỗi trungtâm lại có nhiều “vệ tinh”, kết nối chặt chẽ với nhau về kinh tế - văn hóa,
xã hội, lịch sử và sinh thái Mô hình này cho phép tiến tới xóa bỏ sự cáchbiệt giữa thành thị và nông thôn xét về mức sống vật chất và tinh thần.Điều khác biệt chỉ còn ở mật độ dân số và các công trình xây dựng ở đô thịcao hơn nông thôn, còn môi trường sinh thái tự nhiên ở nông thôn tốt hơnthành thị; Nông thôn có cảnh quan thiên nhiên thỏa mãn nhu cầu du lịch nôngthôn của dân cư thành thị
Muốn vậy, thể chế quản lý vi mô của Nhà nước cần:
Không được hy sinh lợi ích của bất kỳ nhóm dân cư nào trong quátrình phát triển nông thôn, nhất là trong việc xây dựng các khu công nghiệp
- đô thị mới, phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Quy hoạch hệ thống các đô thị trung tâm và vệ tinh trên cả nước và ởmỗi vùng kinh tế - sinh thái; có chính sách tài trợ, khuyến khích phát triểncông nghiệp, dịch vụ ở các đô thị vệ tinh, phục vụ trực tiếp cho nông
Trang 13nghiệp và sử dụng lực lượng lao động nông nghiệp dôi dư Nhà nước phảiđứng ra tổ chức thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng để xây dựng khucông nghiệp - đô thị, kết cấu hạ tầng, đấu thầu cho các doanh nghiệp tổchức thực hiện quy hoạch (không để các doanh nghiệp - chủ đầu tư trựctiếp thực hiện việc đền bù, giải phóng mặt bằng như hiện nay) Tiền lời thuđược qua bán đấu giá phải ưu tiên chi cho việc “an cư, lạc nghiệp” củangười dân bị giải tỏa đất đai, nhà cửa, di dời đến chỗ ở mới với công ănviệc làm tốt hơn nơi ở cũ.
Đào tạo nghề phi nông nghiệp miễn phí cho nông dân theo yêu cầuphát triển công nghiệp, dịch vụ ở các đô thị, trước hết là cho các đô thị vệtinh
Miễn, giảm tiền thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất cho các cơ sởcông nghiệp, dịch vụ đóng tại nông thôn và các khu đô thị vệ tinh
Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật: giao thông (kể cả đườngsông), cơ sở giáo dục phổ thông và dạy nghề, chăm sóc sức khỏe conngười, cung cấp nước sạch, khu nhà ở cho người thu nhập thấp ở các khucông nghiệp - đô thị vệ tinh (Không dùng ngân sách Nhà nước để đầu tư
mà chỉ tài trợ lãi suất hay cho vay ưu đãi đối với việc xây dựng các cơ sở
hạ tầng kỹ thuật để kinh doanh, như hệ thống sản xuất, truyền tải điện, bưuchính - viễn thông, cầu, đường giao thông có thể thu phí dưới hình thứcBOT)
Để thực thi thành công chiến lược xây dựng nông thôn phát triển bềnvững, Chính phủ cần thành lập chương trình quốc gia về phát triển nôngnghiệp, nông thôn bền vững do một Phó Thủ tướng trực tiếp điều hành; còn
ở các tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh phải trực tiếp điều hành chương trình này
* Chiến lược phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại,hiệu quả, bền vững
Khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới để phát triển sản xuấthàng hóa với năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao
Trang 14Tăng nhanh sản lượng và kim ngạch xuất khẩu nông sản, nâng cao thu nhập
và đời sống nhân dân, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia.Xây dựng mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp với từng loại cây, con.Khuyến khích tập trung ruộng đất; phát triển trang trại, doanh nghiệp nôngnghiệp phù hợp về quy mô và điều kiện của từng vùng Gắn kết chặt chẽhài hòa lợi ích giữa người sản xuất, người chế biến và người tiêu thụ, giữaviệc áp dụng kỹ thuật và công nghệ với tổ chức sản xuất, giữa phát triểnnông nghiệp với xây dựng nông thôn mới Đổi mới cơ bản phương thức tổchức kinh doanh nông sản, trước hết là kinh doanh lúa gạo; bảo đảm phânphối lợi ích hợp lý trong từng công đoạn từ sản xuất đến tiêu dùng Pháttriển hệ thống kho chứa nông sản, góp phần điều tiết cung cầu Tiếp tục đổimới, xây dựng mô hình tổ chức để phát triển kinh tế hợp tác phù hợp với cơchế thị trường Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đất nông nghiệp, nhất là đấttrồng lúa sang sử dụng vào mục đích khác đi đôi với việc bảo đảm lợi íchcủa người trồng lúa và địa phương trồng lúa Trên cơ sở quy hoạch vùng,
bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ và giống phù hợp với nhu cầu thịtrường và giảm thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh Phát triển các hình thứcbảo hiểm phù hợp trong nông nghiệp Đẩy nhanh áp dụng tiến bộ khoa học
và công nghệ hiện đại trong sản xuất, chế biến, bảo quản; ưu tiên ứng dụngtrong công nghệ sinh học để tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi và quytrình sản xuất đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, tăng nhanh giá trịgia tăng trên một đơn vị đất canh tác Hỗ trợ phát triển các khu nôngnghiệp công nghệ cao Đẩy mạnh chăn nuôi theo phương thức công nghiệp,bán công nghiệp, bảo đảm chất lượng và an toàn dịch bệnh
Phát triển lâm nghiệp bền vững Quy hoạch và có chính sách pháttriển phù hợp các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng vớichất lượng được nâng cao Nhà nước đầu tư và có chính sách đồng bộ đểquản lý và phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, đồng thời bảo đảmcho người nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng có cuộc sống ổn định Khai
Trang 15thác bền vững, có hiệu quả nguồn lợi thủy sản, phát triển đánh bắt xa bờ,gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường biển Phát triểnnuôi trồng thủy sản theo quy hoạch, tập trung vào những sản phẩm có thếmạnh, có giá trị cao; xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng vùng nuôi; đẩymạnh áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và chế biến,nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu vệ sinh,
an toàn thực phẩm Quy hoạch và phát triển có hiệu quả nghề muối, bảođảm nhu cầu của đất nước và đời sống diêm dân
3 Chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững
a) Cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp và phát triển nông-lâm-ngư nghiệp toàn diện theo hướng CNH, HĐH gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn
- Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bềnvững phải chú ý những nội dung sau:
+ Xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng ngành nghề và chuyển đổi
cơ cấu kinh tế ở nông thôn
+ Xây dựng chương trình đưa nhanh tiến bộ khoa học và kỹ thuật vàonông nghiệp (nhất là chương trình giống) Xây dựng và mở rộng mô hìnhsản xuất hàng hoá vùng núi khó khăn
+ Điều chỉnh, bổ sung cập nhật quy hoạch phát triển nông, lâm, ngưnghiệp trong từng vùng kinh tế và liên vùng theo hướng phát triển bềnvững gắn sản xuất với thị trường, gắn vùng nguyên liệu với công nghiệpchế biến
+ Xây dựng đề án chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn theohướng công nghiệp hóa, phát huy thế mạnh của từng vùng; phát triển sảnxuất nông sản hàng hoá có chất lượng và hiệu quả, gắn sản xuất với thịtrường trong nước và thị trường quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
Trang 16tài nguyên (đất đai, lao động và nguồn vốn), nâng cao thu nhập trên mộtđơn vị ha đất canh tác, trên 01 ngày công lao động; cải thiện đời sống củanông dân.
- Phát triển lâm nghiệp toàn diện, bền vững, trong đó chú trọng cảrừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng; tăng diện tích trồng rừng
và độ che phủ rừng trên cơ sở khuyến khích các thành phần kinh tế cùngtham gia đầu tư Có cơ chế, chính sách hỗ trợ để người dân có thể sinhsống, làm giàu từ việc trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng
- Phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản đa dạng theo quy hoạch, pháthuy lợi thế từng vùng gắn với thị trường Xây dựng đồng bộ kết cấu hạtầng, cơ sở dịch vụ phục vụ nuôi trồng, đánh bắt, chế biến, xuất khẩu thủy,hải sản
b) Xây dựng đề án sử dụng hợp lý tài nguyên nông nghiệp và nông thôn
- Xây dựng và thực hiện chương trình nâng cao năng suất sử dụngđất, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước; áp dụng hệ thống sản xuấtnông lâm kết hợp; nông lâm ngư kết hợp, phù hợp với điều kiện sinh tháicủa từng vùng, nhằm sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn tài nguyên đất,nước, khí hậu
- Xây dựng chương trình đưa nhanh tiến bộ khoa học và kỹ thuật vàonông nghiệp nhất là công nghệ sinh học; thực hiện chương trình cải tạo cácgiống cây, giống con
c) Xây dựng và thực hiện chương trình phát triển thị trường nông thôn, tăng khả năng tiêu thụ nông sản kết hợp với việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển sản xuất
- Thúc đẩy và phát triển mối liên kết giữa các chủ thể trong các kênhsản xuất và lưu thông sản phẩm, tạo mới và ổn định các kênh thị trườngnhằm tối đa hóa lợi ích của các thành phần tham gia
Trang 17- Xây dựng đề án phát triển đa dạng ngành nghề và dịch vụ ở nôngthôn; đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tạo việc làm phi nông nghiệp,tăng thời gian lao động và cơ cấu lại nguồn lao động ở nông thôn
d) Xây dựng nông thôn mới
Quy hoạch phát triển nông thôn, phát triển đô thị và bố trí các điểmdân cư Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệmôi trường Triển khai xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từngvùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn vàphát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam Triển khai
có hiệu quả chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗinăm Thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và cácđối tượng chính sách, chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão, lũ Phấnđấu giá trị gia tăng nông nghiệp bình quân 5 năm đạt 2,6-3%/ năm Tỷtrọng lao động nông nghiệp đến năm 2015 chiếm 40-41% lao động xã hội.Thu nhập của người dân nông thôn tăng 1,8-2 lần so với năm 2010
CÂU HỎI THẢO LUẬN
Câu hỏi 1: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn tất yếu dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường nông thôn Vậy cácđồng chí có sáng kiến gì để khắc phục tình trạng trên?
Câu hỏi 2: Vấn đề di dân nông thôn - đô thị, nông thôn - nông thôn
có quan hệ như thế nào với phát triển bền vững?
Câu hỏi 3: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn đã đem lại rất nhiều thành tựu Vậy theo các đồng chí, thành tựunào là quan trọng nhất, vì sao?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Trang 18- Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khóa IX về đẩy nhanhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn thời kỳ 2001-2010.
- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 của Ban chấp hành Trungương khóa X về nông nghiệp, nông thôn, nông dân
- Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 củaThủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 của
Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn hướng dẫn thi hành Bộ tiêu chíquốc gia về nông thôn mới
- Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 4 tháng
6 năm 2010 về phê duyệt chương trình, mục tiêu quốc gia về xây dựngnông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020
- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ tài liệu về tập huấn
xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020, 2008.
Trang 19Chuyên đề 2:
TỔNG QUAN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở XÃ
I Hệ thống chính trị ở xã trong thời kỳ đổi mới
1 Khái niệm và đặc điểm hệ thống chính trị ở xã
a) Khái niệm về hệ thống chính trị ở xã
Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền đượcthực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định Đó là hệ
thống chính trị Hệ thống chính trị là tổng thể các cơ quan, tổ chức nhà nước,
đảng phái, đoàn thể xã hội, nói chung là các lực lượng tham gia và mối quan
hệ giữa các lực lượng đó, chi phối sự tồn tại và phát triển đời sống chính trị của một quốc gia, thể hiện bản chất của chế độ chính trị của quốc gia, con đường phát triển của xã hội (Theo Từ điển Luật học của Viện pháp lý – Bộ tư pháp do Nhà xuất bản Tư pháp và Nhà xuất bản Từ điển bách khoa phối hợp ban hành).
Cấu trúc của hệ thống chính trị không chỉ là hệ thống các tổ chức vàcác quan hệ về tổ chức mà còn là hệ thống các cấp độ và các quan hệ về cấp
độ nhìn theo hai chiều vận động từ dưới lên và từ trên xuống
Có các cấp độ của từng tổ chức (Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoànthể) quy định vị trí, vai trò, chức trách, thẩm quyền của các cấp, của cấp trênvới cấp dưới trong phạm vi một tổ chức với sự tác động của bộ máy tươngứng với từng cấp Hệ thống chính trị được cấu thành bởi các tổ chức nêu trêncũng có các cấp độ này, biểu hiện thành quan hệ tác động qua lại giữa Trungương với địa phương và cơ sở
Giữa các tổ chức lại hình thành quan hệ tác động lẫn nhau trong hệthống và trong từng cấp độ Cụ thể, ở cấp trung ương là quan hệ giữa Đảngvới Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể Ở cấp tỉnh là quan
hệ giữa Đảng bộ tỉnh với chính quyền tỉnh, Mặt trận với các đoàn thể cấp tỉnh
Trang 20Ở cấp cơ sở xã, phường, thị trấn là quan hệ giữa Đảng bộ xã với chính quyền
và Mặt trận cùng các đoàn thể trong xã
Ở đây ta đang xem xét khái niệm cơ sở và hệ thống chính trị ở cơ sởtrên quan điểm xã hội học chính trị và quản lý xã hội Đây là những khái niệmxuất phát, những khái niệm công cụ để nghiên cứu và đề xuất những giải phápcải cách hệ thống chính trị, đặc biệt là hệ thống chính trị ở cơ sở nông thônnước ta hiện nay Cơ sở được lấy làm đối tượng nghiên cứu ở đây không phải
là một đơn vị cơ sở bất kỳ (gia đình, cơ quan, công sở, trường học, bệnh viện,doanh nghiệp hay viện nghiên cứu…) mà là cơ sở với tư cách là một cấp quản
lý nhà nước trong hệ thống quản lý hành chính nhà nước bốn cấp hiện hành
Cơ sở đó chính là xã – phường – thị trấn, là cấp cơ sở của quản lý nhà nước.Phường, thị trấn là cấp cơ sở ở đô thị, được đặc trưng bởi quản lý đô thị Xã làcấp cơ sở ở khu vực nông thôn, đây là cả một địa bàn rộng lớn, chiếm đa sốtrong tổng số đơn vị cơ sở nước ta Vì thế, nói tới hệ thống chính trị ở xãchính là nói tới hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay
Như vậy, hệ thống chính trị ở xã (cơ sở ở nông thôn) cũng bao gồm 3
bộ phận cấu thành: Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ở
xã Mỗi bộ phận tồn tại với vai trò, chức năng riêng và có quan hệ mật thiếtvới nhau, tạo thành hệ thống, quản lý và điều hành mọi hoạt động ở xã về cáclĩnh vực của đời sống
b) Đặc điểm hệ thống chính trị ở xã
Nói tới cơ sở là nói tới xã – phường – thị trấn, trong đó xã là chủ yếu,chiếm tới 85% trong tổng số các đơn vị hành chính cấp cơ sở Cơ sở và hệthống chính trị ở xã là khâu trung tâm cần phải đột phá trong chỉnh đốn vàđổi mới hệ thống chính trị cơ sở Giải quyết khâu đột phá này, lẽ dĩ nhiênkhông thể không bàn tới quan hệ giữa xã và thôn, tới vai trò của Đảng bộhoặc chi bộ xã, của Mặt trận Tổ quốc ở xã và các đoàn thể, các tổ chức quầnchúng cấu thành thống chính trị ở xã, các phương thức tổ chức, hoạt động
Trang 21cùng các mối quan hệ giữa chúng Nhận thức về xã chúng ta nhấn mạnh tớimấy điểm dưới đây:
- Xã là nơi chính quyền trong lòng dân như Đảng ta đã xác định Xã làcấp thấp nhất trong các cấp độ quản lý của hệ thống chính quyền nhà nướcnhưng lại là nền tảng của chế độ chính trị và đời sống xã hội
- Xã là nơi diễn ra cuộc sống của dân, nơi chính quyền và các đoàn thể
tổ chức cuộc sống, hoạt động và các phong trào của cộng đồng dân cư đểnhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hành dân chủ của chính mình Nếudân chủ là dân làm chủ như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, thì xã là nơi thể hiện
rõ nhất và trực tiếp nhất ý thức và năng lực dân chủ của dân bằng cả phươngthức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Chế độ ủy quyền và nhữngphương tiện, những điều kiện nhằm thực hiện và đảm bảo cho sự ủy quyền đóphải được bắt đầu từ xã mà nhân dân là chủ thể Bao nhiêu quyền hành đều làcủa dân, bao nhiêu lợi ích cũng thuộc về dân Quyền hành và lực lượng đều ởnơi dân Dân có quyền làm chủ, đồng thời có nghĩa vụ của người chủ Do ở xã
là nơi làm việc và sinh hoạt hàng ngày của dân chúng, là nơi thể chế được dântrực tiếp tổ chức nên và dân thường xuyên tiếp xúc, đề đạt nguyện vọng, yêucầu của mình với những người đại diện cho mình, đồng thời dân cũng có điềukiện biết rõ sự hoạt động của thể chế, của con người và tổ chức bộ máy, mặthay cũng như mặt dở, mặt tốt cũng như mặt xấu với những khuyết tật củanó… nên quan hệ và thái độ của dân đối với thể chế ở xã cho thấy rõ nhấthiện trạng của thể chế nói chung Động lực, nội lực của sự phát triển hay vậtcản kìm hãm, sự trì trệ và suy thoái được nhận thấy rõ nhất ở ngay xã Nhữngyếu kém diễn ra trong thể chế ở xã làm thương tổn đến uy tín và ảnh hưởng
xã hội của thể chế nói chung Những phản ứng, bất bình của dân đối với cán
bộ xã là khởi đầu cho những mất ổn định, thậm chí trở thành tình huống,thành điểm nóng gây hại tới sự bình yên của chế độ nói chung Do vậy, mấuchốt của xã là chất lượng cán bộ, là hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trịsao cho giữ được dân, làm cho dân yên ổn, phấn khởi làm ăn, sinh sống, liên
Trang 22kết cộng đồng, quan tâm và bảo vệ thể chế, phát triển xã hội, phát triển sứcdân.
- Xã là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế từ vĩ mô phải tác độngtới Xã là địa chỉ quan trọng cuối cùng mà mọi quyết định, mọi chủ trương,đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước phải tìm đến Đườnglối, nghị quyết có đi vào cuộc sống thực sự hay không, dân có được tổ chứchành động trong phong trào rộng khắp để biến khả năng thành hiện thực haykhông; đường lối, chính sách có tác dụng, hiệu quả đến đâu, đúng sai ra saođược chứng thực bởi cuộc sống, tâm trạng, thái độ, niềm tin và hành độngthực tế của dân chúng Vì vậy, xã tuy là cấp thấp nhất trong hệ thống quản lýnhưng có tầm quan trọng đặc biệt, là vấn đề sống còn, thành bại của chế độ
Xã là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là vùng nhạy cảm nhất của đời sống xã hội,không được xao nhãng mà cần đặc biệt quan tâm, chỉ đạo thường xuyên Thựcchất của mất xã là mất dân, mà khởi đầu của sự mất dân là xa dân của cán bộ
xã, sự rệu rã của tổ chức bộ máy và sự hoành hành của nạn quan liêu, thamnhũng làm cho dân đói khổ, bần cùng
- Xã không phải là cấp hoạch định đường lối, chính sách … Xã là cấphành động, tổ chức hành động, đưa đường lối, nghị quyết chính sách vào cuộcsống Là cấp hành động, tổ chức thực hiện nên cán bộ xã phải gần dân, hiểudân, sát dân và năng lực của cán bộ xã là năng lực thi hành, tổ chức công việc
và thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, vận động quần chúng Tổ chức bộmáy xã phải thực sự gọn nhẹ, “thà ít mà tốt”, năng động, nhạy bén, cán bộ xãphải thực sự nhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn, sáng tạo một cách thiết thực,biết rõ phương hướng hành động, có bản lĩnh dám chịu trách nhiệm, có phươngpháp và phong cách dân vận “óc nghĩ, mắt nhìn, miệng nói, tai nghe, chân đi,tay làm” như Hồ Chí Minh đã chỉ ra (Hồ Chí Minh toàn tập Nxb Chính trị quốcgia, H.2000, t.5, tr.699) Biết làm cho dân tin, dân ủng hộ; biết tập hợp dânthành lực lượng và hoạt động trong phong trào; phục vụ dân, làm lợi cho dân,mưu cầu hạnh phúc cho dân, đó là tất cả những gì cán bộ xã cần có
Trang 232 Hệ thống chính trị ở xã trong thời kỳ đổi mới
Hệ thống chính trị ở xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức vàvận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật củanhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân,huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộngđồng dân cư Trải qua hơn 20 năm đổi mới, nói chung hệ thống chính trị ở xã
đã tích cực thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình cùng với nhân dân tạonên những thành tựu quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa, làm thay đổi bộmặt nông thôn, thay đổi đời sống nông dân theo hướng tích cực
Cơ cấu của hệ thống chính trị ở xã
Về mặt tổ chức, hệ thống chính trị ở xã bao gồm ba bộ phận cấu thành
là tổ chức Đảng, chính quyền Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên củaMặt trận Tổ quốc, bao gồm Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Nông dân vàHội Cựu chiến binh
a) Tổ chức cơ sở Đảng ở xã
Hiện nay, số lượng tổ chức cơ sở Đảng ở xã chiếm khoảng 20% trongtổng số các tổ chức cơ sở Đảng, có số lượng lớn nhất so với các loại hình tổchức cơ sở Đảng trong cả nước Gần 50% tổng số đảng viên của toàn Đảngđang sinh hoạt và hoạt động trong các tổ chức cơ sở Đảng ở xã
Tổ chức cơ sở Đảng ở xã là nền tảng của Đảng ở xã Điều 21, Điều lệĐảng Cộng sản Việt Nam, được Đại hội X của Đảng thông qua, đã quy định:
“Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Ðảng, làhạt nhân chính trị ở cơ sở” Như vậy tổ chức cơ sở Đảng ở xã là nền tảng củaĐảng ở xã Điều này bắt nguồn trực tiếp từ học thuyết của chủ nghĩa Mác –Lênin về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử, về vai tròcủa giai cấp công nhân – lực lượng chủ yếu của cách mạng vô sản và là ngườilãnh đạo xã hội trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội
Tổ chức cơ sở Đảng ở xã là hạt nhân lãnh đạo chính trị, lãnh đạo hệthống chính trị ở cơ sở Tổ chức cơ sở Đảng ở xã có vai trò hạt nhân trong
Trang 24lãnh đạo chính trị, lãnh đạo hệ thống chính trị, bảo đảm cho đường lối, chínhsách của Đảng được cụ thể hóa và được thực hiện thắng lợi ở cơ sở Tổ chứcĐảng ở xã có vai trò lãnh đạo toàn diện các mặt hoạt động trong xã, lãnh đạochính quyền và các đoàn thể quần chúng.
Tổ chức cơ sở Đảng ở xã là nơi giáo dục, rèn luyện đảng viên và pháttriển Đảng Tổ chức cơ sở Đảng là nơi giáo dục lý tưởng cách mạng, rènluyện ý chí, trau dồi quan điểm, lập trường cách mạng cho đảng viên ở nôngthôn, động viên đảng viên tham gia các phong trào giữ gìn an ninh, trật tự,phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; là nơi vận động và bồi dưỡng nhữngngười ưu tú, xuất sắc trong phong trào quần chúng, kết nạp họ vào Đảngnhằm xây dựng, phát triển, tăng cường số lượng và sức chiến đấu của Đảng
Tổ chức cơ sở Đảng ở xã là đơn vị chiến đấu cơ bản của Đảng và là chỗdựa đáng tin cậy của quần chúng nhân dân ở cơ sở Bằng việc đưa đường lối,chủ trương của Đảng vào cuộc sống ở xã, tổ chức quần chúng thực hiện thắnglợi đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước;phát triển lực lượng đảng viên mới trong quần chúng, các tổ chức Đảng ở xãthực sự là “một đơn vị chiến đấu cơ bản” của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo của
hệ thống chính trị và là chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân ở cơ sở
b) Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Theo Hiến pháp 1992, hệ thống chính quyền nhà nước ta bao gồm bốncấp từ Trung ương đến cơ sở, trong đó, chính quyền cấp cơ sở ở xã có vị trírất quan trọng Đây là đơn vị thực hiện, đồng thời cũng là nơi kiểm tra, đánhgiá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; lànơi trực tiếp và có ưu thế trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân,khai thác tiềm năng tại chỗ ở địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, tạo điều kiện cho nhân dân địa phươngxây dựng một cuộc sống ổn định Chính quyền cơ sở ở xã, bao gồm Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân, được bầu ra theo Hiến pháp và pháp luật
- Hội đồng nhân dân
Trang 25Theo Hiến pháp 1992, Hội đồng nhân dân xã được xác định là cơ quanquyền lực nhà nước ở địa phương, đồng thời là cơ quan đại diện cho ý chí,nguyện vọng của nhân dân Thông qua Hội đồng nhân dân xã, nhân dân ở cơ
sở thực hiện quyền làm chủ của mình Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm vềhoạt động của mình trước cơ quan cấp trên và trước nhân dân địa phương
Về mặt tổ chức, Hội đồng nhân dân xã có Chủ tịch, Phó chủ tịch và cácđại biểu Hội đồng nhân dân Theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủyban nhân dân năm 2003, Hội đồng nhân dân xã có Thường trực Hội đồngnhân dân nhưng không có các ban chuyên môn như Hội đồng nhân dân cấptỉnh, huyện Nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân là 5 năm Số lượng đại biểuđược quy định tối thiểu là 15 người (xã có 1000 người trở xuống) và tối đakhông quá 25 người (xã có từ 3000 người trở lên) Cũng như Hội đồng nhândân các cấp, Hội đồng nhân dân xã có hai chức năng cơ bản là quyết định vàgiám sát
Hội đồng nhân dân xã quyết định các biện pháp thực hiện phát triểnkinh tế - xã hội hàng năm nhằm phát huy tiềm năng của địa phương, quyếtđịnh trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, xã hội và đời sống, quyết định tronglĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyết định đối với việcthực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo, quyết định trong lĩnh vực thi hànhpháp luật, quyết định trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản
lý địa giới hành chính
Trong chức năng giám sát, Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động củaThường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở xã; giám sát việc thựchiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân, việc tuân thủ pháp luật của cơ quannhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũtrang nhân dân và công dân ở địa phương
- Ủy ban nhân dân
Theo Nghị định 107/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 4 năm
2004 (có sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 27/2009/NĐ-CP của Chính Phủ
Trang 26ngày 19 tháng 3 năm 2009), Uỷ ban nhân dân xã miền núi, hải đảo có dân số
từ 5.000 người trở lên; xã đồng bằng, trung du có dân số từ 8.000 người trởlên và xã biên giới, có 5 thành viên gồm có 1 Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 2 ủyviên Uỷ ban nhân dân xã không thuộc diện trên thì có 3 thành viên gồm có 1Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch và 1 ủy viên Trong đó Chủ tịch phụ trách chung,khối nội chính, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội xã Các PhóChủ tịch Uỷ ban nhân dân phụ trách khối kinh tế - tài chính, xây dựng, giaothông, nhà đất và tài nguyên - môi trường và phụ trách khối văn hóa - xã hội
và các lĩnh vực xã hội khác Các ủy viên Uỷ ban nhân dân thì phụ trách công
an và phụ trách quân sự
c) Các đoàn thể nhân dân ở xã
“ Các đoàn thể nhân dân ” ở nước ta là một phạm trù rất rộng, có thểbao gồm cả các tổ chức chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc,các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội, giớichức, lợi ích, từ thiện Phạm trù “đoàn thể nhân dân” được đề cập ở đây là các
tổ chức chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Ở nông thôn, rất ítnơi có tổ chức công đoàn, vì vậy, nói đến các đoàn thể nhân dân ở xã thuộc hệthống chính trị, chủ yếu có năm tổ chức là Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân,Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh
Đoàn thể nhân dân có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị
ở xã Cụ thể các đoàn thể nhân dân có vai trò đoàn kết nhân dân, chăm lo lợiích của thành viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, thực thi quyền vànghĩa vụ của công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhândân Đoàn thể nhân dân là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong các phong tràovận động quần chúng tham gia bảo vệ trật tự trị an, xây dựng nếp sống vănhóa, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở
d) Mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị xã
Như trên đã nói, hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn bao gồm ba bộphận cấu thành: Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân; mỗi bộ phận
Trang 27tồn tại với vai trò, chức năng riêng và có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành
- Các thành viên của hệ thống chính trị thống nhất đặt dưới sự lãnh đạocủa tổ chức cơ sở Đảng về những nội dung cơ bản như đường lối, chủ trương,phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và công tác tổ chức, cán bộ
- Các thành viên của hệ thống chính trị thống nhất tiến hành các mặthoạt động trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và sự quản lý, điều hànhcủa chính quyền địa phương theo các nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nguyên tắctập trung dân chủ, nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân
- Tuy có chức năng, nhiệm vụ, cách tổ chức và phương thức hoạt độngkhác nhau, các thành viên của hệ thống chính trị thống nhất cùng hướng tớicác mục tiêu chung là phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, chăm lo đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân địa phương, tất cả vì mục tiêu chung của xãhội là thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và vănminh”
Trong sự thống nhất của hệ thống chính trị, Đảng là bộ phận hạt nhân,giữ vai trò lãnh đạo của hệ thống; Chính quyền là lực lượng chủ đạo, giữ vaitrò quản lý, điều hành và các đoàn thể nhân dân là tổ chức đại diện quyền làmchủ của các tầng lớp nhân dân Tổ chức Đảng cơ sở vừa là hạt nhân lãnh đạo
hệ thống chính trị, lãnh đạo chính quyền và là cầu nối giữa nhân dân vớichính quyền cơ sở Chính quyền cơ sở là cơ quan quyền lực nhà nước trựctiếp quản lý, tổ chức đời sống mọi mặt ở địa phương, phát huy mọi tiềm năngnhân tài, vật lực ở địa phương phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở địa phương là cầu nối giữa nhân dân với
Trang 28tổ chức Đảng và chính quyền cơ sở, đại biểu cho lợi ích của các tầng lớp nhândân, là hậu thuẫn của Đảng và chính quyền ở địa phương.
e) Ưu điểm và hạn chế của hệ thống chính trị ở xã hiện nay
- Ưu điểm:
Nhìn chung, mối quan hệ giữa Đảng bộ xã, chính quyền xã và Mặt trậncùng các đoàn thể trong xã đã hoạt động có hiệu quả trong việc tổ chức vàvận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật củanhà nước; tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ củanhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức cuộcsống của cộng đồng dân cư Sự nghiệp đổi mới với việc phát triển nền kinh tếnhiều thành phần đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, có nhiều môhình kinh tế trang trại phát triển làm cho bộ mặt nông thôn nước ta khởi sắc
Hệ thống chính trị ở cơ sở đã và đang góp phần thực hiện tốt Pháp lệnh Thựchiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
- Hạn chế:
Bên cạnh những mặt ưu điểm, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước vàcác tổ chức chính trị- xã hội ở nước ta còn nhiều hạn chế, bất cập Hệ thốngchính trị ở xã hiện nay hoạt động với nhiều khó khăn, vướng mắc về trình độ,năng lực của đội ngũ cán bộ, về cơ chế hoạt động, về sự phối hợp công tácgiữa các tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể Những khó khăn vướng mắc
đó làm hạn chế vai trò, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, làm hạn chếquan hệ giữa hệ thống chính trị với nhân dân và gây trở ngại cho quá trình đổimới, phát triển nông thôn Sau đây là một số hạn chế trong của hệ thống chínhtrị xã hiện nay:
+ Hạn chế về trình độ, năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ xã.Tính chung cả nước, trình độ cán bộ xã còn rất hạn chế cả về học vấn, lý luậnchính trị và chuyên môn nghiệp vụ Nhìn chung, đa số cán bộ xã chưa đượcđào tạo cả về chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ quản lý hành chính nhànước, đa phần trúng cử rồi mới đưa đi bồi dưỡng ngắn hạn Tại nhiều xã, nhất
Trang 29là các xã miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, cán bộ xã yếu về khả năng tưduy, xây dựng quy hoạch, kế hoạch; yếu cả về phương pháp tổ chức thựchiện; thường trông chờ sự hướng dẫn của cấp trên theo kiểu “cầm tay chỉviệc” Khó khăn trong hoạt động của hệ thống chính trị xã không chỉ đơnthuần là vấn đề trình độ và năng lực cán bộ, mà còn là ở tính tiên phonggương mẫu, liên quan đến phong cách làm việc, phẩm chất đạo đức của độingũ cán bộ Các cán bộ hiện nay thừa nhận rằng khó khăn của họ là quầnchúng không ủng hộ mà nguyên nhân chủ yếu là cán bộ không gương mẫu,làm mất tín nhiệm trong quần chúng, hoặc là trình độ dân trí thấp, thiếu hiểubiết về luật pháp và những quy định, thủ tục hành chính.
+ Hạn chế ở đội ngũ cán bộ giúp việc
Cái khó khi tiến hành công việc ở xã, một mặt do bản thân người cán
bộ chủ chốt, như đã nói ở trên, có những mặt hạn chế nhất định về trình độ,năng lực và khả năng bố trí thời gian công tác; mặt khác số cán bộ giúp việccho họ cũng hạn chế về trình độ, năng lực Số cán bộ giúp việc này khôngphải là do dân bầu, mà do xã tuyển dụng Các điều kiện, tiêu chuẩn tuyểndụng và thực tế việc áp dụng các quy định về tuyển dụng còn nhiều hạn chế,dẫn đến một số người có trình độ không được nhận vào làm việc trong khi đónhững người được nhận vào lại yếu về năng lực, trình độ
bộ xã chưa được coi trọng đúng mức, nhất là các xã vùng núi Công tác kiểmtra, đánh giá cán bộ không thường xuyên, nhiều nơi nguyên tắc tập trung dân
Trang 30chủ bị vi phạm, thực hiện kỷ luật không nghiêm chỉnh Thêm vào đó, ở nhiều
cơ sở, việc xử lý những biểu hiện lệch lạc, tiêu cực chưa kịp thời và nghiêmminh, dẫn đến tiêu cực kéo dài, ngày càng trầm trọng Do buông lỏng côngtác quản lý và sử dụng cán bộ nên có không ít cán bộ xã thoái hóa, biến chất
về đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, gia trưởng, kèn cựa địa
vị, cục bộ, bè phái, dẫn đến mất đoàn kết nội bộ, gây khó khăn cho việc lãnhđạo và thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương
+ Điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn và trình độ dân trí còn thấp.Những khó khăn khách quan đối với hoạt động của hệ thống chính trị
xã hiện nay là “điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương còn nhiều khókhăn” Đây là điều kiện khách quan làm ảnh hưởng và tác động đến mặt bằngchung về trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ xã, hạn chế việc tuyên truyềnđường lối, chính sách và pháp luật trong nhân dân
+ Thiếu sự quan tâm của cấp trên, đặc biệt là cấp huyện
Ngoài những khó khăn xuất phát từ điều kiện, tình hình kinh tế - xã hội,các lý do chủ quan là khá rõ nét Không chỉ có khó khăn về trình độ, hoàncảnh, năng lực, phẩm chất, tính tiên phong gương mẫu của cán bộ mà còn là
sự quan tâm, kiểm tra, đôn đốc, hỗ trợ, giúp đỡ của cấp trên
+ Tổ chức, điều hành chưa hợp lý, phối hợp chưa đồng bộ và vướngmắc về cơ chế
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi thực hiện cơ chế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa,khối lượng công việc của cán bộ trong hệ thống chính trị xã tăng lên rất nhiều.Khó khăn này vừa thể hiện trình độ, năng lực của cán bộ, vừa thể hiện sự hạnchế trong quản lý, điều hành hệ thống chính trị xã hiện nay
+ Bộ máy cồng kềnh, sự phân công công việc không hợp lý, một số cán
bộ, công chức làm việc quá tải, một số không có việc làm
Sự quá tải cũng là một gánh nặng cho cá nhân Sự phân cấp từ trênxuống dưới hiện nay có nhiều bất hợp lý, thêm vào đó các nhiệm vụ được
Trang 31giao cho cán bộ xã theo quy định của pháp luật cũng thật nặng nề Điều đángnói ở đây là trong khi công việc tập trung vào một số chức danh, thì một sốchức danh khác lại hầu như không có việc làm.
II Đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở xã trong giai đoạn hiện nay
Đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta là một bộ phận của công cuộc đổimới toàn diện đất nước Công cuộc đổi mới ở nước ta có ý nghĩa như mộtbước ngoặt của một giai đoạn cách mạng mới Đổi mới kinh tế và đổi mới cáclĩnh vực khác không thể tách rời đổi mới về chính trị
Trong thời kỳ phát triển mới của cách mạng nước ta hiện nay, việc đổimới hệ thống chính trị trên phạm vi cả nước cũng như ở từng cơ sở, nhất là ở
xã đã trở nên vô cùng cần thiết và bức xúc Từ đó ta có thể thấy những yêucầu cho sự cần thiết phải đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở
xã đó là:
- Đáp ứng yêu cầu của thực hành dân chủ Thực hành dân chủ và chốngquan liêu, tham nhũng là hai mặt của cùng một vấn đề: tìm động lực cho sựphát triển, tiến bộ xã hội Quan tâm sâu sắc tới vấn đề hệ trọng này, Hồ ChíMinh đã chỉ rõ: “Cách tốt nhất để chống quan liêu, tham nhũng là thực hànhdân chủ” và “Thực hành dân chủ rộng rãi là chiếc chìa khóa vạn năng để giảiquyết mọi khó khăn” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000,t.12, tr.249) Trong tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh sớm phát hiện ra dân chủ
là động lực và mục tiêu của sự phát triển, của chủ nghĩa xã hội Đó cũngchính là động lực và mục tiêu của một hệ thống chính trị trong sạch, của đổimới hệ thống chính trị để phát triển chính trị, qua đó mà phát triển kinh tế,văn hóa, xã hội
- Hiểu đúng về xã và vai trò của xã Muốn đổi mới hệ thống chính trị ở
xã, trước hết phải đổi mới nhận thức để nhận thức đúng đắn về xã đó chính là
cơ sở xã hội của chính trị, là cơ sở của thể chế nhà nước, của chế độ chính trị
ở xã Nó khác biệt với các loại hình cơ sở khác thuộc các lĩnh vực khác gắn
Trang 32với ngành nghề với những tổ chức tương ứng của nó: doanh nghiệp, công ty,bệnh viện, trường học, công sở, nhóm xã hội hay từng tế bào của xã hội là giađình Ở xã là nơi nảy sinh từ thực tế biết bao kinh nghiệm có thể tổng kết đểkhái quát thành lý luận, để điều chỉnh, bổ sung và đổi mới đường lối, chínhsách do thường xuyên phải giải quyết những tình huống của cuộc sống đặt ra.Đổi mới đã manh nha nảy mầm từ những nhu cầu bức xúc ở xã, và từ xã đãnhanh chóng nhập cuộc với đổi mới, hành động theo đường lối đổi mới củaĐảng, bởi đổi mới là hợp với quy luật phát triển và thuận với lòng dân.
- Quản lý và tự quản Một vấn đề nổi bật ở xã cả về vai trò, đặc điểm vàtính chất của nó là trên địa bàn xã không chỉ diễn ra hoạt động quản lý màđồng thời còn có cả hoạt động tự quản của dân, tự quản của từng hộ gia đình,của các đoàn thể tự nguyện đến cả cộng đồng, tập trung tiêu biểu nhất là ởthôn, làng, ấp, bản, với vai trò của trưởng thôn, trưởng bản do dân bầu trựctiếp Tự quản là nét đặc thù ở xã Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã phải pháthuy được sức mạnh, năng lực tự quản này của dân để qua đó, dân tham giatrực tiếp vào việc kiểm tra, giám sát chính quyền, tham gia quản lý, xây dựng
và phát triển cuộc sống cộng đồng
Đổi mới hệ thống chính trị vừa là vấn đề khoa học sâu sắc vừa là vấn
đề chính trị thực tiễn nhạy cảm nhất trong đời sống cộng đồng, dân tộc Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Kết hợp ngay từ đầuđổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm đồngthời từng bước đổi mới chính trị” Cụ thể trong công cuộc đổi mới hiện nay
có đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đổi mới tổchức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, đổi mới tổ chức và hoạtđộng của HĐND, UBND xã
1 Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Phương thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống các hình thức, các phươngpháp mà Đảng vận dụng để đưa nội dung lãnh đạo tác động vào hệ thốngchính trị, xã hội nhằm đạt được mục tiêu lãnh đạo của Đảng Nhìn lại quá
Trang 33trình lãnh đạo của Đảng mấy chục năm qua, trong mỗi giai đoạn cách mạng,cùng với việc xây dựng đường lối và tổ chức, Đảng luôn quan tâm đến côngtác lãnh đạo Phương pháp lãnh đạo không chỉ bảo đảm cho sự lãnh đạo củaĐảng có hiệu quả mà còn góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện đường lốicách mạng, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên
Thực tế cho thấy, có đường lối đúng, có tổ chức hợp lý mà không cóphương thức lãnh đạo phù hợp, không giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng,Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội ở các cấp, trên từnglĩnh vực thì hiệu quả lãnh đạo thấp
Trong tác phẩm “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng” tổng kết sự lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ của Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã nhận xét:“Kinh
nghiệm cho thấy phong trào cách mạng có khi giẫm chân tại chỗ, thậm chí thất bại nữa, không phải vì thiếu phương hướng và mục tiêu rõ ràng mà chủ yếu vì thiếu phương pháp cách mạng thích hợp”.
Trong thời kỳ đổi mới, với một nền kinh tế nhiều thành phần, vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước và mở cửa hội nhập kinh tếthế giới, hệ thống chính trị ở xã đã có bước phát triển mới Chính quyền xãphải quản lý xã hội bằng pháp luật, các tổ chức chính trị - xã hội phát triểnmạnh mẽ và đa dạng hóa sự hoạt động; hàng trăm hội quần chúng, hội nghiệpđoàn, hội từ thiện mới ra đời, hoạt động rất năng động và phong phú Tìnhhình đó đòi hỏi Đảng phải đứng đúng vị trí của mình để vừa xây dựng bộ máychính quyền xã thực sự vững mạnh, quản lý xã hội có hiệu quả, vừa phải lãnhđạo các tổ chức xã hội, các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt chính sách, phápluật của nhà nước
Thành tựu bước đầu của công cuộc đổi mới đất nước mấy năm qua có
sự đóng góp của sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ xã Một sốquan điểm cơ bản, mang tính định hướng về phương thức lãnh đạo của Đảng:
- Là Đảng cầm quyền, Đảng có trách nhiệm lãnh đạo toàn diện đối vớichính quyền xã, đồng thời chịu trách nhiệm chính trị trước xã hội Do đó,
Trang 34Đảng phải đề phòng nguy cơ quan liêu, xa rời quần chúng và sự sai lầm vềđường lối.
- Là Đảng cầm quyền, Đảng phải đặt trọng tâm vào xây dựng và hoànthiện chính quyền xã Đảng xây dựng nhà nước vững mạnh và tự mình tuânthủ đúng Hiến pháp, pháp luật
- Là Đảng cầm quyền, Đảng phải chăm lo xây dựng và hoàn thiệnphương thức lãnh đạo nhằm thực hiện có hiệu quả đường lối chính trị để giữvững vai trò và vị trí lãnh đạo Nghiên cứu và xây dựng phương thức lãnh đạokhông chỉ là cải tiến lề lối làm việc đơn thuần mà phải có cơ sở lý luận vàthực tiễn về Đảng cầm quyền Cùng với việc xây dựng kiện toàn tổ chức,phương thức lãnh đạo phải trở thành nội dung quan trọng của công tác xâydựng Đảng
- Một phương thức lãnh đạo đúng đắn bao giờ cũng vừa bảo đảm thựchiện đúng định hướng chính trị, vừa phát huy được tính chủ động, tinh thầnnhiệt tình, sáng tạo và nhân lên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị
và của nhân dân, nhằm thực hiện đạt hiệu quả cao nhất mục tiêu đề ra
2 Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND, UBND xã
Cái đích quan trọng nhất của đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND
và UBND xã là nâng cao hiệu lực quản lý bằng cách thực hiện nghiêm chỉnhđường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước, tạo điều kiện thuậnlợi cho các hộ dân sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật và nâng cao đờisống, tổ chức và quản lý tốt các mặt trật tự, an ninh ở địa bàn, thực hiện Pháplệnh Thực hiện dân chủ ở xã phường, thị trấn Bằng cách đó, xây dựng chínhquyền cơ sở thành một chính quyền được lòng dân, được dân tin tưởng vàủng hộ Như vậy cần phải chú ý tới những biện pháp đổi mới nào để nâng caohiệu lực và uy tín của chính quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhànước và hỗ trợ hoạt động của dân ở cơ sở?
Trước hết, chính quyền cơ sở phải thể hiện, cụ thể hóa phương hướng,chủ trương, nghị quyết của tổ chức đảng ở cơ sở trong công tác quản lý của
Trang 35chính quyền với tinh thần chủ động và sáng tạo, đề cao tinh thần phụ trách vàchịu trách nhiệm về những nhiệm vụ được giao
Cán bộ chính quyền phải nắm vững và am hiểu chủ trương, chính sáchcủa Đảng và pháp luật của nhà nước để giải quyết cho đúng, không tùy tiện,tắc trách Quan hệ của người dân với chính quyền (giữa công dân với nhànước) là một trong những mối quan hệ cơ bản của quản lý dựa trên pháp luậtquy định Để nâng cao hiệu lực quản lý và tạo điều kiện cho các công dânthực hiện đúng những quyền và nghĩa vụ của mình, chính quyền phải đặc biệtchú trọng cung cấp cho dân biết những thông tin cần thiết liên quan tới nhữngvấn đề về cuộc sống của họ, về hoạt động của chính quyền để dân giám sát vàkiểm tra
Cuộc sống ở cơ sở thường xuyên nảy sinh rất nhiều những sự kiện, tìnhhuống có ảnh hưởng trực tiếp tới dân Do đó, hoạt động của chính quyền đòihỏi phải khẩn trương, kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc: thiên tai (lũlụt, hạn hán), dịch bệnh, trật tự trị an, vệ sinh môi trường, việc ăn, ở, họchành, đi lại của dân, các tranh chấp dân sự xung quanh đất đai, xây dựng nhàcửa, mua bán, đổi chác, quản lý hộ tịch, quản lý dân cư trên địa bàn và dânnơi khác đến …
Cán bộ chính quyền, từ các đại biểu của dân trong Hội đồng nhân dânđến các cán bộ trong Ủy ban nhân dân với tư cách là cơ quan hành chính cótác phong sâu sát quần chúng, tận tâm và tận lực phục vụ dân, có kiến thứcchuyên môn nghiệp vụ của quản lý, am hiểu pháp luật Công tâm, thạo việc,trách nhiệm và liêm khiết – đó là những phẩm chất cần thiết mà mỗi cán bộchính quyền cần phải có và thường xuyên trau dồi
Để đạt được chất lượng và hiệu quả như vậy trong tổ chức bộ máy,trong hoạt động và trong nguồn nhân lực của chính quyền cơ sở, cần phải chútrọng đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân, cónhững hoạt động cụ thể thiết thực vừa tầm có thể thực hiện được
Trang 36Cần tăng số lượng đại biểu của dân trong Hội đồng nhân dân là nhữngquần chúng ngoài Đảng, tránh tình trạng Hội đồng nhân dân hầu hết là đảngviên và đang giữ chức vụ, làm cho tiếng nói trực tiếp của những người dânthường bị hạn chế, ảnh hưởng đến quyền lực trực tiếp tham gia quản lý chínhquyền của quần chúng.
Phải nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân bằng cách,ngoài chất lượng đại biểu còn cần có sự chuẩn bị tốt nội dung các kỳ họp Hộiđồng nhân dân, tăng số lượng và thời gian các phiên họp của Hội đồng để cóthể bàn bạc, thảo luận, chất vấn, kiểm tra, quyết định những vấn đề kinh tế -
xã hội – văn hóa, tài chính – ngân sách vốn liên quan mật thiết tới cuộc sống củadân và được dân rất quan tâm
Phải đặc biệt đề cao vai trò và trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, củađại biểu nhân dân, tăng cường những tiếp xúc giữa đại biểu với cử tri, mởrộng môi trường hoạt động của các đại biểu, để họ kiêm nhiệm thêm các côngtác xã hội tại cơ sở, cùng tham gia vào các hoạt động tự quản với dân
Đối với Ủy ban nhân dân xã vừa là cơ quan chấp hành vừa là cơ quanhành chính của dân ở cơ sở, là nơi thực hiện chức năng hành pháp ở cơ sở,cần hết sức chú trọng tới năng lực của cán bộ, trước hết là năng lực tổ chức,điều hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, quan hệ giữa Chủ tịch Ủy ban nhândân với Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Bí thư Đảng ủy cơ sở Cũng như vậyphải có sự phân công rành mạch giữa Chủ tịch, Phó Chủ tịch, và cần tăngcường chức trách của ủy viên Ủy ban nhân dân xã
Chính quyền cơ sở là bộ phận then chốt và là một khâu đặc biệt quantrọng của hệ thống chính trị ở cơ sở Không có một chính quyền cơ sở thực sựvững mạnh thì việc thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhândân như Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở đã được Đảng và Nhà nước ban hành sẽvấp phải những khó khăn trở ngại lớn Những giải pháp, biện pháp nêu trênchính là nhằm vào đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền cơ
sở, nhất là chính quyền xã, coi đó là khâu đột phá của đổi mới
Trang 373 Đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội
Muốn phát huy vai trò của các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội,phải đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các đoàn thể ở xã cho phùhợp với tình hình thực tế của xã hội, của địa phương và ý nguyện của ngườidân Cần chú trọng thúc đẩy sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và các đoànthể trong nhân dân để đẩy mạnh việc thực hiện Pháp lệnh Thực hiện dân chủ
ở xã, phường, thị trấn Có thể coi đây là trọng điểm công tác của các đoàn thểnhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong tổ chức củamình Công tác đoàn thể nhiệt tình, tận tụy, gắn bó với phong trào, gần gũi vớiquần chúng, có năng lực vận động quần chúng Đó là phong cách của ngườicán bộ dân vận như Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “óc nghĩ, tai nghe, mắt nhìn,miệng nói, chân đi, tay làm” Yêu cầu này càng đặc biệt cần thiết ở xã, có nhưthế mới thu hút được toàn dân tham gia phong trào, tiếp thu được những kinhnghiệm, sáng kiến của dân từ hoạt động thực tiễn Mặt trận và các đoàn thể làlực lượng chủ yếu trong công tác vận động quần chúng cơ sở, có những đónggóp tích cực vào việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chínhsách và pháp luật của nhà nước trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
ở cơ sở
CÂU HỎI THẢO LUẬN
Câu hỏi 1: Vị trí vai trò của mặt trận và các đoàn thể trong hệ thống chínhtrị ở xã hiện nay?
Câu hỏi 2: Vì sao đổi mới hệ thống chính trị xã là nhiệm vụ cấp bách vàliên tục trong giai đoạn hiện nay?
Câu hỏi 3: Bản thân anh (chị) cần làm gì để xây dựng hệ thống chính trị
xã hiện nay?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
- Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia
Trang 38- Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1999.
- Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân 2003
- Hoàng Chí Bảo, Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay,
- Đặng Đình Tân, Chính quyền cấp cơ sở (xã) ở nước ta hiện nay: Thực
trạng và giải pháp, Kỷ yếu Đề tại khoa học về hệ thống chính trị ở cơ sở.
- Dương Xuân Ngọc, Mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và đoàn thể
cấp xã, Kỷ yếu Đề tài khoa học về hệ thống chính trị ở cơ sở.
- Phan Xuân Sơn, Các đoàn thể nhân dân ở cấp xã, phường và một số vấn
đề về đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở, Kỷ yếu Đề tài khoa học về hệ thống chính
Trang 39I Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị
-xã hội ở -xã trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1 Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Tổ chức cơ sở Đảng ở xã là nền tảng của Đảng ở xã Với vị trí là hạtnhân lãnh đạo hệ thống chính ở xã, trong những năm qua, tổ chức cơ sởĐảng ở xã luôn khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn TạiNghị quyết số 17-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị Ban chấp hànhTrung ương lần thứ 5 khóa IX về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thốngchính trị cơ sở ở xã, phường, thị trấn” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 17)
đã đưa ra phương hướng về tiếp tục tăng cường hệ thống chính trị ở nôngthôn, trên cơ sở xác định rõ, rành mạch về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạngiữa các bộ phận trong hệ thống chính trị trên địa bàn nông thôn, đồng thờixây dựng mối quan hệ đoàn kết, phối hợp giữa các tổ chức dưới sự lãnh đạocủa đảng bộ, chi bộ tập trung cho nhiệm vụ phát triển toàn diện nông nghiệp,nông thôn theo hướng CNH, HĐH Theo tinh thần của Nghị quyết số 17, vaitrò của tổ chức cơ sở Đảng ở xã thể hiện cụ thể :
- Đảng bộ, chi bộ cơ sở là hạt nhân lãnh đạo toàn diện các mặt côngtác ở cơ sở, cần nắm vững nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xâydựng Đảng là then chốt, chăm lo xây dựng chính quyền, Mặt trận và cácđoàn thể nhân dân, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệthống chính trị hướng vào phục vụ nhân dân, đưa đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đến mọi người dân và tổchức thực hiện tốt ở cơ sở, phản ánh và giải đáp mọi tâm tư nguyện vọngcủa nhân dân, khơi dậy trí tuệ và nguồn lực của dân, không ngừng nâng caotrình độ dân sinh, dân trí, dân chủ ở cơ sở
Trang 40- Công tác phát triển đảng viên mới nhằm vào những người có lýtưởng cách mạng, lao động giỏi (nhất là nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi),
có đạo đức, lối sống lành mạnh, có uy tín trong quần chúng và tích cực hoạtđộng trong hệ thống chính trị, có vai trò nòng cốt trong các đoàn thể nhândân ở cơ sở Đối với những đảng viên không chịu khó làm việc, lười học tập,
đã được tập thể giúp đỡ mà không tiến bộ thì vận động họ ra khỏi Đảng.Từng Đảng bộ, Chi bộ cơ sở phải phấn đấu không còn đảng viên yếu kém
- Đổi mới việc ra nghị quyết của Đảng bộ, Chi bộ, của cấp uỷ Đảng:Đối với những vấn đề lớn, quan hệ tới cuộc sống và quyền lợi của đông đảonhân dân địa phương, đòi hỏi sự phối hợp của cả hệ thống chính trị ở cơ sở,Đảng bộ, Chi bộ và Cấp uỷ Đảng đề ra chủ trương và các giải pháp có tínhđịnh hướng và phân công, giao trách nhiệm cho các tổ chức trong hệ thốngchính trị đề ra biện pháp và tổ chức thực hiện theo quyền hạn, trách nhiệmcủa từng tổ chức Những chủ trương công tác thuộc thẩm quyền quyết địnhcủa chính quyền và đoàn thể thì chính quyền và đoàn thể chủ động đề xuất,cấp uỷ đảng bàn và có ý kiến về những nội dung quan trọng
- Xây dựng và thực hiện quy chế làm việc giữa Bí thư cấp uỷ với Chủtịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban Mặttrận Tổ quốc và những người đứng đầu các đoàn thể nhân dân để bàn và giảiquyết kịp thời những công việc quan trọng và bức xúc trên địa bàn, bảo đảmcho cấp uỷ đảng quán xuyến được các mặt công tác ở xã
- Đảng bộ, Chi bộ và Cấp uỷ đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộgồm nhiều thế hệ bổ sung, kế tiếp nhau thông qua việc rèn luyện đội ngũđảng viên, đồng thời phát hiện và bồi dưỡng những người có tài, có đứctrong dân để đảm đương các vị trí công tác trong hệ thống chính trị Dựa vàodân và thông qua hoạt động thực tiễn ở cơ sở để phát hiện, đào tạo, bồidưỡng, kiểm tra cán bộ
- Tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành nghị quyết của Đảng
bộ, Đảng uỷ; kiểm tra công tác, đồng thời kiểm tra tư cách đảng viên Chú