1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Điều Chỉnh, Bổ Sung Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Tỉnh Bình Định Đến Năm 2020 Và Tầm Nhìn Đến Năm 2030

126 507 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 917,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bình Định đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 là bước cụ thể hoá Chiến lược và Quy hoạch tổng thểphát triển du

Trang 1

MỞ ĐẦU

I SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG QUY HOẠCH

Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam Theo tổ chức lãnh thổ du lịchcủa Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầmnhìn đến năm 2030, Bình Định thuộc vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ Tỉnh BìnhĐịnh có diện tích tự nhiên khoảng 6.050 km2, diện tích vùng lãnh hải khoảng 36.000 km2 Bình Định là một trong những địa phương có vị trí du lịch thuận lợi và tiềm năng dulịch tương đối toàn diện về tự nhiên và văn hóa

Nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, trên tuyến du lịch xuyên Việt,trong không gian du lịch “Hành lang Đông - Tây” và là cửa ngõ của đại ngàn TâyNguyên, các tỉnh Nam Lào và Đông Bắc Campuchia ra biển Đông vì vậy Bình Định có vịtrí du lịch quan trọng và thuận lợi để liên kết vùng phát triển du lịch

Với bờ biển dài, nhiều vũng, vịnh, bãi tắm đẹp và danh lam thắng cảnh như QuyNhơn, Phương Mai, Tam Quan, Tân Thanh, Vĩnh Hội, Trung Lương, Hải Giang, đảoYến, bãi tắm Hoàng Hậu, Quy Hòa, bãi Dại, Tân Phụng, Bình Định là một trong nhữngđịa phương giàu tiềm năng về du lịch biển, đảo

Bình Định, nơi núi non hùng vĩ đã ghi dấu bao chiến công hiển hách của người anhhùng dân tộc áo vải, cờ đào Quang Trung - Nguyễn Huệ cuối thế kỷ XVIII và của quân vàdân các dân tộc tỉnh Bình Định trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ xâm lược của thế kỷ XX để lại nhiều di tích lịch sử - văn hóa có giá trị cao về

du lịch

Bình Định là mảnh đất có nhiều di tích rực rỡ của văn hóa Chăm Pa Với 14 ngọntháp Chăm, Bình Định là địa phương thứ 2 sau Quảng Nam sở hữu được nhiều tháp Chămnhất nước ta Những cụm tháp Chăm Bình Định đã đạt tới độ chín muồi của nghệ thuậtkiến trúc và điêu khắc, dung hòa được những phong cách nghệ thuật Chăm Pa và Khơmetạo nên sức hấp dẫn đối với khách du lịch

Bình Định nơi truyền thống thượng võ, nuôi dưỡng và phát triển tài năng của nhiềudanh nhân văn hóa, nhà thơ lớn của dân tộc như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên,Yến Lan, Quách Tấn ; là quê hương của các loại hình nghệ thuật nổi tiếng như:hát tuồng, dân ca bài chòi, các lễ hội truyền thống đặc trưng như lễ hội chợ Gò, lễ hộiĐống Đa - Tây Sơn, lễ hội đô thị Nước mặn, lễ hội Đua thuyền, lễ hội Cầu ngư, lễ hội Đổgiàn.v.v…luôn hấp dẫn khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu;

Văn hoá ẩm thực Bình Định với nhiều sản vật ẩm thực nổi tiếng đã trở thành nét vănhoá đặc sắc như bánh ít lá gai, nem chua Bình Định (nem chợ huyện), bún Song thằn,

Trang 2

rượu Bàu Đá - thức uống được xếp vào hàng “Quốc tửu”,…Các làng nghề rượu Bàu Đá,mộc mỹ nghệ Nhơn Hậu, nón ngựa Phú Gia, làng rèn Tây Phương Danh, dệt thổ cẩm Hà

Ri, gốm Vân Sơn, thảm xơ dừa Tam Quan,v.v đang từng bước trở thành những sảnphẩm hàng hóa hấp dẫn khách du lịch

Trên cơ sở phát huy những lợi thế về tài nguyên và vị trí về du lịch, năm 2005 Quyhoạch điều chỉnh tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bình Định đến năm 2010, định hướngđến năm 2020 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt (sau đây gọi là Quy hoạch 2005)làm cơ sở pháp lý cho việc quản lý phát triển du lịch trên địa bàn

Cùng với tiến trình phát triển của du lịch cả nước, du lịch Bình Định đã đạt đượcnhững thành tựu đáng kể, có những đóng góp nhất định trong sự phát triển kinh tế - xã hộicủa địa phương và đối với sự phát triển du lịch chung của cả nước Du lịch Bình Địnhđang từng bước trở thành một trong những ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong cơ cấukinh tế của địa phương

Theo thống kê năm 2015, ngành Du lịch Bình Định đón hơn 2,6 triệu lượt khách,tăng 25% so với năm 2014 (trong đó khách du lịch quốc tế đạt gần 206 nghìn lượt, tăng 20%

so với năm 2014; khách du lịch nội địa đạt gần 2,4 triệu lượt, tăng 25% so với năm 2014);doanh thu thuần túy từ du lịch đạt gần 1.037,5 tỷ đồng, tăng 31% so với năm 2014

Những kết quả đánh giá thông qua các chỉ tiêu về lượng khách, thu nhập và việc làm

đã khẳng định vai trò của ngành Du lịch trong nền kinh tế quốc dân Ngành Du lịch BìnhĐịnh đã có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo

an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, bảo vệ môi trường và giữ vững quốcphòng, an ninh

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, đánh giá qua 10 năm phát triển(2005 - 2015) cho thấy du lịch Bình Định vẫn còn nhiều hạn chế; nhiều khó khăn, trở ngạivẫn chưa có giải pháp thoả đáng; chưa có bước phát triển đột phá để khẳng định thực sự

là ngành kinh tế mũi nhọn; kết quả chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của địaphương, phát triển nhưng vẫn ẩn chứa nhiều nguy cơ, yếu tố thiếu bền vững

Có rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng trước hết là Quy hoạch

2005 được lập trong thời kỳ đầu phát triển của ngành du lịch, điểm xuất phát rất thấp,Luật du lịch Việt Nam chưa ra đời nên một số khái niệm, thuật ngữ chưa được xác định rõ

và một số nội dung quy hoạch còn hạn chế, chưa theo kịp thực tế phát triển

Những năm gần đây, xu hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh toàn cầu, giao lưu mởrộng và tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ trong nền kinh tế tri thức trên thếgiới đang tạo những cơ hội to lớn đồng thời cũng là thách thức đối với phát triển du lịch

cả nước trong đó có du lịch Bình Định

Trang 3

Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Việt Nam với việc gia nhập các tổ chứckinh tế khu vực và thế giới như WTO, Cộng đồng kinh tế ASEAN, TPP…đã, đang và sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại, trong đó có du lịch phát triển.

Để nắm bắt những vận hội mới, hòa nhập với khu vực, năm 2011, Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm2030; năm 2013 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịchViệt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và năm 2014 phê duyệt Quy hoạch tổngthể phát triển du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Đây là những cơ sở pháp lý quantrọng cho các địa phương trên cả nước trong đó có Bình Định lập quy hoạch phát triểnngành phù hợp với tiến trình phát triển chung

Trước bối cảnh và xu hướng đó, những nội dung Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể pháttriển Du lịch Bình Định đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 cần phải điều chỉnhvới tầm nhìn dài hạn và mang tính đột phá để làm cơ sở xây dựng các chương trình, kế hoạch

và chính sách phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh phù hợp với giai đoạn phát triển du lịch ViệtNam đến năm 2020, tầm nhìn 2030

Theo đó, việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bình Địnhđến năm 2020 và có tầm nhìn 2030 là thực sự cần thiết

II CĂN CỨ ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG QUY HOẠCH

1 Căn cứ pháp lý

- Luật du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14/6/2005;

- Luật di sản văn hoá số 28/2001/QH10 ngày 29/6/2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật di sản văn hóa năm 2009;

- Luật quy hoạch đô thị số 30/2009/QH 12 ngày 17/6/2009;

- Luật 38/2009/QH12 ngày 19/6/2009 về sửa đổi bổ sung một số điều của các luậtliên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản;

- Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013;

- Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014;

- Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa X “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”;

- Nghị quyết số 17/2001/QH13 ngày 22/11/2011 của Quốc hội nước CHXHCN ViệtNam về quy hoạch sử sụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 -2015) cấp quốc gia;

Trang 4

- Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 của Chính phủ về việc ban hànhChương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW ngày09/02/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X “Về Chiếnlược biển Việt Nam đến năm 2020”;

- Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 29/03/2013 của Chính phủ về quy hoạch sử dụngđất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) tỉnh Bình Định

- Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 8/12/2014 của Chính phủ về một số giải pháp đẩymạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới;    

- Nghị định số 92/2006/NĐ - CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt

và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;

- Nghị định số 92/2007/NĐ - CP ngày 01/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thihành một số điều của Luật du lịch;

- Nghị định số 04/2008//NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ sửa đổi bổ sungmột số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ vềlập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;

- Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thihành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

- Quyết định số 148/2004/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ vềphương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đếnnăm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020;

- Quyết định số 54/2009/QĐ-TTg ngày 14/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đến năm 2020;

Trang 5

- Quyết định số 1436/2009/QĐ-TTg ngày 10/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành Giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đếnnăm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030;

- Quyết định số 129/QĐ-TTg ngày 18/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

quy hoạch chi tiết đường bộ ven biển Việt Nam;

- Quyết định số 346/QĐ-TTg ngày 15/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtquy hoạch hệ thống cảng cá, bến cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;

- Quyết định số 1349/QĐ-TTg ngày 09/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtđiều chỉnh quy hoạch khu neo đậu tránh, trú bão cho tàu cá đến năm 2020, định hướngđến năm 2030; 

- Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030;

- Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtQuy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030;

- Quyết định số 356/QĐ-TTg ngày 25/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtđiều chỉnh quy hoạch phát triển Giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm 2020 vàđịnh hướng đến năm 2030;

- Quyết định số 1114/QĐ-TTg ngày 09/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtquy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miềnTrung đến năm 2020;

- Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtquy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cả nước đến năm 2020, tầm nhìn 2030;

- Quyết định số 1037/QĐ-TTg ngày 24/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtđiều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướngđến năm 2030;

- Quyết định số 1874/QĐ-TTg ngày 13/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Kinh tế trọng điểm miền Trungđến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

- Quyết định số 2054/QĐ-TTg ngày 13/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Quy hoạch tổng thể phát triển văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch vùngKinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

Trang 6

- Quyết định số 2350/QĐ-TTg ngày 24/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đến năm

- Thông tư 01/2012/TT-BKH ngày 09/02/2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướngdẫn xác định mức chi phí cho lập, thẩm dịnh và công bố quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế-xã hội; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu;

- Thông tư 05/2013/TT-BKH ngày 31/10/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướngdẫn tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh và công bố quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế - xã hội; quy hoạch ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu;

- Quyết định số 2782/QĐ-BVHTTDL ngày 15/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch phê duyệt Đề án "Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển ViệtNam đến năm 2020";

- Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XVIII, nhiệm kỳ

- Các căn cứ pháp lý khác có liên quan

Trang 7

- Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Định đến năm 2015; nhu cầu

và xu thế phát triển du lịch quốc tế, khu vực và trong nước trong giai đoạn mới;

- Niên giám thống kê Bình Định và các kết quả nghiên cứu liên quan khác;

- Kết quả thực hiện Quy hoạch 2005 trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015

III QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG ĐIỀU CHỈNH,

BỔ SUNG QUY HOẠCH

- Đảm bảo chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội

- Bảo vệ, phát triển tài nguyên du lịch và môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc

- Bảo đảm tính khả thi cân đối cung và cầu du lịch

- Phát huy lợi thế địa phương; sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên; đáp ứng nhu cầu du lịch

2 Mục tiêu

Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bình Định đến năm

2020 và tầm nhìn đến năm 2030 là bước cụ thể hoá Chiến lược và Quy hoạch tổng thểphát triển du lịch Việt Nam, vùng Duyên hải Nam trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn2030; các định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnhBình Định lần thứ XVIII và lần thứ XIX, nhằm:

1) Xây dựng được hệ thống quan điểm, mục tiêu phát triển ngành du lịch tỉnh BìnhĐịnh một cách toàn diện về kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh và môi trườngphù hợp với nhu cầu phát triển trong giai đoạn mới;

2) Điều chỉnh và bổ sung các chỉ tiêu cụ thể, các định hướng và giải pháp phát triển

du lịch làm cơ sở để lập các kế hoạch trung hạn và ngắn hạn, các quy hoạch chi tiết và các

dự án phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh từ nay đến năm 2020, 2030 đảm bảo tính khả thi,cân đối cung - cầu, khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch, phát huy thế mạnh, tạo ra sảnphẩm du lịch đặc thù góp phần đưa du lịch tỉnh Bình Định phát triển trở thành một trongnhững trọng điểm du lịch của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và cả nước

Trang 8

3 Nhiệm vụ và nội dung điều chỉnh, bổ sung quy hoạch

Căn cứ điều 19, Luật du lịch, nhiệm vụ và nội dung điều chỉnh, bổ sung quy hoạchtổng thể phát triển du lịch tỉnh Bình Định bao gồm :

1) Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch du lịch tỉnh Bình Định trong giai đoạn từ

mô, nhu cầu vốn…); nhu cầu sử dụng đất đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 làm cơ

sở xây dựng các quy hoạch chi tiết và các dự án nhằm thu hút vốn đầu tư ở trong và ngoàinước về phát triển du lịch;

7) Đánh giá tác động môi trường và đề xuất một số vấn đề về bảo vệ tài nguyên vàmôi trường du lịch góp phần đảm bảo phát triển du lịch bền vững;

8) Điều chỉnh, bổ sung các giải pháp và tổ chức thực hiện quy hoạch

IV PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG QUY HOẠCH

Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bình Định đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030 được sử dụng tổng hợp các phương pháp truyền thống sau:

1 Phương pháp thực địa

Bao gồm các khảo sát, thu thập thông tin, tư liệu về tiềm năng, hiện trạng phát triển

du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015 làm cơ sở đánhgiá kết quả thực hiện Quy hoạch 2005 và tính toán điều chỉnh dự báo và các định hướngphát triển cho giai đoạn tiếp theo

2 Phương pháp tổng hợp, phân tích

Tổng hợp, phân tích, đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại yếu kém vànguyên nhân, cấp nhật các xu hướng phát triển du lịch của khu vực và thế giới trong hoàncảnh mới từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bình Địnhtrong giai đoạn tiếp theo phù hợp tình hình, nhiệm vụ của giai đoạn phát triển mới

Trang 9

3 Phương pháp chuyên gia

Tham vấn ý kiến đánh giá của chuyên gia ở Trung ương và địa phương trong lĩnhvực du lịch cũng như các lĩnh vực liên quan dưới các hình thức hội thảo khoa học, traođổi kinh nghiệm để kịp thời bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp

4 Phương pháp kế thừa

Kế thừa các kết quả nghiên cứu của các đề án có liên quan trên địa bàn và mô hìnhphát triển du lịch của một số địa phương có điều kiện tự nhiên tương tự Trong phươngpháp này, đặc biệt kế thừa những kết quả của Quy hoạch 2005, từ đó rút ra được nhữngbài học kinh nghiệm cho giai đoạn phát triển mới

5 Phương pháp sơ đồ, bản đồ

Sử dụng phần mềm hệ thống thông tin địa lý MapInfo xây dựng hệ thống bản đồquy hoạch

Trang 10

PHẦN THỨ NHẤT ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BÌNH ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2005 – 2015

CHƯƠNG I:

NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU

LỊCH BÌNH ĐỊNH ĐẾN NĂM 2010, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2020

I QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1 Quan điểm phát triển

1 Quy hoạch phải phù hợp với Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Địnhđến 2010, định hướng 2020 và định hướng phát triển khu vực trọng điểm kinh tế miềnTrung

2 Khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của tỉnh để đẩy mạnh phát triển dulịch; coi trọng cả khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế; mở rộng kinh doanh

du lịch phải kết hợp chặt chẽ với đảm bảo an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo vệmôi trường sinh thái bền vững; đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội Nhànước tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đồng thời khuyến khích các thành phầnkinh tế đầu tư phát triển du lịch để đến năm 2010 trở thành ngành kinh tế quan trọng

3 Phát triển du lịch phải gắn liền với phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hóa,

xã hội khác Đầu tư phát triển du lịch có trọng tâm, trọng điểm; tập trung phát triển cácloại hình du lịch sinh thái biển, hồ, núi; du lịch văn hoá lịch sử tạo ra ưu thế vượt trội, xâydựng du lịch Bình Định trở thành trọng điểm du lịch quốc gia

2 Mục tiêu phát triển

2.1 Mục tiêu chung: Phát triển nhanh và bền vững để đến năm 2010 du lịch thật sự

trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu chung của tỉnh, góp phần thúc đẩyphát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bình Định theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa, xứng đáng với vai trò là một tỉnh thuộc vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung

Khách nội địa Lượt khách 348.000 849.000 1.400.000 1.908.000

Trang 11

Tốc độ tăng trưởng trung bình khách quốc tế giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010:16,07%/năm; giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020: 10,1%/năm; Tốc độ tăng trưởngtrung bình khách nội địa giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010: 19,54%/năm; giai đoạn từnăm 2010 đến năm 2020: 8,43%/năm.

Mức chi tiêu trung bình 1 khách du lịch trong 1 ngày đêm:

- Khách quốc tế: giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010: 90 USD; giai đoạn từ năm

2010 - 2015: 100 USD; giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020: 120 USD

- Khách nội địa: giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010: 24 USD; giai đoạn từ năm

2010 đến năm 2015: 30 USD; giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020: 40 USD

2.2.2 Tổng thu từ du lịch: Năm 2010 đạt 48,83 triệu USD (1.000 tỷ đồng theo giá

hiện hành); năm 2015 đạt 110,4 triệu USD (2.370 tỷ đồng); năm 2020: 218,76 triệu USD(4.700 tỷ đồng) Tốc độ tăng trưởng trung bình thu từ du lịch giai đoạn từ năm 2005 đếnnăm 2010: 19,48%/năm; giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020: 16,18%/năm

2.2.3 Cơ sở lưu trú du lịch: Năm 2010 đạt 2.493 buồng; năm 2015 đạt 5.029; năm

2020: 7.609, công suất buồng 60, 65, 70%

2.2.4 Lao động ngành du lịch: Năm 2010 đạt 10.124 lao động trong đó có 3.164 lao

động trực tiếp; năm 2015 đạt 20.346 lao động trong đó có 6.358 lao động trực tiếp; năm

2020 đạt 30.877 lao động trong đó có 9.649 lao động trực tiếp

II CÁC ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH

1 Thị trường khách du lịch

1.1 Thị trường truyền thống:

- Thị trường quốc tế: Tây Âu; Bắc Mỹ; Đông Bắc Á

- Thị trường nội địa: Nội tỉnh; các tỉnh miền Trung; các tỉnh phía Nam

1.2 Thị trường mục tiêu:

Gồm: Thị trường Trung Quốc; Thị trường ASEAN; Thị trường khu vực Bắc Bộ

1.3 Thị trường tiềm năng:

Thị trường Nga; Thị trường Australia

2 Phát triển loại hình và sản phẩm du lịch

1) Du lịch sinh thái biển, đảo; 2) Du lịch văn hoá, lịch sử; 3) Du lịch Thương mại;4) Du lịch làng nghề; 5) Du lịch lễ hội; 6) Du lịch võ thuật; 7) Du lịch thăm thân

Trang 12

3 Phát triển du lịch theo lãnh thổ

3.1 Cụm du lịch:

3.1.1 Cụm du lịch Quy Nhơn và phụ cận: Sản phẩm du lịch tiêu biểu là: Du lịch tắm

biển, thể thao nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí; Du lịch mạo hiểm, biển, đảo; Du lịch thamquan các di tích kiến trúc tôn giáo, lịch sử; Du lịch tham quan các danh thắng ; Trungtâm dịch vụ; Trung tâm hội nghị, hội thảo, hội chợ

3.1.2 Cụm du lịch Tây Sơn - An Nhơn và phụ cận: Sản phẩm du lịch tiêu biểu là: Du

lịch tham quan các di tích lịch sử; Du lịch tham quan các di tích văn hoá nghệ thuật; Dulịch làng nghề; Du lịch sinh thái, tham quan thắng cảnh ; Du lịch lễ hội; Du lịch nghỉdưỡng, chữa bệnh

3.1.3 Cụm du lịch Hoài Nhơn và phụ cận: Sản phẩm du lịch tiêu biểu là: Du lịch

tham quan, nghỉ dưỡng, tắm biển…; Du lịch làng nghề; Du lịch ẩm thực; Vui chơi giải trí;

Du lịch tham quan di tích lịch sử; Trung tâm dịch vụ của vùng phía Bắc tỉnh

Ngoài ra còn cụm du lịch Định Bình - Vĩnh Sơn - Đông Trường Sơn với sản phẩm

du lịch tiêu biểu là: Du lịch thể thao (bơi, chèo thuyền ), nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí;leo núi, mạo hiểm; tham quan các di tích lịch sử cách mạng; tham quan phong cảnh,

3.2 Trung tâm du lịch:

3.2.1 Thành phố Quy Nhơn: Vai trò là trung tâm du lịch của toàn tỉnh, là thành phố

du lịch biển trong hệ thống du lịch Việt Nam

3.2.2 Điểm tập trung dịch vụ du lịch Bồng Sơn: Là hạt nhân cụm du lịch Hoài Nhơn

- Bồng Sơn và phụ cận

Ngoài ra còn có hai địa điểm tập trung dịch vụ du lịch là Trung tâm Tây Sơn (hạtnhân là khu di tích Tây Sơn) và thị trấn Vĩnh Sơn

3.3 Điểm du lịch

3.3.1 Điểm du lịch văn hoá, lịch sử: Di tích Tây Sơn – Bảo tàng Quang Trung;

Thành Đồ Bàn; Hệ thống các tháp Chàm; Chùa Thập Tháp; Chùa Long Khánh

3.3.2 Điểm du lịch tự nhiên: Ghềnh Ráng,Núi Bà, Bán đảo Phương Mai, Đầm Thị

Nại, Hồ Núi Một, Thắng cảnh Hầm Hô, Suối nước nóng Hội Vân, Bãi biển Quy Nhơn

3.3.3.Các điểm du lịch khác:

a) Gắn với tự nhiên: Các hồ đập Vĩnh Sơn, Định Bình; Đầm Trà ổ, vịnh NướcNgọt; Đảo Nhơn Châu (Cù Lao Xanh);

b) Các di tích lịch sử cách mạng:

Trang 13

Căn cứ địa nghĩa quân Tây Sơn (xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh);

Khu căn cứ Núi Bà (Phù Cát);

Di tích chiến thắng Đèo Nhông - Dương Liễu (Phù Mỹ);

Di tích chiến thắng Đồi Mười (Hoài Nhơn);

Di tích chiến thắng đèo An Khê (Tây Sơn);

Khu di tích lịch sử Vạn Tường (xã Bình Hoà, huyện Tây Sơn);

Chứng tích vụ thảm sát Nho Lâm (xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước);

Chứng tích vụ thảm sát Gò Dài (xã Tây Vinh, huyện Tây Sơn).

c) Các di tích lịch sử văn hoá:

Đền thờ Đào Duy Từ (xã Hoà Thanh Tây, huyện Hoà Nhơn);

Phế tích thành Chánh Mẫn (xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát);

Mộ Hàn Mặc Tử (Gềnh Ráng - Quy Nhơn);

Lăng Mai Xuân Thưởng (xã Bình Tường, huyện Tây Sơn);

Mộ Đào Tấn; nhà lưu niệm Xuân Diệu.

3.4 Tuyến du lịch

3.4.1 Tuyến nội tỉnh: Tổ chức 3 tuyến du lịch chính:

Tuyến 1 (Tuyến ven biển): Tam Quan, Đề Ghi, Quy Nhơn đến Sông Cầu.

Tuyến 2: Tuyến Du lịch Quy Nhơn – Tây Sơn – Anh Nhơn – Vĩnh Thạnh.

Tuyến 3: Tuyến dọc Quốc lộ 1 A.

3.4.2 Các tuyến liên tỉnh:

- Quy Nhơn - Pleiku - Kon Tum - Quảng Ngãi - Quy Nhơn

- Quy Nhơn - Pleiku - Buôn Mê Thuột - Nha Trang - Tuy Hoà - Quy Nhơn

- Quy Nhơn - Đà Nẵng - Huế - Quảng Trị - Quảng Bình - Quy Nhơn

- Quy Nhơn - Tuy Hoà - Nha Trang - Ninh Chữ - Đà Lạt

- Quy Nhơn - Hà Nội / thành phố Hồ Chí Minh

3.4.3 Tuyến du lịch quốc tế:

- Quy Nhơn - Đà Nẵng - Huế - Quảng Trị - Lao Bảo - Nam Lào - Đông Bắc TháiLan - các nước khu vực

Trang 14

- Quy Nhơn - Pleiku - Kon Tum - Đắk Tô - Tân Cảnh - Nam Lào - Đông Bắc TháiLan - các nước khu vực.

- Quy Nhơn - Pleiku - Cămpuchia

4 Đầu tư phát triển du lịch

4.1 Các lĩnh vực đầu tư cụ thể

1) Đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng cơ sở phục vụ du lịch; 2) Đầu tư phát triển hệ thống

cơ sở lưu trú và công trình phục vụ du lịch; 3) Đầu tư xây dựng các loại hình du lịch vàcác cơ sở vui chơi giải trí; 4) Đầu tư tu bổ, tôn tạo và bảo vệ các di tích văn hoá - lịch sử,khôi phục phát triển các lễ hội truyền thống phục vụ du lịch; 5) Đầu tư vào lĩnh vực dịch

vụ phục vụ du lịch; 6) Đầu tư vào các lĩnh vực hoạt động du lịch khác

4.2 Các khu vực ưu tiên đầu tư phát triển du lịch:

- Tuyến du lịch ven biển Quy Nhơn - Sông Cầu;

- Tuyến du lịch Phương Mai - Núi Bà;

- Tuyến du lịch văn hoá - lịch sử - sinh thái Tây Sơn – An Nhơn

4.3 Phân kỳ đầu tư và các dự án ưu tiên đầu tư phát triển du lịch

4.3.1 Phân kỳ đầu tư: Nhu cầu vốn đầu tư đến năm 2020 là 7.318 tỷ đồng, trong đó

ngân sách khoảng 10%, vốn khác 90% được phân bổ cụ thể cho các giai đoạn như sau:

- Đến năm 2010: 4.214 tỷ đồng; trong đó vốn cho cơ sở hạ tầng: 2.115 tỷ đồng

- Giai đoạn 2010 – 2020: 4.819 tỷ đồng; trong đó vốn cơ sở hạ tầng:1.355 tỷ đồng

4.3.2 Các dự án ưu tiên đầu tư: Bao gồm 21 dự án, trong đó có 7 dự án phát triển

cơ sở hạ tầng; 14 dự án phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch theo danh mục ở bảngphụ lục 1

III GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

Quy hoạch đề xuất 10 nhóm giải pháp: 1) Giải pháp tổ chức hoạt động kinh doanh

du lịch; 2) Giải pháp xúc tiến quảng bá du lịch; 3) Đào tạo nguồn nhân lực; 4) Giải pháp

về quy hoạch, đầu tư phát triển du lịch; 5) Giải pháp về vốn và tài chính; 6) Giải pháp về

cơ chế chính sách; 10) Giải pháp về ứng dụng khoa học, công nghệ phục vụ du lịch; 8)Giải pháp về sưu tầm, bảo vệ, tôn tạo tài nguyên, di tích lịch sử, văn hoá vật thể và phi vậtthể; 9) Giải pháp về mở rộng hợp tác quốc tế và trong nước; 10) Giải pháp giảm thiểu tácđộng tiêu cực của hoạt động du lịch tới môi trường

Trang 15

CHƯƠNG II:

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN

DU LỊCH BÌNH ĐỊNH GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015

I KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1 Khách du lịch

Với những lợi thế về vị trí, hệ thống giao thông và tài nguyên du lịch, trong đó nổibật là tài nguyên du lịch biển, đảo Bình Định được đánh giá là điểm đến quan trọng của

du khách, đặc biệt là trên tuyến du lịch xuyên Việt trong thời gian gần đây

Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015, cùng với sự tăng trưởng khách du lịch chungcủa cả nước, lượng khách du lịch đến Bình Định liên tục tăng với mức tăng trưởng tươngđối cao Số liệu thống kê cho thấy: Năm 2005, Bình Định đón được tổng cộng khoảng380,3 nghìn lượt khách du lịch, trong đó có gần 28,5 nghìn lượt khách du lịch quốc tế(7,5%) và hơn 351,5 nghìn lượt khách nội địa; năm 2010 du lịch Bình Định đón được hơn

971 nghìn lượt khách du lịch, trong đó khoảng 79 nghìn lượt khách quốc tế (8,1%) và hơn

892 nghìn lượt khách nội địa; năm 2015 đón hơn 2,6 triệu lượt trong đó có gần 206 nghìnlượt khách quốc tế (chiếm khoảng 7,9%) và 2,4 triệu lượt khách nội địa Với thực trạngphát triển trên, tốc độ tăng trưởng trung bình về khách du lịch đạt được qua các giai đoạnphát triển như sau:

- Từ năm 2005 đến năm 2010: Đạt tốc độ tăng trưởng 20,62%/năm; trong đó kháchquốc tế: 22,62%/năm; khách nội địa: 20,47%/năm

- Từ năm 2011 đến năm 2015: Đạt tốc độ tăng trưởng 21,0%; trong đó khách quốctế: 27%/năm; khách nội địa: 20,43%/năm

- Tính chung cả giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015: Đạt tốc độ tăng trưởng21,0%; trong đó khách quốc tế; 24,6%: khách nội địa: 20,44%

Mức tăng trên đạt vào loại cao so với các tỉnh trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

và cả nước (Theo thống kê du lịch cả nước, các tỉnh trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộđạt mức trung bình 17%/năm, cả nước đạt xấp xỉ 15%/năm)

Thời gian lưu trú trung bình của khách quốc tế tăng từ 1,7 ngày năm 2005 lên 1,9ngày năm 2010 và 2,1 ngày năm 2015 Thời gian lưu trú trung bình của khách nội địatăng từ 1,2 ngày năm 2005 lên xấp xỉ 1,5 ngày năm 2010 và năm 2015

Mức chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tế tăng từ 570.000 VND (tươngđương 35 USD) người/ngày đêm năm 2005 lên 900.000 VNĐ (45 USD) người/ngày đêmnăm 2010 và khoảng 1.500.000 đồng đến 1.700.000 đồng (tương đương 75 USD đến 85

Trang 16

210.000 đồng người/ngày đêm năm 2005 lên 400.000 VNĐ người/ngày đêm và khoảng500.000 đồng đến 600.000 đồng (khoảng 25 USD đến 30 USD) năm 2015.

Mức chi tiêu của khách du lịch quốc tế và nội địa đều đạt mức trung bình so vớivùng Duyên hải Nam Trung Bộ (60 USD đến 80 USD khách quốc tế; 500.000 đồng đến600.000 đồng của khách du lịch nội địa) và cao hơn mặt bằng chung cả nước

Bảng 1. Các chỉ tiêu về khách du lịch tại Bình Định giai đoạn 2005 - 2015

Chi tiêu bình quân Đồng/người/ngày đêm 570.000 900.000 1.700.000

Chi tiêu bình quân lưu trú Đồng/người/ngày đêm 210.000 400.000 600.000

Nguồn: TCDL và Sở VHTTDL Bình Định

So sánh với dự báo của Quy hoạch 2005:

1) Cho đến thời điểm năm 2015, lượng khách du lịch nói chung đến Bình Định đềuđạt cao hơn khá nhiều so với dự báo của Quy hoạch Ví dụ, trên thực tế đã đạt được 2,6triệu lượt khách trong khi dự báo chỉ có hơn 1,5 triệu lượt (vượt gần 1,1 triệu, tươngđương 70%) Trong đó:

- Lượng khách du lịch quốc tế đến Bình Định vượt so với dự báo khoảng 86 nghìnlượt, tương đương 72% Tốc độ tăng trưởng bình quân khách du lịch quốc tế giai đoạn từnăm 2005 đến năm 2010 theo dự báo đạt 16,07%/năm, thực tế đạt 22,62%/năm; giai đoạn

từ năm 2011 đến năm 2015 dự báo gần 8,5%, thực tế đạt 27%

- Lượng khách du lịch nội địa đạt cao hơn dự báo gần 1 triệu lượt, tương đươngkhoảng 71,5% (năm 2015 dự báo 1,4 triệu lượt, thực tế đạt gần 2,4 triệu) Tốc độ tăngtrưởng bình quân khách du lịch nội địa giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010 theo dự báođạt 19,54%/năm, thực tế đạt 20,47%/năm; giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 dự báohơn 10%, thực tế đạt 20,5%

2) Thời gian lưu trú trung bình và mức chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tếđạt thấp hơn dự báo Thời gian lưu trú trung bình và mức chi tiêu bình quân một khách dulịch nội địa đạt tương đương dự báo của quy hoạch

Sở dĩ có sự chênh lệch trên do các nguyên nhân chủ yếu sau:

- Đối với khách quốc tế: Quy hoạch 2005 chưa dự báo hết những thay đổi về xuhướng thị trường chung của du lịch thế giới, bên cạnh đó có những thay đổi tích cực về

Trang 17

môi trường đầu tư, về phát triển loại hình và sản phẩm du lịch của tỉnh Bình Định trongthời gian qua.

- Đối với khách nội địa: Dự báo của Quy hoạch cũng chưa tính hết thị hiếu củakhách nội địa và hiệu quả của các giải pháp kích cầu du lịch nội địa Theo xu thế chungcủa cả nước, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, thời gian nghỉ nhiều hơn,nhu cầu du lịch tăng lên Bên cạnh đó, du lịch biển cũng đang là thị hiếu của khách nộiđịa, phù hợp với điều kiện và khả năng cung cấp của Bình Định

- Sự thay đổi của chất lượng dịch vụ, sản phẩm du lịch, giá cả thị trường, ảnhhưởng đến các tính toán dự báo về thời gian và mức chi tiêu của khách du lịch đặc biệt làkhách quốc tế

So sánh lượng khách du lịch đến Bình Định với các tỉnh trong vùng Nam Trung Bộ

và cả nước cho thấy lượng khách du lịch đến với Bình Định thời gian qua đạt ở mức khá

của cả nước và mức trung bình so với các tỉnh trong vùng Cụ thể, lượng khách quốc tếđứng thứ 18/63 tỉnh thành; thứ 5/8 của vùng; khách nội địa thứ 22/63 tỉnh thành, thứ 4/8của vùng (xếp trên cả Quảng Nam về thu hút khách du lịch nội địa)

2 Tổng thu từ du lịch

Tổng thu từ du lịch bao gồm tất cả các khoản thu từ khách du lịch chi trả trong thờigian đi du lịch Các khoản chi gồm có chi cho dịch vụ lưu trú, ăn uống, đi lại, mua sắm vàcho các dịch vụ khác Tổng thu trên được tính toán theo công thức sau:

Tổng thu = Số khách (người) x Thời gian lưu trú trung bình (ngày) x Mức chi tiêubình quân (VNĐ/khách, ngày) và được tính cho từng loại khách quốc tế và nội địa

Tuy nhiên, ở nước ta nói chung và Bình Định nói riêng, hệ thống thống kê chưa

được hoàn chỉnh nên toàn bộ các khoản chi trả của khách du lịch chưa tập hợp được mộtcách đầy đủ Vì vậy, số liệu thống kê được thường thấp hơn thực tế đạt được rất nhiều Kết quả thống kê của ngành du lịch Bình Định và Tổng cục Du lịch cho thấy, cùngvới sự tăng trưởng về lượng khách, nguồn thu từ du lịch của Bình Định giai đoạn từ năm

2005 đến năm 2015 có mức tăng trưởng nhanh Năm 2005, tổng thu từ du lịch đạt khoảng

90 tỷ đồng (Theo cách tính của ngành ước khoảng 150 tỷ đồng), đến năm 2010 đạt hơn

260 tỷ đồng (Theo cách tính của ngành ước khoảng 670 tỷ đồng); 2015 đạt hơn 1.037,5 tỷđồng (Theo cách tính của ngành ước khoảng 2.680 tỷ đồng)

Trong tổng nguồn thu năm 2015 (theo cách tính của ngành) đạt được gồm có:

- Tổng thu từ khách quốc tế: 700 tỷ đồng

- Tổng thu từ khách nội địa: 1.980 tỷ đồng

Mức tăng trưởng trung bình về tổng thu từ du lịch theo các mốc giai đoạn như sau:

Trang 18

- Từ năm 2005 đến năm 2010: Đạt mức tăng trưởng xấp xỉ 24,6%/năm.

- Từ năm 2011 đến năm 2015: Đạt mức tăng trưởng 25%/năm

- Tính chung cả thời kỳ từ năm 2005 đến năm 2015: Đạt mức tăng trưởng24,8%/năm

Cơ cấu nguồn thu từ các dịch vụ: Lưu trú đạt 332 tỷ đồng, chiếm 32% tổng doanhthu thuần túy; ăn uống đạt 425,4 tỷ đồng, chiếm 41%; vận chuyển lữ hành đạt 166 tỷđồng, chiếm 16%; mua sắm hàng hóa, vui chơi giải trí và dịch vụ khác đạt 114 tỷ đồng,chiếm 11% So với nhiều địa phương khác trên cả nước, cơ cấu nguồn thu đã có chuyểnbiến tích cực với tỷ trọng mua sắm hàng hóa tăng Tuy nhiên, chưa có sự khác biệt nhiềuvới tình trạng chung của du lịch Việt Nam là chủ yếu thu từ ăn uống và lưu trú, thiếunguồn thu từ dịch vụ đi kèm

Kết quả về cơ cấu nguồn thu trên cho thấy, trong 4 yếu tố cần thiết của hoạt động dulịch (lưu trú, ẩm thực, giải trí và mua sắm) thì về dịch vụ lưu trú và ẩm thực ở Bình Địnhđạt tương đối tốt, nhưng về dịch vụ giải trí và mua sắm vẫn còn hạn chế (11%) Đây cũng

là nguyên nhân cần phải khắc phục cho giai đoạn phát triển tiếp theo

So sánh với dự báo của Quy hoạch 2005: Tổng thu từ du lịch Bình Định năm 2010

thấp hơn khá nhiều so với dự báo (dự báo đạt xấp xỉ 1.000 tỷ đồng nhưng thực tế chỉ đạtkhoảng 670 tỷ đồng (260 tỷ đồng theo thống kê từ các cơ sở kinh doanh), tương đươngkhoảng 67% so với dự báo Tuy nhiên, đến năm 2015, tổng thu đạt cao hơn dự báo (2.680

tỷ đồng so với 2.370 tỷ đồng)

Tốc độ tăng trưởng trung bình tổng thu từ du lịch theo dự báo giai đoạn từ năm 2005đến năm 2010: 19,48%/năm trong khi thực tế đạt 24,6%/năm; giai đoạn từ năm 2011 đếnnăm 2020: 16,18%/năm, thực tế từ năm 2011 đến năm 2015 đạt 25%/năm

So với mặt bằng chung của du lịch Việt Nam, tổng thu từ du lịch Bình Định đạt mứctrung bình khá trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (đứng 5/8 tỉnh, thành phố trongvùng) và mức khá so với cả nước (20/63 tỉnh, thành cả nước)

3 Giá trị gia tăng (GDP) ngành du lịch

Theo thống kế của ngành du lịch địa phương, từ nguồn thu nhập trên, sau khi trừ cácchi phí trung gian (lưu trú từ 10% đến 15%; ăn uống: 60% đến 65%; vận chuyển du lịch:20% đến 25%; bán hàng lưu niệm: 65% đến 70%; dịch vụ khác: 15% đến 20%…), giá trịgia tăng du lịch Bình Định đạt khoảng 65% giá trị tổng thu từ du lịch

4 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gồm cơ sở lưu trú, cơ sở ăn uống và các tiện nghiphục vụ du lịch khác Thời gian qua, được sự quan tâm của ngành du lịch tỉnh Bình Định

Trang 19

nên hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đã được quan tâm đầu tư phát triển đem lạihiệu quả nhất định cho công tác hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn.

4.1 Cơ sở lưu trú

Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015, Bình Định đã thu hút được nhiều thành phầnkinh tế đầu tư vào hệ thống cơ sở lưu trú du lịch để phát triển thêm về số lượng và nângcao chất lượng cơ sở dịch vụ

4.1.1 Về số lượng: Năm 2005 toàn tỉnh có 33 cơ sở lưu trú với 1.150 buồng, năm

2010 có 105 cơ sở lưu trú với 2.500 buồng và tính đến hết năm 2015 toàn tỉnh có 140 cơ

sở với 3.200 buồng Tốc độ tăng trưởng buồng lưu trú đạt 11,52%/năm, thấp hơn mặtbằng chung của vùng và cả nước

Công suất sử dụng buồng trung bình năm 2005 đạt 50%, năm 2010 đạt gần 70% vànăm 2015 đạt khoảng 68%

4.1.2 Về chất lượng: Bên cạnh phát triển số lượng, chất lượng cơ sở lưu trú cũng

được tăng lên đáng kể Đến năm 2015, toàn tỉnh có 5 khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao với

577 buồng; 1 khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao với 93 buồng; 16 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2sao với 578 buồng; 80 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 sao và một số cơ sở lưu trú khác với1.952 buồng

Thống kê cho thấy, so với quy hoạch 2005 số lượng khách sạn đạt 1 sao trở lên,trong đó đặc biệt số khách sạn đạt tiêu chuẩn xếp hạng đạt 4 sao tăng nhanh

Số cơ sở lưu trú có quy mô trung bình chiếm tỷ lệ cao Cụ thể trong năm 2015, tỷ lệ

cơ sở có quy mô lớn hơn 100 buồng chiếm 14%; quy mô từ 20 buồng đến 100 buồngchiếm 53%; quy mô nhỏ hơn 20 buồng chiếm 33%

Đối với địa phương có nhiều tiềm năng phát triển du lịch biển như Bình Định, hệthống cơ sở lưu trú hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng

So với dự báo của Quy hoạch 2005: Số lượng buồng lưu trú giữa thực tế và dự báo

tương đối phù hợp trong giai đoạn đầu 2005 - 2010, đến giai đoạn sau dự báo cao hơn

nhiều so với thực tế phát triển được Cụ thể, năm 2010, số lượng buồng khách sạn vượt

dự báo vượt 7 buồng (dự báo 2.493 buồng năm năm 2010, thực đạt 2.500 buồng), năm

2015 thực tế chỉ có 3.200 buồng, trong khi dự báo cần 5.030 buồng Năm 2015 trong khilượng khách vượt dự báo khá nhiều nhưng số buồng lưu trú lại ít hơn dự báo Điều nàychứng tỏ công suất sử dụng buồng cao hơn dự báo Bên cạnh đó, khách du lịch không sửdụng dịch vụ lưu trú khá nhiều

4.2 Cơ sở ăn uống

Các cơ sở ăn uống bao gồm nhà hàng, quán cà phê, quầy bar, quán ăn nhanh Các

Trang 20

các cơ sở lưu trú, ở các điểm tham quan du lịch, trong các cơ sở vui chơi giải trí nhằmphục vụ khách du lịch cũng như các tầng lớp dân cư địa phương.

Hiện tại, ở Bình Định có khoảng 25 nhà hàng phục vụ trong các khách sạn phục vụcác món ăn Á, Âu, ẩm thực vùng miền của Bình Định và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.Ngoài hệ thống nhà hàng trong các khách sạn, các cơ sở ăn uống bên ngoài kháchsạn, tại các điểm tham quan ở Bình Định những năm qua cũng đã phát triển tương đốinhanh Đến nay, đã có hơn 70 cơ sở phục vụ các món ăn từ bình dân đến cao cấp Tuynhiên các nhà hàng này thường có quy mô nhỏ, khó có khả năng đón các đoàn khách lớn;bài trí của nhà hàng đơn giản, không có khu chế biến riêng biệt, món ăn chưa phong phú

và vấn đề vệ sinh thực phẩm cũng chưa được quan tâm đúng mức

4.3 Các tiện nghi và cơ sở phục vụ du lịch khác

Tính đến năm 2015, toàn tỉnh có 12 khu du lịch và nhiều điểm tham quan du lịchkhác đang khai thác có hiệu quả; một số tiện nghi thể thao và chăm sóc sức khỏe trongcác khách sạn (04 phòng tập thể hình, 16 cơ sở tắm hơi và massage, 03 điểm karaoke, 6

bể bơi), vui chơi giải trí, 31 phòng phục vụ hội nghị hội thảo, 12 trung tâm mua sắm phục

vụ đa dạng hàng hóa trong và ngoài nước, hàng lưu niệm Đây là những công trình vàphương tiện dịch vụ góp phần hấp dẫn và tăng thời gian lưu trú của khách du lịch

Các điểm du lịch như Ghềnh Ráng, Hầm Hô, Bảo tàng Quang Trung, Đài kính thiên,

…đã triển khai các công tác tôn tạo, đảm bảo vệ sinh môi trường, an ninh và nâng cấpdịch vụ phục vụ đạt kết quả tốt trong công tác đón tiếp khách du lịch trong và ngoài tỉnhđến tham quan trong các dịp lễ, tết và các sự kiện lớn và đón được lượng lớn khách dulịch trong những năm gần đây

4.4 Hoạt động lữ hành

Năm 2015, toàn tỉnh có 25 đơn vị kinh doanh lữ hành (tăng 16 so với năm 2011),trong đó có 5 đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế, 20 đơn vị kinh doanh lữ hành nội địa,từng bước đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài tỉnh Đến nay, toàn tỉnh đã

có 111 thẻ hướng dẫn viên du lịch (trong đó có 29 thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế và

82 thẻ hướng dẫn viên du lịch nội địa) được cấp Riêng trong năm 2015, có 21 thẻ hướngdẫn viên du lịch (trong đó có 8 thẻ quốc tế và 13 thẻ nội địa) đã được cấp

5 Lao động ngành du lịch

5.1 Số lượng lao động

Lao động trực tiếp trong ngành du lịch tỉnh Bình Định năm 2005 có 1.112 lao động,đến năm 2010 tăng lên 2.593 lao động; năm 2015 đạt 4.050 lao động, đạt tốc độ tăngtrưởng bình quân hơn 16%/năm (giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010 đạt mức tăng18,45%/năm; giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 đạt mức 13,11%/năm Cơ cấu lao

Trang 21

động du lịch Bình Định hiện nay như sau:

- Lưu trú: làm việc trong 133 cơ sở lưu trú (khách sạn) có 2.405 người, chiếm 60% lực

lượng lao động trong ngành

- Lữ hành: Trong 20 đơn vị kinh doanh lữ hành có 202 lao động, chiếm 5% lực lượng

lao động trong ngành

- Các cơ sở khác: nhà hàng và dịch vụ khác: 1.273 lao động, chiếm 31%.

So sánh với dự báo của Quy hoạch 2005: Số lượng lao động trực tiếp trên thực tế

phát triển đạt thấp hơn so với dự báo (dự báo năm 2010 có 3.164 lao động, trong khi thực

tế là 2.593 lao động và năm 2015 dự báo 6.358 lao động trong khi hiện nay chỉ mới đạt4.050 lao động)

Sở dĩ số lượng bưồng lưu trú cao hơn nhưng số lao động thấp hơn do tỷ lệ lao độngtrực tiếp trên một buồng khách sạn ở Bình Định còn thấp so với tiêu chuẩn quốc tế, theo

đó nhu cầu tăng của lực lượng lao động gián tiếp ngoài xã hội cũng chưa nhiều

Độ tuổi nguồn nhân lực du lịch đa phần còn rất trẻ, dưới 30 tuổi chiếm hơn 51% Tuy nhiên, tỷ trọng lao động có trình độ cao còn thấp Vì vậy, trước yêu cầu hộinhập kinh tế thế giới, yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, lao động du lịchBình Định vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành cả về lượng và chất

Bảng 2 Hiện trạng cơ sở lưu trú và lao động du lịch Bình Định

Trang 22

Tổng hợp đầy đủ các chi tiêu cơ bản phát triển du lịch tỉnh Bình Định giai đoạn

2005 – 2015, xem Phụ lục 5

II KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1 Thị trường khách du lịch và sản phẩm du lịch 

1.1 Thị trường khách du lịch

Cùng với sự phát triển sản phẩm du lịch, thị trường khách ngày càng được mở rộng

1.1.1.Thị trường khách du lịch quốc tế: Thị trường quốc tế chiếm tỷ trọng nhỏ trong

tổng lượng khách đến Bình Định, nhưng có chiều hướng tăng dần từ 7,5% năm 2005 lên8,1% năm 2010 và hơn 8% năm 2015 Khách quốc tế đến Bình Định bằng nhiều đườngkhác nhau, nhưng chủ yếu từ Đà Nẵng, trung tâm phân phối khách khu vực miền Trung.Nguồn khách chủ yếu từ 10 thị trường chính, trong đó thống kê cho thấy các thịtrường truyền thống là các nước Tây Âu, Úc, Mỹ; các nước và vùng lãnh thổ Đông Bắc

Á Khách du lịch từ các nước trong khối ASEAN đạt không đáng kể

Sở thích của khách du lịch quốc tế là nghỉ mát, tắm biển khám phá, tìm hiểu bản sắcvăn hóa địa phương, du lịch sinh thái và một số là khách thương mại, công vụ tại các khucông nghiệp Đặc điểm của thị trường quốc tế là có khả năng chi trả cao và đòi hỏi chấtlượng dịch vụ, môi trường tốt

1.1.2 Thị trường khách nội địa: Khách nội địa chiếm hơn 90% thị phần Khách nội

địa đến từ khắp nơi trên cả nước, đặc biệt là các tỉnh trong vùng, vùng Tây Nguyên, từ các

đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Khách du lịch nội địa chủ yếu đến vớimục đích nghỉ dưỡng biển, công vụ, lễ hội, tâm linh Khách nội địa, đặc biệt là khách cólưu trú ngày càng có khả năng chi trả cao và đòi hỏi dịch vụ có chất lượng tốt

Đặc điểm về thị trường du lịch Bình Định tham khảo Phụ lục 5 tổng hợp các chi tiêu

cơ bản phát triển du lịch tỉnh Bình Định giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015

1.2 Hệ thống sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch Bình Định ngày càng được đa dạng hóa và nâng cao chất lượnghơn, trong đó nổi bật là các sản phẩm gắn với biển, đảo Trong dòng sản phẩm du lịchbiển, đảo, chủ yếu phát triển các sản phẩm nghỉ dưỡng biển, tắm biển và sinh thái biển(Ghềnh Ráng, Phong Điện, Trung Lương, Tân Thanh, hòn Khô, cù lao Xanh )

Ngoài du lịch biển, các sản phẩm du lịch văn hóa như tham quan di tích lịch sử vănhóa, bản sắc dân tộc cũng có những dấu ấn riêng nhờ những nổi bật của hệ thống tàinguyên gắn với các danh nhân, với lịch sử chiến tranh của dân tộc trên địa bàn và với bảnsắc văn hóa các dân tộc thiểu số

Trang 23

Du lịch gắn với sự kiện (MICE) cũng là sản phẩm đang được quan tâm của ngành

du lịch Bình Định và tạo dấu ấn riêng Thành phố Quy Nhơn ngày càng chứng tỏ vị tríthích hợp tổ chức các sự kiện quan trọng như hội nghị, hội thảo, hội chợ, thể thao; Bảotàng Quang Trung trở thành điểm du lịch lễ hội ngày càng thu hút khách (Hội Đống Đa -Tây Sơn, hội thao võ cổ truyền Bình Định )

Du lịch tham quan làng nghề cũng đã được hình thành tại các làng nghề như rượuBàu Đá (An Nhơn), gỗ mỹ nghệ Nhơn Hậu, thảm xơ dừa Tam Quan gắn việc thamquan, tìm hiểu với mua bán hàng lưu niệm

Bên cạnh việc phát triển sản phẩm, hệ thống các dịch vụ đi kèm gồm ăn uống vàmua bán các sản vật tự nhiên như đặc sản biển, nem chợ huyện, bánh ít lá gai, rượu BàuĐá đã góp phần làm hấp dẫn thêm các chương trình du lịch

2 Tổ chức không gian du lịch

2.1 Phân vùng lãnh thổ du lịch

Do đặc điểm tài nguyên, sự phân bố hệ thống kết cấu hạ tầng, theo Quy hoạch năm

2005 thực tế phát triển du lịch Bình Định thời gian qua đã dần hình thành các cụm du lịchvới những hướng phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng, gồm:

Thị trấn Phú Phong với cụm di tích gắn với Tây Sơn Tam kiệt cũng đã trở thànhtrung tâm du lịch phụ trợ cho du lịch Bình Định ở phía Tây Nam và trên hành lang du lịchĐông - Tây theo quốc lộ 19

2.2 Hệ thống các tuyến, điểm du lịch

2.2.1 Tuyến du lịch: Trên địa bàn tỉnh đã hình thành và khẳng định giá trị của một

số tuyến du lịch quan trọng sau:

- Tuyến Quy Nhơn - Sông Cầu (kể cả thành phố Quy Nhơn) gắn với việc khai tháccác loại hình du lịch lịch sử, văn hóa và du lịch biển, dọc bãi biển thành phố

Trang 24

- Tuyến ven biển Quy Nhơn - Nhơn Hội - Tam Quan, trọng tâm là khu du lịch PhươngMai - núi Bà gắn với hệ thống tài nguyên du lịch trên bán đảo Phương Mai.

- Tuyến Quy Nhơn – An Nhơn – Tây Sơn và vùng phụ cận gắn du lịch biển, với du lịchvăn hóa - lịch sử, du lịch sinh thái khu vực phía Tây tỉnh

2.2.2 Hệ thống khu, điểm du lịch: Toàn tình đã định hình được 12 khu du lịch và

nhiều điểm tham quan du lịch khác gắn liền với đặc điểm tài nguyên Trong đó, các khu

du lịch chủ yếu tập trung khai thác tài nguyên biển đảo, cảnh quan sinh thái hồ Một sốkhu, điểm du lịch đã được hình thành và phát triển trở thành điểm đến hấp dẫn đối vớikhách du lịch, gồm:

- Các khu, điểm du lịch gắn với tài nguyên tự nhiên gồm: Ghềnh Ráng, núi Bà, bán

đảo Phương Mai, đầm Thị Nại, hồ Núi Một, thắng cảnh Hầm Hô, suối nước nóng HộiVân, bãi biển Quy Nhơn…

- Các khu, điểm du lịch gắn với tài nguyên nhân văn gồm: Di tích Tây Sơn Tam kiệt– Bảo tàng Quang Trung, thành Đồ Bàn, bảo tàng tỉnh Bình Định, hệ thống các thápChăm, chùa Thập Tháp, chùa Long Khánh…

Các điểm du lịch trên là tiền đề phát triển hệ thống sản phẩm du lịch, bổ sung và làmphong phú hơn các chương trình du lịch của Bình Định, góp phần thu hút khách Năm

2015, khu du lịch Ghềnh Ráng đón 212 nghìn lượt khách du lịch; Bảo tàng Quang Trungđón được 128 nghìn lượt; khu du lịch Hầm Hô đón gần 60,5 nghìn lượt…

Tỉnh Bình Định đã khởi công xây dựng Khu Du lịch Vinpearl Quy Nhơn (ở thônHải Giang, thành phố Quy Nhơn) với diện tích hơn 656 ha, vốn đầu tư khoảng 3.424 tỷđồng, bao gồm khách sạn cao cấp với khoảng 300 phòng, biệt thự nghỉ dưỡng, công viênvui chơi giải trí, hệ thống nhà hàng, sân golf, cáp treo…Đây là một trong những dự ánquan trọng thúc đẩy phát triển du lịch của thành phố Quy Nhơn và tỉnh Bình Định, phùhợp với định hướng phát triển khu du lịch quốc gia Phương Mai - núi Bà

Trong thời gian tới, nhiều dự án đầu tư du lịch tiếp tục khởi công xây dựng để pháttriển thêm nhiều khu, điểm du lịch cho tỉnh Bình Định

So với định hướng Quy hoạch 2005: Sự phát triển không gian du lịch đã cơ bản phù

hợp với định hướng tổ chức không gian của Quy hoạch năm 2005, góp phần khai thác cóhiệu quả tài nguyên du lịch để xây dựng nên các chương trình du lịch hấp dẫn

3 Đầu tư phát triển du lịch

Để phát triển sản phẩm du lịch và nâng cao chất lượng dịch vụ, ngành du lịch tỉnhBình Định đã chú trọng công tác đầu tư phát triển du lịch trong các lĩnh vực sau:

Trang 25

3.1 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

Trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015, tỉnh đã chú trọng đầu tư phát triển cơ

sở hạ tầng và các loại phương tiện giao thông quan trọng Đã đầu tư xây dựng nhà gahàng không mới của sân bay Phù Cát, tăng tần suất các chuyến bay đến Bình Định, đưamáy bay Airbus vào khai thác tuyến thành phố Hồ Chí Minh - Quy Nhơn; mở đường baythẳng bay Hà Nội - Quy Nhơn và Quy Nhơn - Hà Nội; nâng cấp ga Diêu Trì trên tuyếnđường sắt Bắc - Nam và đưa vào khai thác đoàn tàu du lịch 5 sao từ thành phố Hồ ChíMinh đến Quy Nhơn và ngược lại góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của dukhách đến với tỉnh

Hằng năm, Trung ương và Tỉnh đều bố trí vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch.Trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015, tổng số dự án cơ sở hạ tầng du lịch được hỗtrợ đầu tư là khoảng 20 công trình, với tổng vốn lên đến hàng trăm tỷ đồng, trong đó, vốn

từ Trung ương hỗ trợ là 53 tỷ đồng Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch trên địa bàn tỉnhđều được triển khai thực hiện đảm bảo đúng tiến độ, nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương đềuđược giải ngân hết Hầu hết các dự án này chủ yếu là các công trình đường giao thông vàocác điểm di tích, danh thắng như: Tháp Bánh Ít, tháp Dương Long, tháp Đôi, đường vàokhu du lịch ghềnh Ráng, suối khoáng nóng Hội Vân, suối khoáng Chánh Thắng…Vì vậy,ngay sau khi hoàn thành các công trình đã phát huy hiệu quả

3.2 Đầu tư phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch 

Tính đến hết năm 2015, trên địa bàn tỉnh có 51 dự án trọng điểm đầu tư phát triển dulịch để phát triển sản phẩm du lịch với vốn đăng ký xấp xỉ 30.000 tỷ đồng, quy mô diệntích khoảng 5.000 ha và chủ yếu được hình thành trong giai đoạn từ 2011 - 2015 Trong

số 51 dự án trọng điểm phát triển du lịch có 6 dự án triển khai tốt; 22 dự án chậm so với

kế hoạch 6 dự án quá chậm bị đề xuất thu hồi, 6 dự án đã bị thu hối chủ trương đầu tư vàxuất hiện 17 dự án mới

Các dự án chủ yếu tập trung đầu tư phát triển 02 loại hình, sản phẩm mà Bình Định

có thế mạnh là du lịch biển, đảo và du lịch văn hoá - lịch sử và bước đầu đã hình thànhđược 03 tuyến du lịch trọng điểm là:

- Tuyến Quy Nhơn - Sông Cầu gắn với thành phố Quy Nhơn: Trên tuyến Quy

Nhơn - Sông Cầu, đến nay đã hình thành nhiều dự án phát triển du lịch biển đảo, vui chơigiải trí thể thao quan trọng như Khu resort Casa Maria và Khu du lịch biển Casa MarinaIsland (Ghềnh Ráng, TP Quy Nhơn), Dự án Avani Resort…

- Tuyến ven biển Quy Nhơn - Nhơn Hội - Tam Quan, trọng tâm là khu vực Phương Mai - núi Bà: Nhằm khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư xây dựng

một số khu du lịch cao cấp, hiện đại, tạo bước đột phá về du lịch của tỉnh, đến nay, trêntuyến này có 08 dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư với số vốn đăng ký hàng chụcnghìn tỷ đồng như: Khu du lịch Trung Lương; khu du lịch Vĩnh Hội; Vinpeal Quy Nhơn;

Trang 26

khu du lịch resort cao cấp phía Bắc tuyến Nhơn Lý - Cát Tiến; khu du lịch Thiên ĐườngXanh; khu du lịch Trung Hội; quần thể du lịch lịch sử, sinh thái và tâm linh chùa LinhPhong,…

Trong những năm gần đây hoạt động đầu tư, kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh trởnên sôi động hơn, một loạt các khu du lịch, khách sạn cao cấp đã được đưa vào khai thácnhư: Life Resort (Bãi Dài), Royal Hotel & Healthcare Resort, khách sạn Sài Gòn - QuyNhơn, khách sạn Hải Âu, và đã cấp giấy chứng nhận đầu tư, chủ trương đầu tư cho một số

dự án: Dự án KDL Vinpearl Quy Nhơn (khu Hải Giang, khu Mũi Tấn) thuộc tập đoànVingroup; Dự án Avani Resort thuộc tập đoàn Avani (Thái Lan); Dự án KDL thủy liệupháp Kỳ Co Nhơn Hội thuộc Công ty CP dịch vụ hậu cần cảng biển Quy Nhơn; Dự ánTrường Giáo dục Kỹ năng sống Outward Bound Việt Nam thuộc Tập đoàn Giáo dụcKinder World (Singapore); Dự án KDL nghỉ dưỡng và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ suốinước nóng Hội Vân thuộc Cty TNHH Khoáng sản Tấn Phát; Dự án quần thể resort, biệtthự nghỉ dưỡng và giải trí cao cấp Nhơn Lý của tập đoàn FLC

Một số dự án du lịch lớn: Dự án Khu du lịch Vinpearl Quy Nhơn, Dự án du lịch tạiđiểm số 4 khu du lịch biển Nhơn Lý – Cát Tiến thuộc khu kinh tế Nhơn Hội do Công ty

cổ phần Tập đoàn FLC đầu tư…), khu du lịch sinh thái Cồn Chim - Đầm Thị Nại, Dự ánTrường Giáo dục Kỹ năng sống Outward Bound Việt Nam thuộc Tập đoàn Giáo dụcKinder World (Singapore); đầu tư xây dựng một số khu, điểm du lịch biển, đảo: bãi biểnQuy Nhơn, Hòn Khô, Eo Gió Đây sẽ là tiền đề cho du lịch Bình Định phát triển đi lêntrong thời gian tới

- Tuyến Quy Nhơn – An Nhơn – Tây Sơn và vùng phụ cận: Trên tuyến này đã và

đang tổ chức, khai thác hiệu quả một số loại hình du lịch mang đặc trưng văn hóa Bình Định

từ hệ thống di tích Tây Sơn kết hợp với Đài kính thiên, các cụm di tích tháp Chăm, các lễ hội,làng nghề đặc sắc như: Bảo tàng Quang Trung, lễ hội Đống Đa - Tây Sơn, tháp Bánh Ít, thápDương Long, tháp Cánh Tiên, tháp Đôi, tháp Bình Lâm, thành Hoàng Đế - Đồ Bàn vàmột số loại hình du lịch sinh thái như: Hầm Hô, hồ Núi Một, Hội Vân

Trong năm 2012 , việc đầu tư và đưa vào sử dụng công trình Đài kính thiên (hay khu

du lịch tâm linh Ấn Sơn) quy mô 46 ha, kinh phí 50 tỷ đồng tạo thêm một điểm nhấn hấpdẫn trên trục du lịch lịch sử tâm linh về phong trào Tây Sơn dọc theo Quốc lộ 19 gồm Bảotàng Quang Trung, Đàn tế trời đất, những đền thờ nghĩa quân Tây Sơn ở An Khê –Gia Lai

và góp phần làm phong phú thêm sản phẩm du lịch Bình Định

3.3 Đầu tư, tôn tạo các di sản văn hóa, giữ gìn, bảo vệ tài nguyên và môi trường

Tỉnh đã đầu tư và kêu gọi xã hội hóa đầu tư tôn tạo nhiều công trình văn hóa quantrọng như: Trung tâm Văn hóa tỉnh, tượng đài Hoàng đế Quang Trung và hoa viên ở trungtâm thành phố Quy Nhơn trở thành biểu tượng của tỉnh Bình Định, đền thờ Đô đốc BùiThị Xuân, tháp Cánh Tiên, tháp Dương Long, đài phun nước nghệ thuật với hệ thốngnhạc nước hiện đại, công viên di tích tháp Đôi, nâng cấp khu di tích ghềnh Ráng - mộ nhà

Trang 27

thơ Hàn Mặc Tử, xây dựng công viên Xanh – đường Đống Đa, đầu tư mở rộng bảo tàngQuang Trung, xây mới tượng đài Hoàng đế Quang Trung và 9 pho tượng Tây Sơn Tamkiệt và các văn thần võ tướng tại điện thờ Tây Sơn,…

Để bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống, UBND tỉnh đã phê duyệt Quyhoạch phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2010 và tầm nhìn đếnnăm 2020, trong đó có quy hoạch 05 làng nghề gắn với phát triển du lịch là làng rượu Bàu

Đá (thôn Cù Lâm, xã Nhơn Lộc), làng nghề tiện gỗ mỹ nghệ Nhạn Tháp (xã Nhơn Hậu),làng rèn Tây Phương Danh (thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn), làng nón ngựa Phú Gia (xãCát Tường, huyện Phù Cát), làng dệt vải thổ cẩm Hà Ri (Vĩnh Thạnh) Để hỗ trợ đầu tư,tạo điều kiện phát triển làng nghề truyền thống, UBND tỉnh cũng đã ban hành chính sáchkhuyến khích phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh, chỉ tính riênggiai đoạn 2005 - 2010, tỉnh đã hỗ trợ 10.350 triệu đồng, trong đó các làng nghề gắn với dulịch được hỗ trợ 3.230 triệu đồng

Có thể nhận thấy, giai đoạn 2005 - 2015, đặc biệt trong những năm gần đây, BìnhĐịnh đã thu hút được nhiều dự án đầu tư với các nguồn vốn khác nhau, trong đó có những

dự án lớn của một số nhà đầu tư chiến lược như Vingroup, FLC Có những dự án nhưKhu du lịch tâm linh Ấn Sơn (Đàn tế trời đất); một số điểm du lịch trên tuyến Quy Nhơn–Sông Cầu đã cơ bản hoàn thành và đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả nhất định Tuynhiên, có nhiều dự án chậm hoặc không triển khai, hoặc triển khai thiếu hiệu quả Kết quảtrên cho thấy, do nguồn lực đầu tư còn hạn chế so với nhu cầu và thực tế phát triển nênhiệu quả các dự án chưa cao

Danh mục và tình hình thực hiện các dự án đầu tư và kêu gọi đầu tư du lịch tỉnhBình Định giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015 xem phụ lục 6

Phòng Văn hóa Thông tin là cơ quan tham mưu quản lý cấp huyện, tham mưu cho

Ủy ban nhân dân huyện về công tác quản lý và phát triển du lịch trên địa bàn huyện

Trang 28

Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh do 1 Lãnhđạo Ủy ban Nhân dân tỉnh làm trưởng Ban, thành viên là đại diện các Sở, ngành, chínhquyền các địa phương để giải quyết những vấn đề quan trọng mang tính chiến lược liênngành, liên vùng, địa phương về du lịch trong tỉnh.

1.2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động du lịch

Thực hiện công tác quản lý toàn diện về mọi mặt:

- Quản lý trong công tác xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch vàchính sách phát triển du lịch

- Quản lý công tác đầu tư phát triển du lịch, các dự án về hạ tầng, sản phẩm du lịchnhằm góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường thu hút khách du lịch

- Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh

tế kỹ thuật trong hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh

- Tổ chức quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu ứngdụng khoa học và công nghệ Đề góp phần tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhànước về du lịch, đội ngũ cán bộ, công chức được bồi dưỡng về trình độ nghiệp vụ, ngoạingữ, tin học và lý luận chính trị Tổ chức các lớp tập huấn đường lối, chính sách, chủtrương của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch như Luật du lịch, các Nghị định triểnkhai Luật du lịch…

- Quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch

- Quản lý trong công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch, trong công tácphối hợp liên ngành, liên tỉnh…

Nhìn chung, công tác quản lý nhà nước về du lịch ở Bình Định luôn được chú trọng

và đạt được nhiều thành tựu, hiệu lực quản lý Nhà nước về du lịch được nâng lên Sự phốihợp giữa các ngành, địa phương trong phát triển du lịch được tăng cường Công tác cảicách thủ tục hành chính được tiếp tục đẩy mạnh, việc hướng dẫn, đăng ký đầu tư, cấpphép kinh doanh thực hiện theo cơ chế “một cửa” liên thông, nhanh gọn và có hiệu quả Nhận thức về vai trò, ý nghĩa và trách nhiệm về phát triển du lịch của các cấp, cácngành và toàn xã hội trên địa bàn tỉnh bước đầu có sự chuyển biến tích cực

Cơ chế quản lý đa ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tạo điều kiện thuận lợi để

Du lịch phát triển đồng bộ với công tác bảo tồn các giá trị di sản văn hóa và phát triển thểdục, thể thao trên toàn tỉnh, phát huy hiệu quả việc quản lý khai thác các giá trị văn hóa,các sự kiện thể thao trên địa bàn tỉnh phục vụ cho hoạt động du lịch, góp phần tăng cườngthu hút khách du lịch

Tuy nhiên, sự thay đổi về tổ chức bộ máy quản lý của ngành đã tạo nên sự hẫng hụtnhất định cả về bề dày quản lý và lực lượng cán bộ quản lý không được duy trì phát triển

Trang 29

2 Xúc tiến, quảng bá và phát triển nguồn nhân lực du lịch

2.1 Xúc tiến, quảng bá

Hoạt động tuyên truyền, quảng bá ngày càng được quan tâm đầu tư Tỉnh đã thànhlập Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch trực thuộc Sở Du lịch, nay là Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch Vì vậy, các hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch được tăngcường hơn Nội dung quảng bá được quan tâm xây dựng đảm bảo chất lượng, phát huyđược các sản phẩm lợi thế, đặc sắc của tỉnh; hình thức, công cụ quảng bá phong phú; côngtác xã hội hóa các hoạt động quảng bá được chú trọng

Công tác tuyên truyền, quảng bá trên các phương tiện truyền thông đại chúng đượcđẩy mạnh Thường xuyên phối hợp với nhiều cơ quan báo chí ở Trung ương và địaphương, phóng sự truyền hình giới thiệu các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổitiếng, nét đặc trưng văn hoá của du lịch Bình Định góp phần đưa hình ảnh du lịch của tỉnhđến với đông đảo du khách trong và ngoài nước

Hoạt động xúc tiến du lịch được tăng cường Du lịch Bình Định đã tham gia hầu hếtcác hội chợ, hội thảo, triển lãm chuyên ngành về du lịch trong nước và quốc tế tổ chức tạiViệt Nam, tổ chức các chương trình Famtrip mời các doanh nghiệp lữ hành hàng đầu củaViệt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội về Bình Định khảo sát điểm đến để đưakhách du lịch về Bình Định Nhiều loại ấn phẩm phục vụ quảng bá du lịch ngày càngđược đầu tư có chất lượng Đã xây dựng được 05 ấn phẩm như: Cẩm nang du lịch, bản đồ

du lịch, tập gấp giới thiệu các điểm đến của Bình Định, đĩa phim, đĩa ảnh du lịch

Nhằm giới thiệu, quảng bá về tiềm năng kinh tế, văn hoá, du lịch của tỉnh, thu hútcác nhà đầu tư, du khách trong và ngoài nước đến tham quan du lịch, tìm kiếm cơ hội hợptác, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trong những năm qua, tỉnh đã tổ chức nhiều

sự kiện, lễ hội văn hoá du lịch quy mô hoành tráng, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc,mang tầm quốc gia và quốc tế như: Festival Tây Sơn – Bình Định 2008, Lễ hội kỷ niệm

220 năm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa, 05 kỳ Liên hoan Quốc tế võ cổ truyền Việt

Nam tại Bình Định (vào các năm 2006, 2008, 2010, 2012, 2014) Việc tổ chức thành

công các sự kiện văn hóa - du lịch nói trên đã góp phần quan trọng cho việc xây dựng,quảng bá những thương hiệu, sản phẩm du lịch của tỉnh

Thông qua tổ chức các sự kiện lớn ngành đã quảng bá hình ảnh con người, dulịch Bình Định tới đồng bào, du khách trong nước và quốc tế Tuy nhiên do kinh phícòn ít, bên cạnh đó thiếu sự hỗ trợ của doanh nghiệp nên hiệu quả chưa tương xứng vớiyêu cầu đặt ra

2.2 Phát triển nguồn nhân lực

Trang 30

So với các ngành kinh tế khác, du lịch là ngành kinh tế còn non trẻ nhưng tốc độtăng trưởng khá nhanh, đặc biệt nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực hoạt động trong

lĩnh vực du lịch trên tỉnh Bình Định ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, tỷ lệ lao

động qua đào tạo, lao động có tay nghề, trình độ ngoại ngữ ngày càng tăng

Nhìn chung, so với giai đoạn trước, đội ngũ nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnhvực du lịch trên địa bàn tỉnh hiện nay đã có sự chuyển biến rõ rệt, đổi mới, nâng cao vềtrình độ chuyên môn nghiệp vụ từng bước đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh du lịchtheo cơ chế thị trường Ngày càng có nhiều doanh nghiệp áp dụng mô hình quản trị nguồnnhân lực tiên tiến, làm tốt các khâu tuyển chọn, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhânlực Một số doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh du lịch như: Life resort, Khách sạn Sài Gòn

- Quy Nhơn, Hải Âu, Chi nhánh Vietravel Quy Nhơn…có đội ngũ lao động có chất lượngkhá, được đào tạo bài bản, có ý thức, thái độ nghề nghiệp nghiêm túc, chuyên nghiệp, đápứng tốt yêu cầu của công việc

Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Chấtlượng đội ngũ lao động du lịch còn thấp, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ chưađáp ứng được yêu cầu phát triển Số lao động có trình độ qua đào tạo chuyên ngành dulịch còn ít và nhất là lao động có tay nghề còn thiếu và yếu Trong khi dư thừa lao độnglớn tuổi và chưa qua đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ (chiếm trên 30%) nhưng lại thiếuđội ngũ quản lý có kinh nghiệm Lực lượng các nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp giỏi,

có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn để bố trí vào các chức danh chủ chốt còn ít Nguyên nhân do phần lớn các doanh nghiệp du lịch chưa thực sự có chiến lược đầu

tư, phát triển nguồn nhân lực một cách bài bản, chưa có đội ngũ quản trị nhân sự có tínhchuyên nghiệp cao, quy trình tuyển chọn nhân sự, công tác đào tạo bồi dưỡng nguồn nhânlực chưa được chú ý đứng mức cũng như chưa thực sự quan tâm giải quyết tốt chính sáchđãi ngộ, sử dụng và bồi dưỡng người lao động một cách thỏa đáng…

Bên cạnh đó, công tác đào tạo du lịch hiện nay tại các cơ sở đào tạo trên địa bàn cònnhiều bất cập và còn có khoảng cách khá lớn giữa qui mô, chất lượng, ngành nghề đào tạovới nhu cầu sử dụng lao động thực tế tại các doanh nghiệp Hiện nay, trên địa bàn tỉnh cómột số trường như: Đại học Quy Nhơn, Đại học Quang Trung, Cao đẳng Bình Định,Trung học Văn hóa - Nghệ thuật, Trung tâm Giáo dục Thường xuyên tỉnh…mở cácchuyên ngành đào tạo về du lịch nhưng chương trình đào tạo của các trường còn nặng về

lý thuyết, xa rời thực tế, không đáp ứng nhu cầu Trong quá trình học tập, học sinh ít có

cơ hội được cọ xát thực tế, vì vậy sau khi tốt nghiệp ra trường hầu hết các bạn đều rấtlúng túng với công việc

Đây là những hạn chế, yếu kém trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnhBình Định cần phải khắc phục trong giai đoạn phát triển mới

Trang 31

3 Ứng dụng khoa học và công nghệ trong phát triển du lịch

Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành du lịch Bình Địnhthời gian qua cũng đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc ứng dụng khoa học

và công nghệ phát triển ngành Ứng dụng khoa học và công nghệ trong du lịch của tỉnh

Bình Định được xem xét trên khía cạnh quản lý và kinh doanh du lịch

3.1 Trong lĩnh vực quản lý du lịch

Công nghệ thông tin, truyền thông được ứng dụng phổ biến như một trong nhữngyếu tố quan trọng, cần thiết cho sự phát triển du lịch Các phần mềm quản lý dựa trên ICTđược triển khai ứng dụng chủ yếu là Excel, Word, hệ thống quản lý thông tin xuất nhậpcảnh, hệ thống email nội bộ

Tại các doanh nghiệp du lịch, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thôngtrong hoạt động quản lý đã được quan tâm và có những kết quả nhất định Doanh nghiệptại khu vực được đánh giá là những đơn vị tiên phong, dẫn đầu trong nghiên cứu, thửnghiệm và ứng dụng thành tựu của khoa học công nghệ trong quản lý tour, quản lý hướngdẫn viên, quản lý nhân viên Nhiều doanh nghiệp đã có áp dụng các phần mềm quản lýdoanh nghiệp và khách hàng, áp dụng quy trình quản lý theo tiêu chuẩn ISO E-mail nội

bộ được sử dụng phổ biến không những giúp quản lý hoạt động của đơn vị, bảo mật thôngtin mà còn giúp quảng bá, phát triển thương hiệu thông qua các hoạt động trao đổi, hợptác, kinh doanh dựa trên nền ICT

3.2 Trong lĩnh vực kinh doanh du lịch

Trong kinh doanh du lịch, ứng dụng, khai thác hiệu quả khoa học và công nghệ, thểhiện cụ thể trên một số phương diện:

3.2.1 Ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá: Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã nhanh chóng và nỗ lực ứng dụng khoa học và

công nghệ trong xúc tiến, quảng bá du lịch, chủ yếu thể hiện qua việc sử dụng internet với

hệ thống website quảng bá thông tin đầy đủ, chính xác du lịch địa phương

Ngoài sử dụng website như một công cụ hữu hiệu trong xúc tiến, quảng bá, tỉnh cònứng dụng mạng xã hội với sức hút đông đảo người sử dụng như facebook, twitter làmkênh quảng bá hiệu quả, trong đó facebook được dùng phổ biến

Hiện nay, với hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch website trởthành kênh quảng bá hữu hiệu nhất, mạng Internet được sử dụng như kênh tiếp thị chủyếu Các doanh nghiệp trên địa bàn đều có website riêng, trong đó chứa các thông tin đầy

đủ về lĩnh vực kinh doanh, các dịch vụ, tiện ích dịch vụ và các chương trình tri ân kháchhàng với đa ngôn ngữ, phổ biến gồm tiếng Việt và tiếng Anh Đặc biệt, để thu hút khách,các website không chỉ quảng bá cho doanh nghiệp cùng những sản phẩm, dịch vụ củamình mà còn giới thiệu các điểm nhấn của du lịch địa phương, do đó là phương tiện xúc

Trang 32

tiến, quảng bá hữu hiệu cho du khách trong và ngoài nước Website đã giúp cho hoạtđộng kinh doanh du lịch trở nên thuận tiện cho giới thiệu, quảng bá, tuyên truyên và giaodịch trao đổi Thông qua mạng Internet, thông qua website các công ty lữ hành, du kháchnước ngoài biết đến du lịch Bình Định nhiều hơn

3.2.2.Ứng dụng khoa học và công nghệ trong kinh doanh trực tuyến: So sánh với

doanh nghiệp ở các ngành dịch vụ khác, doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực du lịch tỏ ranăng động hơn cả trong việc khai thác ứng dụng thương mại điện tử Hầu hết nhữngdoanh nghiệp kinh doanh du lịch, đặc biệt là dịch vụ lữ hành quốc tế, đã xây dựng trangweb nhằm quảng bá sản phẩm của mình Việc mua bán tour qua mạng đang dần trở thànhloại hình dịch vụ trực tuyến phát triển mạnh tại địa phương trong những năm gần đây Tóm lại, công tác ứng dụng và công nghệ đã đem lại một số hiệu quả nhất địnhtrong quản lý và kinh doanh du lịch và sản xuất hàng hóa tại Bình Định Tuy nhiên, việc

ứng dụng khoa học và công nghệ trong du lịch vẫn còn một số yếu kém, bất cập:

- Hệ thống quản lý trong du lịch chưa hoàn thiện và đồng bộ

- Mức độ ứng dụng khoa học và công nghệ chưa cao và chưa đồng đều.

Để du lịch tỉnh Bình Định phát triển nhanh và bền vững, cần thiết có những phương

án định hướng cải tiến ứng dụng khoa học và công nghệ phù hợp hơn trong thời gian tới

4 Hợp tác, liên kết phát triển du lịch

Trong những năm qua, ngành du lịch Bình Định đã ký nhiều chương trình hợp tácphát triển du lịch với ngành du lịch thành phố Hồ Chí Minh, thủ đô Hà Nội; ký kết hợptác phát triển du lịch 4 tỉnh: Bình Định, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Ngãi; giữa 8 tỉnhDuyên hải Nam Trung Bộ Thực hiện các chương trình ký kết, ngành du lịch Bình Địnhcùng các địa phương đã triển khai được một số hoạt động trên lĩnh vực quảng bá, xúc tiến,xây dựng tour liên vùng…đem lại hiệu quả thiết thực

Thông qua chương trình ký kết và được sự hỗ trợ của các tỉnh bạn, ngành du lịchBình Định đã tham gia các kỳ Hội chợ Du lịch quốc tế (ITE), ngày hội Du lịch thành phố

Hồ Chí Minh, Hội chợ và Triển lãm Du lịch tại Hà Nội; tổ chức các chương trìnhFamtrip, Presstrip, Roadshow tại Bình Định, cùng nhiều chương trình Hội thảo chuyên đề

về liên kết phát triển du lịch giữa Bình Định với Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, với cáctỉnh Tây Nguyên, các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ…Ngành du lịch Hà Nội và thànhphố Hồ Chí Minh cũng đã tích cực hỗ trợ quảng bá du lịch Bình Định tại các Hội chợnước ngoài mà Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tham gia hoặc tổ chức, thông qua giớithiệu các ấn phẩm quảng bá du lịch Bình Định.  

Trên lĩnh vực xây dựng tour liên kết và đưa khách về Bình Định, ngành du lịch tỉnh

đã liên kết với nhiều doanh nghiệp lữ hành lớn trong nước như: Vietravel, Fiditour,

Trang 33

Saigontourist, Lửa Việt, Sadaco, Ánh Dương, Bông sen vàng, Rex tour, Hana tour…đểxây dựng chương trình tour đưa khách về Bình Định và các tỉnh Duyên hải miền Trung.

IV ĐÁNH GIÁ CHUNG KẾT QUẢ VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1 Đánh giá chung kết quả thực hiện quy hoạch

1.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân

1.1.1 Kết quả đạt được: Qua 10 năm thực hiện Quy hoạch 2005 - 2015, ngành du

lịch tỉnh Bình Định đã cơ bản phát triển theo đúng các định hướng của Quy hoạch về thựchiện các chỉ tiêu; phát triển thị trường và sản phẩm, tổ chức không gian, tuyến, điểm dulịch, bước đầu khơi dậy tiềm năng về tài nguyên du lịch của tỉnh Đánh giá chung nhữngkết quả đạt được như sau:

a) Thực hiện các chỉ tiêu phát triển du lịch chủ yếu: Du lịch phát triển và ngày càng

khẳng định vị trí, vai trò trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Các chỉ tiêu phát triển về lượng

khách, thu nhập, lao động ngành…tăng với tốc độ khá cao (đặc biệt số lượng khách du lịchnội địa trong giai đoạn 2011 - 2015) góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, tạocông ăn việc làm cho nhân dân; giá trị GDP từ du lịch tăng dần, góp phần chuyển dịch cơcấu kinh tế địa phương

b) Tổ chức không gian du lịch:

- Đã hình thành về cơ bản các cụm du lịch theo Quy hoạch

- Thành phố Quy Nhơn đã từng bước khẳng định vị trí, vai trò là trung tâm du lịchcủa tỉnh, điểm đến quan trọng của khách du lịch

- Các tuyến du lịch trọng điểm như tuyến du lịch ven biển Quy Nhơn - Sông Cầu;tuyến du lịch sinh thái biển Phương Mai - Núi Bà; tuyến du lịch văn hoá - lịch sử QuyNhơn - An Nhơn - Tây Sơn được hình thành đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển dulịch Bình Định trong thời gian qua và tiếp tục phát huy trong thời gian tới

- Một số khu, điểm du lịch đã được hình thành trên cơ sở định hướng của Quyhoạch, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch

c) Thị trường khách du lịch: Thị trường khách du lịch ngày càng được mở rộng, đặc

biệt là thị trường khách du lịch nội địa Sự phát triển thị trường tương đối phù hợp vớiđịnh hướng của Quy hoạch

d) Sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch đang dần hình thành, từng bước được đa

dạng và nâng cao chất lượng dựa trên thế mạnh về du lịch biển, đảo và các giá trị văn hóa

để khẳng định vị thế đối với du lịch cả nước và tạo tiền đề phát triển du lịch trong giai đoạntiếp theo

e) Đầu tư phát triển du lịch: Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được

Trang 34

quan tâm đầu tư xây dựng và phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng từ nguồn vốnngân sách và xã hội hóa đã đặt nền móng quan trọng cho sự phát triển du lịch Bình Định

để từng bước đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Nhiều công trình di tích lịch sử - vănhóa tiếp tục được trùng tu, nâng cấp và bước đầu phát huy giá trị gắn với hoạt động dulịch Nhiều dự án phát triển du lịch đã được triển khai thực hiện góp phần tạo động lực vàbước đột phá phát triển trong hoạt động du lịch Bình Định

g) Các công tác khác: Các công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, phát triển

nguồn nhân lực; xúc tiến quảng bá, ứng dựng KH&CN, hợp tác liên kết phát triển dulịch…đều được ngành Du lịch tỉnh quan tâm phát triển và đạt được hiệu quả nhất định Những thành tựu đạt được của hoạt động du lịch 10 năm qua rất đáng ghi nhận, làtiền đề quan trọng để tiếp tục phát triển và trở thành ngành kinh tế quan trọng trong nhữngnăm tới

1.1.2 Nguyên nhân:

a) Nguyên nhân từ định hướng quy hoạch:

- Các quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển du lịch được đề ra trong Quyhoạch 2005 là tương đối phù hợp với xu thế phát triển chung và với yêu cầu của tỉnh BìnhĐịnh trong giai đoạn phát triển vừa qua

- Tổ chức không gian du lịch của Quy hoạch, các dự án đầu tư phát triển du lịchtương đối hợp lý với thực tế phát triển, góp phần khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch

- Các định hướng về thị trường và sản phẩm du lịch trong Quy hoạch cơ bản phùhợp với xu thế phát triển và đáp ứng được thị hiếu của khách du lịch

b) Nguyên nhân trong quá trình thực hiện quy hoạch:

- Nguyên nhân khách quan:

+ Kinh tế trong nước phát triển tạo nên nhiều yếu tố thuận lợi cho phát triển du lịch

cả nước nói chung và Bình Định nói riêng

+ Xu thế phát triển chung về du lịch thế giới và trong nước tạo điều kiện thuận lợicho du lịch Bình Định có những cơ hội mới

- Nguyên nhân chủ quan:

+ Tỉnh Bình Định đã sớm xác định được tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch và tậptrung tạo mọi điều kiện thuận lợi và chỉ đạo quyết liệt để du lịch đạt được mục tiêu đề ra.+ Tỉnh đã ban hành nhiều chính sách, cơ chế khuyến khích ưu đãi đầu tư và mở rộnghoạt động sản xuất kinh doanh du lịch và đã thu hút được nhiều thành phần kinh tế thamgia hoạt động kinh doanh du lịch, đặc biệt các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến nghiêncứu, đầu tư phát triển du lịch tại Bình Định

Trang 35

+ Công tác quản lý nhà nước về du lịch được tăng cường, nhất là một số mặt quantrọng: quy hoạch, kế hoạch; tổ chức và bộ máy; thanh kiểm tra chuyên ngành; công tácnghiên cứu, xúc tiến, quảng bá du lịch; công tác phát triển nguồn nhân lực.

+ Bước đầu đã có được sự phối hợp hiệu quả giữa các cấp các ngành, các huyện thịtrong tỉnh, đặc biệt là sự phối hợp giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch với cơ sở trongquản lý điều hành hoạt động du lịch, tháo gỡ những khó khăn còn vướng mắc

+ Nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vị trí, vai trò của du lịch đượcnâng lên, khẳng định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng có tính chiến lượclâu dài góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

1.2 Hạn chế và nguyên nhân

1.2.1 Hạn chế: Bên cạnh những thành tựu đạt được, đánh giá thực trạng và kết quả

thực hiện Quy hoạch phát triển du lịch thời gian qua, cho thấy những hạn chế sau:

a) Thực hiện các chỉ tiêu phát triển du lịch chủ yếu: Ngành du lịch Bình Định chưa

đạt được mục tiêu thực sự trở thành ngành kinh kế quan trọng như Quy hoạch đã đề ra Kết quả đạt được còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có Chỉ tiêu ngày lưutrú trung bình và mức chi tiêu bình quân, doanh thu du lịch và giá trị gia tăng vẫn còn thấphơn so với Quy hoạch nên chưa phản ánh đúng vị trí vai trò của ngành

b) Tổ chức không gian du lịch: Một số cụm du lịch, tuyến và điểm du lịch không

phát triển được theo định hướng Quy hoạch đã đề ra; các tuyến điểm du lịch đều đang ởgiai đoạn đầu phát triển

c) Thị trường khách du lịch: Một số thị trường phát triển trên thực tế không đúng

với định hướng của Quy hoạch như thị trường ASEAN, thị trường nội địa…

d) Sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch còn nghèo, chưa có được sản phẩm du lịch

đặc trưng, có sức cạnh tranh cao và tạo dấu ấn cho du lịch Bình Định

Bình Định có thế mạnh về một số loại hình du lịch văn hóa, nhất là nghệ thuật Tuồng,Nghệ thuật Bài chòi và Võ cổ truyền, tuy nhiên, thời gian qua vẫn chưa phát huy, khai tháctốt tiềm năng, lợi thế để xây dựng thành những sản phẩm du lịch mang dấu ấn văn hóa BìnhĐịnh Tỉnh đã cho chủ trương thành lập Câu lạc bộ Tuồng - Dân ca Bài chòi - Võ cổ truyềnBình Định nhưng triển khai hoạt động còn khó khăn, chưa mang lại hiệu quả

e) Đầu tư phát triển du lịch: Hiệu quả đầu tư chưa cao, chưa phát huy được giá trị

tài nguyên và tạo nên sản phẩm du lịch chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh Tiến độthực hiện các dự án đầu tư phát triển du lịch còn quá chậm Hầu hết các dự án đầu tư đều ởgiai đoạn đầu phát triển, chưa có khu du lịch lớn nào hoàn thành và đi vào hoạt động Một

số dự án đầu tư chưa được thực hiện theo định hướng quy hoạch Tổng vốn đăng ký củacác dự án đầu tư du lịch lớn nhưng vốn giải ngân thực hiện còn rất thấp

Trang 36

g) Các công tác khác:

- Hiệu lực của công tác quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch chưa cao

- Chất lượng nguồn lao động ở một số bộ phận còn thấp, thiếu đội ngũ quản lý giỏi

và đội ngũ lao động có tay nghề cao Chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu phát triển

a) Nguyên nhân từ định hướng của Quy hoạch:

- Quy hoạch 2005 được thực hiện trong bối cảnh chưa có Luật du lịch 2005, vì vậymột số nội dung quy hoạch, khái niệm chưa thực sự phù hợp với yêu cầu phát triển ngành

- Nội dung Quy hoạch 2005 đề ra chỉ tiêu thu hút lượng khách còn thấp, chưa lườnghết được thuận lợi, những thay đổi về nhu cầu du lịch trong nước và quốc tế

- Một số chỉ tiêu như mức chi tiêu, ngày lưu trú của khách quá cao, chưa phù hợpthực tế phát triển loại hình sản phẩm du lịch; bên cạnh đó, do phương pháp thống kê chưađầy đủ nên mức thu nhập du lịch đạt thấp

- Các định hướng về không gian, thị trường, sản phẩm chưa thật sự hợp lý do chưalường hết được những biến động của thực tế nhưng trong quá trình thực hiện Quy hoạchchưa kịp thời rà soát, điều chỉnh

- Định hướng đầu tư và xác định nhu cầu vốn đầu tư còn quá thấp, chưa phản ảnhđược thực tế của thị trường và chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư

a) Nguyên nhân trong quá trình thực hiện Quy hoạch:

- Nguyên nhân khách quan:

+ Trong những năm qua, một số sự kiện chính trị, kinh tế - xã hội bất lợi xảy ra trênthế giới như: khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, dịch bệnh, thiên tai, bãolụt đã tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt đời sống, kinh tế - xã hội nói chung vàhoạt động du lịch cả nước, du lịch Bình Định nói riêng

+ Bình Định nằm cách xa các trung tâm kinh tế, đô thị lớn, nơi có thị trường nguồnkhách du lịch, nhất là khách du lịch ngắn ngày; trong khi đó, phương tiện giao thông hiệnđại dành cho du khách có thu nhập cao, khách quốc tế đến Bình Định chưa phát triển…

Trang 37

+ Tài nguyên du lịch phân bố không đều, khoảng cách giữa các điểm du lịch nằmcách xa nhau, trong khi kết cấu hạ tầng còn hạn chế nên khó khăn trong việc kết nối, xâydựng các tuyến du lịch…

- Nguyên nhân chủ quan:

+ Sự phối hợp giữa các các ngành, các cấp trong tổ chức thực hiện Quy hoạch chưachặt chẽ và đồng bộ Công tác tham mưu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch còn thiếuchủ động, hiệu quả chưa cao

+ Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, huyđộng nguồn vốn từ các thành phần kinh tế còn hạn chế so với nhu cầu

+ Các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn còn yếu vì quy mô doanh nghiệp hầu hết làvừa và nhỏ; thiếu sự liên kết, hợp tác và năng động trong kinh doanh, chưa đáp ứng nhu cầukhi có các sự kiện lớn diễn ra

+ Công tác xã hội hóa thiếu hiệu quả Vốn xã hội hóa về đầu tư phát triển du lịchthời gian qua chủ yếu tập trung vào lĩnh vực lưu trú, trong khi đó thiếu các dịch vụ vuichơi giải trí, thưởng thức văn nghệ, mua sắm, ẩm thực, chợ đêm…và một số dịch vụ khác

để đáp ứng nhu cầu ăn uống, mua quà lưu niệm, vui chơi giải trí về đêm cho du khách.+ Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch chưa phù hợp với nhu cầucủa xã hội, mới tập trung đào tạo một số chuyên ngành khoa học xã hội như: Văn hóa Dulịch, Việt Nam học,…vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành

+ Nguồn lực cho công tác tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch còn quá ít, bêncạnh đó, đội ngũ cán bộ làm công tác quảng bá, xúc tiến phần lớn chưa có kinh nghiệm,thiếu chuyên nghiệp nên hiệu quả chưa cao

+ Việc tổ chức quán triệt, thực hiện Chương trình Hành động về phát triển du lịch ởcác ban ngành, chính quyền địa phương chưa tốt, chưa đồng bộ, một số nơi có tiềm năng

du lịch nhưng chưa xây dựng kế hoạch, chương trình phát triển du lịch ở địa phươngmình Nhận thức về trách nhiệm, vai trò, ý nghĩa của việc phát triển du lịch của một sốcấp ủy, chính quyền, đoàn thể và các ngành chưa đồng đều

+ Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực,trong khi đó, sự phối hợp giữa các ngành chưa tốt; vai trò tham mưu quản lý nhà nước về

du lịch của ngành nhiều lúc bị động, nhất là trong công tác quản lý về quy hoạch du lịchcòn chồng chéo, việc triển khai nguồn vốn của các dự án cơ sở hạ tầng du lịch quy trình cònnhiều bất cập dẫn đến tiến độ thực hiện các dự án đầu tư du lịch chậm…

+ Cải cách thủ tục hành chính chưa thật sự là cơ chế "một cửa", tạo điều kiện thuậnlợi cho hoạt động đầu tư và kinh doanh du lịch; một số cơ chế, chính sách du lịch triểnkhai thiếu đồng bộ, chưa được kiểm tra, tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời

Trang 38

+ Nhận thức của các cấp, các ngành về phát triển du lịch, coi du lịch là ngành kinh

tế quan trọng của tỉnh chưa thật đúng mức, đầy đủ và nhất quán

2 Những bài học kinh nghiệm

Từ thực trạng phát triển du lịch Bình Định thời gian qua có thể rút ra một số bài họckinh nghiệm về công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, về cơ chế chính sách, về đầu tư,

về phát triển nguồn nhân lực và về công tác thống kê

- Trong quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch cần có những nghiên cứu kỹ và đánhgiá cũng như dự báo toàn diện những nhân tố khách quan, chủ quan và các yếu tố nguồnlực để đưa ra những mục tiêu, chỉ tiêu sát với thực tế và những giải pháp mang tính khả thi.Trong quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch phải điều chỉnh kịp thời

để phù hợp, tương xứng với phát triển kinh tế địa phương, phân đoạn cho từng thời kỳ

- Hệ thống cơ chế, chính sách cần thông thoáng, nhạy bén tạo điều kiện thuận lợicho công tác đầu tư phát triển du lịch cũng như sự hoạt động của khách du lịch

- Công tác đầu tư cần trọng tâm trọng điểm, đúng hướng; xác định chương trìnhmục tiêu phải phù hợp; cần thiết phải bố trí đủ nguồn lực để phát triển

- Cần tập trung đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu của xã hội; đảm bảo số lượng,chất lượng, cơ cấu phù hợp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của phát triển du lịch

- Công tác thống kê du lịch cần được quan tâm và hoàn thiện Đây là điều kiện tiênquyết để đánh giá đúng thực trạng và khả năng phát triển ngành

- Việc xác định các nhóm giải pháp mang tính đột phá có ảnh hưởng quan trọng đếncông tác thực hiện quy hoạch du lịch Bình Định như cơ chế, chính sách; đầu tư; nhân lực;phát triển sản phẩm du lịch đặc thù

- Công tác xúc tiến, quảng bá cần được tăng cường hơn nữa để nâng cao vị thế vàhình ảnh về du lịch Bình Định

- Hợp tác phát triển du lịch, trong đó có hợp tác trong nước và hợp tác quốc tế cầnphát triển đồng bộ và mạnh mẽ để phát huy tiềm năng lợi thế du lịch Bình Định

Trang 39

PHẦN THỨ HAI ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh đã

có những thay đổi theo chiều hướng tích cực, việc khai thác tài nguyên du lịch cũng nảysinh nhiều yếu tố mới, đòi hỏi phải rà soát, đánh giá một cách toàn diện và bổ sung đầy đủhơn để phục vụ định hướng phát triển du lịch tỉnh trong thời kỳ mới một cách có hiệu quả

I TÀI NGUYÊN DU LỊCH

1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý: Bình Định là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, điểm cực Bắc có tọa độ: 14°42'10 Bắc, 108°55'4 Đông Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực Nam có tọa độ: 13°39'10 Bắc, 108°54'00 Đông Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, điểm cực Tây có tọa độ: 14°27' Bắc, 108°27' Đông Phía Đông

giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (cù lao Xanh)

thuộc thành phố Quy Nhơn, có tọa độ: 13°36'33 Bắc, 109°21' Đông

Về địa kinh tế, du lịch: Bình Định là tỉnh cực Nam của vùng Kinh tế trọng điểmmiền Trung và tỉnh trung tâm của vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ, là một trongnhững cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng Nam Lào, Đông BắcCampuchia Vì vậy, Bình Định được đánh giá là tỉnh có vị trí chiến lược trong phát triểnkinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng của vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung,vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ và của cả khu vực miền Trung Tây Nguyên

1.1.2 Địa hình: Lãnh thổ tỉnh Bình Định trải dài 110 km theo hướng Bắc - Nam, có

chiều ngang hẹp trung bình 55 km (chỗ hẹp nhất 50 km, chỗ rộng nhất 60 km) Địa hìnhcủa tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, với độ chênh lệch khá lớn(khoảng 1.000 m) Bề mặt địa hình thường có dạng núi cao xen lẫn thung lũng, đồng bằng

Trang 40

- Vùng núi và cao nguyên: Địa hình núi và cao nguyên chiếm khoảng 70% diện tích

toàn tỉnh với độ cao trung bình 500 m đến 1.000 m, trong đó có 11 đỉnh cao trên 1.000 mvới đỉnh cao nhất là 1.202 m ở xã An Toàn (huyện An Lão) Các dãy núi chạy theo hướngBắc - Nam, có sườn dốc đứng Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đádọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp Đặc tính này đã làm chođịa hình ven biển trở thành một hệ thống các dãy núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầmphá tạo nên nhiều điểm cảnh quan hấp dẫn. 

- Vùng đồi: Vùng đồi nằm tiếp giáp giữa miền núi phía Tây và đồng bằng phía

Đông, có diện tích khoảng gần 1.600 km², với độ cao trung bình dưới 100 m, độ dốctương đối lớn từ 10° đến 15°. 

- Vùng đồng bằng: Đồng bằng lòng chảo xen lẫn thung lũng là đặc điểm của Bình

Định và một số tỉnh miền Trung Diện tích khoảng 1.000 km², được tạo thành do các yếu

tố địa hình và khí hậu, thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven biển và đượcngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi. Mặc dù các loại đồngbằng trên có diện tích không lớn, độ màu mỡ của đất không cao, nhưng có vai trò quantrọng trong nền sản xuất nông nghiệp của tỉnh, đặc biệt là cây lương thực Tuy nhiên, khu

vực này thường xảy ra lũ lụt rất nặng nề trong mùa mưa lũ (tháng 10 và tháng 11)

- Vùng ven biển: Vùng ven biển bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp

chạy dọc ven biển với hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian Bên cạnh đó, BìnhĐịnh có nhiều đầm, phá ở vùng ven biển Ngoài những đầm phá lớn như đầm Trà Ổ, đầm

Đề Gi, đầm Thị Nại Bình Định còn có 33 đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặcđảo đơn lẻ, trong đó đảo Nhơn Châu là đảo lớn nhất (364 ha) cách thành phố Quy Nhơn

24 km, có trên 2.000 dân. 

- Vùng thềm lục địa: Thềm lục địa của tỉnh khá rộng lớn, độ sâu thường đạt đến 50

m khi cách bờ khoảng 10 km Đây cũng là khu vực có các rạn san hô ven biển Rạn san

hô ở vùng biển Quy Nhơn không đa dạng bằng một số nơi trong nước (Bình Thuận,Khánh Hòa) nhưng mang nhiều nét đặc trưng riêng, là nơi tồn cư của nhiều loài sinh vậtquý hiếm, là môi trường tốt để bảo tồn nguồn gen Các rạn san hô phát triển mạnh thuộc

về khu vực phía Nam đảo Nhơn Lý, ven đảo hòn Đất, bờ Đông Nam bán đảo PhươngMai, hòn Khô, là nguồn tài nguyên để phát triển loại hình lặn biển, ngắm san hô

Nhìn chung địa hình của tỉnh đa dạng, phong phú tạo nên nhiều cảnh quan tự nhiênthích hợp phát triển du lịch sinh thái, thể thao

1.1.3.Thủy văn: Ngoài các vùng địa hình đặc trưng nói trên, Bình Định có khá nhiều

sông Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sa thấp, tổng trữ lượngnước 5,2 tỷ m³, tiềm năng thuỷ điện 182,4 triệu kw Có 4 sông lớn là: Lại Giang, Côn(hay Kôn), La Tinh và Hà Thanh Các sông đều có độ dốc lớn, chịu sự chi phối của mưatrên lưu vực, sự ảnh hưởng của thủy triều chỉ một phần rất nhỏ ở cửa sông Vì có độ dốc

Ngày đăng: 07/04/2018, 21:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w