chương trình sẽ được ấn định trước nhằm xác định rõ những chủ đềcho những nghi lễ, buổi họp, cuộc rước, lời cầu nguyện, và việc tônthờ Thánh Thể trong những nhà nguyện thích hợp hay nhữn
Trang 1“Đức Ki-tô đang ở giữa anh em, Đấng ban cho chúng ta
niềm hy vọng đạt tới vinh quang”
I DẪN NHẬP
A Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế
Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế (ĐHTTQT) là một nhà ga – một kiểu
“trạm dừng” trong cuộc hành trình – nơi mà một cộng đoàn Giáo Hộiđịa phương tụ họp chung quanh bàn tiệc Thánh Thể để cử hành, tônvinh và cầu nguyện trước sự hiện diện của Chúa trong Mầu NhiệmThánh Thể Giáo Hội địa phương này kêu mời các Giáo Hội địaphương lân cận và các cộng đoàn Giáo Hội trên khắp thế giới đếntham dự biến cố thánh thiêng này, bởi vì ĐHTTQT là công việc của
toàn thể Giáo Hội “Nghi Thức”1 cử hành của Đại Hội đòi hỏi cửhành Thánh Thể phải thực sự là trung tâm của tất cả những gì diễn ratrong chính Đại Hội, để mọi sự hướng về và chuẩn bị cho ThánhThể
Sự hiểu biết sâu xa và dấn thân mạnh mẽ hơn cho mầu nhiệm ThánhThể được nuôi dưỡng qua những buổi học hỏi giáo lý, tôn vinh LờiChúa, cầu nguyện chung và những phiên họp khoáng đại Để nhữnghoạt động này và những hoạt động khác gắn kết với Đại Hội, một
extra Missam (1973), 112.
Trang 2chương trình sẽ được ấn định trước nhằm xác định rõ những chủ đềcho những nghi lễ, buổi họp, cuộc rước, lời cầu nguyện, và việc tônthờ Thánh Thể trong những nhà nguyện thích hợp hay những nơi thờphượng khác.
Tất cả những thành tố và chi tiết của Đại Hội phải thể hiện một nhậnthức nền tảng của “Khoa Giáo Hội học về Thánh Thể,” vốn hướngđến hiệp thông và hiệp nhất trong cộng đoàn Giáo Hội, cũng như tựbản chất tìm cách đến với mọi người, đặc biệt là những ai sống bên lề
xã hội, lôi kéo họ trở về cho đến khi chỉ có một đoàn chiên dướiquyền một Đấng Chăn Chiên là Đức Giê-su Ki-tô.2
B Ý Nghĩa Của ĐHTTQT Lần Thứ 51
Tại “chặng dừng” Thánh Thể ở thành phố Cebu năm 2016, ngườihành hương từ khắp mọi nơi trên thế giới sẽ tụ họp cùng với các tínhữu Phi Luật Tân và đặc biệt là các tín hữu của Cebu Cuộc tụ họptoàn thế giới này sẽ là dấu chỉ đích thực của sự hiệp thông trong ĐứcGiê-su Ki-tô và sự hiệp nhất trong niềm tin và tình yêu mà Giáo Hội
ở đất nước này dành cho tất cả các tín hữu và tất cả các môn đệ củaĐức Ki-tô từ khắp nơi trên thế giới Đại Hội nhằm phục vụ toàn thểDân Chúa trong cuộc hành hương lịch sử của mình Đó là một biến
cố trọng đại của Giáo Hội mà qua những kinh nghiệm cử hành bítích, giáo huấn và tình huynh đệ, Giáo Hội trên khắp thế giới sẽ đượcnhắc nhớ rằng Thánh Thể là “nguồn mạch và chóp đỉnh”3 của đờisống và hoạt động của Giáo Hội Thánh Thể sẽ được nêu cao cáchđặc biệt rõ ràng như là sự hiện diện luôn tồn tại và không ngừngđược đổi mới của Mầu Nhiệm Vượt Qua, vốn là “biến cố cánhchung” tuyệt hảo nhất trong toàn bộ việc thờ phượng và đời sốngGiáo Hội
2 Xc Vatican II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium (SC), 2; x Jn 10:16.
3 Ivi, 10 Xc Vatican II, Hiến Chế Lumen Gentium (LG), 11.
Trang 3C Ảnh hưởng trên đời sống Giáo Hội
“Đức Ki-tô đang ở giữa anh em, Đấng ban cho chúng ta niềm hyvọng đạt tới vinh quang Thánh Thể, Nguồn Mạch và Cùng Đích của
Sứ Mạng Truyền Giáo” là chủ đề tuyệt vời cho ĐHTTQT lần thứ 51tại Cebu Phát xuất từ thư Thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-lô-xê (1:24-29), chủ đề này nhằm soi sáng đầy đủ hơn mối liên kết giữa ThánhThể, Truyền Giáo và Niềm Hy Vọng Ki-tô giáo, cả trong thời gian vàtrong vĩnh cửu Ngày nay, có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử thế giớilại thiếu niềm hy vọng như thế Do đó nhân loại cần phải lắng nghe
sứ điệp hy vọng của chúng ta trong Đức Giê-su Ki-tô Giáo Hội ngàynay phải loan báo sứ điệp này với niềm hăng say mới mẻ, sử dụngnhững phương pháp và cách diễn đạt mới.4 Với những đặc điểm củamột cuộc “tân phúc âm hóa,” Giáo Hội phải tìm cách đem sứ điệp hyvọng này đến với mọi người, đặc biệt là những người “dù đã đượcrửa tội, nhưng đã xa lìa Giáo Hội và sống tách biệt khỏi đời sống Ki-
tô hữu.”5
ĐHTTQT lần thứ 51 nhằm cung cấp cho mọi người tham dự những
cơ hội trải nghiệm và hiểu biết về Thánh Thể như một cuộc gặp gỡvới Chúa, cuộc gặp gỡ có sức biến đổi con người trong Lời và trong
Hy Lễ hiến ban sự sống của Người, hầu chúng ta có thể được sống vàsống dồi dào (x Ga 10:10) Đây là một cơ hội để khám phá và táikhám phá đức tin – “nguồn mạch ân sủng đem lại niềm vui và niềm
hy vọng cho đời sống cá nhân, gia đình và xã hội.”6 Cuộc quy tụ họpquốc tế này hứa hẹn sẽ dẫn đến việc thi hành sứ mạng Ki-tô giáo mộtcách can đảm và dứt khoát hơn trên thế giới và trong xã hội vốn ngàycàng dửng dưng và thù địch với đức tin và những giá trị của Tin
4 Xc John Paul II, In Portu Principis, ad episcopos Consilii episcopalis
Latino-Americani sodales (9 marzo 1983), số 3, AAS 75, par 1, 778.
5 Benedict XVI, Homily at the Eucharistic Celebration for the solemn
inauguration of the 13th Ordinary Assembly of the Synod of Bishops
(7/10/2012).
6 Ibid.
Trang 4Mừng Việc gặp gỡ này với Đức Ki-tô trong Thánh Thể có thể lànguồn hy vọng cho thế giới, một khi được biến đổi nên giống Đấngchúng ta gặp gỡ nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, chúng ta bắtđầu sứ mạng biến đổi thế giới với lòng nhiệt thành để đem đến chonhững người đang rất cần cùng một sự đón nhận, lòng tha thứ, sựchữa lành, tình yêu và tất cả sự toàn vẹn mà chính chúng ta đã lãnhnhận và trải nghiệm.
D Đại Hội tại Cebu và người dân Châu Á
Theo một phương thức hữu hiệu và tỏa sáng đặc biệt, ĐHTTQT lầnthứ 51 nên loan báo mầu nhiệm Đức Ki-tô qua việc lưu tâm đến vịthế của Đức Tin và Giáo Hội trong lịch sử Phi Luật Tân Giáo Hội tạiPhi Luật Tân có một ơn gọi được quan phòng cho sứ mạng truyềngiáo đặc biệt tại Châu Á, một ơn gọi luôn được các đời Giáo hoàngRô-ma xác nhận.7 Sự hiện diện và dấn thân năng động của giáo dânCông Giáo trong nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau, kể cả công việcmục vụ của Giáo Hội, có tiềm năng to lớn để ảnh hưởng đến môitrường kinh tế, chính trị và xã hội như men trong bột Sự đói nghèo
và thiếu cơ hội cho công ăn việc làm khiến nhiều người Phi phải ditrú đến các nước khác cả bên trong lẫn bên ngoài Châu Á, nhưngđồng thời họ cũng mang theo đức tin Ki-tô giáo của họ và chia sẻđức tin ấy với những người họ cùng làm việc, có lẽ bằng gương sáng
và giá trị của mình hơn là bằng lời nói Như vậy, một cách đặc biệt,Giáo Hội Phi Luật Tân là nguồn hy vọng đúng như “Đức Ki-tô đang
ở giữa anh em, Đấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinhquang” nơi các dân tộc Châu Á, như Đức Giáo Hoàng Phao-lô VIkhẳng định trong chuyến viếng thăm Phi Luật tân năm 1970
Năm 1937, thành phố Manila là chủ nhà của ĐHTTQT lần thứ 33,lần đầu tiên tại Châu Á Đại Hội, đã thành công đến độ lay động lòng
7 Ơn gọi truyền giáo đặc biệt này của Phi Luật Tân tại Châu Á đã được nói
rõ bởi Đức Giáo hoàng Phao-lô VI trong chuyến viếng thăm mục vụ của ngài đến Phi Luật Tân vào năm 1970 và bởi Đức giáo hoàng Gioan Phao-lô
II trong Đại hội Giới trẻ Thế giới tổ chức tại Malina.
Trang 5người, và chắc chắn là biến cố tôn giáo quốc tế quan trọng nhất từngđược tổ chức tại quốc gia này vào thời đó ĐHTTQT lần thứ 51 sẽdiễn ra năm 2016 hứa hẹn cũng có tầm quan trọng lớn lao như thế.Đại Hội nằm trong giai đoạn “chín năm” cầu nguyện mà người tínhữu Phi đang cử hành để chuẩn bị cho lễ kỷ niệm đầy vui mừng vàmang tính lịch sử diễn ra vào năm 2021, nhân dịp 500 năm Đức TinKi-tô và Giáo Hội Ki-tô đến với đất nước này.
Vào năm 1521, Đức Vua và Hoàng Hậu Cebu được các nhà thừa saiTây Ban Nha rửa tội.8 Những người bản địa đã đón nhận đức tin Ki-
tô giáo khá dễ dàng và nhiệt tình nhờ lòng mộ đạo tự nhiên và sâu xacủa họ Đức tin ban đầu của họ được các bí tích, chủ yếu là Thánh
Lễ, nuôi dưỡng, mặc dù Thánh Lễ được cử hành bằng một thứ tiếng
mà đại đa số người không hiểu cho đến thế kỷ thứ 20
Việc Ki-tô giáo đến với mảnh đất này trong một thời gian khá ngắnngủi đã làm cho Phi Luật Tân trở thành đất nước Công Giáo lớn nhấtthế giới – với hơn 80% dân số được rửa tội trong đức tin Qua nhiềuthế kỷ, người Công Giáo Phi ngày càng mộ mến việc cử hành ThánhThể hơn.9 Đời sống và hoạt động của một giáo xứ điển hình, dùthuộc bình diện thiêng liêng, xã hội, hay phục vụ, đều được tập trungvào phụng vụ Thánh Thể Dịp mừng bổn mạng các thị trấn và làngmạc (barangays) được cử hành với nhiều Thánh Lễ, tiệc mừng dồidào lương thực và làm hân hoan lòng người Hôn nhân, tang lễ vàcác dịp kỷ niệm ở đây thường được cử hành trong Thánh Lễ Quảthực, các biến cố của cộng đoàn và gia đình người Phi sẽ không trọn
8 Dựa trên tường thuật của ông Antonio Pigafetta, một quý tộc người Italia, ông giữ nhật ký hành trình được thực hiện bởi năm con tàu Tây Ban Nha theo lệnh của ngài Ferdinand Magellan (người Bồ Đào Nha), sau này trở
thành vua của nước Tây Ban Nha với danh hiệu là Charles V: Relazione
del primo viaggio al globo terraqueo (English translation: A Pigafetta, Magellan's Voyage A Narrative Account of the First Circumnavigation,
trans R Skelton, New York: Dover Publications, Inc., 1969).
9 Xc CBCP, Pastoral Letter Landas ng Pagpapakabanal on Filipino
Spirituality (2000), số 62; Episcopal Commission on Catechesis and
Catholic Education, Catechism for Filipino Catholics (1997), số 1669.
Trang 6vẹn nếu không được chúc phúc trong Thánh Lễ Các nhóm CôngGiáo hoạt động xã hội hay tông đồ thường bắt đầu và kết thúc việc tụhọp bằng Thánh Lễ Thánh Lễ có lẽ đã trở thành hoạt động tôn giáoquen thuộc nhất trong xã hội Phi Luật Tân.10
Việc canh tân phụng vụ của Công Đồng Vatican II đã đem đến một
số bước tiến trong cách thức người Phi cử hành Thánh Thể Bản vănThánh Lễ đã được dịch ra hầu hết mọi ngôn ngữ chính trên khắpquần đảo này Việc tham dự của người giáo dân đã cải thiện đáng kểkhông những về mặt đối đáp và ca hát tích cực trong Thánh Lễ, màcòn về việc đảm nhận những công việc phụng vụ khác nhau.11
Tuy vậy, phải thẳng thắn thừa nhận rằng mặc dù có những tia sáng,nhưng vẫn còn những bóng tối trong cách mà Thánh Thể được địnhhình trong đời sống đức tin của người Phi Vẫn còn rất nhiều điềuđáng mong đợi liên quan đến việc hiểu biết đúng đắn của người tínhữu về Thánh Thể, cũng như trong nhận thức thích hợp của cộngđoàn về cử hành Thánh Thể Nhưng vấn đề, như đã được nêu ra, xét
là cần kíp nhất phải giải quyết, chính là sự tách biệt có thể quan sátđược giữa thờ phượng và đời sống.12
Như thế một sự ghi nhận đặc biệt về lòng cảm tạ trong hân hoan vàkhiêm tốn đối với Chúa, hòa nhập với sự kỳ vọng mãnh liệt, sẽ đánhdấu kỳ Đại Hội này Đại Hội sẽ đem lại ý nghĩa đặc biệt cho việcngười Phi mừng kính Đức Giê-su Ki-tô trong Thánh Thể, mừng kính
ơn Mình và Máu Thánh của Người vì sự sống cho thế giới và dân tộcnày Nhưng Đại Hội cũng là một cơ hội đặc ưu đem lại cho tín hữuCông Giáo Phi sự hiểu biết, cử hành và sống niềm tin Thánh Thể mộtcách mới mẻ
Hiện nay Châu Á đang trở thành một trung tâm mới của lịch sử trongthế giới đương đại, thì việc tổ chức ĐHTTQT lần thứ 51 tại Châu Á
10 Xc Landas ng Pagpapakabanal, số 62; Catechism for Filipino
Catholics, số 1669.
11 Catechism for Filipino Catholics, số 1670.
(1990), số 103.
Trang 7là một cơ hội biểu lộ rõ ràng ơn gọi độc đáo và đặc biệt của lục địanày trong tư cách là một Giáo Hội của tình yêu, hiệp thông và truyềngiáo Trong bối cảnh đa chiều kích mà Giáo Hội Châu Á hoàn thành
sứ mạng của mình, lục địa này đã trở thành một mảnh đất phì nhiêu,nơi mầu nhiệm Nhập Thể tiếp tục được thể hiện nhờ sự hội nhập vănhóa đích thực để đem niềm tin Ki-tô giáo vào trong cuộc đối thoạixác thực với nhiều nền văn hóa, tôn giáo và chủng tộc khác nhau tạiChâu Á
II THÁNH THỂ: CÔNG CUỘC CỨU ĐỘ CỦA ĐỨC KI-TÔ ĐƯỢC THỰC HIỆN
A “Mầu nhiệm Đức Ki-tô đang ở giữa anh em, Đấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang” (Cl 1:24-29)
Khi biết rằng các tín hữu Cô-lô-xê đang “thích nghi” niềm tin Ki-tôgiáo vào nền văn hóa và tín ngưỡng của họ, Phao-lô đã phải khẳngđịnh với sự chắc chắn là Đức Ki-tô nắm trọn quyền năng cứu độ(1:19) Mọi sự trên thế giới này được tạo thành là vì Đức Ki-tô Ngay
từ chương mở đầu của bức thư này, Phao-lô áp dụng đi áp dụng lại từngữ “tất cả” và “mọi sự” cho Đức Ki-tô.13
Giáo huấn quan trọng này của thánh Phao-lô vang vọng rõ ràng trongHiến chế về Phụng Vụ Thánh của Công Đồng Vatican II, khi hiếnchế này khẳng định những kỳ công vĩ đại mà Thiên Chúa đã thựchiện nơi dân Người trong Cựu Ước chỉ là để chuẩn bị cho công việc
mà Đức Ki-tô sẽ hoàn thành để cứu độ nhân loại và đem lại vinhquang cho Thiên Chúa.14 Mầu Nhiệm Vượt Qua của cuộc thươngkhó, cái chết và phục sinh của Người là nguyên nhân trọng tâm của
ơn cứu độ Chính “Người đã chết để hủy diệt sự chết nơi chúng con,
và sống lại để phục hồi sự sống cho chúng con.”15 Nhờ mầu nhiệm sựchết và phục sinh của Người, Đức Ki-tô thực sự trở thành niềm hy
13 Xc đặc biệt trong Col 1: 15-20.
14 Xc SC, 5.
15 Kinh tiền tụng I Mùa Phục Sinh.
Trang 8vọng vinh quang của chúng ta Vì Chúa Thánh Thần, Đấng Người đãtrao ban khi trút hơi thở cuối cùng trên Thập Giá (x Ga 19:30), đãsinh ra “bí tích kỳ diệu là toàn thể Giáo Hội”16 để như Chúa Cha đãsai Đức Ki-tô, thì cũng sai Giáo Hội, cộng đoàn các môn đệ Người,tiếp tục loan báo công cuộc cứu độ của Người.17
B Mầu nhiệm được loan báo để mọi người có thể đón nhận Đức Ki-tô
Mầu nhiệm này phải được loan báo không ngừng để mọi người cóthể đón nhận Đức Ki-tô và được dẫn đến với Người (x Cl 1:28).Phao-lô tự coi mình là người phục vụ Tin Mừng hy vọng, Tin Mừngđược rao giảng cho mọi loài thụ tạo dưới bầu trời này, để hoàn tấtviệc rao giảng Lời Chúa, mầu nhiệm đã được giữ kín nhưng nayđược tỏ hiện (x Cl 1:23, 25-26) Chính Phao-lô đã gánh lấy sứ mạng
mà Đức Ki-tô sai các tông đồ đi thực hiện: “bằng việc rao giảng TinMừng cho mọi thụ tạo, họ có thể tuyên xưng rằng Con Thiên Chúa,bằng cái chết và sự sống lại, đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lựccủa Sa-tan, khỏi sự chết và đem chúng ta vào Vương Quốc của ChúaCha.”18
Tuy nhiên, Tin Mừng phải được rao giảng không chỉ bằng lời nói,nhưng còn bằng hy sinh và các bí tích, mà toàn bộ đời sống phụng vụxoay quanh đó Thế nên, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, conngười được đắm mình trong Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô.Nhờ thường xuyên cùng nhau tụ họp để lắng nghe giáo huấn của cáctông đồ và dùng bữa tối của Chúa, họ loan truyền Chúa chịu chết chotới khi Người đến Giáo Hội được xây dựng vững bền trong bí tíchhiệp thông và nên một khi Giáo Hội kiên trì đến với nhau để cử hànhMầu Nhiệm Vượt Qua: đọc những gì “liên quan đến Người trong tất
cả Sách Thánh” (Lc 24:27), và cử hành Thánh Thể, trong đó “hiện tại
16 Từ Lời nguyện sau Bài đọc thứ 7 của lễ Vọng Phục Sinh; Xc SC, 5.
17 Xc SC, 6.
18 Ivi.
Trang 9hóa sự vinh thắng và khải hoàn nhờ cái chết của Người.”19
C Thánh Thể: Đức Ki-tô hiện diện giữa chúng ta
Để Giáo Hội hoàn tất một công việc lớn lao như thế, “Đức Ki-tô luônhiện diện trong Giáo Hội của Người, đặc biệt trong các cuộc cử hànhphụng vụ.”20 Trong Thánh Thể, Người hiện diện để liên tục đem conngười đến hiệp thông với Người và đến làm bằng hữu với nhau Nơicon người thừa tác viên, khi cộng đoàn tụ họp nhau lại, khi công bốLời Chúa, và trong hình Bánh và Rượu của Thánh Thể, Đức Ki-tôtiếp tục hiệp nhất, tha thứ, giáo huấn, hòa giải, dâng hiến bản thân đểchúng ta được cứu độ, và do đó là trao ban sự sống Chính vì điềunày mà Người thiết lập hiến lễ Thánh Thể là Mình và Máu củaNgười – là sự nhập thể và thực hiện kế hoạch cứu độ mà đỉnh cao làhiến tế Thập Giá, là sự tưởng nhớ sống động cái chết cứu độ và sựsống lại của Người
III THÁNH THỂ: NGUỒN MẠCH VÀ CÙNG ĐÍCH CỦA SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI
A Thánh Thể là bí tích tình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây đức ái 21
1 Sự hiện diện của Đức Ki-tô trong Thánh Thể
Những gì Đức Ki-tô đã hoàn tất trong cuộc sống, lời rao giảng, vàtrên hết là mầu Nhiệm Vượt Qua của Người, vẫn tiếp tục hiện diệntrong Giáo Hội, đặc biệt trong các cuộc cử hành phụng vụ Quả thực
Holy Eucharist, c 5 (Denzinger, 1644).
20 SC, 7.
21 Xc St Augustine, Tractatus in Ioannem, VI, số 13, cited in SC, 47.
Trang 10những gì có thể nhìn thấy nơi Người đã được truyền lại cho Giáo Hộimột cách đặc biệt trong các bí tích.22 Nhờ quyền năng Chúa ThánhThần, Đức Ki-tô tiếp tục làm chúng ta nên phong phú bằng sức sốngcủa Người, và nhờ được kết hiệp với Người, chúng ta có thể tiếndâng việc thờ phượng được Chúa Cha chấp nhận qua những dấu chỉ
mà giác quan có thể cảm nhận được
Do đó Thánh Thể là sự hiện thân vĩnh viễn của những gì Đức Ki-tô
đã trao ban cho Giáo Hội bởi việc hoàn toàn cho đi bản thân mình.23
Thánh Thể trở thành bí tích tình yêu của Người, mà vì tình yêu ấyNgười đã hiến mình chết trên Thập Giá (x Pl 2:8) Thánh Thể trởthành dấu chỉ sự hiệp nhất mà Người đã nguyện xin vào đêm trướckhi chịu chết: “Lạy Cha, xin cho tất cả nên một, như Cha và Con làmột” (Ga 17:21) Thánh Thể trở thành mối dây của tình bác ái màNgười đòi hỏi nơi các môn đệ trong điều răn mới Người đã truyềncho họ (x Ga 13:34) Người yêu cầu các môn đệ làm tất cả nhữngđiều này để ‘nhớ đến’ Người Đức Ki-tô muốn Thánh Thể là Bí Tíchtình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây đức ái
2 Quyền năng biến đổi của Chúa Thánh Thần
Để Thánh Thể trở thành bí tích tình yêu của Đức Ki-tô, dấu chỉ hữuhiệu của sự hiệp nhất, và mối dây đức ái, chúng ta khẩn cầu ChúaThánh Thần xuống trên bánh và rượu để bánh và rượu trở thành
Mình và Máu Đức Ki-tô (lời khẩn cầu thánh hiến) Liền sau đó Chúa
Thánh Thần lại được khẩn cầu xuống trên cộng đoàn để họ có thể trở
nên “một thân thể, một tinh thần trong Đức Ki-tô” (lời khẩn cầu hiệp thông).
Thực cao cả thay mầu nhiệm này! Nhờ tác động của Chúa ThánhThần, hoa màu ruộng đất và lao công của đôi tay con người đượcbiến đổi trở thành bánh ban sự sống và thức uống thiêng liêng Cũng
22 Xc Leo Magnus, Tractatus LXXIV.2, ed A Chavasse (CCL 138A) Turnhout 1973, 457: “Quod itaque Redemptoris nostri conspicuum fuit in
sacramenta transivit ”.
23 Xc SC, 47.
Trang 11nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, những người ăn và uống Mình
và Máu Đức Ki-tô được biến đổi nên một Thân Mình Đức Ki-tô Sau
đó họ được sai đi để biến đổi gia đình, nơi làm việc, xã hội và thếgiới Thánh Thể biến đổi cộng đoàn tụ họp thành “hiệp thông sựsống, bác ái và chân lý” để trở nên “khí cụ cứu chuộc mọi người, vàđược sai đi vào thế giới như ánh sáng trần gian và muối đất.”24 Vì nơiThánh Thể, “Đức Ki-tô mà Chúa Cha đã sai xuống để thực thi ý Ngài(x Ga 5:36-38; 6:38-40; 7:16-18) sẽ kéo chúng ta đến với Người vàlàm cho chúng ta thành một phần sự sống và sứ mạng của Người.”25
3 Được biến đổi và sai đi để biến đổi
Họ được mời gọi trở nên điều họ đã lãnh nhận (Thân Mình Đức tô).26 Thánh Thể có một chiều kích truyền giáo nội tại dựa vào chínhviệc được thiết lập Vì trong Bữa Tối Cuối Cùng, Đức Ki-tô khôngchỉ cầm lấy bánh và chén rượu để biến thành bánh ban sự sống vàchén cứu độ, Người còn rửa chân cho các môn đệ và truyền cho họlàm cho nhau như thế (x Ga 13:14) Việc họ rửa chân cho nhau trong
Ki-sự phục vụ yêu thương và khiêm tốn sẽ phải là tấm gương phản chiếutoàn bộ cuộc đời phục vụ và rao giảng của Đức Ki-tô Khi đã đượcbiến đổi thành những con người phục vụ và yêu thương nhờ gặp gỡChúa trong Lời và trong Thân Mình của Người, người tín hữu đượcsai đi để biến đổi cộng đoàn của họ trở thành cộng đoàn huynh đệsống động và trao ban sự sống Thánh Thể thể hiện bản chất và mụcđích của mình khi biến đổi môi trường và con người thành những
24 LG, 9.
26 Xc St Augustine, Sermon 272:13-14, trong E Rotelle (ed.), The Works
of Saint Augustine A Translation for the 21st Century, part III, vol.7, trans.
E Hill, New York 1993, 300-301: “Vì thế nếu chính anh em là thân mình
Đức Ki-tô và là chi thể của thân mình này, thân mình mầu nhiệm dành cho anh em, được đặt ở trên bàn tiệc của Chúa; những gì anh em lãnh nhận chính là mầu nhiệm dành cho anh em, chính anh em là những gì mà anh
em đáp lại A-men, và bởi vì đáp lại như thế anh em diễn tả sự tán thành của mình”.
Trang 12cộng đoàn yêu thương và phục vụ.
B Thánh Thể và sứ mạng truyền giáo
Cũng thế, sau khi cảm thấy trái tim mình cháy bỏng lúc nghe nhữnglời của Đức Ki-tô phục sinh và nhận ra Người “qua việc bẻ bánh”,hai môn đệ trên đường Em-mau (x Lc 24:30-32) cảm thấy được thôithúc vội vã ra đi chia sẻ với tất cả anh em mình niềm vui được gặp
gỡ Người.27 Dự phần vào việc “bẻ bánh và chia sẻ bánh” khi Hiệp
Lễ, cá nhân và cộng đoàn Ki-tô hữu không thể tiếp tục dửng dưngvới lời kêu gọi chia sẻ và cho đi chính mình để trở thành bánh sựsống cho thế giới Vì lý do này, “việc cử hành hy tế Thánh Thể làhành động truyền giáo hiệu quả nhất mà cộng đoàn Giáo Hội có thểthực hiện trong lịch sử thế giới.”28 Mỗi phần của việc cử hành ThánhThể tỏ lộ một mối gắn kết không thể tách rời giữa sự hiệp thông và
sứ mạng truyền giáo, nhờ đó Giáo Hội trở thành dấu chỉ và khí cụcủa sự hiệp nhất (x Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội 1) Như vậy, cũngcần xem xét một số phần của việc cử hành Thánh Thể và sứ mạngtruyền giáo hàm chứa trong đó như thế nào
1 NGHI THỨC NHẬP LỄ
“Khi dân Chúa được quy tụ…”29 Từ nhiều nơi, hoàn cảnh và tìnhhuống khác nhau, nhờ những yếu tố khác nhau của nghi thức nhập lễ,chúng ta được hợp thành một cộng đoàn phụng tự.30 Cùng đến vớinhau để đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa là sự vận hành đầu tiên doquyền năng sáng tạo của Thánh Thể nhờ đó chúng ta trở thành Dângiao ước của Thiên Chúa Lời chào của vị tư tế “Chúa ở cùng anh chị
27 Xc John Paul II, General Audience (21/6/2000); Xc John Paul II, Tông
Thư Dies Domini (DD) (5/7/1998), 45.
28 Ibid.
29 Nghi thức thánh lễ, trong Sách lễ Rô-ma, ấn bản thứ 3, số 1.
30 Xc R Cabié, The Order of Mass of Paul VI, trong The Church at Prayer 2: The Eucharist, Collegeville 1986, 193.
Trang 13em” hay lời chào tương đương là một tuyên bố long trọng rằng bâygiờ chúng ta chính thức là một cộng đoàn phụng tự để tôn thờ ThiênChúa, nơi cư ngụ của Người “Chúa ở cùng anh chị em” đồng thời làlời tuyên xưng đức tin: Đức Ki-tô, Chúa phục sinh, Đấng sai ChúaThánh Thần đến, thực sự hiện diện nơi cộng đoàn đang cử hànhThánh Lễ Đó cũng chính là những lời Thiên Sứ chào kính Đức Mẹtrong biến cố truyền tin khi Mẹ được tuyển chọn để cưu mang “ĐấngEmmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta” trong cung lòng Mẹ (x.
Vì thế, những lời chào mừng ấy rất an ủi: giúp chúng ta xác tín rằngviệc tụ họp của chúng ta được chúc phúc bằng sự hiện diện của ĐứcKi-tô phục sinh và Chúa Thánh Thần mà Người cử đến Trong cộngđoàn Thánh Thể này, Đức Ki-tô gặp gỡ chúng ta nơi con người của
vị tư tế và Người muốn chúng ta nhận ra Người nơi nhau Người nóivới chúng ta khi Kinh Thánh được công bố Người hiến mình chochúng ta qua dấu chỉ thánh thiêng của bánh và rượu Để trở thànhmột cộng đoàn thờ phượng gặp gỡ Chúa, chúng ta được các nghithức và kinh nguyện trợ giúp - một bài hát chung, những chuyểnđộng, tư thế, cử chỉ, những kinh nguyện chung và thậm chí là nhữngkhoảnh khắc thinh lặng chung
Những yếu tố khác nhau của Nghi Thức Nhập Lễ nhằm tạo nên sựhiệp nhất giữa những người đang tụ họp, chuẩn bị cho biết họ lắngnghe Lời Chúa cách thích đáng và cử hành Thánh Thể cách xứngđáng, luôn luôn với ý hướng để sai họ đi làm khí cụ hiệp nhất, làmngười rao giảng Lời Chúa và là bánh được bẻ ra và chia sẻ vì sự sống
Trang 14của thế giới Nghi Thức Nhập Lễ tạo nên phần khởi đầu của quá trình
tuyển chọn, kêu gọi và hình thành một Giáo Hội (ekklesia), một dân
tư tế mà Thiên Chúa sẽ sai đi “loan truyền những kỳ công vinh quangcủa Đấng đã kêu gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sángdiệu huyền” (1 Pr 2:9)
2 PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
Sau khi được nghi thức nhập lễ chuẩn bị, người tín hữu bây giờ lắngnghe công bố Lời Chúa.31 Thiên Chúa và dân Người tham dự vào
“cuộc đối thoại mà trong đó công trình cứu độ cao cả được loan báo
và những đòi hỏi của giao ước được liên tục nhắc lại.”32 Thiên Chúalên tiếng và mong đợi lời đáp trả Diễn tiến năng động của việc công
bố, suy niệm, giải thích và hấp thụ Lời Chúa nhằm biến cộng đoànthành “những người thực hành Lời Chúa chứ không chỉ nghe suông”(Gc 1:22), những người loan truyền chứ không chỉ đón nhận mạckhải thánh.33 Vì Lời Chúa có sức mạnh soi sáng cuộc sống conngười, thúc bách người nghe nhìn vào bản thân và nhìn ra thế giới,
và khơi động sự thôi thúc không thể cưỡng lại là phải dấn thân vàothế giới để thực thi công lý, hòa giải và hòa bình.34 Những bài giảngđược chuẩn bị kỹ lưỡng như người ta mong đợi sẽ trợ giúp cách đặcbiệt trong vấn đề này, và nhờ đó Thiên Chúa tìm đến với dân Ngườiqua vị thuyết giảng và biểu lộ quyền năng của Chúa qua lời nói conngười Thật vậy, khi một mục tử biết rõ giáo dân của mình và thànhthạo kỹ năng truyền thông, “bài giảng (của vị ấy) có thể thực sự làmột trải nghiệm vui tươi và mãnh liệt trong Thần Khí, một cuộc gặp
gỡ đầy an ủi với Lời Chúa, một nguồn canh tân và phát triển liên
31 Xc General Introduction to the Lectionary for Mass, 2nd ed., (21/01/1981), số 6, 7.
Paul VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi (EN), 22.
33 General Introduction to the Lectionary , 6 Xc VD, 91.
34 Ivi, 99.
Trang 15Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho Lời Chúa được loan báo, cũng bansức mạnh cho người tín hữu để họ nghe, hiểu và thực hành Lời Chúatrong cuộc đời mình Sau khi đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần trong bítích Rửa Tội và Thêm Sức, họ được kêu gọi uốn nắn lối sống của họcho phù hợp với những gì họ cử hành trong phụng vụ Nhờ đời sốngchứng tá, người tín hữu được sai đi, mang theo Lời Chúa mà họ đãnghe, để Lời Chúa “có thể được mau chóng loan truyền và tôn vinh
và Danh Chúa được ca tụng giữa muôn dân nước.”36 Quả thực nhữnglời ban sự sống đời đời mà chúng ta nhận được khi gặp gỡ Chúatrong Thánh Thể là để dành cho tất cả mọi người
3 Chuẩn Bị Lễ Vật
Tình yêu ưu tiên cho người nghèo Cuộc cải cách của Công Đồng
Vatican II về Thánh Lễ đã phục hồi một tập quán cổ xưa liên quanđến việc cộng đoàn dâng tiến bánh rượu cho hy tế Thánh Thể.37 Lờichứng cuối cùng được ghi nhận về tập quán này là Sách Nghi ThứcRô-ma thế kỷ thứ bảy,38 sách này cho chúng ta biết rằng vị chủ tếchọn một ổ bánh trong số lễ phẩm được dâng lên và lấy đủ số rượudùng cho việc Hiệp Lễ; phần còn lại đặt trên một bàn phụ để phân
35 Xc EG, 135.
36 General Introduction to the Lectionary , 7.
37 Xc J Jungmann, The Mass of the Roman Rite: Its Origin and
Development (Missarum Sollemnia) 2, trans F Brunner, New York 1951,
2-3 Jungmann liên kết thực hành cổ xưa này với Irênê, Tertullianô, Hippolytô thành Rô-ma, và Cyprianô Một ít bánh và rượu do cộng đoàn dâng tiến sẽ được dành để sử dụng cho hy tế Thánh Thể, phần còn lại sau
đó được phân phát cho người nghèo.
Moyen Age II Les textes (Ordines I - XIII), (Spicilegium Sacrum
Lovaniense Études et documents 23), số 78-84, 93-94.
Trang 16phát cho người nghèo.39 Tập quán ấy bị lãng quên trong nhiều thế kỷ
và được phục hồi do cuộc cải cách của Công Đồng Vatican II, khôngchỉ là có thêm cơ hội cho tín hữu tham dự tích cực, mà còn khẳngđịnh một thực hành đáng ca ngợi của Giáo Hội sơ khai nhằm thể hiệnmối quan tâm đặc biệt đến người nghèo
Nghi thức tưởng niệm việc thiết lập Thánh Thể trong Thánh LễChiều mừng Bữa Tối của Chúa vào ngày thứ Năm Tuần Thánh dànhchỗ cho cuộc rước lễ vật của các tín hữu, mà trong đó ngoài bánhrượu còn có cả những tặng vật dành cho người nghèo đang hiệndiện.40 Bài hát đề nghị đi kèm theo hành động này nêu cao sứ điệp
của việc chuẩn bị lễ vật: “Ubi caritas est vera, Deus ibi est.” [= Đâu
có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời] Theo nghĩa trên, cuộc
cử hành Thánh Thể vào buổi chiều này, với ý hướng tưởng niệm việcthiết lập, là một mẫu thức hoàn hảo cho tất cả các cuộc cử hànhThánh Thể Cuộc cử hành đó dạy chúng ta rằng sứ mạng chăm sóccho người nghèo và những người bị thiệt thòi là trung tâm của phụng
vụ Thánh Thể Khi chúng ta triển nở trong việc chân thành chăm sócngười nghèo và người thiếu thốn, thì Thánh Thể biểu lộ càng rõ ràng
là một bí tích tình yêu hơn nữa Sự gắn bó mật thiết giữa Thánh Thể
và sứ mạng chăm sóc người nghèo của Giáo Hội được diễn tả côđọng trong những lời lẽ trau chuốt của thánh Gio-an Kim Khẩu Ngàihỏi: “Bạn có muốn tôn vinh Thân Mình Đức Ki-tô không? Vậy thìđừng để cho Thân Mình Đức Ki-tô bị khinh miệt nơi các chi thể, lànhững người nghèo không có gì để mặc Đừng tôn vinh Chúa trongnhà thờ với lụa là gấm vóc, rồi sau đó lại bỏ lơ Người ở bên ngoàikhi Người lạnh cóng và trần truồng… Đức Ki-tô được lợi lộc gì từmột bàn lễ vật đầy những chén vàng khi mà Người chết đói nơinhững anh chị em nghèo khó?”41
Quan tâm đến Công Trình Sáng Tạo Cuộc cải cách của Công
39 Xc Jungmann, The Mass 2, 6-8.
đoàn rước các tín hữu mang theo lễ phẩm cho người nghèo được dâng tiến cùng với bánh và rượu.”
41 In Matthaeum hom 50,3-4, PG 58, 508-509.
Trang 17Đồng Vatican II về Thánh Lễ gắn kết các công thức cầu nguyện dựatheo những kinh nguyện tại bàn ăn của người Do Thái với hành độngđặt lễ vật trên bàn thờ: Chúc tụng Chúa, là Chúa tể càn khôn, vì thiệnhảo của Người, chúng con có bánh (rượu) dâng lên Người, là hoamàu ruộng đất và lao công của đôi tay con người, để trở thành bánhban sự sống (thức uống thiêng liêng) cho chúng con Những côngthức cầu nguyện này bày tỏ sự ca tụng Thiên Chúa vì công trình sángtạo thế giới và con người được cộng tác vào việc làm ra bánh rượu –những biểu tượng của sự sống và tình bằng hữu – mà sẽ trở thànhphương tiện trong Thánh Thể cho sự hiện diện sống động và ban sựsống của Đức Ki-tô giữa cộng đoàn quy tụ và trong lòng thế giới.Nhưng bánh và rượu cũng nói lên một sứ mạng ngôn sứ Việc thờphượng không thể dửng dưng với mối quan tâm đến môi trường vàtài nguyên thiên nhiên Lời “Chúc tụng Chúa, là Chúa Cả trời đất” là
để cảm tạ Chúa về trái đất, thụ tạo của Người, đã nuôi dưỡng chúng
ta Thế giới không chỉ là thứ nguyên liệu thô được sử dụng chỉ theo ýmuốn của chúng ta – hoàn toàn hủy hoại và hoang phí Nó dành chotất cả con cái Thiên Chúa để sống dựa vào, sao cho hoàn toàn phùhợp với phẩm giá đó Lời “Chúc tụng Chúa, là Chúa Cả trời đất” kéotheo một tiếng nói ngôn sứ chống lại sự tham lam của lòng dạ và bàntay con người, để bảo vệ trái đất và những nguồn tài nguyên trong
đó, và bảo vệ những nạn nhân do sự phản kháng của thiên nhiên gây
ra khi bị khai thác vô trách nhiệm
4 Kinh Nguyện Thánh Thể
Hợp thành Thân Mình Đức Ki-tô: Bánh và Cộng Đoàn Vào hai
thời khắc đặc biệt của phụng vụ Thánh Thể, một cách minh nhiên,chúng ta nguyện xin Chúa Thánh Thần Trong lời khẩn cầu thánhhiến, Chúa Thánh Thần được nguyện xin xuống trên lễ vật bánh vàrượu để “để trở nên Mình và Máu Ðức Giê-su Ki-tô, Con Chúa,Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể III) Trong lời khẩn cầuhiệp thông, Chúa Thánh Thần cũng được khẩn nguyện xuống trêncộng đoàn để nhờ dự phần vào Mình Máu Đức Ki-tô, họ “được tràn
Trang 18đầy Thánh Thần của Người, thì trở nên một thân thể và một tinh thầntrong Ðức Ki-tô” (Kinh Nguyện Thánh Thể III) Không nơi nàochúng ta có thể nhìn thấy sự ăn khớp rõ ràng hơn giữa Giáo hội vàĐức Ki-tô như trong viễn tượng mầu nhiệm Thánh Thể: Giáo Hội cử
hành Thánh Thể để Giáo hội luôn luôn được xây dựng thành “Thân Mình Đức Ki-tô” Bánh và rượu phải trở thành “Thân Mình Đức Ki-
tô” hầu làm cho những người dự phần vào Thánh Thể thành “ThânMình Đức Ki-tô.” Như thế, nhờ mầu nhiệm Thánh Thể mà Giáo Hội
đi vào trong lịch sử với tư cách là “Thân Mình Đức Ki-tô,” hiến tế vì
sự sống của thế giới
Ngay từ hậu bán thế kỷ thứ nhất, chúng ta tìm thấy điều này đượcbày tỏ trong một kinh nguyện mà Giáo Hội đã gìn giữ trong kho tàngbản văn Thánh Thể của mình: “Cũng như chiếc bánh được bẻ ra đây,trước tiên được gieo rắc trên khắp ruộng đồng, giờ đây được thulượm và trở thành một tấm bánh, thì xin cho Hội Thánh Cha từ muônphương được tụ họp trong nước Cha.”42 Đối với Giáo Hội sơ khai,điều quan trọng nhất về việc cử hành Thánh Thể là cuộc cử hành đó
“quy tụ họ lại với nhau.” Niềm thâm tín của họ là ở chỗ khi được “tụ
họp lại với nhau” (= ekklesia) thì ơn cứu độ xuống trên họ Chính khi
coi mình như là “Một Thân Mình Đức Ki-tô” mà những chi thể mạnhkhỏe cảm nhận được nỗi đau thương và khổ sầu của những chi thể
ốm yếu bệnh tật và như thế bắt buộc cảm thấy phải đáp ứng nhữngnhu cầu của họ Thánh Thể giao phó cho Giáo Hội một sứ mạng thựcthi công lý trên thế giới bằng cách làm cho các cộng đoàn được quy
tụ này thành “Một Thân Mình Đức Ki-tô,” nơi mà chia rẽ và sự vôcảm với nỗi khổ đau được đặt thành vấn đề
Phát sinh từ việc cử hành Thánh Thể, cho nên mỗi một Ki-tô hữu, vàtoàn thể Giáo Hội, thực thi sứ mạng gìn giữ nguyên vẹn Thân MìnhĐức Ki-tô và phục hồi sức khỏe cho Thân Mình ấy khi bị đau yếu vì
sự dửng dưng và bất hòa
42 W Rordorf-A Tuilier, Didache: La Doctrine des Douze Apôtres
(Sources Chrétiennes 248) Paris 2 1998.
Trang 195 Hiệp Lễ
Nghi Thức Bẻ Bánh Trong Bữa Tối Sau Cùng, Đức Giê-su cầm lấy
bánh và bẻ ra Người đưa các mẩu bánh cho các môn đệ yêu dấu mànói: “Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: vì này là mình Thầy sẽ bịnộp vì các con.” Trong Thánh Thể, vị tư tế cũng thực hiện cùng mộthành động này của Đức Ki-tô Người bẻ bánh như dấu chỉ tình yêucủa Đức Ki-tô mà thân xác bị “bể nát” vì chúng ta Bất cứ khi nàohành động này diễn ra trong cuộc cử hành Thánh Thể, chúng ta đượcnhắc nhở về cái chết đau thương mà Đức Ki-tô phải trải qua vì tìnhyêu Người dành cho chúng ta Khi nhận lấy bánh ấy, chúng ta đượcnhắc nhớ rằng Đức Ki-tô đã phải chết để chúng ta được sống Khi cửhành Thánh Thể, chúng ta phải “ý thức sâu xa hơn hy tế của Đức Ki-
tô là dành cho mọi người, và Thánh Thể đòi buộc tất cả nhưng ai tinvào Đức Ki-tô phải trở nên “bánh được bẻ ra” cho người khác, vàphải làm việc để xây dựng một thế giới huynh đệ và chính trựchơn.”43 Đây là cách Đức Ki-tô khát khao trao ban sự sống cho nhânloại và cho thế giới qua mọi thời đại: chúng ta làm “việc này” (= bẻbánh, chia sẻ, yêu thương) để tưởng nhớ Người Mỗi người chúng tathực sự được kêu gọi để làm tấm bánh, bị bẻ ra vì sự sống của thếgiới, cùng với Đức Giê-su
Khi nói với người dân Châu Á, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II
đã ca ngợi khả năng phi thường của việc hy sinh và hiến mình –nghĩa là tử vì đạo – mà nhiều người Châu Á đã biểu lộ qua nhiều thế
kỷ Tiếp đó ngài kêu gọi những Ki-tô hữu Châu Á ngày nay sẵn sànglàm y như thế nếu tình huống đòi hỏi.44 Châu lục này đã hiến tặngcho Giáo Hội và cho thế giới những người con, nam và nữ, đã hùnghồn chứng minh chân lý đức tin bằng cách can đảm đối mặt với cáichết tàn bạo nhất và cho thấy vẻ đẹp của đức tin ấy ngay giữa nhữnghình thức bách hại xấu xa nhất Thánh An-rê Dũng Lạc và các bạnđồng hành, thánh An-rê Kim Taegon và các bạn đồng hành, thánhAugustinô và 119 bạn đồng hành, và thánh Phê-rô Calungsod, tất cả
44 Xc John Paul II, Tông Huấn Ecclesia in Asia (EA) (6/11/1999), 49.
Trang 20là người Châu Á, đã biểu lộ một hình thái cụ thể của đức tin trọn vẹnvào Thánh Thể bằng cách bị bẻ ra như thế.
Bữa Ăn Hiệp Thông Trong Thánh Thể, “Thân Mình Đức Ki-tô”
được thể hiện nơi cộng đoàn Thánh Thể trở thành lương thực chonhững người khác Hành động Thánh Thể đó mang vào thân mìnhtiêu hao một sự sống, nghĩa là được bẻ ra và cho đi để nuôi dưỡngthế giới đang đói khát Thánh Thể sai người Ki-tô hữu bước ra khỏibản thân và hiến mình làm lương thực cho thế giới y như thế TrongThánh Thể, hành vi tiêu hao bị đảo ngược và trở thành một hành vi
kenosis, hay tự hủy Trở nên một phần của Thân Mình Đức Ki-tô là
cùng với Đức Ki-tô gánh lấy thân phận bể nát của con người, và tựhủy là “mặc lấy thân nô lệ” (Pl 2:7)
Khả năng tuyệt vời khi hy sinh bản thân, vốn là đặc tính của ngườiChâu Á, sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu không đi kèm theo sự sẵnsàng chia sẻ Việc tự hủy chỉ tìm thấy ý nghĩa khi nhờ đó mà ngườikhác được trở nên trọn vẹn Đức Ki-tô tự hủy để chúng ta có thể trànđầy sự sống của Người một cách dồi dào sung mãn (x Ga 10:10).Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II cho chúng ta biết về những lĩnhvực đặc biệt cần được chia sẻ, nhất là vào thời điểm này, tại nơi nàycủa thế giới.45 Hoàn cảnh mà trong đó người tị nạn, người tìm nơinương náu, di dân và công nhân nước ngoài sống ở những nước tiếpnhận họ thường gặp phải là thiếu thân thiện, xa lạ về văn hóa, bất lợi
về ngôn ngữ và dễ tổn thương về kinh tế Những hoàn cảnh ấy đòihỏi một mái ấm tiếp đón họ, nơi đó, họ có thể tìm thấy sự an ủi vànghỉ ngơi cho nỗi ưu tư và gánh nặng của mình Xin cho các cộngđoàn Ki-tô, dù ở bất cứ quốc gia hay địa phương nào, đều trở thànhnhững mái ấm nghỉ ngơi tiếp đón như thế đối với họ Bữa tiệc ThánhThể sai chúng ta ra đi chia sẻ những gì chúng ta có để không ai trongcác cộng đoàn chúng ta còn thiếu thốn
45 Ivi, 34.
Trang 216 Kết lễ: “Ite, Missa Est.” (Lễ xong, chúc anh chị em đi
bình an)
Nghi thức kết lễ chấm dứt việc cử hành Thánh Thể và sai cộng đoàn
ra đi Có những người liên hệ đặc điểm sứ-mạng-sai-đi này của nghithức kết lễ với với việc cả hai từ “Thánh Lễ” (Mass) và “sứ mạng”
(mission) đều phát xuất từ động từ tiếng La Tinh mittere (=sai đi).
Điều này cũng mang một ý nghĩa: nghi thức kết lễ được mô tả như lànghi thức giải tán dân chúng để họ “ra đi và làm việc thiện, ca ngợi
và chúc tụng Thiên Chúa.”46
Trong phần bàn về Nghi Thức Nhập Lễ trước đây, chúng ta nói rằngnhững người họp thành cộng đoàn được quy tụ, được chuẩn bị đểlắng nghe Lời Chúa và tham dự vào bữa ăn Thánh Thể cho xứngđáng, luôn hướng đến việc họ được sai đi làm khí cụ hiệp nhất, ngườiloan báo Tin Mừng, và làm tấm bánh, được bẻ ra và chia sẻ vì sựsống của thế giới Giờ đây, trong nghi thức kết lễ, họ được lệnh “Ra
đi, (cộng đoàn) được sai đi.” Như trong câu chuyện hai môn đệ mau, cuộc gặp gỡ với Đức Ki-tô Phục Sinh trong lời của Người đượccông bố và trong việc bẻ bánh có sức mạnh nội tại để biến đổi cộngđoàn thành những sứ giả hăng say và nhiệt thành của Chúa Tìnhhuynh đệ họ trải nghiệm, Lời Chúa họ được nghe, và bữa tiệc ThánhThể họ cùng nhau chia sẻ, giờ đây họ được đưa vào thế giới dướihình thức làm chứng tá liên hệ tới những gì họ đã lãnh nhận Làmchứng có nghĩa là thông qua hành dộng, lời nói và cách sống củamình, chúng ta trở nên nhân chứng cho Đức Giê-su Ki-tô, Đấng thực
Em-sự hiện diện - đã qui tụ chúng ta, nói với chúng ta và hiến Mình làmBánh ban sự sống cho chúng ta.47 Làm chứng cho Đức Ki-tô nghĩa làlàm cho những người chúng ta gặp gỡ ở nơi làm việc, ở nhà, vànhững nơi khác trên thế giới có thể trải nghiệm được những lời an ủi,chữa lành, hiệp nhất và sự hiện diện ban sự sống của Đức Ki-tô, bởi
vì chúng ta có mặt ở đó
47 Xc SAC 85.
Trang 22Nghi Thức kết thúc Thánh Lễ quả thực sai chúng ta đi với lời mờigọi và trách nhiệm hoạt động loan truyền Tin Mừng và làm cho xãhội thấm nhuần những giá trị Ki-tô giáo.48 Có sự liên tục không đứtđoạn từ Thánh Lễ vừa mới cử hành và sứ mạng Ki-tô hữu của chúng
ta trong thế giới.49 Những lời nguyện sau Hiệp Lễ diễn tả tính liên tụckhông đứt đoạn này, vốn là hoa trái của việc tham dự đích thực vàoThánh Thể: “để chúng con được hưởng nhờ hiệu quả ơn cứu chuộctrong Thánh Lễ cũng như trong đời sống hàng ngày.”50 Với sự liêntục này, Giáo Hội luôn xuất hiện như một mầu nhiệm của hiệp thông
và sứ vụ, cũng như Thánh Thể, vốn nằm ở trọng tâm đời sống và sứ
vụ của Giáo Hội, là bí tích hiệp thông và sứ vụ tuyệt hảo nhất
Việc cử hành Thánh Thể, và mỗi phần trong Thánh Lễ, cho thấy rằngtrách nhiệm truyền giáo của Giáo Hội được khắc ghi trong bản chấtcủa mình Làm một cộng đoàn truyền giáo là một phần căn tính củaGiáo Hội Giáo Hội thực hiện căn tính này cả trong đời sống thờphượng, nơi Giáo Hội tuyên xưng qua các nghi thức Đức Ki-tô đãcứu độ thế giới nhờ Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người, cũng như cảtrong đời sống phục vụ, nơi Giáo Hội khẳng định sự hiện diện cứu độcủa Đức Ki-tô trong những sinh hoạt của nhân loại và thế giới
IV SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI TẠI
Á CHÂU, TRUYỀN GIÁO TRONG ĐỐI THOẠI
A Đối thoại như một phương thức truyền giáo ưu tiên
Trong bối cảnh cụ thể của Châu Á, Giáo Hội, trong mọi nơi mọi lúc
là một cộng đoàn truyền giáo do nguồn gốc và mối tương quan với
10/2004-10/2005 (7/10/2004), 24.
49 Xc SAQ 51.
effectum et mysteriis capiamus et moribus.”
Trang 23Đức Ki-tô,51 được kêu gọi theo một nghĩa đặc biệt là thực thi nhiệm
vụ truyền giáo của mình trong tinh thần đối thoại Đối thoại như thếxét như là một lối tiếp cận đặc biệt với sứ mạng truyền giáo, khôngchỉ là cần thiết do thực tại đa ngôn ngữ, đa tôn giáo và đa văn hóacủa Châu Á, khiến cho các dân tộc phải luôn luôn đối thoại với nhau
để bảo đảm cùng tồn tại hòa bình Cách thức dấn thân truyền giáonày có gốc rễ trong nhiệm cục cứu độ và lời kêu gọi hiệp thông của
Ba Ngôi Thiên Chúa, qua đó, Thiên Chúa Cha đưa nhân loại vào mộtcuộc đối thoại yêu thương của ơn cứu độ với chính Ngài nhờ ChúaCon và trong quyền năng của Chúa Thánh Thần.52 Đối thoại là cáchThiên Chúa thực hiện kế hoạch cứu độ chúng ta nơi và nhờ Con củaNgười, Đấng “đã trở nên người, chia sẻ đời sống phận người và nóingôn ngữ loài người chúng ta để truyền đạt sứ điệp cứu độ củaNgười.”53
Do đó không có cách nào khác để Giáo Hội thực hiện lệnh truyền raogiảng từ Thầy và Chúa của mình (x Ga 13:14) ngoài một cuộc đốithoại về ơn cứu độ với tất cả mọi người không phân biệt nam nữ, vìđối thoại là đặc điểm cốt yếu trong sáng kiến cứu độ và hiệp thôngcủa Thiên Chúa.54 Tầm nhìn của Cộng đồng Vatican II về đường lốicủa Giáo Hội là thực hiện sứ mạng của mình trong một thế giới hiệnđại cũng như phản ảnh một cam kết đối thoại với các chủng tộc, ngônngữ, tôn giáo, văn hóa và cơ cấu xã-hội-chính-trị khác nhau.55 Điềunày đặc biệt đúng tại Châu Á, nơi mà Giáo Hội phải dấn thân đốithoại với “những người chia sẻ niềm tin của Giáo Hội vào Đức Giê-
su Ki-tô, là Chúa và Đấng Cứu Thế” cũng như với “những tín đồ củamọi truyền thống tôn giáo khác, dựa trên căn bản của sự khát vọng
51 Xc SC, 6.
52 Xc EA, 29.
53 Ibid.
54 Xc Ủy ban Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn, Dialogue and
Proclamation Reflection and Orientations on Interreligious Dialogue and the Proclamation of the Gospel of Jesus Christ (19/5/1991).
(7/12/1965), đặc biệt số 5 và 10.
Trang 24tôn giáo ẩn sâu trong mỗi trái tim con người.”56
Trong Phiên Họp Khoáng Đại đầu tiên, các Đức Giám Mục Châu Á
đã phân định cuộc đối thoại này trong bối cảnh truyền giáo tại Châu
Á phải có dạng thức đặc biệt nào: “cuộc đối thoại liên tục, khiêm tốn
và yêu thương với các truyền thống sống động, các nền văn hóa, cáctôn giáo, tóm lại đối thoại với mọi thực tại đời sống của con người đãbám rễ sâu và đã thuộc về lịch sử cũng như đời sống của họ ở đâymột cách hân hoan.”57 Cuộc đối thoại này được gọi là “cuộc đối thoại
ba chiều” cách đây ba mươi năm,58 nhưng vẫn còn nguyên giá trị chođến ngày nay: đối thoại với các nền văn hóa của người Châu Á, đốithoại với các tôn giáo của họ, và đối thoại với những hoàn cảnh sốngđói nghèo, cô thế, đau khổ và với những nạn nhân, vốn là số phậncủa đại đa số con người ở đây.59
B Những yếu tố đối thoại trong truyền giáo
Cuộc đối thoại ba chiều này phải được thực hiện “để làm chứng choĐức Ki-tô bằng lời nói và hành động, bằng cách đến với những conngười trong thực tế cụ thể đời sống hằng ngày của họ.”60 Liên quanđến việc làm chứng cho Đức Ki-tô bằng lời nói, nghĩa là công khairao giảng Tin Mừng cứu độ, sử dụng những câu chuyện và nhữnghình thức kể chuyện khác hứa hẹn có hiệu quả lớn hơn61 bởi vì đa số
56 Xc EA, số 29.
Day Asia First FABC Phiên Họp Khoáng Đại (1974), trong For All the Peoples of Asia 1 FABC Các tài liệu từ 1970-1991, ed F J Eilers, Quezon
City 1997, số 14.
(22-26/4/1974), lần đầu tiên cuộc đối thoại ba chiều này được phát biểu, Xc.
For all the Peoples of Asia, vol 1, Manila: IMC Publications, 1984, 25-41.
Peoples of Asia III, số 4.
60 Bishops' Institute for Missionary Apostolate I (Baguio), số 5.
61 EA, 20.
Trang 25người Châu Á có thể liên tưởng tốt hơn với “một kiểu sư phạm gợi
mở, sử dụng câu chuyện, dụ ngôn và biểu tượng.”62 Đại Hội TruyềnGiáo Châu Á lần đầu tiên được tổ chức tại Chiang Mai, Thái Lantháng 10 năm 2006 đã nhắc lại với lòng ưu ái và cảm tạ rằng chínhĐức Giê-su đã giảng dạy bằng dụ ngôn và những hình ảnh được côđọng để mạc khải chiều sâu của Nước Thiên Chúa – Người chính làcâu chuyện tình yêu của Thiên Chúa trong thân xác!63 Chuyện kể cómột sức mạnh đặc biệt làm cho người ta hiểu được ngay cả nhữngmầu nhiệm sâu xa nhất của đức tin, biến đổi những quan điểm và giátrị, hình thành cộng đoàn và thiết lập tình huynh đệ
Mặt khác, việc làm chứng cho Đức Ki-tô bằng hành động còn cónghĩa là cuộc đối thoại ba chiều này phải được thực hiện bằng nhữnghành động cụ thể phục vụ cho công lý, hòa bình và phẩm giá conngười, dẫn đưa người nghèo khổ và yếu thế đến sự phát triển và giảithoát trọn vẹn Cả hai hình thức dấn thân (lời nói và hành động) đòihỏi sự đối thoại trong đời sống, hòa nhập vào hoàn cảnh của nhữngcon người mà Tin Mừng cứu độ được loan báo cho họ, nhạy cảm vớinền văn hóa của họ, tôn trọng và đón nhận mọi người, liên tục lắngnghe và đồng cảm, phát triển những mối tương quan con người, vàkiên tâm học hỏi Hơn nữa cuộc đối thoại trong sứ mạng truyền giáonày đòi hỏi một linh đạo quản gia, tìm cách bảo vệ sự toàn vẹn củacông trình sáng tạo vì lợi ích của những người phải chịu đau khổ nhấtkhi những thảm họa hủy diệt xảy đến do việc lạm dụng môi trường
và tài nguyên thiên nhiên, hay khi của cải trái đất không được phân
bổ cách công bằng
Vì thế, đối thoại trong sứ mạng truyền giáo đòi buộc linh đạo chonhững người rao giảng Tin Mừng, linh đạo bao gồm: liên tục quychiếu về con người và đường lối của Đức Giê-su, kính trọng đối vớiThần Khí, phân định trong cầu nguyện, khát mong tự hủy, cầunguyện và sự hiện diện của Chúa, cảm thương, và có khả năng hướng
Mục, Relatio post disceptationem, 15.
63 Telling the Story of Jesus in Asia The Message of the First Asian
Mission Congress, Chiang Mai, Thailand (18-22/10/2006).
Trang 26dẫn người khác vào trong đời sống ân sủng và thánh thiện.
C Loan báo và đối thoại
Cuộc đối thoại này tự nó không phải là cùng đích; nhưng là để chia
sẻ và đón nhận Cuộc đối thoại khiến chúng ta sẵn sàng tôn trọngngười khác và nhận ra tài năng của họ Cuộc đối thoại giúp chúng ta
có thể lắng nghe những gì người khác bày tỏ về sự tốt lành của ThiênChúa trong và qua cuộc sống của họ.64 “Suốt trong nhiều giai đoạnkhác nhau của cuộc đối thoại, các bên sẽ cảm thấy một nhu cầu mạnh
mẽ để truyền đạt và tiếp nhận thông tin, đưa ra và đón nhận lời giảithích, cũng như chất vấn lẫn nhau.”65 Về phần mình, người Ki-tô hữuphải sẵn sàng cho thấy đức tin của họ, giải thích niềm hy vọng tronglòng họ (1 Pr 3:15) để trả lời cho những kỳ vọng của các đối tác docuộc đối thoại tạo ra Đối thoại luôn luôn là để loan báo và chia sẻniềm tin và niềm hy vọng của chúng ta vào Đức Ki-tô Không thể cómột cuộc Phúc Âm hóa đích thực nếu không có việc loan truyền ĐứcGiê-su Ki-tô cũng như loan truyền cái chết và sự phục sinh cứu độcủa Người.66 Chúng ta không thể chia sẻ những gì mình không có
Để dấn thân sinh hiệu quả trong cuộc đối thoại này, người Ki-tô hữuphải đào sâu đức tin của mình nơi Đức Ki-tô và nơi Mầu NhiệmVượt Qua của Người, thanh tẩy thái độ, minh định ngôn từ và thựchành việc thờ phượng ngày càng chân thực hơn.67
Mọi giai đoạn của cuộc đối thoại và loan báo như thế phải được tìnhyêu thúc đẩy Người Ki-tô hữu phải rao giảng và chia sẻ đức tin của
họ vào Đức Ki-tô chính vì tình yêu này, chứ không chỉ vì tuân theolệnh truyền của Chúa Mặt khác những tín đồ thuộc các tôn giáo kháccũng có thể muốn chia sẻ sự phong phú trong niềm tin của họ Cũngtinh thần đức ái Ki-tô giáo này rất cần thiết để được nên phong phú
64 Xc Faith Encounters in Social Action IV (Kuala Lumpur), 12.
65 Dialogue and Proclamation , 82.
66 EG, 110; Xc EA, 2 and 19; Paul VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi
(EN), 22.
67 Dialogue and Proclamation , 82.
Trang 27hơn từ việc chia sẻ của người khác Liên quan đến điểm này, cácGiám mục Châu Á có một minh định quan trọng và hợp thời: “Đốithoại không đòi hỏi phải từ bỏ sự cam kết của mình, đánh đồng nóhay dễ dàng thỏa hiệp Trái lại, để đối thoại có hiệu quả và sâu xahơn, mỗi bên thậm chí cần phải xác tín mạnh mẽ hơn niềm tin củamình.”68 Mọi cuộc đối thoại bao hàm sự tương hỗ và nhắm đến xua
đi nỗi sợ hãi và sự hiếu chiến.69
D Thánh Thể, nguồn mạch và cùng đích của đối thoại
Trong đời sống Giáo Hội, Thánh Thể đóng vai trò vừa là nguồnmạch vừa là cùng đích của cuộc đối thoại này Được dự phần vàoviệc cử hành Thánh Thể, chúng ta đi vào trong mối hiệp thông sựsống với Ba Ngôi Thiên Chúa bởi vì chúng ta tham dự vào cuộc đốithoại về sự sống và ơn cứu độ đã bắt đầu trong lịch sử và bây giờ tồntại mãi trong mầu nhiệm phụng vụ nhờ quyền năng Chúa ThánhThần Những yếu tố khác nhau của việc cử hành khiến thân xác, giácquan, ý thức của chúng ta tham gia vào cuộc đối thoại mở ra vàchúng ta có thể thông dự vào nhịp sống của Đức Ki-tô hiến mình đểcứu độ chúng ta Qua việc tụ họp và hình thành một cộng đoànphụng tự, chúng ta đáp lại lời hiệu triệu của Chúa Cha để trở thànhDân giao ước của Người Qua việc lắng nghe và hấp thụ Lời Chúađược công bố, chúng ta tham gia vào cuộc đối thoại để được ChúaCha chữa lành, huấn luyện, và làm cho nên phong phú bằng sự sống
và tình yêu của Người, đặc biệt với sự trợ giúp của một bài giảng lễ
mà nhờ bối cảnh Thánh Thể đã vượt lên trên mọi hình thức dạy giáo
lý bởi vì bài giảng dẫn chúng ta đến với hiệp thông bí tích.70
Theo một cách độc đáo, chúng ta đi vào trong cuộc đối thoại sự sốngvới Ba Ngôi Thiên Chúa bằng cách ăn Mình và uống Máu Đức Ki-tô,
vì khi đáp lại lời khẩn cầu của chúng ta, Chúa Cha sai Thánh Thầnqua Con của Người xuống trên bánh và rượu để có thể trở thành
68 Bishops' Institute for Interreligious Affairs IV/7 (Tagaytay), số 10.
69 Dialogue and Prodamation , 82.
70 EG, 137; Xc DD, 41.
Trang 28Mình và Máu Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta Xuất phát từ việc tụhọp Thánh Thể, chúng ta được sai đi để tiếp tục và mở rộng cuộc đốithoại sự sống và ơn cứu độ của Ba Ngôi dưới hình thức phục vụ yêuthương, đặc biệt là đối những người nhỏ bé, hèn mọn và thua thiệtnhất.71
Thế nên, sự vận hành năng động của hành động cử hành (quy tụ - lời
- bữa tiệc - sứ vụ) làm cho chúng ta nhận ra rằng Thánh Thể là sựtưởng nhớ sống động cuộc đối thoại đã diễn ra trong toàn bộ cuộcđời và sứ vụ của Đức Ki-tô, nhưng đạt đến đỉnh cao trong MầuNhiệm Vượt Qua của cuộc khổ nạn, cái chết, sự phục sinh và vinhquang chung cuộc của Người Đó là một cuộc đối thoại tạo thành cảmột hành vi vâng phục Chúa Cha (vận hành đi lên) và lòng thươngxót đối với tội nhân yếu đuối (vận hành đi xuống), và một hy tế của
cả việc tôn thờ (vận hành đi lên) và phục vụ (vận hành đi xuống).72
Ở Châu Á, nơi mà hình thức đặc trưng cho sự hiện hữu của Giáo Hội
là hình thức đối thoại, Thánh Thể tỏa sáng như “một trải nghiệm độcđáo cuộc đối thoại của Thiên Chúa với chúng ta và lời đáp trả củachúng ta với Thiên Chúa: một cuộc đối thoại của sự sống, một cuộcđối thoại của tình yêu.”73 Trong Thánh Thể, Đức Ki-tô mời gọi mọingười đến đồng bàn, nơi Người chia sẻ sự sống của Người quanhững lời yêu thương, chữa lành, và qua một bữa ăn khắc sâu mốitương quan yêu thương giữa những người cùng gọi Thiên Chúa làCha Việc đó có ý nghĩa rất nhiều đối với một dân tộc mà nền vănhóa của họ dành chỗ ưu tiên cho mối gắn bó mật thiết trong gia đìnhđược giữ gìn nguyên vẹn và củng cố bởi sự khuyên bảo của cha mẹ
và những bữa ăn gia đình.74 Việc Đức Ki-tô hiến mình làm của ănthỏa mãn mọi cơn đói và làm của uống tan biến mọi cơn khát và đemlại niềm vui Việc đó sẽ sưởi ấm trái tim của nhiều người trên châu
71 Xc EA, 24.
Phiên Họp Khoáng Đại (10-16/8/2009).
73 Ibid.
74 Xc Hội đồng Giám mục Phi Luật Tân, Thư mục vụ Landas ng
Pagpapakabanal, trong Filipino Spirituality (2000), 71-74.
Trang 29lục này khi mà cuộc sống hàng ngày của họ rõ ràng là thiếu thốnnhững nhu cầu cơ bản.75 Thánh Thể phải luôn là điểm quy chiếu chocác Giáo Hội địa phương tại Châu Á trong cuộc đối thoại truyền giáoliên tục với những nền văn hóa, tôn giáo địa phương, với ngườinghèo, và giới trẻ, bởi vì cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và conngười diễn ra trong đó chính là hạt giống và tầm nhìn cho toàn bộ sứmạng truyền giáo của Giáo Hội.
V TRUYỀN GIÁO TRONG ĐỐI THOẠI VỚI CÁC DÂN TỘC VÀ CÁC NỀN VĂN HÓA
Sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội tại Châu Á phải được thực hiệntrong sự đối thoại với rất nhiều nền văn hóa Châu Á không những làchâu lục lớn nhất mà còn là nơi cư ngụ của gần hai phần ba dân sốthế giới; nó cũng là nơi tập hợp đa phức gắn kết nhiều nền văn hóa,ngôn ngữ, niềm tin, và truyền thống.76 Khi nhắc đến một nhận xét màcác giám mục Châu Á đã lên tiếng,77 Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đãmột lần nữa chỉ ra rằng những thách thức nhiều mặt đang đến với cácnền văn hóa Châu Á, mà trong số đó là cách ứng xử mới do việc cọxát dữ dội với những hình thức truyền thông khác nhau và giá trịtruyền thống gây ra, bao gồm sự linh thánh của hôn nhân, sự ổn địnhcủa gia đình, đang bị những yếu tố tác hại của truyền thông và côngnghiệp giải trí coi nhẹ.78 Thêm vào sự kiện Ki-tô giáo còn là một tôngiáo thiểu số trên lục địa này, do vậy Ki-tô giáo góp phần vào việc bịxem là “quá Phương Tây” và là một “công cụ của sự đô hộ thựcdân.”79 Thế nên do nhu cầu, sứ mạng truyền giáo Ki-tô giáo tại Châu
Trang 30Á phải bao gồm một cuộc đối thoại giữa một bên là Tin Mừng vàniềm tin Ki-tô giáo và bên kia là nền văn hóa của người Châu Á Kếtquả mong đợi là đức tin được hội nhập văn hóa và nền văn hóa đượcphúc âm hóa.80
A Hội nhập văn hóa và truyền giáo
Một đòi hỏi khẩn cấp về thần học và mục vụ Ý hướng hội nhập
văn hóa tại Châu Á được thúc đẩy bởi một tầm nhìn xa: tầm nhìn vềnhững cộng đoàn Ki-tô đích thực tại Châu Á – Người Châu Á trongcách suy nghĩ, cầu nguyện, lối sống, và truyền đạt kinh nghiệm củariêng mình về Đức Ki-tô cho người khác.81 Theo tầm nhìn này, hộinhập văn hóa không chỉ là một chọn lựa, mà là một đòi hỏi khẩn cấp
về thần học và mục vụ Mầu nhiệm Nhập Thể và Mầu Nhiệm VượtQua chính là nền tảng và mẫu mực cho việc thấm hút sâu sắc của cácGiáo Hội địa phương vào các nền văn hóa chung quanh, trong cáckhía cạnh của đời sống, lễ mừng, làm chứng tá và truyền giáo.82 ConThiên Chúa đã trở thành một con người, một người Do Thái, và do
đó trở thành một phần của lịch sử, văn hóa, truyền thống, và tôn giáocủa dân tộc Do Thái Giáo Hội cũng phải nhập thể nơi mọi chủng tộc
và văn hóa mà mình hiện diện Giáo Hội phải trở thành một phần củamọi dân tộc nơi mình được gieo trồng “chính vì cùng một động lực
đã dẫn Đức Ki-tô gắn bó chính bản thân, qua việc nhập thể, đến vớimột hoàn cảnh xã hội và văn hóa nhất định của những con người mà
80 Xc Consultation on Evangelization and Inculturation, trong For All the
Peoples of Asia III FABC Các tài liệu từ 1997-2001, ed E.-J Eilers,
Quezon City: Claretian Publications, 2002, 218.
(Hong Kong, 3/3/1977), trong For All the Peoples of Asia I FABC Các tài
liệu từ 1970-1991, ed G B Rosales-C G Arevalo, Quezon City: Claretian
Publications, 1997, 70.
Proclamation Conclusions of the Theological Consultations (Thailand,
3-10/11/1991), trong For All the Peoples of Asia II FABC Các tài liệu từ
1992-1996, ed F.-J Eilers, Quezon City: Claretian Publications, 1997, 201.
Trang 31Người sống giữa họ.”83 Giáo Hội phải được hòa nhập vào đời sốngcủa một dân tộc đã đón nhận mình, chứ không thể là một người xa lạđối với họ Giáo Hội phải nhập thể sao cho Giáo Hội không nhữngđược xem là Giáo Hội tại Châu Á, mà còn là Giáo Hội Châu Á,không những là Giáo Hội tại Phi Luật tân mà còn là Giáo Hội PhiLuật Tân.
Lập trường về việc nhập thể như thế, mà không đánh mất tính phổquát của Giáo Hội, thậm chí sẽ còn nuôi dưỡng tính phổ quát ấy Nhờđức tin của Giáo Hội và nhờ việc cử hành công cuộc cứu độ củaNgười, Đức Ki-tô tiếp tục nhập thể trong các chủng tộc và nền vănhóa khác nhau Người là Đấng Cứu Độ phổ quát bởi vì Người có thểbiến mình thành một phần của thực tại cụ thể của mỗi dân tộc nhấtđịnh và mang cho họ ơn cứu độ Giáo Hội cũng thực sự phổ quát bởi
vì Giáo Hội có thể nhập thể vào thực tại cụ thể của mỗi Giáo Hội địaphương Khi nhập thể, Giáo Hội làm phong phú cả bản thân mình lẫnGiáo Hội địa phương Việc nhập thể đem lại sự phong phú hỗ tương:cho dân tộc tiếp nhận đức tin lẫn Giáo Hội nhập thể trong đó
Trong cuộc đối thoại với các nền văn hóa Châu Á Nhờ việc loan
báo Tin Mừng và cử hành phụng tự sử dụng những thực tại văn hóacủa một dân tộc, theo thời gian và không gian, Giáo Hội tiếp tục cuộcđối thoại về ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã khởi xướng và đạt đếnchóp đỉnh khi Người thốt lên Lời của Người trong một hoàn cảnh cụthể.84 Hội nhập văn hóa không chỉ là một khí cụ làm cho niềm tin,việc thờ phượng và đời sống của Giáo Hội trở nên hấp dẫn và dễchấp nhận đối với một dân tộc bản địa Việc thực hiện đối thoại vớicác nền văn hóa Châu Á nghĩa là mang sứ điệp và đời sống của ĐứcKi-tô thực sự nhập thể vào trong tâm trí và đời sống của các dân tộc,
83 AG, 10.
84 Xc Letter of Participants of the First Bishops Institute for Missionary
Apostolate, Baguio City, Philippines, 27/7/1978, trong For All the Peoples
of Asia I FABC Các tài liệu từ 1970-1991, ed G B Rosales-C G.
Arevalo, Quezon City: Claretian Publications, 1997, 94.
Trang 32để họ có thể sống theo một phương thức độc đáo của người Châu Á,nghĩa là, thực sự là một Giáo Hội địa phương của Châu Á Tin Mừngđược rao giảng cho họ bằng cách sử dụng những biểu tượng sốngđộng, hình ảnh, thực tại và câu chuyện vốn là một phần trong đờisống thường ngày của họ hợp quần với nhau như một dân tộc Họđón nhận Lời Chúa, làm cho Lời Chúa thành nguyên tắc sống, giá trị,thái độ và khát vọng của họ Họ được giúp đỡ để lãnh hội và trảinghiệm đức tin của mình và cử hành phụng tự theo một phương thứcphản ánh được những giá trị thân thiết của họ, sử dụng những cáchbiểu đạt nằm trong văn hóa của họ Nói cho cùng, ngôn ngữ, nghithức, và biểu tượng của phụng tự Ki-tô giáo luôn có nguồn gốc từmột nền văn hóa và sẽ luôn tìm thấy được ý nghĩa từ nền văn hóa đó.Lịch sử phụng vụ minh chứng cho việc tích hợp những yếu tố vănhóa rút ra từ các dân tộc khác nhau mà Giáo Hội tiếp xúc qua bao thế
kỷ.85 Phụng tự của một cộng đoàn Ki-tô giáo nhất định không thểkhông mang lấy những biểu đạt văn hóa của người địa phương Theocách đó họ trở thành Thân Mình Đức Ki-tô trong một thời gian vàkhông gian đặc thù
Nhờ cuộc đối thoại này Tin Mừng được hội nhập văn hóa và văn hóacủa họ được Tin Mừng hóa Cũng nhờ đó mà họ được xây dựngthành một Giáo Hội địa phương đích thực, chính là sự thể hiện “ởđây và bây giờ” và là sự nhập thể của Thân Mình Đức Ki-tô trongđời sống của dân tộc cụ thể này Đó là một cộng đoàn độc đáo nhưnglại hiệp thông với những cộng đoàn khác cũng mang tính độc đáoriêng của mình Tất cả tuyên xưng một đức tin và chia sẻ một ThầnKhí Tất cả chia sẻ một đời sống bí tích, một Thánh Thể, nhưng cửhành Thánh Thể theo cách riêng của mình Mặt khác, một Giáo Hộithực sự địa phương là cách thức hiệu quả nhất để Tin Mừng hội nhậpvăn hóa và để cử hành phụng tự
Giáo Hội tại Châu Á phải cởi mở nhìn xem những gì văn hóa địaphương có thể đóng góp cho linh đạo Ki-tô giáo đích thực: một lờicầu nguyện của toàn bộ con người trong sự hiệp nhất thân xác-tâmhồn-tinh thần được phát triển phong phú; lời nguyện của nội tâm sâu
85 Xc Chupungco, Op cit., 662.