Chất lượng gạo xuấtkhẩu của nước ta còn chưa được đánh giá cao, chính vì thế luôn đặt ra bài toán quản trịchất lượng gạo xuất khẩu chặt chẽ và hiệu quả để nâng cao giá trị cũng như khả n
Trang 1M c l c ụ ụ
LỜI MỞ ĐẦU 2
I Tổng quan về chất lượng và quản trị chất lượng 3
1 Tổng quan về chất lượng 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Phân loại 4
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm 4
1.4 Tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm dịch vụ 6
2 Tổng quan về quản trị chất lượng 6
2.1 Khái niệm 6
2.2 Các nguyên tắc quản trị chất lượng 6
II Hiện trang về chất lượng và quản lý chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam 7
1 Hiện trang chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam 7
1.1 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của hạt gạo 7
1.2 Tình hình chất lượng gạo xuất khẩu 9
2 Tình hình quản lý chất lượng gạo xuất khẩu 14
2.1 Hiện trạng quản lý chất lượng giống 14
2.2 Hiện trạng về quản lý chất lượng gạo xuất khẩu 15
III Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của gạo xuất khẩu Việt Nam 20
1 Hoàn thiện cơ chế và chính sách của Nhà nước 20
2 Đổi mới cơ cấu sản xuất lúa gạo theo hướng tạo sản phẩm chất lượng cao 21
3 Xây dựng thương hiệu gạo xuất khẩu 21
4 Bảo vệ môi trường sinh thái ngành sản xuất lúa 22
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại đang là những xu thế cơ bản củaphát triển trên thế giới hiện nay Đối với Việt Nam, nhất là sau khi gia nhập khốiASEAN, AFTA, ký kết hiệp định thương mại Việt - Mỹ và việc gia nhập WTO đã mở
ra nhiều cơ hội phát huy lợi thế so sánh, tháo gỡ hạn chế về thị trường xuất khẩu, tạolập môi trường thương mại mới nhằm trao đổi hàng hóa – dịch vụ, kỹ thuật và thôngtin Việt Nam là một nước có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, nông sản phong phú
và có giá trị Nhiều năm liền, Việt Nam đứng thứ hai trong số các quốc gia xuất khẩugạo hàng đầu thế giới và đến năm 2012 đã vượt qua Thái Lan để vươn lên đứng đầuthế giới về xuất khẩu gạo Những năm gần đây, giá trị xuất khẩu của mặt hàng nàykhông chỉ ở con số ấn tượng mà là sự đóng góp quan trọng vào việc góp phần cải thiệncán cân thương mại nhờ kim ngạch mang về cho quốc gia lên đến hàng tỷ đô la mỗinăm Thành quả xuất khẩu gạo cũng đóng góp động lực quan trọng vào việc ổn địnhkinh tế vĩ mô, cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn chungcủa nền kinh tế trong và ngoài nước, ngành nông nghiệp nước ta nói chung, xuất khẩugạo nói riêng vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn ở phía trước Chất lượng gạo xuấtkhẩu của nước ta còn chưa được đánh giá cao, chính vì thế luôn đặt ra bài toán quản trịchất lượng gạo xuất khẩu chặt chẽ và hiệu quả để nâng cao giá trị cũng như khả năngcạnh tranh của hạt gạo Việt Nam trên trường quốc tế Chính vì vậy, nhóm 4 chúng emquyết địn lựa chọn tìm hiểu về đề tài “Tình hình chất lượng và quản lý chất lượng gạoxuất khẩu của Việt Nam” Để có được cái nhìn tổng quan và rõ ràng về đề tài này,chúng em tìm hiểu qua các phần chính:
I Tổng quan về chất lượng và quản trị chất lượng
II Hiện trang về chất lượng và quản lý chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam III Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của gạo xuất khẩu Việt Nam
Trang 3I Tổng quan về chất lượng và quản trị chất lượng
- Xuất phát từ quan niệm siêu hình: “Chất lượng là sự tuyệt hảo của sản phẩm”
- Xuất phát từ thuộc tính của sản phẩm: “ Chất lượng là tổng thể những tính chất,thuộc tính cơ bản của sự vật làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác”
- Xuất phát từ các nhà sản xuất: “Chất lượng là sự đảm bảo đạt được và duy trìmột tâp hợp các tiêu chuẩn, quy cách hoặc yêu cầu đã được đặt ra từ trước”
- Xuất phát theo hướng thị trường: người ta đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau
- Theo ISO: “ Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các tính chất đặc trưng củathực thể có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hay tiềm ẩn”
* Đặc điểm của chất lượng:
- Chất lượng có tính tương đối
- Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, vừa có tính khách quan vừa có tính chủquan
- Chất lượng sản phẩm chỉ thể hiện đúng trong những điều kiện xác định, phù hợpvới mục đich sử dụng, mục đích tiêu dùng
Trang 41.2 Phân loại
- Căn cứ vào mục tiêu cần đạt được, chất lượng được chia thành: chất lượng thiết
kế và chất lượng tuân thủ thiết kế
- Căn cứ vào quy định hiện có, chất lượng được chia thành: Chất lượng hiện có,chất lương cho phép và chất lượng thực tế
- Căn cứ vào giá trị hướng tới, chất lượng được chia thành: Chất lượng tuyệt hảo,chất lượng tối ưu
- Căn cứ vào thành phẩm cấu thành trong sản phẩm, chất lượng được chỉa thành:Chất lượng tổng hợp và chất lượng các thuộc tính
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
1.3.1 Các yếu tố vĩ mô
* Tình hình và xu thế phát triển kinh tế thế giới:
Môi trường kinh tế luôn là một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến khảnăng phát triển của các doanh nghiệp nói chung và quản lý chất lượng và chất lượngsản phẩm nói riêng Sự phát triển kinh tế thế giới thuận lợi tạo ra môi trường kinhdoanh giúp cho doanh nghiệp có khả năng tập trung nguồn lực cho nâng cao chấtlượng sản phẩm Những tiến bộ trong phát triển kinh tế tác động trực tiếp đến hướngtiêu dùng, cơ cấu mặt hàng và những yêu cầu về chất lượng sản phẩm
* Tình hình thị trường:
Đây là nhân tố quan trọng nhất là xuất phát điểm, tạo lực kéo định hướng pháttriển chất lượng sản phẩm Sản phẩm chỉ có thể tồn tại nếu nó đáp ứng được nhữngmong đợi của khách hàng Đặc điểm của thị trường hiện nay là nhu cầu đa dạng, đòihỏi ngày càng cao và thay đổi nhanh Khách hàng ngày càng gây sức ép lớn đối vớidoanh nghiệp, buộc doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng đểđáp ứng được những đòi hỏi của khách hàng Một yếu tố khác có ảnh hưởng trực tiếp
và rất lớn đến sản phẩm dich vụ và mức độ là tính chất cạnh tranh trên thị trường Cạnhtranh tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến nâng cao chấtlượng
* Trình độ tiến bộ khoa học công nghệ:
Trang 5Trình độ chất lượng của sản phẩm không thể vượt quá giới hạn khả năng của trình
độ tiến bộ khoa học công nghệ của một giai đoạn nhất định Chất lượng sản phẩm thểhiện ở những đặc trưng về trình độ kỹ thuật, công nghệ tạo ra sản phẩm đó
* Cơ chế chính sách quản lý kinh tế của các quốc gia:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trường kinh doanhnhất định, trong đó có môi trường pháp lý với những chính sách và cơ chế quản lý kinh
tế có tác động trực tiếp và to lớn đến việc tạo ra và nâng cao chất lượng sản phẩm củacác doanh nghiệp Cơ chế quản lý kinh tế vừa tạo ra môi trường thuận lợi, vừa tạo rasức ép thúc đẩy các doanh nghiệp Một cơ chế phù hợp sẽ kích thích các doanh nghiệpđẩy mạnh đầu tư cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ
* Các yếu tố thuộc về văn hóa xã hội:
Ngoài các yếu tố trên, yếu tố văn hóa xã hội của mỗi khu vực thị trường, mỗiquốc gia, mỗi dân tộc có ảnh hưởng rất lớn đến hình thành các đặc tính chất lượng củasản phẩm Những yêu cầu về văn hóa, đạo đức, xã hội và tập tục truyền thống, thóiquen tiêu dùng có ảnh hưởng trực tiếp các thuộc tính của chất lượng sản phẩm đồngthời có ảnh hưởng gián tiếp thông qua các quy định bắt buộc mỗi sản phẩm phải thỏamãn những đòi hỏi phù hợp với truyền thống, văn hóa, đạo đức xã hội của cộng đồng
xã hội
1.3.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
* Lực lượng lao động trong doanh nghiệp: Con người là nhân tố trực tiếp tạo ra vàquyết định đến chất lượng sản phẩm Năng lực và tinh thần của đội ngũ lao động,những giá trị chính sách nhân sự đặt ra trong mỗi doanh nghiệp có tác động sâu sắc đếnhình thành chất lượng sản phẩm tạo ra
* Khả năng về máy móc thiết bị, công nghệ hiện có của doanh nghiệp: Mỗi doanhnghiệp tiến hành hoạt động trong những điều kiện xác định về công nghệ Trình độhiện đại của máy móc thiết bị và quy trình công nghệ của doanh nghiệp có ảnh hưởngrất lớn đến chất lượng sản phẩm, đặc biệt là những doanh nghiệp tự động hóa cao, códây chuyền sản xuất hàng loạt
* Nguồn nguyên liệu và hệ thống cung ứng: Một trong những yếu tố tham gia cấuthành sản phẩm và hình thành các thuộc tính chất lượng là nguyên vật liệu, vì vậy, đặcđiểm và chất lượng nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Tổ chứctốt hệ thống cung ứng không chỉ là đảm bảo đúng chủng loại, chất lượng, số lượng
Trang 6nguyên vật liệu mà còn đảm bảo đúng về mặt thời gian Một hệ thống cung ứng tốt là
hệ thống có sự phối hợp hiệp tác chặt chẽ đồng bộ giữa bên cung ứng và doanh nghiệpsản xuất
* Trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp: Quản lý chấtlượng dựa trên quan điểm lý thuyết hệ thống Một doanh nghiệp là một hệ thống trong
đó có sự phối hợp đồng bộ thống nhất giữa các bộ phận chức năng
1.4 Tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm dịch vụ
- Chất lượng là một trong những yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp
- Chất lượng tạo ra sức hấp dẫn thu hút khách hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh
- Khi sản phẩm có chất lượng cao, ổn định tạo ra những thói quen, sự tin tưởngtrong quá trình tiêu dùng của khách hàng, từ đó tạo nên uy tín cho doanh nghiệp
- Trong trường hợp nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó tăng được năng suất laođộng, giảm chi phí và tiết kiệm được các nguồn lực
2 Tổng quan về quản trị chất lượng
2.1 Khái niệm
Quản trị chất lượng là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soátmột tổ chức về chất lượng Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng nói chung baogồm lập chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng, hoạch định chất lượng, kiểmsoát chất lượng,đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng
Quản lý chất lượng hiện đã được áp dụng trong mọi ngành công nghiệp, khôngchỉ trong sản xuất mà trong mọi lĩnh vực, trong mọi loại hình tổ chức, từ quy mô lớnđến quy mô nhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không Quản lý chấtlượng đảm bảo cho tổ chức làm đúng những việc phải làm và những việc quan trọng,theo triết lý "làm việc đúng" và "làm đúng việc", "làm đúng ngay từ đầu" và "làm đúngtại mọi thời điểm"
2.2 Các nguyên tắc quản trị chất lượng
- Hướng vào khách hàng: Mọi tổ chức đều phụ thuộc vào khách hàng của mình
và vì thế cần hiểu các nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng, cần đáp ứng cácyêu cầu của khách hàng và cố gắng vượt cao hơn sự mong đợi của họ
Trang 7- Sự lãnh đạo: Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất giữa mục đích và phương hướngcủa tổ chức Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ để có thể hoàn toàn lôicuốn mọi người tham gia để đạt được các mục tiêu của tổ chức.
- Sự tham gia của mọi người: Mọi người ở tất cả các cấp là yếu tố của một tổchức và việc huy động họ tham gia đầy đủ sẽ giúp cho việc sử dụng được năng lực của
- Tám nguyên tắc quản lý chất lượng này tạo thành cơ sở cho các tiêu chuẩn
về hệ thống quản lý chất lượng trong bộ tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000
II Hiện trang về chất lượng và quản lý chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam
1 Hiện trang chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam
1.1 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của hạt gạo
Theo tiêu chuẩn Quốc tế, chất lượng hạt gạo được đánh giá theo 8 tiêu chuẩn sau:
(1) Kích thước hạt gạo có 4 loại, gồm: dài nhất có chiều dài lớn hơn 7,5 mm, dài có
kích thước từ 6,61-7,5 mm, trung bình có kích thước từ 5,51-6,6mm, ngắn có kíchthước dưới 5,5mm
(2) Màu của vỏ cám: Màu vỏ cám bao gồm màu trắng, nâu sáng, nâu tối,nâu, đỏ, tím
sáng và tím
(3) Mức độ bạc bụng có 4 cấp độ, gồm Cấp 0: không bạc bụng; Cấp 1: Vùng bạc bụng
ít hơn 10% ở trong hạt gạo; Cấp 5: Diện tích bạc bụng trung bình 11- 20%; Cấp 9: Hơn20%
Trang 8(4) Chất lượng xay chà: Yếu tố này bao gồm phần trăm gạo lức, gạo trắng và gạo
nguyên
Gạo lức (%) = x 100
Gạo trắng (%) = x 100
Gạo nguyên (%) = x 100
(5) Chất lượng cơm: Chất lượng gạo được nấu gồm hàm lượng amylose, nhiệt độ trở
hồ và độ bền gel Tiêu chuẩn Quốc tế về hàm lượng amylose như sau: 0 - 2% là gạodẻo; 2 - 20% là gạo mềm (hàm lượng amylose thấp); 20 - 25% là gạo mềm (hàm lượngamylose trung bình); lớn hơn 25% là gạo cứng (hàm lượng amylose cao)
(6) Nhiệt độ trở hồ (GT): Là đặc tính chỉ nhiệt độ nấu gạo thành cơm và không thể trở
lại trạng thái ban đầu GT thay đổi từ 55 đến 790C GT trung bình là điều kiện tối hảocho chất lượng gạo tốt
(7) Độ bền gel: Tiêu chuẩn Quốc tế cho độ bền gel dựa vào chiều dài gel Trong nhóm
gạo, các giống có cùng hàm lượng amylose nhưng độ bền gel cao hơn được ưa chuộnghơn
(8) Hương vị (mùi thơm):
Vị ngon hoặc hương thơm trong gạo được tạo bởi hóa chất diacetyl-1- pyroproline.Đánh giá tiêu chuẩn theo Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc Tế (IRRI) được chia làm 3mức độ: Cấp 0 không thơm; Cấp 1 ít thơm; Cấp 2 thơm nhiều
Song tiêu chuẩn thị trường đặt ra cho việc tiêu thụ và sản xuất gạo XK lại dựavào các chỉ tiêu sau:
(1) Phẩm chất xay chà: đặc biệt quan tâm đến tỷ lệ gạo nguyên, bao gồm: Gạo cấp cao:
thường gọi là gạo 5 (là 95% gạo nguyên, 5 % gạo gãy) hoặc gạo 10 (là 90% gạonguyên, 10 là gạo gãy) Gạo cấp thấp: là gạo 30, hoặc 25 (tỷ lệ gạo nguyên thấp hơn)
(2) Phẩm chất cơm chú trọng nhất là hàm lượng amiloze, như sau:
Amiloze 0-2%: nếp, loại này ít có trên thị trường; Amiloze 3-20% cơm dẻo, thị trườngchiếm 30-40%; Amiloze 20-25%: gạo mềm cơm Loại này chiếm thị trường rất lớn:
Trang 960% Hiện gạo nước ta đang tập trung vào nhóm này; Amiloze > 25%: cơm khô cứng,nhóm này thường được làm bánh tráng hoặc bún.
(3) Độ trở hồ: Ngoài phẩm chất cơm, gạo tốt còn phụ thuộc vào độ trở hồ, có các cấp
độ sau: Độ trở hồ cấp 1: khó nấu; Độ trở hồ cấp 5: Trung bình (giống IR 64); Độ trở hồcấp 9: gạo nát và đổ lông Loại này ăn không ngon
(4) Độ dài hạt gạo: trên 7 ly là tiêu chuẩn thị hiếu yêu cầu.
(5) Bạc bụng: Yêu cầu đặt ra là không bạc bụng vì đây là thị hiếu của thị trường Các
giống lúa thơm thường bị khuyết điểm này
(6) Mùi thơm: được chia làm cấp 1, 2, 3 Có thị trường hẹp và hiện nay Ấn Độ và Thái
Lan là 2 nước độc quyền
1.2 Tình hình chất lượng gạo xuất khẩu
Việt Nam là 1 trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới nhưng do quáchú trọng đến sản lượng mà vấn đề chất lượng không được quan tâm đúng mức điều đódẫn đến mặc dù xuất khẩu gạo với sản lượng lớn nhưng thương hiệu gạo Việt Nam trênthế giới vẫn chưa được nhiều người biết đến, gạo Việt chưa xây dựng được thươnghiệu và chất lượng không ổn định
Cụ thể khi tham tán thương mại Việt Nam tại Trung Quốc năm 2015, gạo ViệtNam chiếm 54% tổng lượng gạo nhập khẩu của Trung Quốc nhưng khi dạo qua cácsiêu thị và cửa hàng bán lẻ gạo tại đất nước này thì không thể tìm ra gạo có xuất xứ haythương hiệu Việt Nam Trong khi đó, các đối thủ xuất khẩu gạo của Việt Nam như TháiLan, Pakistan, thậm chí là Campuchia đang vượt chúng ta về xuất khẩu gạo chất lượngcao và xây dựng thương hiệu
Trong thời điểm hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo vẫn phải giữ 2 phânkhúc thị trường là xuất khẩu sang Trung Quốc và xuất khẩu sang các thị trường cao cấpkhác Hiện nay, gạo chất lượng cao của Việt Nam chiếm 27% sản lượng xuất khẩu.Nhưng để mở rộng đẩy mạnh xuất khẩu vào Mỹ, Hàn Quốc, Châu Âu Nhưng với cáchthức làm ăn như hiện nay và chất lượng hạt gạo chưa cao, hạt gạo Việt khó thâm nhậpđược các thị trường này Đối với 7 hoạt chất cấm trong gạo mà các nước đưa ra ViệtNam chưa có quy định cụ thể về danh mục và hàm lượng cho phép Thời gian qua, một
số lô gạo xuất khẩu sang Mỹ đã bị trả về do kiểm tra không đạt yêu cầu
* Tình hình và kim ngạch xuất khẩu gạo 2000-2013
Trang 10(nguồn: tổng cục thống kê và kết quả của hiệp hội lương thực Việt Nam)
* Giá lúa gạo nguyên liệu tại ĐBSCL (đồng/kg)
Loại lúa, gạo 23/1/2014 22/3/2014 22/6/2014 23/9/2014 22/12/2014Lúa khô tại kho loại
thường
5.650 –5.750
5.250 –5.350
5.500–
5.600
5.800–
5.900 5.650-5.750Gạo nguyên liệu loại
1 làm ra gạo 5% tấm
7.450
7.350-7.050 –7.150
6.800–
6.900
7.400–
7.500 7.100-7.200Gạo nguyên liệu làm
ra gạo 25% tấm
7.250
7.150-6.700 –6.800
6.550–
6.650
7.300–
7.400 6.850-6.950Gạo thành phẩm 5%
tấm không bao bì tại
mạn
8.350 –8.450
7.750 –7.850
7.350–
7.450
8.150–
8.250 7.350-7.450Chất lượng gạo không chỉ thể hiện qua thành phẩm mà nó còn được đánh giáqua quá trình sản xuất lúa của người nông dân, từ các khâu đó đã có nhiều bất cập vàsai sót dẫn đến chất lượng gạo không cao:
Trang 11 Chất lượng giống
Hiện nay Việt Nam đã có 102 giống lúa nhưng chất lượng gạo xuất khẩu vẫnkhông được nâng lên, do bản thân các giống đó không có đột phá, đáng chú ý là trongquá trình tổ chức thu mua, thương lái trộn lẫn các loại lúa với nhau nên dẫn tới chấtlượng thấp, giá bán không cao, khó cạnh tranh.Thêm vào đó là việc chúng ta thườngxuyên sử dụng các giống lúa kém chất lượng để có thời gian sản xuất ngắn hơn
Trong 5 năm qua (2008 - 2013), tổng kinh phí đầu tư cho sự nghiệp nghiên cứukhoa học của bộ là gần 4.000 tỷ đồng, trong đó cho nhiệm vụ nghiên cứu là hơn 2.673
tỷ đồng.Tuy nhiên, trong 5 năm qua cũng chỉ có hơn 1.000 giống cây trồng, vật nuôi vàcác loại tiến bộ kỹ thuật được công nhận, đưa vào sản xuất Điều đó cho thấy, nghiêncứu khoa học nông nghiệp nói chung và nghiên cứu giống nói riêng vẫn ở tình trạngkhông có hiệu quả Đề tài đăng ký thì nhiều, nhưng đề tài có tính ứng dụng thực tiễnrất ít.Mặc dù Việt Nam có tới 102 giống lúa nhưng theo thống kê, giống lúa cùng vớiphân bón, thuốc trừ sâu của Việt Nam đều nhập từ 50-70% từ Trung Quốc.Số lượnggiống theo cấp xác nhận còn thiếu so với nhu cầu, không đủ cung ứng sản xuất, chấtlượng hạt giống hạn chế, việc sử dụng giống tự sản xuất còn nhiều Đó là vì năng lựcsản xuất và cung ứng giống của các đơn vị còn hạn chế, hệ thống chế biến hạt giốngcòn nhiều yếu kém, hệ thống quản lý chất lượng hạt giống chưa vận hành tốt, công tácquản lý chất lượng hạt giống chưa được quan tâm
Chế biến vầ Bảo quản lúa
Hầu hết nông dân Việt Nam vẫn thu hoạch lúa bằng tay hoặc các máy móc thô
sơ, hiệu quả thấp, bên cạnh đó cách thức người nông dân thu hoạch lúa cũng khôngđảm bảo đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu để đảm bảo chất lượng gạo tốt
Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của cả nước chiếm hơn 90% sảnlượng gạo xuất khẩu của cả nước nhưng vấn đề thu hoạch và bảo quản lúa ở đây thực
sự chưa hiệu quả và đảm bảo chất lượng cho đầu ra là hạt gạo Sản lượng lúa ở ĐBSCLchủ yếu thu hoạch vào mùa mưa lũ, trong khi đó, hoạt động tiêu thụ lúa của bà connông dân vùng ĐBSCL lại được thực hiện theo quy trình sau: Đến mùa thu hoạch, lúagặt xong được phơi tại bờ ruộng, bán tại bờ kênh Lúa phơi khô rồi lấy ni lon che đậy.Khi gặp ghe của thương lái đến mua được giá là bán Do vậy, hầu hết gạo của ViệtNam trước khi đem xuất khẩu đều phải qua hệ thống sấy Lúa phơi không đủ nắng, gạo
có độ ẩm cao, khi qua hệ thống sấy, hạt gạo bị nát và xỉn màu Vì thế mà chất lượng hạtgạo XK của Việt Nam luôn thấp là lẽ đương nhiên.Chất lượng hạt gạo kém còn do