1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển chăn nuôi và bảo tồn giống gà nhiều cựa ở xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc

47 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Trong xu hướng phát triển của nền kinh tế, ngành nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng đã phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của các giống cao sản.. Để bảo t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA SINH – KTNN -o0o -

PHẠM THỊ VÂN

PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI VÀ BẢO TỒN

HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Kỹ thuật nông nghiệp

Người hướng dẫn khoa học

ThS VŨ THỊ THƯƠNG

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu hướng phát triển của nền kinh tế, ngành nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng đã phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của các giống cao sản Tuy nhiên cùng với đó là sự mất đi nguồn gen bản địa với các giống có khả năng thích nghi cao và mang nét văn hóa của từng vùng miền

Theo báo cáo của FAO – 1993, có ít nhất 40 – 45% tất cả các nguồn di truyền động vật toàn cầu bao gồm khoảng 3.800 giống trong 40 loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và khoảng 70% trong số đó lại nằm ở các nước đang phát triển

Việt Nam vốn có nguồn gen bản địa rất phong phú với các giống gà như: Hồ, Mía, Đông Tảo, Ri…; các giống lợn như: Ỉ, Móng Cái… và còn rất nhiều giống quý khác như sếu đầu đỏ, hươu sao…nhưng cũng không nằm ngoài danh sách các quốc gia có nguồn gen bản địa cần được bảo vệ tránh khỏi nguy cơ tuyệt chủng

Để bảo tồn sự đa dạng sinh học của nguồn gen bản địa, từ những năm

1990 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường đã có nhiều đề tài về nghiên cứu bảo tồn gen một số giống gà nội theo phương pháp in-situ, nuôi giữ trong nông hộ với quần thể nhỏ, theo dõi các đặc điểm ngoại hình, tính năng sản xuất của chúng

Ngày 1-2-2012, Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn có Thông tư số 06/2012/TT-BNNPTNT ban hành “ Danh mục bổ sung nguồn gen vật nuôi quý hiếm cần được bảo tồn” trong đó có giống gà nhiều cựa Phú Thọ [1]

Giống gà này chỉ có ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tập trung nhiều ở hai xã Xuân Sơn và Xuân Đài Đây là giống gà chân có móng nhọn, khỏe, có nhiều cựa, thịt loại gà này bổ dưỡng, săn chắc và thơm ngon Giống gà bản

Trang 3

địa này chủ yếu nuôi ở những vùng núi cao Trước đây người dân chưa biết rõ

về giá trị của loài gà nhiều cựa của địa phương do đó, họ chỉ chăn nuôi tự nhiên, không có ý thức chăm sóc đúng kỹ thuật và phòng bệnh, nên giống gà này có nguy cơ bị tuyệt chủng Mặt khác hiện nay có rất nhiều giống gà mới được đưa vào sản xuất, khiến cho người chăn nuôi bị thu hút nên bỏ dần các giống gà địa phương Người dân thường nuôi thả với rất nhiều giống gà khác cho nên rất dễ bị lai tạp giống Trước thực tế đó, việc bảo tồn và phát triển giống gà này nhằm lưu giữ nguồn gen cũng như nâng cao hiệu quả kinh tế được nhiều cấp ngành quan tâm

Năm 2008 Viện chăn nuôi đã xây dựng mô hình “chăn nuôi bảo tồn gà nhiều cựa” ở các xóm thuộc xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, Phú Thọ với sự hỗ trợ của tổ chức DANIDA (Đan Mạch) Năm 2010 UBND huyện Tân Sơn đã đầu tư, triển khai dự án “Phát triển nuôi gà nhiều cựa quy mô hộ gia đình để xóa đói giảm nghèo” ở Xuân Sơn Vậy tình hình phát triển chăn nuôi và bảo tồn giống gà nhiều cựa ở địa phương hiện nay sau một số năm triển khai dự

án ra sao? Mô hình chăn nuôi, bảo tồn giống gà nhiều cựa có những hiệu quả

gì, còn những điểm gì cần xem xét để việc phát triển và bảo tồn giống gà nhiều cựa ở địa phương cũng như các giống bản địa khác được bền vững? Với

mục đích về những vấn đề này chúng tôi tiến hành đề tài: “Phát triển chăn nuôi và bảo tồn giống gà nhiều cựa ở xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nắm được tình hình phát triển chăn nuôi và tìm hiểu mô hình chăn

nuôi, bảo tồn giống gà nhiều cựa ở địa phương

- Đề xuất các giải pháp góp phần phát triển chăn nuôi và bảo tồn giống

gà nhiều cựa ở địa phương

Trang 4

PHẦN 2: NỘI DUNG

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Phân loại và nguồn gốc gà nhà

1.1.1 Phân loại

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [11]gà thuộc:

Giới (Kingdom): Animal Ngành (Phylum): Chordata Lớp (Class): Aves

Bộ (Orders): Galli formes

Họ (Family): Phasianidae Chủng (Genus): Gallus Loài (Species): Gallus Nòi gà Ri, gà Đông Tảo, gà Hồ…

Trang 5

Nước ta là một trong những trung tâm thuần hoá gà đầu tiên của vùng Đông Nam Á, đàn gà được nuôi sớm nhất ở vùng Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Tây… cách đây chừng hơn 3.000 năm Từ những giống gà nuôi ban đầu là tiền thân của gà Ri hiện nay, trải qua hàng ngàn năm nhân dân ta đã tạo ra các giống gà: gà Hồ, gà Đông Tảo, gà Mía, gà Chọi…

1.2 Các tính trạng ngoại hình của gia cầm

Theo Đặng Hữu Lanh (1999) [5], màu sắc da, lông là mã hiệu của giống, là tín hiệu để nhận dạng giống

- Bộ lông:

Màu sắc lông da là một chỉ tiêu chọn lọc con giống, thông thường màu sắc lông đồng nhất là giống thuần, màu không đồng nhất là giống không thuần đã bị pha tạp (tất nhiên không phải giống nào cũng thế)

Màu sắc lông gia cầm do sắc tố melanin và xantophin Melanin có ở da và gốc lông không phụ thuộc vào lứa tuổi Xantophin chỉ nằm ở da và từ thức ăn đưa vào

Sắc tố lông được cố định ngay từ lúc còn trong bào thai do thể nhiễm sắc của từng tế bào hay từng mảng da có thể do những biến dị soma

Lông gia cầm có những màu sắc khác nhau là do mức độ oxy hoá các tiền sắc tố trong tế bào lông Nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ, nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng Sự thay đổi màu sắc lông phụ thuộc vào màu sắc, hình thức, sự phân bố các hạt màu trong tế bào và số lượng các lớp tế bào cấu trúc và khả năng thu nhận ánh sáng của tế bào ấy

- Đầu:

Cấu tạo bộ xương của đầu được coi là có độ tin cậy nhất trong việc đánh giá đầu Gà trống có đầu giống đầu gà mái có tính dục kém Gà mái

Trang 6

có đầu giống đầu gà trống sẽ không đạt được khả năng sản xuất cao nhất, trứng đẻ ra thường không có phôi

Các giống gà nhẹ cân, mào có kích thước trung bình, mào tai mềm và trắng Các giống gà nặng cân, mào nhỏ hơn, mào tai mỏng và đỏ

- Mỏ:

Mỏ phải chắc và ngắn, mỏ trên và mỏ dưới phải phù hợp với nhau Gà

có mỏ dài và mảnh không có khả năng sản xuất cao

- Chân:

Gia cầm hầu hết có 4 ngón, rất ít có 5 ngón (như gà Ác) Cổ, bàn và ngón chân thường có vẩy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da

Chân gà phải chắc và không được thô, 2 bên to hơn có vảy bóng che phủ

1.3 Các tính trạng sinh sản của gia cầm

Sinh sản là tính trạng được các nhà chọn giống quan tâm Đối với gia cầm các tính trạng sinh sản mà các nhà chọn giống quan tâm là: tuổi đẻ quả trứng đầu tiên, thời gian đẻ, tỷ lệ đẻ, năng suất trứng, tuổi thành thục sinh dục

1.3.1 Tuổi thành thục sinh dục

Tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham gia quá trình sinh sản Đối với cá thể là tuổi đẻ quả trứng đầu tiên,

Trang 7

còn đối với đàn gà thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tỷ lệ đẻ đạt 5% so với toàn đàn

Tuổi bắt đầu đẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch Những gia cầm tầm vóc bé, khối lượng cơ thể nhỏ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn gia cầm có khối lượng cơ thể to hơn Tuổi thành thục sinh dục chịu sự ảnh hưởng của ngày, tháng nở của gà con, nói đúng hơn là độ dài ngắn của ngày chiếu sáng, khoảng thời gian chiếu sáng tự nhiên hay nhân tạo cũng như khối lượng cơ thể

1.3.2 Năng suất trứng và tỷ lệ đẻ

Năng suất trứng hay sản lượng trứng là số lượng trứng đẻ ra trong một thời gian nhất định Năng suất trứng là một tính trạng di truyền, phản ánh chất lượng giống và phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Sản lượng trứng của gà giảm dần theo tuổi, thường thì sản lượng năm thứ hai giảm 15 - 20% so với năm thứ nhất (Nguyễn Thị Mai và cộng sự, 2009) [8]

Việc sản xuất trứng do các yếu tố quyết định là: thời gian kéo dài sự đẻ trứng, cường độ đẻ trứng, thời gian nghỉ đẻ mùa đông, tuổi thành thục và bản năng đòi ấp

 Thời gian đẻ:

Thời gian đẻ ảnh hưởng rõ rệt đến sức sản xuất trứng Thời gian đẻ được tính theo thời gian đẻ trứng của năm đầu, nghĩa là từ khi bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên đến khi thay lông hoàn toàn

Thời gian đẻ chịu ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng Do đó để kéo dài thời gian đẻ có thể sử dụng ánh sáng nhân tạo

 Cường độ đẻ trứng:

Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong thời gian ngắn, có lien quan chặt chẽ đến sức đẻ trứng trong cả năm của gia cầm cường độ đẻ trứng mang đặc điểm của từng giống và đặc trưng riêng cho từng cá thể gà mái và cũng

Trang 8

chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như chế độ nuôi dưỡng, phương thức chăn nuôi Theo Nguyễn Văn Thạch (1996) [10], gà Ri nuôi bán thâm canh có

tỷ lệ đẻ cao hơn so với gà Ri nuôi chăn thả (39,43% so với 31,45%) Chu kỳ

đẻ trứng là sản lượng trứng đẻ ra trong một thời gian liên tục không có sự ngắt quãng

 Bản năng đòi ấp:

Bản năng đòi ấp phụ thuộc vào yếu tố di truyền Những giống nhẹ cân ít nhiều không đòi ấp trong khi những giống nặng cân và trung bình đòi ấp nhiều hơn

Bản năng đòi ấp chịu sự tác động của nhiệt độ và độ chiếu sáng, nhiệt

độ cao, độ chiếu sáng thấp thì bản năng đòi ấp tăng

Năng suất trứng là tính trạng do nhiều gen kiểm soát Gen quy định nó nằm trên NST thường và bị hạn chế bởi giới tính Hệ số di truyền của sản lượng trứng ba tháng đẻ đầu là h2 = 0.22

Tỷ lệ đẻ là một chỉ tiêu biểu thị khả năng đẻ trứng Tỷ lệ đẻ trứng bình quân toàn đàn là một chỉ tiêu phản ánh đặc tính của khả năng đẻ trứng toàn đàn Tỷ lệ đẻ tỷ lệ thuận với năng suất trứng

1.3.3 Các đặc điểm của trứng 1.3.3.1 Hình dạng trứng

Hình dạng trứng là một đặc điểm của từng cá thể, vì vậy nó do nguyên nhân di truyền ở một mức độ rõ rệt

Trứng gia cầm có hình trứng một đầu to, một đầu nhỏ hoặc hình elip với hai đầu trứng tròn đều Biến dị trong hình dạng trứng ít hơn so với khối lượng

Hình dạng trứng không bị biến dị theo mùa Những quả trứng đầu tiên trong chu

kỳ đẻ và sau một thời gian nghỉ đẻ kéo dài hơn và nhỏ hơn một chút Hệ số di truyền hình dạng trứng đến nay vẫn chưa rõ Chỉ số hình dạng trứng (dài/rộng)

Trang 9

trung bình là 0,74 Đây là một trong những chỉ tiêu căn bản để đánh giá chất lượng bên trong của trứng

Hình dạng trứng có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong tiêu thụ, vận chuyển, bảo quản mà còn liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ ấp nở

1.3.3.2 Khối lượng trứng

Khối lượng trứng là cơ sở để đánh giá sản lượng trứng tuyệt đối của một cá thể hay một đàn Khối lượng trứng có mối tương quan nghịch với năng suất và tương quan thuận với tuổi thành thục sinh dục và khối lượng cơ thể Khối lượng trứng phụ thuộc vào: loài, giống, tuổi đẻ, tuổi thành thục sinh dục, khối lượng gà lúc bắt đầu đẻ, chỉ số hình thái trứng… Ngoài ra khối lượng trứng còn phụ thuộc vào mùa vụ, thức ăn, hoạt động của tuyến giáp và các loại thuốc dùng để chữa bệnh

Khối lượng trứng của các giống gà nước ngoài từ 55 - 60g Đối với gà nội khoảng 40 – 50g là phù hợp với sinh lý và bản năng ấp của gà

1.3.3.3 Màu sắc và chất lượng vỏ trứng

Trứng gà thường có màu nâu và trắng (riêng gà Araukan - Nam Mỹ trứng có màu xanh) Màu vỏ trứng đậm nhất vào mùa thu và đầu mùa đông (nguyên nhân do trứng đẻ ra nhiều làm giảm sự tích luỹ sắc tố của tế bào)

Độ dày và độ bền (hay độ chịu lực) của vỏ trứng là những chỉ tiêu quan trọng đối với trứng gia cầm, có ảnh hưởng đến kết quả ấp nở và vận chuyển

Độ dày vỏ trứng được xác định bằng thước đo độ dày khi đã bóc vỏ dai

Độ dày và độ bền của vỏ trứng phụ thuộc vào giống, tuổi, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng Độ dày vỏ trứng được xác định bằng thước đo độ dày khi đã bóc vỏ dai Trứng gà Mía ở 38 tuần tuổi có độ dày trung bình 0,36mm

và độ chịu lực 2,88 kg/cm2 Trứng gà Lương Phượng Hoa ở 38 tuần có độ dày

vỏ trung bình 0,35mm và độ chịu lực 4,46 kg/cm2

Độ dày vỏ trứng biến động 0,311 - 0,588 mm

Vỏ trứng bình thường xốp và soi không có vết

Trang 10

1.3.3.4 Khả năng thụ tinh, tỷ lệ ấp nở

 Khả năng thụ tinh Khả năng thụ tinh được đánh giá qua tỷ lệ trứng có phôi Sự thụ tinh là quá trình tinh trùng kết hợp với tế bào trứng tạo thành 1 hợp tử Khả năng thụ tinh là một chỉ tiêu để đánh giá sức sinh sản của đời bố mẹ Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào trạng thái dinh dưỡng, sự chênh lệch về khối lượng gia cầm bố mẹ, sức khỏe của đàn giống, mùa vụ và nhiệt độ môi trường Sự thích ứng cá thể trong giao phối có ý nghĩa đặc biệt làm tăng tỷ lệ trứng có phôi Gà trống có

tỷ lệ thụ tinh cao đối với gà mái này nhưng có thể không cao đối với gà mái khác Giao phối cận huyết cũng làm giảm tỷ lệ thụ tinh Trong cùng một giống, dòng gà khối lượng cơ thể lớn có tỷ lệ thụ tinh kém hơn so với dòng gà

có khối lượng cơ thể thấp Sự khác nhau do tính năng đạp mái của gà trống dòng nặng kém hơn 3 lần so với trống dòng nhẹ cân

 Tỷ lệ ấp nở

Tỷ lệ ấp nở là một chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá sức sinh sản của gia cầm trong chăn nuôi Kết quả ấp nở được xác định bằng các công thức khác nhau tùy mục đích Thông thường trong sản xuất, tỷ lệ ấp nở được xác định bằng tỷ lệ giữa số con nở ra so với tổng số trứng đem ấp Trong nghiên cứu, để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nở hoặc chất lượng máy ấp, người ta tính tỷ lệ ấp nở bằng tỷ lệ giữa số con gà nở ra so với trứng có phôi Để xác định chất lượng toàn bộ đàn giồng người ta tính bằng tỷ lệ giữa gà con nở so với trứng đẻ ra

Kết quả ấp nở phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng 2 yếu tố chính là di truyền và điều kiện môi trường

Môi trường bên trong quyết định bởi đàn bố mẹ, khối lượng trứng, sự cân đối giữa các thành phần cấu tạo và cấu trúc vỏ ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở

Những quả trứng có kích thước quá lớn hay quá nhỏ đều có khả năng nở kém

Trang 11

hơn những quả trứng có kích thước trung bình Olsen và Kavnes (1949) cũng xác định rằng, tỷ lệ nở cao nhất ở những quả trứng có hình dạng, khối lượng bình thường, tỷ lệ lòng trắng/lòng đỏ là 2/1

Điều này được giải thích có thể do sự không ăn khớp giữa khối lượng protein và noãn hoàng với bề mặt của trứng

Môi trường bên ngoài bao gồm: các khâu vệ sinh, thu nhặt, bảo quản trứng,

kỹ thuật ấp trứng… bất kỳ yếu tố đơn lẻ nào cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của phôi

Ngoài yêu cầu về kỹ thuật ấp trứng, tỷ lệ ấp còn phụ thuộc vào chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn bố mẹ, khả năng sinh trưởng của gia cầm

1.4 Các tính trạng sinh trưởng của gia cầm

1.4.1 Khái niệm

Sinh trưởng là sự tăng kích thước và khối lượng của sinh vật đang ở giai đoạn lớn lên Trong hai chỉ tiêu tăng kích thước và tăng khối lượng, chỉ tiêu tăng kích thước là đáng tin cậy hơn vì khối lượng sinh vật có thể tạm thời biến động tuỳ theo chế độ dinh dưỡng

Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở di truyền của đời trước Sự sinh trưởng chính là quá trình tích lũy dần dần các chất mà chủ yếu là protein, nên tốc

độ tích lũy của các chất cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể

Phát triển là sự biến đổi không những về đặc điểm hình thái mà cả chức năng sinh lý theo từng giai đoạn của cuộc đời sinh vật

Sinh trưởng và phát triển luôn gắn liền với nhau, bổ sung cho nhau để sinh vật lớn lên và trưởng thành Sinh trưởng là điều kiện của phát triển và phát triển làm thay đổi sự sinh trưởng

Trang 12

Ở gà, căn cứ vào sự sinh trưởng của các cá thể con, người ta có thể phân biệt các giai đoạn phát triển như sau: giai đoạn phát triển của phôi trong trứng trước khi đẻ, giai đoạn phát triển của phôi trong trứng sau khi

đẻ, giai đoạn trứng nở thành con (sơ sinh) đến khi thành thục sinh dục, giai đoạn sinh sản Mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm hình thái, sinh

sự thành thục sinh dục Gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh, sự thành thục

về thể trọng sớm, chất lượng thịt tốt, khả năng kháng bệnh cao hơn gia cầm có tốc độ mọc lông chậm Song dù có tốc độ mọc lông chậm thì từ 8 – 12 tuần tuổi gà cũng mọc lông đủ Tốc độ mọc lông của gia cầm phụ thuộc vào giống, cá thể, giới tính và điều kiện chăm sóc

 Kích thước các chiều đo:

Kích thước cơ thể là một biểu hiện cho sinh trưởng, đặc trưng cho quá trình sinh trưởng và đặc trưng cho giống, qua đó phân biệt giống, dòng Kích thước cơ thể luôn có mối tương quan với khối lượng cơ thể qua đó có thể đánh giá sự sinh trưởng và áp dụng cho chọn giống

 Khối lượng cơ thể:

Về mặt sinh học, sinh trưởng là quá trình tổng hợp, tích lũy các chất

mà chủ yếu là protein Do đó có thể lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của vật nuôi

Trang 13

Ở từng giai đoạn phát triển, chỉ tiêu này xác định sự sinh trưởng của cơ thể tại một thời điểm, nhưng lại không khẳng định được sự sai khác về tỷ lệ sinh trưởng giữa các thành phần của cơ thể trong cùng một thời gian ở các độ tuổi Khối lượng cơ thể được tính bằng g/con hoặc kg/con Và được biểu thị

bằng đồ thị sinh trưởng tích lũy

 Tốc độ sinh trưởng:

Tốc độ sinh trưởng là cường độ tăng các chiều cơ thể trong một khoảng thời gian xác định Trong chăn nuôi gia cầm, 2 chỉ số mô tả tốc độ sinh trưởng là tốc độ sinh trưởng tương đối và tốc độ sinh trưởng tuyệt đối

Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích cơ thể trong một khoảng thời gian xác định Độ sinh trưởng tuyệt đối chính là sự gia tăng về khối lượng sống trung bình trong 1 ngày đêm

Tốc độ sinh trưởng tương đối là tỷ lệ % tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát

Tốc độ sinh trưởng tương quan dương với tốc độ mọc lông và hiệu quả

sử dụng thức ăn Tốc độ sinh trưởng của vật nuôi phụ thuộc vào giống, loài, giới tính, đặc điểm cơ thể và điều kiện môi trường

1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng

Các tính trạng về sinh trưởng là các tính trạng số lượng nên ngoài phần ảnh hưởng do các yếu tố của bản thân con vật (giống, tính biệt), chúng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như: Nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, thức ăn, phương thức chăn nuôi

+ Ảnh hưởng của dòng, giống

Mỗi dòng hay mỗi giống gia cầm có nhiều điểm khác nhau về đặc điểm ngoại hình, sức sản xuất, khả năng kháng bệnh…từ đó ảnh hưởng rất lớn đến

sự sinh trưởng Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sự sinh trưởng của từng cá thể, giữa dòng, giống có sự sai khác

Trang 14

Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994) [4], cho biết sự khác nhau giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng

khoảng 500 - 700g (từ 15 - 30%)

Theo Hoàng Phanh (1996) [9], khối lượng gà Mía lúc 12 tuần tuổi là 1503g Còn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy Đạt và cộng sự (2005) [3]

trên gà Đông Tảo giai đoạn 12 tuần tuổi là 1404,7g

+ Ảnh hưởng của tính biệt

Giới tính khác nhau thì đặc điểm và chức năng sinh lý cũng khác nhau nên khả năng đồng hoá, dị hoá và quá trình trao đổi chất dinh dưỡng của chúng là khác nhau Thường con trống có cường độ sinh trưởng lớn hơn so với con mái

Gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái, các tác giả cho rằng

sự sai khác này do gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống hoạt động mạnh hơn gà mái Lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái và tuổi càng tăng thì

sự khác nhau càng lớn

+ Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Kết quả nghiên cứu của các tác giả Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1995) [11], khẳng định thức ăn và dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng của gia cầm Hàm lượng các axit amin là rất quan trọng, đặc biệt nếu thiếu Methionin trong khẩu phần sẽ có hại cho sinh trưởng và hiệu số chuyển hóa thức ăn

+ Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường

Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng của gia cầm như: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng Trong đó nhiệt độ và

ẩm độ là hai yếu tố luôn thay đổi theo mùa vụ và có ảnh hưởng rõ rệt đến tốc

độ sinh trưởng của gia cầm

Nhiều nghiên cứu cho rằng khi nhiệt độ môi trường lên cao trên 36 –

Trang 15

370C sẽ gây stress nhiệt, làm giảm quá trình trao đổi chất và hoạt động của cơ thể, từ đó giảm lượng thức ăn tiêu thụ và giảm tốc độ sinh trưởng Do vậy, cần phải đảm bảo điều kiện chuồng nuôi có độ thông thoáng tốt, cung cấp đủ ôxy, đồng thời có mật độ nuôi cũng như chế độ chiếu sáng thích hợp để tăng hiệu quả chăn nuôi

Trong chăn nuôi gia cầm cần phải chú ý đến yếu tố ánh sáng, vì gia cầm là loài rất nhạy cảm với ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn gà con và giai đoạn gà đẻ Nếu thời gian và cường độ chiếu sáng phù hợp thì thuận lợi cho hoạt động ăn, uống từ đó ảnh hưởng tốt tới khả năng sinh trưởng

1.5 Sức sống và khả năng kháng bệnh

Sức sống và khả năng kháng bệnh là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả chăn nuôi, bị chi phối bởi yếu tố di truyền và môi trưởng ngoại cảnh Sức sống được thể hiện ở khả năng có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường, cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh

Theo Đặng Hữu Lanh và cộng sự (1999) [5], sức kháng bệnh là tính trạng do nhiều gen kiểm soát và chịu ảnh hưởng của nhiều điều kiện môi trường

Hệ số di truyền về sức sống ở gia cầm rất thấp nên sức sống chủ yếu phụ thuộc vào môi trường

Động vật thích nghi tốt thể hiện sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bi stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao,sống lâu và tỷ lệ chết thấp Sức đề kháng khác nhau ở các giống, các dòng, thậm chí giữa các cơ thể Khi điều kiện sống thay đổi gà lông màu có khả năng thích ứng tốt với môi trường sống

Nguyễn Đăng Vang và cộng sự (1999) [13],cho biết tỷ lệ nuôi sống gà

Ri giai đoạn (0 - 9 tuần tuổi) và sinh sản (19 - 23 tuần tuổi) đạt tương ứng 92,11% và 97,25%

Trang 16

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả chăn nuôi cần chọn những giống gia cầm

có khả năng thích nghi cao, đồng thời cần có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý và thực hiện đúng quy trình phòng bệnh

1.6 Tình hình bảo tồn nguồn gen vật nuôi trong và ngoài nước

1.6.1 Tình hình bảo tồn nguồn gen vật nuôi trên thế giới

Đứng trước nguy cơ mất dần tính đa dạng sinh học, từ nhiều năm gần đây

dư luận và các nhà khoa học của nhiều quốc gia đã có các hành động tích cực nhằm bảo vệ các loài động vật qúy hiếm khỏi sự tuyệt chủng với sự ra đời của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (WCU) nay gọi là qũy Quốc tế về thiên nhiên (WWF), tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên Hiệp Quốc (UNESCO) và chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) Bên cạnh

đó nhiều khu bảo tồn quy mô lớn đã được thiết lập ở nhiều khu vực sinh thái khác nhau, tại nhiều quốc gia khắp các châu lục, Hiệp định về cấm buôn bán các loài thú quý hiếm đã được ký kết và thi hành có hiệu quả Sách đỏ (Red book) đã được Uỷ ban về các loài thú sống sót (Species Suvival Commission của IUCN) xuất bản Nhờ đó nhiều loài thú bị đe doạ tuyệt chủng đã được bảo

hộ, nhiều loài biến mất trong hoang dã đã được khôi phục và đưa trở lại môi trường sống của chúng

Nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ ra đời ở các nước, các khu vực dẫn đến sự ra đời của Tổ chức Quốc tế về các giống qúy hiếm (RBI) Các hội thảo Quốc tế về bảo tồn giống động vật được tổ chức tại nhiều nơi trên thế giới thống nhất chương trình hành động và đặt ra các mục tiêu, nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen động vật trên bình diện toàn cầu Có hai phương thức bảo tồn nguồn gen vật nuôi đó là bảo tồn in-situ và bảo tồn ex-situ

 Bảo tồn in-situ

Là bảo tồn tại chỗ: là hình thức bảo tồn vật nuôi ngay trong môi trường

mà nó sinh ra và lớn lên, là hình thức bảo tôn đa dạng sinh học trong các hệ

Trang 17

sinh thái vận động tiến hoá của nơi cư trú nguyên thuỷ hoặc môi trường tự nhiên

 Bảo tồn ex-situ

Là hình thức duy trì quần thể nhỏ, được quản lý chặt chẽ ở ngoài môi trường tự nhiên của nó bằng phương pháp nhân tạo hay bán nhân tạo Bảo tồn ex-situ bao gồm:

- Bảo tồn trong phòng thí nghiệm

- Bảo tồn lạnh vật chất di truyền: Tinh trùng, phôi, AND, tế bào hoặc trứng

1.6.2 Tình hình bảo tồn nguồn gen vật nuôi trong nước

Việt Nam là một trong số ít nước phong phú về giống vật nuôi nội địa Đặc điểm nổi bật của các giống này là khả năng chống bệnh cao, khả năng sử dụng thức ăn nghèo dinh dưỡng tốt, thịt thơm ngon, thích nghi với điều kiện sinh thái từng vùng

Chính vì nhận thức sâu sắc hiểm hoạ đang đến với các giống vật nuôi bản địa, từ năm 1989 đến nay, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã cho thực hiện đề án Bảo tồn nguồn gen vật nuôi Và từ năm 1990 đến nay dự án đã được tiến hành trên phạm vi cả nước, với sự tham gia của nhiều cơ quan Kết quả

là nhiều giống có đặc điểm di truyền độc đáo như gà Hồ, Đông Tảo… đã được bảo tồn, thoát được hiểm hoạ tuyệt chủng, thu thập được nhiều tư liệu và các giống gia súc, gia cầm trong nước để tập hợp xử lý và lưu giữ trong máy tính, bên cạnh đó đề án còn tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức của mọi người về bảo tồn nguồn gen vật nuôi

Ở nước ta, đàn gà phân bố không đều chủ yếu tập trung ở vùng núi và trung du phía bắc (27,5%), vùng đồng bằng sông Hồng (24,7%), vùng đồng bằng sông Cửu Long (15,6%), còn lại là các vùng khác Ngành chăn nuôi gà cho đến nay vẫn chủ yếu là chăn nuôi các giống gà nội (75 – 80%) theo phương thức chăn thả tự do, tận dụng các thức ăn rơi vãi từ thu hoạch lúa, ngô Tuy nhiên, gà

Trang 18

nội chưa được tập trung chọn lọc, bị pha tạp, nhiều các giống, dòng chưa được xác định rõ rệt, các công trình nghiên cứu về các giống gà nội còn ít Song mấy năm gần đây nhà nước đã có chủ trương nghiên cứu và phát triển chăn nuôi các giống gà địa phương để bảo tồn quỹ gen vật nuôi và đảm bảo tính đa dạng sinh học trên toàn cầu

Theo các tác giả Lê Viết Ly (2001) [6], thì đến nay chúng ta có kết quả nghiên cứu về các giống gà nội như sau:

 Gà Mía: Có nguồn gốc từ tỉnh Hà Tây Gà có dáng thô, mào đơn, mình ngắn, chậm chạp Gà mọc lông chậm Thành thục muộn (7 - 8 tháng)

Gà mái lông vàng nhạt hoặc nâu xen kẽ lông đen ở cánh và đuôi, gà mái đạt 2,6 - 3,0 kg Sức đẻ trứng đạt 70 - 80 quả/mái/năm Khối lượng trứng 50 -

55 g/quả

Gà trống có màu lông đỏ sẫm xen lông đen, hai hàng lông cánh chính xanh biếc, gà trống đạt 3,0 - 3,5 kg

 Gà Hồ: Có nguồn gốc từ tỉnh Bắc Ninh Cả gà trống và gà mái đều

có mào xuýt, mào nụ, gà to cao trường, chân cao Tuổi thành thục muộn (7 - 8 tháng)

Gà mái có mã thó (màu đất thó, màu trắng), mã sẻ (màu chim sẻ) Khối lượng gà mái 3 - 3,5 kg Sức đẻ trứng 40 - 50 quả/mái/năm, khối lượng trứng

51 g/quả

Gà trống có mã lĩnh (màu đen), mã mận (màu mận chín) Khối lượng gà trống 3,5 - 4 kg

 Gà Đông Tảo: Có nguồn gốc từ tỉnh Hưng Yên Gà có dáng to, thô, đùi

và ống chân rất to, ngón chân múp míp, chân có vảy thịt, mào kép, mào nụ, da màu vàng

Gà mái trưởng thành có lông màu vàng nhạt hoặc màu nâu nhạt, khối lượng giai đoạn trưởng thành của gà mái là 3 - 3,5 kg Sản lượng trứng 60 -

70 quả/mái/năm

Trang 19

Gà trống hầu hết có màu lông mận chín pha lẫn lông đen, đỉnh đuôi và cánh có màu lông đen ánh xanh Khối lượng giai đoạn trưởng thành gà trống

là 3,5 - 4 kg

 Gà Ác Việt Nam: Gà được thuần dưỡng và phát triển đầu tiên ở các

tỉnh Trà Vinh, Long An, Kiên Giang Hiện nay, đã được di thực ra miền Trung và miền Bắc Gà Ác thường được sử dụng như một vị thuốc bổ (hầm với thuốc bắc)

Đây là một giống gà có tầm vóc nhỏ bé, thịt và xương màu đen, lông trắng tuyền xù như bông, mỏ chân cũng màu đen, mào cờ phát triển, chân có

5 ngón (ngũ trảo), có lông

Kết quả nghiên cứu của một số tác giả về tỷ lệ nuôi sống của gà Ác giai đoạn 1 - 56 ngày tuổi là 88,3%, sau đó ổn định không hao hụt Về sinh trưởng: Gà có khối lượng nhỏ, lúc 16 tuần tuổi con trống đạt 724,62g, con mái 565,05g

Trang 20

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Giống gà nhiều cựa nuôi tại nông hộ ở xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

2.2.2 Một số đặc điểm của giống gà nhiều cựa nuôi tại địa phương

2.2.3 Tình hình phát triển chăn nuôi giống gà nhiều cựa ở địa phương nghiên cứu

2.2.4 Tìm hiểu mô hình phát triển chăn nuôi, bảo tồn giống gà nhiều cựa ở địa phương

2.3 Phương pháp nghiên cứu

- Đọc tài liệu

- Thu thập số liệu sơ cấp: thông qua quan sát, điều tra, phỏng vấn

- Thu thập số liệu thứ cấp: từ các báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế, xã hội địa phương; báo cáo tổng kết thực hiện dự án

Trang 21

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Xuân Sơn là xã vùng sâu vùng xa, xã đặc biệt khó khăn của huyện Tân Sơn, là một trong số 14 xã đặc biệt khó khăn nằm trong chương trình 135 giai đoạn II Xã Xuân Sơn phía đông giáp xã Xuân Đài, phía tây giáp Phù Yên Sơn La - tỉnh Sơn La và huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình, phía bắc giáp xã Đồng Sơn Lai Đồng và Tân Sơn - huyện Tân Sơn, phía nam giáp xã Kim Thượng - huyện Tân Sơn Tổng diện tích tự nhiên là 65,48 km2

Nhiệt độ trung bình năm biến động từ 220C-230C Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ trong các tháng này xuống dưới 200C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là tháng 1

Mùa nóng do ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam nên thời tiết luôn nóng ẩm mưa nhiều Nhiệt độ trung bình trên 250C, nóng nhất vào tháng 6 và 7[15]

3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế, xã hội

Trên địa bàn xã có tổng số: 274 hộ với 1095 nhân khẩu, có 4 khu hành chính là: xóm Lạng, xóm Dù, xóm Cỏi, xóm Lấp Đồng bào dân tộc Dao chiếm 50,3%, Mường 49,3%, dân tộc Nùng: 0,4% dân số (2012)

hậu, nhận thức còn hạn chế, khó tiếp thu, vận dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất trồng trọt, chăn nuôi Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn xã chủ yếu là chăn thả tự nhiên, đàn gia súc phần lớn là thả dông cho nên việc chăm sóc phòng dịch bệnh chưa được kịp thời

Trang 22

Bên cạnh đó thời tiết khí hậu những năm vừa qua diễn biến phức tạp,

hệ thống thủy lợi kém phát triển, thiếu nước tưới tiêu gây khó khăn cho hoạt động canh tác cây trồng của người dân Tất cả những yếu tố này ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế ở xã

Trên địa bàn xã có vườn Quốc gia Xuân Sơn, hang Lạng là những danh lam nổi tiếng thu hút khách du lịch, tuy nhiên chính quyền và người dân nơi đây chưa khai thác tốt thế mạnh này để tăng thêm thu nhập, chỉ là những dịch

vụ nhỏ, lẻ, tự phát, không chuyên nghiệp

Thu nhập bình quân đầu người của xã năm 2012 đạt khoảng 4,5 triệu/người/năm, chủ yếu từ trồng trọt và chăn nuôi

3.2 Một số đặc điểm của giống gà nhiều cựa nuôi tại địa phương

3.2.1 Đặc điểm ngoại hình

Có sự tranh cãi là gà ở Xuân Sơn mang nhiều cựa hay mang nhiều

“ngón” vì cựa gà ở đây không cứng như cựa gà thường mà gần giống như ngón chân gà Ngón chân của gà bình thường ngoài chuyện để di chuyển thì còn để cào bới và bấu vào cây Nhưng ngón chân đeo vào chân của gà nhiều cựa ở Xuân Sơn lại không làm nhiệm vụ đó, vì vậy có thể gọi là cựa Hơn nữa, gà có đủ chín cựa khá hiếm, vì vậy sau nhiều tranh cãi các nhà khoa học

đã thống nhất gọi gà có nhiều cựa ở Xuân Sơn là “ gà nhiều cựa”

Gà nhiều cựa từ khi nở ra ở mỗi bên chân mọc từ 2 đến 3 cựa, về sau gà trưởng thành đặc biệt có một số con mọc thêm mỗi bên chân 1 cựa hoặc đến 2 cựa Cựa rất mềm không cứng như ở bàn chân chính Mỗi cựa dài ngắn khác nhau, mọc nối theo hàng Đặc biệt cựa trên cùng hoàn toàn chỉ là sừng và rất cong

Đặc điểm màu lông: con trống thường có màu hoa mơ pha với tím sẫm;

gà mái: vàng nhạt, vàng trắng, hoa mơ; gà nhiều cựa thường có ở những con lông màu đỏ; những con màu nâu, màu trắng thường ít có

Trang 23

Mào màu đỏ tươi; đuôi cong, mắt sáng

Một số đặc điểm ngoại hình của gà nhiều cựa (hình 1) được mô tả ở bảng sau:

Bảng 1: Đặc điểm ngoại hình giống gà nhiều cựa

Màu lông

Màu lông đa dạng: Nâu, sọc dưa, vàng nhạt

Bộ lông sặc sỡ nhiều màu: hoa mơ pha tím sẫm và hoa mơ đen thẫm, đen đỏ, mận chín

Vàng nhạt, vàng trắng, vàng rơm, vàng nâu đen, trắng màu pha trộn

Mào, mỏ

Mào cờ, đỏ tươi, mào có 6-7 khía Mỏ

có màu vàng đậm, vàng nhạt

Mào cờ, đỏ Mỏ cong màu vàng đậm, vàng nhạt

Chân

Chân thấp, có nhiều cựa, mỗi bên chân mọc

từ 2 đến 3 cựa

Chân thấp, có nhiều cựa (thường là 6,7,8 cựa; 9 cựa rất hiếm)

Chân thấp có nhiều cựa

Ngoại hình, kiểu lông

Nhỏ, lông mượt Lông mượt, tầm vóc

nhỏ, chân thấp

Lông mượt, tầm vóc nhỏ

3.2.2 Một số chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của giống gà nhiều cựa

Chúng tôi cũng đã tìm hiểu về một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của giống gà nhiều cựa nuôi tại Xuân Sơn, Tân Sơn, Phú Thọ Số liệu trình bày ở bảng 2

Ngày đăng: 07/04/2018, 15:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn, Thông tư số 06/2012/TT-BNNPTNT 2. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện chăn nuôi (2010), Báo cáotổng kết thực hiện dự án “chăn nuôi bảo tồn gà nhiều cựa tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 06/2012/TT-BNNPTNT "2. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện chăn nuôi (2010)", Báo cáo "tổng kết thực hiện dự án "“"chăn nuôi bảo tồn gà nhiều cựa tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn, Thông tư số 06/2012/TT-BNNPTNT 2. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện chăn nuôi
Năm: 2010
3. Nguyễn Huy Đạt, Vũ Thị Hưng, Hồ Xuân Tùng, Nguyễn Thành Đông (2005), “ Nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất gà Ri vàng rơm”, Tóm tắt báo cáo khoa học năm 2004, Viện chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất gà Ri vàng rơm
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Vũ Thị Hưng, Hồ Xuân Tùng, Nguyễn Thành Đông
Nhà XB: Tóm tắt báo cáo khoa học năm 2004
Năm: 2005
4. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai, (1994), Chăn nuôi gia cầm, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
5. Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Bình Trọng (1999), Cơ sở di truyền chọn giống động vật, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền chọn giống động vật
Tác giả: Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Bình Trọng
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1999
6. Lê Viết Ly (2001), Chuyên khảo bảo tồn nguồn gene vật nuôi ở Việt Nam, Tập 2, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khảo bảo tồn nguồn gene vật nuôi ở Việt Nam
Tác giả: Lê Viết Ly
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
7. Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995), Thức ăn và dinh dưỡng gia cầm, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và dinh dưỡng gia cầm
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
8. Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn, Hoàng Thanh, Nguyễn Mạnh Hùng (2009), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn, Hoàng Thanh, Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2009
9. Hoàng Phanh (1996), Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, cho thịt và sinh sản của gà Mía, Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, cho thịt và sinh sản của gà Mía
Tác giả: Hoàng Phanh
Năm: 1996
10. Nguyễn Văn Thạch (1996), Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, cho thịt và sinh sản của gà Ri nuôi bán thâm canh, Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, cho thịt và sinh sản của gà Ri nuôi bán thâm canh
Tác giả: Nguyễn Văn Thạch
Nhà XB: Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam
Năm: 1996
11. Nguyễn Văn Thiện (1995), Di truyền học ứng dụng số lượng trong chăn nuôi, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học ứng dụng số lượng trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
12. Võ Văn Sự (2004), Át lát các giống vật nuôi ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Át lát các giống vật nuôi ở Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Sự
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
13. Nguyễn Đăng Vang, Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, Lê Thị Nga, Nguyễn Mạnh Hùng (1999), “Khả năng sản xuất của gà Ri”, Chuyên san chăn nuôi gia cầm, Hội Chăn nuôi Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất của gà Ri”, "Chuyên san chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Đăng Vang, Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, Lê Thị Nga, Nguyễn Mạnh Hùng
Năm: 1999
14. Ủy ban nhân dân huyện Tân Sơn (2012), Báo cáo tổng kết thực hiện dự án ““Phát triển nuôi gà nhiều cựa quy mô hộ gia đình để xóa đói giảm nghèo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thực hiện dự án “Phát triển nuôi gà nhiều cựa quy mô hộ gia đình để xóa đói giảm nghèo”
Tác giả: Ủy ban nhân dân huyện Tân Sơn
Năm: 2012
15. Uỷ ban nhân dân xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ (2012), Báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế, xã hội năm 2012 Khác
16. www.kinhtenongthon.com.vn, Nuôi gà chín cựa để thoát nghèo Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w