Xuất phát từ những vấn đề trên, cùng mong muốn góp phần tạo hứng thú học tập cho các em học sinh đối với bộ môn Sinh học nói chung và Sinh học 11 nói riêng, tôi quyết định chọn đề tài: “
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Sinh học
Người hướng dẫn khoa học Th.s HOÀNG THỊ KIM HUYỀN
HÀ NỘI – 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – Thạc sĩ Hoàng Thị Kim Huyền, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Tổ phương pháp dạy học Sinh học, khoa Sinh - KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; các thầy,
cô giáo môn Sinh học ở các trường THPT: Ngô Quyền – Ba Vì, Ba Vì – Hà Nội, Tiên Du số 1 – Bắc Ninh đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện giúp đỡ để em hoàn thành đề tài này
Do mới lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn để đề tài này ngày càng hoàn thiện và mang lại hiệu quả cao hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Kim Ngoan
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Hoàng Thị Kim Huyền, tôi xin cam đoan rằng:
- Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
- Đề tài này không trùng với bất cứ đề tài nào đã từng được công bố
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sinh viên
Nguyễn Thị Kim Ngoan
Trang 4DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC Lời cảm ơn
Lời cam đoan Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt Mục lục Trang
Phần I: Mở đầu……… 1
1 Lí do chọn đề tài……… 1
2 Mục đích nghiên cứu……… 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 2
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu……… 3
5 Phạm vi giới hạn của đề tài……… 3
6 Giả thuyết khoa học……… 3
7 Phương pháp nghiên cứu……… 3
8 Những đóng góp của đề tài……….… 3
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu……… 5
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài……… 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài……… 5
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới……… 5
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam……… 5
1.2 Cơ sở lí luận……… 5
1.2.1 Khái niệm đặt vấn đề vào bài……… 5
1.2.2 Vai trò của đặt vấn đề vào bài……… … 5
1.2.3 Bản chất của đặt vấn đề vào bài……… 6
1.2.4 Các cách đặt vấn đề vào bài……… 7
1.3 Cơ sở thực tiễn……… 10
Chương 2: Đề xuất một số cách đặt vấn đề vào bài trong dạy học Sinh học 11… 12
2.1 Phân tích nội dung chương trình Sinh học 11 (Sinh học cơ thể)……… 12
Trang 62.2 Đề xuất các cách đặt vấn đề trong dạy học Sinh học 11……… 13
2.3 Một số giáo án minh họa các cách đặt vấn đề vào bài……… 46
2.4 Đánh giá chất lượng các cách đặt vấn đề vào bài trong dạy học Sinh học 11 đã biên soạn……… 63
Phần III: Kết luận và kiến nghị……… 65
1 Kết luận……… 65
2 Kiến nghị……… 65
Tài liệu tham khảo……… 66 Phụ lục
Trang 7PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những chính sách lớn của Đảng
và Nhà nước nhằm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người Mục tiêu giáo dục và đào tạo của chúng ta hiện nay là đào tạo ra những con người lao động tự chủ, sáng tạo và có năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn của cuộc sống mới tạo đặt
ra, biết tự tạo việc làm góp phần tích cực xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh
Để đạt được mục tiêu này, việc trang bị kiến thức khoa học và thực tiễn cho các em học sinh là hết sức cần thiết Tuy nhiên những kiến thức đó thực
sự khắc sâu, bổ ích với các em nếu như các em hứng thú với môn học Khi không có hứng thú học thì thật khó để các em học tốt
Các nhà tâm lý học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người Nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực các hoạt động đó Khi được làm việc phù hợp với hứng thú thì dù khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao Trong hoạt động học tập, hứng thú có vai trò hết sức quan trong, thực tế cho thấy hứng thú đối với các môn học của học sinh tỉ lệ thuận với kết quả học tập của các em Do vậy, tạo hứng thú trong học tập phải
là điều đầu tiên mà giáo viên cần đem đến cho học sinh trước khi dẫn dắt các
em tìm hiểu những kiến thức bổ ích Có như thế học sinh mới tích cực chủ động tìm hiểu những chân trời kiến thức, đúng như tinh thần của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Dạy học là một nghệ thuật, trong đó giáo viên phải là người gợi mở, dẫn dắt và phải tạo được sự hứng thú trong việc tiếp thu kiến thức của học
Trang 8sinh Hứng thú này cần tạo ra khi các em bắt đầu bước vào môn học và ngay trong khi vào từng bài học mới, tiết học mới bằng cách đặt vấn đề kích thích
sự tò mò, chú ý của học sinh
Tuy nhiên trong thực tế, ở các trường THPT hiện nay, việc đặt vấn đề vào bài mới được rất ít giáo viên quan tâm, chú trọng vì họ cho rằng đó không phải là mục tiêu bài học Chính vì vậy, ngay từ đầu tiết học học sinh đã không hứng thú với giờ dạy của giáo viên và giáo viên không lôi cuốn, thu hút được các em vào bài học
Xuất phát từ những vấn đề trên, cùng mong muốn góp phần tạo hứng thú học tập cho các em học sinh đối với bộ môn Sinh học nói chung và Sinh
học 11 nói riêng, tôi quyết định chọn đề tài: “Đề xuất một số cách đặt vấn
đề vào bài trong dạy học Sinh học 11 ”
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận về đặt vấn đề và tìm hiểu tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Điều tra thực trạng về việc đặt vấn đề vào bài trong dạy học môn sinh học ở trường THPT
- Biên soạn các cách đặt vấn đề vào bài trong dạy học Sinh học 11 – Chương trình chuẩn
- Lấy ý kiến của chuyên gia về các cách đặt vấn đề vào bài đã biên soạn
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá các cách đặt vấn đề vào bài đã biên soạn
Trang 94 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Sinh học 11 ở trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu: Các cách đặt vấn đề vào bài trong chương trình Sinh học 11 – Chương trình chuẩn
5 Phạm vi giới hạn của đề tài
- Chương trình Sinh học 11 – Chương trình chuẩn
6 Giả thuyết khoa học
- Nếu biên soạn được các cách đặt vấn đề vào bài phù hợp sẽ gây hứng thú học tập cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tài liệu về lí luận dạy học Sinh học, tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
- Nghiên cứu SGK, SGV Sinh học 11 để phân tích nội dung nhằm biên soạn các cách đặt vấn đề vào bài
7.2 Phương pháp điều tra, quan sát
- Tiến hành quan sát, phỏng vấn các giáo viên ở trường THPT về việc đặt vấn đề vào bài, về hứng thú của học sinh làm cơ sở thực tiễn của đề tài
7.3 Phương pháp chuyên gia
- Sử dụng một số cách đặt vấn đề đã biên soạn được trong dạy học một
số tiết ở lớp 11 ở một số trường THPT
- Đánh giá thực nghiệm dựa trên nhận xét của giáo viên dạy và thông qua quan sát về tinh thần, thái độ, hứng thú của học sinh trên lớp thực nghiệm
8 Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về việc đặt vấn đề vào bài gây hứng thú học tập cho học sinh
Trang 10- Bổ sung thêm một số tư liệu về thực trạng đặt vấn đề vào bài trong dạy học Sinh học 11
- Biên soạn được một số cách đặt vấn đề vào bài gây hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học Sinh học 11 – Chương trình chuẩn
- Cung cấp một số giáo án Sinh học 11
Trang 11PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Việc nghiên cứu và biên soạn các cách đặt vấn đề vào bài không nhiều
Hầu hết là các nghiên cứu về nội dung, phương pháp đổi mới dạy học, hệ thống câu hỏi trắc nghiệm, bản đồ tư duy, kĩ thuật PISA…
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Sinh học là một môn khoa học rất gần gũi với đời sống con người Để thực hiện được nhiệm vụ dạy học, nhiều nhà khoa học, nhà giáo đã nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về dạy học môn Sinh học, Sinh học 11…Tuy nhiên, những đề tài này chủ yếu đi sâu phân tích nội dung, xây dựng giáo án theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, xây dựng hệ thống các câu hỏi trắc nghiệm khách quan, hoặc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học, đề tài biên soạn các cách đặt vấn đề vào bài gây hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học Sinh học còn chưa được nghiên cứu
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Khái niệm đặt vấn đề vào bài
Vấn đề là điều cần được xem xét, nghiên cứu, giải quyết
Đặt vấn đề vào bài là hoạt động của giáo viên trong mỗi tiết dạy, trước khi đi vào nội dung bài học
Vậy đặt vấn đề vào bài là đặt ra các tình huống, các sự việc, hiện tượng cần được xem xét, nghiên cứu, giải quyết trước khi dạy bài mới
1.2.2 Vai trò của đặt vấn đề vào bài
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó
có ý nghĩa đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình hoạt động
Trang 12Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởi nội dung hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc
Từ khái niệm về hứng thú ta có thể suy ra được định nghĩa của hứng thú học tập: hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời sống cá nhân.
Sự hứng thú thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của chủ thể hoạt động Sự hứng thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết quả học tập sẽ không cao, thậm chí xuất hiện cảm xúc tiêu cực
Vậy làm thế nào để tạo ra hứng thú học tập cho các em học sinh? Có rất nhiều cách khác nhau trong đó trước hết là phải khởi động tư duy đang ở trạng thái nghỉ ngơi của học sinh trước mỗi tiết học bằng cách đề xuất vấn đề học tập nhằm vạch ra trước mắt học sinh lý do của việc học và giúp các em xác định được nhiệm vụ học tập Đây là bước khởi động tư duy nhằm đưa học sinh vào trạng thái sẵn sàng học tập, lôi kéo học sinh vào không khí dạy học
Như vậy, đặt vấn đề vào bài tạo ra sự tò mò, chú ý và hứng thú đối với người nghe, kích thích họ suy ngẫm, tìm tòi và muốn khám phá kiến thức mới
1.2.3 Bản chất của đặt vấn đề vào bài
Bản chất của đặt vấn đề vào bài là tạo ra các tình huống nhận thức chứa đựng mâu thuẫn hoặc các hiện tượng thực tế, các câu hỏi nhằm kích thích sự
tò mò tìm hiểu, khám phá của các em học sinh
Trang 13Vào bài theo phương pháp dẫn dắt logic: Với cách vào bài này, giáo
viên dẫn dắt từ kiến thức cũ sang bài mới bằng mối liên hệ logic hoặc đi từ kiến thức tổng thể chung đến kiến thức bộ phận của bài học
VD: Dạy bài 3 – Thoát hơi nước: Như chúng ta đã biết sự vận chuyển nước và ion khoáng trong cây là do sự phối hợp của 3 yếu tố: lực đẩy của rễ, lực hút của lá do thoát hơi nước và lực trung gian Trong đó lực hút của lá do thoát hơi nước là cơ bản Vậy sự thoát hơi nước qua lá được thực hiện như thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu bài hôm nay
Vào bài theo phương pháp kể chuyện: Với cách vào bài này, giáo viên
kể một câu chuyện nhỏ và vui, rồi từ tình huống hay vấn đề trong câu chuyện
để dẫn vào bài học
VD: Dạy bài 28 – Điện thế nghỉ: Cách đây hơn 200 năm, vợ của giáo
sư giải phẫu L.Ganvani ở Trường Đại học Bologna, Italia, mua một số chân ếch còn tươi về để nấu ăn Bà dùng các móc bằng đồng cắm vào chân ếch và treo lên các xà ngang sắt ở ban công Bà bỗng giật mình kinh sợ khi nhìn thấy những chiếc chân ếch đã bị cắt rời thỉnh thoảng lại co giật như bị ma ám mỗi khi chúng chạm vào xà ngang sắt Hiện tượng này đã gây nên sự chú ý đối với giáo sư L.Ganvani Ông đã tiến hành rất nhiều thí nghiệm để chứng minh các
tổ chức sống có điện Điện trong cơ thể sống được gọi là điện sinh học Điện sinh học có 2 loại: Điện thế nghỉ và điện hoạt động Bài học hôm nay, chúng
ta sẽ nghiên cứu dạng thứ nhất: Điện thế nghỉ
Trang 14Vào bài bằng việc liên hệ thực tế: Giáo viên qua một câu chuyện, một
ví dụ thực tế rồi dẫn dắt vào bài mới Kiểu vào bài này giúp học sinh có hứng thú trong học tập, mong muốn giải thích được các hiện tượng xung quanh các
em, ngoài ra nó còn làm cho học sinh yêu thích môn học do thấy được mức
độ ứng dụng của sinh học trong đời sống hàng ngày
VD: Dạy bài 31 – Tập tính của động vật: Trong đời sống động vật, từ những động vật bậc thấp đến những động vật bậc cao đều có nhiều điều kì diệu trong hoạt động, hành vi của chúng Một số động vật có hiện tượng ngủ đông như ếch nhái hoặc gấu Bắc cực Một số lại có hiện tượng di cư tránh rét khi mùa đông đến, ví dụ: chim sếu, chim én Người ta gọi tất cả những hiện tượng đó là tập tính Vậy tập tính là gì? Chúng ta cùng nghiên cứu bài hôm nay – Bài 31: Tập tính của động vật
Vào bài theo phương pháp trực quan:
Ở cách vào bài này, giáo viên cho HS xem những vật thật, mô hình, bức tranh … thường tạo nên những ấn tượng mạnh Thông qua các phương tiện trực quan, học sinh sẽ ngày càng hứng thú, mong chờ tiết học sinh học và yêu thích bộ môn hơn
Cách vào bài này đặc biệt thích hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, giáo viên có thể truy tìm các hình ảnh, mô hình, tranh, phim thí nghiệm… minh họa trên các phương tiện hỗ trợ như internet, sách báo…
Mặt khác, đây cũng là cách vào bài hiệu quả khi giáo viên sử dụng và phát huy tác dụng của các đồ dùng dạy học có tại phòng thiết bị, dụng cụ thí nghiệm hoặc tự chế tác trong đời sống hàng ngày
VD: Dạy bài 24 - Ứng động: GV có thể cho HS quan sát 2 chậu cây:
+ Một chậu trồng cây đậu để trong hộp kín, có lỗ thủng và thân cây vươn về phía có ánh sáng
+ Một chậu trồng cây trinh nữ (đã kích thích vào lá)
Trang 15Sau đó GV yêu cầu HS nhận xét về phản ứng của 2 chậu cây này với kích thích từ môi trường
HS có thể nhận biết được một chậu cây có tính hướng sáng Từ đó
GV giới thiệu phản ứng ở cây trinh nữ và dẫn dắt vào bài
Vào bài theo phương pháp đặt câu hỏi: Giáo viên đặt một câu hỏi thách
đố, khêu gợi trí tò mò, sau đó dẫn dắt vào bài mới
VD: Dạy bài 8 – Quang hợp ở thực vật: Toàn bộ sự sống trên hành tinh của chúng ta phụ thuộc vào quá trình quang hợp Vậy quang hợp là gì? Nó có vai trò như thế nào đối với sự sống trên Trái Đất? Bộ phận nào tham gia vào quá trình quang hợp Đây chính là nội dung mà các em sẽ được tìm hiểu trong bài hôm nay
VD: Dạy bài 20 – Cân bằng nội môi: Tại sao khi ăn mặn chúng ta thấy khát nước và khi uống nhiều nước chúng ta lại đi tiểu nhiều? Điều gì xảy ra khi trời quá lạnh hoặc khi thiếu oxi Nguyên nhân gây bệnh đái tháo đường, cao huyết áp là gì? Tại sao khi sốt cao kéo dài chúng ta có thể bị chết? Để trả lời những câu hỏi này chúng ta cùng tìm hiểu bài hôm nay
Vào bài theo phương pháp kiểm tra: Giáo viên gọi học sinh trả lời câu
hỏi hay giải bài tập (học sinh đứng tại chỗ hoặc lên bảng) rồi từ kiến thức
trong nội dung kiểm tra dẫn vào bài học
VD: Dạy bài 18 – Tuần hoàn máu: GV yêu cầu HS trình bày những kiến thức về hệ tuần hoàn, sau đó dựa vào ý kiến của HS để dẫn dắt vào bài học
Vào bài theo phương pháp tổ chức hoạt động tập thể: Cho cả lớp giải
một bài tập hay thực hiện một trò chơi, nhiệm vụ tương ứng bài sẽ học rồi dẫn dắt vào bài giảng Cách thức này có tác dụng khuyến khích tinh thần học tập của học sinh, tăng cường tính thân thiện, đoàn kết nhóm học tập, học sinh được thể hiện nhóm mình với tập thể giúp tiết học sẽ sôi nổi hơn về sau
Trang 16VD: Dạy bài 32 – Tập tính của động vật (tiếp theo): GV đưa ra một số
VD về tập tính ở động vật và yêu cầu 2 HS đại diện cho 2 nhóm lên bảng phân loại các tập tính đó Sau đó GV dẫn dắt vào nội dung bài học
Vào bài theo phương pháp sử dụng các thông tin thời sự:
Kiểu vào bài này được đánh giá cao về việc liên hệ thực tế, cập nhật thông tin nóng bỏng hàng ngày liên quan đến khoa học sinh học cần giải thích, làm rõ Qua đó, học sinh ngày càng yêu thích bộ môn, tự giác theo dõi các tin tức liên quan và tự tìm cách trả lời bằng kiến thức đã học hoặc mang
đến lớp nhờ giáo viên, bạn nhóm giải quyết
Với hình thức này, tuyệt đối thông tin phải chính xác, giáo viên không thể tự đưa ra thông tin mà không có minh chứng, khiến học sinh nghi vấn thông tin
VD: Dạy bài 35 – Hoocmon thực vật: Trên chương trình thời sự của đài truyền hình Việt Nam đã từng nhắc tới vụ việc cây rau trồng 2 – 3 ngày có thể thu hoạch Vậy tại sao trong thời gian ngắn người ta lại có thể thu hoạch được
số rau đó? Chúng ta sẽ tìm được câu trả lời sau bài học ngày hôm nay
1.3 Cơ sở thực tiễn
Giảng bài mới là bước trọng tâm trong 5 bước của bài lên lớp nghiên cứu nội dung mới Để giới thiệu bài mới, giáo viên có thể đặt vấn đề bằng nhiều cách khác nhau, gây sự hứng thú, tập trung nghe giảng Không nhất thiết bài nào cũng làm, song sự dẫn dắt hấp dẫn của giáo viên sẽ giúp các em tập trung tốt hơn và chỉ cần ngắn gọn
Qua quan sát các giờ dạy Sinh học, qua trò chuyện, trao đổi, qua tìm hiểu giáo án của nhiều giáo viên THPT về thực trạng của việc đặt vấn đề vào bài và qua trao đổi với học sinh cho thấy:
Hầu hết giáo viên nhận thức được vai trò của việc đặt vấn đề vào bài trong dạy học sinh học 11
Trang 17Đa số giáo viên đều thực hiện hoạt động đặt vấn đề vào bài trước khi dạy bài mới
Học sinh có hứng thú với giờ dạy có tạo tình huống, nêu vấn đề
Thực tế cho thấy, nếu giáo viên đặt vấn đề vào bài hấp dẫn, thú vị, tạo được sự tò mò, hứng thú cho học sinh thì các em sẽ tập trung theo dõi, nghiên cứu và tích cực học tập hơn rất nhiều
Như vậy, hiện nay việc đặt vấn đề vào bài mới còn chưa được chú ý đúng mức Điều này đã làm hạn chế hứng thú học tập của học sinh
Trang 18Chương 2 Đề xuất các cách đặt vấn đề vào bài
để dạy học Sinh học 11
2.1 Phân tích nội dung chương trình Sinh học 11 (Sinh học cơ thể)
- Sinh học 11 củng cố, tiếp nối và phát triển những kiến thức sinh học ở
bậc THCS và ở lớp 10 Sinh học 6 và 7 chủ yếu đề cập phân loại, đặc điểm hình thái và cấu tạo của các cơ quan, hệ cơ quan của ĐV và TV Sinh học 8
đề cập giải phẫu và sinh lý người Sinh học 10 đề cập sinh học ở mức tế bào,
nghiên cứu cấu trúc và chức năng sống trong phạm vi tế bào TV, ĐV và VSV
- Sinh học cơ thể đi sâu vào một lĩnh vực tương đối khó nhưng lí thú của sinh học đó là sinh học cơ thể TV và ĐV Sinh học 11 đề cập đến các hoạt động sống, các quá trình sinh học cơ bản ở mức cơ thể như chuyển hóa vật chất và năng lượng, cảm ứng, sinh trưởng và phát triển, sinh sản, mối quan hệ phụ thuộc giữa các quá trình sinh học ở mức cơ thể và mức TB, tác động của môi trường đến quá trình sinh học của cơ thể
- Mỗi chương trong Sinh học 11 được chia thành 2 phần: phần A- Sinh học cơ thể TV, phần B - Sinh học cơ thể ĐV Mặc dù được chia làm 2 phần nhưng các quá trình sinh lý diễn ra trong cơ thể TV và ĐV có những điểm chung và những điểm khác biệt Sự giống nhau trong các chức năng sống chứng tỏ TV và ĐV có nguồn gốc chung Sự khác biệt trong các chức năng sống nói lên sự đa dạng, sự tiến hóa thích nghi của ĐV và TV với môi trường sống
* Phần Sinh học cơ thể có 4 chương:
- Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng
- Chương II: Cảm ứng
- Chương III: Sinh trưởng và phát triển
- Chương IV: Sinh sản
Trang 192.2 Đề xuất các cách đặt vấn đề trong dạy học Sinh học 11 Tên
Chương I:
Chuyển hóa vật chất và năng lượng
Bài 1: Sự hấp thụ nước và muối khoáng ở
- C3: Nước có vai trò rất quan trọng đối với mọi cơ thể sống Vậy nước vào cơ thể thực vật theo cơ chế nào? Rễ có cấu tạo như thế nào để phù hợp với chức năng hút nước? Bài hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu quá trình hấp thụ nước và muối khoáng ở rễ cây
- C4: Như các em đã biết TV là nhóm sinh vật tự dưỡng nghĩa là chúng có khả năng tổng hợp chất hữu cơ từ các chất vô cơ như: CO2, H2O, muối khoáng…Vậy chúng đã lấy các chất đó từ môi trường sống vào cơ thể và sử dụng để tổng hợp chất hữu cơ như thế nào? Các bài trong chương này sẽ lần lượt giải quyết vấn đề đó Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu bài 1: Quá trình hấp thụ nước và muối
Trang 20khoáng ở rễ
Bài 2: Vận chuyển các chất trong cây
- C1: GV gợi ý để HS nhớ lại thí nghiệm chứng minh các chất vận chuyển trong thân, đó là: Ngâm cành hoa trắng vào cốc nước màu và bóc vỏ mạch rây ở 1 cành cây sống
+ Yêu cầu HS giải thích hiện tượng thí nghiệm + GV dựa vào ý kiến của HS để dẫn dắt vào bài
- C2: Ở bài trước chúng ta đã tìm hiểu về quá trình hút nước và muối khoáng ở rễ, vậy nước và muối khoáng sau khi được hấp thụ vào rễ sẽ được vận chuyển đến đâu và nhờ những cơ quan nào? Điều
đó sẽ được tìm hiểu trong bài hôm nay
- C3: Treo tranh H1.3 SGK để chỉ cho HS nhớ lại rằng nước và các ion khoáng xâm nhập từ đất vào đến trung trụ (bó mạch ở trung tâm) của rễ hoặc yêu cầu HS chỉ ra điểm kết thúc của con đường xâm nhập hướng tâm ở rễ
Bài hôm nay chúng ta tiếp tục nghiên cứu con đường xâm nhập của nước và các ion khoáng từ trung trụ của rễ lên lá cũng như các cơ quan khác trên mặt đất (dòng mạch gỗ) và dòng vận chuyển vật chất từ lá xuống rễ và đến các cơ quan dự trữ như hạt, quả, củ…(dòng mạch rây)
- C1: Như chúng ta đã biết sự vận chuyển nước và ion khoáng trong cây là do sự phối hợp của 3 yếu tố: lực đẩy của rễ, lực hút của lá do thoát hơi nước
và lực trung gian Trong đó lực hút của lá do thoát
Trang 21Bài 3:
Thoát hơi nước
hơi nước là cơ bản Vậy sự thoát hơi nước qua lá được thực hiện như thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu bài hôm nay
- C2: Trong bài trước ta đã nói về sự thoát hơi nước
ở lá là động lực đầu trên của dòng vận chuyển nước
và các ion khoáng từ rễ lên lá Bài này chúng ta sẽ nghiên cứu sâu quá trình thoát hơi nước ở lá
- C3: Tại sao nhà sinh lí học thực vật Macxinốp lại khẳng định thoát hơi nước là “tai họa tất yếu” của cây Để trả lời câu hỏi này chúng ta cùng nghiên cứu bài hôm nay
- C4: 98% lượng nước mà rễ cây hấp thụ được bị mất qua con đường thoát hơi nước, 2% lượng nước
đi qua cây được sử dụng để tạo các chất hữu cơ cho
cơ thể Như vậy thoát hơi nước có phải là lãng phí không? Chúng ta cùng tìm hiểu bài hôm nay – bài 3: Thoát hơi nước
Bài 4: Vai trò của các nguyên tố khoáng
- C1: Cây hấp thụ và vận chuyển các nguyên tố dinh dưỡng khoáng để làm gì?
Dựa vào ý kiến trả lời của HS, GV dẫn dắt vào bài
- C2: Sử dụng H4.1 để cho HS quan sát và từ đó dẫn dắt vào bài mới
- C3: Để phát triển bình thường, cây rất cần nước
và các nguyên tố khoáng Ở bài trước chúng ta đã tìm hiểu về vai trò của nước đối với cây, trong bài hôm nay chúng ta sẽ được tìm hiểu về vai trò của
Trang 22các nguyên tố khoáng đối với cây và việc bón phân hợp lý
- C4: Trong cơ thể thực vật chứa nhiều nguyên tố khoáng có trong bảng tuần hoàn Tuy nhiên chỉ có
ở thực vật
- C1: Hãy nêu hỗn hợp phân khoáng phổ biến nhất trong sản xuất nông nghiệp (NPK) Vậy nguyên tố nitơ có vai trò như thế nào đối với đời sống của thực vật? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cùng nghiên cứu bài hôm nay
- C2: Trong các nguyên tố khoáng thiết yếu đối với cây, nitơ đóng vai trò vô cùng quan trọng Vậy vai trò của nguyên tố nitơ đối với cây là gì và cây hấp thụ chúng như thế nào? Chúng ta sẽ được tìm hiểu qua bài hôm nay
Bài 6:
Dinh dưỡng nitơ
ở thực vật (tiếp theo)
- C1: Ở bài trước các em đã biết vai trò quan trọng của nitơ trong dinh dưỡng của thực vật Vậy nguồn cung cấp nitơ cho cây là từ đâu? Bài học hôm nay
sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi này
- C2: Chúng ta biết rằng khi thiếu nitơ cây sinh trưởng còi cọc, lá úa vàng Nhưng cây đã hút và biến đổi nitơ như thế nào? Bằng cách nào có thể cung cấp đủ, đúng lúc phân bón cho cây trồng sinh
Trang 23trưởng tốt, năng suất cao? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cùng nghiên cứu bài hôm nay
Bài 7:
Thực hành:
Thí nghiệm thoát hơi nước và thí nghiệm về vai trò của
phân bón
- C1: Chúng ta đều biết lá thoát hơi nước và việc thoát hơi nước có ý nghĩa rất lớn đối với cây, tuy nhiên tốc độ thoát hơi nước ở lá diễn ra như thế nào cần phải được kiểm tra bằng thí nghiệm
- C2: Bài học hôm nay giúp các em kiểm tra lại kiến thức mà các em đã học về cường độ thoát hơi nước ở lá và tác dụng của các nguyên tố dinh dưỡng đối với đời sống cây trồng
- C3: Quá trình thoát hơi nước diễn ra ở lá, nhưng tốc độ thoát hơi nước qua 2 mặt lá có bằng nhau không? Các em sẽ tìm được câu trả lời bằng thí nghiệm “So sánh tốc độ thoát hơi nước ở hai mặt lá”
- C2: GV nêu câu hỏi: Nguồn thức ăn và oxi cần để duy trì sự sống trên Trái Đất bắt nguồn từ đâu?
HS vận dụng kiến thức THCS và lớp 10 để trả lời
GV dựa vào câu trả lời của HS để dẫn dắt vào nội dung bài học
- C3: Ở phần sinh học 10 các em đã được học về quá trình quang hợp diễn ra ở diệp lục Nhưng đó chỉ là ở cấp độ tế bào, trong bài học hôm nay các
em sẽ được tìm hiểu về quá trình quang hợp ở cấp
Trang 24độ cơ thể, đó là quá trình quang hợp diễn ra ở cây xanh
- C4: Toàn bộ sự sống trên hành tinh của chúng ta phụ thuộc vào quá trình quang hợp Vậy quang hợp
là gì? Nó có vai trò như thế nào đối với sự sống trên Trái Đất? Bộ phận nào tham gia vào quá trình quang hợp Đây chính là nội dung mà các em sẽ được tìm hiểu trong bài hôm nay
- C5: Có người cho rằng quang hợp đóng vai trò quyết định đối với sự sống trên Trái Đất? Theo em câu nói đó có đúng không?
GV giới thiệu: Quá trình quang hợp không chỉ là phương thức dinh dưỡng giúp cây xanh tồn tại, sinh trưởng, phát triển mà còn cung cấp nguồn thức ăn
và năng lượng để duy trì sự sống trên Trái Đất Bài học hôm nay, chúng ta sẽ nghiên cứu về quá trình quang hợp ở TV để tìm hiểu rõ hơn về vai trò, diễn biến của quá trình quang hợp
- C6: Năng lượng mặt trời được đi vào sinh giới nhờ quá trình hấp thụ ánh sáng để quang hợp ở thực vật Vậy quang hợp là gì? Quá trình này diễn ra như thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu bài hôm nay
Bài 9:
Quang hợp
ở các
- C1: Trong bài 8 “Quang hợp ở thực vật”, các em
đã học khái quát về quang hợp và biết: Lá là cơ quan quang hợp có cấu tạo phù hợp với chức năng của nó Còn bản chất của các quá trình quang hợp
ra sao, bài hôm nay sẽ giúp các em hiểu rõ điều đó
Trang 25nhóm thực vật C3, C4
ta cùng tìm hiểu qua bài học ngày hôm nay
Bài 10:
Ảnh hưởng của các nhân tố ngoại cảnh đến quang hợp
- C1: GV có thể cho HS quan sát H8.1 SGK hoặc viết sơ đồ quá trình quang hợp lên bảng để chỉ cho
HS thấy một số điều kiện cần để quá trình quang hợp thực hiện được là ánh sáng, nước, CO2 Đó là một số nhân tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến quang hợp Các nhân tố ngoại cảnh ảnh hưởng như thế nào đến quang hợp là nội dung của bài học ngày hôm nay
- C2: Quang hợp là quá trình sinh lý quan trọng của cây xanh và cho cả thế giới sinh vật Vậy để quang hợp diễn ra cây cần có những điều kiện gì cũng như các nhân tố nào ảnh hưởng đến quá trình quang hợp? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cùng nghiên cứu bài hôm nay
Bài 11:
Quang hợp
và năng suất cây trồng
- C1: Tại sao nhà sinh lý học người Nga Timiriadep lại khẳng định “Bằng cách điều khiển chức năng quang hợp, con người có thể khai thác cây xanh vô hạn” Để hiểu được điều này chúng ta cùng nghiên cứu bài hôm nay
- C2: GV nêu vấn đề: Tại sao nói quang hợp quyết định năng suất cây trồng?
Trang 26+ HS vận dụng hiểu biết về quang hợp để trả lời + GV dựa vào ý kiến của HS để dẫn dắt vào bài
- C3: GV yêu cầu HS nhắc lại bản chất và sản phẩm cuối cùng của quá trình quang hợp Sau đó GV nhấn mạnh sản phẩm cuối cùng của quang hợp là chất hữu cơ Vậy trong sản xuất nông nghiệp cần làm gì để lượng chất hữu cơ ở cây xanh đạt cao nhất? Đó là nội dung của bài học ngày hôm nay
- C4: Khẳng định vai trò của quang hợp đối với năng suất cây trồng (quang hợp quyết định 90-95%
năng suất cây trồng) Người ta đã ứng dụng kiến thức này thông qua việc điều khiển quá trình quang hợp để tăng năng suất cây trồng như thế nào? Nội dung câu trả lời chính là nội dung của bài học ngày hôm nay
Bài 12: Hô hấp ở thực vật
- C1: GV đặt câu hỏi: Hô hấp là gì? Ở thực vật có
- C3: Tại sao vào ban ngày, khi trời nắng nóng ngồi dưới bóng cây ta cảm thấy thoải mái, dễ chịu nhưng vào ban đêm cũng ngồi dưới bóng cây đó ta lại cảm thấy ngột ngạt, khó thở? Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi này
Trang 27- C4: Tại sao người ta có thể sử dụng CO2 – sản phẩm của hô hấp ở nồng độ cao để bảo quản nông phẩm Chúng ta sẽ tìm được câu trả lời qua bài học ngày hôm nay
- C5: Ở thực vật không có cơ quan hô hấp chuyên trách, hoạt động hô hấp ở thực vật diễn ra ở mọi cơ quan của cơ thể Vậy chúng diễn ra như thế nào chúng ta cùng tìm hiểu bài hôm nay
- C6: Thực vật có hô hấp không? Hô hấp ở thực vật
là gì? Diễn ra như thế nào? Nội dung câu trả lời chính là nội dung của bài học ngày hôm nay
- C7: Bài trước cô và các em đã cùng nhau tìm hiểu
về quang hợp ở thực vật Bản chất của quá trình này
là sự hấp thụ CO2 và giải phóng O2 Đây là một trong số những nguyên nhân giải thích cho hiện tượng ban ngày chúng ta ngồi dưới gốc cây sẽ cảm thấy thoải mái, dễ chịu Vấn đề đặt ra là: Tại sao ban đêm chúng ta ngồi dưới gốc cây xanh lại thấy khó chịu hay hiện tượng có người chết ngạt vì để quá nhiều hoa trong phòng kín? Vậy hiện tượng gì
đã xảy ra ở cây xanh? Để giải thích các hiện tượng trên cô và các em cùng tìm hiểu bài hôm nay
Bài 13:
Thực hành:
Phát hiện diệp lục và carôtenôit
- C1: Như các em đã biết hệ sắc tố quang hợp ở cây xanh bao gồm diệp lục và carotenoit Vậy bằng cách nào chúng ta có thể phát hiện diệp lục trong lá
và carotenoit trong lá, quả và củ? Bài học hôm nay
sẽ giúp các em làm được điều đó
Trang 28Bài 14:
Thực hành:
Phát hiện
hô hấp ở thực vật
- C1: Ở bài 9 các em đã được tìm hiểu về hô hấp ở
TV Bài học hôm nay sẽ giúp các em kiểm chứng
sự hô hấp của TV qua sự thải CO2 và sự hút O2
- C2: Chúng ta đã biết hô hấp không chỉ có ở ĐV
mà còn có ở TV Vậy bằng cách nào chúng ta phát hiện được hô hấp ở TV? Đó là nội dung của bài học ngày hôm nay
Bài 15:
Tiêu hóa ở động vật
- C1: GV yêu cầu HS trình bày hiểu biết của mình
về tiêu hóa Sau đó dựa vào ý kiến của HS, GV dẫn dắt vào bài
- C2: GV yêu cầu HS cho biết hình thức dinh dưỡng của động vật là gì? Để hấp thụ được các chất
có trong thức ăn động vật phải có quá trình gì? Sau
đó dựa vào ý kiến của HS, GV dẫn dắt vào bài
Bài 16:
Tiêu hóa ở động vật
(tiếp theo)
- C1: GV yêu cầu HS cho biết tên của một số loài động vật ăn thịt, ăn thực vật và ăn tạp… hoặc GV giới thiệu tên một số động vật như dê, cừu, lạc đà,
sư tử, chó rừng, nhím… và yêu cầu HS cho biết chúng thuộc nhóm động vật ăn thịt, ăn thực vật hay
ăn tạp Sau đó GV dẫn dắt vào bài
- C2: GV giới thiệu: Ở động vật ăn chuyên các loại thức ăn có nguồn gốc động vật hoặc thực vật, ống tiêu hóa có những đặc điểm thích nghi với các loại thức ăn đó Bài học hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu
về đặc điểm tiêu hóa thức ăn ở thú ăn thịt và thú ăn thực vật
- C3: Ở bài trước, chúng ta đã được tìm hiểu về các
Trang 29hình thức tiêu hóa ở động vật Trong những hình thức đó, tiêu hóa trong ống tiêu hóa là tiến hóa hơn
cả Ở bài hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu về đặc điểm của ống tiêu hóa ở hai loài tiến hóa nhất trong ngành động vật – đó là thú ăn thịt và thú ăn thực vật
Bài 17: Hô hấp ở động vật
- C1: GV yêu cầu HS trình bày hiểu biết về hô hấp, sau đó dựa vào ý kiến của HS, GV dẫn dắt vào bài học
- C2: GV nêu vai trò của hô hấp đối với hoạt động sống của mọi cơ thể sinh vật, sau đó dẫn dắt vào bài học
- C3: Con người cũng như một số loài động vật khác có thể nhịn ăn vài ngày nhưng không thể nhịn thở quá 3 phút Điều đó cho thấy hô hấp có vai trò rất quan trọng Vậy hô hấp là gì? Động vật có các hình thức hô hấp chủ yếu nào? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua bài học ngày hôm nay
- C4: Quá trình hô hấp ở động vật bao gồm hô hấp ngoài, vận chuyển khí và hô hấp trong Hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về hô hấp ngoài Hô hấp ngoài là quá trình trao đổi khí giữa cơ thể với môi trường sống thông qua bề mặt trao đổi khí của cơ quan hô hấp như phổi, mang, da,…
Bài 18:
Tuần hoàn máu
- C1: Chúng ta đã biết, ở thực vật các chất dinh dưỡng được vận chuyển trong cây nhờ hệ thống mạch gỗ và mạch rây Còn ở động vật, cơ quan nào
Trang 30thực hiện vai trò đó, chúng ta sẽ tìm hiểu bài hôm nay
- C2: GV yêu cầu HS trình bày những kiến thức về
hệ tuần hoàn, sau đó dựa vào ý kiến của HS để dẫn dắt vào bài học
- C3: Thức ăn được biến đổi thành các chất dinh dưỡng ở hệ tiêu hóa và các chất khí (oxi) của hệ hô hấp không nằm lại một chỗ mà được vận chuyển trong cơ thể Vậy cơ quan nào đảm nhiệm vai trò vận chuyển đó? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cùng nghiên cứu bài hôm nay
- C4: Nhờ đâu mà chất dinh dưỡng và oxi đến được từng tế bào trong cơ thể? Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi này
Bài 19:
Tuần hoàn máu (tiếp
theo)
- C1: GV nêu câu hỏi: Tại sao tim co dãn theo chu kì? Hoạt động này có tác dụng gì? Sau đó GV dựa vào ý kiến của HS để dẫn dắt vào bài
- C2: Tại sao tim người và động vật có thể làm việc suốt ngày đêm, kể cả lúc ngủ trong suốt cuộc đời của con người mà không mệt mỏi? Chúng ta sẽ tìm được câu trả lời sau bài học ngày hôm nay
Bài 20:
Cân bằng nội môi
- C1: GV nêu câu hỏi: Trong hoạt động sống của cơ thể người có những yếu tố nào luôn được cân bằng?
Điều đó có ý nghĩa như thế nào? Sau đó GV dựa vào ý kiến của HS để dẫn dắt vào bài
- C2: Tại sao khi ăn mặn chúng ta thấy khát nước
và khi uống nhiều nước chúng ta lại đi tiểu nhiều?
Trang 31Điều gì xảy ra khi trời quá lạnh hoặc khi thiếu oxi
Nguyên nhân gây bệnh đái tháo đường, cao huyết
áp là gì? Tại sao khi sốt cao kéo dài chúng ta có thể
bị chết? Để trả lời những câu hỏi này chúng ta cùng tìm hiểu bài hôm nay
- C3: Cân bằng nội môi là gì? Cơ chế cân bằng nội môi như thế nào? Tại sao cân bằng nội môi có vai trò quan trọng đối với cơ thể? Chúng ta có thể biết được câu trả lời qua bài học hôm nay
- C4: Hoạt động của cơ thể không chỉ phụ thuộc môi trường ngoài mà còn phụ thuộc môi trường trong Môi trường trong cơ thể có ổn định, phù hợp thì trao đổi chất mới diễn ra bình thường Để trao đổi chất ổn định, cơ thể phải có cơ chế cân bằng nội môi Tìm hiểu sự cân bằng nội môi là nội dung của bài học ngày hôm nay
Bài 21:
Thực hành:
Đo một số chỉ tiêu sinh lí ở người
- C1: Các em đã từng đo nhịp tim, huyết áp và thân nhiệt của mình và của những người xung quanh bao giờ chưa? Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta biết cách đo một số chỉ tiêu sinh lý ở người như nhịp tim, huyết áp và thân nhiệt
- C2: Với các dụng cụ như huyết áp kế, nhiệt kế, đồng hồ bấm giây chúng ta có thể biết sơ lược về tình trạng sức khỏe của mình Vậy cách sử dụng các dụng cụ đó để đo ra sao? Chúng ta cùng tìm hiểu bài hôm nay
Trang 32Bài 22: Ôn tập chương
Chương II: Cảm ứng
Bài 23:
Hướng động
- C1: GV cho HS quan sát một số tranh về cảm ứng
và khẳng định cảm ứng là phản ứng của sinh vật đối với kích thích.Cảm ứng có ở cả động vật và thực vật Ở thực vật cảm ứng gồm 2 hình thức là hướng động và ứng động Bài hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về hướng động
- C2: Ở động vật bậc cao, do hệ thần kinh phát triển
mà chúng có các phản ứng nhanh nhạy với kích thích môi trường Còn ở thực vật không có hệ thần kinh thì khả năng phản ứng như thế nào? Nội dung câu trả lời chính là nội dung của bài học ngày hôm nay
- C3: GV có thể sử dụng hình, ảnh, tranh vẽ để tập trung chú ý của HS và đặt câu hỏi: Vì sao một số cây mọc uốn cong về một hướng, những cây khác thì không?
- C4: GV cho HS quan sát một số tranh hình về hướng động, thí nghiệm chuẩn bị trước và yêu cầu
HS nhận xét
GV dựa trên ý kiến của HS để dẫn dắt vào bài học
Trang 33- C5: GV hỏi: Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta để 1 cây đỗ cạnh cửa sổ hoặc cây bầu ở cạnh cọc rào trong khoảng một tuần? Sau khi HS trả lời, GV khẳng định đó là hiện tượng hướng động Vậy hướng động là gì và nó có vai trò gì đối với đời sống thực vật? Đó là nội dung của bài học hôm nay
Bài 24:
Ứng động
- C1: Bài trước chúng ta đã tìm hiểu về hướng động, bài hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về một hình thức cảm ứng nữa ở thực vật, đó là ứng động Sau khi học xong bài này chúng ta sẽ giải thích được tại sao khi động vào cây trinh nữ, lá cụp lại,tại sao hoa mười giờ lại nở vào khoảng 10 giờ
- C2: GV có thể cho HS quan sát 2 chậu cây:
+ Một chậu trồng cây đậu để trong hộp kín, có lỗ thủng và thân cây vươn về phía có ánh sáng
+ Một chậu trồng cây trinh nữ (đã kích thích vào lá)
Sau đó GV yêu cầu HS nhận xét về phản ứng của 2 chậu cây này với kích thích từ môi trường
HS có thể nhận biết được một chậu cây có tính hướng sáng Từ đó GV giới thiệu phản ứng ở cây trinh nữ và dẫn dắt vào bài
Trang 34- C3: Thực vật có đời sống cố định, thực vật không
có hệ thần kinh Để trả lời những kích thích định hướng, cây xanh hướng động Vậy chúng phản ứng như thế nào với sự tác động của các tác nhân không định hướng? → Ứng động Vậy ứng động là gì?
Cơ chế của ứng động diễn ra như thế nào? Và các kiểu ứng động của thực vật có vai trò gì? Bài học hôm nay chúng ta sẽ cùng trả lời cho các câu hỏi trên
Bài 25:
Thực hành:
Hướng động
- C1: Chúng ta đã biết hướng động gồm có 5 kiểu,
đó là: hướng sáng, hướng trọng lực, hướng hóa, hướng nước và hướng tiếp xúc Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta phát hiện hướng trọng lực của cây và
vị trí tiếp nhận kích thích trọng lực ở cây mầm
Bài 26:
Cảm ứng ở động vật
- C1: Ở phần A, các em đã được nghiên cứu về cảm ứng ở thực vật Trong các bài tới, chúng ta sẽ cùng nhau nghiên cứu về cảm ứng ở nhóm đối tượng thứ hai là động vật
- C2: GV đưa ra ví dụ, khi chạm tay vào cây trinh
nữ thì lá chét cụp lại, khi chạm tay vào con ốc sên đang bò thì ốc sên co mình lại, chui vào trong vỏ và khép miệng lại Như vậy cùng một tác nhân kích thích nhưng động vật phản ứng khác thực vật, chúng khác nhau như thế nào chúng ta sẽ tìm hiểu bài hôm nay – Bài 26: Cảm ứng ở động vật
- C3: Thực vật không có hệ thần kinh nên cảm ứng
ở thực vật diễn ra chậm chạp, còn động vật có hệ
Trang 35thần kinh, cảm ứng của chúng diễn ra như thế nào?
Chúng giống và khác với cảm ứng ở thực vật ra sao? Chúng ta cùng nghiên cứu bài hôm nay
- C4: Các em có cảm giác thế nào khi đi ngoài trời lạnh mà không mặc áo khoác? Có phải các em sẽ bị
“nổi da gà”, các đầu ngón tay thì tê, có khi chúng ta
bị run cả người, hai hàm răng cứ đánh vào nhau
Hiện tượng đó gọi là cảm ứng ở người Còn cảm ứng ở các động vật khác thì sao? Ví dụ khi dùng vật nhọn châm vào chân con ếch thì nó sẽ phản ứng như thế nào? (nếu có mẫu vật thì biểu diễn cho HS xem thí nghiệm)
Chân ếch Chân co lại Tất cả các hiện tượng trên gọi là cảm ứng ở động vật
Vậy cảm ứng ở động vật là gì? Cảm ứng ở động vật có gì khác so với cảm ứng ở thực vật? Để biết câu trả lời chúng ta cùng nghiên cứu bài hôm nay
Bài 27:
Cảm ứng ở động vật (tiếp theo)
- C1: Bài trước chúng ta đã tìm hiểu về cảm ứng ở động vật chưa có tổ chức thần kinh và động vật có
tổ chức thần kinh Bài hôm nay chúng ta tiếp tục nghiên cứu cảm ứng ở nhóm động vật có tổ chức thần kinh bậc cao
- C2: GV yêu cầu HS quan sát H26.1, H26.2 và H27.1 sau đó nhận xét hướng tiến hóa về cấu tạo hệ thần kinh của giới động vật (hướng tiến hóa: từ hệ
Bị kích thích
Trang 36thần kinh dạng lưới đến hệ thần kinh dạng chuỗi hạch và sau cùng là hệ thần kinh dạng ống) Chúng
ta đã tìm hiểu đặc điểm cấu tạo hệ thần kinh cũng như khả năng cảm ứng của các nhóm động vật có
hệ thần kinh dạng lưới và dạng chuỗi hạch ở bài 26
Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu đặc điểm cấu tạo và khả năng cảm ứng của nhóm động vật có hệ thần kinh dạng ống
Bài 28:
Điện thế nghỉ
- C1: Vì sao lại có tên gọi là cá Trình điện? Theo nghiên cứu người ta nhận thấy loài cá này có cách săn mồi rất đặc biệt, khi phát hiện con mồi, nó đã phóng ra những luồng điện mạnh làm tê liệt, thậm chí có thể giết chết con mồi, khi này nó chỉ việc bơi đến để đánh chén Điều này chứng tỏ, cơ thể sống
là có điện, tức là mọi tế bào sống đều có điện (và người ta ví tế bào giống như 1 cục pin nhỏ) Điện trong cơ thể sống được gọi là điện sinh học Điện sinh học có 2 loại: Điện thế nghỉ và điện hoạt động
Bài học hôm nay, chúng ta sẽ nghiên cứu dạng thứ nhất: Điện thế nghỉ
- C2: GV giới thiệu: Các tế bào sống có điện, nghĩa
là cơ thể sống có điện Liệu điện của tế bào có giống với điện thông thường hay không? Chúng ta cùng tìm hiểu bài hôm nay
- C3: Mọi tế bào trong cơ thể đều có khả năng hưng phấn Hưng phấn là sự biến đổi lí hóa xảy ra trong
tế bào khi bị kích thích Một chỉ số quan trọng để