1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự trong SGK Ngữ văn 10 theo lí thuyết kiến tạo

58 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 476,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự trong SGK Ngữ văn 10 được triển khai nhằm củng cố, nâng cao kiến thức về vai trò, tác dụng của các yếu tố miêu tả và biểu cảm trong bài văn t

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian cố gắng, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với

đề tài: Dạy học bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự trong SGK Ngữ

Văn 10, theo LTKT Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc nhất tới các Thầy Cô trong Khoa Ngữ văn, các Thầy, Cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ Văn và đặc biệt là cô giáo - ThS Phạm Kiều Anh đã nhiệt tình giúp

đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Vì điều kiện thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy Cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 05 năm 2013

Sinh viên

Nguyễn Thị Phương

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo -

ThS Phạm Kiều Anh

Tôi xin cam đoan rằng:

- Khóa luận này là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi

- Những tư liệu được trích dẫn trong khóa luận là trung thực

- Kết quả nghiên cứu này không hề trùng với bất kì công trình nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 05 năm 2013

Sinh viên

Nguyễn Thị Phương

Trang 3

SGV: Sách giáo viên THCS: Trung học cơ sở THPT: Trung học phổ thông VBTS: Văn bản tự sự

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Cấu trúc của khóa luận 4

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn dạy học bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự theo LTKT 5

1.1 Những cơ sở về LTKT 5

1.1.1 Lịch sử về LTKT 5

1.1.2 Bản chất của LTKT 6

1.1.3 Cơ sở khoa học của LTKT 7

1.1.4 Các loại kiến tạo trong dạy học 8

1.1.5 Vận dụng quan điểm kiến tạo vào dạy học Làm văn 8

1.2 Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự 10

1.2.1 Văn bản tự sự 10

1.2.2 Sự kết hợp miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự 13

1.3 Cơ sở thực tiễn 15

1.3.1 Khảo sát chương trình 15

1.3.2 Thực trạng dạy học Làm văn ở trường THPT 16

Chương 2: Dạy học bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự theo LTKT 18

2.1 Cơ sở khoa học của sự vận dụng LTKT 18

Trang 5

2.1.1 Những kiến thức và kĩ năng mà HS đã được học trước đó 18

2.1.2 Mục đích của việc dạy học bài này ở trường phổ thông 18

2.2 Dạy học bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự theo LTKT 19

2.2.1 Nội dung bài dạy 19

2.2.2 Xác định các nội dung vận dụng LTKT 20

2.2.3 Xác định mức độ kiến tạo 27

2.2.4 Phương pháp sử dụng khi dạy học bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự theo LTKT 27

2.3 Quy trình dạy học bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự 30

Chương 3: Thực nghiệm 34

3.1 Mục đích thực nghiệm 34

3.2 Đối tượng thực nghiệm 34

3.3 Chủ thể thực nghiệm 34

3.4 Thời gian làm thực nghiệm 34

3.5 Kết quả thực nghiệm 47

KẾT LUẬN 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nghị quyết Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam về định hướng phát triển Giáo dục và Đào tạo năm 2006-2010 nêu rõ: Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lí để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục khu vực và thế giới khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ, phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại của dân, do dân và vì dân đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện cho toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Muốn đạt được những mục tiêu đó, giáo dục phải chuyển mình, phải vận dụng những quan điểm, những hình thức dạy học hiện đại Lí thuyết kiến tạo (LTKT) là một trong những hình thức dạy học đã và đang được áp dụng vào thực tế giáo dục Việt Nam Tuy nhiên, ở nước ta việc nghiên cứu LTKT vào dạy học vẫn còn hạn chế

1.2 Ở bậc THPT, nội dung chương trình Ngữ văn nói chung, phần làm văn nói riêng đã có sự thay đổi so với trước đây Dạy làm văn phải gắn liền với thực tiễn (dạy lí thuyết có rèn kĩ năng), đáp ứng được yêu cầu của thời đại Muốn vậy, cùng với sự thay đổi mục tiêu, nội dung chương trình, cần phải chú trọng việc đổi mới hình thức dạy học Dạy học làm văn theo lí thuyết kiến tạo (LTKT) là một kiểu dạy học mới nhằm phát huy năng lực nhận thức, phát huy tính chủ động sáng tạo của học HS, lấy HS làm trung tâm

1.3 Bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự trong SGK Ngữ văn

10 được triển khai nhằm củng cố, nâng cao kiến thức về vai trò, tác dụng của các yếu tố miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự, qua đó giúp HS biết kết

Trang 7

hợp hai yếu tố này khi tạo lập văn bản tự sự (VBTS) Tuy đây là kiến thức cũ

mà các em đã được học ở chương trình Ngữ văn THCS song khi dạy học giáo viên (GV) còn gặp nhiều lúng túng Nó ảnh hưởng tới hoạt động nhận thức của chủ thể HS Vận dụng LTKT vào bài dạy sẽ góp phần tạo ra sự mới mẻ, nhằm đạt hiệu quả cao khi dạy học

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài dạy học bài Miêu tả

và biểu cảm trong bài văn tự sự trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1 theo

LTKT

2 Lịch sử vấn đề

Trên thế giới hiện nay có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về LTKT khi dạy học các môn học khoa học như: Jerome Bruner (1990), Glaserleld Ernstvm (1984), Wittork (1985)…

Nhắc đến LTKT, tác giả Brandt (1997) cho rằng: LTKT là một lí thuyết dạy học dựa trên cơ sở nghiên cứu quá trình học tập của con người và dựa trên quan điểm cho rằng mỗi cá nhân tự xây dựng lên tri thức của mình không chỉ đơn thuần là tiếp nhận tri thức từ người khác Còn nhà nghiên cứu Brooks (1993) nhấn mạnh: Quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng HS cần phải biết thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trong cái mà HS đã có từ trước đó HS lập nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác với những chủ thể và ý tưởng

Ở trong nước, gần đây cũng có nhiều tác giả nghiên cứu vận dụng LTKT vào dạy học như: Bùi Gia Thịnh [26], Nguyễn Hữu Châu [4], Dương Bạch Dương [5], Lương Việt Thái [25], Nguyễn Đình Hưng [9]… Tác giả Dương Bạch Dương [5] đã nghiên cứu phương pháp giảng dạy một số khái niệm, định luật trong chương trình vật lí lớp 10 THPT theo quan điểm kiến tạo Tác giả Dương Bạch Dương đã đề cập tới luận điểm của J Piaget và Vưgotski về nhận thức nhưng không đề cập tới thuyết kiến tạo căn bản và

Trang 8

thuyết kiến tạo xã hội cùng mối quan hệ giữa chúng trong dạy học kiến tạo Luận án của tác giả Dương Bạch Dương chỉ giới hạn nghiên cứu phương pháp dạy học một số kiến thức về động học và động lực học trong chương trình Vật lí lớp 10 THPT Xuất phát từ các quan niệm sai của HS, tác giả đã đưa ra phương pháp dạy học để HS tự bộc lộ những quan niệm sai và xây dựng quan niệm đúng Tác giả Lương Việt Thái [25] nghiên cứu việc vận dụng LTKT vào dạy học một số kiến thức phần ánh sáng và âm thanh trong môn khoa học ở Tiểu học và trong môn Vật lí ở THCS… Khi nói về kiến tạo, GS.Tiến sĩ Nguyễn Bá Kim cho rằng: theo chủ nghĩa kiến tạo trong tâm lí học, học tập là quá trình trong đó người học xây dựng kiến thức cho mình bằng cách thích nghi với môi trường sinh ra mâu thuẫn, những khó khăn và những sự mất cân bằng, tuy nhiên như nhiều nhà lí luận dạy học của Pháp đã khẳng định một môi trường có dụng ý sư phạm là không đủ để chủ thể kiến tạo được tri thức theo đúng yêu cầu mà xã hội mong muốn.Vì vậy quan trọng

là thiết lập những tình huống có dụng ý sư phạm để người học học tập trong

hoạt động học tập bằng thích nghi Tuy nhiên, ở nước ta chưa có nghiên cứu

nào về việc vận dụng LTKT vào dạy học Làm văn THPT

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu LTKT nhằm tìm ra một kiểu dạy học mới, để vận dụng sáng tạo và nâng cao chất lượng dạy học phần Làm văn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài phải đảm bảo các nhiệm vụ sau:

- Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

- Tổ chức thực nghiệm và đánh giá tính khả thi của những đề xuất được trình bày trong khóa luận

Trang 9

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dạy học theo LTKT

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Vận dụng LTKT vào dạy học bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Sử dụng phiếu điều tra, phiếu học tập

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học bài Miêu tả và

biểu cảm trong bài văn tự sự

Chương 2: Tổ chức dạy học bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự

sự theo LTKT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Kết luận Tài liệu tham khảo

Trang 10

Theo J.Piaget, trí tuệ là sự thích nghi tiêu biểu nhất, sự cân đối đồng hóa liên tục các sự vật, hiện tượng vào hoạt động riêng và sự điều ứng những

cơ cấu đồng hóa ấy vào bản thân những sự vật, hiện tượng Trí tuệ được tạo từ quá trình điều chỉnh sự mất thăng bằng nhận thức để thích nghi với những đòi hỏi và thách thức của môi trường Sự điều chỉnh đó không dẫn tới việc lặp lại

Trang 11

trạng thái cân bằng nhận thức cũ mà dẫn tới sự cân bằng nhận thức ở mức cao hơn - một sự cân bằng động, thường trực, kết thúc một quá trình tiến hóa, đó

là cân bằng tăng trưởng

Cũng theo J.Piaget, một người mong muốn hiểu được những kinh nghiệm mới bằng những cái mà người đó đã biết rồi (đồng hóa kinh nghiệm) Khi một người không thể đồng hóa được một kinh nghiệm nào đó giống như

đã đồng hóa những kinh nghiệm trước thì sẽ xảy ra sự mất cân bằng nhận thức Để lặp lại sự mất cân bằng về nhận thức thì người học phải cấu trúc lại những kiến thức hiện có hoặc kiến tạo thành bộ kiến thức mới Như vậy có thể nhận thấy lí thuyết của J.Piaget về nhận thức không có gì trái với quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng Cơ chế nhận thức trong quan điểm của Piaget đòi hỏi chủ thể phải tích cực chủ động và sáng tạo

1.1.2 Bản chất của LTKT

Quan điểm của kiến tạo đặc biệt chú trọng tới vai trò trung tâm của người học trong quá trình dạy học: Người học trong quá trình dạy học kiến tạo phát huy tối đa tính chủ động, tích cực trong việc huy động kiến thức, kĩ năng đã có để kiến tạo kiến thức mới cho mình Vì thế, chủ thể của hoạt động học phải chủ động bộc lộ những quan điểm, những hoài nghi, những khó khăn khi đứng trước tình huống học tập mới Từ đó, họ phải chủ động và tích cực trong việc trao đổi thông tin, kiến thức với bạn học và với GV, phải tự điều chỉnh lại kiến thức của bản thân sau khi đã lĩnh hội được các tri thức mới thông qua việc giải quyết các tình huống trong học tập

Tuy nhiên người dạy cũng có vai trò riêng Người dạy phải tổ chức môi trường học tập mang tính kiến tạo chứ không truyền thụ kiến thức một cách thụ động, máy móc các vấn đề có sẵn Vì thế, người dạy phải khơi dậy được lòng ham muốn khám phá tri thức, phải hiểu được nhu cầu nhận thức của người học, đặt người học vào các tình huống có vấn đề Từ đó người học tập

Trang 12

trung cao độ vào giải quyết các mâu thuẫn nhận thức, huy động toàn bộ các kinh nghiệm của bản thân để lĩnh hội tri thức Muốn vậy, người dạy phải lựa chọn các PPDH phù hợp với tri thức dạy học thì quá trình tư duy của người học mới đạt hiệu quả cao, phải coi trọng những kiến thức và kinh nghiệm đã

có của người học để từ đó người dạy đặt ra các tình huống nằm trong vùng phát triển gần nhất của người học Ngoài ra, người dạy tổ chức cho người học giao tiếp với nhau, hướng dẫn người học tích cực tự giác trình bày và thảo luận các vấn đề của mình, đồng thời phải biết đánh giá, nhận xét các ý kiến của người khác Qua đó, người dạy nhận được thông tin ngược chiều từ phía người học Hơn nữa người dạy phải thường xuyên đánh giá và giúp người học

tự đánh giá để tự điều chỉnh quá trình dạy học Như vậy vai trò của người dạy trong quá trình dạy học là rất lớn Mặc dù không là trung tâm trong quá trình dạy học nhưng người dạy vẫn tham gia trong suốt quá trình dạy học

1.1.3 Cơ sở khoa học của LTKT 1.1.3.1 Cơ sở tâm lí học

LTKT được đề ra trên cơ sở tâm lí học phát triển của Piaget và lí luận

về vùng phát triển gần nhất của Vưgôtski Hai nhà khoa học trên, khi nghiên cứu quá trình phát triển tâm lí và nhận thức con người đều nhận thấy: mỗi cá nhân đều có vùng phát triển gần nhất của riêng mình, thể hiện tiềm năng phát triển của cá nhân đó Nếu các hoạt động dạy học được tổ chức trong vùng phát triển gần nhất thì sẽ đạt hiệu quả cao Hai ông còn nhấn mạnh rằng văn hóa, ngôn ngữ và các tương tác xã hội cũng tác động lên việc kiến tạo tri thức của mỗi cá nhân Trước khi đến trường mỗi trẻ em đã có một vốn kinh nghiệm nhất định nào đó HS bắt đầu học từ những kinh nghiệm đó chứ không phải từ con số không Các hoạt động dạy học được thiết kế trên những kinh nghiệm đã

có sẽ làm cho trẻ tích cực và đạt được tri thức một cách nhanh nhất

Trang 13

1.1.3.2 Cơ sở giáo dục học

Quá trình dạy học gắn liền với quá trình nhận thức của HS Đó chính là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của HS, diễn ra theo quy luật từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng trở

về thực tiễn Quá trình nhận thức của HS được hình thành và phát triển trong những điều kiện sư phạm nhất định Vì thế, đó không phải là quá trình tìm ra cái mới cho nhân loại mà là nhận thức được cái mới cho bản thân rút ra từ kho tàng hiểu biết chung của loài người

1.1.4 Các loại kiến tạo trong dạy học

Nghiên cứu LTKT, các nhà khoa học thường nhắc tới hai loại kiến tạo

Đó là kiến tạo cơ bản và kiến tạo xã hội Kiến tạo cơ bản là lí thuyết về nhận thức nhằm miêu tả cách thức các cá nhân xây dựng tri thức cho bản thân trong quá trình học tập, quan tâm đến sự chuyển hóa bên trong của mỗi cá nhân trong quá trình nhận thức, đồng thời coi trọng những kinh nghiệm của HS trong quá trình họ hình thành thế giới quan khoa học cho mình

Không giống với kiến tạo cơ bản, kiến tạo xã hội nhấn mạnh đến vai trò

của văn hóa, các điều kiện xã hội và sự tác động của chúng đến sự hình thành nên tri thức của xã hội loài người Vì thế, kiến tạo xã hội luôn nhấn mạnh đến khả năng tiềm ẩn là con người trong sự đối thoại, đến vai trò của các yếu tố xã hội trong quá trình kiến tạo tri thức trong sự xung đột giữa các cá nhân Đó mới là động lực quan trọng của quá trình phát triển

1.1.5 Vận dụng quan điểm kiến tạo vào dạy học Làm văn 1.1.5.1 Mô hình dạy học theo LTKT

Dạy học theo LTKT tập trung vào các nhân tố: Kiến thức  Dự đoán, giả thuyết  Kiểm nghiệm  Thích nghi  Kiến thức mới (kiến tạo)

Tri thức là những hiểu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng có trong

tự nhiên và xã hội còn kinh nghiệm là điều hiểu biết có được do tiếp xúc với thực tế, do từng trải

Trang 14

Dự đoán là hoạt động của HS đoán trước điều có thể xảy ra Dự đoán ở đây dựa trên một vốn tri thức, kinh nghiệm nhất định nào đó Khi HS có nhiều kinh nghiệm, các em sẽ có nhiều dự cảm về những khả năng và những hướng giải quyết có nhiều khả năng thành công hơn HS có ít kinh nghiệm Dự đoán

có thể theo quy nạp, suy diễn theo phép tương tự hay dựa trên những kết quả của sự quan sát, cảm nhận của học sinh Từ đó hình thành sơ đồ nhận thức trong đầu mỗi HS Vì vậy GV cần tạo cơ hội cho HS thấy tri thức mới, dự đoán cách thức giải quyết và nảy sinh nhu cầu, tạo niềm hứng thú cho HS Tuy nhiên dự đoán cần được kiểm nghiệm

Kiểm nghiệm là quá trình HS lập luận, suy luận có lí để khẳng định hoặc phủ định dự đoán Để có được điều này, HS cần có tư duy phê phán và cần có quá trình thử và sai Tư duy phê phán giúp người học hiểu bản chất vấn đề điều chỉnh hay thay đổi quan niệm của mình cho phù hợp với vốn tri thức mới Quá trình thử và sai giúp học sinh có cơ hội lựa chọn các đề tài và phương pháp học tập với sở thích cá nhân, từ đó phát huy óc sáng tạo

1.1.5.2 Mục tiêu của dạy học kiến tạo trong Làm văn

Vận dụng LTKT vào dạy học Làm văn nhằm: giúp HS nắm kiến thức sâu sắc hơn, bền vững hơn Từ đó, các em phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo và tinh thần hợp tác trong học tập của HS Ngoài ra, dạy học kiến tạo nhằm giúp HS rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, năng lực hành văn, năng lực tự đánh giá của mình; tạo được niềm hứng thú, say mê khi các

em học môn Làm văn, biết vận dụng các kiến thức mới mà mình xây dựng được để làm các bài tập Làm văn; tạo mối quan hệ gần gũi giữa GV và HS

Đó là con đường HS chủ động chiếm lĩnh tri thức mới một cách nhanh nhất

1.1.5.3 Ý nghĩa của việc dạy học làm văn theo LTKT

Dạy học Làm văn theo LTKT có những ý nghĩa nhất định Trước hết, dạy học kiến tạo mang ưu điểm của kiểu dạy học tích cực, lấy HS làm trung tâm, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình dạy học

Trang 15

Thứ hai, dạy học kiến tạo tạo ra sản phẩm kép: tri thức và tri thức phương pháp HS không chỉ nắm được tri thức một cách vững chắc mà còn biết cách thức để tìm ra tri thức đó Mặt khác đây là kiểu dạy học đón trước vùng phát triển gần nhất, dạy học gắn liền với tâm lí cũng như quá trình phát triển nhận thức của con người

Ngoài ra, HS được phát triển kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tìm kiếm và chia sẻ thông tin, kĩ năng hợp tác nhóm… Học tập theo LTKT tạo cơ hội cho

HS phát triển kĩ năng học tập trình bày các giải pháp, áp dụng các thông tin nhằm phát triển sơ đồ nhận thức của mình Dạy học Làm văn theo LTKT còn giúp HS say mê, hứng thú trong việc chiếm lĩnh các tri thức có tính chất khái niệm ghi nhớ… giúp HS khắc sâu thêm kiến thức, biết vận dụng vào khi tiến hành thực hành

Tuy nhiên, dạy học theo LTKT vẫn tồn tại một số hạn chế như: tốn thời gian, không phải nội dung nào trong Làm văn cũng có thể vận dụng được mô hình dạy học kiến tạo Mặt khác dạy học theo LTKT, yêu cầu GV phải có vốn

kiến thức sâu rộng và sự am hiểu sâu sắc về LTKT

1.2 Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự

1.2.1 Văn bản tự sự 1.2.1.1 Khái niệm

Cho đến nay, tuy có nhiều ý kiến khác nhau về VBTS nhưng có thể

hiểu một cách chung nhất: phương thức tự sự (hay VBTS) là trình bày một

chuỗi sự việc liên quan đến nhau, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, nhằm nêu ra vấn đề, bài học, ý nghĩa, bày tỏ thái độ khen chê [2, tr.5] VBTS được sử dụng với mục đích là kể, thuật, trình bày sự

việc, nhân vật… giúp cho người đọc (người nghe) có thể hiểu, nắm được nhân vật, sự việc, sự kiện Chẳng hạn, với mục đích giúp người đọc, người nghe nắm được tính cách, số phận người nông dân trong xã hội Việt Nam trước

Trang 16

Cách mạng tháng Tám 1945, truyện ngắn Lão Hạc (Nam Cao) kể về sự đói

khổ của nhân vật lão Hạc - một lão nông nghèo khổ, giàu tình thương con… nhưng kết thúc là cái chết đầy bi kịch của lão

1.2.1.2 Đặc điểm

Ngoài việc phải đảm bảo những yêu cầu đối với một văn bản nói chung

đó là tính chính xác, nhất quán, rõ ràng, mạch lạc và liên kết chặt chẽ, VBTS còn có những đặc trưng riêng như sau:

Thứ nhất, VBTS có sự kiện, biến cố, cốt truyện trong khi các loại văn bản khác không có hay không cần đến các yếu tố này Cốt truyện nếu có, được tổ chức thành chuỗi, biến cố xảy ra liên tiếp, cái này nối tiếp cái kia, xô đẩy nhau tới đỉnh điểm buộc phải giải quyết và kết thúc Sự kiện trong VBTS luôn được xem là tiêu chí quan trọng để nhận diện loại văn bản này Sự kiện tạo nên mạch chính cho tác phẩm - cũng là mạch quy luật của đời sống qua đó con người bộc lộ bản chất, tính cách cũng như hiện tượng đời sống Ví dụ

trong văn bản truyện Tấm Cám, có thể nêu lên những sự việc tiêu biểu sau:

- Giới thiệu về gia cảnh của Tấm và Cám

- Tấm và Cám được dì ghẻ sai đi bắt tôm tép, Cám lừa Tấm đổ hết tôm tép vào giỏ của mình, Tấm được bụt cho con cá bống

- Mẹ con Cám lừa giết bống, Tấm nhặt lấy xương chôn dưới bốn chân giường

- Vua mở hội, Tấm theo lời bụt đào các lọ xương bống lấy quần áo đẹp cưỡi ngựa đi xem hội, trên đường đi, Tấm đánh rơi một chiếc giày xuống nước

- Tấm thử vừa chiếc giày vua nhặt được và được vua rước về cung làm hoàng hậu

- Mẹ con Cám tìm cách hãm hại Tấm, Tấm chết đi sống lại nhiều lần dưới những hình dạng khác nhau: chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị

Trang 17

- Bà lão qua đường mang thị về nhà, thị biến thành cô Tấm ở cùng bà bán hàng nước

- Vua ghé vào quán nước, nhìn trầu têm cánh phượng vua nhận ra Tấm

Thứ hai, VBTS dùng lời kể để thuật lại về thời gian, địa điểm, gợi ra đặc điểm của nhân vật, sự kiện, phân tích tâm trạng, tình huống nhằm làm hiện lên bức tranh đời sống Lời kể và lời miêu tả chiếm tỉ lệ lớn và giữ vai

trò chủ đạo trong lời văn nghệ thuật của VBTS Ví dụ: tác phẩm Chiếc thuyền

ngoài xa (Nguyễn Minh Châu) là phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng phát

hiện ra một bức tranh toàn bích vào một buổi sáng sớm, cảnh chiếc thuyền ngoài xa Nhưng càng đến gần, Phùng chứng kiến cảnh gia đình hàng chài chồng đánh vợ, con đánh bố… ở tòa người đàn bà hàng chài xin tòa không bắt mình phải bỏ chồng… Từ đó Phùng nhận ra ý nghĩa ẩn đằng sau đó là sự hi sinh của một người vợ, tình thương yêu của mẹ dành cho con, là sự khổ cực, Phùng mới vỡ lẽ ra nhiều điều trong cuộc sống, trong nghệ thuật

Thứ ba, ngôn ngữ trong VBTS là ngôn ngữ kể và có kết hợp với các phương thức diễn đạt khác (miêu tả, biểu cảm, nghị luận…) Ngôn ngữ tự sự được tạo bởi vô vàn lời nói, cách nói, giọng nói khác nhau Tuy nhiên trong các thành phần ngôn ngữ, lời kể, lời miêu tả của nhân vật kể chuyện luôn là

Trang 18

thành phần quan trọng nhất Sau lời kể, lời miêu tả luôn ẩn hiện một chủ thể

kể, tả nhất định (hình tượng người kể chuyện) Khi cần người kể chuyện có thể sử dụng các phương thức miêu tả (văn miêu tả), biểu cảm (văn biểu cảm), nghị luận (văn nghị luận)… để tăng sức tạo hình, khắc họa nhân vật, sự kiện, tâm trạng mà mình đang kể lại

1.2.2 Sự kết hợp miêu tả và biểu cảm trong VBTS 1.2.2.1 Miêu tả trong văn bản tự sự

Theo tác giả Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) trong cuốn Làm văn, miêu tả

trong đời sống là một hành động có tính chất phổ biến Nhờ miêu tả, con người mới có thể “tiếp xúc” với vô vàn các sự vật, hiện tượng trong thế giới

mà không nhất thiết chúng phải trực tiếp xuất hiện Miêu tả giúp con người ghi lại những kết quả quan sát được, tìm hiểu các sự vật, hiện tượng… từ đó

có khả năng tích lũy những tri thức về thế giới xung quanh

Miêu tả trong VBTS là cách người viết sử dụng miêu tả nhằm khắc họa đối tượng, chân dung một sự vật, một hiện tượng hay một con người nào đó

Nhà văn Phạm Hổ cho rằng: Miêu tả giỏi là khi đọc những gì chúng ta viết,

người đọc như nhìn thấy cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người, một con vật, một dòng sông… người đọc còn có thể nghe được cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy, thậm chí còn ngửi được cả mùi mồ hôi, mùi sữa, mùi hương hoa hay mùi rêu, mùi ẩm mốc… Trong VBTS, miêu tả thường xuất

hiện sau khi giới thiệu về một cảnh, một sự vật, một hiện tượng hay một con người nào đó Miêu tả giúp người đọc hình dung ra sự vật, sự việc một cách

cụ thể Vì thế người viết thường dùng liên tưởng, ví von, so sánh…nhằm khơi

gợi trí tưởng tượng của người đọc Như vậy, miêu tả trong văn tự sự được sử

dụng với mục đích tái hiện đối tượng song khi miêu tả, thái độ và tình cảm của người viết vẫn được thể hiện một cách gián tiếp thông qua cách nhìn nhận

sự việc, cách sử dụng từ ngữ Vì thế, người viết cần có sự chọn lọc ngôn từ và

Trang 19

giàu vốn chữ nghĩa Để miêu tả người viết thường dùng những tính từ, từ

tượng thanh, tượng hình làm sinh động sự kiện được thuật lại Nam Cao miêu

tả ngoại hình của Chí Phèo sau khi ở tù về: Hắn về lần này trông khác hẳn,

mới đầu chẳng ai biết hắn là ai trông đặc như thằng sắng cá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần áo nái đen với cái áo tây vàng Cái ngực phanh đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế Trông gớm chết… [13, tr.146]

Nam Cao miêu tả thị Nở “xấu ma chê quỷ hờn” với nhiều từ ngữ tượng hình thật sinh động .Nhưng người đàn bà ấy lại là thị Nở , một người ngẩn

ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn Cái mặt của thị thực là một sự mỉa mai của hóa công: Nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang hơn bề dài, thế mà hai má nó lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu hai má nó phinh phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn, là thứ mặt vốn nhiều hơn người ta tưởng trên cổ người Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành bạnh muốn chen lẫn nhau với những cái môi cũng cố to cho không thua với cái mũi có lẽ vì cố quá cho nên chúng nứt nở như rạn ra Đã thế thị lại ăn trầu thuốc, hai môi dày được bồi cho dày thêm, cũng may quết trầu sánh lại, che được cái màu thịt trâu xám ngoách Đã thế những cái răng rất to lại chìa ra: ý hẳn chúng nghĩ

sự cân đối chữa được một vài phần cho sự xấu… [28, tr49-50]

Dường như những từ ngữ trên đã giúp Nam Cao phô bày được sự xấu

xí của Thị Nở trước mắt người đọc Qua đây, Nam Cao tái hiện cuộc gặp gỡ giữa kẻ lưu manh Chí Phèo với người đàn bà xấu xí thị Nở - một cuộc gặp gỡ

có một không hai trong Văn học Việt Nam, thấm đẫm tư tưởng nhân văn của tác giả

Trang 20

1.2.2.2 Biểu cảm trong VBTS

Biểu cảm là sự biểu lộ tình cảm, cảm xúc trong thế giới nội tâm của con người thông qua phương tiện là ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ Trong VBTS người viết thường bày tỏ cảm xúc, thái độ, tình cảm với sự kiện được nêu Khi đó, người viết phải sử dụng biểu cảm

Để biểu cảm người viết thường sử dụng từ ngữ tình thái, tính từ chỉ trạng thái, tình cảm Ngoài ra trong VBTS, yếu tố biểu cảm thường xuất hiện sau khi người viết đưa ra các sự kiện hoặc chốt lại các sự kiện đã được thuật hay khi người viết nêu lên bản chất, đánh giá của bản thân đối với những sự

kiện ấy Ví dụ đoạn trích sau trong truyện ngắn Lẵng quả thông của Pau-tốp-xki:

Một hôm, Gi-gơ bắt gặp trong rừng một cô bé có đôi bím tóc nhỏ xíu, con ông gác rừng Em bé đang nhặt những quả thông bỏ vào lẵng

Trời đang thu Nếu như ta lấy hết đồng và vàng trên Trái Đất đem đánh thành muôn vàn lá cây rất mực tinh xảo thì những chiếc lá đó cũng chỉ có thể làm thành một phần rất nhỏ bộ quần áo mà mùa thu đang trải trên những ngọn núi kia mà thôi Vả lại, những chiếc lá nhân tạo nọ sẽ rất thô kệch nếu

so với lá thật, nhất là những lá liễu hoàn diệp Mọi người đều biết rằng chỉ cần một tiếng chim hót thôi cũng đủ làm chúng run rẩy

Trong đoạn trích trên, yếu tố biểu cảm giúp cho người đọc không chỉ hình dung vẻ đẹp của bức tranh mùa thu mà còn như cảm nhận được niềm say đắm của nhân vật Gi-gơ khi bất ngờ nhận ra sự tuyệt vời của mùa thu

Trang 21

những tri thức cơ bản giúp HS hiểu đúng về kiểu văn bản này, đồng thời giúp các em vận dụng những tri thức ấy vào quá trình đọc hiểu các VBTS

Lên THPT, các em tiếp tục được rèn luyện về VBTS Bài Miêu tả và

biểu cảm trong bài văn tự sự được triển khai nhằm củng cố lại kĩ năng thực

hiện kết hợp hai yếu tố khi tạo lập văn bản cho HS Qua đó giúp các em nhận thấy vai trò quan trọng của quan sát, liên tưởng, tưởng tượng đối với việc miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự

1.3.2 Thực trạng dạy học làm văn ở trường THPT

Làm văn là một trong ba phần môn Ngữ văn gồm: Tiếng Việt - Làm văn

- Đọc hiểu Từ thực tế dự giờ, điều tra ở trường THPT chúng tôi nhận thấy:

Khi dạy học Làm văn, GV thường chuyển tải kiến thức một chiều đến

HS GV tổ chức dạy học Làm văn một cách khô khan, khiên cưỡng, mà ít bổ sung, sáng tạo cho phù hợp hơn với đối tượng Điều đó dẫn tới thực tế HS còn

phụ thuộc vào GV, có tâm lí chán học, thụ động

Trong giờ học, HS thường có thái độ chán học, không chú ý tới bài giảng Các em ngại tham gia vào bài học, tình trạng mất trật tự trong giờ học vẫn thường xuyên xảy ra, năng lực vận dụng lí thuyết vào thực hành còn kém,

Vì thế, chất lượng dạy học Làm văn chưa đạt hiệu quả

Trang 22

Tiểu kết chương 1

LTKT là một lí thuyết về nhận thức Dạy học theo LTKT quan tâm nghiên cứu việc con người học như thế nào Nó nhấn mạnh vai trò cá nhân trong mối tương tác xã hội với bạn học và GV Từ đó, dạy học kiến tạo nhằm giúp cho HS nhận ra và tự nguyện thay đổi những quan niệm sai lầm, xây dựng được kiến thức mới và nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của HS

Do đó mục tiêu của dạy học kiến tạo cũng là mục tiêu của dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học Làm văn nói riêng

Việc dạy học Làm văn theo LTKT là một trong những cách tiếp cận dạy học tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình học tập Đồng thời vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học Làm văn nói chung và dạy học

bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự nói riêng sẽ kích thích tinh thần,

hứng thú say mê học tập ở các em, giúp cho giờ học trở nên hấp dẫn, sinh động, thu hút sự chú ý của HS, giúp các em hiểu vấn đề một cách nhanh nhất, giờ học sôi nổi, đạt hiệu quả cao

Trang 23

Chương 2 DẠY HỌC BÀI “MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ” TRONG SGK NGỮ VĂN 10 THEO LÍ THUYẾT KIẾN TẠO

2.1 Cơ sở khoa học của sự vận dụng LTKT

2.1.1 Những kiến thức và kĩ năng mà HS đã được học trước đó

Ở THCS, chương trình làm văn đã cung cấp cho các em những kiến thức và kĩ năng cơ bản về văn bản nói chung và các văn bản cụ thể như: văn bản miêu tả, văn bản nghị luận, VBTS, cách xây dựng đoạn văn, liên kết đoạn văn… Như vậy, các kiến thức về miêu tả và biểu cảm các em đều đã được học

ở trước đó, trong các tác phẩm văn học, trong đời sống hàng ngày

Lên lớp 10, các em tiếp tục được rèn luyện kĩ năng kết hợp hai yếu tố này trong VBTS qua các ví dụ, đoạn trích trong SGK… Từ đó, các em biết vận dụng vào quá trình tạo lập và tiếp nhận văn bản Dựa vào những vốn kiến thức

đã biết, HS tự kiến tạo nên tri thức mới thông qua thảo luận, phân tích, dưới sự

hướng dẫn của GV… Bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự không phải

là bài mới Do đó hoàn toàn có thể tiến hành dạy học bài này theo LTKT

2.1.2 Mục đích của việc dạy học bài này ở THPT

Bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự trong SGK Ngữ văn 10

được dạy với thời lượng một tiết nhằm cung cấp những kiến thức và kĩ năng

Về tư tưởng, thái độ: có ý thức rèn luyện để nâng cao năng lực miêu tả

và biểu cảm nói chung, quan sát, liên tưởng, và tưởng tượng nói riêng khi viết bài văn tự sự

Trang 24

2.2 Dạy học bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự theo LTKT

2.2.1 Nội dung bài dạy

Nội dung bài học được chia làm 2 phần: phần lí thuyết (xen kẽ phân tích ví dụ SGK) và phần thực hành (bài tập luyện tập)

Phần I Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự Ở phần này, SGK tập

trung vào các kiến thức:

Miêu tả là sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật làm cho người nghe, người đọc, người xem có thể thấy sự vật, hiện tượng, con người như đang hiện ra trước mắt

Biểu cảm là sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện cảm xúc, tâm trạng, tình cảm của nhân vật hay chính người viết trước sự vật, sự việc, hiện tượng, con người trong đời sống

Để đánh giá hiệu quả của miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự, người ta căn cứ vào hiệu quả tác động của văn bản tới nhận thức và cảm xúc của người đọc, người nghe Miêu tả hình ảnh hấp dẫn, biểu cảm phải chân thực

Miêu tả và biểu cảm có vai trò quan trọng đối với bài văn tự sự Miêu

tả giúp cho câu chuyện được kể thêm hấp dẫn, sinh động Biểu cảm giúp cho câu chuyện được kể tác động trực tiếp tới tình cảm tới tình cảm, cảm xúc của người đọc, người nghe

Phần II Quan sát, liên tưởng, tưởng tượng Theo SGK, những nội dung

kiến thức cơ bản bao gồm:

Liên tưởng: từ sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ đến sự vật, hiện tượng có liên quan

Quan sát: xem xét, biết rõ sự vật hay hiện tượng

Tưởng tượng: tạo ra trong tâm trí hình ảnh của cái không hề có trước mắt hoặc chưa hề gặp

Trang 25

Vai trò của quan sát, liên tưởng, tưởng tượng trong miêu tả và tự sự: Quan sát giúp cho việc miêu tả được kĩ càng, đối tượng hiện lên chân thực, cụ thể; liên tưởng, tưởng tượng để đối tượng trở nên sinh động, hấp dẫn

Phần III Luyện tập Ở phần này, SGK trình bày 2 bài tập:

Bài tập 1 Đây là kiểu bài nhận diện: yêu cầu HS từ một VBTS, tìm ra các yếu tố miêu tả và biểu cảm Cuối cùng GV giúp HS nhận xét về vai trò, giá trị của miêu tả, biểu cảm trong bài văn tư sự bất kì đã học ở lớp 10 HS tìm hiểu

đoạn trích truyện ngắn Lẵng quả thông của nhà văn nổi tiếng Pau-tôp-xki

Bài tập 2 Đây là kiểu bài tái hiện: yêu cầu HS từ những kiến thức đã biết về miêu

tả, biểu cảm, về vai trò của chúng, viết một VBTS có sử dụng kết hợp hai yếu

tố này kể về một chuyến đi đã đem lại cho em nhiều cảm xúc (một lần về quê, một chuyến tham quan, du lịch…) GV hướng dẫn HS về nhà làm bài tập

2.2.2 Xác định nội dung vận dụng dạy học theo LTKT

Từ bản chất của LTKT, khi khảo sát SGK, chúng tôi xác định nội dung kiến tạo như sau:

2.2.2.1 Đối với phần I Miêu tả và biểu cảm trong VBTS

Đây là những kiến thức HS đã được học ở lớp dưới GV hướng dẫn HS nhắc lại kiến thức về miêu tả, biểu cảm trong VBTS

Dựa vào SGK, chúng tôi đề xuất nội dung dạy học theo LTKT như sau:

* Kiến tạo kiến thức về miêu tả:

GV tạo tình huống học tập, đặt câu hỏi, HS bộc lộ quan niệm có trước của mình về miêu tả: đó có thể là miêu tả trong đời sống hay miêu tả trong nghệ thuật Sau đó, HS kiểm nghiệm kiến thức của mình Trên cơ sở đó, GV hợp thức hóa kiến thức của học sinh, rút ra nhận xét khái niệm miêu tả:

Trang 26

Miêu tả là sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật (hình tượng) hoặc một phương tiện nghệ thuật khác làm cho người nghe, người đọc, người xem có thể thấy

sự vật, hiện tượng, con người như đang hiện ra trước mắt

* Kiến tạo kiến thức về biểu cảm:

GV tạo tình huống học tập bằng cách nêu vấn đề: đối với một VBTS,

yếu tố biểu cảm đóng vai trò quan trọng Em hiểu thế nào là biểu cảm?

HS lần lượt trình bày ý kiến của mình: biểu cảm là thể hiện thái độ, tình cảm, thể hiện trực tiếp cảm xúc của người nói, người viết…GV giúp HS kiểm nghiệm, hợp thức hóa kiến thức rút ra kết luận phù hợp nhất:

Biểu cảm là sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện tâm trạng, cảm

xúc, tình cảm của nhân vật hay chính người viết trước sự vật, sự việc, hiện tượng hay chính con người trong đời sống

* Kiến tạo kiến thức về sự giống và khác nhau của miêu tả trong văn

miêu tả với miêu tả trong văn tự sự (tương ứng với Câu hỏi 2 SGK/tr 73):

GV đặt câu hỏi: miêu tả trong VBTS có hoàn toàn giống với miêu tả

trong văn miêu tả hay không?

HS dự đoán: giống - không giống

Từ đó, GV giúp HS kiểm nghiệm kiến thức đúng hay sai bằng cách đưa

ra hai đoạn văn bản mẫu:

Đoạn văn 1 Đoạn văn 2

… Chiều, chiều rồi Một chiều êm ả

như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào Trong cửa hàng hơi tối, muỗi

đã bắt đầu vo ve Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn

…Ông Nghị đâm chéo đôi đũa

qua mặt mâm, bưng bát nước canh đánh soạt Rồi ông vừa nhai vừa nuốt, vừa giục thằng nhỏ lấy tăm Ông bà Nghị, mỗi người nhúng ba ngón tay vào chậu, vuốt qua hai mép một lượt, rồi

Trang 27

của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị; Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn…

[13, t r.94]

cùng uống nước xỉa răng… Dứt mạch diễn thuyết, ông Nghị bưng tách nước húp một hớp lớn, xúc miệng òng ọc mấy cái rồi nhổ toẹt xuống nền nhà… [24, tr.30]

Đây là hai đoạn văn, một văn bản miêu tả và một văn bản tự sự, GV yêu cầu HS tìm ra các yếu tố miêu tả trong hai đoạn văn này Sau đó, giúp HS nhận ra sự giống và khác nhau của hai yếu tố này trong hai văn bản

HS thảo luận, tìm các yếu tố miêu tả trong hai đoạn văn… Từ đó, HS

dự đoán:

+ Giống nhau: đều tái hiện sự vật, hiện tượng một cách rõ nét

+ Khác nhau: miêu tả trong văn bản tự sự: vai trò phụ, còn miêu tả trong văn bản miêu tả: vai trò chính…

GV tổng hợp ý kiến, phân tích, giải thích và hợp thức hóa kiến thức

GV nhấn mạnh:

+ Điểm giống giữa hai yếu tố miêu tả trong hai văn bản này, giống nhau về cách thức thực hiện: tái hiện tính chất, thuộc tính của sự vật, hiện tượng làm cho chúng hiện lên rõ nét; giống về mục đích: giúp người đọc, người nghe cảm nhận và hiểu được chúng

+ Khác nhau ở mức độ: trong văn bản tự sự, yếu tố miêu tả chỉ đóng vai trò phụ trợ; trong văn bản miêu tả, miêu tả là chủ đạo, vai trò quan trọng

* Kiến tạo kiến thức biểu cảm trong văn bản tự sự và biểu cảm trong văn bản biểu cảm:

GV đặt câu hỏi: biểu cảm trong văn bản tự sự và biểu cảm trong văn

bản biểu cảm có điểm gì giống và khác nhau?

Trang 28

HS dự đoán:

Giống nhau: thể hiện tình cảm, thái độ

Khác nhau: biểu cảm trong văn bản tự sự là phụ, trong văn bản biểu cảm là chính

GV kiểm nghiệm, thách thức quan niệm có trước của HS bằng cách đưa

ra hai đoạn văn ngắn có sử dụng yếu tố biểu cảm Sau đó yêu cầu HS tìm ra yếu tố biểu cảm, thấy được sự giống và khác nhau của hai văn bản này

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng

Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế cứ rượu xong là hắn chửi Bắt đầu hắn chửi trời Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai Tức mình, hắn chửi ngay cả làng

Vũ Đại Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “chắc nó trừ mình ra”! Không ai lên tiếng cả Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! [13, tr.146]

HS thảo luận, nhận xét: biểu cảm trong VBTS là yếu tố phụ, trong văn bản biểu cảm là yếu tố chính; có ý kiến lại cho rằng biểu cảm giữ vai trò như nhau trong hai văn bản…

GV hợp thức hóa kiến thức, tổng hợp ý kiến đúng sai của HS, nhận xét:

Biểu cảm trong văn bản tự sự và biểu cảm trong văn biểu cảm giống nhau ở

Trang 29

phương thức thể hiện: bày tỏ trực tiếp hoặc gián tiếp thái độ, tình cảm của người nói, người viết về một đối tượng nào đó; ở mục đích: bày tỏ tình cảm

và khơi gợi tình cảm

Khác nhau: trong VBTS, yếu tố biểu cảm xuất hiện ít, giúp cho văn bản trở nên hấp dẫn, sinh động; trong văn bản biểu cảm, yếu tố biểu cảm giữ vai trò chủ đạo, không thể thiếu

+ Khác nhau ở mức độ: trong văn bản tự sự, yếu tố miêu tả chỉ đóng vai trò phụ trợ; trong văn bản miêu tả, miêu tả là chủ đạo, vai trò quan trọng

2.2.2.2 Ở phần II Quan sát, liên tưởng, tưởng tượng đối với việc miêu

tả và biểu cảm trong bài văn tự sự

* Kiến tạo về kiến thức quan sát, liên tưởng, tưởng tượng (tương ứng

với Câu hỏi 1, SGK/tr.75):

GV đặt vấn đề: Để tạo lập một VBTS thành công, người viết ngoài sử

dụng yếu tố miêu tả và biểu cảm còn chú ý tới kĩ năng gì?

HS suy nghĩ, dự đoán: quan sát, liên tưởng, tưởng tượng…

GV hỏi tiếp: Em hiểu như thế nào về quan sát, liên tưởng, tưởng

tượng?

HS chọn từ thích hợp vào ô trống:

a Liên tưởng b Quan sát c Tưởng tượng

GV hợp thức hóa kiến thức của HS, rút ra nhận xét trong SGK:

a Liên tưởng: từ sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ đến sự việc có liên quan Ví dụ: từ ảnh nhớ đến người, từ người nhớ đến những kỉ niệm…

b Quan sát: xem xét để nhìn rõ, biết rõ sự vật hay hiện tượng Ví dụ:

quan sát đêm sao, quan sát thí nghiệm…

c Tưởng tượng: tạo ra trong tâm trí hình ảnh của cái không hề có ở trước mắt hoặc chưa hề gặp.Ví dụ: tưởng tượng cuộc sống tương lai của

mình, tưởng tượng chiếc xe máy mới…

Ngày đăng: 07/04/2018, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (Chủ biên), Nguyễn Trí (2001), Làm văn, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Làm văn
Tác giả: Lê A (Chủ biên), Nguyễn Trí
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2001
2. Lê A (chủ biên) (2009), Thực hành làm văn lớp 10, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành làm văn lớp 10
Tác giả: Lê A (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
3. Nguyễn Hữu Châu (1999), Dạy học và quá trình dạy học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
4. Nguyễn Hữu Châu (2007), Dạy học kiến tạo, Dự án đào tạo GVTHCS Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học kiến tạo
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: Dự án đào tạo GVTHCS Hà Nội
Năm: 2007
5. Dương Bạch Dương (2002), Nghiên cứu phương pháp giảng dạy một số khái niệm, định luật trong chương trình vật lí lớp 10 THPT theo quan điểm kiến tạo, Luận án tiến sĩ Giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp giảng dạy một số khái niệm, định luật trong chương trình vật lí lớp 10 THPT theo quan điểm kiến tạo
Tác giả: Dương Bạch Dương
Nhà XB: Luận án tiến sĩ Giáo dục học
Năm: 2002
6. Nguyễn Văn Đường (Chủ biên), thiết kế bài học Ngữ văn 10, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: thiết kế bài học Ngữ văn 10
Nhà XB: Nxb Hà Nội
7. Lê Bá Hán (Chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khắc" Phi (2004), "Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán (Chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
8. Tô Hoài (2007), Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
10. Phan Trọng Luận (chủ biên), Lê A, Nguyễn Xuân Nam (2000), Làm văn lớp 11, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn lớp 11
Tác giả: Phan Trọng Luận, Lê A, Nguyễn Xuân Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
11. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (2008), SGK Ngữ văn 10, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 10, tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
12. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (2008), SGV Ngữ văn 10, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Ngữ văn 10
Tác giả: Phan Trọng Luận (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
13. Phan Trọng Luận (chủ biên), SGK Ngữ văn 11, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 11, tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb Giáo dục
14. Phan Trọng Luận (chủ biên), SGK Ngữ văn 11, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 11
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (2009) Thiết kế bài học Ngữ văn 10, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ văn 10
Nhà XB: Nxb giáo dục
16. Phan Trọng Luận (Chủ biên (2006), Tài liệu bồi dưỡng Giáo viên môn Ngữ văn 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng Giáo viên môn Ngữ văn 10
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
17. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và Phương pháp dạy học trong nhà trường, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và Phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2005
18. Nhiều tác giả (2004), Văn miêu tả và kể chuyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả và kể chuyện
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
19. Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên) (2009), SGK Ngữ văn 6, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 6, tập 1
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
20. Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên) (2009), SGV Ngữ văn 6, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Ngữ văn 6
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
21. Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), SGK Ngữ văn 8, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 8, tập 1
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w