Trong đó, các vấn đề về kế toán quản trị được đề cậplà: Xây dựng dự toán bộ phận và dự toán tổng thể doanh nghiệp; tập hợp, hạch toánchi phí, tính giá thành theo nhiều phương pháp; phân
Trang 1Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Lê Thị Vân Anh
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 6
1.1 KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 6
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí 6
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí 7
1.2 VAI RÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 9
1.3 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 11
1.3.1 Đặc điểm sản phẩm xây lắp 11
1.3.2 Đặc điểm chi phí và phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 13
1.3.2.1 Đặc điểm chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 13
1.3.2.2 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 14
1.4 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 18
1.4.1 Dự toán chi phí xây lắp 18
1.4.1.1 Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 19
1.4.1.2 Dự toán chi phí nhân công trực tiếp 19
1.4.1.3 Dự toán chi phí sử dụng máy thi công 19
1.4.1.4 Dự toán chi phí chung 20
1.4.2 Các phương pháp tập hợp chi phí sản phẩm xây lắp 21
1.4.3 Xác định giá phí sản phẩm xây lắp 21
1.4.4 Kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 25
1.4.4.1 Định mức chi phí 25
Trang 31.4.6 Mô hình tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp 35
Kết luận chương 1 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG 38
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG 38
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty CP Tư vấn Đầu tư và Xây dựng 38
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty 38
2.1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty 39
2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh 40
2.1.2.1.Đặc điểm và tổ chức sản xuất kinh doanh 40
2.1.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty 41
2.1.2.3 Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty 44
2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐÀU TƯ VÀ XÂY DỰNG 47
2.2.1 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh 47
2.2.2 Lập dự toán chi phí xây lắp 50
2.2.2.1 Vai trò của lập dự toán chi phí xây lắp 50
2.2.2.2 Tổ chức lập dự toán chi phí xây lắp 50
2.2.3 Kế toán chi phí và xác định giá phí sản phẩm xây lắp 56
2.2.3.1 Kế toán chi phí xây lắp 56
2.2.3.2 Xác định giá phí sản phẩm xây lắp 67
2.2.4 Thực hiện kiểm soát chi phí 68
2.2.5 Phân tích thông tin thích hợp cho việc ra quyết định 68
2.2.6 Mô hình kế toán quản trị 72
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG 72
2.3.1 Những kết quả đạt được 72
2.3.2 Những mặt tồn tại 73
Trang 42.3.2.4.Về phân tích chi phí để ra quyết định kinh doanh 74
2.3.2.5 Về công tác lập báo cáo kế toán quản trị chi phí 75
2.3.2.6.Về mô hình kế toán quản trị 75
Kết luận chương 2 76
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG 77
3.1 SƯ CẦN THIẾT VÀ YÊU CẦU HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG 77
3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty CP Tư vấn Đầu tư và Xây dựng 77
3.1.2 Yêu cầu cơ bản để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty CP Tư vấn Đầu tư và Xây dựng 78
3.2 HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG 79
3.2.1 Phân loại chi phí phục vụ cho kế toán quản trị 79
3.2.2 Hoàn thiện công tác lập dự toán chi phí 83
3.2.3 Về việc xác định giá phí sản phẩm xây lắp và định giá khi đấu thầu 90
3.2.4 Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí 92
3.2.4.1 Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch chi phí sản xuất 93
3.2.4.2 Báo cáo kiểm soát chi phí 94
3.2.4.3 Báo cáo đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận 97
3.2.5 Xây dựng mô hình tổ chức kế toán quản trị để thu nhận và xử lý thông tin 99
3.3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 102
Kết luận chương 3 103
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
PHỤ LỤC
Trang 5BHXH Bảo hiểm xã hội
CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếpCPNCTT Chi phí nhân công trực tiếpCPSDMTC Chi phí sử dụng máy thi côngCPSXC Chi phí sản xuất chung
CPQLDN Chi phí quản lý doanh nghiệp
Trang 62.2 Bảng dự toán chi tiết 53
3.1 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí 81
3.6 Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch chi phí sản xuất 933.7 Báo cáo thực hiện chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 953.8 Báo cáo thực hiện chi phí nhân công trực tiếp 963.9 Báo cáo thực hiện chi phí sử dụng máy thi công 96
Trang 72.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 43
2.4 Quy trình ghi chép theo hình thức kế toán trên máy tính 46
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế, tạo
ra cơ sở vật chất - kỹ thuật để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp xây lắp không chỉ có ý nghĩa nội
bộ mà còn có ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn.Trong các doanh nghiệp xây lắp, chi phíthường chiếm một tỷ lệ khá lớn so với doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Vìvậy, nếu không có biện pháp quản lý tốt chi phí thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợinhuận và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Thế nhưng cũng như mọi loại hìnhdoanh nghiệp khác, trong doanh nghiệp xây lắp hiện nay, việc tổ chức kế toán quảntrị chi phí chưa được chú trọng triển khai tại các doanh nghiệp
Thực tế tại Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng – C.I.CO mới chủyếu đề cập đến kế toán chi phí phục vụ cho mục tiêu kế toán tài chính tức là lập cácbáo cáo tài chính mang tính tổng quát vào cuối kỳ, mặc dù hệ thống kế toán quản trị
đã có những biểu hiện nhất định, nhưng nhìn chung vẫn còn khá mới mẻ về lý luậncũng như tổ chức thực hiện, thông tin chi phí chưa mang tính phân tích, đánh giábiến động theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, chưa dự báo được tương lai, chưathực sự có ích cho nhà quản trị ra quyết định quản lý
Với hệ thống kế toán quản trị chi phí như hiện nay các doanh nghiệp xây lắpViệt nam khó có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh đầy khốc liệt, khi màngày càng có nhiều nhà thầu trong và ngoài nước cùng tham gia đấu thầu
Từ những lý do trên đây mà bản thân đã mạnh dạn chọn đề tài: " Hoàn thiện
kế toán quản trị chi phí xây lắp tại Công ty Cổ Phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng"
để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hoá làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị chiphí tại doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng Đề tài vận dụngnhững lý luận và phương pháp phân tích khoa học để nghiên cứu thực trạng côngtác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Tư vấn Đầu tư và Xây dựng, từ đó đánh giá
Trang 9thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí và đề xuất những giải pháp nhằm hoànthiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty CP Tư vấn Đầu tư và Xây dựng góp phầnphục vụ công tác quản lý công ty hiệu quả hơn.
3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hiện nay, có rất nhiều nhà khoa học đã nhận ra tầm quan trọng và đi sâu tìmhiểu về kế toán quản trị, trong đó phải kể đến là giáo trình “Kế toán quản trị” củaPGS.TS Trương Bá Thanh, TS Trần Đình Khôi Nguyên, ThS Lê Văn Nam,PGS.TS Phạm Văn Dược, TS Đoàn Xuân Tiên,… đã nghiên cứu bản chất, nội dung
và vận dụng kế toán quản trị trong điều kiện ở Việt Nam Các giáo trình được biênsoạn trên cơ sở tham khảo nhiều tài liệu kế toán quản trị ở các nước có nền kinh tếphát triển trên thế giới, đồng thời kết hợp những quy định trong thông tư hướng dẫn
kế toán quản trị ở Việt Nam Trong đó, các vấn đề về kế toán quản trị được đề cậplà: Xây dựng dự toán bộ phận và dự toán tổng thể doanh nghiệp; tập hợp, hạch toánchi phí, tính giá thành theo nhiều phương pháp; phân tích biến động chi phí để tìm
ra các nguyên nhân chênh lệch nhằm cung cấp thông tin cho việc điều hành, quảntrị doanh nghiệp; cung cấp các thông tin thích hợp cho việc ra các quyết định; phântích mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận (CVP); tổ chức bộ máy kế toánquản trị
Tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, kế toán quản trị chi phíđược coi là công cụ quản lý khoa học và có hiệu quả nhằm kịp thời xử lý và cungcấp thông tin về chi phí đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị, song tạiViệt Nam Kế toán quản trị chi phí còn là vấn đề rất mới mẻ, chưa được ứng dụngmột cách phổ biến Ngày 12 tháng 6 năm 2006, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư
số 53/2006/TT-BTC về việc “Hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanhnghiệp”, nhưng việc triển khai, áp dụng cụ thể vào từng loại hình doanh nghiệp nhưthế nào thì còn nhiều vấn đề phải xem xét và nghiên cứu Xuất phát từ nhu cầu trên,nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về KTQT chi phí trong DN sản xuất kinh doanh.Nhiều tác giả vận dụng KTQT vào các doanh nghiệp Việt Nam với nhiều khía cạnh,góc độ khác nhau như: Đặng Kim Cương (2000) nghiên cứu về “Vận dụng kế toán
Trang 10quản trị và phân tích kinh doanh trong doanh nghiệp nông nghiệp”, Phạm Thị KimVân (2002) nghiên cứu về “tổ chức kế toán quản trị chi phí và kết quả kinh doanh ởcác doanh nghiệp kinh doanh du lịch”, Dương Thị Mai Hà Trâm (2004) nghiên cứu
“xây dựng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Dệt Việt Nam”, PhạmThị Thủy (2007) với luận án “ Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong cácdoanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam”,…
Ngoài ra còn nhiều đề tài mang tính ứng dụng trong từng đơn vị cụ thể:
Đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty cổ phần cao su Đà Nẵng” - luận văn thạc sỹ của Võ Thị Hồng Phương (năm 2011) Cao su là một sản
phẩm công nghiệp chủ lực và nằm trong mười mặt hàng xuất khẩu chủ yếu củanước ta hiện nay Để đáp ứng việc quản lý tốt nguồn thế mạnh này, tác giả đã đi sâunghiên cứu, hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về kế toán quản trị chi phí trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh cao su, từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằmhoàn thiện tổ chức KTQT chi phí, kiểm soát chi phí của các trung tâm chi phí, phântích những biến động chi phí để tìm ra nguyên nhân, đề xuất cách khắc phục, giúpnhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn trong môi trường cạnh tranh thế giới
Đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại công ty Cổ phần Bia Phú Minh” của Ngô Thị Hường (năm 2010) Công trình nghiên cứu chuyên sâu
về công tác kế toán quản trị chi phí áp dụng cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanhbia tươi khi doanh nghiệp này đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn về thịtrường tiêu thụ sau khi Việt Nam gia nhập WTO cũng như chính sách tăng thuế tiêuthụ đặc biệt bắt đầu từ năm 2010 lên 50%
Qua các đề tài nghiên cứu này, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bảncủa kế toán quản trị cũng như kế toán quản trị chi phí và vận dụng vào các ngành cụthể như ngành xuất khẩu cao su, ngành sản xuất và kinh doanh bia
Một số tác giả đã đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực xây lắp như:
Nguyễn Thị Tâm với đề tài “Tăng cường kiểm soát nội bộ về chi phí xây lắp tại Công ty Xây lắp và Công nghiệp Tàu thủy Miền Trung” (Năm 2011) Tác giả tập
trung nghiên cứu lý luận về kiểm soát chi phí xây lắp trong doanh nghiệp, nghiên
Trang 11cứu thực trạng công tác kiểm soát chi phí, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoànthiện và tăng cường chất lượng của công tác kiểm soát chi phí xay lắp tại tại Công
ty Xây lắp và Công nghiệp Tàu thủy Miền Trung Đề tài đã tập trung chủ yếu vàovấn đề: Hoàn thiện thông tin phục vụ kiểm soát nội bộ chi phí xây lắp, tăng cườngkiểm soát tuân thủ, tăng cường áp dụng hình thức kiểm soát hoạt động, xây dựng vàđánh giá các trung tâm chi phí Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm góp phần thiếtthực trong việc thực hiện tốt các mục tiêu của công tác kiểm soát chi phí xây lắp,ngăn ngừa các rủi ro của việc kiểm soát chi phí
Tác giả Nguyễn Thị Kim Cường với đề tài tài “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Vinaconex 25” (Năm 2010) Trong luận văn này, tác giả
đã đi sâu nghiên cứu, hệ thống hoá và phát triển các lý luận chung về kế toán quảntrị chi phí phục vụ hiệu quả cho quản trị nội bộ áp dụng trong doanh nghiệp xây lắp;phân tích, đánh giá thực trạng kế toán chi phí tại Công ty CP Vinaconex 25, từ đóhoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty CP Vinaconex 25 theo hướng hệthống kế toán quản trị chi phí hiện tại, có thể cung cấp thông tin hữu ích cho cácnhà quản trị trong việc ra các quyết định kinh doanh trong môi trường cạnh tranhkhắc nghiệt
Qua những tài liệu tham khảo trên và trên cơ sở kế thừa những lý luận về Kếtoán quản trị nói chung và Kế toán quản trị chi phí nói riêng, tác giả đã hệ thốngđược một số nội dung cơ bản về Kế toán quản trị chi phí đối với doanh nghiệp xây
lắp, từ đó đã triển khai, vận dụng, và tìm ra những giải pháp mới cho đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí xây lắp tại Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng” của mình.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần
Tư vấn Đầu tư và Xây dựng như định mức tiêu hao nguyên vật liệu, lập dự toán chiphí, tập hợp chi phí phát sinh; phân tích chi phí để phục vụ kiểm soát chi phí và raquyết định kinh doanh
Trang 12- Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề thuộc kế toán quản trị chi phí xây lắp phục vụCông ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng.
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp để có được các thông tin liên quan đếncông tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty
- Phương pháp so sánh, được dùng để phân tích sự biến động chi phí sản xuất tạiCông ty
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp Kế toán trưởng và các nhân viênliên quan để tìm hiểu về công tác xây dựng định mức chi phí, phân loại chi phí, lập
dự toán, phân tích biến động chi phí… Ngoài ra, tác giả còn phòng vấn lãnh đạophòng ban liên quan như phòng kế hoạch - kỹ thuật, …
6 Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá được cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanhnghiệp nói chung, doanh nghiệp xây lắp nói riêng
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty
CP Tư vấn Đầu tư và Xây dựng
- Đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tạiCông ty CP Tư vấn Đầu tư và Xây dựng, góp phần tích cực phục vụ cho nhà quảntrị công ty đưa ra các quyết định đúng đắn và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệpChương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí xây lắp tại Công ty Cổ phần
Tư vấn Đầu tư và Xây dựng
Chương 3: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí xây lắp tại công ty Cổ phần
Tư vấn Đầu tư và Xây dựng
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để đạt được mục tiêu cuối cùng là thuđược lợi nhuận tối đa trên mỗi sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp cần phải nắm rõsản xuất, kinh doanh mặt hàng nào, sản phẩm nào có lãi, mặt hàng nào, sản phẩmnào sẽ bị lỗ bằng cách tính toán, phân tích, tổng hợp từng yếu tố chi phí để so sánhvới doanh thu của từng nhóm sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đang sản xuất,kinh doanh Điều này đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải được cung cấpnhững thông tin đặc biệt khác nhau từ kế toán quản trị
Xuất phát điểm của kế toán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu vềquá trình tính toán giá phí sản phẩm như giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất; nhằm đề
ra các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quả kinh doanhtheo từng hoạt động Cho đến nay, khi bàn về bản chất của kế toán quản trị có nhiềuquan điểm khác nhau, chẳng hạn như:
Theo Ronald W Hilton, Giáo sư Đại học Cornell (Mỹ): "Kế toán quản trị làmột bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựavào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức" [tr.6, 10]
Theo Ray H Garrison: "Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung cấp tài liệucho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệmtrong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó" [tr.9, 12]
Theo quan điểm của Giáo trình Kế toán quản trị - Trường Đại học kinh tếquốc dân xuất bản năm 2002: "Kế toán quản trị là qui trình định dạng, đo lường,tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phitài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện kế
Trang 14hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp và để đảm bảo cho việc sử dụng cóhiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này"
Theo Điều 4 Luật Kế toán Việt Nam năm 2003: "Kế toán quản trị là việc thuthập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị
và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán" [tr.15, 2]
Từ những quan điểm trên có thể rút ra khái niệm chung về kế toán quản trịnhư sau: Kế toán quản trị là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tinđịnh lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể, giúp cácnhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chứcthực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị
Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp tồn tại và hoạt động phảichi nhiều khoản chi phí khác nhau trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh và chiphí có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Do đó, vấn đề được đặt
ra là làm sao có thể kiểm soát được tất cả các khoản chi phí Kế toán quản trị chi phí
là công cụ hữu hiệu đáp ứng nhu cầu thông tin chi phí cho các nhà quản trị để đưa
ra các quyết định kinh doanh, cơ sở cho kiểm soát, sử dụng chi phí của đơn vị mộtcách có hiệu quả
Như vậy, kế toán quản trị chi phí là việc thu thập, xử lý, phân tích và cungcấp các thông tin về chi phí của doanh nghiệp nhằm giúp các nhà quản trị doanhnghiệp thực hiện tốt các chức năng quản trị chi phí trong quá trình kinh doanh
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Trước khi nghiên cứu bản chất của kế toán quản trị chi phí, ta xem xét bảnchất của kế toán quản trị nói chung:
- Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung của doanhnghiệp, đồng thời là công cụ quan trọng không thể thiếu đối với công tác quản trịnội bộ doanh nghiệp Kế toán quản trị được coi như một hệ thống nhằm trợ giúpcho các nhà quản lý ra quyết định, là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lýtrong doanh nghiệp
Trang 15- Kế toán quản trị chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tàichính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp Những thông tin
đó chỉ có ý nghĩa đối với những người, những bộ phận và những nhà điều hành,quản lý doanh nghiệp, không có ý nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài
- Thông tin kế toán quản trị chủ yếu cung cấp cho các nhà quản trị doanhnghiệp để đưa ra các quyết định điều hành sản xuất kinh doanh
- Thông tin kế toán quản trị thường cụ thể và mang tính định lượng vì nó gắnvới các hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp
- Mục đích sử dụng thông tin kế toán quản trị là để hoạch định và kiểm soáthoạt động của doanh nghiệp, nó được cụ thể hoá thành các chức năng cơ bản củanhà quản trị: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, phân tích đánh giá và ra quyết định
Theo thông tư số 53/2006/TT- BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ tàichính: "Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ củadoanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc,sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chiphí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữachi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyếtđịnh đầu tư ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh; nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế"
Xét từ phương diện kế toán, thông tin chủ yếu nhất mà kế toán quản trị xử lý
và cung cấp cho các nhà quản trị là thông tin về chi phí Trong quá trình kinh doanhcủa các doanh nghiệp, chi phí thường xuyên phát sinh, gắn liền với mọi hoạt động
và có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thu được Hơn nữa, trên góc độ quản lý, chiphí phần lớn phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, chịu sự chi phối chủ quan củanhà quản trị, do vậy, kiểm soát và quản lý tốt chi phí là mối quan tâm hàng đầu của
họ Mặt khác, kế toán quản trị chi phí với nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp thông tintoàn diện và đầy đủ về chi phí cho các nhà quản trị trong quá trình thực hiện cácchức năng quản trị
Trang 16Như vậy, bản chất của kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toánquản trị chuyên thực hiện việc xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin về chi phínhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoạch định, tổchức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định.
1.2 VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm trong công tác quản lý hoạtđộng sản xuất kinh doanh của nhà quản trị Chi phí ảnh hưởng trực tiếp đến nguồnlợi nhuận, tài sản, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nhận thức, tiên liệumột cách đúng đắn, khoa học về chi phí là tiền đề để nhà quản trị đi đến các quyếtđịnh hợp lý
Vai trò của kế toán quản trị chi phí thể hiện trong các khâu của quá trình quản
lý được thể hiện cụ thể như sau:
* Trong giai đoạn lập kế hoạch
Kế toán quản trị chi phí cụ thể hóa các mục tiêu trong kế hoạch thành các dựtoán chi phí sản xuất kinh doanh Kế toán quản trị chi phí cũng cung cấp thông tin
về chi phí ước tính để phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị, do thông tin
mà nhà quản trị cần là linh hoạt chứ không thể dựa vào chi phí thực tế phát sinhđược Ví dụ trong trường hợp doanh nghiệp cần có những quyết định mang tính tácnghiệp khi doanh nghiệp phải chào giá đấu thầu hay quyết định nhanh về chấp nhậncác đơn chào hàng từ khách hàng
* Trong giai đoạn tổ chức thực hiện
Để thực hiện tốt chức năng này, nhà quản trị cũng phải có nhu cầu rất lớn đốivới các thông tin kế toán quản trị chi phí, chẳng hạn nhà quản trị cần được kế toáncung cấp thông tin để ra các quyết định kinh doanh đúng đắn trong quá trình điềuhành, chỉ đạo thực hiện các quyết định hàng ngày- các quyết định ngắn hạn (quyếtđịnh loại bỏ hay tiếp tục duy trì kinh doanh một bộ phận nào đó; quyết định tự sảnxuất hay mua ngoài; quyết định nên bán nửa thành phẩm hay tiếp tục chế biến…)
Trang 17Ngoài ra, các quyết định dài hạn trong quá trình thực hiện các kế hoạch đầu tư dàihạn cũng cần phải có các thông tin cần thiết và đầy đủ.
* Trong giai đoạn kiểm tra và đánh giá:
Kế toán quản trị chi phí cung cấp các báo cáo hoạt động giúp ích cho nhàquản trị kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch, kiểm soát chi phí và đạt được hiệuquả kinh doanh tối ưu
Các báo cáo về khả năng sinh lời của các bộ phận khác nhau trong doanhnghiệp về các sản phẩm, dịch vụ hoặc các hoạt động giúp ích cho nhà quản trị quyếtđịnh lựa chọn kinh doanh sản phẩm, dịch vụ hoặc hoạt động nào mang lại lợi nhuận
Các báo cáo so sánh kết quả thực hiện với dự kiến về doanh thu, chi phí, lợinhuận là căn cứ để đánh giá hiệu quả của hoạt động quản lý, giúp ích cho nhà quản trị
tự cố gắng hơn nữa trong việc thực hiện công việc quản lý của mình
Thực tế là các nhà quản trị thừa hành thường đánh giá từng phần trong phạm
vi kiểm soát của họ thông qua các báo cáo kế toán quản trị tương ứng với phần hành
mà nhà quản trị đó kiểm soát Các nhà quản trị cấp cao hơn, không tham gia trựctiếp vào quá trình hoạt động hàng ngày, đánh giá và kiểm tra dụa vào các báo cáothực hiện của từng bộ phận thừa hành do kế toán quản trị cung cấp
* Trong khâu ra quyết định
Phần lớn thông tin do kế toán quản trị chi phí cung cấp nhằm giúp các nhàquản trị ra quyết định Đó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu quảntrị doanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, đến kiểm tra, đánh giá
Để có các quyết định đúng đắn và kịp thời, các nhà quản trị cần phải có cácthông tin đầy đủ, đáng tin cậy và thích hợp Không có thông tin thì không thể raquyết định quản lý Đồng thời, nếu có quá nhiều thông tin nhiễu loạn, không phùhợp thì sẽ dẫn đến sự “ giết chết thông tin” Vì vậy, các thông tin thích hợp để raquyết định thường không có sẵn Kế toán quản trị chi phí thực hiện các nghiệp vụphân tích chuyên môn, chọn lọc những thông tin cần thiết, thích hợp, rồi tổng hợp,trình bày chúng theo một trình tự dễ hiểu nhất và giải thích quá trình phân tích đócho các nhà quản trị
Trang 18Cụ thể trong DNXL, kế toán quản trị chi phí là quá trình tổng hợp chi phí cóliên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nhằm cung cấp tài liệu chi phí đơn vịcần thiết cho các nhà quản trị để:
- Định giá đấu thầu công trình, hạng mục công trình xây dựng cơ bản một cáchhợp lý để có thể thắng thầu nhưng vẫn đảm bảo có lãi
- Xác định kết quả thu nhập trong kỳ
- Nắm bắt kịp thời sự biến động của chi phí để đề ra các biện pháp quản lý phùhợp
- Cung cấp thông tin phản hồi về tính hiệu quả trong công tác quản trị chi phícủa các nhà quản trị doanh nghiệp
1.3 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN
TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
1.3.1 Đặc điểm sản phẩm xây lắp
Xây lắp là một ngành sản xuất có tính chất công nghiệp, nó tạo ra cơ sở vậtchất và kỹ thuật ban đầu cho xã hội Trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, các tổchức xây lắp nhận thầu giữ một vai trò hết sức quan trọng Hiện nay ở nước ta đangtồn tại các tổ chức xây lắp như Tổng công ty, công ty, doanh nghiệp, đội xâydựng… thuộc các thành phần kinh tế Tuy các đơn vị này khác nhau về quy mô sảnxuất, hình thức quản lí nhưng các đơn vị này đều là những tổ chức nhận thầu xâylắp và đều tạo ra sản phẩm xây lắp Sản phẩm xây lắp được tiến hành một cách liêntục từ khâu thăm dò, điều tra, khảo sát đến thiết kế thi công và quyết toán công trìnhkhi hoàn thành Quá trình sản xuất của DNXL và SPXL có đặc điểm riêng biệt,khác với các ngành sản xuất khác và điều đó có ảnh hưởng đến kế toán quản trị, cụthể:
- Giá của công trình, hạng mục công trình là giá dự toán hoặc giá thỏa thuận
do đơn vị xây lắp kí kết với các đơn vị chủ đầu tư Tính chất hàng hóa của SPXLkhông được thể hiện rõ, quá trình tiêu thụ SPXL được thực hiện thông qua việcnghiệm thu và bàn giao công trình, khối lượng xây lắp hoàn thành cho bên giaothầu
Trang 19- Hoạt động của DNXL mang tính chất lưu động, được tiến hành ngoài trời,các điều kiện sản xuất như xe, máy, thiết bị thi công, người lao động,… phải dichuyển theo địa điểm sản xuất Đặc điểm này làm cho công tác quản lí, sử dụng,hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thờitiết, dễ mất mát, dễ hư háng.
- Thời gian sử dụng của SPXL lâu, chất lượng sản phẩm được xác định cụthể trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật được duyệt, đòi hỏi việc tổ chức quản lý sản xuất
và hạch toán phải đảm bảo theo đúng dự toán thiết kế
- SPXL có kích thước và giá trị lớn thường vượt quá số vốn lưu động củadoanh nghiệp xây lắp Hơn nữa thời gian thi công tương đối dài, trong thời gian sảnxuất thi công xây dựng doanh nghiệp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sửdụng nhiều vật tư, nhân lực, chi phí…điều này làm cho vốn đầu tư xây dựng côngtrình và vốn sản xuất của DNXL thường bị ứ đọng lâu tại công trình đang xây dựng.Chính vì vậy, các doanh nghiệp xây lắp phải lựa chọn phương án có thời gian xâydựng hợp lý, kiểm tra chất lượng chặt chẽ, phải có chế độ thanh toán giữa kỳ và dựtrữ vốn phù hợp, đồng thời khi lập kế hoạch xây dựng doanh nghiệp phải cân nhắcthận trọng, thấy rõ được các yêu cầu về tiền vốn, vật tư, nhân công của công trình,quản lí, theo dõi các khoản mục phí trong quá trình sản xuất thi công chặt chẽ nhằmđảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm
- Để nhận được công trình, các DNXL thường phải trải qua khâu đấu thầu
Do đó công tác xác định giá dự toán của công trình cần phải được coi trọng để từ đóxác định mức giá bỏ thầu hợp lý, đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh xây lắpcủa doanh nghiệp và khả năng thắng thầu
- Tổ chức sản xuất trong các DNXL nước ta hiện nay phổ biến theo phương
thức “khoán gọn” các công trình, hạng mục công trình, khối lượng hoặc công việc
cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp (tổ, đội, xí nghiệp…) Trong giá khoángọn, không chỉ có tiền lương mà còn có đủ các chi phí về vật liệu, công cụ, dụng cụthi công, chi phí chung của bộ phận nhận khoán
Trang 20Những đặc điểm hoạt động kinh doanh, đặc điểm sản phẩm, đặc điểm tổchức sản xuất và quản lý ngành nói trên phần nào chi phối công tác kế toán quản trịtrong các DNXL, dẫn đến những khác biệt nhất định Tuy nhiên, về cơ bản, kế toánquản trị chi phí trong DNXL cũng tương tự như doanh nghiệp công nghiệp.
1.3.2 Đặc điểm chi phí và phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
1.3.2.1 Đặc điểm chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
Ngoài những khoản mục chi phí sản xuất thông thường còn làm phát sinhthêm một số khoản mục chi phí như: chi phí vận chuyển máy thi công đến côngtrường, chi phí huy động công nhân, chi phí láng trại cho công nhân, chi phí khonhà xưởng bảo quản vật tư trong quá trình thi công,
Chi phí thầu phụ cũng là một loại chi phí đặc thù trong xây dựng, chi phí lãivay, chi phí bảo hành công trình cần được vốn hóa vào giá trị sản phẩm xây lắp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp rất đa dạng về chủng loại, kích cỡ, dễ bị hưhỏng tuỳ thuộc vào thời tiết, cần chú ý đến biện pháp bảo quản và kiểm soát chi phí.Chi phí nhân công trực tiếp thường chiếm khoảng 13 - 15% trong tổng chi phí sảnxuất tuỳ theo từng công trình sử dụng nhiều lao động tay nghề cao hay thấp Chi phí
sử dụng máy thi công chiếm tỷ trọng cao hay thấp tuỳ thuộc vào từng công trình thicông bằng máy hay thủ công Trong công tác kế toán chi phí cũng cần dựa vàonhững đặc điểm này của chi phí để bước đầu có thể đánh giá được mối tương quancủa từng khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm của từng công trình phục vụkiểm soát chi phí
Việc tập hợp chi phí thực phát sinh, đối chiếu với dự toán là một công việcthường xuyên và cần thiết của kế toán để kiểm tra chi phí phát sinh đó có phù hợpvới dự toán hay không cũng như để kiểm tra tính hiệu quả trong việc quản trị chiphí
Do thời gian thi công tương đối dài, công trình, hạng mục công trình chỉhoàn thành khi kết thúc một chu kỳ sản xuất sản phẩm nên kỳ tính giá thành thườngkhông xác định hàng tháng như trong sản xuất công nghiệp mà thường được chọn làthời điểm khi công trình hoàn thành hay thực hiện bàn giao thanh toán theo giai
Trang 21đoạn quy ước tuỳ thuộc vào kết cấu đặc điểm kỹ thuật và khả năng về vốn của đơn
vị xây lắp Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành sẽ góp phần to lớn trongviệc quản lý sản xuất thi công và sử dụng đồng vốn đạt hiệu quả cao nhất
1.3.2.2 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
a Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Chi phí phát sinh trong các DNXL, xét theo công dụng của chúng hay nóimột cách khác, xét theo từng hoạt động có chức năng khác nhau trong quá trình sảnxuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chia thành 2 loại: chi phí sản xuất và chiphí ngoài sản xuất
* Chi phí sản xuất: Giai đoạn sản xuất là quá trình thi công biến nguyên vậtliệu thành sản phẩm (các công trình, hạng mục công trình) thông qua sức lao độngcủa công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc thiết bị Chi phí sản xuất xây lắpbao gồm các khoản mục chủ yếu: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm các loạinguyên liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc thi công xây dựng công trình,hạng mục công trình Trong đó, nguyên vật liệu chính (xi măng, sắt, thép, cát, đá, )dùng để cấu tạo nên sản phẩm xây lắp và các loại vật liệu phụ, vật liệu luân chuyển(ván khuôn, giàn giáo) có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn chỉnhsản phẩm về mặt chất lượng và hình dáng
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lương vàcác khoản trích theo lương, phụ cấp có tính chất thường xuyên (phụ cấp tráchnhiệm) cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp
+ Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ chi phí sử dụng xe, máy thi côngphục vụ trức tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp công trình bao gồm: chi phí khấuhao máy thi công, chi phí sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên máy thi công, chiphí tiền lương của công nhân điều khiển máy và phục vụ máy thi công, chi phínhiên liệu và động lực dùng cho máy thi công và các chi phí khác như chi phí dichuyển, tháo lắp máy thi công
Trang 22+ Chi phí sản xuất chung: là các chi phí phục vụ và quản lý quá trình thi côngcác công trình, HMCT phát sinh ở tổ, đội, các công trường xây dựng bao gồm: Chiphí vật liệu phục vụ quá trình thi công xây dựng, tiền lương của nhân viên quản lýcác tổ, đội xây dựng, các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuấtxây lắp, nhân viên quản lý đội, công nhân điều khiển máy thi công, chi phí khấuhao, sửa chữa và bảo trì máy móc thiết bị, chi phí dịch vụ mua ngoài phục vô xâydựng tại các công trường, và các chi phí bằng tiền khác như chi phí thuê lán, trại, đểtiến hành xây dựng.
* Chi phí ngoài sản xuất
Đây là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm liên quan đếnquá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanhnghiệp Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: chi phí bán hàng vàchi phí quản lý doanh nghiệp
Riêng đối với các DNXL thì chi phí bán hàng thường không phát sinh do đặcthù của ngành là tróng thầu mới tiến hành xây dựng, và sản phẩm được bàn giaocho nhà đầu tư ngay tại nơi sản xuất, thi công Chứ hoàn toàn không giống cácdoanh nghiệp sản xuất khác là sản xuất ra rồi mới quảng cáo, giới thiệu sản phẩm đểkhách hàng biết đến rồi mới tiêu thụ được
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho côngtác tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung trên giác độ toàndoanh nghiệp Khoản mục này bao gồm các chi phí như: chi phí văn phòng, tiềnlương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu haotài sản cố định (như nhà văn phòng, các phương tiện vận tải, ) phục vụ cho quản lýdoanh nghiệp, các chi phí dịch vụ mua ngoài khác…
b Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế
Để phục vụ cho việc tập hợp và quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầuthống nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phíđược phân theo yếu tố Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và phân tích
Trang 23định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí.Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia thành các yếu tố:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: là toàn bộ giá trị nguyên vật liệu, công cụ
dụng cụ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ
- Chí phí nhiên liệu, động lực : là toàn bộ giá trị nhiên liệu, động lực sử dụng
cho máy móc thi công phục vụ cho sản xuất kinh doanh trong kỳ
- Chi phí nhân công: Là tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phải trảkhác cho công nhân viên chức trong kỳ
- Chi phí BHXH, BHYT,BHTN, KPCĐ: là các khản trích theo lương theoquy định của Nhà nước trong kỳ
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Là phần giá trị hao mòn của tài sản cố định dịchchuyển vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các khoản tiền điện, tiền nước, điện thoại,…
- Chi phí bằng tiền khác: Là những chi phí sản xuất kinh doanh khác chưađược phản ánh trong các chi phí trên nhưng đã chi bằng tiền như chi phí tiếp khách,hội nghị
c Phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí
Xét theo cách ứng xử, chi phí của doanh ngiệp được chia thành ba loại: chiphí khả biến, chi phí bất biến, và chi phí hỗn hợp
+ Chi phí khả biến (biến phí): Là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi
tỷ lệ với các mức độ hoạt động Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt độngxảy ra Tổng số chi phí khả biến sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng với sự tăng (hoặcgiảm) của mức độ hoạt động, nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độhoạt động thì không thay đổi
Trong DNXL, biến phí bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phínhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công Ngoài ra, chi phí khả biến cònbao gồm các chi phí khác thuộc khoản mục chi phí sản xuất chung như các chi phívật liệu phụ, chi phí động lực, chi phí lao động gián tiếp
+ Chi phí bất biến (định phí): Chi phí bất biến là những chi phí, xét về lý
Trang 24thuyết, không có sự thay đổi theo các mức độ hoạt động đạt được Vì tổng chi phíbất biến là không thay đổi cho nên, khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biếntính theo đơn vị các mức độ hoạt động sẽ giảm và ngược lại.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, các loại chi phí bất biến thường gặp là chiphí khấu hao tài sản cố định, chi phí tiền lương nhân viên quản lý, chi phí quảng cáo
…Chi phí bất biến còn được gọi là chi phí cố định hay định phí
Xét ở khía cạnh quản lí chi phí, cần phân biệt các loại chi phí bất biến (địnhphí) sau:
- Định phí tuyệt đối: Là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thayđổi khối lượng hoạt động, do đó nếu khối lượng hoạt động thay đổi theo chiềuhướng tăng lên thì định phí trung bình đơn vị khối lượng hoạt động sẽ giảm đi vàngược lại, chẳng hạn như chi phí khấu hao máy móc thiết bị tại công trường theophương pháp đường thẳng, tiền lương cố định (trả theo thời gian) của nhân viênquản lý đội xây dựng,
- Định phí tương đối: Là định phí không thể thay đổi khi khối lượng hoạtđộng thay đổi trong phạm vi phù hợp, nhưng sẽ thay đổi khi khối lượng hoạt độngthay đổi vượt quá giới hạn nhất định Trường hợp này xảy ra khi các yếu tố sản xuấttiềm tàng khai thác hết, muốn tăng khối lượng hoạt động cần phải bổ sung đầu tưcác khả năng sản xuất tiềm tàng mới Với trường hợp này, khối lượng sản phẩm sảnxuất không phải là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến độ lớn của định phí sản xuất màquy mô sản xuất cần thiết phải thay đổi khả năng trữ lượng và năng lực sản xuất
- Định phí bắt buộc: là các chi phí phát sinh nhằm tạo ra các năng lực hoạtđộng cơ bản của doanh nghiệp, thể hiện rõ nhất là chi phí khấu hao tài sản cố địnhhay tiền lương nhân viên quản lý ở các phòng ban chức năng Bởi vì, là tiền đề tạo
ra năng lực hoạt động cơ bản nên các định phí bắt buộc gắn liền với các mục tiêudài hạn của doanh nghiệp, chúng biểu hiện tính chất cố định khá vững chắc và ítchịu sự tác động của các quyết định trong quản lý ngắn hạn
- Định phí không bắt buộc: Khác với định phí bắt buộc, các định phí khôngbắt buộc thường được kiểm soát theo các kế hoạch ngắn hạn và chúng phụ thuộc
Trang 25nhiều vào chính sách quản lý hàng năm của các nhà quản trị Do vậy, loại chi phínày còn được gọi là định phí tùy ý Thuộc loại chi phí này gồm, chi phí đào tạo, bồidưỡng công nhân, nhân viên kỹ thuật công trình, chi phí nghiên cứu phát triển vậtliệu xây dựng mới… Với bản chất ngắn hạn và phụ thuộc nhiều vào ý muốn củangười quản lý, các định phí không bắt buộc là đối tượng được xem xét đầu tiêntrong các chương trình tiết kiệm hoặc cắt giảm chi phí hàng năm của doanh nghiệp
+ Chi phí hỗn hợp: Là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố
chi phí khả biến và chi phí bất biến Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phíhỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chiphí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến Hiểu theo một cáchkhác, phần bất biến trong chi phí hỗn hợp thường là bộ phận chi phí cơ bản để duytrì các hoạt động ở mức độ tối thiểu, còn phần khả biến là bộ phận chi phí sẽ phátsinh tỷ lệ với mức độ hoạt động tăng thêm Trong các doanh nghiệp xây lắp, chi phíhỗn hợp cũng chiếm một tỷ lệ khá cao trong các loại chi phí, chẳng hạn như chi phíđiện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị Nếu hiểu biết rõ phần biến phí, và địnhphí có trong chi phí hỗn hợp là cơ sở giúp cho việc lập dự toán chi phí (thường làchi phí sản xuất chung; chi phí quản lý doanh nghiệp)
1.4 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.4.1 Dự toán chi phí xây lắp
Dự toán doanh nghiệp là chức năng không thể thiếu được đối với các nhàquản lý hoạt động trong môi trường cạnh tranh ngày nay Đặc biệt, trong DNXL thìviệc lập dự toán có thể nói là quan trọng hàng đầu, bởi vì giá bỏ thầu để xây dựngcác công trình, hạng mục công trình đều phải dựa trên cơ sở dự toán
Dự toán xây dựng được xác định trên cơ sở khối lượng các loại công tác xâylắp tính toán từ bản vẽ kỹ thuật hoặc bản vẽ thi công, đơn giá xây dựng cơ bản doLiên Sở Tài chính - Xây dựng thông báo hoặc đơn giá công trình đối với nhữngcông trình được lập đơn giá riêng, định mức các chi phí tính theo tỷ lệ % do Bộ Xâydựng ban hành, và các chế độ chính sách của nhà nước có liên quan Dự toán chi
Trang 26phí xây dựng bao gồm chi phí trực tiếp (CPNVLTT, CPNCTT, CPSDMTC và chiphí trực tiếp khác); chi phí chung; thu nhập chịu thuế tính trước; thuế giá trị gia tăng
và chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công
1.4.1.1 Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được lập dựa trên cơ sở dự toán khốilượng xây lắp, định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chênh lệch vật liệu (nếu có)
Dự toán khốilượng côngtác xây lắpthứ j
x
Định mức chiphí vật liệucủa công tácxây lắp thứ j
) +
Chênhlệch vậtliệu(nếu có)
1.4.1.2 Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được xây dựng từ dự toán khối lượngcông tác xây lắp, định mức thời gian xây dựng và định mức theo đơn giá giờ côngtrực tiếp
Dự toánkhối lượngcông tácxây lắp thứj
x
Định mứcthời gian xâydựng côngtác xây lắpthứ j
x
Địnhmức theođơn giágiê côngtrực tiếp
)
1.4.1.3 Dự toán chi phí sử dụng máy thi công
Dự toán chi phí máy thi công được lập dựa trên cơ sở dự toán khối lượng côngtác xây lắp, định mức chi phí máy thi công và hệ số điều chỉnh chi phí máy thi công
Dự toánkhối lượngcông tácxây lắp thứj
x
Định mứcchi phí máythi công củacông tác xâylắp thứ j
x
Hệ số điềuchỉnh chiphí máy thicông
)
Ngoài 3 khoản mục chi phí trên thì chi phí trực tiếp còn bao gồm chi phí trựctiếp khác đó là chi phí cho những công tác cần thiết phục vụ trực tiếp việc thi côngxây dựng công trình như di chuyển lực lượng lao động trong nội bộ công trường, antoàn lao động, bảo vệ môi trường cho người lao động, chi phí bơm nước, vét bùn,thí nghiệm vật liệu, không xác định được khối lượng từ thiết kế
Trang 27+ Dự toánchi phínhân công +
Dự toánchi phímáy thicông
)
1.4.1.4 Dự toán chi phí chung
Chi phí chung bao gồm chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí điều hành sảnxuất tại công trường, chi phí phục vụ công nhân, chi phí phục vụ thi công tại côngtrường và một số chi phí khác Chi phí chung được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%)trên chi phí trực tiếp hoặc bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí nhân công trong dựtoán đối với từng loại công trình
Đối với hạng mục công trình tương ứng với từng loại công trình thì mỗi hạng mục công trình đó được coi như một công trình độc lập và được áp dụng định mức tỷ lệ chi phí chung theo loại hình công trình phù hợp Trong trường hợp các dự
án có nhiều hạng mục xây lắp thì sau khi xác định chi phí chung cho toàn bộ dự án
sẽ phân bổ chi phí chung của toàn bộ dự án cho từng hạng mục theo tỷ trọng chi phítrực tiếp của từng hạng mục công trình
Dự toán chi phí chung = chung (tính theo tỷ lệĐịnh mức chi phí
%) x trực tiếpChi phí
1.4.1.5 Thu nhập chịu thuế tính trước và thuế giá trị gia tăng
- Thu nhập chịu thuế tính trước: (TL) được sử dụng để nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp và một số khoản chi phí phải nộp, phải trừ khác, phần còn lại đượctính vào các quỹ theo quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối vớidoanh nghiệp Mức thu nhập chịu thuế tính trước được tính bằng tỉ lệ phần trăm (%)
so với chi phí trực tiếp và chi phí chung theo từng loại công trình do Bộ Xây dựngquy định
TL = ( trực tiếpChi phí + Chi phíchung ) x Tỷ lệ % quyđịnh
- Thuế giá trị gia tăng đầu ra: Trong dự toán xây lắp thuế suất thuế giá trị giatăng đầu ra được tính theo quy định đối với công tác xây dựng
1.4.2 Các phương pháp tập hợp chi phí sản phẩm xây lắp
Trang 28 Phương pháp xác định chi phí sản xuất theo công trình, hạng mục côngtrình: chi phí sản xuất liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì tập hợpcho công trình, hạng mục công trình đó.
Phương pháp xác định chi phí theo đơn đặt hàng: các chi phí sản xuất phátsinh liên quan đến đơn đặt hàng nào sẽ được tập hợp và phân bổ cho đơn đặt hàng
đó Khi đơn đặt hàng hoàn thành, tổng số chi phí phát sinh theo đơn đặt hàng kể từkhi khởi công đến khi hoàn thành là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó
Phương pháp xác định chi phí theo đơn vị hoặc khu vực thi công: phươngpháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp xây lắp thực hiện khoán.Đối tượng xác định chi phí là các bộ phận, đơn vị thi công như tổ đội sản xuất haycác khu vực thi công Trong từng đơn vị thi công lại được tập hợp theo từng đốitượng tập hợp chi phí như hạng mục công trình
Trong các DNXL, mỗi đối tượng có thể áp dụng một hoặc một số phươngpháp xác định chi phí trên Nhưng trên thực tế có một số yếu tố chi phí phát sinhliên quan đến nhiều đối tượng, do đó phải tiến hành phân bổ các khoản chi phí nàymột cách chính xác và hợp lý cho từng đối tượng
1.4.3 Xác định giá phí sản phẩm xây lắp
Như chúng ta đã biết, sản phẩm, công việc, dịch vụ hoàn thành là đối tượng
để tính giá thành Khi sản phẩm, công việc, lao vụ chưa được tiêu thụ sẽ tồn tại trênbảng cân đối kế toán thông qua chỉ tiêu hàng tồn kho Khi chúng được tiêu thụ thìđược phản ánh thông qua chỉ tiêu giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả kinh doanh
Vì vậy việc xác định giá phí sản phẩm, công việc, dịch vụ hoàn thành có ý nghĩarất quan trọng đối với các báo cáo của doanh nghiệp sau một kỳ hoạt động Ngoài ragiá phí sản phẩm cũng có ý nghĩa quan trọng đối với các quyết định của nhà quảntrị Đối với DNXL, thì việc xác định giá phí sản phẩm là cơ sở để nhà quản trị raquyết định giá bỏ thầu
Kế toán quản trị chi phí có các phương pháp đo lường chi phí cho sản phẩmsản xuất: Phương pháp chi phí thực tế, phương pháp chi phí thông thường, phươngpháp chi phí tiêu chuẩn, phương pháp chi phí trực tiếp, phương pháp chi phí toàn
Trang 29bộ Ngoài ra hệ thống tính giá thành hiện đại còn có phương pháp chi phí dựa trên
cơ sở hoạt động (Phương pháp ABC)
Kỹ thuật đó là nội dung phương pháp tính giá thông dụng
Phương pháp chi phí thông thường
Theo kỹ thuật này, kế toán quản trị phải ước tính chi phí sản xuất chungtrong kỳ tương ứng với mức hoạt động ước tính trong kỳ kế hoạch Mức hoạt độngước tính thường là tiêu chuẩn để tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung, như sốgiờ lao động trực tiếp, số giờ ca máy hoạt động, chi phí nhân công trực tiếp
Theo phương pháp này, đầu kỳ, doanh nghiệp tiến hành ước tính tổng chi phísản xuất chung sẽ phát sinh trong kỳ Trong kỳ, khi tiến hành sản xuất sản phẩm, kếtoán tiến hành tạm phân bổ chi phí sản xuất chung ước tính cho công việc hoặc khốilượng sản phẩm thực tế đã hoàn thành
Chi phí sản xuất chung
tạm phân bổ = động thực tếMức hoạt x Tỷ lệ phân bổước tính
Tỷ lệ phân bổ
Tổng chi phí sản xuất chung ước tínhTổng mức hoạt động ước tính
Trang 30Với cách tạm phân bổ trên, chi phí sản xuất chung được sử dụng để tính giáthành sản phẩm, công việc chỉ là chi phí sản xuất chung ước tính Do vậy, đến cuối
kỳ kế toán khi xác định được chi phí sản xuất chung thực tế thì phải tiến hành xử lýchênh lệch giữa chi phí sản xuất chung thực tế và chi phí sản xuất chung tạm phân
bổ Nếu chi phí sản xuất chung ước tính tạm phân bổ chênh lệch (lớn hoặc bé hơn)
so với chi phí sản xuất chung thực tế (Trường hợp mức chênh lệch nhỏ) thì đưangay vào giá vốn hàng bán trong kỳ Trường hợp mức chênh lệch lớn thì phân bổvào TK Giá vốn hàng bán; TK Thành phẩm; TK chi phí sản xuất kinh doanh dởdang theo tỷ lệ số dư của các TK đó
Phương pháp chi phí tiêu chuẩn
Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp sản xuất đã đi vào ổn định
và các loại định mức kinh tế kỹ thuật tương đối hợp lý Theo phương pháp này giáphí sản phẩm sản xuất tính cho cả ba khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,chi phí nhân công trực tiếp, chi chi phí sản xuất chung đều là chi phí định mức
Đối với DNXL, ngoài 3 khoản mục chi phí trên đây còn có khoản mục chiphí sử dụng máy thi công, và phương pháp chi phí tiêu chuẩn này được áp dụng phổbiến là do đặc thù của ngành xây lắp, nhà quản trị cần đưa ra quyết định kịp thời vềgiá bỏ thầu
Phương pháp chi phí trực tiếp
Giá thành sản phẩm sản xuất bao gồm CPNVLTT, CPNCTT, chi phí sử dụngmáy thi công và biến phí sản xuất chung Phương pháp này có ích cho việc đánh giáhiệu quả hoạt động của nhà quản lý Và đặc biệt quan trọng trong việc phân tích chiphí để có quyết định hợp lý cho hoạt động kinh doanh
Phương pháp chi phí toàn bộ
Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm sản xuất bao gồm toàn bộ chi phínguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công,chi phí sản xuất chung Trong kế toán tài chính phương pháp này giúp ích trong việclập các báo cáo tài chính Còn trên phương diện kế toán quản trị, phương pháp nàyđược coi là một cách tính đầy đủ các chi phí sản xuất để làm cơ sở định giá bán sản
Trang 31phẩm, kiểm soát chi phí theo từng trung tâm chi phí và ra quyết định Phương pháptính giá thành toàn bộ gồm hai hệ thống tính giá thành sản phẩm: Hệ thống tính giáthành theo công việc và hệ thống tính giá thành theo quá trình sản xuất.
- Phương pháp xác định chi phí theo công việc: Phương pháp này áp dụngthích hợp đối với các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm dịch vụ theo đơn đặt hàng,sản phẩm mang tính đơn chiếc, giá trị cao, giá bán được xác định trước khi sản xuất,sản phẩm có kích thước lớn thường thông qua bản thiết kế kỹ thuật (các công trìnhxây dựng, sản xuất đồ gỗ )
Theo phương pháp này, tất cả các chi phí sản xuất được tập hợp vào phiếuchi phí công việc hoặc đơn đặt hàng Phiếu chi phí công việc là cơ sở để tính giáthành sản phẩm đơn vị sản phẩm sau khi lấy tổng chi phí của từng đơn hàng chiacho tổng số lượng sản phẩm sản xuất
- Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất: Phương pháp nàythường áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm theo quy trình công nghệsản xuất liên tục qua nhiều bước chế biến, sản xuất với số lượng lớn với những sảnphẩm tương tự nhau, giá bán xác định sau khi sản xuất Theo phương pháp này việctập hợp chi phí phải theo từng giai đoạn công nghệ Sau đó tổng hợp các giai đoạn
để tính giá thành sản phẩm hoàn thành Tài khoản chi phí sản xuất kinh doanh dởdang sẽ được mở chi tiết theo từng giai đoạn công nghệ hoặc theo từng phân xưởng
Phương pháp tính giá phí dựa trên cơ sở hoạt động (phương pháp ABC)
Theo phương pháp này đối tượng tập hợp chi phí là các hoạt động Mỗi hoạtđộng có thể được hiểu là nơi có yếu tố cơ bản làm phát sinh chi phí trong doanhnghiệp Yếu tố cơ bản đó thường gọi là nguồn sinh phí Chi phí phát sinh ở các hoạtđộng thường là chi phí chung, không thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng tínhgiá thành Các chi phí này liên quan đến nhiều đối tượng nên cần tập hợp theo từnghoạt động, sau đó mới tiến hành phân bổ Tiêu thức lựa chọn để phân bổ chính lànguồn sinh phí ở hoạt động đó Sau khi lựa chọn được tiêu thức phân bổ, dựa trên
cơ sở các nhóm hoạt động, chi phí chung được tập hợp cho từng nhóm sản phẩm, kếtoán tiến hành tính tỷ lệ phân bổ, và xác định chi phí của nhóm hoạt động phân bổ
Trang 32cho sản phẩm theo công thức:
Phương pháp này cho kết quả chính xác về giá phí sản phẩm sản xuất Tuynhiên để áp dụng được phương pháp này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có đội ngũnhân viên kế toán có trình độ cao, cơ sở vật chất và điều kiện tài chính đủ lớn, vìphương pháp này khá tốn kém
1.4.4 Kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
1.4.4.1 Định mức chi phí
Định mức chi phí là khoản chi được định trước bằng cách lập ra những tiêuchuẩn gắn với từng trường hợp hay từng điều kiện làm việc cụ thể Định mức chiphí không những chỉ ra được các khoản chi dự kiến mà còn xác định nên chi trongtrường hợp nào.Tuy nhiên, trong thực tế chi phí luôn thay đổi vì vậy các định mứccần phải được xem xét lại thường xuyên để đảm bảo tính hợp lý của chúng
Trong các DNXL, Định mức dự toán xây dựng cơ bản (gọi tắt là định mức
dự toán, viết tắt là ĐMDT) là định mức kinh tế - kỹ thuật xác định hao phí cần thiết
về vật liệu, lao động, máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tácxây lắp tương đối hoàn chỉnh như 1m3 tường gạch, l m3 bê tông, l m2 lát nền, l m2trát tường từ khâu chuẩn bị đến khâu kết thúc công tác xây lắp (kể cả những haophí cần thiết do yêu cầu kĩ thuật và tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo thi công xây lắpliên tục, đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật)
Định mức dự toán xây dựng cơ bản do Bộ Xây dựng nghiên cứu và ban hành
áp dụng thống nhất trong cả nước
Định mức dự toán bao gồm:
Mức hao phí vật liệu : Là mức quy định về sử dụng khối lượng vật liệucần thiết cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng công tác xây lắp (không kểvật liệu phụ cần dùng cho máy móc, phương tiện vận chuyển và những vật liệu chitrong khoản chi phí chung)
Số lượng vật liệu trong các bảng định mức bao gồm vật liệu chính, vật liệuphụ và có tính đến tỷ lệ hao hụt qua các khâu thi công và luân chuyển theo quy địnhchung của Nhà nước Định mức vật liệu chính và vật liệu phụ được xác định bằng
Trang 33khối lượng hao phí, định mức vật liệu khác được xác định bằng tỷ lệ phần trăm sovới vật liệu phụ Trong thực tế tùy theo điều kiện thi công cụ thể có thể thay thế một
số vật liệu tương tự, số lượng vật liệu thay thế căn cứ vào yêu cầu kỹ thuật, tínhchất vật liệu mà quy đổi tương đương
Đối với một số loại công tác xây lắp mà trong bảng mức không ghi "Vật liệuchính" thì được tính cụ thể theo thiết kế (nếu có hao hụt thì tính theo tỷ lệ được quyđịnh hiện hành của Nhà nước)
Mức hao phí lao động : Là ngày công lao động tương ứng với cấp bậccông việc quy định để hoàn thành khối lượng công tác xây lắp, trong mức đã baogồm công của lao động trực tiếp thực hiện công tác xây lắp và công của lao độngphục vụ xây lắp (vận chuyển bốc dỡ vật liệu, bán thành phẩm, lắp đặt, cài đặt, đãthử trong phạm vi mặt bằng xây lắp)
Mức hao phí lao động trong bảng định mức (tính theo cấp bậc thợ, kỹ sưbình quân) đã bao gồm cả lao động chính, phụ (kể cả công tác chuẩn bị, kết thúc,thu dọn hiện trường thi công)
Mức hao phí máy thi công: Là mức quy định số ca máy thi công trực tiếpcần thiết phục vụ xây lắp tùy theo loại công tác xây lắp
1.4.4.2 Kiểm soát biến động chi phí
Biến động chi phí là chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi phí định mức Chi phíphát sinh thực tế có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với định mức ban đầu, điều này tạonên sự biến động chi phí so với định mức Biến động có thể là bất lợi khi chi phí thực
tế cao hơn chi phí định mức hoặc có lợi khi chi phí thực tế thấp hơn chi phí định mức.Mục đích phân tích biến động các khoản mục chi phí nhằm đánh giá chung mức chênhlệch giữa thực tế so với định mức để làm rõ mức tiết kiệm hay vượt chi của từng khoảnmục chi phí phát sinh, giúp nhà quản lí đưa ra biện pháp đúng đắn và kịp thời để chấnchỉnh hoặc phát huy các nhân tố đó theo hướng có lợi nhất cho DN
Doanh nghiệp cần kiểm soát biến động của một số loại chi phí sau:
Trang 34Kiểm soát biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp :
Kiểm soát biến động chi phí NVL trực tiếp ( nguyên liệu, vật liệu chính và
vật liệu phụ) gắn liền với các nhân tố giá và lượng liên quan
+ Biến động giá: Là chênh lệch giữa giá NVT trực tiếp thực tế với giá NVL
trực tiếp dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nếu tính trên một đơn vịsản phẩm thì nó phản ánh giá cả của một đơn vị NVL để sản xuất ra một đơn vị sảnphẩm đã thay đổi như thế nào so với dự toán Biến động về giá được xác định: Ảnh hưởng về Đơn giá NVL Đơn giá NVL Lượng NVLgiá đến biến đông = trực tiếp - trực tiếp x trực tiếp NVL trực tiếp thực tế dự toán thực tế sử dụng
Ảnh hưởng biến động về giá do nguyên nhân biến động của giá vật liệu trênthị trường, chi phí thu mua, chất lượng NVL, thuế, phương pháp tính giá NVL
+ Biến động về lượng: Là chênh lệch giữa lượng NVL trực tiếp thực tế với
lương NVL trực tiếp dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Biến động vềlượng là phản ánh tiêu hao vật chất thay đổi như thế nào và ảnh hưởng đến tổng chiphí NVL trực tiếp ra sao Biến động về lượng được xác định:
Ảnh hưởng Lượng NVL Lượng NVL Đơn giá
về lượng đến trực tiếp trực tiếp NVL biến động thực tế dự toán trực tiếp NVL trực tiếp sử dụng sử dụng dự toánẢnh hưởng biến động về lượng do khâu tổ chức sản xuất, mức độ hiện đại của công nghệ, trình độ công nhân, chất lượng NVL mua vào, thiên tai, hỏa hoạn, mất điện
Kiểm soát biến động chi phí lao động trực tiếp:
Kiểm soát biến động chi phí nhân công trực tiếp gồm chi phí lương, các khoản trích theo lương, phí công đoàn , BHXH, BHYT của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, dịch vụ gắn liền với các nhân tố giá và lượng liên quan
+ Nhân tố giá: Là chênh lệch giữa giá giờ công lao động trực tiếp thực tế với
giá dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định, nhân tố này phản ánh sự thay
Trang 35đổi về giá của giờ công lao động để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhâncông trực tiếp.
Ảnh hưởng về giá Đơn giá Đơn gía Thời đến biến động nhân công nhân công gian lao
chi phí nhân trực tiếp trực tiếp động công trực tiếp thực tế dự toán thực tếẢnh hưởng của nhân tố giá do các nguyên nhân như chế độ lương, chínhsách nhà nước, thị trường cung cầu lao động Nếu ảnh hưởng tăng (giảm) giá cònthể hiện sự lãng phí hay tiết kiệm chi phí nhân công trực tiếp, việc kiểm soát chi phínhân công trực tiếp cho phép ta làm rõ bộ phận chịu trách nhiệm, làm ảnh hưởngđến công tác quản lý chi phí và giá thành
+ Nhân tố lượng: Là chênh lệch giữa số giờ công lao động trực tiếp thực tế
với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định, nhân tố này phản ánh sự thayđổi về giờ công để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếphay còn gọi là nhân tố năng suất
Ảnh hưởng của Thời gian Thời gian Đơn giá thời gian lđộng lao lao động nhân công đến biến phí cphí động theo trực tiếp
NC trực tiếp thực tế dự toán dự toán Ảnh hưởng của nhân tố thời gian do các nguyên nhân như trình độ và nânglực của người lao động, điều kiện trang bị máy móc thiết bị, chính sách lương của
DN Biến động do nhiều nguyên nhân khác nhau tác động đến chi phí sản xuất cóthể do chính quá trình sản xuất của DN, do biến động của các yếu tố bên ngoài DN
Kiểm soát biến động của chi phí sản xuất chung:
Chi phí SXC biến động là do sự biến động của định phí và biến phí SXC:Biến động chi phí SXC = Biến động định phí SXC + Biến động biến phí SXC
- Kiểm soát biến động biến phí SXC:
Trang 36Biến phí SXC gồm những chi phí gián tiếp liên quan đến phục vụ và quản lýhoạt động sản xuất Chi phí này thường thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạtđộng sản xuất của DN như: chi phí vật tư gián tiếp, tiền lượng bộ phận QL trả theosản phẩm gián tiếp, chi phí năng lượng thay đổi theo số lượng sản phẩm SX
Có 2 nhân tố ảnh hưởng đến biến phí SXC : là nhân tố giá và nhân tố lượng
Ảnh hưởng của yếu tố giá đến biến phí SXC là do sự thay đổi của các mức chi phí
được xem là biến phí SXC Sự thay đổi này do các nguyên nhân như đơn giá muavật tư gián tiếp, chi phí thu mua thay đổi, sự biến động giá cả chung của thị trường,nhà nước thay đổi mức lương Ảnh hưởng của nhân tố giá được xác định:
Ảnh hưởng Đơn giá Đơn gía Mức độ của giá đến = biến phí - biến phí x hoạt động biến phí SXC SXC thực tế SXC dự toán thực tế
Ảnh hưởng của nhân tố lượng do nguyên nhân điều kiện TTB không phù hợp
phải giảm lượng sản xuất hay dấn đến năng suất máy móc thiết bị giảm, thay đổisản xuất theo yêu cầu kinh doanh của DN Ảnh hưởng của nhân tố lượng :
Ảnh hưởng Mức Mức Đơn gía của lượng đến = hoạt động - hoạt động x biến phí
biến phí SXC thực tế dự toán SXC dự toán
- Kiểm soát biến động định phí chi phí sản xuất chung:
Định phí SXC là những khoản chi phí phục vụ và quản lý sản xuất thườngkhông thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động trong phạm vị phù hợpgồm tiền lương bộ phận quản lý phân xưởng trả theo thời gian, chi phí bảo hiểm,tiền thuê mặt bằng, khấu hao TSCĐ Biến động định phí chung thường liên quanđến việc thay đổi cấu trúc của DN hoặc do hiệu quả sử dụng năng lực sản xuất của
DN Kiểm soát định phí SXC nhằm đánh giá việc sử dụng năng lực TSCĐ
Định phí SXC dựtoán
Trang 37* Biến động chi phí sản xuất được gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Ví
dụ, biến động hiệu suất lao động trực tiếp có thể do công nhân thiếu kinh nghiệm,công nhân làm việc kém hiệu quả, chất lượng nguyên liệu không tốt, máy móc hiết
bị bảo trì kém, công nhân lơ đểnh trong qua trình sản xuất, hoặc nhiều nguyên nhânkhác Ngoài những nguyên nhân chủ quan kể trên, biến động chi phí có thể donhững nguyên nhân ngẫu nhiên Ví dụ biến động hiệu suất lao động có thể do tinhthần của công nhân không được tốt, công nhân bị mệt mỏi, hoặc bị ảnh hưởng bởi
sự thay đổi thời tiết,…
Các nhà quản lý không có nhiều thời gian để kiểm tra và xác định nguyên nhân của tất cả các biến động Phương pháp quản lý theo ngoại lệ sẽ giúp nhà quản
lý tập trung thời gian và nổ lực vào việc kiểm soát các biến động có ý nghĩa Để xácđịnh một biến động khi nào cần được kiểm soát, khi nào thì bỏ qua nhà quản lý sẽ xem xét:
Độ lớn của biến động: Nhà quản lý thường quan tâm đến những biến
động có giá trị lớn về cả số tuyệt đối lẫn số tương đối Số tương đối của biến độngcung cấp thông tin tốt hơn cho nhà quản lý trong việc kiểm soát
Tần suất xuất hiện biến động: Những biến động lặp đi lặp lại liên tục cần
được kiểm soát chặt chẽ hơn những biến động thỉnh thoảng mới phát sinh
Xu hướng của biến động: Những biến động có xu hướng tăng dần theo
thời gian là những biến động cần xác định nguyên nhân và kiểm soát
Khả năng kiểm soát được biến động: Những biến động mà những người
bên trong tổ chức có khả năng kiểm soát được thì cần tiến hành kiểm soát hơnnhững biến động mà tổ chức không có khả năng kiểm soát Ví dụ, khi mức giánguyên liệu tăng do sự biến động giá của thị trường thì nằm ngoài khả năng kiểmsoát của nhà quản lý
Các biến động thuận lợi: Những biến động thuận lợi cũng cần được xem
xét để phát huy và cải tiến
Trang 38 Lợi ích và chi phí của việc kiểm soát: Quyết định nên kiểm soát một biến
động hay không cần phải xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí để thực hiệnviệc kiểm soát
1.4.4.3 Tổ chức báo cáo kế toán quản trị chi phí
Báo cáo kế toán quản trị chi phí là loại báo cáo kế toán phản ánh một cáchchi tiết, cụ thể tình hình chi phí của doanh nghiệp theo yêu cầu quản lý của các cấpquản trị khác nhau trong doanh nghiệp để ra các quyết định quản lý kinh doanh
Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí của một doanh nghiệp thường baogồm các loại báo cáo sau:
- Báo cáo dự toán phục vụ cho chức năng lập kế hoạch: Báo cáo dự toán là
rất cần thiết cho tất cả các doanh nghiệp Báo cáo dự toán là một kế hoạch hànhđộng, nó lượng hoá các mục đích của tổ chức theo các mục tiêu về tài chính và hoạtđộng của doanh nghiệp Cùng với chức năng hệ thống hoá việc lập kế hoạch, cácthông tin trên báo cáo dự toán cũng đưa ra những tiêu chuẩn cho việc đánh giá kếtquả hoạt động, hoàn thiện sự truyền tải thông tin và sự hợp tác trong nội bộ tổ chức.Các báo cáo dự toán còn hữu dụng với các nhà quản lý trong quá trình ra quyết địnhtài trợ và điều hành Loại báo cáo này thường bao gồm: Báo cáo dự toán chi phínguyên vật liệu trực tiếp, báo cáo dự toán chi phí nhân công trực tiếp, báo có dựtoán chi phí sản xuất chung, báo cáo dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lýdoanh nghiệp,
- Báo cáo phục vụ cho quá trình kiểm tra, đánh giá (báo cáo kiểm soát chi phí) và ra quyết định: Các báo cáo này được lập nhằm kiểm tra tình hình thực hiện
chi phí, dự toán chi phí, đánh giá kết quả thực hiện của từng đơn vị nội bộ trongdoanh nghiệp Báo cáo này có thể lập theo nhiều phương pháp khác nhau, cho nhiềuđối tượng và phạm vi khác nhau, tuỳ theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanhnghiệp mà xây dựng loại báo cáo này cho phù hợp Một số báo cáo chủ yếu như:Báo cáo sản xuất, báo cáo giá thành sản xuất sản phẩm, báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh,
Chẳng hạn báo cáo giá thành công trình A của đội thi công 1 của một doanh
Trang 39nghiệp xây lắp X (xem Phụ lục I).
Ví dụ báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng X lập theo chức
năng của chi phí và theo từng loại hoạt động xây lắp và thiết kế (xem Phụ lục II).
Ví dụ báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng X lập theocách ứng xử của chi phí và theo từng loại hoạt động xây lắp, hoạt động thiết kế
(xem Phụ lục III).
Ngoài ra, căn cứ vào yêu cầu quản lý, điều hành của từng doanh nghiệp cóthể lập các báo cáo kế toán quản trị khác như: Báo cáo tiến độ sản xuất, Báo cáo sửdụng lao động, báo cáo tình hình biến động nguyên vật liệu,
- Báo cáo đánh giá trách nhiệm quản lý (Báo cáo bộ phận): Cung cấp thông
tin về tình hình kinh doanh theo các trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp đểbáo cáo các hoạt động và đánh giá trách nhiệm của nhà quản lý các cấp Hoạt độngcủa một trung tâm trách nhiệm quy định phạm vi trách nhiệm của một nhà quản lý.Các đơn vị hoặc bộ phận doanh nghiệp có thể phân loại thành một trong bốn loạitrung tâm trách nhiệm: Trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận
và trung tâm đầu tư
Để đánh giá trách nhiệm của các bộ phận thường thông qua việc phân tíchbáo cáo bộ phận sau một kỳ hoạt động hoặc dự đoán các chỉ tiêu kinh tế cho kỳ tới.Báo cáo bộ phận nhằm phản ánh doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động của từng
bộ phận và toàn doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho các nhà quản trị từng cấp đểđưa ra quyết định phù hợp Báo cáo bộ phận thường lập theo cách ứng xử của chiphí và thường lập ở nhiều mức độ, nhiều phạm vi khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu
sử dụng thông tin và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể của từng cấp
1.4.5 Phân tích thông tin thích hợp cho việc ra quyết định ngắn hạn
Ra quyết định là một trong những chức năng cơ bản của người quản lý, đó làmột nhiệm vụ khó khăn và phức tạp Sự khó khăn của nhiệm vụ này thường đượctăng lên bởi sự tồn tại không phải chỉ của một hai mà rất nhiều quá trình hoạt động
có thể xảy ra trong mọi tình huống mà doanh nghiệp phải giải quyết
Các quyết định ngắn hạn mà nhà quản trị thường gặp:
Trang 40Quyết định loại bỏ hay tiếp tục kinh doanh một bộ phận
Hầu hết các doanh nghiệp có nhiều bộ phận kinh doanh phụ thuộc hoặc sảnxuất kinh doanh nhiều loại sản phẩm, ngành hàng, mặt hàng Trong quá trình hoạtđộng SX-KD đó có bộ phận, sản phẩm hoặc ngành hàng, mặt hàng bị lỗ là điều cóthể xảy ra Có những nhà quản lý cho rằng những bộ phận, sản phẩm, ngành hàng,mặt hàng bị lỗ thì không nên tiếp tục kinh doanh nữa, bởi vì chúng đã làm giảm lợinhuận của công ty Nếu suy luận một cách đơn giản như vậy có thể dẫn đến quyếtđịnh sai lầm Để có được quyết định đúng đắn, nhanh chóng và kịp thời trong tìnhhuống này, nhà quản trị phải sử dụng thông tin thích hợp để phân tích và đánh giáảnh hưởng của quyết định đó đến lợi nhuận chung của toàn doanh nghiệp, sau khiphân tích có thể cho nhà quản trị thấy được rằng nếu loại bỏ bộ phận, sản phẩm, mặthàng, ngành hàng đó thì lợi nhuận của doanh nghiệp còn giảm nhiều hơn nữa so vớiviệc duy trì hoạt động đó Do vậy, có thể thấy việc phân tích thông tin chi phí có ýnghĩa quan trọng đối với các quyết định thuộc loại này
Quyết định tự sản xuất hay mua ngoài
Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn gặp phải sự lựa chọn giữa việc tự sảnxuất hay mua ngoài các linh kiện, các chi tiết, vật liệu hoặc bao bì để lắp ráp, chếtạo hay đóng gói thành phẩm
Đối với DNXL, nhà quản trị phải đối mặt với việc quyết định tự sản xuất haymua ngoài vật liệu xây dựng, cấu kiện bê tông đúc sẵn, dầm cầu thép, thiết bị, cấukiện thép, xà lan, và các sản phẩm cơ khí khác
Nếu chất lượng của việc tự sản xuất và mua ngoài là như nhau, thì nguyêntắc để đi đến quyết định tự sản xuất hay mua ngoài là chi phí giữa hai trường hợpnày nếu bên nào nhỏ hơn thì nhà quản trị sẽ lùa chọn
Để đi đến được quyết định cuối cùng đó, đầu tiên nhà quản trị phải dựa vàothông tin chi phí thích hợp Trong trường hợp tự sản xuất thường thì doanh nghiệpphải chịu các khoản chi phí như CPNVLTT; CPNCTT; Biến phí sản xuất chung ,còn phần định phí thì tùy trong từng trường hợp để biết được rằng DN có hay khôngphải gánh chịu khoản định phí đó Còn trong trường hợp mua ngoài thì DN khôngphải chịu các khoản chi phí này Nếu qua việc phân tích thấy rằng mua ngoài tiết