2.4 Bảng định mức tiêu hao nguyên vật liệu trực tiếp cho mặt hàng2.5 Bảng dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp mặt hàng 2.6 Bảng định mức chi phí lao động trực tiếp cho các mặt hàng
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả trong Luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về những điều đã trình bày trong Luận văn.
Tác giả
Đinh Thị Liên
Trang 22.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế 50
Trang 3BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp
Trang 42.4 Bảng định mức tiêu hao nguyên vật liệu trực tiếp cho mặt hàng
2.5 Bảng dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp mặt hàng
2.6 Bảng định mức chi phí lao động trực tiếp cho các mặt hàng 56
2.8 Bảng dự toán chi phí nhân viên phân xưởng năm 2011 58
2.10 Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp năm
3.2 Bảng phân loại chi phí thành biến phí, định phí quý IV năm
3.4 Bảng tính giá thành sản phẩm theo phương pháp trực tiếp
3.5 Bảng so sánh 2 phương pháp tính giá thành sản phẩm 75
3.9 Bảng phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp quý
Trang 5Số hiệu
1.1 Trình tự tính giá thành theo phương phápphân bước có tính giá
Trang 6MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giớiWTO Ngành dệt may là một trong những ngành được coi là mũi nhọn và chịunhiều tác động sau sự kiện này Áp lực cạnh tranh khi hội nhập dẫn đến việc thiếuchuẩn bị, thiếu phương án đối phó, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm dệt mayphụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như giá cả, chất lượng, mẫu mã Chính vì vậythông tin về chi phí trong các doanh nghiệp dệt may nói chung đóng vai trò vô cùngquan trọng trong việc giúp các nhà quản trị kiểm soát chi phí để vừa có thể đưa racác sản phẩm với giá rẻ, đa dạng hoá cơ cấu sản phẩm sản xuất, lựa chọn các biệnpháp marketing, từ đó tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp Đặc biệt ngày1.1.2009, Việt Nam mở cửa thị trường bán lẻ cho các doanh nghiệp nước ngoài thìsức ép cạnh tranh càng lớn hơn May xuất khẩu phần nhiều vẫn theo phương thứcgia công, thiết kế mẫu mốt chưa phát triển, nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng đượcthương hiệu, hiệu quả sản xuất thấp
Với những khó khăn và những trách nhiệm vô cùng nặng nề như vậy, cácdoanh nghiệp sản xuất hàng may mặc cần xây dựng một hệ thống quản lý doanhnghiệp đáp ứng được yêu cầu của chiến lược phát triển ngành như đã đề cập Đểđáp ứng được yêu cầu này của các nhà quản lý đòi hỏi kế toán cung cấp thông tinmột cách thường xuyên, liên tục và hữu ích phục vụ kịp thời ra quyết định của nhànhà quản trị ở nhiều cấp độ khác nhau Chính những yêu cầu về tính tốc độ, linhhoạt, hữu ích của thông tin mà kế toán tài chính không thể đảm trách được, kế toánquản trị ra đời như là một tất yếu khách quan của cơ chế thị trường Kế toán quản trị
ở các nước phát triển được ứng dụng một cách rộng rãi trong công tác quản lý vàđiều hành nội bộ của doanh nghiệp
Ngành Dệt may nói chung và Công ty Cổ Phần May Trường Giang nói riêng đã
và đang chịu những áp lực cạnh tranh rất lớn Do đó để tồn tại và phát triển chỉ cónhững sản phẩm có sức cạnh tranh cao, giá cả phù hợp mới có cơ may chiếm lĩnhđược thị trường
Trang 7Vấn đề trước mắt cần đặt ra cho Công ty Cổ Phần May Trường Giang là phảitiết kiệm chi phí Tuy nhiên trên thực tế, do nhiều nguyên nhân chủ quan và kháchquan mà tại Công ty Cổ Phần May Trường Giang, kế toán quản trị, đặc biệt là kếtoán quản trị chi phí vẫn còn chưa được quan tâm đúng mức Kế toán quản trị chiphí vẫn chưa được tổ chức khoa học, quy cũ, vẫn còn mang nặng nội dung của kếtoán tài chính hay nói cách khác là nó chưa được vận dụng và tổ chức thực hiện tạicông ty với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế và cung cấp thông tin kinh tế tàichính Các nội dung của kế toán quản trị chi phí được thực hiện đan xen giữa nhiều
bộ phân và chưa có bộ phận chuyên trách
Vì vậy xuất phát từ nhu cầu khách quan về mặt lý luận và thực tiễn trong quá
trình nghiên cứu, tác giả đã chọn đề tài: "Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại
Công ty Cổ Phần May Trường Giang” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài góp phần hệ thống hoá và làm rõ những cơ sở lý luận cơ bản về kế toánquản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất
Trên cơ sở khảo sát thực trạng về kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ PhầnMay Trường Giang, đề xuất những phương hướng, giải pháp để xây dựng, hoànthiện kế toán quản trị chi phí tại doanh nghiệp này
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài là kế toán quản trị chiphí tại Công ty Cổ Phần May Trường Giang
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn bao gồm phương phápphân tích, tổng hợp, so sánh, khảo sát tình hình thực tế tại các doanh nghiệp từ đó đánhgiá thực trạng, những vấn đề còn tồn tại để đưa ra phương hướng hoàn thiện kế toánquản trị chi phí tại Công ty Cổ Phần May Trường Giang
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kế toán quản trị chi phí trong các doanhnghiệp sản xuất
Trang 8Qua kết quả nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí
và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty CổPhần May Trường Giang
6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đượckết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán quản trị chi phí trong các doanh
nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ Phần
May Trường Giang
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại
Công ty Cổ Phần May Trường Giang
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1.1 Bản chất của kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí
1.1.1.1 Bản chất của kế toán quản trị
Kế toán cũng như các ngành khoa học khác đều được hình thành và phát triểngắn liền với sự phát triển của xã hội Khi nền sản xuất phát triển kế toán cũng pháttriển tương ứng để đáp ứng nhu cầu thông tin cho quản lý
Trong "Từ điển thuật ngữ kế toán" đã nêu: "Kế toán là quá trình ghi chép,đánh giá, chuyển đổi và thông tin về các số liệu tài chính".Trong cuốn "Chú giảithuật ngữ kế toán Mỹ" kế toán được định nghĩa: Là một hệ thống được hoạch định
để thu thập thông tin nhằm đo lường, giám sát và thông tin các hoạt động kinh tế, tàichính về một đơn vị kinh tế độc lập Nó cho phép con người sử dụng hệ thống đểnhập số liệu chính xác theo các phương pháp nhằm phân tích và tổng hợp thông tin
và đáp ứng việc thảo ra các quyết định
Kế toán chủ yếu tập trung vào ghi chép, tổng hợp nhằm lập báo cáo tài chínhcủa một tổ chức, các báo cáo này nhằm để truyền đạt thông tin tài chính của một tổchức Khi nền sản xuất xã hội phát triển cao, cạnh tranh ngày càng gay gắt buộc cácnhà quản trị phải quan tâm đến thông tin cho quá trình ra quyết định mà thông tinhàng đầu là thông tin về chi phí của hoạt động kinh doanh Từ đó hình thành nên bộphận kế toán chi phí Bộ phận này chủ yếu cung cấp thông tin về kế toán chi phí chocác nhà quản trị để sử dụng trong nội bộ.Trong môi trường kinh doanh hiện nay,nhu cầu về thông tin trong công tác quản lý đã có sự gia tăng rất lớn và đa dạng do
áp lực của những thay đổi nhanh chóng về sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự cạnhtranh ngày càng khốc liệt giữa các công ty trong nước, giữa các công ty ở nhữngquốc gia khác nhau, cũng như sự ra đời ngày càng nhiều các công cụ quản lý, cácchuyên ngành khoa học hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, kế toán Chính điềunày kết hợp với sự tiến bộ của trình độ chuyên môn kế toán đã làm cho kế toán phát
Trang 10triển sâu rộng hơn về tính chất và đặc điểm thông tin cần phải cung cấp Kế toánkhông chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mang tính nguyên tắc mà đòi hỏi phảilinh hoạt, kịp thời, hữu ích cũng như phải đảm bảo tính đơn giản, nhanh chóngnhằm hỗ trợ đắc lực cho nhà quản trị trong môi trường kinh doanh mới Các nhàquản trị không chỉ đòi hỏi kế toán cung cấp những thông tin kinh tế tài chính tổnghợp, phản ánh những sự kiện kinh tế đã xảy ra mà còn đòi hỏi kế toán phải cungcấp những thông tin kinh tế tài chính một cách cụ thể, chi tiết theo từng hoạt động,lĩnh vực, từng vấn đề để phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm tra, kiểm soát cáchoạt động và ra các quyết định quản lý Điều đó đã thúc đẩy kế toán phát triển vàcho ra đời các loại kế toán cụ thể khác nhau, một hệ thống kế toán cung cấp thôngtin cho các đối tác bên ngoài doanh nghiệp gọi là kế toán tài chính và một hệ thống
kế toán cung cấp thông tin nội bộ cho các nhà quản trị để ra quyết định kinh doanh
là kế toán quản trị
Kế toán quản trị được Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa: “là quá trình địnhdạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệutài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện
kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệuquả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”
Ngay trong Luật kế toán Việt Nam cũng nêu rõ: "Kế toán quản trị là việc thuthập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị
và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán" (Luật kế toán, khoản 3,điều 4)
Như vậy, kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thôngtin về hoạt động sản xuất - kinh doanh một cách chi tiết, phục vụ cho các nhà quảntrị trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạtđộng knh trong nội bộ doanh nghiệp
Từ những trình bày trên ta có thể thấy bản chất của KTQT như sau:
- Kế toán quản trị không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về cácnghiệp vụ kinh tế thực sự phát sinh và đã thực sự hoàn thành, mà còn xử lý và cung
Trang 11cấp thông tin phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý Để có được các thông tinnày, kế toán quản trị phải sử dụng các phương pháp khoa học để phân tích, xử lýchúng một cách linh hoạt, phù hợp với nhu cầu thông tin của nhà quản trị Hệ thốnghoá thông tin theo một trình tự dễ hiểu và giải trình phân tích theo các chỉ tiêu cụthể, phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp.
- Kế toán quản trị chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế, tài chínhtrong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp Những thông tin đóchỉ có ý nghĩa đối với những người điều hành, quản trị doanh nghiệp, không có ýnghĩa đối với các đối tượng bên ngoài Vì vậy, người ta nói KTQT là loại kế toándành cho những người làm công tác quản lý, trong khi đó kế toán tài chính khôngphục vụ trực tiếp cho mục đích này
- Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là mộtchức năng quan trọng không thể thiếu được đối với hệ thống quản trị doanh nghiệp
1.1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí
KTQT chi phí là một bộ phận của KTQT chuyên thực hiện việc xử lý và cungcấp các thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhàquản trị như: hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định
Trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí thường xuyên phát sinhtrong nội bộ doanh nghiệp và chịu sự chi phối của nhà quản trị, mọi quyết địnhtrong DN đều liên quan đến việc sử dụng tài nguyên, đến chi phí của doanh nghiệptrong việc hình thành giá trị Quá trình này thường gắn liền với lợi ích mong muốncủa DN Ở đây chi phí được hiểu là giá trị của mọi khoản khấu hao về nhân tài, vậtlực nhằm thu được các loại hàng hóa hoặc dịch vụ
Chi phí có thể xem xét ở nhiều góc độ khác nhau để có thể cung cấp nhữngthông tin phù hợp với nhu cầu của nhà quản trị, trong đó việc xem xét chi phí trongmối quan hệ với khối lượng, hay mức độ hoạt động và với lợi nhuận có thể đượcxem là đối tượng chủ yếu của KTQT Như vậy, các loại chi phí đặt trong mối quan
hệ khác nhau và quan hệ với lợi ích mang lại cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai
là đối tượng cụ thể của KTQT chi phí Không những thế vì KTQT chi phí quan tâm
Trang 12đến khía cạnh của quản trị là chủ yếu, do đó quá trình kiểm soát, kiểm tra điềuchỉnh trong quản trị cần thiết phải có cả thông tin về tài chính cũng như phi tàichính nên đây cũng là một đối tượng cụ thể của KTQT chi phí.
Đối tượng sử dụng thông tin kế toán chi phí bao gồm cả các cá nhân, tổ chứcbên ngoài và các nhà quản trị bên trong Như vậy, kế toán chi phí cung cấp cảthông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị nhưng có sự khác nhau về mục đích
và phạm vi giữa hai loại kế toán này
Từ những đặc điểm trên có thể rút ra bản chất của kế toán quản trị chi phí nhấnmạnh ở những điểm sau:
- KTQT chi phí cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trongphạm vị yêu cầu quản lý nội bộ của doanh nghiệp Những thông tin đó có ý nghiavới những bộ phận, nhà quản trị doanh nghiệp
- KTQT chi phí không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về cácnghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đã thực sự hoàn thành, đã ghi chép, hệthống các thông tin phục vụ cho việc lập các dự toán, quyết định các phương ánkinh doanh
- KTQT chi phí là một bộ phận trong công tác kế toán nói chung và là một bộphận không thể thiếu được để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý
1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong quản trị doanh nghiệp
Để thực hiện tốt các chức năng quản trị doanh nghiệp, nhà quản trị cần phảiđưa ra được các quyết định đúng đắn nhất cho hoạt động của doanh nghiệp và vaitrò của kế toán quản trị chi phí chính là nguồn cung cấp thông tin quan trọng chocác nhà quản lý trong quá trình ra quyết định Vai trò của thông tin kế toán về chiphí với nhà quản trị được biểu hiện qua sơ đồ sau:
Trang 13- Lập kế hoạch và dự toán: là xây dựng các mục tiêu chiến lược cho doanhnghiệp và vạch ra các bước cụ thể để thực hiện các mục tiêu đó Trong đó, dự toán
là một bộ phận của kế hoạch và kế toán quản trị chi phí sẽ tiến hành cụ thể hoá các
kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp thành các dự toán sản xuất kinh doanh Nếudoanh nghiệp không lập kế hoạch đầy đủ và kỹ lưỡng mà vẫn đạt mục tiêu kế hoạchthì đó chỉ là một điều ngẫu nhiên, không vững chắc
Do đó, để chức năng lập kế hoạch và dự toán của quản lý được thực hiện tốt
để các kế hoạch cùng dự toán có tính hiệu lực và tính khả thi cao thì chúng phải dựatrên những thông tin hợp lý và có cơ sở do bộ phận KTQT cung cấp KTQT chi phícung cấp thông tin về chi phí ước tính cho các sản phẩm, dịch vụ hoặc các đốitượng khác theo yêu cầu của nhà quản lý nhằm giúp họ ra các quyết định quan trọng
về đặc điểm của sản phẩm, cơ cấu sản phẩm sản xuất và phân bổ hợp lý các nguồnlực có hạn cho các hoạt động của doanh nghiệp
- Tổ chức thực hiện: Kế hoạch và dự toán là những định hướng cho quá trình
tổ chức thực hiện Chức năng tổ chức thực hiện bao gồm thiết lập cơ cấu tổ chức vàtruyền đạt thông tin của các kế hoạch đến những cá nhân có trách nhiệm trong tuyếnquản lý để thực hiện kế hoạch đó
Với chức năng tổ chức thực hiện, nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhấtgiữa tổ chức, con người với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch được thựchiện có hiệu quả nhất Để thực hiện tốt chức năng này, nhà quản trị cũng có nhu cầurất lớn đối với thông tin kế toán do nhiều bộ phận cung cấp, trong đó KTQT chi phí
Lập kế hoạch
Kiểm tra
định
Trang 14sẽ cung cấp thông tin chủ yếu liên quan đến kinh tế, tài chính Kế toán chi phí sẽ dựtoán nhiều tình huống khác nhau của các phương án khác nhau để đề ra quyết địnhkinh doanh đúng đắn trong quá trình lãnh đạo hoạt động hàng ngày, phù hợp vớimục tiêu chung của doanh nghiệp
- Kiểm tra và đánh giá: Nhà quản trị sau khi đã lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý,
tổ chức thực hiện kế hoạch, đòi hỏi phải kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nó Trongquá trình này, người ta sử dụng phương pháp chi tiết, phương pháp so sánh giữa kếtquả thực hiện với các số liệu kế hoạch, dự toán; qua đó xem xét sai lệch giữa kếtquả đạt được do kế toán cung cấp theo các báo cáo với dự toán đã lập nhằm đánhgiá tình hình thực hiện dự toán
Kế toán quản trị chi phí cũng cung cấp các thông tin để nhà quản lý kiểm soátquá trình thực hiện kế hoạch thông qua các báo cáo đánh giá, đặc biệt là giúp íchcho các nhà quản lý trong việc kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả và hiệu năngcủa quá trình hoạt động Việc cung cấp thông tin về chi phí của các hoạt động mộtcách chi tiết và thường xuyên sẽ giúp ích cho các nhà quản lý rất nhiều trong kiểmsoát và hoàn thiện quá trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ vì nhữngthông tin này giúp các nhà quản lý phát hiện các hoạt động tốn kém quá nhiều chiphí để thiết kế lại quá trình sản xuất, loại bỏ hoạt động tốn kém chi phí đó hoặc cónhững cải tiến làm cho hoạt động đó có hiệu quả hơn, tốn kém chi phí ít hơn
- Ra quyết định: là việc thực hiện những lựa chọn hợp lý trong số các phương
án khác nhau Ra quyết định không phải là một chức năng riêng biệt, nó là một chứcnăng quan trọng, xuyên suốt các khâu trong qúa trình quản lý một tổ chức, từ khâulập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra đánh giá Chức năng ra quyết địnhđược vận dụng liên tục trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Tất cả các quyết định đều có nền tảng từ thông tin Do vậy, một yêu cầu đặt racho công tác kế toán, đặc biệt là KTQT là phải đáp ứng nhu cầu thông tin nhanhchóng và chính xác cho nhà quản lý nhằm hoàn thành tốt việc ra quyết định
Để có thông tin thích hợp đáp ứng nhu cầu ra quyết định của các nhà quản trị,
kế toán quản trị chi phí sẽ chọn lọc những thông tin cần thiết thích hợp rồi tổng hợp
Trang 15trình bày chúng theo một trình tự dễ hiểu giải trình cho các nhà quản trị KTQT chiphí giúp cho các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ bằng cáchcung cấp thông tin thích hợp, mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân tích vàonhững tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa chọn, ra quyết định thích hợpnhất.
1.2 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.2.1 Phân loại chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất
Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận,tài sản, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nhận thức một cách đúng đắn,khoa học về chi phí là tiền đề để nhà quản trị đưa ra các quyết định hợp lý Mụcđích của kế toán quản trị chi phí là cung cấp thông tin chi phí hợp lý, hữu ích, kịpthời cho việc ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp Vì vậy, đối vớiKTQT chi phí không chỉ đơn thuần nhận thức chi phí như KTTC, chi phí cònđược nhận thức theo phương thức nhận diện thông tin ra quyết định KTQT cầnphải căn cứ vào mục đích sử dụng thông tin về chi phí trong công tác quản trị doanhnghiệp, để tổ chức phân loại chi phí, nhận diện chi phí cho phù hợp Cụ thể, chi phí
sẽ được phân loại theo các tiêu thức phân loại như sau:
1.2.1.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Theo chức năng hoạt động thì chi phí được phân thành 2 loại: Chi phí sản xuất
và chi phí ngoài sản xuất
* Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là toàn bộ những chi phí liên quan đến việc chế tạo sản phẩmtrong một kỳ nhất định Chi phí sản xuất bao gồm 3 khoản mục sau: Chi phí nguyênvật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Khoản mục chi phí này bao gồm các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụchủ yếu cấu thành thực thể của sản phẩm, có giá trị lớn và có thể xác định được một
Trang 16cách tách biệt, rõ ràng và cụ thể cho từng sản phẩm
Chi phí nhân công trực tiếp:
Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lương phải trả cho bộ phận công nhântrực tiếp sản xuất sản phẩm và những khoản trích theo lương của họ được tính vàochi phí
Chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là các chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng
để phục vụ hoặc quản lý quá trình sản xuất sản phẩm
* Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí này gồm 2 khoản mục chi phí sau: chi phí bán hàng và chi phí QLDN
Chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng toàn bộ chi phí cần thiết để đẩy mạnh quá trình tiêu thụ hànghóa và để đảm bảo việc đưa hàng hóa đến tận tay nguời tiêu dùng như: chi phí vậnchuyển, bốc dỡ, chi phí bao bì, chi phí lương nhân viên bán hàng, chi phí hoa hồngbán hàng, …
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho công tác
tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung trên giác độ toàn doanhnghiệp
Việc phân loại chi phí theo như chức năng hoạt động này giúp xác định rõ vaitrò, chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
ở doanh nghiệp, đồng thời cung cấp thông tin có hệ thống cho việc lập báo cáo tàichính
1.2.1.2 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với Báo cáo tài chính
Theo cách phân loại này thì toàn bộ chi phí được chia thành: chi phí sảnphẩm và chi phí thời kỳ
* Chi phí sản phẩm
Chi phí sản phẩm đây là những chi phí liên quan trực tiếp đến các đơn vị sản
phẩm được sản xuất bởi một doanh nghiệp sản xuất hoặc được mua vào bởi một
Trang 17doanh nghiệp thương mại Chi phí sản phẩm bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trựctiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, các chi phí này kết hợp tạonên giá trị của sản phẩm hình thành qua giai đoạn sản xuất (được gọi là giá thànhsản xuất hay giá thành công xưởng).
* Chi phí thời kỳ
Chi phí thời kỳ gồm các khoản mục chi phí còn lại ngoài các khoảnmục chi phí thuộc chi phí sản phẩm Đó là chi phí bán hàng và chi phí quản lýdoanh nghiệp
1.2.1.3 Phân loại theo cách ứng xử chi phí
Có rất nhiều cách phân loại chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất, songtiêu thức phân loại quan trọng nhất và có nhiều ứng dụng trong KTQT chi phí làphân loại chi phí theo cách ứng xử Cách phân loại này chỉ ra những chi phígắn liền với mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào Việc xem xét chiphí sẽ thay đổi ra sao khi mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh thay đổi gọi là sựứng xử của chi phí Mức độ hoạt động có thể hiểu là: số lượng sản phẩm được sảnxuất ra, được tiêu thụ, số giờ máy hoạt động,… Theo tiêu thức này, chi phítrong các doanh nghiệp sản xuất bao gồm chi phí khả biến, chi phí bất biến và chiphí hỗn hợp
* Chi phí khả biến
Chi phí khả biến là những chi phí xét về mặt tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuậnvới sự thay đổi của mức độ hoạt động của doanh nghiệp, tức là mức độ hoạt độngtăng (hoặc giảm) thì chi phí khả biến cũng tăng (hoặc giảm) theo cùng một tỷ lệ.Tuy nhiên, chi phí khả biến tính trên 1 đơn vị sản phẩm là không đổi
Các chi phí thể hiện rõ nhất đặc trưng của chi phí khả biến là chi phí nguyênliệu, vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp Ngoài ra, chi phí khả biến cònbao gồm các chi phí khác thuộc khoản mục chi phí sản xuất chung (ví dụ, các chiphí vật liệu phụ, chi phí động lực, chi phí lao động gián tiếp trong chi phí sản xuấtchung có thể là chi phí khả biến) hoặc thuộc khoản mục chi phí bán hàng và chi phíquản lý doanh nghiệp (như chi phí vật liệu, phí hoa hồng, phí vân chuyển .)
Trang 18Nếu gọi a là giá trị biến phí tính theo một đơn vị mức độ hoạt động; x là biến
số thể hiện mức độ hoạt động đạt được thì tổng giá trị chi phí khả biến (y) sẽ là 1hàm số có dạng: y=a.x Đồ thị biểu diễn sự biến thiên của chi phí khả biến theomức độ hoạt động như sau:
Trong các doanh nghiệp sản xuất, các khoản chi phí NVL trực tiếp và chiphí NCTT thể hiện rõ nhất đặc trưng của biến phí Tùy vào mức độ thay đổi củabiến phí so với mức độ hoạt động mà chia biến phí thành: Biến phí tỷ lệ và biếnphí cấp bậc
Biến phí tỷ lệ
Biến phí tỷ lệ là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận trực tiếp với biếnđộng của mức độ hoạt động căn cứ Biến phí tỷ lệ bao gồm chi phí nguyên vật liệutrực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp
* Chi phí bất biến
Chi phí bất biến là những chi phí mà xét về mặt tổng số được coi là khôngthay đổi khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp thay đổi, nhưng xét trên 1 đơn vịsản phẩm thì định phí biến đổi tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động Định phí chỉđược xem là không thay đổi theo mức độ hoạt động khi mức độ hoạt động nằm
y
Mức độ hoạt động
x y=a
x
Trang 19trong giới hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp mở rộng quy
mô sản xuất, tăng cường đấu tư mua sắm nhà cửa, máy móc thiết bị thì chi phí sẽtăng đến một phạm vi hoạt động mới Các loại chi phí bất biến thường gặp trong cácdoanh nghiệp sản xuất là chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí thuê nhà xưởng, lãi vay,chi phí giao tế, chi phí tiền lương nhân viên quản lý, chi phí quảng cáo, v.v
Điểm khác nhau cơ bản giữa biến phí cấp bậc và định phí là: Biến phí cấpbậc có thể điều chỉnh rất nhanh khi các điều kiện thay đổi, còn định phí thì thường
bị ràng buộc ít nhất là đến hết kỳ kế hoạch mới được thay đổi
Với xu hướng tăng dần tỷ trọng của định phí và giảm dần tỷ trọng của biếnphí trong các doanh nghiệp hiện nay, vì hầu như các doanh nghiệp đều sử dụng cácmáy móc thiết bị trong quá trình sản xuất Do vậy mà chi phí về lao động ngày cànggiảm để thay chỗ cho các chi phí khấu hao Tỷ trọng này còn tùy thuộc vào loạihình doanh nghiệp Ở những doanh nghiệp sản xuất, do cần nhiều máy móc, thiết bị,nhà xưởng,… nên tỷ trọng của định phí thường lớn hơn những doanh nghiệp thươngmại (chủ yếu là mua và bán hàng hóa nên thường có định phí thấp)
Nếu gọi b là tổng số định phí thì đường biểu diễn định phí là một đườngthẳng có dạng: y = b
Căn cứ vào mức độ cần thiết của định phí mà định phí được chia làm: Địnhphí bắt buộc và định phí tùy ý
Định phí bắt buộc
Đó là những chi phí không thể không có cho dù mức độ hoạt động của doanh
nghiệp xuống rất thấp, thậm chí không hoạt động Ví dụ: khấu hao TSCĐ, lươngcủa bộ phận quản lý, chi phí thuê nhà xưởng, chi phí đào tạo cán bộ, nhân viên,…Những chi phí này có 2 đặc điểm:
Mức độ hoạt động
y
x
y = b
Trang 20+ Có bản chất lâu dài và rất khó thay đổi
+ Không thể cắt giảm đến không cho dù mức độ hoạt động giảm xuống hoặckhi sản xuất bị gián đoạn
Nếu gọi a là tỷ lệ biến đổi theo các mức độ hoạt động của bộ phận chi phíbiến đổi trong chi phí hỗn hợp; b là bộ phận chi phí bất biến trong chi phí hỗn hợpthì phương trình biễu diễn sự biến thiên của chi phí hỗn hợp là một phương trìnhbậc nhất có dạng: y =a.x+b Đồ thị minh họa như sau:
Trang 21Chi phí hỗn hợp rất quan trọng vì nó rất phổ biến trong hoạt động sản xuấtkinh doanh của DN Vì vậy, để phục vụ cho công tác quản trị chi phí, nhằm mụcđích lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí hỗn hợp, các nhà quản trịcần phải tách chi phí hỗn hợp thành chi phí khả biến và chi phí bất biến Việc phântích này được thực hiện bằng một trong ba phương pháp sau: Phương pháp cực đại-cực tiểu, phương pháp đồ thị phân tán và phương pháp bình phương bé nhất.
Việc phân loại chi phí theo mô hình ứng xử giúp nhà quản trị thấy được cáchthức ứng xử từng loại chi phí, giúp nhà quản trị có được cách nhìn và quyết định tốthơn khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động Ngoài ra, với cách phân loại này, giúpnhà quản trị nhận biết thông tin về chi phí và tính toán kết quả nhanh chóng để lập
dự toán chi phí tốt hơn, phù hợp với thực tế và có tính khả thi hơn; giúp xây dựng
mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng, lợi nhuận, phân tíchđiểm hòa vốn, phân tích chi phí và xác định sản lượng, doanh thu hòa vốn, xác địnhđược chi phí bỏ ra để đạt được lợi nhuận dự kiến Qua đó, nhà quản trị xác địnhphương hướng sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí, làm cơ sở ra quyếtđịnh ngắn hạn
1.2.1.4 Phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra và ra quyết định
* Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp trong doanh nghiệp sản xuất là những chi phí chỉ quan hệtrực tiếp đến việc sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện các đơn đặt hàng và hoàn toàn
có thể hạch toán, quy nạp trực tiếp cho sản phẩm, đơn đặt hàng đó
- Chi phí gián tiếp là các khoản chi phí có liên quan đến việc sản xuất và tiêuthụ nhiều loại sản phẩm, nhiều đơn đặt hàng, phát sinh cho mục đích phục
vụ và quản lý chung cần tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng chi phí theocác tiêu thức phân bổ
Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa thuần túy đối với kỹ thuật hạch toán.Việc lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí hợp lý và khoa học giúp các nhà quản trịdoanh nghiệp có được thông tin chân thực về chi phí và kết quả lợi nhuận từng loạisản phẩm
Trang 22* Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
Một khoản chi phí được xem là chi phí có thể kiểm soát được hoặc là chi phíkhông kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là tuỳ thuộc vào khả năng cấp quản
lý này có thể ra các quyết định để chi phối, tác động đến khoản chi phí đó hay làkhông Như vậy, nói đến khía cạnh quản lý chi phí bao giờ cũng gắn liền với mộtcấp quản lý nhất định: khoản chi phí mà ở một cấp quản lý nào đó có thẩmquyền ra quyết định được gọi là chi phí kiểm soát được và ngược lại
Chi phí chênh lệch là những khoản chi phí có ở phương án này nhưng không
có hoặc chỉ có một phần ở phương án khác Chi phí chênh lệch là một trong nhữngcăn cứ quan trọng để lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh Chi phí chênh lệch
là dạng thông tin thích hợp cho việc ra quyết định
* Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thực hiệnphương án này thay cho phương án khác Chi phí cơ hội là một yếu tố đòi hỏi luônphải được tính đến trong mọi quyết định của quản lý
Tuỳ thuộc vào yêu cầu và mục đích cụ thể của các nhà quản trị màthông tin chi tiết về chi phí, doanh thu và KQKD sẽ được tổ chức thu thập bằng hệthống các phương pháp kế toán phù hợp, được thiết kế dưới những dạng cụ thể cóthể so sánh được, hoặc dưới dạng phương trình, hoặc thành dạng đồ thị, cho cảthông tin thực hiện (thông tin trong quá khứ) và cả những thông tin liên quan đếntương lai bao gồm cả thông tin sơ cấp và thông tin thứ cấp, từ đó xác định nhữngthông tin thích hợp và thông tin không thích hợp cho việc ra các quyết định kinhdoanh ngắn hạn
Trang 231.2.2 Tổ chức thu thập thông tin thực hiện liên quan đến chi phí
Để thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin thực hiện trong KTQT cần tổ chứctốt các nội dung: Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán; tổ chức hệ thống tài khoảnphục vụ KTQT, tổ chức hệ thống sổ KTQT và tổ chức hệ thống báo cáo KTQT
* Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán và hệ thống tài khoản phục vụ KTQTị.
Lập các chứng từ kế toán là khâu đầu tiên khi tổ chức thu thập thông tin thựchiện Trên cơ sở các chứng từ, tài khoản, sổ kế toán theo chế độ đã banhành, KTQT sẽ xây dựng hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán phù hợp theo yêucầu quản lý, đảm bảo vừa chi tiết cho từng bộ phận sản xuất, vừa chi tiết theo biếnphí và định phí
- Đối với chi phí trực tiếp như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp thì lập chứng từ riêng cho từng loại sản phẩm (trong trường hợp nàythường xác định đối tượng tập hợp chi phí là từng loại sản phẩm)
- Trường hợp các khoản chi phí nguyên vật liệu, nhân công có liên quan đếnnhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tách riêng thì áp dụng phươngpháp phân bổ gián tiếp cho từng đối tượng Kế toán sử dụng TK 621 “ Chi phínguyên vật liệu trực tiếp” và TK 622 “ Chi phí nhân công trực tiếp” để phản ánhcác chứng từ phát sinh Các tài khoản này được mở chi tiết cho từng đối tượng tậphợp chi phí tùy thuộc yêu cầu quản lý doanh nghiệp
- Đối với chi phí phục vụ và quản lý sản xuất (chi phí sản xuất chung, chiphí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp) thì tổ chức chứng từ theo từngyếu tố chi phí để tập hợp được chi phí theo từng yếu tố, theo địa điểm phát sinh chiphí (phân xưởng, bộ phận sản xuất ), sau đó lựa chọn tiêu thức phân bổthích hợp để xác định chi phí này cho từng loại sản phẩm, từng đối tượng theo yêucầu của nhà quản trị Để theo dõi chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627 “Chi phí sản xuất chung”, để theo dõi chi phí bán hàng kế toán sử dụng TK 641 và
TK 642 để theo dõi chi phí quản lý doanh nghiệp Các tài khoản này được mở chitiết theo các tài khoản cấp 2 tương ứng
Trang 24* Tổ chức hệ thống sổ kế toán để thu thập thông tin thực hiện về chi phí,
phục vụ yêu cầu quản trị doanh nghiệp
Để thu thập thông tin thực hiện về chi phí nhằm phục vụ cho yêu cầu của nhàquản trị kế toán cần sử dụng hệ thống các sổ kế toán chi tiết về chi phí Nội dungcủa sổ kế toán chi tiết chi phí phải đảm bảo theo dõi được chi tiết từng khoản mụcchi phí, yếu tố chi phí kết hợp với việc nhận dạng chi phí biến đổi và chi phí cốđịnh Phân tích được chi phí theo từng đối tượng tập hợp chi phí đã xác định sẽ phùhợp với yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết về chi phí để vừa phục vụ yêu cầu quản
lý chi phí đáp ứng yêu cầu xác định kết quả từng hoạt động, từng mặt hàng phùhợp với việc hạch toán ban đầu và theo yêu cầu của nhà quản trị
* Tổ chức hệ thống báo cáo
Để giúp các nhà quản trị thực hiện chức năng kiểm soát, các kế toán viênKTQT sẽ soạn thảo các báo cáo Trong đa số các báo cáo thực hiện, KTQT vừatrình bày các thông tin thực hiện, vừa trình bày những thông tin về dự toán (kếhoạch) tương ứng để đảm bảo so sánh những kết quả thực tế đạt được với dự toán,liệt kê tất cả những sự khác biệt giữa thực hiện với dự toán để giúp cho các nhàquản trị đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch (dự toán) Việc tổ chức các báocáo KTQT cần đảm bảo các yêu cầu:
- Các thông tin trên báo cáo phải được phân chia thành các chỉ tiêu phù hợpvới các tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi tình huống quyết định khácnhau và phải có mối quan hệ logic, chặt chẽ với nhau
- Các số liệu thực tế, dự toán, định mức hoặc các mục tiêu định trước trongbáo cáo phải so sánh được với nhau để giúp các nhà quản trị sử dụng thông tin thựchiện chức năng kiểm soát các hoạt động;
- Hình thức kết cấu các báo cáo cần đa dạng, linh hoạt tùy thuộc vào tiêuchuẩn đánh giá thông tin trong mỗi báo cáo phục vụ cho từng tình huống cụ thể
- Các chỉ tiêu trong báo cáo thực hiện nên được phân bổ theo loại sản phẩm,mặt hàng hoặc theo khu vực, thời gian, bộ phận
Trang 25- Thông tin về chi phí trong các báo cáo KTQT cần phải phân tích theo môhình ứng xử chi phí, tức là phân tích thành định phí và biến phí.
1.2.3 Lập dự toán trong các doanh nghiệp sản xuất
Một trong những đặc điểm của thông tin kế toán quản trị là cung cấp số liệukhông chỉ trong quá khứ mà còn cả ở hiện tại và tương lai Do vậy, kế toán quản trịchi phí ngoài việc tập hợp các chi phí phát sinh trong kỳ và tính giá thành theo đốitượng cụ thể, còn phải có nhiệm vụ lập dự toán các chi phí cho kỳ kế hoạch
Dự toán sản xuất kinh doanh là những dự kiến (kế hoạch) chi tiết chỉ rõ cáchthức huy động và sử dụng các nguồn lực cho các hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp một cách toàn diện và phối hợp, được xác định bằng một hệ thốngcác chỉ tiêu về số lượng và giá trị cho một khoảng thời gian xác định trong tươnglai, theo yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp Dự toán là căn cứ để đánh giátình hình thực hiện các chỉ tiêu đã dự kiến, tìm ra những nguyên nhân, nhân tố ảnhhưởng đến tình hình thực hiện các chỉ tiêu đó trên cơ sở đó có biện pháp hữu hiệunhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong thời kỳ tiếp theo Dự toán sảnxuất kinh doanh là căn cứ để các nhà quản trị doanh nghiệp khai thác các khả năngtiềm tàng nhằm phát huy nội lực và tăng sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp.Thông thường dự toán sản xuất kinh doanh được lập cho kỳ một năm phù hợp vớinăm tài chính của doanh nghiệp và được chia ra các quý các tháng trong năm Đểviệc lập dự toán được chính xác và có thể thực hiện được thì cuối tháng, cuối quýtrước khi lập dự toán cho tháng, quý tiếp theo cần đánh giá tình hình thực hiện dựtoán của tháng, quý đó tìm ra những nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng, xác địnhnhững nhân tố kinh tế xã hội sẽ tác động đến trong tương lai mà xác định mục tiêucần vươn tới
Dự toán chi phí có thể được xây dựng cho toàn doanh nghiệp và cho từng bộphận Đối với các DN sản xuất, dự toán chi phí thường tập hợp theo sản phẩm,nhóm sản phẩm và đơn đặt hàng Việc lập dự toán chi phí sẽ giúp cho nhà quản lýbiết trước và chủ động trong công tác quản trị chi phí Dự toán chi phí trong doanh
Trang 26nghiệp bao gồm dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trựctiếp, chi phí SXC, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp.
Chúng ta có thể lập dự toán chi phí ở các doanh nghiệp sản xuất như sau:
* Dự toán về chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán chi phí NLV trực tiếp bao gồm:
- Dự toán khối lượng NVL trực tiếp cần cho sản xuất sản phẩm trong kỳ kếhoạch
- Dự toán khối lượng vật liệu cần mua vào trong kỳ và giá trị vật liệu muavào trong kỳ kế hoạch
Việc lập dự toán khối lượng nguyên vật liệu cần trực tiếp cho sản xuất sảnphẩm trong kỳ kế hoạch dựa vào nhu cầu sản phẩm sản xuất trong kỳ theo dự toánsản lượng sản phẩm sản xuất và định mức lượng NVL tiêu hao cho một đơn vị sảnphẩm để tính:
Khối lượng NVL trực tiếp
cần cho sản xuất trong kỳ
kế hoạch
=
Khối lượng sản phẩmcần sản xuất trong kỳ
kế hoạch
+
Định mức lượngNVL tiêu hao chomột đơn vị sản phẩm
Từ dự toán NVL trực tiếp cần cho sản xuất nó sẽ chi phối tới việc dự kiếnlượng NVL cần mua vào trong kỳ để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất Dự toán NVLmua vào trong kỳ không chỉ để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong kỳ mà còn để dự trữcho một phần nhu cầu sản xuất kỳ sau, đồng thời lượng NVL mua vào trong kỳ kếhoạch cũng đã được đáp ứng một phần do tồn kho cuối kỳ trước chuyển sang
kế hoạch
+
Lượng NVL cầncho tồn kho cuối
kỳ kế hoạch
-Lượng NVLtồn kho đầukỳLượng NVL cần cho tồn kho cuối kỳ là lượng NVL dự tính sẽ phải dự trữ đểđáp ứng một phần nhu cầu về nguyên vật liệu của kỳ sau, có thể dự tính theo một tỷ
lệ nhất định hợp lý trên cơ sở dựa vào thực tế qua các kỳ thực hiện
Lượng NVL tồn đầu kỳ chính là lượng NVL tồn cuối kỳ trước chuyển sang
Dự toán trị giá NVL cần mua vào trong kỳ sẽ tính theo công thức:
Trang 27x
Định mức đơn giámua của NVLmua vào
Dự toán NVL mua vào đúng đắn và hợp lý có tác dụng trong việc bảo đảmcung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chất lượng, dự trữ hợp lý cho nhu cầu sản xuất,giúp cho quá trình sản xuất thực hiện đúng kế hoạch,
* Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp là dự kiến tổng số giờ công trực tiếp cần
để sản xuất trong kỳ kế hoạch và tổng chi phí nhân công trực tiếp của nó
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp nhằm giúp cho DN có kế hoạch và chủđộng trong việc huy động và sử dụng lao động trực tiếp từng kỳ, tránh tình trạngthiếu hoặc thừa lao động xảy ra, để sử dụng lao động có hiệu quả nhất
Khi lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp dựa vào khối lượng sản phẩm cầnsản xuất theo dự toán sản lượng sản xuất và định mức thời gian sản xuất của mộtđơn vị sản phẩm để tính tổng thời gian lao động trực tiếp cần thiết cho kỳ kế hoạch.Sau đó dựa vào định mức đơn giá của 1 giờ công lao động trực tiếp để tính dự toántổng chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán tổng thời gian
lao động trực tiếp cần
cho kỳ kế hoạch
=
Khối lượng sảnlượng cần sản xuấttrong kỳ kế hoạch
x
Định mức thời gian sảnxuất trực tiếp cho mộtđơn vị sản phẩm
x
Định mức đơn giácủa một giờ cônglao độngTuy nhiên nếu DN sản xuất nhiều loại sản phẩm thì dự toán sẽ được xâydựng cho từng loại sản phẩm, sau đó tổng cộng thành dự toán tổng thể toàn DN
* Dự toán chi phí SXC
Chi phí sản xuất chung thông thường bao gồm nhiều khoản mục và nhiều yếu
tố chi phí cấu thành Mặc dù vậy, khi lập dự toán chi phí SXC thường không lập dự
Trang 28toán chi tiết cho từng khoản mục chi phí cấu thành, mà lập dự toán theo định phí vàbiến phí chi phí SXC.
Khi xây dựng dự toán chi phí SXC trước hết xây dựng tổng biến phí SXC.Biến phí SXC được xác định dựa trên cơ sở tổng thời gian lao động trực tiếp và đơngiá biến phí SXC
+
Tổng định phí sảnxuất chung dự tínhcho kỳ kế hoạchTrong đó tổng định phí SXC là chi phí cố định không thay đổi so với kỳ thực
tế, do vậy lấy luôn định phí SXC của kỳ thực hiện trước đó để tính
Trường hợp DN sản xuất nhiều loại sản phẩm thì dự toán chi phí SXC cũngcần được lập cho từng loại sản phẩm, sau đó tổng hợp lại được dự toán chi phí SXCtoàn DN
Dự toán chi phí SXC cũng là căn cứ để lập dự toán tiền sau này, mặc dùkhông phải toàn bộ các khoản chi phí SXC đều được chi trực tiếp bằng tiền, song,thực thế dù chi phí SXC có chi bằng vật liệu, công cụ dụng cụ, tiền lương…nhưngnhững khoản đó cũng liên quan đến chi bằng tiền trong kỳ (chi mua vật liệu, muacông cụ dụng cụ, chi trả lương ) Nhưng không phải tất cả các khoản chi phí SXC
có liên quan đến dự toán tiền, ví dụ như chi phí khấu hao TSCĐ là một khoản mụcchiếm tỷ trọng lớn trong chi phí SXC - đối với DN sản xuất, nhưng không tính làkhoản chi phí bằng tiền Vì vậy, để xác chi phí SXC trong dự toán này có liên quanđến chi phí bằng tiền làm cơ sở xây dựng dự toán tiền sau này thì phải lấy tổng dựtoán chi phí SXC trừ (- ) đi chi phí khấu hao TSCĐ
* Dự toán chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động tiêu thụ của DN và
Trang 29ngược lại nên khi lập dự toán chi phí bán hàng phải tính đến mối liên hệ với dự toántiêu thụ của DN.
Dự toán chi phí bán hàng phản ánh các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sảnphẩm dự tính của kỳ sau Dự toán này nhằm mục đích tính trước và tập hợp cácphương tiện chủ yếu trong quá trình bán hàng Khi xây dựng dự toán cho các chiphí này cần tính đến nội dung kinh tế của chi phí cũng như yếu tố biến đổi và yếu tố
cố định trong thành phần chi phí
Dự toán chiphí bán hàng =
Dự toán biến phí
Dự toán địnhphí bán hàngYếu tố định phí thường ít biến đổi trong một phạm vi phù hợp gắn với cácquyết định dài hạn, và có thể dự báo một cách dễ dàng dựa vào chức năng kinhdoanh của DN Các chi phí cũng có thể thay đổi trong trường hợp phát triển thêmmạng phân phối mới, dịch vụ mới sau bán hàng…
Dự toán định
phí bán hàng =
Định phí bán hàngthực tế kỳ trước x
Tỷ lệ tăng (giảm)theo dự kiếnBiến phí bán hàng của DN có thể là biến phí trực tiếp như hoa hồng, lươngnhân viên bán hàng… Biến phí gián tiếp là những chi phí liên quan đến từng bộphận bán hàng như chi phí bảo trì, xăng dầu, hỗ trợ bán hàng… và thường được dựtoán trên cơ sở số lượng bán hàng dự toán hoặc xác định một tỷ lệ biến phí bánhàng theo thống kê kinh nghiệm nhiều kỳ
Dự toán biến phí
Dự toán biến phíđơn vị bán hàng X
Sản lượng tiêu thụtheo dự toán
* Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí QLDN là chi phí phát sinh trong phạm vi toàn bộ DN, thường khôngliên quan trực tiếp đến bộ phận hoạt động nào Do vậy việc lập dự toán biến phíquản lý DN thường sử dụng số liệu của các năm trước để lập dự toán Còn dự toánđịnh phí quản lý DN lập tương tự như định phí SXC, được tính qua công thức :
Dự toán chi phí quản
lý doanh nghiệp =
Dự toán biến phí quản
Dự toán định phíquản lý doanh nghiệp
Trang 30Dự toán biến phí quản lý DN thường dựa vào biến phí quản lý đơn vị nhânvới sản lượng tiêu thụ dự kiến.
Dự toán biến phí QLDN cũng có thể sử dụng phương pháp thống kê kinhnghiệm, trên cơ sở tỷ lệ biến phí QLDN trên biến phí trực tiếp trong và ngoài khâusản xuất ở các kỳ kế toán trước để xác định tỷ lệ biến phí bình quân giữa các kỳ
Định phí QLDN thường không thay đổi theo mức độ hoạt động Các thay đổicủa loại chi phí này chủ yếu do việc trang bị đầu tư thêm cho bộ phận quản lý của
DN Lập dự toán bộ phận này cần căn cứ vào dự báo các nội dung cụ thể của từngyếu tố chi phí để xác định chính xác định phí theo dự toán
1.2.4 Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm
1.2.4.1 Đối tượng tập hợp chi phí và kỳ tính giá thành
Chi phí là một nguồn lực được hi sinh hay mất đi để đạt một mục tiêu nhấtđịnh nào đó Chi phí phát sinh luôn gắn liền với một khoảng không gian cụ thể ở tạimột thời điểm cụ thể Do đó, xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tínhgiá thành là một đặc tính quan trọng trong kế toán quản trị, bởi nó không đơn thuầnphục vụ cho công tác tính giá thành mà còn liên quan đến công tác tổ chức kiểm trachi phí, và phục vụ các nhu cầu khác liên quan của nhà quản trị
- Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi, giới hạn để chi phí phát sinh được tậphợp theo đó Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí là xác định nơiphát sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ ) hoặc đốitượng chịu chi phí (sản phẩm, đơn đặt hàng…)
Tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể của DN mà đối tượng tập hợp chiphí trong các DN có thể là:
Từng SP, chi tiết SP, từng loại, nhóm SP, đơn đặt hàng…
Từng phân xưởng, đội, trại, bộ phận SX, từng giai đoạn công nghệ SX
Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn doanh nghiệp…
- Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, dịch vụ, công việc, lao vụ
mà DN đã sản xuất hoàn thành cần phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị
Trang 31Tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể của DN mà đối tượng tính giá thànhtrong các DN có thể là:
Từng sản phẩm hoặc từng loại sản phẩm và đơn vị sản phẩm thuộc từng đơnđặt hàng hoàn thành
Từng loại SP, dịch vụ và đơn vị SP, dịch vụ SX hoàn thành
Có thể là SP hoàn thành cuối kỳ của quy trình công nghệ hoặc có thể là bánthành phẩm ở từng giai đoạn và thành phẩm hoàn thành ở giai đoạn công nghệ cuốicùng và cũng có thể là từng bộ phận, từng chi tiết SP và SP đã lắp ráp hoàn thành
- Kỳ tính giá thành thông thường là theo tháng, quý, hoặc theo năm Doanhnghiệp căn cứ vào loại hình sản xuất sản phẩm, quy trình sản xuất sản phẩm và đặcđiểm sản xuất sản phẩm để xác định kỳ tính giá thành Đối với sản phẩm đơn chiếcthì kỳ tính giá thành là khi sản phẩm đơn chiếc hoàn thành
1.2.4.2 Phương pháp tính giá thành sản phẩm
Xuất phát từ đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành, mối quan hệ giữađối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành mà có nhiều phươngpháp tính giá thành khác nhau Các phương pháp tính giá thành chủ yếu thườngđược sử dụng trong các DN sản xuất gồm:
- Phương pháp tính giá thành theo công việc, sản phẩm
Tính giá thành theo công việc là hệ thống tính giá thành phổ biến áp dụng ởcác DN sản xuất đơn chiếc, hoặc sản xuất hàng loạt với khối lượng nhỏ theo đơn đặthàng, các DN xây lắp Hay nói cách khác phương pháp xác định chi phí theo côngviệc được áp dụng cho sản phẩm thực hiện theo đơn đặt hàng và theo yêu cầu củatừng khách hàng riêng biệt, sản phẩm dễ nhận diện, có giá trị cao
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng đơn đặt hàng Đối tượng tính giáthành là từng đơn đặt hàng hoàn thành
Giá thành sản phẩm bao gồm ba khoản mục là chi phí nguyên vật liệu trựctiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Quá trình SX bắt đầu bằng việc
chuyển các loại nguyên vật liệu từ khâu dự trữ sang khâu SX Phần lớn các nguyên
Trang 32vật liệu này trực tiếp tạo nên thực thể của sản phẩm sản xuất, và hình thành nênkhoản mục chi phí NVL trực tiếp Do mỗi công việc có những tính năng riêng biệt
về mặt kỹ thuật nên NVL sử dụng cho từng đơn hàng khác nhau về mặt số lượng,chủng loại và chất lượng Đặc điểm này dẫn đến các thủ tục trong quá trình mua vàxuất NVL ở đơn vị gắn liền với yêu cầu sản xuất của từng đơn hàng Đây là điềukiện thuận lợi để tập hợp trực tiếp chi phí NVL theo từng đơn hàng riêng biệt
Căn cứ vào phiếu xuất kho NVL, kế toán ghi nhận được chi phí NVL trựctiếp cho từng công việc, đơn đặt hàng Chi phí này được ghi vào sổ chi phí theocông việc hoặc đơn đặt hàng hoàn thành thì kế toán sẽ cộng tổng chi phí NVL trựctiếp và ghi vào tổng chi phí NVL trực tiếp để cùng với chi phí nhân công trực tiếp
và chi phí SXC làm cơ sở cho việc xác định giá thành
Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp: Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm
chi phí về tiền lương và các khoản trích theo lương của cong nhân trực tiếp sản xuấtsản phẩm Cũng như chi phí NVL trực tiếp, thông thường chi phí nhân công trựctiếp có thể theo dõi trực tiếp cho từng đơn đặt hàng Căn cứ vào bảng chấm cônghay báo cáo sản lượng, cuối tháng kế toán lương sẽ tổng hợp toàn bộ công việchoàn thành với đơn giá tiền lương từng công việc để tính ra tiền lương phải trả côngngười lao động Và ghi vào phiếu chi phí công việc tương ứng Khi đơn đặt hànghoàn thành, kế toán sẽ cộng tổng chi phí nhân công trực tiếp và ghi vào phần tổngchi phí, làm cơ sở để xác định giá thành
Tập hợp và phân bổ chi phí SXC: Chi phí SXC là những chi phí phát sinh
trong phạm vi phân xưởng, những chi phí phục vụ sản xuất phát sinh trong quá trìnhchế tạo sản phẩm, gồm: chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu
Chi phí SXC liên quan đến hoạt động SX của nhiêu đơn hàng, không thể tậphợp ngay khi phát sinh chi phí nên sẽ tập hợp trên một thẻ chi phí riêng Cuối thángtoàn bộ chi phí sẽ được tổng hợp và phân bổ cho từng đơn hàng theo tiêu thức thíchhợp Số được phân bổ sau đó sẽ được ghi vào phiếu chi phí công việc cho đơn đặthàng đó
Áp dụng phương pháp này doanh nghiệp căn cứ vào tình hình cụ thể để chọn
Trang 33một trong những tiêu thức phân bổ để phân bổ chi phí sản xuất chung Trên nguyêntắc tiêu thức được lựa chọn để phân bổ có mối quan hệ mật thiết với chi phí cầnphân bổ Chi phí SXC thường được phân bổ theo tiền lương của công nhân trực tiếpsản xuất theo từng đơn hàng, từng công việc Hầu như hoàn bộ các chi phí SXC tạinơi làm việc có mối liên hệ với tiêu thức phân bổ này Tuy nhiên, có hiện tượngkhông hợp lý là khi DN đang trong quá trình cải tiến công nghệ, thay thế lao độngthủ công bằng các máy móc tự động Trong trường hợp này việc lựa chọn tiền lươnghay giờ công làm tiêu chuẩn phân bổ sẽ không hợp lý
- Phương pháp tính giá thành theo quá trình sản xuất
Tính giá thành theo quá trình sản xuất gồm có các phương pháp sau:
+ Phương pháp tính giá thành giản đơn
Phương pháp tính giá thành giản đơn thích hợp với các DN sản xuất có quitrình công nghệ sản xuất giản đơn, khép kín từ khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuấtcho tới khi hoàn thành sản phẩm, mặt hàng sản phẩm ít, khối lượng lớn, Chu kỳngắn, kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo
Theo phương pháp này giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sảnxuất đã tập hợp trong kỳ, chi phí của sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ
+
Chi phí sảnxuất trongkỳ
-Chi phí sảnphẩm dở dangcuối kỳ
+ Phương pháp tính giá thành theo hệ số
Áp dụng đối với DN có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn Trường hợpquy trình sản xuất sử dụng cùng một loại nguyên liệu vật liệu chính, kết thúc tạo ranhiều sản phẩm khác nhau, còn gọi là quy trình liên sản phẩm, đối tượng tập hợpchi phí là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, đối tượng tính giá thành
là từng loại sản phẩm hoàn thành
Tổng giá thành đơn vị
= Khối lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳGiá thành
đơn vị sản phẩm
Trang 34Trình tự thực hiện:
- Căn cứ đặc đIểm kinh tế kỹ thuật quy định cho mỗi loại sản phẩm một hệ
số Trong đó chọn loại sản phẩm có đặc trưng tiêu biểu nhất có hệ số bằng 1
- Quy đổi sản lượng thực tế từng loại sản phẩm ra sản lượng sản phẩm chuẩn.Tổng sản lượng
+
Chi phí sảnxuất trongkỳ
-Chi phí sảnphẩm dở dangcuối kỳ
- Tính hệ số phân bổ chi phí của từng loại sản phẩm:
- Tính giá thành từng loại sản phẩm :
Tổng giá thành
liên sản phẩm i =
Tổng giá thànhliên sản phẩm x
Hệ số phân bổ chiphí sản phẩm i
+ Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp cùng một quy trình công nghệsản xuất thu được một nhóm sản phẩm với chủng loại, phẩm cấp, quy cách khácnhau Trong trường hợp này đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là nhóm sản phẩmcòn đối tượng tính giá thành là từng qui cách sản phẩm trong nhóm sản phẩm đó
Tỷ lệ Tổng giá thành của nhóm sản phẩm
= Giá thành Tổng tiêu chuẩn phân bổ
Trang 35+ Phương pháp tính giá thành phân bước
Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp có quy trình công nghệphức tạp kiểu liên tục, sản phẩm phải trải qua nhiều giai đoạn chế biến liên tục kếtiếp nhau, nửa thành phẩm giai đoạn trước là đối tượng tiếp tục sản phẩm ở giaiđoạn sau
* Đặc điểm kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành phân bước.
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất trong trường hợp này là từng công đoạn,từng bộ phận (phân xưởng) khác nhau của doanh nghiệp
Đối tượng tính giá thành: Việc xác định đối tượng tính giá thành còn phụthuộc vào đặc điểm qui trình công nghệ và tính chất sử dụng sản phẩm
Trong trường hợp này đối tượng tính giá thành có thể là thành phẩm hay nửathành phẩm Do có sự khác nhau về đối tượng tính giá thành nên phương pháp này
có hai phương án như sau:
* Phương án tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm.
Theo phương án này kế toán phải lần lượt tính giá thành nửa thành phẩm củagiai đoạn trước kết chuyển sang giai đoạn sau một cách tuần tự để tiếp tục tính giáthành nửa thành phẩm ở giai đoạn sau, căn cứ như vậy cho đến khi tính được giáthành thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng
Trang 36Trình tự tính giá thành thể hiện qua sơ đồ 1.1:
Giai đoạn1 Giai đoạn 2 Giai đoạn n
Sơ đồ 1.1: Trình tự tính giá thành theo phương phápphân bước có tính giá thành
+
Chi phí SX dởdang đầu kỳgiai đoạn i
+
Chi phí SXtrong kỳgiai đoạn i
-Chi phí SX dởdang cuối kỳgiai đoạn iPhương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩmgiúp tính được giá thành nửa thành phẩm ở từng giai đoạn sản xuất, thuận tiện chohạch toán nửa thành phẩm nhập kho
* Phương án tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm.
Theo phương án này đối tượng tính giá thành là thành phẩm ở giai đoạn côngnghệ cuối cùng Do vậy để tính giá thành chỉ cần tính toán, xác định chi phí sảnxuất của từng giai đoạn nằm trong thành phẩm Trình tự tính giá thành thể hiện qua
sơ đồ 1.2:
Chi phí chế biến
Giá thành bán thành phẩm giai đoạn 2chuyển sang
Chi phí NVL
chính
Giá thành bán thành phẩm giai đoạn 1chuyển sang
Tổng Z và Z đơn vị
giai đoạn 1 Tổng Z và Z đơn vị giai đoạn 2 Tổng Z và Z đơn vị thành phẩm
Trang 37Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn nChi phí sản xuất
giai đoạn 1
Chi phí sản xuấtgiai đoạn 2
Chi phí sản xuấtgiai đoạn nChi phí sản xuất
của giai đoạn 1
trong thành phẩm
Chi phí sản xuấtcủa giai đoạn 2trong thành phẩm
Chi phí sản xuấtcủa giai đoạn ntrong thành phẩm
Giá thành thành phẩm
Sơ đồ 1.2: Trình tự tính giá thành theo phương pháp phân bước không tính giá
thành nửa thành phẩm
- Phương pháp tính giá thành theo định mức
Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp có qui trình công nghệ sảnxuất ổn định, có hệ thống các định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi phí hợp lý,
có trình độ tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cao, công táchạch toán ban đầu chặt chẽ
Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp định mức sẽ kiểm tra thườngxuyên, kịp thời tình hình thực hiện định mức, dự toán chi phí vượt định mức, giảmbớt khối lượng ghi chép và tính toán của kế toán
Phương pháp tính giá thành theo định mức được thực hiện theo trình tự sau:
- Tính giá thành định mức của sản phẩm: cơ sở để tính là định mức kỹ thuậthiện hành Kế toán có thể tính giá thành định mức cho sản phẩm, nửa thành phẩmhoặc các bộ phận chi tiết cấu thành nên sản phẩm
Xác định số chênh lệch do thay đổi định mức Do việc thay đổi định mứcthường tiến hành vào đầu tháng nên khi tính số chênh lệch do thay đổi định mức chỉcần thực hiện cho sản phẩm sản xuất dở dang đầu kỳ
- Xác định số chênh lệch do thoát ly định mức: số chênh lệch này phát sinh
do tiết kiệm hoặc vượt chi
- Tính giá thành thực tế của sản phẩm:
Trang 38- Phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động (phương pháp ABC)
Phương pháp ABC xác định đối tượng tập hợp chi phí là các hoạt động Mỗihoạt động theo phương pháp này được hiểu như là nơi có yếu tố cơ bản làm phátsinh chi phí trong DN
Quá trình tính giá theo phương pháp ABC trong DN sản xuất được chia thànhcác bước sau:
Bước 1: Nhận diện các chi phí trực tiếp
Chi phí trực tiếp bao gồm: chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.Chi phí này có thể nhận diện ngay khi phát sinh chi phí và được tập hợp trực tiếpcho từng đối tượng tính giá thành
Bước 2: Nhận diện các hoạt động
Kế toán quản trị phải phát hiện các hoạt động có yếu tố cơ bản (nguồn sinhphí) làm phát sinh chi phí Tùy thuộc vào đặc điểm tổ chức sản xuất và quy trìnhcông nghệ mà mỗi DN có các hoạt động khác nhau Chi phí phát sinh ở các hoạtđộng thực chất là chi phí chung, chi phí này liên quan đến nhiều đối tượng tính giáthành cho nên cần tập hợp theo từng hoạt động, sau đó mới tiến hành phân bổ
Bước 3: Chọn tiêu thức phân bổ
Sau khi các chi phí gián tiếp được tập hợp theo từng nhóm sản phẩm thì sẽtiến hành lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí của từng nhóm hoạt động cho đốitượng tính giá
Bước 4: Tính toán mức phân bổ
Dựa trên cơ sở các nhóm hoạt động, chi phí gián tiếp được tập hợp cho từngnhóm sản phẩm, và kế toán tiến hành tính toán tỷ lệ phân bổ Nếu hoạt động liênquan đến sản xuất một sản phẩm, dịch vụ thì toàn bộ chi phí được kết chuyển chosản phẩm hoặc dịch vụ đó Nếu một hoạt động được sử dụng cho sản xuất nhiều loạisản phẩm, dịch vụ thì chi phí được phân bổ cho mỗi loại sản phẩm, dịch vụ dựa trênmức độ tiêu dùng hoạt động của từng loại sản phẩm, dịch vụ
Bước 5: Tổng hợp tất cả các chi phí để tính giá thành
Trang 391.2.5 Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
1.2.5.1 Kế toán chi phí bán hàng
Chi phí được hiểu là toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa vàchi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính một kỳ nhất định
Chi phí luôn có tính chất cá biệt bao gồm tất cả các khoản chi phí mà doanhnghiệp đã bỏ ra để tồn tại và tiến hành hoạt động của mình bất kể đó là chi phí cầnthiết hay không
Xét về thực chất thì chi phí sản xuất kinh doanh là sự dịch chuyển vốn củadoanh nghiệp vào các đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏvào quá trình sản xuất kinh doanh Do vậy, trong quản lý các hoạt động sản xuấtkinh doanh các nhà quản trị cần biết số chi phí bỏ ra cho từng hoạt động, từng loạisản phẩm, dịch vụ trong kỳ là bao nhiêu
Như vậy, chi phí bán hàng là toàn bộ chi phí biểu hiện bằng tiền của toàn bộhao phí lao động sống, lao động vật hóa và các khoản chi phí cần thiết khác phục vụcho quá trình bảo quản và tiêu thụ hàng hóa
Chi phí bán hàng phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình tồn tại và hoạtđộng của doanh nghiệp Nhưng để phục vụ cho yêu cầu quản lý thì chi phí bán hàngphải được tập hợp theo từng thời kỳ
Chi phí bán hàng gồm nhiều loại với tính chất kinh tế, mục đích, công dụng
và yêu cầu quản lý khác nhau Để hạch toán đúng đắn chi phí và đáp ứng yêu cầucủa nhà quản trị, cần phân loại chi phí theo các tiêu thức khác nhau
* Phân loại chi phí bán hàng
- Phân theo nội dung, tính chất kinh tế bao gồm:
Chi phí nhân viên: phản ánh các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng, nhânviên đóng gói, vận chuyển, bảo quản sản phẩm bao gồm tiền lương, tiền ăn ca, tiềncông và các khoản trích theo lương
Chi phí vật liệu: phản ánh chi phí vật liệu, bao bì xuất dùng cho việc tiêu thụsản phẩm
Trang 40Chi phí dụng cụ: Phản ánh chi phí công cụ dụng cụ phục vụ cho quá trìnhtiêu thụ sản phẩm, hàng hóa
Chi phí khấu hao:Phản ánh chi phí khấu hao ở bộ phận bảo quản như nhàkho, cửa hàng, phương tiện bốc dỡ
Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụcho bán hàng như chi phí thuê sữa chửa TSCĐ, phục vụ trực tiếp cho khâu bán, vậnchuyển sản phẩm
- Phân theo mối quan hệ giữa chi phí với doanh thu
Chi phí bán hàng khả biến: là những khoản chi phí biến đổi tỷ lệ thuận với sựthay đổi của doanh thu, nhưng không thay đổi nếu tính trên một đơn vị hoạt động.Thuộc loại chi phí này bao gồm tiền lương nhân viên bán hàng theo sản phẩm, chiphí vật liệu
Chi phí bán hàng bất biến: là những khoản chi phí ở một mức độ hoạt độngcăn bản khong biển đổi khi mức độ hoạt động thay đổi Nhưng tính cho một đơn vịhoạt động thì chi phí này lại thay đổi
1.2.5.2 Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí phát sinh liên quan đến hoạtđộng quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và quản lý điều hành chung toàndoanh nghiệp Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm các khoản sau:
- Chi phí nhân viên quản lý doanh nghiệp: gồm các khoản tiền lương và cáckhoản phụ cấp và các khoản trích theo lương
- Chi phí vật liệu phục vụ cho quản lý doanh nghiệp
- Chi phí dụng cụ, đồ dùng phục vụ cho quản lý doanh nghiệp
- Chi phí khấu hao TSCĐ phục vụ chung cho toàn doanh nghiệp như nhàcửa, văn phòng, phương tiện vận tải
- Chi phí dịch vụ mua ngoài như: tiền điện, tiền nước, điện thoại, chi phí sữachửa TSCĐ
- Chi phí dịch vụ bằng tiền đã chi ra để phục vụ cho hoạt động của doanhnghiệp như: chi tiếp khách cho bộ phận quản lý, chi phí tổ chức hội nghị