Lý do chọn đề tài: Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát triển năng lực học sinh là một điều không phải là đơn giản nhưng không phải nằmngoài tầm tay, lại có tác dụng rất lớn
Trang 11.Tên đề tài:
SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ PHÁTTRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH QUA CÁC VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONGCHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC CƠ SỞ (THCS)
2 Đặt vấn đề:
2.1 Tầm quan trọng của vấn đề: Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối
cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũngđặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhânlực Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từnền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dụcchú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạocủa người học Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là pháthuy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộngtác làm việc của người học Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cáchphương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông
Trong định hướng phát triển chương trình giáo dục phổ phổ thông sau 2015,môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp tiếng Việt
và năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ là các năng lực mang tính đặcthù của môn học; ngoài ra, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề,năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân (là các năng lực chung) cũng đóng vaitrò quan trọng trong việc xác định các nội dung dạy học của môn học Với mongmuốn phát triển năng lực cho học sinh, rèn luyện các em kĩ năng cần thiết cho cuộcsống thích ứng với yêu cầu của xã hội, tôi chọn đề tài: sử dụng các phương phápdạy học tích cực để phát triển năng lực học sinh qua các văn bản nhật dụng trongchương trình THCS
Các văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THCS mang tính đặcthù Nói đến văn bản nhật dụng, trước hết là nói đến tính chất nội dung văn bản
Đó là những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắtcủa con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: thiên nhiên, môi trường,năng lượng, dân số, quyền trẻ em, tệ nạn xã hội, Mục tiêu cuối cùng cần đạt được
là người học phải thấy được tính chất đó của từng văn bản để từ đó có ý thức cũngnhư đề ra cách thức hành động cụ thể mang tính tích cực sau khi học xong một bài
Vì thế, tạo hứng thú, để học sinh tự nói lên suy nghĩ, hành động, thể hiện sự hiểubiết, thực hiện công tác tuyên truyền, đối với các vấn đề nêu ra ở mỗi văn bảnnhật dụng là vấn đề hết sức quan trọng đối với giáo viên đang dạy học những vănbản này
Trang 22.2 Thực trạng liên quan: Để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra không phải là
dễ so với yêu cầu của một học sinh THCS nhưng không phải là không làm được.Thực tế, học sinh đã thể hiện khả năng từ những bài viết, bài tập, bài nghiên cứu của mình Nhưng nhìn chung, các em thực hiện các yêu cầu của các tiết học nàychỉ mang tính bắt buộc là chủ yếu chứ chưa thật sự tự nguyện vì hứng thú, chưa đisâu vào một vấn đề cụ thể Thường thì các em chỉ lắng nghe, ít thể hiện khả năngbản thân, nhất là trong các tiết có tính thực tế cuộc sống rõ ràng như những vănbản nhật dụng Lượng kiến thức ở những văn bản này vừa rộng vừa sâu, nội dung
có tính thực tế cao đòi hỏi phải sưu tầm, nghiên cứu từ nhiều nguồn: cuộc sốngxung quanh, tư liệu khoa học, hình ảnh minh họa, đề tài nghiên cứu có liên quan,huy động kiến thức nhiều môn học Trong khi đó, học sinh ở lứa tuổi này đa sốham học hỏi, tìm tòi nghiên cứu những điều mới mẽ nhưng lại thiếu kiên nhẫn, tầmnhìn có hạn, khả năng khái quát vấn đề không cao, kỹ năng trình bày còn ít lưuloát Điều đó cũng gây khó khăn cho các em trong nghiên cứu, trình bày một vấn
đề cụ thể
2.3 Lý do chọn đề tài: Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát
triển năng lực học sinh là một điều không phải là đơn giản nhưng không phải nằmngoài tầm tay, lại có tác dụng rất lớn trong việc dạy học môn Ngữ văn, nhất là dạyhọc các văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THCS, nên tôi luôn cốgắng tìm tòi các phương pháp giúp học sinh tránh được sự nhàm chán, kích thích
sự sáng tạo, tư duy, rèn luyện tính tự tin, năng lực trình bày vấn đề một cách khoahọc, năng lực làm việc theo nhóm, năng lực giao tiếp Và tôi thấy rằng sử dụngcác phương pháp dạy học tích cực để phát triển năng lực học sinh qua các văn bảnnhật dụng trong chương trình THCS là hết sức cần thiết và đem lại hiệu quả caotrong dạy học cũng như trong giáo dục nên tôi đã tập trung đầu tư, nghiên cứu các
phương pháp này
2.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này, tôi xin được đề cập đến việc tổ chức sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát triển năng lực học sinh qua các văn bản nhật dụng trong chương trình THCS.
2.5 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh các khối lớp ở trưòng THCS.
3 Cơ sở lý luận:
Học sinh đến trường không chỉ được học những kiến thức khoa học; chúng
ta không chỉ có nhiệm vụ giúp các em phát triển trí tuệ mà phải thực hiện mục tiêu
giáo dục “ giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách
Trang 3và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" (Điều 27 - Luật giáo dục)
Để thực hiện được mục tiêu đó, ngành giáo dục nói chung, mỗi giáo viênđứng lớp nói riêng phải sử dụng nhiều phương pháp phù hợp Điều 28 (Luật giáo
dục) cũng đã nêu: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh."
Có thể nói tổ chức tốt tiết học theo có sử dụng các phương pháp dạy học tíchcực là đã tạo được hứng thú để các em chủ động phát hiện kiến thức trong bài học,góp phần thực hiện được mục tiêu giáo dục Hơn nữa, qua các phương pháp dạyhọc này, giáo viên có cơ sở để phát huy năng lực học sinh theo đúng hướng, bởi
“hạnh kiểm học sinh được biểu hiện cụ thể ở hành vi, thái độ của các em với thầy
cô, với bạn bè, ý thức vươn lên trong học tập, tham gia các hoạt động,…” (Quyết
định 40/2006/QĐ-BGD&ĐT - ngày 05/10/2006 ban hành qui chế đánh giá xếp loạihọc sinh THCS, THPT)
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản,
toàn diện GD-ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bảnchất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực ngườihọc và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này
4 Cơ sở thực tiễn:
Giáo viên cần nắm được nguyên tắc: Giáo dục phải đi trước sự phát triển, cónghĩa là kéo theo sự phát triển chứ không phải chạy theo sự phát triển của trẻ.Chính vì thế, trong các hoạt động dạy học, giáo viên luôn ý thức phải làm sao chohọc sinh có thể tiếp nhận các hình thức tổ chức, định hướng hoạt động của giáoviên, để từ đó có ý thức tích cực trong mọi hoạt động để phát triển một cách toàndiện
Nhưng thực tế, chỉ có một bộ phận học sinh đã xác định tầm quan trọng củamôn Ngữ văn nên có ý thức học tập bộ môn, chăm chỉ, có ý thức cố gắng trong học
Trang 4tập và rèn luyện môn học này Tuy nhiên theo đặc thù bộ môn, theo xu thế của xãhội, môn Ngữ văn đang bị mất dần vị thế của nó Học sinh (cũng như một số phụhuynh) ít mặn mà với bộ môn Ngữ văn và chỉ coi môn Ngữ văn là môn học bắtbuộc (vì hầu hết các kì thi tốt nghiệp, thi chuyển cấp đều thi môn Ngữ văn) Đểchọn ngành nghề sau này được dễ dàng, để có một ngành có thể dễ ổn định cuộcsống, các bậc cha mẹ thường định hướng con em học những môn như Toán, Lí,Hóa, Ngoại ngữ,… Hơn nữa, trường tôi nằm ở địa bàn của một xã miền núi cònnhiều khó khăn, nhiều gia đình học sinh có cha mẹ đi làm nương rẫy xa nhà, ítquan tâm đến việc học của con nên có một bộ phận học sinh rất lơ là trong học tập,chất lượng học tập các môn đạt rất thấp, trong đó có môn Ngữ văn.
Đối với việc áp dụng các phương pháp học tập mới đòi hỏi nhiều phươngtiện hiện đại, công nghệ cao, tính hợp tác cao lại càng khó khăn, khó thực hiện tốt
Nói như thế không phải để đi đến kết luận là không thể thực hiện tốt việc đổimới các phương pháp dạy học, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực cho họcsinh, mà đây là cách nhìn nhận thực tế để có thể tìm ra được giải pháp hiệu quả chovấn đề này Trong thực tiễn dạy học hiện nay, ta có nhiều cơ hội để thực hiện tốtnhiệm vụ của mình Cụ thể là:
- Đầu tiên phải nói đến quá trình tìm hiểu về các phương pháp, cách thứcdạy học cho học sinh hiệu quả Trong giai đoạn hiện nay có rất nhiều tài liệunghiên cứu về giáo dục, dạy học ta có thể tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao nănglực giáo dục, dạy học như đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánhgiá, phương pháp dạy học tích cực, dạy học với công nghệ thông tin, giáo dục kỹnăng sống, giá trị sống cho học sinh, Chính những tài liệu này giúp ích cho ngườigiáo viên rất nhiều trong việc tìm phương pháp hiệu quả nhất để dạy học sinh
- Tiếp đến phải nói đến các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục, dạyhọc Ngày nay, giáo dục vẫn luôn được coi trọng, vẫn là một trong những quốcsách hàng đầu của nước ta, mọi người ai cũng hiểu đầu tư cho giáo dục là đầu tưcho sự phát triển nên luôn được Đảng, Nhà nước, xã hội, gia đình, nhà trườngđặc biệt quan tâm, tạo mọi điều kiện để người giáo viên hoàn thành tốt nhất nhiệm
vụ này Người giáo viên luôn có thể phối hợp với nhiều lực lượng giáo dục để dạyhọc học sinh như giáo viên bộ môn, lãnh đạo nhà trường, gia đình học sinh, các lựclượng giáo dục ở địa phương Điều này sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức củagiáo viên khi tiến hành các tiết học yêu cầu cao, sử dụng các phương pháp dạy họctích cực nhằm phát triển năng lực của học sinh
- Không những thế, từ nhiều nguồn thông tin từ đồng nghiệp, từ các chươngtrình tập huấn chuyên môn, từ tài liệu nghiên cứu, giáo viên có thể tự tìm ra
Trang 5nhiều cách thức, phương pháp để tạo hứng thú cho học sinh (như một số cách thứcđược trình bày trong phần nội dung nghiên cứu bên dưới) một cách hiệu quả.
- Cũng từ chính việc tạo được hứng thú cho học sinh, khi học sinh đã cóhứng thú, các em sẽ tự tìm tòi, nghiên cứu những phương pháp tổ chức để nâng caonăng lực bản thân Bằng những cách thức đó, ta có thể giải quyết một cách hiệuquả một vấn đề tưởng chừng nan giải
- Tuy nhiều gia đình học sinh còn khó khăn nhưng vẫn có một số gia đình cóđiều kiện, rất quan tâm đến việc học tập của con, tìm mọi cách để con có thể tiếpthu cái mới, áp dụng kỹ thuật công nghệ để nâng cao năng lực học tập, khám phácái mới, không ngừng vươn lên
- Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ của thế giới, sựphát triển mạnh mẽ của kinh tế đất nước, hiện nay, mạng thông tin truyền thông đãđến khắp mọi miền Điều đó cũng là một lợi thế to lớn cho việc áp dụng cácphương pháp dạy học tích cực đối với một trường ở miền quê như trường tôi
- Mặc dù nhà trường vẫn còn nhiều khó khăn nhưng lãnh đạo trường, Banđại diện cha mẹ học sinh trường đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để trường ứng dụngcông nghệ thông tin vào dạy học như nối mạng in-tơ-nét, lắp đặt ti-vi màn hìnhrộng, thường xuyên tổ chức cho cán bộ, viên chức, nhân viên nhà trường học tậpứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Điều đó đã giúp cho giáo viên nângcao năng lực giảng dạy của bản thân, thuận lợi trong việc áp dụng phương phápdạy học tích cực
Trường tôi là một trường còn khá khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất, các
em học sinh của địa phương đặc thù là vùng thuần nông, điều kiện kinh tế khókhăn cho nên còn nhiều hạn chế về tinh thần, vật chất Vì vậy, giáo viên cần phảichủ động, sáng tạo tìm các biện pháp tích cực để giúp đỡ các em có được sự tự tin
về bản thân, sự hứng thú, chủ động trong học tập và rèn luyện, giúp các em từngbước hoàn thiện để phát triển những kĩ năng cần thiết mà xã hội yêu cầu Từ nhiệm
vụ đó, tôi đã chủ động, mạnh dạn áp dụng các phương pháp dạy học tích cực đểphát triển năng lực học sinh qua các văn bản nhật dụng trong chương trình THCS
vào thực tế trong quá trình giảng dạy.
5 Nội dung nghiên cứu:
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trìnhgiáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗquan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụngđược gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phươngpháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng
Trang 6kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Giáo dục địnhhướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyênmôn bao gồm tri thức, kĩ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phươngpháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể Đây là những năng lực chung cốt lõi màhọc sinh cần có để thích ứng với nhu cầu phát triển của xã hội.
Theo tài liệu tập huấn “ Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng pháttriển năng lực học sinh” có liệt kê ra các năng lực và sắp xếp theo 4 nhóm sau:
- Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm:
+ Năng lực tự học
+ Năng lực giải quyết vấn đề
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực quản lý bản thân
- Năng lực xã hội, bao gồm:
+ Năng lực giao tiếp
+ Năng lực hợp tác
- Năng lực công cụ, bao gồm:
+ Năng lực tính toán
+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ
+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin
Các năng lực sẽ được phát huy trong các tiết dạy văn bản nhật dụng là:
+ Năng lực giải quyết vấn đề
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực hợp tác
+ Năng lực giao tiếp
+ Hai năng lực công cụ cần phát huy: Năng lực sử dụng ngôn ngữ vànăng lực ứng dụng công nghệ thông tin
5.1.Lý luận về năng lực cần phát triển:
a Năng lực giải quyết vấn đề:
Năng lực giải quyết vấn đề là một năng lực chung, thể hiện khả năng củamỗi người trong việc nhận thức, khám phá được những tình huống có vấn đề tronghọc tập và cuộc sống mà không có định hướng trước kết quả,và tìm các giải pháp
để giải quyết các vấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tưduy, hợp tác trong việc lựa chọn và quyết định giải pháp tối ưu
Quá trình giải quyết vấn đề được thực hiện bằng sự hứng thú tìm tòi, khámphá cái mới, tinh thần trách nhiệm của cá nhân và sự phối hợp tương tác giữa các
cá nhân, vận dụng tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ, tính sẵn sàng…thểhiện qua các hoạt động cụ thể
Đối với các văn bản nhật dụng trong chương trình THCS, các em sẽ vậndụng năng lực này khi tiến hành thực hiện các dự án, giải quyết tình huống có vấn
đề, xây dựng và thực hiện kịch bản, lý giải các hiện tượng đời sống, thể hiện quanđiểm cá nhân với các vấn đề thực tiễn,…
Trang 7b Năng lực sáng tạo:
Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của học sinh trong việcsuy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và đờisống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả để thựchiện ý tưởng Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, học sinh bộc lộ óc tò mò,niềm say mê tìm hiểu khám phá
Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê và khát khao được tìmhiểu của học sinh, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức Trong các tiết họccác văn bản nhật dụng trong chương trình THCS, một trong các yêu cầu cao là họcsinh, với tư cách là người đọc, phải trở thành người đồng sáng tạo với tác phẩm.Kết quả của năng lực này các em sẽ thể hiện rõ qua việc thực hiện dự án, xây dựng
và thể hiện kịch bản liên quan đến nội dung bài học
c Năng lực hợp tác
Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm để hoànthành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộc lẫnnhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau Khi làm việc cùngnhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp đỡ, lắng nghe ngườikhác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng dân chủ Đây là hình thứchọc tập giúp học sinh ở mọi cấp học phát triển cả về quan hệ xã hội lẫn thành tíchhọc tập
Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân
và tập thể trong học tập và cuộc sống Năng lực hợp tác cho thấy khả năng làmviệc hiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tươngtrợ lẫn nhau để cùng hướng tới một mục đích chung Đây là một năng lực rất cầnthiết trong xã hội hiện đại, khi chúng ta đang sống trong một môi trường, mộtkhông gian rộng mở của quá trình hội nhập
Trong khi dạy các tiết văn bản nhật dụng, năng lực hợp tác thể hiện ở việchọc sinh cùng chia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thựchiện các nhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học Thông qua các hoạt động nhóm,cặp, học sinh thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt
ra, đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh
cá nhân mình Đây là những yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nhân cáchcủa người học sinh trong bối cảnh mới
d Năng lực giao tiếp
Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe,nhằm đạt được một mục đích nào đó Việc trao đổi thông tin được thực hiện bằngnhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện sử dụng quan trọng nhất trong giao tiếp
là ngôn ngữ Năng lực giao tiếp do đó được hiểu là khả năng sử dụng các quy tắccủa hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương diện của đờisống xã hội, trong từng bối cảnh cụ thể, nhằm đạt đến một mục đích nhất địnhtrong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con người với nhau trong xã hội Nănglực giao tiếp bao gồm các thành tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự
Trang 8hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biếttrên vào các tình huống phù hợp để đạt được mục đích
Trong môn học Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho học sinh năng lựcgiao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mangtính đặc thù của môn học Đây cũng là mục tiêu chi phối trong việc đổi mớiphương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo quan điểm giao tiếp, coi trọng khảnăng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt trong những bối cảnh giaotiếp đa dạng của cuộc sống Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng
Việt được thể hiện ở 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng
các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộcsống Trong khi dạy các văn bản nhật dụng, sử dụng các phương pháp dạy học tíchcực sẽ phát huy rất tốt năng lực này
Ngoài ra, khi sử dụng các phương pháp dạy học tích cực đối với các văn bản nhật dụng trong chương trình THCS như dạy học dự án, thảo luận nhóm, đóng vai, nghiên cứu tình huống sẽ phát huy được hai năng lực công cụ: năng lực
sử dụng ngôn ngữ và năng lực ứng dụng công nghệ thông tin.
5.2 Hệ thống văn bản nhật dụng trong chương trình THCS:
6 5, 6 Cuộc chia tay của những con búp bê
7 113 Ca Huế trên sông Hương
8 8 39 Thông tin về ngày trái đất năm 2000
Trang 9- Đặc trưng của văn bản nhật dụng trong chương trình THCS: Văn bản nhậtdụng có tính đặc thù, nói đến văn bản nhật dụng trước hết là nói đến tính chất nộidung văn bản Đó là những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộcsống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: thiên nhiên,môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma túy, mục tiêu cuối cùng cần đạtđược là người học phải thấy được tính chất đó của từng văn bản để từ đó có ý thứccũng như đề ra cách thức hành động cụ thể mang tính tích cực sau khi học xongmột bài Với loại văn bản này, chúng ta ít đi sâu, phân tích giá trị nghệ thuật củavăn bản Chính tính đặc thù đó sẽ là lợi thế để sử dụng các phương pháp dạy họctích cực để phát triển năng lực học sinh qua các văn bản nhật dụng trong chươngtrình THCS
- Các điều kiện vật chất, trang thiết bị, đồ dùng được sử dụng:
+ Ở học sinh: Có nhiều gia đình học sinh có máy vi tính, có kết nối mạng, cómáy ảnh hoặc điện thoại di động có thể chụp hình, biết sử dụng khá thành thạo vitính
+ Giáo viên: Đa số có máy vi tính hoặc máy tính xách tay, sử dụng thànhthạo những thao tác cần thiết cho việc soạn và trình chiếu các giáo án điện tử
+ Trên lớp học: 100% lớp học có ti vi màn hình rộng, mạng không dây
- Sự hứng thú của học sinh: Học sinh khá hứng thú với công nghệ thông tin,hứng thú với việc thể hiện khả năng thực sự của mình trước tập thể
- Khả năng hướng dẫn, định hướng, tổ chức của giáo viên: Giáo viên có tâmhuyết, có phương tiện, có tài liệu, có phương pháp, nên có khả năng thực hiện tốtcác tiết học theo phương pháp mới này
b Cách thức thực hiện:
Bên cạnh những phương pháp dạy học theo đặc trưng của bộ môn Ngữ văn,
việc phát huy các phương pháp dạy học tích cực sẽ góp phần vào việc đổi mớiphương pháp dạy học Ngữ văn đạt hiệu quả, đồng thời phát triển năng lực ngườihọc Để phát triển năng lực cho học sinh, tôi chọn một số phương pháp dạy họctích cực sau:
b.1 Thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học tạo được sự thamgia tích cực của học sinh trong học tập Trong thảo luận nhóm, học sinh được thamgia trao đổi, bàn bạc, chia sẻ ý kiến về một vấn đề mà cả nhóm cùng quan tâm.Thảo luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính dân chủ, mọi cá nhân được tự
do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểmbất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyếtvấn đề khó khăn Thảo luận nhóm được tiến hành theo các hình thức: nhóm nhỏ
Trang 10(cặp đôi, cặp 3), nhóm trung bình (4 đến 6 người), nhóm lớn (8 đến 10 người trởlên) Tùy mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫunhiên hay cố định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học,được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.
Khi thực hiện nhiệm vụ trong thảo luận nhóm, nhóm tự bầu nhóm trưởngnếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc, mỗi thànhviên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết vànăng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ratrong không khí thi đua với các nhóm khác Để trình bày kết quả làm việc củanhóm, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bàymột phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm khá phức tạp
Để tổ chức một hoạt động dạy học theo hình thức thảo luận nhóm, giáo viêncần tiến hành theo các bước như sau:
- Bước giao nhiệm vụ:
+ Chuẩn bị đề tài, câu hỏi, hình thức trình bày, thời gian thảo luận
+ Nội dung: thường là những câu hỏi, bài tập tương đối phức tạp cần huyđộng sự suy nghĩ, chia sẻ của nhiều học sinh để tìm các giải quyết
+ Phương tiện hỗ trợ: Phiếu học tập, bảng phụ, tùy theo yêu cầu của nhiệm
- Thời gian làm bài phải phù hợp với thực tế khả năng làm việc của học sinh
và yêu cầu của bài tập
- Mọi học sinh đều tích cực làm việc
- Trình bày kết quả:
+ Đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận, các thành viên trong nhóm cóthể bổ sung thêm
+ Các nhóm khác nhận xét, bổ sung, đưa ý kiến thắc mắc cần giải đáp
+ Giáo viên đúc kết, bổ sung ý kiến, nhấn mạnh nội dung quan trọng
Chú ý:
- Khi các nhóm thảo luận, giáo viên không dừng lại lâu ở nhóm nào
- Khi các nhóm trình bày, nếu là chủ đề giống nhau, không cần các nhómđều trình bày, các nhóm sau có thể trình bày các ý kiến khác với các nhóm trước
Trang 11- Có thể cử một học sinh điều hành khi các nhóm báo cáo.
Ví dụ 1: Dạy bài “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” (Ngữ văn 6 - Tập 2), giáo
viên có thể cho học sinh thảo luận ở đoạn đầu của văn bản với những câu hỏi:
(1) Qua đoạn đầu của bức thư, chúng ta hiểu về mối quan hệ của đất với người da đỏ là mối quan hệ như thế nào? Thủ lĩnh da đỏ đã dùng những nghệ thuật nào để thể hiện điều đó?
(2) Em hãy chỉ ra sự lặp từ ngữ trong câu mở đầu Tác dụng của sự lặp lại
đó trong cách diễn đạt.
Với câu hỏi này giáo viên nên cho học sinh thảo luận theo nhóm lớn hoặctrung bình Sau khi hết thời gian thảo luận, giáo viên mời đại diện các nhóm lêntrình bày, nhóm sau không cần lặp lại ý trùng lặp với nhóm trước, các em có thể bổsung những ý khác biệt hoặc đánh giá kết quả thảo luận của nhóm bạn Cuối cùng,giáo viên đúc kết và định hướng câu trả lời như sau:
(1) Qua đoạn đầu của bức thư, tác giả đã cho ta thấy mối quan hệ của đất vớingười là mối quan hệ ruột thịt, gắn bó khắng khít và thiêng liêng Người da đỏ coiđất như mẹ “Chúng tôi là một phần của mẹ và mẹ cũng là một phần của chúng tôi”.Thủ lĩnh da đỏ đã dùng hình ảnh nhân hóa: “bông hoa ngát hương là người chịngười em”; người da đỏ coi mỏm đá, vũng nước, chú ngựa đều là cùng gia đình.Biện pháp so sánh cũng góp phần làm tăng tính chất gắn bó máu thịt (Dòngnước là máu của tổ tiên, tiếng thì thầm là tiếng nói của cha ông)
(2) Sự lặp lại từ “mỗi” (tất đất, lá thông, bờ cát, hạt sương ) có tác dụngnhấn mạnh ý nghĩa của đất đai đối với người da đỏ, sự gắn bó của người da đỏ vớiđất đai là vô cùng bền chặt, sâu sắc Dù các vật thể được nhắc đến với có kíchthước, vị trí khác nhau, nhưng chúng có điểm chung là đều rất thiêng liêng trong kí
ức của người da đỏ
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” của Mát- két
(Ngữ văn 9 - Tập 1), giáo viên có thể cho học sinh thảo luận khi phần cuối của vănbản với câu hỏi như sau:
- Phần kết tác giả đưa ra lời đề nghị gì? Em hiểu ý nghĩa của đề nghị đó như thế nào?Em nhận xét gì về thái độ, tấm lòng của tác giả?
Hình thức này không những tạo ra sự tương tác gần gũi giữa giáo viên vớihọc sinh, giữa học sinh với học sinh, phát huy năng lực hợp tác mà còn năng lựcgiao tiếp
Phương pháp thảo luận nhóm này có thể thực hiện trong mọi tiết dạy, qua
đó phát huy được năng lực hợp tác, sáng tạo, giao tiếp, giải quyết vấn đề, sử dụng ngôn ngữ của học sinh
Ngoài ra, phương pháp thảo luận nhóm không chỉ phù hợp vận dụng trênlớp, còn có thể vận dụng cho nhóm học sinh khi thực hiện nhiệm vụ tự học ở nhà,nhất là khi giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học tích cực khác như phươngpháp đóng vai, dạy học dự án
b.2 Đóng vai
Trang 12Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày nhữngsuy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định” Đây là phương pháp giảngdạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗđứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các emquan sát được từ vai của mình
Trong môn học Ngữ văn, phương pháp đóng vai được thực hiện trong một
số nội dung học tập sau: vào vai một nhân vật kể lại câu chuyện đã học; chuyển thểmột văn bản văn học thành kịch bản sân khấu, xử lí một tình huống giao tiếp giảđịnh, trình bày một vấn đề, một ý kiến từ các góc nhìn khác nhau,…
Giáo viên tiến hành tổ chức học sinh đống vai theo các bước cơ bản sau:
- Giáo viên nêu chủ đề, yêu cầu của nhiệm vụ; chia nhóm, giao tình huống
và yêu cầu đóng vai cho từng nhóm Trong đó có qui định rõ thời gian chuẩn bị,thời gian đóng vai cho mỗi nhóm
- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai: phân vai, dàn cảnh, cách thể hiệnnhân vật, diễn thử
- Các nhóm lên đóng vai
- Thảo luận, nhận xét: cách ứng xử của các nhân vật cụ thể hoặc tình huốngtrong vở diễn, có thể mở rộng phạm vi thảo luận các vấn đề khái quát hơn hay vấn
đề vở diễn chứng minh
- Giáo viên kết luận, giúp học sinh rút ra bài học cho bản thân
Một số yêu cầu khi đóng vai:
- Tình huống đóng vai phải phù hợp yêu cầu giáo dục, phù hợp với lứa tuổi,trình độ học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học
- Tình huống nên để mở, không cho trước lời thoại
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai
- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong tình huống của bài tậpđóng vai để không lạc đề
- Nên khích lệ những học sinh nhút nhát cùng tham gia
- Nếu có điều kiện thì có thêm hóa trang, đạo cụ để trò chơi hấp dẫn
Ví dụ 1: Dạy bài “Thông tin ngày trái đất năm 2000” (Ngữ văn 8 - Tập 1),
giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho hai nhóm xây dựng hai tình huống:
Tình huống 1: Sau khi nhà trường thông báo cho học sinh tiến hành vệ sinhlớp học và lao động tạo cảnh quan trường học, nhà trường còn ra hướng dẫn thugom rác thải cần phải phân loại thành 2 loại (loại phân hủy và loại không phânhủy) và bỏ vào các thùng khác nhau, một nhóm bạn đã thắc mắc về yêu cầu nàyvới lớp trưởng
Tình huống 2: Tối hôm nay, tổ đoàn kết tiến hành họp bàn về việc thực hiện
vệ sinh rác thải gia đình để công ti môi trường đến thu gom, mỗi tuần 1 lần, mỗi
Trang 13tháng nộp 15.000 đồng/hộ gia đình Nhiều cô chú đã có ý kiến phản đối Bác tổtrưởng phải thuyết phục mọi người về việc bảo vệ môi trường chung
Giáo viên có thể chọn tình huống 1 để giới thiệu bài, tình huống 2 để kháiquát nội dung bài học
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” (Ngữ văn 9
-Tập 1), giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị 1 đoạn kịch ngắn: Chạy đua vũ trang là
đi ngược lại lí trí
- Giáo viên nêu trước chủ đề, hoàn cảnh cho tiểu phẩm: Trong cuộc họp vàotháng 8/1986 của các nguyên thủ 6 nước, sau khi Mác-két đọc xong bài tham luậncủa ông, trong giờ giải lao, các đại biểu ngồi lại thảo luận sôi nổi với nhau về ýkiến mà nhà văn nêu ra: “Chạy đua vũ trang là đi ngược lại với lý trí” Qua cuộcthảo luận này, các đại biểu đã giúp mọi người hiểu rõ điều đó
-Yêu cầu học sinh nghiên cứu đoạn “Một nhà tiểu thuyết … của nó” để hiểusâu sắc ý tác giả
- Sau khi nhận đề tài, học sinh nghiên cứu văn bản, phân vai, nghiên cứu nộidung cần làm rõ để có thể đóng vai thành công
- Giáo viên sẵn sàng trợ giúp, giải quyết mọi thắc mắc của nhóm học sinhnhận nhiệm vụ này
Ví dụ 3: Khi dạy văn bản: “Cuộc chia tay của những con búp bê” (Ngữ văn
7 – Tập 1), giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh:
Tình huống 1: Em hãy đóng vai nhân vật Thành (hoặc Thủy), nói lên nỗilòng của mình vào đêm sau buổi chia tay
Tình huống 2: Các em hãy tưởng tượng mình là hai con búp bê của hai anh
em Thành và Thủy, diễn lại cuộc chia tay của chúng
Có thể thực hiện đồng thời 2 tình huống này vào cuối buổi học hoặc có thểchọn 1 trong 2 tình huống này để khắc sâu thêm ý nghĩa của gia đình yên ổn
Ví dụ 4: Khi dạy văn bản: “Ôn dịch thuốc lá” (Ngữ văn 8 – Tập 1), giáo viêngiao cho học sinh các tình huống để chuẩn bị:
Tình huống 1: Thứ Năm vừa rồi, bạn A đã có hành vi hút thuốc trong nhà vệsinh, Đội sao đỏ của trường bắt gặp, thầy Tổng phụ trách đã khiển trách, yêu cầuviết bản kiểm điểm, đồng thời, thầy yêu cầu giáo viên chủ nhiệm giáo dục thêm vàquán triệt học sinh trong trường không được phép vi phạm nội qui này Trong buổihọp lớp, cả lớp đang thảo luận vấn đề này
Tình huống 2: Trong một gia đình nọ có người bố nghiện thuốc lá nặng, gầnđây thường ho suốt đêm, da vàng sạm, mắt thâm đen; sau khi đi khám, bác sĩ bảo
là bị viêm phổi nặng, gan có dấu hiệu bị sơ và tổn thương và khuyên không đượchút thuốc lá Về nhà, ông nội đã quyết định họp gia đình để giáo dục con cháu vềviệc cấm hút thuốc
Trang 14Trong hai tình huống trên, các em thực hiện tình huống 1 để giới thiệu bàihọc, tình huống 2 để tổng kết bài.
Phương pháp đóng vai có thể thực hiện trong nhiều tiết dạy đối với các văn bản nhật dụng trong chương trình THCS Phương pháp này phát huy rất nhiều các năng lực của học sinh như năng lực giải quyết vấn đề, sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt
là năng lực hợp tác, sáng tạo, giao tiếp (cả ở trường lẫn ở nhà)
b.3.Nghiên cứu tình huống
Phương pháp nghiên cứu tình huống là một PPDH, trong đó trọng tâm củaquá trình dạy học là việc phân tích và giải quyết các vấn đề của một trường hợp(tình huống) được lựa chọn trong thực tiễn Với phương pháp này, học sinh tự lựcnghiên cứu một tình huống thực tiễn và giải quyết các vấn đề của tình huống đặt ra,hình thức làm việc chủ yếu là làm việc nhóm Các tình huống được đưa ra là nhữngtình huống xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, tình huống đó đã gặp hoặc có thể gặphàng ngày Những tình huống đó chứa đựng vấn đề cần giải quyết Để giải quyếtcác vấn đề đó đòi hỏi có những quyết định dựa trên cơ sở những giải pháp đượcđưa ra để giải quyết Trong nghiên cứu trường hợp, học sinh không phải ghi nhớ lýthuyết mà quan trọng là vận dụng kiến thức đã học vào việc giải quyết những tìnhhuống cụ thể
Trong môn học Ngữ văn, nghiên cứu tình huống thường được thực hiệntrong một số nội dung sau: phân tích một tình huống giao tiếp, tìm hiểu một vănbản văn học tiêu biểu cho một kiểu loại, tìm hiểu một vấn đề thực tiễn cuộc sống…
Ví dụ1: Dạy bài “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” (Ngữ văn 6 - Tập 2), giáo
viên thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: GV nêu tình huống từ đầu bài học như sau: Có ý kiến cho rằng: Môi trường có liên quan mật thiết đối với cuộc sống của con người Nhưng lại có ý kiến khác: Môi trường không có ảnh hưởng gì đến cuộc sống của chúng ta Ý kiến của em như thế nào về vấn đề này?
Bước 2: Giáo viên tổ chức học sinh thảo luận theo nhóm Sau thảo luận, đạidiện các nhóm đưa ra ý kiến của mình để giải quyết tình huống nêu trên
Giáo viên tiến hành thực nghiệm bằng việc tổ chức cho học sinh đi vàonghiên cứu bài học theo từng phần của văn bản để rút ra kết luận sau:
Thiên nhiên là đất đai, khí hậu, sông suối, cây cỏ…, là không gian sống cho con người và thế giới sinh vật, là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người, là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người, đặc biệt nó bảo vệ cho con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài, nghĩa là nó có quan hệ gần gũi, mật thiết và ảnh hưởng trực tiếp đối với cuộc sống của con người Bảo vệ thiên nhiên chính là bảo vệ cho chính cuộc sống của chúng ta.
Giáo viên tổ chức cho học sinh so sánh kết quả với dự đoán ban đầu để các
em nhận thức đúng đắn về vấn đề đã được nêu ở đầu bài học
Trang 15Bước 3: Củng cố, định hướng mở rộng: Từ kết luận trên, giáo viên cho học
sinh liên hệ về thái độ của bản thân các em và mọi người đối với môi trường xungquanh, giáo dục cho các em tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước
Ví dụ 2: Dạy bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới (Ngữ văn 9 –tập 2),
giáo viên thực hiện các bước sau:
Bước 1: Giới thiệu bài: Kể câu chuyện nêu tình huống từ đầu bài học:
“NHÀ HIỀN TRIẾT QUA SÔNG
Có một nhà hiền triết muốn đi qua sông Nhà hiền triết ngồi trên một con đò
và người lái đò đưa nhà hiền triết qua sông Khi ngồi trên đò, nhà hiền triết hỏi người lái đò: Ông có biết về thiên văn học không?
Người lái đò trả lời: Tôi không biết.
Nhà hiền triết lại hỏi: Thế ông có biết gì về địa chất học không?
Người lái đò trả lời: Tôi không biết.
Nhà hiền triết lại hỏi: Ông có biết gì về triết học không?
Người lái đò trả lời: Tôi không biết.
Nhà hiền triết nói: Thế là ông đánh mất nửa cuộc đời rồi!
Vừa lúc đó, gió thổi lên rất mạnh, sóng nổi lên dữ dội, thuyền chòng chành rồi lật hẳn Nhà hiền triết rơi xuống nước Trong lúc đang chới với, tìm cách bám víu, nhà hiền triết nghe người lái đò hỏi: Thế ông có biết bơi không?
Nhà hiền triết trả lời: Tôi không biết.
Người lái đò nói: Vậy là ông đánh mất cả cuộc đời rồi”.
Câu hỏi cho tình huống: Tại sao nhà hiền triết lại bảo người lái đò đánh mấtnửa cuộc đời? Tại sao người lái đò nói nhà hiền triết đã đánh mất cả cuộc đời?Điều đó có đúng không? Làm thế nào để có cuộc sống trọn vẹn?
Bước 2: Giáo viên tổ chức học sinh thảo luận theo nhóm Sau thảo luận, đạidiện các nhóm đưa ra ý kiến của mình để giải quyết tình huống nêu trên
Trên cơ sở ý kiến của học sinh, giáo viên có thể kết luận tạm thời: Muốnsống tốt, mỗi người cần phải chuẩn bị cho mình đầy đủ tri thức về mặt lý thuyết,đồng thời cũng phải có năng lực thực hành cần thiết Để làm được điều đó, chúng
ta cần phải chuẩn bị tốt điều gì – Tác giả Vũ Khoan, với bài “Chuẩn bị hành trangvào thế kỉ mới” sẽ một phần giải đáp cho các em
Giáo viên tiến hành bằng việc tổ chức cho học sinh đi vào nghiên cứu bàihọc theo từng phần của văn bản để rút ra kết luận sau:
Quan niệm của Phật giáo cho rằng chiến thắng ngàn quân không bằng chiếnthắng chính bản thân mình Đúng vậy, con người biết vượt lên chính mình là vôcùng quan trọng Để có thể vượt lên chính mình, đứng vững trong cuộc sống, mỗi
Trang 16chúng ta cần nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của bản thân; từ đó rèn luyện nhữngthói quen tốt, hạn chế và loại bỏ dần các thói quen xấu để bản thân ngày càng hoànthiện Và khi đó, ta có thể tránh được những điều đáng tiếc trong cuộc sống như 2nhân vật trong câu chuyện phần đầu tiết học.
Bước 3: Củng cố, định hướng mở rộng: Từ kết luận trên, giáo viên cho học
sinh liên hệ bản thân các em về thái độ, hành động cần thiết ngay từ khi còn ngồitrên ghế nhà trường và cả trong tương lai Qua đó giáo dục ý thức học tập, rènluyện đạo đức theo yêu cầu giáo dục đề ra
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Mẹ tôi” (Ngữ văn 7 – Tập 1), giáo viên tiến hành cácbước sau:
Bước 1: Cho học sinh đọc văn bản: “ĐÔI CÁNH CỦA MẸ”
“Mẹ nói, khi mẹ đi đến một nơi khác ở rất xa, con hãy tưởng tượng những chú chim bay trên khoảng trời xung quanh con chính là mẹ Con sẽ không cảm thấy cô đơn nữa.
Mẹ nói, đôi cánh của mẹ sẽ đưa con bay thật cao, thật xa Mẹ sẽ bay cùng con, mẹ sẽ bay với con đến cuối đời.
Mẹ nói, mẹ không thể bay theo con được nữa Đôi cánh của mẹ từ giờ sẽ trao lại cho con.
Đôi cánh của mẹ, chính là đôi cánh của con”.
Câu hỏi tình huống: Em hiểu gì về “Mẹ” qua văn bản trên?
Bước 2: Giáo viên tổ chức học sinh thảo luận theo nhóm Sau thảo luận, đại diện các nhóm đưa ra ý kiến của mình để giải quyết tình huống nêu trên Sau khi tổng hợp ý kiến của học sinh, giáo viên đúc kết lại vấn đề: Mẹ là người vô cùng quan trong đối với đời sống mỗi người Tình mẹ rất thiêng liêng, cao cả Qua văn bản “Mẹ tôi” (A-mi-xi), tác giả sẽ giúp các em hiểu thêm về điều đó, đồng thời hiểu được bổn phận của con cái đối với cha mẹ, gia đình
Bước 3: Củng cố, định hướng mở rộng: Sau khi tìm hiểu xong văn bản, giáoviên cho học sinh liên hệ về thái độ và hành động của bản thân các em đối với chamẹ, người thân, gia đình Qua đó giáo dục tình cảm yêu thương, trân trọng những
gì mình đang có
Việc sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống tạo điều kiện cho việc xâydựng gắn lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động sẽ tích cực hoá động cơ củangười học; huy động được sự làm việc cá nhân và sự cộng tác làm việc và thảoluận trong nhóm Trọng tâm của làm việc nhóm là quá trình giao tiếp xã hội và quátrình cùng quyết định trong nhóm Vì vậy tạo điều kiện phát triển các năng lực giaotiếp và cộng tác làm việc
b.4 Dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án là một phương pháp hay một hình thức dạy học, trong
đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lýthuyết và thực tiễn, thực hành Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tựlực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế họach,
Trang 17đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thựchiện.
Dạy học theo dự án là phương pháp học tập mang tính xây dựng, trong đó
học sinh hoàn toàn chủ động tham gia hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên,
để tạo ra một sản phẩm hay vận dụng các kiến thức đã học để tìm hiểu, thực hànhnghiên cứu một vấn đề trong học tập hay giải quyết một vấn đề trong cuộc sống.Quá trình học theo dự án giúp người học củng cố kiến thức, xây dựng các kỹ nănghợp tác, giao tiếp và học tập độc lập
Quá trình thực hiện một dự án học tập diễn ra theo các bước cơ bản sau:
Khi tiến hành dạy học dự án có thể sử dụng dạy học dự án cả văn bản: Toàn
bộ nội dung văn bản và thời gian dành cho bài học này đều tiến hành bằng các dự
án của học sinh, ví dụ: văn bản: "Bài toán dân số": 4 dự án cho toàn bộ bài học
Ví dụ: khi dạy văn bản: “Bài toán dân số” (Ngữ văn 8 - Tập 1), giáo viên tổ
chức học sinh học tập theo hình thức dạy học dự án toàn văn bản như sau:
( Thái An - Báo GD & Thời đại )
- Vận dụng vào việc viết bài văn thuyết minh
3 Thái độ: Vận động người thân, gia đình thực hiện tốt DSKHH gia đình
4 Năng lực (NL): NL tự học, NL giải quyết vấn đề, NL sáng tạo, NL quản lí bảnthân, NL giao tiếp, NL hợp tác, NL sử dụng ngôn ngữ, NL cảm thụ thẩm mĩ
5 Kỹ năng (KN) sống: KN kiểm soát cảm xúc; KN ứng phó với căng thẳng; KN tìm
Trang 18kiếm sự hỗ trợ; KN thể hiện sự tự tin; KN giao tiếp; KN lắng nghe tích cực; KNtrình bày suy nghĩ, ý tưởng; KN cảm thông, chia sẻ; KN thương lượng; KN giảiquyết mâu thuẫn; KN hợp tác, KN tư duy phê phán; KN tư duy sáng tạo, KN raquyết định; KN giải quyết vấn đề; KN đảm nhận trách nhiệm; KN đặt mục tiêu; KNquản lí thời gian; KN tìm kiếm và xử lí thông tin.
B Chuẩn bị:
1 Giáo viên:
a Thời gian chuẩn bị: Trước khi tiến hành dạy ít nhất 2 tuần
b Nội dung nghiên cứu:
- Nội dung bài học: SGK, SGV, sách bài tập Ngữ văn 8, tư liệu khoa học, thông tinthời sự,
- Xác định đề tài, tên dự án:
+ Thực trạng bùng nổ dân số ngày nay
+ Tác hại của bùng nổ dân số đối với môi trường tự nhiên
+ Tác hại của bùng nổ dân số đối với đời sống xã hội
+ Biện pháp để hạn chế việc bùng nổ dân số - thực hiện KHHGĐ
- Chia nhóm: 4 nhóm, mỗi nhóm 8 học sinh, ít nhất có 1 học sinh nhà có máy tính(công bằng tỉ lệ học sinh giỏi, khá, trung bình)
- Các tài liệu có thể gợi ý học sinh nghiên cứu: SGK, sách báo, Báo GD và TĐ, nộidung tuyên truyền về KHHGĐ ở trạm y tế xã,
- Các địa chỉ trên mạng thông tin để gợi ý học sinh thực hiện dự án: hình ảnh vềmật độ dân số, dân số ở đô thị, ùn tắc giao thông, khan hiếm việc làm, rác thải,
- Các cố vấn: Thầy cô giáo bộ môn Sinh học, Địa lý, Toán học, Tin học, GDCD,cán bộ phụ nữ thôn, xã
c Cách thức theo dõi, hướng dẫn, gợi ý giúp học sinh hoàn thành dự án:
- Gặp và hướng dẫn trực tiếp
- Trao đổi qua điện thoại, email
d Tài liệu, phương tiện: SGK, SGV, sách bài tập Ngữ văn 8, tư liệu khoa học,thông tin thời sự, máy tính, máy chiếu, USP,
b Nội dung, định hướng hướng dẫn học sinh thực hiện dự án:
- Dự án 1: Thực trạng bùng nổ dân số ngày nay
- Dự án 2: Tác hại của bùng nổ dân số đối với môi trường sống (chủ yếu nói vềmôi trường tự nhiên)
- Dự án 3: Tác hại của bùng nổ dân số đối với đời sống xã hội, với từng gia đình
- Dự án 4: Biện pháp để hạn chế việc bùng nổ dân số - thực hiện kế hoạch hóa giađình (KHHGĐ)
* Các câu hỏi định hướng cho học sinh để nghiên cứu, tiến hành dự án:
- Dự án 1: Thực trạng bùng nổ dân số ngày nay
1/ Trong văn bản "Bài toán dân số", tác giả nêu nội dung chính là gì?
Trang 192/ Bài toán nào được nêu ra, thời điểm nêu ra của bài toán, tính thực tế củabài toán?
3/ Phân tích suy luận của tác giả từ bài toán đến vấn đề dân số, từ thời khaithiên lập địa đến thời điểm hiện tại và tương lai
4/ Tổng dân số thế giới hiện tại
5/ Số dân ở những nước đông dân nhất thế giới
6/ Tổng dân số của Việt Nam ở hiện tại
7/ Tốc độ gia tăng dân số của Việt Nam sau chiến tranh (1975) đến nay.8/ Nguyên nhân nào khiến dân số tăng nhanh? (Gợi ý: tỉ lệ sinh con của phụ
nữ các nước, trình độ y học, trình độ khoa học hiện tại và tương lai, tuổi thọ conngười trong thời điểm hiện tại, khả năng sống và phát triến của trẻ sơ sinh, ý thức
về tính mạng của con người trong xã hội văn minh, )
9/ Bên cạnh những nguyên nhân trên, đối với Việt Nam, có những nguyênnhân nào khiến sự gia tăng dân số nhiều hơn nữa?
10/ Quảng Nam/ Đại Lộc/ Đại Hồng có mức độ gia tăng dân số như thế nào?11/ Ở hàng xóm em, tỉ lệ người sinh con thứ 3 nhiều hay ít?
12/ Trong lớp em, tỉ lệ các bạn có số anh chị em từ 3 người trở lên là baonhiêu?
13/ Mọi người phải có thái độ, hành động như thế nào với hiện thực trên?
- Dự án 2: Tác hại của bùng nổ dân số đối với môi trường sống (chủ yếu nói vềmôi trường tự nhiên)
1/ Trong văn bản "Bài toán dân số", tác giả nêu nội dung chính là gì?
2/ Từ bài toán dân số, tác giả đưa ra đề xuất nào? Vì sao?
3/ Dân số tăng nhanh đã có những ảnh hưởng nào đến môi trường sống (chủyếu nói về môi trường tự nhiên)
- Môi trường nước (nước sạch, nước sinh hoạt, nước canh tác, nước làm thủyđiện, nước thải nhà máy không qua xử lý, nước biển, nước ngọt, )
- Môi trường đất (đất canh tác/đất làm nhà ở, diện tích đô thị/ nông thôn;diện tích đất rừng, đất xây dựng nhà máy, xí nghiệp để phục vụ nhu cầu của conngười, đất bị hủy hoại do lượng người đông không có ý thức bảo vệ, )
- Môi trường không khí (lượng khí thải do các phương tiện giao thông thải
ra, do các nhà máy xí nghiệp thải ra, )
- Thực, động vật (gỗ ở rừng đầu nguồn, núi đồi, cây lương thực, gia súc, giacầm, động vật hoang dã để phục vụ dân số đông)
4/ Môi trường tự nhiên bị ô nhiễm gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏecon người: nhiều bệnh lạ, dịch bệnh lan tràn (đến cả động vật), khó chữa trị gâychết người hàng loạt, ảnh hưởng như thế nào đến tinh thần, tâm lý của chúng ta?
5/ Môi trường bị ô nhiễm tốn kém những gì mới có thể cải tạo, phục hồi? Từ
đó mất đi cơ hội gì để cải thiện đời sống?
Trang 206/ Quảng Nam/ Đại Lộc/ Đại Hồng có bị ảnh hưởng gì do dân số tăng nhanh(chủ yếu là môi trường tự nhiên)? Có đầu tư gì cho việc cải tạo, gìn giữ môitrường? Có ảnh hưởng gì đến cơ hội phát triển đời sống nhân dân?
7/ Mọi người phải có thái độ, hành động như thế nào với hiện thực trên?
- Dự án 3: Tác hại của bùng nổ dân số đối với đời sống xã hội, từng gia đình
1/ Trong văn bản "Bài toán dân số", tác giả nêu nội dung chính là gì?
2/ Từ bài toán dân số, tác giả đưa ra đề xuất nào? Vì sao?
3/ Dân số tăng nhanh đã có những ảnh hưởng nào đến đời sống xã hội, giađình:
- Lượng lương thực, thực phẩm cần cho dân số đông? (Con người đã cóhành động nào để đối phó và hậu quả?)
- Lượng đồ dùng sinh hoạt cần cho dân số đông? (Con người đã làm gì đểphục vụ và hậu quả của nó)
- Dân số đông có ảnh hưởng như thế nào đối với giáo dục, y tế, văn hóa?
- Dân số đông ảnh hưởng như thế nào đối với tạo công ăn việc làm?
- Dân số đông ảnh hưởng như thế nào đối với giữ gìn an ninh trật tự xã hội?
- Dân số đông ảnh hưởng như thế nào đối với vấn đề an sinh xã hội (xâydựng cuộc sống tốt đẹp cho tất cả mọi người)
- Ảnh hưởng của dân số đông đối với phát triển kinh tế của quốc gia, cộngđồng như thế nào?
- Dân số đông có liên quan gì đến chiến tranh, dịch bệnh?
- Dân số đông có liên quan gì đến nghiên cứu khoa học (tìm vùng đất mới,lương thực, thực phẩm mới)?
4/ Gia đình có con đông sẽ có những hậu quả không mong muốn nào? (Kinh
tế, giáo dục, giữ gìn nề nếp gia đình, niềm vui của từng thành viên, cơ hội để đầy
đủ về vật chất, cơ hội để thoải mái về mặt tinh thần, Ví dụ: bữa ăn, công việc,thời gian nghỉ ngơi, thời gian điều kiện vui chơi, điều kiện ăn học, điều kiện thỏamãn ước mơ, sở thích, )
5/ Gia đình là tế bào của xã hội, nếu gia đình không thể ổn định, các thànhviên trong gia đình không có điều kiện phát triển, thì xã hội sẽ ra sao?
6/ Mọi người phải có thái độ, hành động như thế nào với hiện thực trên?
- Dự án 4: Biện pháp để hạn chế việc bùng nổ dân số - thực hiện KHHGĐ
1/ Trong văn bản "Bài toán dân số", tác giả nêu nội dung chính là gì?
2/ Từ bài toán dân số, tác giả đưa ra đề xuất nào? Vì sao?
3/ Ta có những biện pháp nào để hạn chế việc bùng nổ dân số, thực hiệnKHHGĐ? (Thế giới, các nhà khoa học, mỗi quốc gia, Nhà nước ta, chính quyềnđịa phương, người làm công tác tuyên truyền, người làm công tác giáo dục, cánhân từng người (nhất là người trưởng thành), bản thân học sinh khi tìm hiểu vềvấn đề này (hiện tại phải làm gì? Tương lai phải làm được như thế nào cho bản
Trang 21thân, gia đình, xã hội?)
* Định hướng hướng tìm tư liệu, cách thu thập thông tin, cách tiến hành dự án:
- Dùng máy ảnh chụp ảnh, sưu tầm hình ảnh có liên quan đến dự án
- Lên mạng internet tìm hình ảnh có liên quan đến dự án
- Lên mạng tìm các clip về các vấn đề liên quan
- Tìm những bài hát có tác dụng tuyên truyền về vấn đề dân số
- Tìm thông tin về tác hại của bùng nổ dân số gây ảnh hưởng trực tiếp đếnsức khỏe, kinh tế, cuộc sống của con người (có thể nghe thời sự, đọc tư liệu trênsách, báo, tạp chí, tài liệu khoa học ở trường hoặc trực tiếp hỏi các giáo viên nhưgiáo viên Sinh học, Địa lý, GDCD, )
- Học hỏi cách liên kết hình ảnh, tải clip, trình chiếu hình ảnh, clip (giáoviên Tin học)
- Học hỏi cách thức trình bày một dự án bằng văn bản (giáo viên hướng dẫnthực hiện dự án)
2 Học sinh:
- Học sinh chia nhóm, phân công nhóm trưởng, nhóm phó,
- Nhóm trưởng phân công công việc cụ thể cho từng thành viên, yêu cầu giới hạnthời gian hoàn thành công việc được giao
- Tài liệu, phương tiện: SGK, SGV, sách bài tập Ngữ văn 8, tư liệu khoa học, thôngtin thời sự, máy tính, máy chụp ảnh, USP,
- Nhận nội dung, định hướng từ giáo viên, học sinh thực hiện dự án
- Chụp và sưu tầm tranh ảnh về vấn đề dân số và các vấn đề có liên quan, các clip
về nạn đói, thất nghiệp, thất học, ô nhiễm môi trường hiện nay, các hình ảnh thểhiện việc làm cụ thể để tuyên truyền vấn đề KHHGĐ
- Tham khảo ý kiến của các cố vấn: Thầy cô giáo bộ môn Sinh học, Địa lý, Toánhọc, Tin học, GDCD, cán bộ phụ nữ thôn, xã,
- Thực hiện dự án trên máy tính để trình chiếu
Hoạt động 1: Giới thiệu tiết học “Dạy- học theo dự án”.
Hôm nay, lớp ta sẽ tìm hiểu bài “Bài toán dân số” theo phương pháp mới là dạy - học theo dự án.
Hoạt động 2: Tìm hiểu sơ lược yêu cầu bài học
- Giáo viên giới thiệu sơ lược tác giả, tác phẩm
Trang 22- Đọc văn bản.
- Nêu nội dung chính cần tìm hiểu từ văn bản: Đó là bài viết có nội dung gầngũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xãhội hiện đại Vậy vấn đề cần nghiên cứu của văn bản này là gì? Mục tiêu cuốicùng cần đạt được sau khi học bài này là gì? Đó cũng là những nội dung dự án
mà các nhóm nghiên cứu, tiến hành và hôm nay trình bày trước tập thể
+ Giáo viên ghi lại tên các dự án lên bảng
Hoạt động 3: Xin mời các nhóm lên giới thiệu về mình
- Lần lượt các nhóm giới thiệu về nhóm mình:
+ Tên nhóm
+ Thành viên trong nhóm
+ Giải thích lý do có tên gọi của nhóm và lý do chọn đề tài dự án
Hoạt động 4: Lần lượt các nhóm lên trình bày dự án
1
Nhóm 1:
- Báo cáo sản phẩm
- Tự đánh giá kết quả nghiên cứu
- Mời các nhóm nhận xét, đánh giá về kết quả nghiên cứu của nhóm mình
- Mời GVBM nhận xét đánh giá kết quả hoạt động của nhóm
* GVBM kết luận khái quát về kiến thức bài học
2
Nhóm 2:
- Báo cáo sản phẩm
- Tự đánh giá kết quả nghiên cứu
- Mời các nhóm nhận xét, đánh giá về kết quả nghiên cứu của nhóm mình
- Mời GVBM nhận xét đánh giá kết quả hoạt động của nhóm
* GVBM kết luận khái quát về kiến thức bài học
3
Nhóm 3:
- Báo cáo sản phẩm
- Tự đánh giá kết quả nghiên cứu
- Mời các nhóm nhận xét, đánh giá về kết quả nghiên cứu của nhóm mình
- Mời GVBM nhận xét đánh giá kết quả hoạt động của nhóm
* GVBM kết luận khái quát về kiến thức bài học
3
Nhóm 4 :
- Báo cáo sản phẩm
- Tự đánh giá kết quả nghiên cứu
- Mời các nhóm nhận xét, đánh giá về kết quả nghiên cứu của nhóm mình
- Mời GVBM nhận xét đánh giá kết quả hoạt động của nhóm
* GVBM kết luận khái quát về kiến thức bài học
Hoạt động 4: Giáo viên tổng kết, đánh giá việc thực hiện dự án của các nhómhọc sinh, kết luận chung về bài học