Yêu cầu về đổi mới quản lý chất lượng giáo dục Hiện nay, hệ thống giáo dục đã được phát triển rộng khắp trong cả nước, đa dạng về loại hình trường theo cấp học, loại hình sở hữu công lập
Trang 1TỔNG QUAN VỀ
ĐẢM BẢO VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM
TS Phạm Xuân Thanh 1
Phó Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định CLGD
Mob 0913090960 Email: phxthanh@moet.edu.vn
Mở đầu:
Đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) là những vấn đề còn khá mới ở Việt Nam Đảm bảo chất lượng giáo dục được hiểu là một cơ chế quản lý nhằm duy trì các chuẩn mực và không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục Kiểm định chất lượng được hiểu là quá trình đánh giá từ bên ngoài để công nhận các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đạt được sứ mạng và các chuẩn mực đã được tuyên bố Trong mấy năm qua, nước ta đã có nhiều nỗ lực để hình thành hệ thống đảm bảo và KĐCLGD trong cả nước Trong
xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa, chủ đề này càng đang được quan tâm và thúc đẩy phát triển
Sau những năm triển khai thực hiện, hệ thống đảm bảo và KĐCLGD đã được từng bước triển khai trong cả nước
Bản báo cáo này tập trung trình bày về thực tiễn của công tác đảm bảo và KĐCLGD ở Việt Nam và định hướng phát triển trong thời gian tới
I Yêu cầu về đổi mới quản lý chất lượng giáo dục
Hiện nay, hệ thống giáo dục đã được phát triển rộng khắp trong cả nước,
đa dạng về loại hình trường (theo cấp học), loại hình sở hữu (công lập/ ngoài công lập) và phương thức tổ chức đào tạo (đào tạo theo truyền thống/ theo phương thức từ xa, thường xuyên) Xem số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo2 trong Bảng 1
Ngoài ra, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp còn có trên 6000 chương trình đang được đào tạo trong cả nước Hiện tại có 2 đại học
mở và 13 trường đại học truyền thống khác đang tổ chức đào tạo mở và từ xa
Có trên 300 chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục của các nước khác (số liệu đang được cập nhật)
Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đều là các đối tượng cần được quản lý chất lượng Nhưng số lượng các cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo quá lớn và đa dạng
1 Tài liệu được báo cáo tại Hội thảo của Ban Tuyên giáo Trung ương, tổ chức chiều ngày 6/11/2012, được cập nhật gần đây.
2 Số liệu tra cứu tại trang Web của Bộ GD&ĐT http://www.moet.gov.vn/?page=11.11&view=5251về số liệu thống kê toàn ngành giáo dục năm 2013
Trang 2dẫn đến những khó khăn trong việc quản lý chất lượng.
Bảng 1 Số lượng các cơ sở giáo dục trong cả nước năm 2013
(trường) Trong đó, các trường ngoài công lậpSố lượng Tỷ lệ (%)
6 Trung tâm GDTX cấp
tỉnh, quận, huyện
703
Lưu ý:
- Số trường cao đẳng, đại học trên không bao gồm các trường thuộc khối An ninh, Quốc phòng.
- Số trường CĐ, ĐH trên đã bao gồm các trường thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM, Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng.
- Số trường mầm non bao gồm cả nhà trẻ và mẫu giáo.
Kiểm soát chất lượng (quality controle) – một cơ chế quản lý chất lượng
cơ bản nhất, được triển khai thực hiện, chủ yếu, qua các hoạt động thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan trung ương (Bộ GD&ĐT) đến từng cơ sở giáo dục là không khả thi Vì vậy, nước ta cũng như nhiều nước khác đã phân cấp công tác kiểm soát chất lượng xuống cấp sở GD&ĐT, cấp phòng GD&ĐT và cấp trường Nhưng công tác kiểm soát chất lượng ở cấp trường cũng không được triển khai triệt để nên chất lượng dạy và học vẫn chưa đạt được như mong muốn Với những trường có quy mô lớn thì công tác kiểm soát chất lượng chỉ có thể thực hiện ở cấp khoa Nhưng kiểm soát chất lượng ở khâu dạy và học là chưa đủ vì dạy và học không chỉ cần thực hiện đúng quy định mà phải có sáng tạo và có chất lượng Hơn nữa, ngoài khâu dạy
và học cần phải quan tâm đến mục tiêu đào tạo, xây dựng chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy Do vậy, cần phải đổi mới công tác quản lý chất lượng giáo dục
Đảm bảo chất lượng (quality assurance) là một cơ chế quản lý chất lượng tiến bộ hơn kiểm soát chất lượng đang được nhiều nước sử dụng để quản lý chất lượng giáo dục Theo SEAMEO (2002), đảm bảo chất lượng giáo dục có thể là những quan điểm, chủ trương, chính sách, mục tiêu, hành động, công cụ, quy trình và thủ tục, mà thông qua sự hiện diện và sử dụng chúng có thể đảm bảo rằng sứ mạng và mục tiêu giáo dục đang được thực hiện, các chuẩn mực đang được duy trì và nâng cao Đảm bảo chất lượng giáo dục là thuật ngữ chung đề
Trang 3cập đến một loạt các biện pháp và cách tiếp cận, sử dụng để nâng cao chất lượng giáo dục Đảm bảo chất lượng giáo dục có thể là đánh giá chất lượng giáo dục (education quality assessment), kiểm toán chất lượng (quality audit) và KĐCLGD (education quality accreditation)
Trên thế giới có hơn 150 nước có hệ thống quốc gia đảm bảo và KĐCLGD Những nước có hệ thống đảm bảo và KĐCLGD lâu đời như Mỹ, Anh Những nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ví dụ: Thái Lan, Malaysia, Campuchia…) cũng đã có các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia
và có hệ thống chân rết đến từng cơ sở giáo dục Các tổ chức này rất khác nhau Một xu thế chung là các quốc gia ngày một quan tâm nhiều hơn đến hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục và đứng ra thành lập các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia
Hình 1 Sự phân bố các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia ở trên thế giới
Trang 4Bảng 2 Đặc điểm chung của các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia
ở Đông Á và Thái Bình Dương.
KĐCLGD có nguồn gốc từ Hoa Kỳ và Bắc Mỹ từ hơn 100 năm nay, và hiện nay đang được nhiều nước sử dụng Nguyên tắc của KĐCLGD là phải được độc lập đưa ra quyết định, không bị chi phối bới các cơ quan khác Đối tượng KĐCLGD là các cơ sở giáo dục (nói chung), các chương trình giáo dục đại học
và trung cấp chuyên nghiệp
KĐCLGD nhằm góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục; xác nhận mức độ cơ sở giáo dục đáp ứng mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn nhất định; làm căn cứ để cơ sở giáo dục giải trình với các cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền và xã hội về thực trạng chất lượng đào tạo; làm cơ sở cho người học lựa chọn cơ sở giáo dục và nhà tuyển dụng lao động tuyển chọn nhân lực
II Hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam
Việc hình thành và phát triển hệ thống đảm bảo và KĐCLGD là một vấn
đề còn khá mới ở Việt Nam Ở cấp quốc gia, có thể nói, công tác này thực sự được quan tâm từ đầu năm 2002 bằng việc hình thành một đơn vị chuyên trách
về vấn đề này trong Vụ Đại học, sau đó là Cục Khảo thí và KĐCLGD của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hệ thống đảm bảo chất lượng và KĐCLGD liên tục được củng cố và phát triển theo xu thế chung của quốc tế
Trang 5Tương tự như nhiều nước khác, việc xây dựng một hệ thống đảm bảo và KĐCLGD ở cấp quốc gia có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc duy trì các chuẩn mực và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục ở Việt Nam Đối với các cơ sở giáo dục, đảm bảo sẽ tổ chức đào tạo có chất lượng và có hiệu quả tương xứng với các điều kiện hiện có của nhà trường, đảm bảo học sinh, sinh viên đại học, TCCN khi tốt nghiệp sẽ đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
Đối với Nhà nước, trước hết, hệ thống này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn thực trạng giáo dục trong cả nước; đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người học; đảm bảo rằng hệ thống giáo dục sẽ cung cấp được một lực lượng lao động có năng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động Hệ thống đảm bảo và KĐCLGD cũng sẽ cung cấp các cơ sở để Nhà nước đưa ra các chính sách đầu tư hiệu quả cho hệ thống giáo dục Người học có thể biết được khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng, TCCN sẽ có nhiều cơ hội việc làm, với kết quả đạt được có thể tiếp tục được học cao hơn Các nhà tuyển dụng yên tâm khi quyết định tuyển chọn nhân lực lao động
Việc phát triển hệ thống đảm bảo và KĐCLGD bao gồm cả việc phát triển
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KĐCLGD, xây dựng mô hình phát triển và triển khai thực hiện, tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế vì đây là một công việc còn non trẻ nên cần có những bước đi căn bản từ ban đầu
2.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về kiểm định chất lượng giáo dục
Xuất phát từ thực tiễn của sự nhận thức và sự quan tâm còn hạn chế đến KĐCLGD, việc xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là một cách tiếp cận tốt nhất nhằm nhanh chóng định hình và khẳng định vị trí của công tác này, đảm bảo sự phát triển bền vững trong hệ thống giáo dục quốc dân Đồng thời giúp các nhà giáo, nhà quản lý và các đối tượng có liên quan nhanh chóng hiểu một cách thống nhất các khái niệm, nội dung, quy trình, công cụ KĐCLGD, góp phần nhanh chóng nâng cao nhận thức, tạo mối quan tâm và tăng cường năng lực chuyên môn về KĐCLGD nói chung
Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện, các quy định về KĐCLGD đang từng bước được đưa vào trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở cấp cao nhất (Luật giáo dục năm 2005: Điều 17 và 58; Luật Sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009: Mục 3a gồm có 3 điều bổ sung về KĐCLGD; Luật Giáo dục đại học: Chương VII Đảm bảo và KĐCLGD đại học) Chính phủ
có các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện (Nghị định số 75/2006/NĐ-CP Chương II, Điều 38-40 về KĐCLGD; Nghị định số 31/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 38 và 39 của Nghị định số
Trang 675/2006/NĐ-CP;) Công tác đảm bảo và KĐCLGD cũng được quy định cụ thể trong các văn bản quan trọng khác của Chính phủ như Chiến lược phát triển giáo dục
2011-2020 với yêu cầu “xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục, thực hiện kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục của các cấp học, trình độ đào tạo
và kiểm định các chương trình giáo dục nghề nghiệp, đại học” Trong quyết định của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006 – 2020 đã đưa ra giải pháp “Triển khai đại trà công tác đánh giá và KĐCLGD đại học”
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quy trình và chu kỳ KĐCLGD, các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục, kèm theo đó là các văn bản hướng dẫn chi tiết để triển khai thực hiện (xem Phụ lục 1)
Các văn bản quy phạm pháp luật là những công cụ pháp lý quan trọng để triển khai các hoạt động KĐCLGD ở Việt Nam Các văn bản đó còn tạo ra một hành lang pháp lý để đảm bảo cho công tác KĐCLGD được triển khai một cách
ổn định và bền vững
Hiện nay còn có quá ít các văn bản liên quan đến công tác đảm bảo chất lượng giáo dục Đây là một tồn tại cần sớm được khắc phục
2.2 Xây dựng mô hình và triển khai các hoạt động đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục
Tương tự như nhiều nước khác ở trên thế giới, Việt Nam cũng cần có mô hình đảm bảo và KĐCLGD vì sự phát triển bền vững và nhằm tác động tích cực đến việc duy trì và không ngừng nâng cao các chuẩn mực giáo dục, tạo sự minh bạch về hiện trạng giáo dục, tạo sự tin tưởng lẫn nhau trong hợp tác về giáo dục giữa các đối tác quốc tế
Qua mấy năm hình thành và phát triển, mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục được xây dựng trên cơ sở học tập kinh nghiệm và tham khảo mô hình của nhiều nước trên thế giới có kinh nghiệm triển khai các hoạt động này Đó là mô hình đảm bảo chất lượng của Hoa Kỳ và các nước Bắc Mỹ, mô hình đảm bảo chất lượng của các nước châu Âu là những nước đi trước Việt Nam trong khá nhiều năm để triển khai xây dựng mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục của Việt Nam Mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục của Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương do có nhiều nét tương đồng trong văn hóa nên dễ chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn Những ảnh hưởng của các nước khác đến mô hình đảm bảo chất lượng của Việt Nam chủ yếu thông qua sự hợp tác song phương và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á, UNESCO, Mạng lưới
Trang 7quốc tế các tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học (INQAAHE), Mạng lưới chất lượng châu Á - Thái Bình Dương (APQN), Mạng lưới đảm bảo chất lượng ASEAN (AQAN), SEAMEO và của một số nước khác như Hoa Kỳ, Australia, Hà Lan
Trong quá trình tiếp cận với nhiều mô hình đảm bảo và KĐCLGD trên thế giới, mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục của Việt Nam đang từng bước được
ổn định, phù hợp với các mô hình đảm bảo chất lượng của nhiều nước khác, nhất là mô hình của châu Âu, châu Á – Thái Bình Dương, AUN - những mô hình được tiếp tục phát triển trên mô hình chung của châu Âu Mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục của Việt Nam có 3 cấu phần sau:
- Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của nhà trường;
- Hệ thống đảm bảo chất lượng bên ngoài nhà trường (hệ thống đánh giá ngoài bao gồm các chủ trương, quy trình và công cụ đánh giá);
- Hệ thống các tổ chức đánh giá chất lượng từ bên ngoài (các tổ chức KĐCLGD)
Mô hình này có nguồn gốc từ hệ thống đảm bảo chất lượng châu Âu, được Mạng lưới chất lượng châu Á-Thái Bình Dương (APQN) phát triển và khuyến khích áp dụng cho các nước trong khu vực (xem sơ đồ trong Phụ lục 2)
Nội dung dưới đây được trình bày theo 3 cấu phần trên
2.2.1 Triển khai xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong các cơ
sở giáo dục; cải tiến chất lượng và xây dựng văn hóa chất lượng của nhà trường
Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của nhà trường bao gồm (a) Các chủ trương của nhà trường, kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục, một đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng (đối với các trường đại học, cao đẳng, TCCN), các hoạt động và sự phối hợp giữa các đơn vị bên trong nhà trường; (b)
Cơ chế phê duyệt, giám sát và định kỳ rà soát đánh giá các chương trình giáo dục (đối với các trường đại học, cao đẳng, TCCN); (c) Chiến lược liên tục cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục; đảm bảo chất lượng đội ngũ giảng dạy; (d) Công khai các thông tin về giảng dạy, chương trình và kết quả giáo dục - đào tạo
Đến nay 156 trường đại học (chiếm 75,3% ), 145 trường cao đẳng (chiếm 67,7%), 48 trường trung cấp chuyên nghiệp (chiếm 16,3%) thành lập đơn vị chuyên trách về ĐBCL, trong đó có 5 trung tâm do Chính phủ Hà Lan hỗ trợ thành lập tại Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Cần Thơ và triển khai hoạt động từ 2005 đến nay; và 2
Trang 8trung tâm của Đại học Quốc gia (ĐHQG) đã hoạt động từ cuối những năm 1990;
63 sở giáo dục và đào tạo có Phòng Khảo thí và Quản lý chất lượng giáo dục
Các nỗ lực xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong các cơ sở giáo dục đều nhằm từng bước hình thành văn hóa chất lượng bên trong các cơ sở giáo dục đó với mục đích làm cho mọi thành viên của nhà trường đều hiểu, quan tâm và mong muốn cải tiến chất lượng giáo dục
Các hoạt động đánh giá chất lượng giảng dạy, đánh giá chương trình, kiểm toán nội bộ đang được tiếp tục triển khai thực hiện và ngày một mở rộng quy mô áp dụng
Công tác tự đánh giá được chú trọng như một công cụ để cải tiến chất lượng giáo dục, tính đến hết năm 2013, 72,58% số cơ sở giáo dục trên cả nước
đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá
Hoạt động tự đánh giá ở các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp được triển khai khá mạnh trong những năm qua, đến nay, 177 trường đại học, 192 trường cao đẳng và 100 trường trung cấp chuyên nghiệp đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá, gửi về Bộ Giáo dục và Đào tạo
Đảm bảo chất lượng các chương trình đào tạo giáo viên là một trong những hoạt động cũng đang được chú trọng ở Việt Nam Dự án phát triển giáo viên tiểu học đã tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học, chủ yếu là các trường cao đẳng; Dự án Phát triển giáo viên trung học phổ thông
và trung cấp chuyên nghiệp tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo giáo viên THPT và TCCN Qua các dự án này, đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá của 100 chương trình đào tạo giáo viên trung học phổ thông, 7 chương trình sư phạm kỹ thuật công nghiệp và 10 chương trình đào tạo giáo viên tiểu học
Theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 63 sở giáo dục và đào tạo đang chỉ đạo các trường mầm non, phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên triển khai tự đánh giá Đến nay, có 13/63 tỉnh đã hoàn thành tự đánh giá 100%
số trường và có 42/63 tỉnh đã hoàn thành tự đánh giá 50% số trường phổ thông của tỉnh Kết quả tự đánh giá là cơ sở để các trường phổ thông tự nhìn nhận và
tự đề ra giải pháp cải tiến, nâng cao chất lượng của nhà trường
(trường)
Kết quả tự đánh giá
3 Cập nhật đến ngày 10/4/2014
Trang 94 Trường phổ thông 28.916 20.581 71,17
Việc đánh giá theo các bộ tiêu chuẩn khu vực và quốc tế cũng đã được các trường chủ động tiếp cận, kết quả:
- Đánh giá theo tiêu chuẩn của Mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN): Từ năm 2009- 2013, ĐHQG Hà Nội và ĐHQG TP Hồ Chí Minh là thành viên chính thức của AUN đã có 18 chương trình được AUN đánh giá Từ cuối năm 2011, với sự hỗ trợ của DAAD - Đức, chương trình ASEAN-QA đã được triển khai với sự tham gia của 8 nước ASEAN để đánh giá 23 chương trình, trong đó có 6 chương trình của Việt Nam theo bộ tiêu chí AUN (1 của ĐHQG Hà Nội, 1 của ĐHQG TP Hồ Chí Minh, 1 của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, 1 của Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh và 2 của Trường Đại học Cần Thơ), 6 chương trình này đã được AUN đánh giá
- Đánh giá của Ủy ban văn bằng kỹ sư Pháp – CTI: 14 ngành đào tạo kỹ
sư chất lượng cao của 04 trường đại học (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng, Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG TP Hồ Chí Minh) đã được CTI tổ chức đánh giá vòng 2 vào năm 2010 (vòng 1 đã được đánh giá vào năm 2004)
- Đánh giá của Hội đồng Kiểm định Kỹ thuật và Công nghệ - Hoa Kỳ (ABET): Một số trường đại học như Trường Đại học FPT, Trường Đại học Bách khoa – ĐHQG TP Hồ Chí Minh đang có các chương trình phấn đấu đạt chuẩn của ABET Tháng 11/2013, 02 chương trình của Trường Đại học Bách khoa – ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã được ABET đánh giá và đang chờ kết quả cụ thể
- Ngoài ra, có 04 trường ĐH đã đăng ký làm thành viên và tiếp cận với bộ tiêu chuẩn đánh giá của Hiệp hội phát triển giảng dạy doanh thương bậc đại học -Hoa Kỳ (AACSB) đó là: Trường Đại học Quốc tế - ĐHQG TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam, Trường Đại học Quốc tế Sài Gòn, Trường Đại học Kinh tế và Tài chính TP Hồ Chí Minh
- Một số trường khác cũng đã tiếp cận với những bộ tiêu chuẩn đánh giá quốc tế theo từng chuyên ngành như ngành y, dược Tuy nhiên, chưa có báo cáo chính thức về Bộ Giáo dục và Đào tạo
Xem danh sách các trường TCCN hoàn thành báo cáo tự đánh giá tại địa chỉ
http://www.moet.gov.vn/?page=1.19&view=4967&opt=brpage
2.2.2 Triển khai các hoạt động đánh giá ngoài (Kiểm định chất lượng)
Đánh giá ngoài là một cách phản ánh khách quan tình trạng của nhà trường từ các góc độ bên ngoài Để đảm bảo tính khách quan và có thể so sánh với các chuẩn mực quốc tế, trong mấy năm qua, 40 trường đại học đã được đánh giá bởi các tổ chức HBO raad Hà Lan, ETS và CQAIE Hoa Kỳ (có sự tham gia
Trang 10của các chuyên gia Việt Nam)
Từ năm 2008, một số chuyên ngành của 04 trường đại học được VEF tổ chức đánh giá bởi các chuyên gia Hoa Kỳ, tạo ra những cách nhìn nhận khác về thực trạng giáo dục đại học của Việt Nam Ngoài ra, 14 chương trình đào tạo giáo viên trung học phổ thông trình độ đại học và chương trình sư phạm kỹ thuật trình độ đại học đã được đánh giá ngoài trong năm 2012 Và 2013
Các sở giáo dục và đào tạo trong cả nước đã triển khai đánh giá ngoài và công nhận các trường tiểu học, trung học đạt tiêu chuẩn chất lượng Đến nay đã có: 339/13.548 trường mầm non được đánh giá ngoài, đạt tỷ lệ 2,5%; 2.061/28.916 trường phổ thông (TH, THCS, THPT), đạt tỷ lệ 7,12% và 3/703 trung tâm giáo dục thường xuyên được đánh giá ngoài, đạt tỷ lệ 0,4%
2.3 Thành lập Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục và Đào tạo Kiểm định viên kiểm định chất lượng giáo dục
2.3.1 Thành lập các Trung tâm KĐCLGD:
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định thành lập 02 Trung tâm KĐCLGD đầu tiên của Nhà nước, gồm: Trung tâm KĐCLGD Đại học Quốc gia
Hà Nội và Trung tâm KĐCLGD Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Theo kế hoạch, 2 Trung tâm này sẽ được cấp phép và triển khai hoạt động từ quý II năm 2014
2.3.2 Đào tạo kiểm định viên KĐCLGD đại học và trung cấp chuyên nghiệp:
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh nhiệm vụ đào tạo kiểm định viên KĐCLGD đại học và trung cấp chuyên nghiệp
Theo kế hoạch, 2 Đại học quốc gia sẽ tổ chức đào tạo kiểm định viên từ đầu năm 2014 Cục KTKĐCLGD cũng đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để triển khai việc tuyển chọn và cấp thẻ kiểm định viên theo quy định
2.4 Tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục
Với những nước mới bắt đầu triển khai xây dựng hệ thống đảm bảo và KĐCLGD thì hợp tác quốc tế là một vấn đề hết sức quan trọng trong việc đào tạo chuyên gia và trao đổi kinh nghiệm thực tiễn
Từ những năm đầu tiên (2002), qua các hội thảo, tập huấn, các chuyên gia quốc tế đã giúp Việt Nam định hướng cho công tác đảm bảo chất lượng giáo dục, đề xuất mô hình các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, cung cấp thông tin và trao đổi kinh nghiệm thực tiễn
Việc Việt Nam tham gia nhóm đảm bảo chất lượng giáo dục đại học của SEAMEO (năm 2002-2003) là một cơ hội trao đổi, hợp tác với các nước thành viên SEAMEO để xây dựng khung chính sách đảm bảo chất lượng cho các nước Đông Nam Á, đồng thời để triển khai thực hiện tại mỗi quốc gia