1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề Tài Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Trong Trường Tiểu Học

34 191 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 240,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN NAM TRỰCTRƯỜNG TIỂU HỌC NAM ĐỒNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC Người thực

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN NAM TRỰC

TRƯỜNG TIỂU HỌC NAM ĐỒNG

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC

KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Chức vụ: Hiệu trưởng Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nam Đồng

NAM TRỰC, THÁNG 4 NĂM 2013

Trang 2

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG

CHO HỌC SINH TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC

“Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện cóđạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độclập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chấtnăng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc” Như vậy việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là rất cần thiết, phù hợpvới mục tiêu giáo dục

Mỗi người khi sinh ra đều không có khả năng làm được mọi thứ một cáchngẫu nhiên Đó là kết quả của quá trình tiếp thu, thích nghi với các tri thức, kinhnghiệm xã hội lâu dài Trẻ em khi sinh ra không thể tự nhiên có được kĩ năngsống như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng trình bày ý kiến, kĩnăng tự chăm sóc bản thân Càng có những kĩ năng này sớm bao nhiêu thì trẻ càng

có nền tảng vững chắc để phát triển toàn diện

Mặt khác, khi trẻ lớn dần, nhu cầu hòa nhập xã hội, tiếp xúc với thế giới bênngoài càng cao Thông tin ngoại cảnh không chỉ có những cái tốt đẹp mà còn baogồm cả những cái xấu, cái không tốt Vì vậy, việc dạy và rèn luyện kĩ năngsống cho học sinh là vô cùng cần thiết Rèn kĩ năng sống cho học sinh giúp cho họcsinh thích ứng được với môi trường xã hội, tự giải quyết được một số vấn đề thiếtthực trong cuộc sống như vấn đề sức khoẻ, môi trường, tệ nạn xã hội, để các em cóthể tự tin, chủ động không bị quá phụ thuộc vào người lớn mà vẫn có thể tự bảo vệmình, tự đem lại lợi ích chính đáng, điều kiện thuận lợi cho bản thân mình rènluyện, học tập phấn đấu vươn lên

Trang 3

Trong thực tế hiện nay việc rèn kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường

đã được chú ý đến, song nhiều trường nhất là các trường tiểu học còn lúng túngtrong việc tổ chức, thực hiện giáo dục và rèn kĩ năng sống cho học sinh Với ýnghĩa và tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng sống cho học sinh, tôi đã chọn nghiêncứu đề tài: “ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho họcsinh trong trường tiểu học”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu thực trạng nội dung, phương pháp vàhình thức tổ chức giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh trong trường tiểuhọc Từ đó, đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sốngcho học sinh trong trường tiểu học

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giáo dục và rèn luyện kĩnăng sống cho học sinh tiểu học

- Nghiên cứu, tìm hiểu các kĩ năng sống phù hợp với độ tuổi học sinh tiểuhọc

- Nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, rèn kĩ năng sốngtrong trường tiểu học

- Thiết kế một số bài học và tiến hành thực nghiệm sư phạm để làm rõ việc ápdụng các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống chohọc sinh

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức giáo dục và rèn luyện kĩnăng sống cho học sinh trong trường tiểu học

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu nội dung chương trình các môn học, các hoạt động giáo dục vàcác hình thức tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các trường tiểu họctrên địa bàn huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp lí luận:

Trang 4

Thu nhập tài liệu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa nội dunggiáo dục, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh tiểu học trong chương trình các mônhọc và các hoạt động giáo dục ở tiểu học.

Phần 2: Nội dung: gồm 4 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giáo dục kĩ năng sốngcho học sinh tiểu học

Chương 2: Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và rèn luyện

kĩ năng sống cho học sinh trong trường tiểu học

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho họcsinh trong trường tiểu học

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Phần 3 : Kết luận và kiến nghị

PHẦN 2: NỘI DUNGChương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KĨNĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC

I Cơ sở lý luận

1 Cơ sở pháp lí

Chỉ thị số 40/CT-BGD ĐT ngày 22/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đàotạo về phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực trong các trườngphổ thông giai đoạn 2008 -2013 có nội dung và mục tiêu quan trọng đó là giáo dục kĩnăng sống cho học sinh

Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được ngành Giáo dục và Đào tạo đặt ra

từ lâu, nhưng lâu nay do Bộ Giáo dục và Đào chưa ban hành bộ chuẩn về giáo dục

kĩ năng sống cho học sinh để định hướng chung nên mỗi trường dạy mỗi kiểu Cùng

Trang 5

với đó, việc giáo dục kĩ năng sống tại các trường tiểu học mới chỉ dừng lại ở các tiếthọc về đạo đức Từ năm học 2010 - 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương đưanội dung giáo dục kĩ năng sống đại trà vào các trường bằng cách tích hợp vào cácmôn học và các hoạt động giáo dục Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn.

2.Tổng quan về kĩ năng sống

2.1 Quan niệm về kĩ năng sống

Thuật ngữ kĩ năng sống bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thôngViệt Nam từ những năm 1995 - 1996 Từ đó đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức trongnước và quốc tế đã tiến hành giáo dục kĩ năng sống gắn với giáo dục những vấn đề

xã hội khác Vậy kĩ năng sống là gì? Có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năngsống, cụ thể:

+ Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), kĩ năng sống là khả năng để có hành vithích ứng và tích cực, giúp cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước những nhu cầu vàthách thức của cuộc sống hàng ngày

+ Theo UNICEF, kĩ năng sống là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúpgiải quyết hoặc đáp ứng các nhu cầu cụ thể, trong suốt quá trình tồn tại và phát triểncủa con người Kĩ năng sống bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duytrong não bộ của con người Kĩ năng sống có thể hình thành một cách tự nhiên,thông qua học tập hoặc rèn luyện của con người

+ Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO),

kĩ năng sống gồm có 4 trụ cột của giáo dục, đó là: học để biết, học làm người, học

để sống với người khác và học để làm

Từ những quan niệm trên có thể thấy, kĩ năng sống bao gồm một loạt các kĩnăng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của kĩ năngsống là kĩ năng tự quản lý bản thân của mỗi con người, khả năng ứng xử phù hợpvới những người khác và xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huốngcủa cuộc sống

2.2 Phân loại kĩ năng sống.

Có nhiều cách phân loại kĩ năng sống, tùy theo quan niệm về kĩ năng sống

mà có những cách phân loại khác nhau Theo UNESCO, WHO, UNICEF, có thểxem kĩ năng sống gồm các kĩ năng cốt lõi sau:

Trang 6

+ Kĩ năng giải quyết vấn đề

+ Kĩ năng suy nghĩ hay tư duy phê phán

+ Kĩ năng giao tiếp hiệu quả

+ Kĩ năng ra quyết định

+ Kĩ năng tư duy sáng tạo

+ Kĩ năng giao tiếp, ứng xử cá nhân

+ Kĩ năng tự nhận thức hay tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị.+ Kĩ năng thể hiện sự cảm thông

+ Kĩ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc

Trong giáo dục ở vương quốc Anh, kĩ năng sống được chia thành 6 nhómchính là:

+ Hợp tác nhóm

+ Tự quản

+ Tham gia hiệu quả

+ Suy nghĩ hay tư duy bình luận, phê phán

+ Suy nghĩ sáng tạo

+ Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề

Trong nền giáo dục của nước ta, những năm vừa qua, kĩ năng sống thườngđược phân theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:

+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình bao gồm các kĩ năng sống

cụ thể như: tự nhận thức xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm hỗ trợ,

tự trọng, tự tin,

+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác bao gồm những kĩ năngsống cụ thể như: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn; thương lượng, từ chối,bày tỏ sự cảm thông, hợp tác,

+ Nhóm kĩ năng ra quyết định bao gồm các kĩ năng sống cụ thể như: tìmkiếm và xử lý thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyếtvấn đề,

2.3 Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh nói chung, học sinh tiểu học nói riêng

2.3.1 Kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội

Trang 7

Kĩ năng sống là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thàtnh thái độ, hành

vi và thói quen tích cực, lành mạnh Người có kĩ năng sống phù hợp sẽ luôn vữngvàng trước khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực vàphù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộcsống của mình Ngược lại, người thiếu kĩ năng sống thường bị vấp ngã, dễ thất bạitrong cuộc sống

Kĩ năng sống không những thúc đẩy sự phát triển của cá nhân mà còn gópphần thúc đẩy sự phát triển của xã hội và bảo vệ quyền con người Việc thiếu kĩnăng sống của cá nhân là một nguyên nhân nảy sinh các vấn đề tiêu cực trong xãhội Việc giáo dục kĩ năng sống sẽ thúc đẩy những hành vi tích cực, giúp nâng caochất lượng cuộc sống, giảm các vấn đề tiêu cực trong xã hội Giáo dục kĩ năng sốngcòn giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân đượcghi trong Luật pháp Việt Nam và Quốc tế

2.3.2 Giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thể hệ trẻ

Giáo dục kĩ năng sống đang trở nên cấp thiết đối với thể hệ trẻ bởi vì:

- Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là những người quyết định sựphát triển của đất nước Nếu không có kĩ năng sống, các em sẽ không thực hiện tốttrách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước

- Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhâncách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết

về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động, Đặc biệt, trongbối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ chịu nhiều tácđộng đan xen giữa yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn phải đặt mình vào hoàn cảnhphải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thách thức Nếukhông được giáo dục những kĩ năng sống, thiếu kĩ năng sống các em dễ bị lôi kéovào những hành vi tiêu cực, bạo lực và lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bịphát triển lệch lạc về nhân cách

Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ là rất cấn thiết, giúp các emthực hiện hành vi có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và tổ quốc, giúpcác em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựngmối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an

Trang 8

toàn, hài hoà và lành mạnh Việc giáo dục kĩ năng sống càng sớm bao nhiêu thì trẻcàng có nền tảng vững chắc để phát triển toàn diện

2.3.3 Giáo dục kĩ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổthông

Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh với bản chất là hình thành và phát triểncho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những ngườikhác và xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống phùhợp với mục tiêu giáo dục phổ thông Vì vậy, giáo dục kĩ năng sống cho học sinhnhằm thực hiện yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông

II Cơ sở thực tiễn

1 Thực trạng lối sống và đạo đức của học sinh hiện nay

Trong những năm trở lại đây, tỷ lệ trẻ em phạm tội, trẻ em dính vào các tệ

nạn xã hội, bỏ nhà, hư hỏng ngày càng nhiều Không chỉ có học sinh PTTH, PTCS

mà tuổi trẻ em hư dường như đang ngày càng trẻ hóa Thật đáng buồn khi mà chúng

ta phải chứng kiến các em học sinh còn trong độ tuổi tiểu học cũng đánh nhau, bỏnhà và thậm chí là có những hành động rất cực đoan như là tự tử Khi bị cha mẹ,thầy cô có nhắc nhở các em lập tức thể hiện thái độ căng thẳng, chống đối Có lẽchúng ta không thấy lạ khi đi ngang qua cổng trường thấy các em cả nam, nữ văngtục, chửi bậy Có không ít học sinh hút thuốc, tóc nhuộm xanh đỏ, bỏ tiết học đichơi Trên một số trang báo mạng, chúng ta bàng hoàng khi nghe con cái của mìnhnói: “Teen quan hệ sớm, ai cũng biết chỉ phụ huynh không biết”, bàng hoàng vớicác dòng tin với nội dung trẻ em bị xâm hại Rõ ràng hiện nay, một bộ phận khôngnhỏ học sinh đang phát triển nhân cách rất lệch lạc Và thực tế cũng cho thấy, họcsinh bây giờ đang rất thiếu kĩ năng sống Việc giáo dục kĩ năng sống cho học

sinh ngày càng trở nên bức thiết khi mà xã hội đang tác động tới các em từ quá

nhiều phía

2 Thực trạng của giáo dục kĩ năng sống trong các nhà trường

Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh nội dung, mục tiêu quan trọng của phongtrào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Thực hiện mục tiêu đó,trong những năm qua Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định đã chỉ đạo các trường chútrọng, quan tâm lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học sinh vào từng tiết học và

Trang 9

các hoạt động giáo dục trong nhà trường Công tác giáo dục kĩ năng sống đã cónhiều chuyển biến Các nhà trường đã chú trọng tố chức nhiều hơn các hoạt độngngoại khóa, nhiều trò chơi dân gian đang có nguy cơ bị mai một dần, giờ chơi ở sântrường nhộn nhịp hẳn lên với các trò chơi đá cầu, chơi chuyền, chơi ô ăn quan, nhảydây, … Học sinh được quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất để “Mỗi ngày đến trường

là một ngày vui” Đi đôi với việc tăng cường tổ chức các hoạt động vui chơi chohọc sinh, các nhà trường trong huyện, trong tỉnh còn hướng các em tham gia cáchoạt động xã hội, tìm hiểu thêm về quê hương, đất nước, con người, tham gia giúp

đỡ trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Học sinh được tự trảinghiệm, rút ra được bài học cho bản thân, trang bị cho mình những kĩ năng cần thiết

để ứng dụng vào cuộc sống nên đa số đều rất hứng thú với các hoạt động nhàtrường tổ chức Tuy nhiên, thực tế cho thấy tại một số nơi, việc giáo dục kĩ năngsống cho học sinh chưa được nhận thức một cách nhất quán Điều này thể hiện rõtrong việc tổ chức các hình thức giáo dục hay việc tạo điều kiện để giáo dục kĩ năngsống ở các cơ sở giáo dục Tuy là một nội dung được chính thức đưa vào chươngtrình giáo dục nhưng việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh gần như được thựchiện theo kiểu “mạnh ai nấy làm” Vì thế, kết quả của việc giáo dục kĩ năng sốngchỉ tùy thuộc vào tâm huyết và năng lực của giáo viên Ở một số đơn vị giáo dục,việc giáo dục kĩ năng sống mới chỉ được xem như một phong trào để được đánh giáthi đua Mặt khác, trong thực tế một vài giáo viên chưa quen với việc giảng dạylồng ghép các nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Nhiều người quan niệmviệc lồng ghép các nội dung đó là chỉ lồng ghép vào các môn học có tính giáo dụcnhư đạo đức hoặc những môn học thuộc nhóm khoa học xã hội như Tiếng Việt,Lịch sử và Địa lý, Khoa học Nhưng thật ra bất kỳ môn học nào, bất kỳ hình thứcgiảng dạy nào cũng có thể lồng ghép giáo dục kĩ năng sống được Điều quan trọng

là ở người lên lớp và tổ chức Rõ ràng việc giáo dục kĩ năng sống hiện nay đangtrong tình trạng vừa học vừa làm Một số giáo viên chưa được đào tạo căn bản vềnội dung và cả phương pháp giáo dục kĩ năng sống mà phải tự nghiên cứu tìm hiểu,

ứng dụng theo cách thức và hoàn cảnh riêng của mình Nhiều ý kiến cho rằng, các

trường học hiện nay đã quá nặng về dạy kiến thức, ít quan tâm đến việc giáo dụcKNS cho HS dẫn đến có một bộ phận HS trong các trường thiếu hụt hiểu biết về

Trang 10

môi trường xung quanh, ứng xử cần thiết trong cuộc sống Điều này cũng là mộttrong những nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong hành vi, lối sống đạo đứccủa nhiều HS Hơn thế nữa, giáo dục kĩ năng sống cần có sự phối hợp của các lựclượng giáo dục, trong đó có vai trò của gia đình Nhưng thực tế không ít gia đìnhvẫn khoán trắng cho nhà trường, gây ra nhiều khó khăn cho thầy cô Không chỉthiếu hợp tác mà nhiều phụ huynh học sinh còn làm những điều ngược lại với cáchgiáo dục của nhà trường làm cho các em thấy hụt hẫng và hoang mang Học sinh tỏ

ra căng thẳng, các em dần dần đánh mất sự tự tin vốn có của mình Giáo dục kĩnăng sống không chỉ đơn thuần là cung cấp tri thức mà phải tạo điều kiện cho các

em trải nghiệm và thực hành cụ thể Nếu việc thực hành kĩ năng sống chỉ theophong trào, không đi vào bề sâu và không duy trì thường xuyên thì kết quả sẽ hạnchế, thậm chí chẳng mang lại kết quả gì

Chương II NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨCGIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC

I Các kĩ năng sống cần trang bị cho học sinh tiểu học

1 Phân loại kĩ năng sống theo nội dung hoạt động thì các kĩ năng sống cần rèn cho học sinh tiểu học là:

+ Kĩ năng học tập: kĩ năng tự kiểm tra; đánh giá năng lực của bản thân; xácđịnh được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân; kĩ năng phân tích; kĩ năng tổng hợp;

kĩ năng xây dựng kế hoạch; kĩ năng hệ thống hoá; kĩ năng trình bày một vấn đề

+ Kĩ năng lao động, lao động tự phục vụ: kĩ năng thao tác những hoạt động tựphục vụ như tự lấy nước uống, tự xúc cơm ăn, tự mặc quần áo, tự đi giầy, tất (lớp 1,2); tắm gội (lớp 3, 4, 5), ,

+ Kĩ năng sử dụng có hiệu quả một số dụng cụ chăm sóc cây xanh, chăm sócvật nuôi trong gia đình, lao động vệ sinh trường lớp,

+ Kĩ năng vệ sinh, giữ gìn sức khoẻ: trẻ tự thực hiện được một số hoạt độngnhư: chải đầu, đánh răng rửa mặt, tắm giặt, , chơi trò chơi lành mạnh, ăn uốngsạch sẽ hợp vệ sinh, thực hiện giờ giấc vui chơi, học tập lao động vừa sức hợp lýtránh được sự căng thẳng,

+ Kĩ năng về hành vi, ứng xử: kĩ năng giao tiếp (nói lời cảm ơn, xin lỗi phùhợp tình huống, biết cách chào thầy cô giáo, cách xưng hô nói năng đúng mực với

Trang 11

những người lớn tuổi, ), kĩ năng từ chối, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng hợp tác, kĩnăng làm việc theo nhóm, kĩ năng vận động, kĩ năng kiềm chế sự tức giận, kĩ năng

+ Nhóm kĩ năng xã hội: Kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếpkhông lời, kĩ năng thuyết trình trước tập thể, kĩ năng từ chối, kĩ năng hợp tác, kĩnăng làm việc theo nhóm, kĩ năng biểu lộ, diễn đạt cảm xúc, kĩ năng ra quyết định,

kĩ năng vận động và gây ảnh hưởng

+ Nhóm kĩ năng quản lý bản thân: Kĩ năng làm chủ cảm xúc, vượt qua lolắng, sợ hãi, khắc phục sự tức giận, kĩ năng thực hiện tốt thời gian biểu, kĩ năng bảo

vệ sức khoẻ

II Một số phương pháp giáo dục kĩ năng sống hiệu quả

Giáo dục kỹ năng sống không phải là để nói cho trẻ biết thế nào là đúng thếnào là sai như ta thường làm Cũng không phải là rao truyền nhưng lời hay ý đẹp đểchúng vào tai này rồi ra tai kia Các phương pháp cổ điển như giảng bài, đọc chép

sẽ thất bại hoàn toàn vì chúng chỉ cung cấp thông tin, mà từ thông tin và nhận thứcđến thay đổi hành vi thì khoảng cách còn rất lớn

Giáo dục kỹ năng sống là giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn nhữnggiải pháp khác nhau Quyết định phải phát xuất từ trẻ Vì thế học phải hết sức gầngũi với cuộc sống hay ngay trong cuộc sống Nội dung phải phát xuất từ chính nhucầu và kinh nghiệm của trẻ Trẻ cần có điều kiện để cọ xát các ý kiến khác nhau,trao đổi kinh nghiệm, tập tành, thực hành, áp dụng trẻ phải tham gia chủ động vì cóthế trẻ mới thay đổi hành vi

Có nhiều phương pháp được áp dụng để thực hiện yêu cầu như trên Cụ thể:

1 Hoạt động nhóm

1.1 Phương pháp

Trang 12

Các nhà khoa học đã khẳng định rằng nhóm nhỏ là một môi trường thuận lợinhất để thay đổi hành vi Trong nhóm nhỏ (không quá 7- 9 người) người ta mớitham gia tích cực, các mối tương tác giữa các thành viên trong nhóm làm ảnhhưởng lẫn nhau, và bắt chước nhau

Các nhà nghiên cứu đã tổng kết về các thuận lợi trong học tập theo nhóm nhưsau:

+ Trẻ dễ trở nên thân thiện với nhau và với người hướng dẫn

+ Trẻ được khuyến khích hợp tác hơn là cạnh tranh

+ Thầy và trò có mối quan hệ tốt, làm cho việc học thuận lợi hơn

+ Trẻ dễ tập trung và người hướng dẫn dễ theo dõi phản ứng của trẻ

+ Trẻ bạo dạn hơn để đặt câu hỏi

+ Trẻ có cơ hội phát huy khả năng lắng nghe và truyền đạt

+ Trẻ sẵn sàng chia sẻ ý tưởng và kinh nghiệm

+ Trẻ dễ phát huy sáng kiến

+ Trẻ có nhận thức tốt hơn về bản thân và người khác

+ Trẻ bao dung hơn với bạn bè và quan tâm tới nhu cầu của chúng

+ Các thành viên nhóm hỗ trợ lẫn nhau về mặt tâm lý và điều này giúp chotrẻ có quyết định đúng đắn

1.2 Yêu cầu sư phạm

Hoạt động nhóm nhỏ chỉ thực sự đem lại những kết quả khi được sử dụngmột cách khoa học Tâm lý phát triển nhóm là một nội dung khoa học, giáo viên -người hướng dẫn phải nắm chắc mới phát huy được tác dụng của nhóm Dù sinhhoạt theo nhóm, không ít giáo viên không thay đổi cách làm của người thầy đứnglớp, vẫn “dạy học” áp đặt ý kiến, quyết định thay cho trẻ Mặc dù từ bên ngoài, tacũng thấy các em vui chơi, nhảy múa nhưng mọi sự do thầy cô điều động, trẻ khôngthực sự chủ động

Tổ chức hoạt động nhóm là tạo điều kiện cho nhóm tự phát triển đúng hướnglàm sao cho thông tin được thông suốt, có sự tham gia đồng đều, tránh sự chế ngựcủa một cá nhân hay thiểu số, tạo bầu khí thân thiện, hợp tác, bảo đảm dân chủ,quyết định phải xuất phát từ tập thể v,v Sai lầm là để cho nhóm hoàn toàn tự phát

Vì như thế, hoạt động sẽ rời rạc, sẽ xảy ra “độc diễn” của một cá nhân mạnh, hay sự

Trang 13

kiểm soát của một thiểu số, đa số còn lại sẽ thụ động, thờ ơ Như vậy sinh hoạtnhóm sẽ mất tác dụng

2 Thảo luận nhóm

2.1 Phương pháp

Phương pháp thảo luận nhóm là để học sinh bàn bạc, trao đổi trong nhómnhỏ Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi học sinh tham giamột cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiếnthức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến bài học

Câu hỏi mà các em bàn bạc có thể là kiểu câu hỏi đóng hoặc câu hỏi mở.Các nghiên cứu về phương pháp thảo luận nhóm đã chứng minh rằng nhờviệc thảo luận trong nhóm nhỏ mà:

+ Kiến thức của học sinh sẽ bớt chủ quan, phiến diện, tăng tính khách quan,khoa học

+ Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do đượcgiao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm

Tổ chức thảo luận nhóm tiến hành theo các bước sau:

+ GV nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, yêu cầu thảo luận chomỗi nhóm, quy định thời gian thảo luận và phân công vị trí ngồi thảo luận cho cácnhóm

+ Các nhóm tiến hành thảo luận

+ Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm Các nhóm kháclắng nghe, chấp vấn, trao đổi, bổ sung ý kiến

+ GV tổng kết các ý kiến

2.2 Yêu cầu sư phạm

Nội dung thảo luận của các nhóm có thể giống hoặc khác nhau

Cần quy định rõ thời gian thảo luận và trình bày kết quả thảo luận cho cácnhóm

Có nhiều cách chia nhóm, có thể theo số điểm danh, theo màu sắc, theo biểutượng, theo giới tính, theo vị trí ngồi,…

Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ tuỳ theo vấn đề thảo luận Tuy nhiên,nhóm từ 4 đến 8 học sinh là tốt nhất bởi lẽ số học sinh này đủ để đảm bảo tất cả các

Trang 14

em có thể tham gia tích cực, đảm bảo rằng các em không bao giờ thiếu ý tưởng vàkhông có gì để nói.

Sẽ thuận lợi hơn nếu mỗi nhóm chọn một trong những thành viên trong nhómlàm trưởng nhóm Nhóm trưởng điều khiển dòng thảo luận của nhóm, gọi tên cácthành viên lên phát biểu, chuyển sang câu hỏi khác khi thích hợp, đảm bảo rằng mỗithành viên trong nhóm kể cả những cá nhân nhút nhát, e ngại đều được phát biểu,

có cơ hội để đóng góp Trong một số trường hợp, khi thảo luận nhóm còn có ghibiên bản, ghi lại những điểm chính của cuộc thảo luận để trình bày trước cả lớp.Học sinh cần được luân phiên nhau làm ( nhóm trưởng ) và ( thư ký ) và luân phiênnhau đại diện cho nhóm trình bày kết quả thảo luận

Kết quả thảo luận có thể trình bày dưới nhiều hình thức: bằng lời, đóng thay,viết hoặc vẽ trên giấy to,…; có thể do một người thay mặt nhóm trình bày, có thểnhiều người trình bày, mỗi người một đoạn nối tiếp nhau,…

Trong suốt buổi thảo luận nhóm nhỏ, GV cần chú ý quan sát và lắng nghe ýkiến học sinh Giáo viên có thể tham gia thảo luận cùng một nhóm

3 Phương pháp động não

3.1 Phương pháp

Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nảysinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Đây là một phươngpháp hiệu quả trong việc nắm bắt thông tin

Phương pháp động não tiến hành theo các bước sau:

+ Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểutrước cả lớp hoặc trước nhóm

+ Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt

+ Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiếnnào, trừ trường hợp trùng lặp

+ Phân loại các ý kiến

+ Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng

+ Tổng hợp ý kiến học sinh, hỏi xem có thắc mắc hay bổ sung gì không

3.2 Yêu cầu sư phạm

Trang 15

Phương pháp động não có thể dùng để lý giải bất kỳ một vấn đề nào, songđặc biệt phù hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong cuộc sống thực tế củahọc sinh.

Phương pháp này có thể dùng cho cả câu hỏi có phần kết đóng và kết mở.Các ý kiến phát biểu nên ngắn gọn bằng một từ hay một câu thật ngắn

Tất cả mọi ý kiến đều cần được GV hoan nghênh, chấp nhận mà không nênphê phán, nhận định đúng, sai ngay

Cuối giờ thảo luận GV nên nhấn mạnh kết luận này là kết quả của sự thamgia chung của tất cả học sinh

Động não không phải là một phương pháp hoàn chỉnh mà chỉ là sự khởi đầu.Một khi danh sách các câu trả lời đã được hoàn thành, cần phải cho cả lớp dùngdanh sách này để xác định xem câu trả lời nào là sai

Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhútnhát, trở nên bạo dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình biếtlắng nghe có phê phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp trẻ dễ hoà nhập vào cộng độngnhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt

4 Phương pháp đóng vai

4.1 Phương pháp

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “ làm thử” một sốcách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giảng dạynhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sựkiện cụ thể mà các em quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính củaphương pháp này mà điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn ấy

Phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm như :

+ Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độtrong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn

+ Gây hứng thú và chú ý cho học sinh

+ Tạo điều kiện làm phát triển óc sáng tạo của học sinh

+ Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực.+ Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vaidiễn

Trang 16

Sử dụng phương pháp đóng vai theo các bước sau:

+ GV nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống và yêu cầu đóng vai chotừng nhóm Trong đó có quy rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗinhóm

+ Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai

+ Các nhóm lên đóng vai

+ Lớp thảo luận, nhận xét Bắt đầu thảo luận về cách ứng xử của các nhân vật

cụ thể hoặc tình huống trong vở diễn, rồi mở rộng phạm vi thảo luận những vấn đềkhái quát hơn hay những vấn đề mà vở diễn chứng minh

+ GV kết luận

4.2 Yêu cầu sư phạm

Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề giáo dục, phù hợp với lứa tuổi,trình độ học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học

Tình huống nên để mở, không cho trước “ kịch bản”, lời thoại

Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai

Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để không lạcđề

Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát cùng tham gia

Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóngvai

5 Phương pháp nghiên cứu tình huống (hay nghiên cứu các trường hợp

điển hình)

5.1 Phương pháp

Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra mộttình huống “ thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn đề Đôi khi nghiên cứutình huống có thể được thực hiện trên video hay một băng casset mà không phảitrên dạng chữ viết Vì tình huống này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng củacuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những tìnhhuống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản

Tổ chức các bước nghiên cứu tình huống như sau:

+ Đọc (xem, nghe) tình huống thực tế

Trang 17

+ Suy nghĩ về nó (có thể ghi lại một vài nội dung trước khi thảo luận điều đóvới người khác).

+ Đưa ra một hay nhiều câu hỏi hướng dẫn liên quan đến tình huống (trongtài liệu viết hay từ giáo viên)

+ Thảo luận tình huống thực tế

+ Thảo luận vấn đề chung hay các vấn đề được minh chứng bằng thực tế

5.2 Yêu cầu sư phạm

Tình huống có thể dài hay ngắn, tuỳ từng nội dung vấn đề

Tình huống phải được kết thúc bằng một loạt các vấn đề hoặc câu hỏi như:bạn nghĩ điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Bạn sẽ làm gì nếu bạn là nhân vật ? Vấn đềnày có thể đã được ngăn chặn như thế nào? Lúc này cần phải làm gì để hạn chế tínhtrầm trọng của vấn đề?

Vấn đề trả lời các câu hỏi này phải được dùng để khái quát một tình huốngrộng hơn

6 Phương pháp trò chơi

6.1 Phương pháp

Trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề hay thựchiện những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nàođó

Cùng với học tập, giao lưu với bạn bè, vui chơi cũng là một nhu cầu của họcsinh, nhất là bậc học tiểu học Lí luận và thực tiễn đã chứng tỏ rằng: nếu biết tổchức cho trẻ em vui chơi một cách hợp lí, lành mạnh thì đều mang lại hiệu quả giáodục Qua trò chơi, trẻ không những được phát triển về các mặt trí tuệ, thể chất, thẩm

mĩ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất và hành vi tích cực Chính vì vậy, tròchơi được sử dụng như là một phương pháp dạy học quan trọng

Qua trò chơi, học sinh có cơ hội để thể nghiệm những thái độ, hành vi Chínhnhờ sự thể nghiệm này giúp hình thành ở các em niềm tin vào những thái độ, hành

vi tích cực, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống

Thông qua chơi, học sinh sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọncho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống, học sinh được hìnhthành năng lực quan sát, được rèn luyện kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi

Ngày đăng: 07/04/2018, 11:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w