1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LICH SU TIEP NHAN BAI THO TAY TIEN CUA QUANG DUNG

23 2,4K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 65,04 KB
File đính kèm TIEP NHAN TAY TIEN.rar (62 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tây Tiến là một bài thơ lạ đến mức “lệch chuẩn” so với quan niện về tinh thần thơ của người đương thời, nhưng đây cũng là một thi phẩm đặc sắc của thơ ca kháng chiến. Có điều, chính sự “lệch chuẩn” đó đã khiến nhiều người không nhận thấy cái hay, cái độc đáo của bài thơ. Trong hơn nửa thế kỷ qua, bài thơ đã dược các nhà nghiên cứu, phê bình tiếp cận ở nhiều gọc độ khác nhau với những quan điểm khác nhau, người khen nhiều mà người chê cũng không ít. Nay chúng ta nhìn nhận lại quãng đường 69 năm thăng trầm của bài thơ cũng là để góp thêm một cách tiếp cận, đồng thời để khẳng định rằng: cho đến nay Tây Tiến vẫn sống.

Trang 1

LỊCH SỬ TIẾP NHẬN BÀI THƠ “TÂY TIẾN” CỦA QUANG DŨNG

1 Giới thiệu chung.

Quang Dũng thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chốngPháp Ông là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc Nhưng trên hết,Quang Dũng được biết đến nhiều nhất là một nhà thơ với hồn thơ phóng khoáng, hồnhậu, lãng mạn và tài hoa Nét phong cách nghệ thuật đặc sắc ấy được in đậm trong bài

thơ Tây Tiến

Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợpcùng bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và làm tiêu hao lực lượng Pháp Địa bànchiến đấu của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, hiểm trở bao gồm các tỉnh miền Tây BắcViệt Nam và Thượng Lào Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, chiếnđấu trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn nhưng họ vẫn sống rất lạc quan, chiến đấu rấtdũng cảm Quang Dũng là đại đội trưởng của đoàn quân ấy Cuối năm 1948 ôngchuyển sang đơn vị khác Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, một buổi chiều tại Phù Lưu

Chanh, nhớ đơn vị cũ, Quang Dũng viết bài thơ Nhớ Tây Tiến, khi in lại trong tập thơ Mây đầu ô năm 1986, tác giả đổi tên bài thơ thành Tây Tiến

Tây Tiến là một bài thơ lạ đến mức “lệch chuẩn” so với quan niện về tinh thần

thơ của người đương thời, nhưng đây cũng là một thi phẩm đặc sắc của thơ ca kháng

chiến Có điều, chính sự “lệch chuẩn” đó đã khiến nhiều người không nhận thấy cái

hay, cái độc đáo của bài thơ Trong hơn nửa thế kỷ qua, bài thơ đã dược các nhànghiên cứu, phê bình tiếp cận ở nhiều gọc độ khác nhau với những quan điểm khácnhau, người khen nhiều mà người chê cũng không ít Nay chúng ta nhìn nhận lạiquãng đường 69 năm thăng trầm của bài thơ cũng là để góp thêm một cách tiếp cận,

đồng thời để khẳng định rằng: cho đến nay Tây Tiến vẫn sống.

2 Lịch sử tiếp nhận bài thơ “Tây Tiến”

Văn – người bạn chí thân của Quang Dũng, cũng đưa ra ý kiến tương tự Phải chăng

những ý kiến trên đã xác định ý nghĩa nhan đề cho Tây Tiến, nên khi phân tích, bình

luận, các nhà phê bình thường ít chú ý đến việc khai thác ý nghĩa của nhan đề?

Tuy nhiên, theo một số nhà phê bình, nhan đề Tây Tiến còn một lượng ẩn nghĩa lớn hơn Đặng Anh Đào trong “Tây Tiến, khúc độc hành” cho rằng: “Tây Tiến, tên gọi

ấy của bài thơ đã gợi lên âm hưởng quân hành vào cái thời đặc biệt phát triển những khúc hát Nam Tiến, Tiến Quân Ca,…”, và việc bỏ chữ “Nhớ” “khiến cảm giác về hành khúc mạnh mẽ hơn” Chu Văn Sơn (trong bài “Tây Tiến hào hùng và hào hoa”), cũng nói việc Quang Dũng sửa nhan đề không chỉ vì “sợ thừa chữ… Sợ lộ đề …”.

Ông tiếp cận tác phẩm ở sự hoàn quyện hai sắc thái hào hung và hào hoa đã phân tích

Trang 2

ý nghĩa hai nhan đề để khẳng định cái hay của nhan đề thứ hai - Tây Tiên Ông cho rằng, “Nhớ Tây Tiến là xoáy vào tâm trạng, nỗi niềm riêng của cá nhân Còn Tây Tiến khái quát hơn, nó muốn thâu tóm cả đất trời Tây Tiến vào một bức tranh toàn cảnh hoành tráng, hào hùng mà trữ tình, thơ mộng” Tương tự như vậy, Vũ Nho, (trong Những nét độc đáo trong bài thơ kiệt tác Tây Tiến của Quang Dũng), cho rằng “bỏ chữ “Nhớ” đi, nhan đề gọn hơn Mặt khác, không chỉ có nỗi nhớ, mà ở đấy còn có sự ngợi ca, sự tôn vinh những chiến sĩ Tây Tiến Có thêm “Nhớ” hóa ra lại thu hẹp mạch cảm xúc của bài thơ Tuy đổi tên, nhưng nỗi nhớ trong bài thơ vẫn là một nét chủ đạo, quán xuyến.” Như vậy, ngay ở nhan đề bài thơ cũng đã có những cách cảm nhận thú

vị

2.2 Tiếp nhận về các đoạn thơ, câu thơ

2.2.1 Đoạn thơ thứ nhất (14 câu đầu)

- Hai câu thơ “Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi! - Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”

Hầu hết các nhà phê bình đều cảm nhận thấy hai câu thơ mở đầu bài thơ đã thểhiện nỗi nhớ thiết tha, da diết, lan tỏa,… Cách cảm nhận này có cơ sở từ hoàn cảnh ra

đời của bài thơ Như Anh Ngọc (trong bài Ma lực của Tây Tiến) cho rằng hai câu mở đầu “đã cho người đọc biết ngay hoàn cảnh ra đời của bài thơ trong không gian và thời gian: Bài thơ viết dưới dạng hồi ức về một thời gian đã qua, một không gian đã xa…”

Tuy nhiên, một số nhà phê bình, khi tiếp cận hai câu thơ này, họ chú ý nhiềuhơn ở góc độ nghệ thuật ngôn từ, vì thế, ý nghĩa cai câu thơ đầu không đơn gian như

vậy Trần Đăng Xuyền (trong Giảng văn văn học Việt Nam) một mặt cảm nhận ý nghĩa chung của hai câu thơ và nhận định rằng, “cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên tất cả không gian và thời gian… Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi” Mặt khác ông còn đi sâu phân tích hai “chữ chơi” để chỉ ra cái hình thái bên trong và khả năng khơi nguồn của nó: “Hai chữ “chơi vơi” như vẻ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhơ, hình tượng hóa nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dôc sâu, vực thẳm, rừng dày… liên tiếp xuất hiện ở những câu sau” Thái Văn Vinh lại cho rằng chính hai chữ “chơi vơi” này

“diễn tả một nỗi nhớ không có hình, không có lượng nhưng hình như rất nặng mà mênh mang đầy ắp.” Nỗi nhớ là vô hình, dù những chữ choi vơi kia có khả năng hữu

hình hóa, thì nỗi nhớ hiện về vẫn chập chờn, như gần, như xa, như thực, như ảo, mông

lung mà da diết Cùng cách cảm nhận đó, Nguyễn Thành Thi (trong bài Tây Tiến Đường lên heo hút, nỗi nhớ chơi vơi”) đã nói đến không gian nỗi nhớ,“một không gian trong, đầy, có bề rộng, bề sâu nơi ký ức”, quá khứ oanh liệt của đoàn quân “giữa một vùng non nước chơi vơi, với hận cừu, mộng ước chơi vơi”.

Những ý kiến trên như tựu chung trong cách cảm nhận của Nguyễn Văn Long

(trong Văn học Việt Nam hiện đại – những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy), khi ông phân tích hai câu thơ ở nhiều góc độ khác nhau: “nỗi nhớ chất đầy trong lòng nhà thơ thốt lên thành lời, vang lên như lời bộc bạch tình cảm nhớ nhung tiếc nuối; bốn chữ là tên riêng ở câu thứ nhất là nơi gửi, nơi về; nỗi nhớ hiện lên thành hình ảnh với “nhớ chơi vơi”, khi thì rõ nét, khi thì mờ ảo, nhưng đều sống động,…”

Trang 3

Nguyễn Đức Quyền lại thể hiện một cái nhìn khác, chú trọng đến yếu tố âm

điệu như trong thơ cổ và tình cảm như trong Thơ Mới Ông cho rằng với “âm điệu của câu thơ thất ngôn như từ thời Lý Bạch Tình cảm thì dạt dào như các nhà thơ lãng mạn thời Thơ Mới” Cũng từ góc độ âm thanh, nhưng Chu Văn Sơn lại nói câu thơ đầu như một “tiếng kêu tiếc nuối muốn vọng qua không gian, dội vào tâm tưởng… Nó là tiếng vọng của quá khứ không chịu ngủ yên trong tâm can thi sĩ.” Về tên địa danh, ông lại tính toán số chữ và thấy được ý nghĩa bề sâu của nó: “Chưa có hình ảnh nào,

và bảy chữ đã tới bốn chữ là địa danh Nhưng kể từ nay nó không là những địa danh trung tính, vô cảm, vô can trên bản đồ nữa”.

Còn Đặng Anh Đào, ở góc độ Tây Tiến - một khúc độc hành, hai câu thơ này lại mang nét nghĩa của một con đường: “Đoàn quân đã đi xa, một mình nhà thơ ngược lại con đường – trong ký ức… Khi ký ức mãnh liệt, nó có khả năng hiện tại hóa quá khứ.”

Điểm qua một số ý kiến về hai câu thơ trên, ta thấy có nhiều cách hiểu, cáchtiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung, các nhà phê bình chú ý nhiều đến các yếu tốnổi bật, như âm thanh, âm điệu, địa danh,… Tuy nhiên, từ góc độ ngôn từ, ta có thểthấy hai câu thơ còn có những dấu hiệu nghệ thuật độc đáo khác như: phép nhân hóakhiến hai địa danh trung tính trở nên có linh hồn, như là người bạn để nhà thơ giải bày

tâm sự; phép điệp từ “nhớ”, vận dụng thán từ “ơi” (trong câu cảm thán) gieo vần với

từ láy “chơi vơi” tạo âm hưởng ngân xa, lan tỏa,… đã hình tượng hóa nỗi nhớ, gợi lên

chiều không gian của nỗi nhớ,…

- Hai câu thơ “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi - Mường Lát hoa về trong

đêm hơi”

Thực tế, nhiều nhà phê bình không phân tích riêng hai câu này mà gộp chung vớihai câu mở đầu Có lẽ vì bốn câu thơ mang tính chỉnh thể của một khổ thơ thất ngôn.Khi đó, các nhà phê bình thường có xu hướng tập trung nhiều hơn vào hai câu đầu

Đào Ngọc Đệ (trong “Tây Tiến” – Bài thơ đặc sắc của nhà thơ Quang Dũng) đã khái quát ý nghĩa bốn câu thơ trong một lời bình: “Ta như nghe thấy tiếng gọi thiết tha, đầy yêu thương của tác giả đối với Tây Bắc, với đồng đội” Còn giáo sư Trần Đăng Xuyền

khi phân tích bốn câu này chỉ xoáy vào nỗi nhớ, và hai câu sau diễn tả đối tượng,không gian của nỗi nhớ Tiếp cận, bình giảng khái quát theo trọng điểm đó cũng làcách Nguyễn Văn Long thể hiện, và hai câu thơ trên được đặt trong mối quan hệ với

phần còn lại của bài thơ với hai hình tượng kết đọng: “miền Tây và người lính Tây Tiến” Từ cách tiếp cận đó, ta thấy hai câu đầu được chú ý hơn, đó là tinh thần của cả

bài thơ

Tuy nhiên, nhiều người lại không nở bỏ qua những “Sài khao sương lấp”,

“Mường Lát hoa về”, “đêm hơi” lạnh lẽo, khắc nghiệt mà lãng mạn nên thơ Anh Ngọc thấy hai câu thơ như có “ma lực”, nên “không thể cắt nghĩa câu thơ này bằng chữ nghĩa thông thường”, “người tỉnh táo quá, lôgích quá sẽ bất lực” Ông thấy các

từ ngữ trong câu có “mối liên hệ rất mù mờ, … có vẻ như lúc viết câu ấy tác giả hoàn toàn bối rối Cảm xúc trong ông xô bồ, lộn xộn, mù mờ nên câu thơ làm ra cũng vậy”.

Lý giải cho sự bối rối ấy, ông cho rằng “bài thơ viết về một thời gian đã qua, một

Trang 4

không gian xa”, nên những hình ảnh cuộc sống dữ dội, đầy ấn tượng “sẽ được bao phủ bởi lớp sương mù của thời gian Cùng với sự khúc xạ của trí tưởng tượng… đủ khiến chúng trở nên thăng hoa, lấp lánh khác thường” Thái Văn Vinh cũng nói về sắc thái mờ ảo ấy: “Đoàn quân Tây Tiến đi trong lớp sương dày của núi rừng, sương lấp

cả người Đêm nhẹ như hơi hay đêm mờ hơi sương, không biết nữa! Tất cả chỉ lung linh trong lớp sương mờ ảo, như thực, như mộng Thế nhưng mỗi địa danh gắn liền với một đặc điểm của địa vật; nên ta chỉ thay Sài Khao bằng một tên gọi khác lớp sương huyền ảo ấy tan biến ngay.” Như vậy, sự dữ dội, khắc nghiệt của thiên nhiên là

hiện thực, nhưng qua lăng kính của hoài niệm và trí tưởng tượng của tâm hồn baybổng, hiện thực đó lại nên thơ, lãng mạn, đầy ấn tượng Còn trong cách lý giải củaThái Văn Vinh, chất lãng mạn của hai câu thơ không chỉ xuất phát từ tâm hồn, hoàiniệm, mà trước hết đó là nét đẹp vốn có của thiên nhiên miền Tây, của cả địa vật đếntên gọi của nó

Việc hướng đến hai sắc thái cơ bản hiện thực và lãng mạn của cặp câu này cũng

là cách tiếp cận của Nguyễn Đức Quyền, nhưng cách diễn đạt của ông lại khác Ôngkhông chú ý đến cái mơ hồ, mù mờ, mà khẳng định một thủ pháp nghệ thuật rõ ràng, ý

nghĩa hình ảnh thơ cũng khá cụ thể: “Thủ pháp đối lập được Quang Dũng sử dụng triệt để “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” gian khổ biết bao! “Mường Lát hoa về trong đêm hơi thi vị biết bao”.

Nguyễn Khác Đàm có cách nhìn khách quan hơn cả, trong quyển Văn chương của đời, ông nói đến vẻ đẹp của thiên nhiên, còn người lính như đi trên cái nền của vẻ đẹp ấy “Sài Khao, Mường Lát mang vẻ hấp dẫn của xứ lạ, câu thơ diễn tả vẻ đẹp huyền ảo Đoàn quân đi trên đỉnh núi cao mù sương và dừng chân ở những bản làng, với gió núi hoa rừng… đầy lãng mạn Nỗi gian khổ vì thế cũng vơi đi.” Mặt khác, ông còn phân tích góc độ âm tiết “trong 14 âm tiết chỉ có ba âm tiết là thanh trắc Mười một thanh bằng tạo âm hưởng đều đều lan tỏa, lung linh, huyền ảo trong nỗi nhớ.”

Nhìn chung các nhà phê bình chủ yếu khai khác hai sắc thái cơ bản, đối lậptrong hai câu thơ – hiện thực gian khổ, khắc nghiệt với sự lãng mạn, nên thơ, và chú ý

đến các từ ngữ hình ảnh như: từ chỉ địa danh, sương lấp, hoa về, đêm hơi Tuy nhiên,

các việc lý giải cụ thể các từ ngữ hình ảnh này lại chưa được chú ý

- Bốn câu thơ:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Đối với đoạn thơ này, khi phân tích, hầu hết các nhà phê bình đều chú ý khaithác giá trị tạo hình, âm điệu, thanh điệu để đi đến khái quát về một bức tranh thiênnhiên trên đường hành quân hiểm trở mà lãng mạn qua cái nhìn hào hoa, tinh nghịch

của người lính Tây Tiến Đó là hướng tiếp cận của giáo sư Trần Đăng Xuyền: “Khổ thơ này là một bằng chứng “thi trung hữu họa” (trong thơ có họa) Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ nên một bức tranh hoành tráng, diễn tả rất đạt sự hiểm trở và

Trang 5

dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng Tây Bắc” Giáo sư đặc biệt chú ý đên hai chữ “ngửi trời” và câu thơ thứ ba Theo ông, hai chữ “ngửi trời” ở đây “được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có tính chất tinh nghịch của người lính Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn “heo hút” Người lính trèo lên những ngọn núi cao dường như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời.” Đến câu thứ ba, ông thấy “câu thứ ba như bẻ làm đôi, diễn tả dốc núi vút lên,

đổ xuống như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm”, và đối sánh với câu thứ tư để thấy hướng nhìn, điểm nhìn của người lính, hai câu trên là

“nhìn lên, nhìn xuống thì câu thứ tư là nhìn ngang” Từ đó thể hiện khung cảnh

“người lính tạm dừng chân bên dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua môt không gian mịt mùng sương rừng mưa núi” Từ việc phân tích đường nét, âm thanh, âm điệu, giáo sư cho rằng “Bốn câu thơ phối hợp với nhau, tạo nên một âm hưởng đặc biệt Sau ba câu được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét vẽ rất mềm mại (câu thứ tư toàn thanh bằng)” Trong lời bình giảng về bốn câu thơ trên,

giáo sư trần Đăng Xuyền đã đề cập đến nhiều yếu tố nghệ thuật, và đặc biệt chú ý đếntính nhạc, tính họa

Nguyễn Đức Quyền lại chỉ ra “những thanh trắc (dốc, khúc, khuỷu, thẳm) tức ngược miêu tả được thế núi hiểm trở” Khác với Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Đức

Quyền không lý giải điểm nhìn, hướng nhìn, mà chú ý đến thủ pháp đòn bẩy độc đáo,

“miêu tả chiều sâu thăm thẳm để tả chiều cao của dốc lên khúc khuỷu” Còn hai chữ

“ngửi trời”, đó là một “cách nhân hóa thú vị cũng là để nói cách đo chiều cao riêng của những người lính” Nhận xét cả đoạn thơ, Nguyễn Đức Quyền thấy ở Quang

Dũng, một tâm hồn lãng mạn chịu ảnh hưởng sâu đậm nhạc điệu của thơ cổ Nên khiphân tích hai câu sau, Nguyễn Đức Quyền muốn truy về ngọn nguồn của vẻ đẹp đó:

“Ta lại thấy một ông Lý Bạch trong thơ Quang Dũng Cảm hứng lãng mạn tô đậm cái phi thường của câu thơ “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” có khác gì với câu

“Nước bay thẳng xuống ba ngàn thước” trong bài Xa ngắm thác núi Lư Ta cũng lại nghe âm điệu của Tản Đà trong giai điệu buông thả mê ly của Quang Dũng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” – (Giang hồ mê chơi quên quê hương – Tản Đà)” Theo

Nguyễn Đức Quyền, hình ảnh thiên nhiên trong thơ không chỉ hùng vĩ, hiểm trở, màcòn có nét phi thường; không chỉ mềm mại, lãng mạn mà còn ngây ngất, mê ly; tâmhồn Quang Dũng không chỉ có nét hào hoa của người lính thời hiện đại mà còn phảng

phất chút phiêu lẵng, ngạo nghễ của tiền nhân

Với câu thơ cuối, Đào Ngọc Đệ cũng có cách lý giải tương tự: “Câu thơ “Nhà

ai Pha Luông mưa xa khơi”… toàn thanh “không” và “bằng”, làm ta nhớ đến âm điệu câu thơ diệu nghệ của thi sĩ Tản Đà: “Giang hồ mê chơi quên quê hương” (trong bài Thăm mả cũ bên đường) và hai câu thơ tuyệt mĩ của Xuân Diệu: “Sương nương theo trăng ngưng lưng trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” (bài Nhị hồ).”.

Nhưng đối với Văn Giá, ông lại phủ nhận những cách so sánh như ở trên Ông

cho rằng câu “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” và cả những câu chủ yếu là thanh bằng khác trong bài thơ không phải là kết quả của một nghệ thuật “tôi xao”, đẽo gọt, mỹ hóa ngôn từ, mà là sản phẩm hoàn toàn tự nhiên của cảm xúc hồi nhớ mãnh liệt và

Trang 6

đầy ấn tượng trong tâm hồn thi sĩ Khác với những câu Sương nương theo trăng ngừng lưng trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi (Xuân Diệu) ” Theo ông, những

câu thơ của Quang Dũng không phải hay bởi sự gia công cầu kỳ mà làm mất vẻ tựnhiên cần thiết

Cũng cảm nhận về nét cổ điển của đoạn thơ, Nguyễn Đức Quyền thấy thơQuang Dũng ảnh hưởng bởi nhạc điệu thơ cổ, Chu Văn Sơn lại thấy thơ Quang Dũngđược tổ chức theo nguyên tắc đối xứng về nhạc điệu, mang đậm sắc thái của mỹ học

cổ điển: “Bên cạnh những câu mà nét nhạc dày đặc những thanh trắc là những câu thơ như một chuỗi thanh bằng, cái trúc trắc nặng nhọc được cân bằng bởi cái nhẹ nhõm, lâng lâng: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm / Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi…” Và theo ông chính nguyên tắc đối xứng này đã đem lại cho bài thơ một phong

vị cổ điển mà vẫn rất hiện đại Còn về hình ảnh thơ, ông thấy “một miền Tây nhòe mờ kiểu tranh lụa cũng là một miền Tây hiểm trở và hùng vĩ, góc cạnh gân guốc của điêu khắc” Để minh chứng cho điều đó, ông dùng những ngôn từ đầy góc cạnh để bình luận: “những khối núi non chất ngất, lởm chởm như muốn đâm toạc cả chân mây… câu thơ như những nhát khắc kỳ vĩ đầy mãnh lực tạc vào thiên nhiên.”.

Một số nhà phê bình khác cũng đóng góp những cách cảm nhận thú vị về bốncâu thơ này Đặng Anh Đào đặt câu thơ trong chỉnh thể của cả sáu câu miêu tả thiên

nhiên (từ câu thứ hai đến câu thứ tám) và nhận thấy “Tây Tiến dẫn con người lên độ cao, vào chốn thâm u của biên giới Bởi vậy bức tranh vẽ lên con đường hành quân … không hề có màu sắc mà giống như một bức thủy mạc, chỉ có những biến thái của sương khói.” Bà cũng nói về câu thứ bảy giống như cách nói của Trần Đăng Xuyền, nhưng theo bà, câu thơ “như bẻ làm gãy đối” ấy lại thể hiện một “trạng thái mất thăng bằng” Đến Tạ Đức Hiền lại đi vào cắt nghĩa từ ngữ, hình ảnh, thủ pháp đối,…

để làm sáng tỏ sự hoang vu của bức tranh thơ, “dốc tiếp dốc, đèo nối đèo, với bao khúc khuỷu, quanh co, với bao thăm thẳm gập ghềnh” Đặc biệt, ông cảm nhận về tư thế người lính trong tương quan với thiên nhiên: “Tư thế người lính sánh ngang với trời”

Điểm qua một số ý kiến như trên, về phương diện từ ngữ, chúng tôi nhận thấy

hai chữ “ngửi trời” được chú ý đến nhiều nhất Như đã giới thiệu, việc dùng hai chữ

“ngửi trời” theo cách hiểu của Trần Đăng Xuyền là hồn nhiên, táo bạo, tinh nghịch;

theo Nguyễn Đức Quyền là cách nhân hóa, cách đo chiều cao của lính Đến Nguyễn

Thành Thi cũng nhận xét “súng ngửi trời – một hình ảnh chơi vơi ngất ngưởng mà tinh nghịch, rất lính tráng” Còn Vũ Quần Phương như muốn góp thêm một cách hiểu cho thấu đáo: “Súng ngửi trời, đúng là cách nói tếu táo của anh vệ quốc hồi đó, nhưng trong văn cảnh của đoạn thơ rất thục đạo nan (tên một bài thơ của Lý Bạch) …, ba chữ đó thành trung tâm hùng tráng của bức tranh hiểm trở, bởi ở chỗ cao nhất ấy, có con người” Đến cách phân tích của Nguyễn Đăng Điệp, những chữ dùng này đã rõ nghĩa hơn Ông cho rằng, “chữ ngủi là một trong những động từ gây cảm giác mạnh tạo nên nội lực của bài thơ… có thể thay chữ “ngửi” bằng chữ “chạm” được, nếu nói

về độ cao thuần túy Nhưng chữ “chạm” dễ làm cho ý thơ yếu đi, chữ “ngửi” mới là yếu tố làm cho câu thơ sinh động hẳn lên.” Sau đó ông phân ba lớp nghĩa của chữ

Trang 7

“ngửi”: “thứ nhất, đó là một độ cao chóng mặt (trước là núi, sau là trời) Thứ hai,

“ngửi” nói về sự tinh nghịch, một cách nói rất lính… Như vậy, cái độ cao kia có thể làm ai sợ hãi chứ lính thì không Vả lại, “ngửi” biến cây súng thành người Biện pháp nhân hóa này nhấn mạnh một thực tế, những chàng trai Hà Nội vừa hào hoa thanh lịch vừa không kém phần dầu dãi, phong trần Thứ ba, cả câu thơ cho thấy “chí ta cao hơn đèo” Không một độ cao nào có thể cản nổi bước chấn những anh hùng vệ quốc.” Cách phân tích của Nguyễn Đăng Điệp vừa khái quát được những cách hiểu ở

trên, vừa chỉ ra những nét độc đáo trong khả năng diễn đạt của một động từ, một phépnhân hóa

Hầu hết các nhà phê bình đều cảm nhận bốn câu thơ này ở các yếu tố chủ yếunhư tính nhạc, tính họa, thủ pháp nhân hóa, phép đối,… để đi đến khái quát về bứctranh thiên nhiên và hình tượng người lính Nhìn chung, sự khái quát ý nghĩa bốn câuthơ trên của các nhà phê bình là dựa trên những góc nhìn khác nhau, ít có những nhậnđịnh đối lập, trái chiều

“Hình ảnh người lính “Gục lên súng mũ bỏ quên đời” cho ta thấm thía thêm những gian lao, vất vả, hy sinh của người lính Tây Tiến Hình ảnh núi rừng hoang vu, huyền

bí tăng thêm chất bi tráng… Những nét lạ, những chi tiết rùng rợn càng tăng sức hấp dẫn của bút pháp lãng mạn” Đó cũng là cách cảm nhận chung của Đặng Anh Đào,

Thái Văn Vinh,… và nhiều nhà phê bình khác Nhưng khi phân tích từng câu thơ, từng

từ ngữ, hình ảnh thì lại có những khác biệt đáng kể

- Trước hết, chúng tôi xin nêu lên những ý kiến trái chiều về ý nghĩa hai câu

trên Trong bài viết có nhan đề Tây Tiến in trong Đến với thơ Quang Dũng do Ngô

Viết Dinh chọn và biên tập Tác gải bài viết này cho rằng ở đây Quang Dũng không

miêu tả cái chết “Thực ra người chiến binh chưa chết và cũng không dễ chết đến thế Người lính trong cơn mệt mỏi gục lên súng mũ và như quên hết mọi sự đời…” Đặng Anh Đào cũng cảm nhận tương tự: “Quang Dũng đã tạc nên cái tư thế buông thả tự nhiên của người chiến sĩ ở một phút nào đó trong cuộc hành quân mỏi mệt” Và bà lý giả thêm, “Chính những câu thơ như hai câu thơ trên đã khiến Tây Tiến trở thành một khúc độc hành Nếu là khúc độc hành ta chỉ thấy người chiến sĩ ở tư thế tiến lên” Đó

cũng là cách cảm nhận của Nguyễn Khắc Đàm, ông cho rằng ở đây Quang Dũng

“không hề nói tới cái chết… cái bi thảm bị lút đi để cái hào hùng nổi lên” Những

cách lý giải như trên phải chăng bị chi phối bởi chủ đề bài viết mà các tác giả hướngtới – cuộc hành quân Tây Tiến là một khúc tráng ca, một khúc độc hành Nhưng lý giảitheo chiều ngược lại, tức là cho rằng Quang Dũng đang miêu tả cái chết, thì cái chất

Trang 8

tráng ca hào hùng ấy cũng không hề mất đi, thậm chí còn mạnh mẽ hơn khi nó được

biểu hiện ngay trong cái chết Như ý kiến của Thái Văn Vinh, ông cho rằng “Quang Dũng nói cái sự thực trên con đường Tây Tiến Bao người chiến sĩ đã nằm lại trên con đường hành quân Nhưng có một điều lạ làm sáng tỏ cả ý thơ là người lính Tây Tiến đến lúc gục xuống vẫn cố gắng gục xuống trong tư thế của người lính”, nghĩa là chết

rồi nhưng vẫn như đang tiếp tục cuộc hành quân Đó cũng là ý kiến của nhà thơ Mai

Bá Ấn Nhà thơ đã đặt những chữ “không bước nữa, gục lên sũng mũ, bỏ quên đời”

vào hệ thống những từ ngữ miêu tả cái chết trong bài thơ, và lý giải rõ về cách nóigiảm, sự hy sinh cao cả, sự ra đi thanh thản của người lính

Mỗi tác giả đều có lý do riêng, và mỗi cảm nhận đều có cơ sở Ở đây chúng tôixin dẫn thêm ý kiến của Nguyễn Đăng Điệp để làm rõ hơn vấn đề từ góc độ từ ngữ

Điểm mấu chốt của vấn đề nằm trong chữ “gục” “Gục lên súng mũ bỏ quên đời” là một lối dụng từ rất lạ “Chữ “gục” trong câu thơ này vừa có tính tạo hình vừa có tính biểu cảm cao Một mặt, “gục” giúp Quang Dũng tránh được việc dùng các từ chết, hi sinh…, mặt khác, nó vẫn giữ được cái thực tế nghiệt ngã và trần trụi của cuộc chiến Câu thơ vì thế, không rơi vào bi luỵ, hình ảnh thơ không bị thô Đặc biệt, việc kết hợp

“gục” với “bỏ quên đời” đã làm nảy lộ một cái nhìn: với người lính Tây Tiến, cái chết trở nên “không đáng kể”, nó chỉ là một chuyện “nhỏ” mà thôi Cái nhìn ấy chỉ có thể

có được ở những chàng trai ngang tàng, dám xả thân vì nghĩa lớn” Như vậy dù nhà

thơ có miêu tả cái chết, nhưng ngay trong cái chết và sự đón nhận cái chết vẫn toát lênphẩm chất anh dũng, ngang tàng, ngạo nghễ của những người lính Tây Tiến

- Hai câu thơ sau cũng được nhiều nhà phê bình chú ý phân tích Theo Trần

Đăng Xuyền, hai câu thơ này là sự tiếp nối của “cái vẻ hoang dại, dữ dội, chứa đầy bí mật ghê gớm của núi rừng Tây Bắc được nhà thơ tiếp tục khai thác Nó không chỉ ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, luôn luôn là mối

đe dọa khủng khiếp đối với con người” Lời bình của giáo sư bao quát ý nghĩa hai câu

thơ, nhưng chưa đi sâu phân tích, lý giải Cũng cảm nhận ý nghĩa chung như vậy, Thái

Văn Vinh nói thêm về hai chữ “Mường Hịch” – “nghe nặng như chân cọp.” Ông dùng phép thế để đánh giá sức nặng của hai chữ này: “nếu ta thay địa danh này bằng hai chữ khác cũng là hai thanh bằng trắc đi với nhau, như Châu Thuận chẳng hạn, thì hiệu lực của câu thơ sẽ giảm sút ngay” Nguyễn Đăng Điệp lại phân tích mối tương quan giữa hai âm tiết khác: “chữ “Hịch” thanh trắc gắn với chữ “cọp” cũng thanh trắc làm cho người đọc liên tưởng đến những bước chân của chúa sơn lâm đang rình rập, đe doạ con người Rõ ràng, Quang Dũng không sử dụng từ địa danh một cách tuỳ hứng mà ông biết chọn lựa và biết “điều phối” để tạo sức ám ảnh cho thơ Đây cũng

là một tài nghệ tạo lực hút của nhà thơ khi nhìn về độc giả.” Nguyễn Đức Quyền lại chú ý đến “âm thanh dữ dội của tiếng thác hòa điệu với âm thanh rùng rợn của tiếng

“cọp trêu người” đêm đêm thành một bản hòa tấu vang động núi rừng” Còn Nguyễn Văn Long thì nhận ra đây là “những ấn tượng in đậm trong ký ức người lính Tây Tiến

về miền Tây” Phải chăng cái ấn tượng mà Nguyễn Văn Long muốn nói đến là nỗi

rùng rợn khi đối diện với thú dữ, với thần chết chốn rừng thiêng nước độc? Đó là cái

ấn tượng không thể phai mờ về một lần Quang Dũng bất ngờ được làm dung sĩ diệt hỗ

Trang 9

ở Mường Hịch gần sông Mã? (theo lời của nhạc sĩ Quang Vĩnh - con trai QuangDũng).

Đến đây ta có thể cảm nhận đầy đủ hơn vẻ hoang vu, bí hiểm, man dại của chốn

“rừng thiêng nước độc” với những mối nguy hiểm luôn rình rập, ám ảnh con người

- Hai câu cuối đoạn 1: Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói – Mai Châu mùa em thơm

nếp xôi:

Trong cảm hứng về một Mùa sương – Mai Châu , hai tác giả Minh Châu, Lưu Hương từng chia sẻ “Tôi từng có một Tây Bắc xa xôi oai hùng và khắc nghiệt trong thơ Quang Dũng… Giờ đây còn môt Mai Châu quyến rũ, huyền bí, vừa đến đã xa”.

Đó là sự hoài niệm về vẻ đẹp của thiên nhiên, nhưng trên hêt là vẻ đẹp của con người,tình người Mai Châu Khi phân tích hai câu thơ này, các nhà phê bình hầu hết đều

hướng vào hoài niệm và vẻ đẹp đó Bảo Ngọc đã mượn câu thơ Mai Châu mùa em thơm nếp xôi làm nhan đề, làm cảm hứng cho một bài viết, đúng hơn là một câu chuyện về những kĩ niệm gắn với đất và người Mai Châu Và ông nhận xét “cội nguồn của cảm xúc đã làm nên những vần thơ tài hoa từ những kỹ niệm khó quên với nhà thơ

ở đất Mai Châu thuở ấy” Vũ Quần Phương, ông chỉ dùng một câu ngắn gọn mà vẫn làm rõ được vẻ thanh tao, nhẹ nhàng, thơm thảo của cả “Mai Châu” và “em”: “Mai Châu thanh nhẹ như đã ủ sẵn một loài hương”.

Còn một số nhà phê bình khác cũng giải mã tinh thần chung ấy, nhưng mỗingười lại chọn một lối riêng Nguyễn Đức Quyển chú ý đến cái “lạ” của chữ dùng, và

ông chú ý đến chữ “em”: “Quang Dũng đã trả lại cho chữ em cái trinh bạch ban đầu Hương nếp hay là em đã làm bâng khuâng cả núi rừng, bâng khuâng cả lòng người” Văn Giá lại phân tích lối kết hợp từ: “Mai Châu mùa em”…: hai từ vần “m” phụ âm đầu môi đi cạnh nhau, đi cạnh từ “em” và “thơm” tạo cho câu thơ mấp mé một cảm giác ái ân Và như thế là vừa đủ để đạt tới vẻ trang nhã, nõn nã quyến rũ của ngôn từ” Từ cách cảm nhận đến chữ dùng để diễn đạt của Văn Giá cũng thật khác lạ

Tuy mỗi người một vẻ, nhưng trong cách cảm nhận trên các nhà phê bình đềuhướng đến hoài niệm của nhà thơ về một kỷ niệm đẹp, ấm áp, thắm tình quân dân

2.2.2 Đoạn thơ thứ hai (8 câu)

Nguyễn Đức Quyền cảm nhận đây là đêm liên hoan văn nghệ giữa biên cương

với những nét rất lạ: “y phục lạ (xiêm áo), nhạc cụ lạ (khèn), âm điệu lạ (man điệu), dáng vẻ lạ (nàng e ấp)” Những cái “lạ” mà Nguyễn Đức Quyền khái quát cũng là

những điểm gây chú ý cho nhiều nhà phê bình Thái Văn Vinh có nói rõ hơn về ýnghĩa của những cái “lạ” trên, nó thể hiện một cuộc sống thanh bình và tâm hồn phong

phú Theo ông, “hội đuốc hoa” ở đây “là những hình ảnh có sức gợi, gợi cho ta cái cảm giác vui tươi như được chứng kiến những lễ hội đông vui” Nếu hiểu như vậy, phải chăng “hội đuốc hoa” cũng giống như bao nhiêu lễ hội đông vui khác? Vũ Quần

Trang 10

Phương dường như băn khoăn về chủ nhân của những “man điệu”, “nàng e ấp”:

“những buổi liên hoan, theo Quang Dũng kể, có cả nam đóng vai nữ rất đẹp”

Ý kiến của Tạ Đức Hiền có thể giải tỏa được điều băn khoăn này, ông cho rằng,

đây là “hình ảnh cô gái Thái vùng Tây Bắc nõn nà, các cô phù xao Lào tình tứ, duyên dáng trong bộ xiêm y rực rỡ, trong điệu khèn điệu xòe e ấp ” Ngoài ra, tác giả còn chú ý đến chữ “kìa”: “vừa để chỉ, vừa để nói lên sự ngắm nghía đầy ngạc nhiên, thốt lên, cất lên trầm trồ Đằng sau chữ “kìa” ta như thấy được ánh mắt, nụ cười của những tràng trai trẻ đa tình, phong nhã hào hoa” Với hướng tiếp cận tương tự, giáo

sư Trần Đăng Xuyền làm rõ hơn về không khí của hội đuốc hoa: “Doanh trại bừng sáng, tưng bừng, sôi nổi hẳn lên khi đêm văn nghệ bắt đầu Trong ánh sắng lung linh của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cả cảnh vật con người đều nghả nghiêng, bốc men say ngây ngất, rạo rực”

Khác với những cách cảm nhận trên, Đăng Anh Đào chú ý phân tích việc thay

chữ “chúc” bằng chữ “đuốc” – “chúc hoa” thành “đuốc hoa” đã gợi lên bao ý nghĩa mới lạ, “hội đuốc hoa” trở thành “ẩn dụ về hội lễ hợp cẩn lứa đôi (động phòng hoa - chúc) của truyền thống” Mặt khác “đuốc”, “hoa” lại tắm trong ánh sáng của “những đêm rước đuôc, của lễ hội cách mạng, trở thành ẩn dụ của tình quân dân”.

Trần Lê Văn lại như nói lên một sự thật, “Hội đuốc hoa” thực chất là những

đêm hội diễn văn nghệ mà các chiến sĩ Tây Tiến tổ chức để phục vụ nhân dân, trongnhững đêm hội ấy “có cả trai giả gái” để biểu diến Đó là thực, cái thực vốn đã toát lêntình nghĩa quân dân cá – nước Nhưng qua cái nhìn hào hoa, lãng mạn, đa tình, đầykhát vọng yêu đương của những người lính trẻ, thì đêm liên hoan ở đây lại được liêntưởng với đêm tân hôn, rạo rực, tình tứ, đắm say

- Nói về bốn câu thơ sau của đoạn thơ này hầu hết các nhà phê bình đều cảmnhận về vẻ hoang vu như một bờ tiền sử, hình ảnh thơ đậm sắc thái cổ điển gợi lên từnỗi nhớ về sông nước miền Tây trong một chiều sương giăng mắc Nhưng đến hình

ảnh “dáng người trên độc mộc” trong tương quan với hình ảnh “hoa đong đưa” lại có

nhiều cách hiểu khác nhau

Theo Trần Đăng Xuyền, giữa không gian sông nước “nổi bật lên dáng hình mềm mại, uyển chuyển của một cô gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc Và hòa hợp với con người, những bông hoa rừng cũng “đong đưa” làm duyên trên dòng nước lũ” Đó

cũng là cách hiểu của Nguyễn Thành Thi Đến Nguyễn Văn Long lại nói về tính chất,

cốt cách bên trong: “một dáng người vững chãi trên con thuyền độc mộc, giữa dòng nước lũ Hình ảnh ấy tạo thêm một nét đẹp rắn rỏi, khỏe khoắn cho bức tranh thiên nhiên thơ mộng, mềm mại.” Nguyễn Khác Đàm thì nghĩ khác: “Nổi bật giữa thiên nhiên thơ mộng ấy là hình ảnh người lính Tây Tiến trên con thuyền độc mộc Chèo thuyền chở các các anh bộ đội là người dân địa phương Quang Dũng đã ghi lại trong thơ mình “dang người”, với đôi mắt “đong đưa” Như vậy “dáng người” ở đây là ai?

Dù là thiếu nữ Tây Bắc hay người lính cũng đều là bóng dáng của hoài niệm, là sựnhắc nhở về kỷ niệm không thể nào quên

Đặng Anh Đào lại phân tích nghệ thuật của hai câu thơ sau: lối “trùng điệp từ ngữ rất tinh tế và nằm ở hai cặp từ đứng ở cuối hai câu thơ: độc mộc và đong đưa”.

Trang 11

Và bà lý giải về điểm giống nhau giữa hai cặp từ này là sự tương đồng về mặt từ kép,mỗi cặp đều có điệp âm, điệp thanh tạo âm hưởng độc đáo.

Những cách phân tích, cảm nhận khác nhau như trên cho chúng ta những hìnhdung trọn vẹn hơn, thấu đáo hơn về vẻ đẹp của đoạn thơ Đặc biệt, những cách phântích đó còn chỉ ra cái hay, cái lạ trong nghệ thuật tạo dựng hình ảnh của Quang Dũng

với những “hội đuốc hoa”, “dáng người trên độc mộc”, “hoa đong đưa”,…

2.2.3 Đoạn thơ thứ ba (tám câu)

- Bốn câu thơ:

“Tây tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Ý nghĩa bốn câu thơ này được xem là hồn cốt của hình tượng người lính Cũngbởi cái hồn cốt mang nhiều dấu ấn khổ cực, tiều tụy và tinh thần lãng mạn, bay bổng

đó đã góp phần nhiều nhất cho cái thân phận thăng trầm của bài Tây Tiến lúc mơi ra

đời để minh chứng cho điều này, Bùi Việt Phương, trong bài Sứ mệnh của bài thơ Tây

Tiến, đã dẫn lời của Hoài Thanh trong cuốn Hoài Thanh nói chuyện thơ kháng chiến (NXB Văn Nghệ): “Hoài Thanh phê phán kịch liệt những hơi hướng phảng phất của Thơ Mới mà ông gọi là “mộng rớt”, “buồn rớt” Ông chẳng đã lấy Tây Tiến ra làm một vật hy sinh đó sao.” Và ông cho biết, khi đó Hoài Thanh đã dẫn mấy câu thơ trên đây để chứng minh cho cái gọi là“mộng rớt”, “buồn rớt”.

Tuy nhiên, khi giá trị của Tây Tiến đã được xác định, các nhà phê bình không

còn băn khoăn về cách hiểu tinh thần bài thơ, họ đều thấy những câu thơ này không hề

ủy mị, cái bi thương tiều tụy chỉ càng tô đậm thêm vẻ oai hùng, lãng mạn của ngườiTây Tiến Tất nhiên mỗi người lại có cách tiếp cận, lý giải khác nhau

Phân tích sự tương phản giữa ngoại hình, hoàn cảnh với tình cảm, tâm hồnngười lính là cách tiếp cận của Nguyễn Văn Vĩnh, và cũng là cách mà Thái Văn Vinh

thực hiện: “hình ảnh oai hùng của anh vệ trọc nổi tiếng một thời vì sốt rét mà rụng hết tóc Vả lại cách nói “đoàn quân không mọc tóc” ấy phần nào cũng dựng hình ảnh người chiến sĩ với dáng dấp hùng dũng và hiên ngang,… quân lại “xanh màu lá” Màu xanh ấy có thể do cành lá ngụy trang, nhưng chủ yếu là do sốt rét rừng” Trần

Đăng Xuyền cũng phân tích rất kĩ hoàn cảnh, ngoại hình của người lính Tây Tiến.Đồng thời, ông còn cho rằng những chàng trai Tây Tiến trở thành những “anh vệ trọc”

không chỉ vì đói rét, bệnh tật mà còn bởi “nhiều người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi đánh nhau giáp la cà với địch,… Còn cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét.” Tuy

nhiên vẻ bề ngoài in hằn vết tích của khổ cực, hiểm nghèo đó lại góp phần tạo nên

“hình tượng tập thể của người lính Tây Tiến … với một vẻ đẹp đầy tinh thần bi tráng.” Nguyễn Kim Lan cũng chú ý đến điều này và gợi thêm một lý do khác cho cái “xanh màu lá” là vì “người mặc áo chàm hay là lây sắc lá, hay là ốm tái màu da…” Thiết

nghĩ việc tìm nguyên nhân cho sự tiều tụy, bệnh tật bề ngoài cũng chỉ là để phát hiện

vẻ đẹp bi tráng, oai hùng, ẩn trong bên trong Rõ rang trong các ý kiến dẫn trên đâycũng đã thể hiện ý nghĩa này

Ngày đăng: 06/04/2018, 23:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w