- Phân loại nợ phải trả tài chính: + Đoạn 4.2.1 của IFRS 9 quy định “một đơn vị nên phân loại tất cả các khoản nợ phải trả tài chính được đo lường theo nguyên giá phân bổ, ngoại trừ: i
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN LÊ YẾN NHI
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ CÔNG CỤ TÀI CHÍNH Ở CÁC CÔNG
TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Kế toán
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI VĂN DƯƠNG
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của bất kỳ ai Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
TP Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 11 năm 2017
Nguyễn Lê Yến Nhi
Trang 3MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu 4
1.7 Các nghiên cứu liên quan trên thế giới và ở Việt Nam 4
1.7.1 Các nghiên cứu liên quan trên thế giới 4
1.7.2 Các nghiên cứu liên quan ở Việt Nam 6
1.8 Tổng quan về thị trường tài chính và công cụ tài chính ở Việt Nam 9
1.9 Kết cấu luận văn 11
CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12
2.1 Các lý thuyết liên quan 12
2.1.1 Lý thuyết ủy nhiệm 12
2.1.2 Lý thuyết tín hiệu 13
2.1.3 Lý thuyết các bên liên quan 14
2.1.4 Lý thuyết lập quy 15
2.1.5 Lý thuyết ngẫu nhiên 15
2.2 Quy định về trình bày công cụ tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế 16 2.2.1 Định nghĩa về công cụ tài chính 16
Trang 42.2.2 Phân loại công cụ tài chính 16
2.2.3 Trình bày công cụ tài chính 19
2.2.4 Công bố công cụ tài chính 20
2.3 Quy định về trình bày công cụ tài chính ở Việt Nam hiện nay 23
2.3.1 Định nghĩa về công cụ tài chính 23
2.3.2 Phân loại công cụ tài chính 24
2.3.3 Trình bày công cụ tài chính 25
2.3.4 Công bố công cụ tài chính 26
2.4 Cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1 Giả thuyết nghiên cứu 37
3.2 Mô hình nghiên cứu 39
3.3 Biến nghiên cứu 40
3.4 Mẫu nghiên cứu 43
3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 44
CHƯƠNG 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
4.1 Phân tích thống kê mô tả 46
4.2 Phân tích hồi qui 47
4.2.1 Phân tích kết quả các kiểm định 47
4.2.2 Thảo luận kết quả phân tích dữ liệu 51
CHƯƠNG 5 - KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 56
5.1 Các kiến nghị 56
5.1.1 Kiến nghị đối với công ty niêm yết 56
5.1.2 Kiến nghị đối với cơ quan nhà nước 57
5.1.3 Kiến nghị đối với nhà đầu tư 58
5.2 Kết luận về đóng góp của đề tài, hạn chế của đề tài và đề xuất cho hướng nghiên cứu tiếp theo 58
5.2.1 Đóng góp của đề tài 58
5.2.2 Hạn chế của đề tài 58
5.2.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 59
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 6IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế
IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
TTCK Thị trường chứng khoán
VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
SỐ
Bảng biểu
2.1 Bảng tổng hợp kết quả các nhân tố tác động đến mức độ công bố
thông tin từ các nghiên cứu thực nghiệm
2.2
Bảng tổng hợp kết quả các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin công cụ tài chính trên báo cáo tài chính từ các nghiên cứu thực nghiệm
3.1 Thang điểm đánh giá mức độ trình bày và công bố thông tin công cụ
4.4 Tóm tắt mô hình phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS
4.5 Phân tích phương sai từ phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS
Trang 8CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế của Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế theo xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại của kinh tế thế giới Tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 Việt Nam hiện là thành viên của các tổ chức quốc tế như: WTO, ASEAN, APEC; tham gia Diễn đàn APEC, Diễn đàn ASEM; tích cực tham gia đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại tự do; đặc biệt, vào ngày 04 tháng 02 năm 2016 đã ký Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương Khi là thành viên của các Tổ chức, Diễn đàn và Hiệp định này, chính phủ đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại, thực hiện các cam kết
mở cửa thị trường
Quá trình tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam tạo ra nhiều cơ hội thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài và đồng thời cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại, nhất là rủi ro tài chính Do đó, quản trị rủi ro tài chính rất quan trọng đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế có nhiều biến động hiện nay Một trong những biện pháp để doanh nghiệp kiểm soát rủi ro tài chính là sử dụng công
cụ tài chính; khi sử dụng công cụ tài chính có hiệu quả sinh ra lợi nhuận, có tác dụng phòng ngừa rủi ro tài chính, nhưng ngược lại có thể làm tình hình tài chính của doanh nghiệp xấu đi
Theo IFRS 7 yêu cầu doanh nghiệp phải thuyết minh đầy đủ để người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá được: tầm quan trọng của các công cụ tài chính đối với tình hình tài chính và kết quả kinh doanh; bản chất, mức độ rủi ro phát sinh từ các công cụ tài chính mà doanh nghiệp nắm giữ cùng với cách thức để quản trị các rủi ro này Thông tin minh bạch hơn hỗ trợ người sử dụng báo cáo đánh giá tốt hơn
về rủi ro và lợi nhuận thu được để đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp
Theo Mensah et al (2003) thông tin tài chính từ các báo cáo của các công ty niêm yết qua nhiều thập kỷ là phương tiện truyền thông cho các doanh nghiệp thu
Trang 9hút các nhà đầu tư khi tìm kiếm nguồn đầu tư (Fiador, 2013) Do đó, thông tin trình bày trên báo cáo tài chính cũng quan trọng đối với các doanh nghiệp khi huy động vốn trên thị trường vốn hiện nay
Thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với thông tin, việc các công ty công bố thông tin đầy đủ và kịp thời làm tăng tính minh bạch, từ đó giúp cho nhà đầu tư có quyết định đầu tư hiệu quả Điều này làm tăng niềm tin của nhà đầu tư, tăng giá trị
và thanh khoản của cổ phiếu trên thị trường Ngược lại, việc công bố thông tin không tốt có thể làm gia tăng chi phí vốn và dẫn đến phân bổ các nguồn vốn không hiệu quả Hiện nay, do hội nhập kinh tế và kinh doanh quốc tế, cùng với sự phát triển của các hình thức công cụ tài chính ở Việt Nam; các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam sử dụng công cụ tài chính để đầu tư và phòng ngừa rủi ro phổ biến hơn Rủi ro phát sinh do sử dụng các công cụ tài chính cùng với tầm quan trọng của chúng đối với tình hình tài chính của doanh nghiệp cần được trình bày và công bố trên báo cáo tài chính để các cổ đông và nhà đầu tư ra quyết định
Vì tầm quan trọng của công cụ tài chính và mức độ trình bày, công bố thông tin về công cụ tài chính nên tác giả chọn đề tài “Các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin về công cụ tài chính ở các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” để đánh giá mức độ công bố thông tin công
cụ tài chính các công ty trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và xác định nhân tố tác động làm ảnh hưởng đến mức độ công bố
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu là nhận dạng các nhân tố tác động và mức ảnh hưởng của các nhân tố này đến mức độ trình bày, công bố thông tin công cụ tài chính trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết phi tài chính ở Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Nhận dạng những nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin công
cụ tài chính
Trang 10Xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu để xác định nhân tố nào có tác động đến mức độ trình bày và công bố thông tin công cụ tài chính trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết phi tài chính ở Sở giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Những nhân tố nào tác động đến mức độ công bố thông tin công cụ tài chính trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết phi tài chính trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh năm 2016?
- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến mức độ trình bày và công
bố thông tin công cụ tài chính trên báo cáo tài chính như thế nào?
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Mức độ công bố thông tin về công cụ tài chính trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán năm 2016 của các công ty hoạt động trong lĩnh vực phi tài chính, niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
- Tác động của các nhân tố đến mức độ trình bày và công bố thông tin công
cụ tài chính
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu và đạt được mục tiêu nghiên cứu của
đề tài, nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng
Sử dụng phương pháp định lượng để khảo sát thực trạng các vấn đề cần nghiên cứu và kiểm định mô hình nghiên cứu, nhận dạng chiều hướng và mức độ tác động của các nhân tố đến mức độ thông tin công cụ tài chính được trình bày, công bố trên báo cáo tài chính trong phạm vi các công ty niêm yết phi tài chính trên
Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh năm 2016
Ngoài ra, tổng hợp lý thuyết được sử dụng để khái quát lý thuyết về các vấn
đề nghiên cứu và các nghiên cứu liên quan, làm cơ sở đề xuất mô hình các nhân tố tác động đến mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố
Nghiên cứu có sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích dữ liệu
Trang 111.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Đóng góp vào lý thuyết các yếu tố tác động đến mức độ trình bày và công bố
thông tin công cụ tài chính trong điều kiện ở Việt Nam
Xác định nhân tố tác động và mức ảnh hưởng đến mức độ thông tin công cụ tài chính trình bày và công bố trên báo cáo tài chính ở các công ty niêm yết phi tài chính trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
1.7 Các nghiên cứu liên quan trên thế giới và ở Việt Nam
1.7.1 Các nghiên cứu liên quan trên thế giới
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tính minh bạch và mức độ công bố thông tin của một công ty Owusu-Ansah (1998), Barako et al (2006), Mangena và Tauringana (2007), Otchere et al (2012) cho rằng mức độ tập trung quyền sở hữu ảnh hưởng đến mức độ thông tin công bố; và theo Owusu-Ansah (2005) thời gian công ty hoạt động, sự tồn tại của Ủy ban kiểm toán, quy mô công ty, khả năng thanh khoản, lợi nhuận, loại công ty kiểm toán ảnh hưởng đến
mức độ thông tin công bố Huafang và Jianguo (2007) khi xem xét tác động của cơ
cấu sở hữu, thành phần hội đồng quản trị đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty tại Trung Quốc cho thấy mức độ tập trung quyền sở hữu, mức độ độc lập của hội đồng quản trị, quy mô công ty, cơ hội phát triển tác động đến mức
độ công bố thông tin Theo kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị doanh nghiệp đến báo cáo tài chính của Zhizhong et al (2011) để cải thiện chất lượng của thông tin kế toán và giảm tính cơ hội của các nhà quản lý, phải thiết lập quản trị doanh nghiệp hiệu quả, nâng cao tỷ lệ thành viên độc lập trong hội đồng quản trị, và mức độ tập trung sở hữu cổ phần tác động vào khả năng công bố tài chính Ngoài
ra, ban kiểm toán nội bộ càng có nhiều thành viên có kiến thức kế toán tài chính, quy mô công ty lớn thì mức độ công bố và minh bạch càng được cải thiện (Aboagye-Otchere et al., 2012) Không chỉ có các nghiên cứu về mức độ công bố thông tin nói chung, trên thế giới cũng có các nghiên cứu nhân tố tác động mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố
Trang 12Chất lượng báo cáo tài chính trở thành một vấn đề quản trị quan trọng kể từ
sự sụp đổ của các công ty nổi tiếng như Enron tại Hoa Kỳ, Bảo hiểm HIH tại Úc, Barings PLC tại Anh, mà thiệt hại là do công cụ phái sinh (Hassan et al., 2006) Khi công bố thông tin minh bạch là thành phần quan trọng của chất lượng báo cáo tài chính, nhóm nghiên cứu Hassan et al (2006) đã đo lường mức độ minh bạch dựa trên các chỉ số công bố thông tin được phát triển từ AASB 1033 Trình bày và công
bố thông tin công cụ tài chính trên báo cáo tài chính của mẫu gồm 137 công ty ngành khai khoáng niêm yết ở Úc từ năm 1998 đến 2001 Sử dụng phương pháp hồi qui phân hạng, kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực giữa mức độ thông tin công bố với đặc trưng của doanh nghiệp như quy mô, kết quả kinh doanh, đòn bẩy tài chính Công trình nghiên cứu này có một số hạn chế do chỉ đo lường trên mẫu là các công ty có phản hồi hoặc có trong dữ liệu sẵn có, mức độ sử dụng công cụ phái sinh của các công ty này là tương đối nhỏ nên có thể làm hạn chế ý nghĩa của kiểm định thống kê Tuy nhiên, nghiên cứu này đã đóng góp vào lý thuyết
kế toán quốc tế về mối quan hệ giữa đặc trưng doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin công cụ tài chính phái sinh
Lopes và Rodrigues (2007) khi nghiên cứu các yếu tố tác động mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố ở thị trường chứng khoán Bồ Đào Nha đo lường mức độ công bố dựa trên yêu cầu công bố theo IAS 32 và IAS 39 Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ báo cáo hàng năm và báo cáo tài chính vào năm 2001 của mẫu gồm 55 công ty niêm yết ở thị trường Euronext Lisbon Từ kết quả phân tích hồi qui đơn và hồi qui bội, tác giả kết luận rằng mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố có ảnh hưởng đáng kể bởi quy mô công ty, loại công ty kiểm toán, tình trạng niêm yết (có niêm yết ở nước ngoài), loại doanh nghiệp (tài chính hay phi tài chính) Nghiên cứu còn đưa ra phân tích cơ cấu tài chính vốn và các đặc điểm quản trị doanh nghiệp, tuy nhiên các đặc điểm trên không có ảnh hưởng ở thời điểm tác giả tiến hành nghiên cứu Theo tác giả, hạn chế của nghiên cứu là về kích thước mẫu, và các báo cáo hàng năm không phải là phương tiện duy nhất mà các công ty công bố thông tin công cụ tài chính
Trang 13Nghiên cứu tác động của quản trị doanh nghiệp đối với thực tiễn trình bày công cụ tài chính của các công ty năng lượng Úc của Taylor et al (2008) được thực hiện ngay trước khi bắt buộc áp dụng IFRS tại Úc Sử dụng dữ liệu từ báo cáo thường niên của 30 công ty năm 2005 (21 công ty dầu mỏ và 9 công ty khí đốt) được lựa chọn ngẫu nhiên từ tổng thể 130 công ty năng lượng niêm yết ở Úc, theo tác giả để phòng ngừa rủi ro các công ty năng lượng thường sử dụng công cụ tài chính, do tính chất của ngành công nghiệp này cần đầu tư nhiều vốn Tác giả đo lường mức độ công bố công cụ tài chính bằng cách sử dụng 120 mục công bố công
cụ tài chính bao gồm bắt buộc và tự nguyện được phát triển từ Chuẩn mực kế toán
Úc AASB 1033 và AASB 132 về trình bày và công bố công cụ tài chính Qua thống
kê cho thấy các công ty được chọn trong mẫu trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính khá thấp so với quy định Kết quả phân tích mô hình hồi qui bội MLR chỉ ra rằng đặc điểm quản trị công ty là yếu tố quyết định quan trọng, cùng với đòn bẩy tài chính, quy mô doanh nghiệp, và đặc điểm ngành công nghiệp ảnh hưởng tích cực mức độ trình bày công cụ tài chính của các công ty Nghiên cứu cho thấy cấu trúc quản trị doanh nghiệp hiệu quả đã hỗ trợ các công ty trong chính sách
và thực hiện công bố thông tin, và thông tin công cụ tài chính trong các báo cáo
Adznan và Nelson (2014) kiểm tra thực tiễn mức độ công bố công cụ tài chính của các công ty niêm yết Malaysia tuân theo chuẩn mực báo cáo tài chính Malaysia số 7 (MFRS 7), với các quy định phù hợp với IFRS 7 Nghiên cứu tập trung mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị công ty với công bố công cụ tài chính Dựa trên mẫu là 319 công ty niêm yết, nhìn chung các công ty tuân thủ quy định của MFRS 7, mặc dù có một số yêu cầu công bố đã bị bỏ qua chẳng hạn như thông tin
kế toán phòng ngừa Sử dụng mô hình hồi qui đa biến MVR cho thấy mức độ công
bố thông tin bị ảnh hưởng đáng kể bởi các yếu tố: phí kiểm toán, tồn tại ủy ban kiểm toán độc lập
1.7.2 Các nghiên cứu liên quan ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về mức độ công bố thông tin của một công ty Anh Vu et al (2011) khi nghiên cứu tác động của giám đốc độc lập và cơ
Trang 14cấu sở hữu lên mức độ thuyết minh tự nguyện của những công ty niêm yết Việt Nam cho thấy mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp Việt Nam
là tương đối thấp, nhà quản lý có sở hữu trong công ty thúc đẩy cung cấp nhiều thông tin hơn và sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến mức độ công bố thông tin Nghiên cứu của Phan Quốc Quỳnh Như (2015) kết luận quy mô công ty, độ tuổi công ty và thành viên hội đồng quản trị độc lập ảnh hưởng mức độ công bố thông tin bắt buộc và quy mô công ty, độ tuổi công ty, mức độ phức tạp trong cấu trúc công ty và mức độ công bố thông tin bắt buộc ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của những công ty niêm yết Việt Nam Nguyễn Thị Hồng Em (2015) khi nghiên cứu mức độ công bố thông tin tự nguyện của những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam ở ba nhóm ngành công nghiệp, xây dựng
và tài chính cho rằng mức độ công bố thông tin tự nguyện ở các nhóm ngành khác nhau và nhân tố quy mô công ty, tỷ số nợ/tổng tài sản ảnh hưởng mức độ công bố thông tin Theo Phạm Thị Minh Trang (2015) các nhân tố quy mô Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên không điều hành và tỷ lệ thành viên nữ của Hội đồng quản trị cùng với tỷ lệ vốn thuộc sở hữu của Ban giám đốc ảnh hưởng đến mức độ thông tin công bố trên Bảng thuyết minh báo cáo tài chính Ngô Văn Thống (2016) kết luận tần suất các cuộc họp của Hội đồng quản trị, chất lượng kiểm toán, quy mô công ty, lợi nhuận có ảnh hưởng tích cực đến công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, có các nghiên cứu về nhân tố tác động đến mức độ thông tin công cụ tài chính công bố đã được thực hiện ở Việt Nam
Hà Thị Mỹ (2012) nghiên cứu mức độ thông tin công cụ tài chính được công
bố trên báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại Việt Nam qua 28 ngân hàng thương mại cung cấp báo cáo tài chính năm 2010 và năm 2011 Sử dụng các kỹ thuật phân tích thống kê mô tả, phân tích hệ số tương quan và phân tích phương sai (ANOVA), tác giả kiểm định mô hình với bảy nhân tố tác động là: quy mô, lợi nhuận kinh doanh (ROE), đòn bẩy tài chính, tình trạng niêm yết, loại công ty kiểm toán, loại hình sở hữu, hội đồng quản trị Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra mô
Trang 15hình gồm sáu nhân tố tác động tích cực đến thông tin công cụ tài chính công bố: quy mô, lợi nhuận kinh doanh (ROE), đòn bẩy tài chính, tình trạng niêm yết, công
ty kiểm toán, loại hình sở hữu Nghiên cứu này củng cố và bổ sung lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin công cụ tài chính của Ngân hàng thương mại
Phan Thị Thùy An (2015) phân tích dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính năm
2014 của mẫu gồm 100 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp hồi qui tương quan đa tuyến tính để phân tích mối tương quan giữa các nhân tố tác động và thông tin công cụ tài chính Tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu gồm bốn nhân tố tác động: quy mô, kết quả kinh doanh,
tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp kiểm toán Qua kết quả khảo sát cho thấy tuy chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính về công cụ tài chính của các công ty được cải thiện đáng kể từ sau khi thông tư 210/2009/TT-BTC được ban hành nhưng các công ty chưa thực sự tuân thủ những yêu cầu khi trình bày và công
bố công cụ tài chính theo thông tư Tác giả kết luận là đối với các doanh nghiệp niêm yết nghiên cứu, có hai nhân tố quan trọng tác động mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố là quy mô tài sản có tác động tích cực và tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có tác động tiêu cực
Trên thế giới, những nghiên cứu về nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin và mức độ công bố thông tin công cụ tài chính của các công ty niêm yết đã được thực hiện ở nhiều nước khác nhau với các biến nghiên cứu tài chính và phi tài chính Ở Việt Nam, các nghiên cứu về mức độ công bố thông tin xác định ảnh hưởng của các biến tài chính và phi tài chính; riêng đối với nghiên cứu về công bố thông tin công cụ tài chính thì Hà Thị Mỹ (2012) có xem xét tác động của các nhân
tố tài chính và phi tài chính trong lĩnh vực ngân hàng Phan Thị Thùy An (2015) phân tích dữ liệu của các công ty niêm yết nhưng chỉ xem xét các nhân tố tài chính, chưa xem xét các nhân tố phi tài chính như đặc điểm quản trị doanh nghiệp Như vậy, ở Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu về nhân tố phi tài chính tác động đến mức
độ công bố thông tin công cụ tài chính của các công ty niêm yết Từ các điểm trên,
Trang 16tác giả thực hiện nghiên cứu các nhân tố tác động đến mức độ trình bày, công bố thông tin công cụ tài chính của các công ty niêm yết trong điều kiện ở Việt Nam và
có xây dựng thêm biến phi tài chính
1.8 Tổng quan về thị trường tài chính và công cụ tài chính ở Việt Nam
Trước năm 1990, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, vốn luân chuyển trong nền kinh tế đều do nhà nước quyết định, các công cụ tài chính chưa xuất hiện
Sau năm 1990, nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều loại hình doanh nghiệp xuất hiện Vốn luân chuyển trong hệ thống tài chính không còn chịu sự chi phối hoàn toàn từ nhà nước, thị trường tài chính phát triển và xuất hiện nhiều công cụ tài chính
Ngày 01/4/1990 hình thành kho bạc nhà nước, khi đó, kho bạc nhà nước phát hành tín phiếu ngắn hạn nhằm huy động vốn giúp chính phủ cân đối ngân sách tạm thời
Ngày 10/7/1993 ban hành quyết định số 132/QĐ-NH14 thành lập thị trường nội tệ liên ngân hàng Lúc này quan hệ tín dụng giữa các tổ chức tín dụng gần như không phát sinh hoặc phải thông qua trung gian là ngân hàng nhà nước
Năm 1994 thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thay cho trung tâm giao dịch ngoại tệ được thành lập năm 1991 để tạo một thị trường có tổ chức cho giao dịch ngoại tệ giữa các ngân hàng thương mại
Trước 1995, tín phiếu kho bạc được phát hành dưới hình thức bán lẻ, đến năm 1995 thực hiện phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc đầu tiên, từ đó, Bộ Tài chính phát hành tín phiếu kho bạc đấu thầu qua ngân hàng nhà nước theo phương thức chiết khấu Ngoài ra, kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu với kỳ hạn từ một năm trở lên được bán lẻ qua hệ thống kho bạc nhà nước, sau đó nhiều loại trái phiếu với
kỳ hạn và lãi suất khác nhau được phát hành Trái phiếu được tự do chuyển nhượng, cầm cố giúp cho thị trường tài chính Việt Nam phát triển hơn
Trang 17Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính,
để xây dựng một thị trường tài chính lành mạnh thì thị trường chứng khoán giữ vai trò là kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) được thành lập ngày 28/11/1996 theo Nghị định số 75-CP của Chính phủ, là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Việc thành lập cơ quan quản lý thị trường chứng khoán trước khi thị trường ra đời là bước đi phù hợp với chủ trương xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam, làm cơ sở cho sự ra đời thị trường chứng khoán Việt Nam sau này
Ngày 11/7/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán; Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg về việc thành lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Đây
là các văn bản pháp lý quan trọng đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Ngày 20/7/2000 TTCK Việt Nam ra đời với việc khai trương Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HoSTC), phiên giao dịch đầu tiên chính thức được tổ chức với 2 cổ phiếu niêm yết là REE và SAM với số vốn là 270
tỷ đồng, đánh dấu bước ngoặt lịch sử của thị trường chứng khoán Việt Nam Ngày 08/3/2005 Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HaSTC) được thành lập Đến ngày 08/8/2007 Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh chuyển thành Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) theo Quyết định
số 599/2007/QĐ-TTg; ngày 02/01/2009 Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội chuyển thành Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) theo quyết định số 01/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Theo thống kê thì tổng giá trị giao dịch trong năm 2016 của Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) là 613.122, 27 tỷ đồng, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) là 129.651,79 tỷ đồng
Trang 18Vào ngày 10/8/2017 thị trường chứng khoán phái sinh chính thức hoạt động Trong giai đoạn đầu, thị trường mới triển khai chứng khoán phái sinh hợp đồng tương lai với hai loại hợp đồng cụ thể là Hợp đồng tương lai trên chỉ số cổ phiếu (VN30 và HNX 30) và Hợp đồng tương lai trên trái phiếu chính phủ (kỳ hạn 5 năm), đây là tiền đề để thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam phát triển
1.9 Kết cấu luận văn
Kết cấu của luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 nêu rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài và giới thiệu phương pháp nghiên cứu sử dụng để đạt mục tiêu nghiên cứu và trả lời cho câu hỏi nghiên cứu Chương này cũng trình bày kết quả các nghiên cứu trong nước và trên thế giới liên quan đến đề tài Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên đã nhận dạng một số nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin và thông tin công cụ tài chính Tuy nhiên, các nghiên cứu này được thực hiện ở các quốc gia khác nhau và còn một số hạn chế trong nghiên cứu về mẫu, biến nghiên cứu Do nghiên cứu về mức độ trình bày, công bố thông tin công cụ tài chính cho các công ty niêm yết thực hiện ở Việt Nam chưa đánh giá các nhân tố phi tài chính, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài này ở Việt Nam góp phần đóng góp vào lý thuyết nghiên cứu trong điều kiện ở Việt Nam
Trang 19CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các lý thuyết liên quan
2.1.1 Lý thuyết ủy nhiệm
Jensen và Meckling (1976) định nghĩa mối quan hệ ủy nhiệm như một hợp đồng theo đó một hoặc nhiều người (bên ủy nhiệm) liên kết với một người khác (bên được ủy nhiệm) thực hiện một số dịch vụ thay họ, bao gồm việc ủy thác một số quyền ra quyết định cho bên được ủy nhiệm Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng cả hai bên ủy nhiệm và được ủy nhiệm đều tối đa hóa lợi ích của mình, do đó, bên được ủy nhiệm sẽ không luôn luôn hành động tốt nhất cho lợi ích của bên ủy nhiệm Khi bên
ủy nhiệm đưa ra các khuyến khích thích hợp và các chi phí theo dõi để hạn chế hoạt động sai lệch của bên được ủy nhiệm và các thiệt hại còn lại làm giảm lợi ích của bên ủy nhiệm do quyết định của bên được ủy nhiệm làm phát sinh chi phí ủy nhiệm Cho đến nay hàng triệu cá nhân đầu tư tài sản vào các công ty đã ủy nhiệm cho các nhà quản lý trên cơ sở các hợp đồng phức tạp trong đó phân định các quyền của các bên liên quan Sự phát triển của hình thức công ty cũng như sự tăng trưởng trong giá trị thị trường của các công ty cho thấy các chủ nợ và các nhà đầu tư đã được gia tăng lợi ích mặc dù có tồn tại chi phí ủy nhiệm
Lý thuyết ủy nhiệm thừa nhận rằng việc tách quyền sở hữu và quản lý, được ghi nhận trong việc thành lập công ty thường đi kèm cùng với vô số các vấn đề ủy nhiệm Cuộc xung đột lợi ích này giữa ban quản lý và các cổ đông đã làm phát sinh rất nhiều công cụ trong nỗ lực để kiểm soát các hành vi cơ hội của các nhà quản lý doanh nghiệp, và cơ cấu quản trị doanh nghiệp đã trở thành công cụ chính được sử dụng trong việc cân đối lợi ích giữa ban quản lý doanh nghiệp với các cổ đông (Fama và Jensen, 1983) Theo Jensen và Meckling (1976), những mâu thuẫn ủy nhiệm tiềm tàng do việc tách quản lý và sở hữu trong các công ty hiện đại trở nên lớn hơn, nơi quyền sở hữu bị phân tán do cổ phiếu được nắm giữ bởi nhiều người hơn Điều này là bởi vì nếu cổ phiếu được nắm giữ rộng rãi sẽ phân tán lợi ích giữa các bên ký kết hợp đồng (Fama và Jensen, 1983) Tính minh bạch của thông tin về tài chính có thể giảm thiểu xung đột về lợi ích giữa các cổ đông và các nhà quản lý
Trang 20do việc tách quyền sở hữu và kiểm soát của doanh nghiệp (Jensen và Meckling, 1976), do các nhà quản lý công bố thông tin để chứng minh rằng họ đang hành động
vì lợi ích tốt nhất của chủ sở hữu Lý thuyết dự đoán rằng chi phí ủy nhiệm sẽ khác nhau với các đặc điểm khác nhau của công ty, như quy mô, đòn bẩy và tình trạng niêm yết Chẳng hạn lý thuyết có thể cho thấy các công ty có mức vốn vay cao sẽ công bố nhiều thông tin hơn để đáp ứng nhu cầu của chủ nợ Thông qua các công ty công bố thông tin nhiều hơn cố gắng giảm chi phí vốn bằng cách giảm sự không chắc chắn của nhà đầu tư
Vận dụng lý thuyết ủy nhiệm, bài viết xây dựng giả thuyết nghiên cứu và dự đoán chiều hướng tác động của các nhân tố quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, mức
độ tập trung quyền sở hữu, sự độc lập của hội đồng quản trị tác động đến mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố
2.1.2 Lý thuyết tín hiệu
Theo Connelly (2011) lý thuyết tín hiệu là hữu ích cho việc mô tả hành vi khi hai bên là cá nhân hoặc tổ chức có thể tiếp cận thông tin khác nhau Thông thường, bên người gửi phải lựa chọn có thực hiện hay không và làm thế nào để truyền thông tin đó, và bên người nhận phải lựa chọn giải thích các tín hiệu như thế nào Theo đó, lý thuyết tín hiệu có vai trò đáng chú ý trong lý thuyết quản trị bao gồm cả quản trị chiến lược, doanh nghiệp và nguồn nhân lực Lý thuyết tín hiệu cơ bản là có liên quan với việc giảm sự bất cân xứng thông tin giữa hai bên (Spence, 2002) Lý thuyết tín hiệu đã được Spence (1973) phát triển để giải thích hành vi trong thị trường lao động nhưng có thể giúp giải thích việc công bố thông tin trong kinh doanh Trong kinh doanh, người phát tín hiệu là người bên trong doanh nghiệp như giám đốc điều hành, nhà quản lý; họ có thông tin nội bộ tiêu cực hoặc tích cực
và người phát tín hiệu thường có xu hướng không truyền thông tin tiêu cực ra bên ngoài dẫn đến bất cân xứng thông tin Người nhận có thể căn cứ thông tin thu được
để ra quyết định, do đó sự hữu ích của tín hiệu đối với người sử dụng phụ thuộc vào chất lượng thông tin Sử dụng lý thuyết tín hiệu, Zhang và Wiersema (2009) đề xuất đặc điểm của giám đốc điều hành, đội ngũ quản lý và chất lượng báo cáo tài chính
Trang 21của công ty gửi tín hiệu quan trọng đến cộng đồng đầu tư, nhà đầu tư sử dụng các đặc điểm trên để phân biệt chất lượng của các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng ở các công ty Các nhà quản lý của các công ty chất lượng cao hơn sẽ muốn phân biệt mình với các công ty có chất lượng thấp thông qua việc công bố thông tin tự nguyện
Vận dụng lý thuyết tín hiệu, bài viết xây dựng giả thuyết nghiên cứu và dự đoán chiều hướng tác động của nhân tố đòn bẩy tài chính tác động đến mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố
2.1.3 Lý thuyết các bên liên quan
Lý thuyết các bên liên quan được đưa ra bởi Freeman vào năm 1984 như là một đề xuất quản lý chiến lược của các tổ chức cuối thế kỷ hai mươi Freeman xác định các bên liên quan là bất kỳ cá nhân hay nhóm người bị ảnh hưởng hoặc có thể ảnh hưởng đến mục tiêu của tổ chức Mối quan hệ các bên liên quan với tổ chức giúp họ được hưởng lợi ích từ hành động của tổ chức hoặc ngược lại tổ chức có thể gây hại hoặc ảnh hưởng đến quyền của họ (Freeman, 2001); như vậy họ bao gồm các cổ đông, các nhà quản lý của công ty, cộng đồng, khách hàng, nhân viên, nhà cung cấp và các cơ quan quản lý Các bên liên quan quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của công ty, vì vậy các nhà quản lý thực hiện quản lý và tích hợp các mối quan hệ và lợi ích của cổ đông, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng nhằm đảm bảo sự thành công lâu dài của công ty Cách tiếp cận bên liên quan nhấn mạnh quản lý chủ động trong môi trường kinh doanh, các mối quan hệ và lợi ích chung Các bên liên quan có thể sẽ sử dụng số liệu trên báo cáo tài chính để giúp đánh giá uy tín của công ty và đưa ra các quyết định kinh tế (Bowen, 1995), do đó thông tin trên báo cáo tài chính là quan trọng đối với các bên liên quan và các công
ty, bao gồm cả các thông tin công cụ tài chính
Vận dụng lý thuyết các bên liên quan, bài viết xây dựng giả thuyết nghiên cứu và dự đoán chiều hướng tác động của nhân tố đòn bẩy tài chính và công ty kiểm toán tác động đến mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố
Trang 22- Lý thuyết nắm giữ còn gọi là lý thuyết nhóm lợi ích: cho rằng các nhóm lợi ích trong xã hội thường yêu cầu các quy định được thiết lập để tối đa hóa lợi ích của các thành viên trong nhóm Theo Stigler (1971) thì các nhóm lợi ích sẽ sử dụng quyền lực để tác động vào chính phủ nhằm ban hành các luật và quy định theo cách
có lợi cho họ
- Lý thuyết lợi ích cá nhân: giả định rằng những người có trách nhiệm trong các tổ chức lập quy thường hành xử dựa trên lợi ích cá nhân của họ Theo Watts và Zimmerman (1978), khi các cá nhân tối đa hóa lợi ích của mình dẫn đến các công ty thực hiện vận động hành lang những người trong cơ quan ban hành luật, chuẩn mực
kế toán để ban hành các quy định, chuẩn mực kế toán có lợi
Vận dụng lý thuyết lập quy, bài viết xây dựng giả thuyết nghiên cứu và dự đoán chiều hướng tác động của nhân tố mức độ tập trung quyền sở hữu tác động đến mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố
2.1.5 Lý thuyết ngẫu nhiên
Lý thuyết này cho rằng không có duy nhất một hệ thống quản trị hiệu quả nào phù hợp cho tất cả các tổ chức và cho mọi hoàn cảnh; do những đặc điểm riêng của hệ thống và hiệu quả của nó sẽ phụ thuộc vào các đặc thù riêng của tổ chức và các nhân tố thuộc về hoàn cảnh (Otley, 1980; Ferreira và Otley, 2009)
Nghiên cứu của Lopes và Rodrigues (2007) sử dụng lý thuyết ngẫu nhiên để xây dựng các biến nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết phản ánh các đặc điểm của
Trang 23công ty ở Bồ Đào Nha liên quan đến cấu trúc vốn, đặc điểm của mô hình quản trị công ty ảnh hưởng mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố
Vận dụng lý thuyết ngẫu nhiên, tác giả kỳ vọng các nhân tố đòn bẩy tài chính, sự độc lập của hội đồng quản trị có tác động đến mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố
2.2 Quy định về trình bày công cụ tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế 2.2.1 Định nghĩa về công cụ tài chính
Theo IAS 32 (được sửa đổi vào năm 2011), đoạn 11 định nghĩa công cụ tài chính (CCTC), tài sản tài chính, nợ phải trả tài chính, công cụ vốn chủ sở hữu:
“Công cụ tài chính là bất cứ hợp đồng nào làm phát sinh tài sản tài chính cho một đơn vị và nợ phải trả tài chính hay công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị khác.”
“Tài sản tài chính bao gồm: tiền; công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị khác; quyền nhận được tiền hay tài sản tài chính khác từ đơn vị khác, hay quyền trao đổi tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính với đơn vị khác theo các điều kiện có lợi cho đơn vị; một hợp đồng sẽ hoặc có thể được thanh toán bằng công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị”
“Nợ phải trả tài chính là bất kỳ trách nhiệm bao gồm: một nghĩa vụ theo hợp đồng để chuyển giao tiền hoặc tài sản tài chính khác cho đơn vị khác, hay trao đổi tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính với đơn vị khác theo điều kiện bất lợi đối với đơn vị; một hợp đồng sẽ hoặc có thể được thanh toán bằng công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị.”
“Công cụ vốn chủ sở hữu là bất cứ hợp đồng nào chứng minh phần lợi ích còn lại trong tài sản của một đơn vị sau khi trừ tất cả các khoản nợ phải trả của đơn vị.”
2.2.2 Phân loại công cụ tài chính
Yêu cầu của IAS 32, đoạn 15 thì người phát hành CCTC cần phân loại CCTC, hay các thành phần của nó khi ghi nhận ban đầu phù hợp với bản chất của hợp đồng và các định nghĩa của nợ tài chính, tài sản tài chính và công cụ vốn chủ sở hữu
Trang 24- Phân loại tài sản tài chính:
Theo IFRS 9 (tháng 07/2014), đoạn 4.1 thì đơn vị nên phân loại tài sản tài chính thành hai loại: những tài sản tài chính đo lường theo giá trị hợp lý và các tài sản tài chính sau ghi nhận ban đầu được đo lường theo nguyên giá phân bổ trên cơ
sở sau:
+ Mô hình kinh doanh của đơn vị để quản lý tài sản tài chính,
+ Các đặc điểm dòng tiền theo hợp đồng của tài sản tài chính
Tài sản tài chính đo lường theo nguyên giá phân bổ:
IFRS 9, đoạn 4.1.2 quy định một tài sản tài chính nên được đo lường theo nguyên giá phân bổ nếu thỏa mãn cả hai điều kiện:
(i) mục đích nắm giữ của đơn vị là thu về các dòng tiền theo hợp đồng ; (ii) điều kiện hợp đồng của tài sản tài chính xác định ngày thanh toán tiền gốc và lãi, tiền lãi tính trên số tiền gốc chưa thanh toán
Tài sản tài chính đo lường theo giá trị hợp lý:
Một tài sản tài chính nếu không được đo lường theo nguyên giá phân bổ thì phải xếp vào nhóm đo lường theo giá trị hợp lý
Tài sản tài chính được đo lường theo giá trị hợp lý gồm: chênh lệch giá trị hợp lý được ghi nhận vào kết quả kinh doanh (FVTPL) và chênh lệch giá trị hợp lý được ghi nhận vào thu nhập tổng hợp khác (FVOCI)
Đoạn 4.1.2A của IFRS 9 quy định một tài sản tài chính nên được đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá trị hợp lý ghi nhận vào thu nhập tổng hợp khác (FVOI) nếu thỏa mãn hai điều kiện:
(i) tài sản tài chính được nắm giữ với cả hai mục đích là thu về các dòng tiền theo hợp đồng và bán tài sản tài chính;
(ii) điều kiện hợp đồng của tài sản tài chính xác định ngày thanh toán tiền gốc và lãi, tiền lãi tính trên số tiền gốc chưa thanh toán
Theo đoạn 4.1.4 của IFRS 9: “Tài sản tài chính đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá trị hợp lý ghi nhận vào kết quả kinh doanh (FVTPL) nếu không được đo lường theo nguyên giá phân bổ hoặc theo giá trị hợp lý mà chênh lệch giá
Trang 25trị hợp lý ghi nhận thu nhập tổng hợp khác (FVOCI) Tuy nhiên, đơn vị có thể lựa chọn ngay từ khi ghi nhận ban đầu cho các khoản đầu tư đặc biệt công cụ vốn chủ
sở hữu được đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá trị hợp lý ghi nhận vào kết quả kinh doanh thay vì theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá trị hợp lý ghi nhận vào thu nhập tổng hợp khác.”
“Khi ghi nhận ban đầu, tài sản tài chính được đơn vị lựa chọn đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch ghi nhận vào kết quả kinh doanh nhằm loại bỏ hoặc giảm đáng kể sự không thống nhất khi ghi nhận hoặc đo lường trên cơ sở đo lường khác” (IFRS 9, đoạn 4.1.5)
- Phân loại nợ phải trả tài chính:
+ Đoạn 4.2.1 của IFRS 9 quy định “một đơn vị nên phân loại tất cả các khoản nợ phải trả tài chính được đo lường theo nguyên giá phân bổ, ngoại trừ:
(i) Nợ phải trả tài chính đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch ghi nhận vào kết quả kinh doanh, như nợ phải trả, công cụ tài chính phái sinh mà là nợ phải trả
(ii) Nợ phải trả tài chính phát sinh khi chuyển nhượng một tài sản tài chính không đủ điều kiện dừng ghi nhận hoặc các điều kiện liên quan được áp dụng
(iii) Hợp đồng bảo lãnh tài chính
(iv) Cam kết cho vay với lãi suất thấp hơn thị trường
(v) Nghĩa vụ phải thanh toán được ghi nhận bởi bên mua trong hợp nhất kinh doanh áp dụng theo IFRS 3.”
+ Nợ phải trả tài chính được đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá trị hợp lý ghi nhận vào kết quả kinh doanh (FVTPL) khi thỏa mãn điều kiện sau:
“ (i) Được lựa chọn đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá trị hợp lý ghi nhận vào kết quả kinh doanh ngay từ khi ghi nhận ban đầu, làm giảm đi tính không thống nhất trong ghi nhận và đo lường phát sinh khi đo lường tài sản và nợ phải trả tài chính hay ghi nhận lãi hoặc lỗ theo cơ sở đo lường khác
Trang 26(ii) Thuộc nhóm này còn có các công cụ tài chính được đơn vị quản trị trên
cơ sở đánh giá kết quả từ sự thay đổi giá trị hợp lý của chúng, phù hợp với chiến lược quản trị rủi ro.”
2.2.3 Trình bày công cụ tài chính
- Tài sản tài chính, nợ phải trả tài chính và công cụ vốn chủ sở hữu:
Theo IAS 32 thì người phát hành CCTC cần phân loại CCTC, hay các thành phần của nó khi ghi nhận ban đầu phù hợp với bản chất của hợp đồng và các định nghĩa của nợ tài chính, tài sản tài chính và công cụ vốn chủ sở hữu; ngoài ra, khi phân loại công cụ tài chính cần tuân theo nguyên tắc nội dung quan trọng hơn hình thức
- Công cụ tài chính phức hợp:
IAS 32 yêu cầu bên phát hành CCTC phi phái sinh đánh giá để xác định CCTC đó có gồm cả hai thành phần là nợ phải trả tài chính và công cụ vốn chủ sở hữu Nếu có, các thành phần của công cụ phải được phân loại riêng thành nợ phải trả tài chính, tài sản tài chính hoặc công cụ vốn chủ sở hữu
- Tiền lãi, cổ tức, lãi và lỗ liên quan đến công cụ tài chính:
Theo IAS 32, đoạn 35 thì “lãi, cổ tức, lỗ và lợi ích liên quan đến công cụ tài chính hoặc thành phần là nợ phải trả của công cụ phải được ghi nhận là thu nhập hay chi phí vào báo cáo kết quả kinh doanh Phân phối lợi nhuận cho chủ sở hữu của công cụ vốn chủ sở hữu được ghi nhận trực tiếp vào vốn chủ sở hữu Chi phí giao dịch liên quan đến giao dịch công cụ vốn chủ sở hữu được ghi giảm vào vốn chủ sở hữu”
- Bù trừ tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính:
Theo IAS 32, đoạn 42 thì “tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính được bù trừ cho nhau và trình bày giá trị chênh lệch thuần trên Bảng cân đối kế toán khi và chỉ khi đơn vị: (i) có quyền hợp pháp bù trừ các giá trị này cho nhau; và (ii) có ý định thanh toán trên cơ sở thuần, hoặc đồng thời sử dụng tài sản tài chính và thanh toán nợ phải trả tài chính cùng thời điểm.”
Trang 272.2.4 Công bố công cụ tài chính
Theo IFRS 7 (sửa đổi vào năm 2014), đoạn 1, yêu cầu “các đơn vị cần thuyết minh đầy đủ trên báo cáo tài chính để người sử dụng đánh giá được: (a) tầm quan trọng của các công cụ tài chính đối với tình trạng tài chính và kết quả kinh doanh của đơn vị; và (b) bản chất, mức độ các rủi ro phát sinh từ các công cụ tài chính trong kỳ báo cáo, vào ngày lập báo cáo tài chính và cách thức đơn vị quản trị các rủi
ro này.”
- Công bố về tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính:
IFRS 7, đoạn 8 quy định giá trị ghi sổ của các CCTC sau đây (như được xác định theo IFRS 9) cần được công bố trong Bảng cân đối kế toán hay Thuyết minh
BCTC:
“+ Tài sản tài chính đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá trị hợp lý được ghi nhận vào kết quả kinh doanh (FVTPL) cần được trình bày riêng: (i) tài sản tài chính được đơn vị chỉ định đo lường theo FVTPL từ khi ghi nhận ban đầu và (ii) tài sản tài chính bắt buộc phải đo lường theo giá trị hợp lý phù hợp với yêu cầu của IFRS 9
+ Nợ phải trả tài chính đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá trị hợp
lý ghi nhận vào kết quả kinh doanh (FVTPL) cần được trình bày riêng: (i) nợ phải trả tài chính được đơn vị chỉ định đo lường theo FVTPL từ khi ghi nhận ban đầu và (ii) nợ phải trả tài chính thỏa mãn định nghĩa nắm giữ cho mục đích kinh doanh theo IFRS 9
+ Tài sản tài chính được đo lường theo nguyên giá phân bổ
+ Nợ phải trả tài chính được đo lường theo nguyên giá phân bổ
+ Tài sản tài chính đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá trị hợp lý ghi nhận vào thu nhập tổng hợp khác (FVOCI) cần được trình bày riêng: (i) tài sản tài chính được đo lường theo FVOCI theo IFRS 9; (ii) khoản đầu tư công cụ vốn chủ sở hữu được chỉ định đo lường theo FVOCI từ khi ghi nhận ban đầu theo IFRS 9.”
Trang 28Theo IFRS 7, đoạn 12 “khi tái phân loại tài sản tài chính từ đo lường theo giá trị hợp lý sang đo lường theo nguyên giá phân bổ và ngược lại, đơn vị cần công bố: ngày tái phân loại; giải thích chi tiết sự thay đổi mô hình kinh doanh và mô tả mức tác động của nó trên báo cáo tài chính của đơn vị; giá trị tái phân loại”
- Thu nhập, chi phí, lãi hoặc lỗ
IFRS 7, đoạn 20 quy định “đơn vị cần công bố các nội dung sau đây về thu nhập, chi phí, lãi lỗ liên quan đến công cụ tài chính trên báo cáo lợi nhuận tổng hợp
và thuyết minh BCTC:
+ Lợi nhuận thuần hoặc lỗ thuần:
(i) Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính đo lường theo FVTPL, chi tiết theo từng tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được đơn vị chỉ định đo lường theo FVTPL từ khi ghi nhận ban đầu, và những tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính bắt buộc được đo lường theo FVTPL theo IFRS 9 (chẳng hạn như nợ phải trả tài chính thỏa mãn điều kiện nắm giữ để kinh doanh theo IFRS 9) Đối với nợ phải trả tài chính được chỉ định đo lường theo FVTPL , đơn vị nên công bố riêng khoản lãi hoặc lỗ ghi nhận trong thu nhập tổng hợp khác và khoản lãi hoặc lỗ được ghi nhận vào kết quả kinh doanh
(ii) Nợ phải trả tài chính được đo lường theo nguyên giá phân bổ
(iii) Tài sản tài chính được đo lường theo nguyên giá phân bổ
(iv) Khoản đầu tư vào công cụ vốn chủ sở hữu được chỉ định đo lường theo FVOCI
(v) Tài sản tài chính được đo lường theo FVOCI theo IFRS 9, công bố riêng khoản lãi hoặc lỗ ghi nhận trong thu nhập tổng hợp khác trong kỳ và khoản phân loại khi theo ngừng ghi nhận từ thu nhập tổng hợp lũy kế khác đến kết quả kinh doanh trong kỳ
+ Tổng thu nhập lãi và tổng chi phí lãi (tính theo lãi suất thực) đối với tài sản
tài chính đo lường theo nguyên giá phân bổ hoặc đo lường theo FVOCI (công bố riêng các khoản này); hoặc nợ phải trả tài chính không đo lường theo FVTPL
Trang 29+ Thu nhập hay chi phí (ngoại trừ những khoản đã có khi xác định lãi suất
thực) phát sinh: từ tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính không đo lường theo
FVTPL; và ủy thác và hoạt động ủy thác khác mà kết quả là việc nắm giữ hoặc đầu
tư tài sản thay mặt cho cá nhân, quỹ ủy thác, quỹ hưu trí và các tổ chức khác.”
- Công bố về chính sách kế toán:
Theo IAS 1 (sửa đổi năm 2014), đoạn 117 về trình bày BCTC yêu cầu “đơn
vị công bố chính sách kế toán chủ yếu bao gồm cơ sở đo lường được sử dụng để lập BCTC và các chính sách kế toán khác có liên quan đến việc hiểu được BCTC”
- Kế toán phòng ngừa:
IFRS 7, đoạn 21A yêu cầu công bố các thông tin sau:
+ Chiến lược quản lý rủi ro của đơn vị và cách thức mà đơn vị áp dụng để quản lý rủi ro;
+ Cách thức mà các hoạt động phòng ngừa rủi ro của đơn vị có thể tác động vào số lượng, thời gian và sự không chắc chắn của dòng tiền tương lai; và
+ Tác động của kế toán phòng ngừa trên báo cáo tình hình tài chính của đơn
vị, báo cáo thu nhập và báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu
Đơn vị phải công bố: dạng phòng ngừa; các công cụ tài chính được chỉ định
là công cụ phòng ngừa và giá trị hợp lý của chúng vào ngày lập báo cáo; bản chất của rủi ro phòng ngừa
- Bản chất và mức độ rủi ro phát sinh từ các công cụ tài chính:
IFRS 7, đoạn 31 quy định “một đơn vị cần phải công bố đầy đủ thông tin cho phép người sử dụng BCTC đánh giá bản chất và phạm vi của rủi ro phát sinh từ công cụ tài chính vào cuối cùng của kỳ báo cáo” Đó thường là rủi ro tín dụng, rủi
ro thanh khoản và rủi ro thị trường
Theo IFRS 7, đoạn 33 “với mỗi loại rủi ro phát sinh từ CCTC, đơn vị cần trình bày:
+ Tổn thất từ rủi ro và cách thức chúng phát sinh;
+ Mục tiêu, chính sách và qui trình quản lý rủi ro và các phương pháp sử dụng để đo lường rủi ro; và
Trang 30+ Bất kỳ thay đổi nào trong hai nội dung trên so với kỳ trước.”
Ngoài ra, theo IFRS 7, đoạn 34 yêu cầu phải công bố tóm tắt các dữ liệu định lượng về các tổn thất từ các rủi ro vào ngày cuối cùng của kỳ báo cáo
2.3 Quy định về trình bày công cụ tài chính ở Việt Nam hiện nay
2.3.1 Định nghĩa về công cụ tài chính
Theo Điều 3 Thông tư 210/2009/TT-BTC “Công cụ tài chính là hợp đồng làm tăng tài sản tài chính của đơn vị và nợ phải trả tài chính hoặc công cụ vốn chủ
sở hữu của đơn vị khác”
“Tài sản tài chính là các loại tài sản sau: tiền mặt; công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị khác; hay quyền theo hợp đồng để nhận tiền mặt hoặc tài sản tài chính khác từ đơn vị khác, hoặc trao đổi các tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính với đơn vị khác theo các điều kiện có thể có lợi cho đơn vị; hợp đồng sẽ hoặc có thể được thanh toán bằng các công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị.”
“ Nợ phải trả tài chính là các nghĩa vụ: mang tính bắt buộc để thanh toán tiền mặt hoặc tài sản tài chính cho đơn vị khác hay trao đổi các tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính với đơn vị khác theo các điều kiện không có lợi cho đơn vị; hợp đồng sẽ hoặc có thể được thanh toán bằng các công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị.”
“Công cụ vốn chủ sở hữu là hợp đồng chứng tỏ được những lợi ích còn lại về tài sản của đơn vị sau khi trừ đi toàn bộ nghĩa vụ của đơn vị đó.”
CCTC phái sinh là một CCTC thỏa mãn cả ba điều kiện:
- Thay đổi giá trị theo sự thay đổi của các biến số cơ sở như: lãi suất, giá CCTC, giá hàng hóa, chỉ số giá, chỉ số tín dụng hay xếp hạng tín dụng, lãi suất, tỷ giá hối đoái, hoặc các biến số phi tài chính không liên quan đến các bên tham gia hợp đồng
- Không yêu cầu đầu tư thuần ban đầu hay yêu cầu mức đầu tư thuần ban đầu thấp hơn các loại hợp đồng khác mà có phản ứng tương tự đối với sự thay đổi của các yếu tố thuộc thị trường;
- Sẽ được thanh toán vào một ngày trong tương lai
Trang 312.3.2 Phân loại công cụ tài chính
Được phân thành các loại như sau:
- “Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp
lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một tài sản tài chính hoặc
một khoản nợ phải trả tài chính thỏa mãn một trong các điều kiện sau:
(a) Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được phân loại vào nhóm nắm giữ để kinh doanh Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được phân loại vào nhóm nắm giữ để kinh doanh, nếu: (i) được mua hoặc tạo ra chủ yếu cho mục đích bán lại hay mua lại trong thời gian ngắn; (ii) có bằng chứng về việc kinh doanh công cụ đó nhằm mục đích thu lợi ngắn hạn; hoặc (iii) công cụ tài chính phái sinh (ngoại trừ công cụ tài chính phái sinh được xác định là một hợp đồng bảo lãnh tài chính hoặc một công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả)
(b) Tại thời điểm ghi nhận ban đầu, đơn vị xếp tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính vào nhóm phản ánh theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.”
- “Các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn là các tài sản tài chính phi
phái sinh với các khoản thanh toán cố định hoặc có thể xác định và có kỳ đáo hạn
cố định mà đơn vị có ý định và có khả năng giữ đến ngày đáo hạn, ngoại trừ: (a) các tài sản tài chính mà tại thời điểm ghi nhận ban đầu đã được xếp vào nhóm ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; (b) các tài sản tài chính đã được xếp vào nhóm sẵn sàng để bán; (c) các tài sản tài chính thỏa mãn định nghĩa về các khoản cho vay và phải thu.”
- “Các khoản cho vay và phải thu là các tài sản tài chính phi phái sinh với
các khoản thanh toán cố định hoặc có thể xác định và không được niêm yết trên thị trường, ngoại trừ: (a) các khoản mà đơn vị có ý định bán ngay hoặc sẽ bán trong tương lai gần được phân loại là tài sản nắm giữ vì mục đích kinh doanh, và cũng như các loại mà tại thời điểm ghi nhận ban đầu được đơn vị xếp vào nhóm ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; (b) các khoản được đơn vị xếp vào nhóm sẵn sàng để bán tại thời điểm ghi nhận ban đầu; hoặc (c)
Trang 32các khoản mà người nắm giữ có thể không thu hồi được phần lớn giá trị đầu tư ban đầu, không phải do suy giảm chất lượng tín dụng, và được phân loại vào nhóm sẵn sàng để bán.”
- “Tài sản sẵn sàng để bán là các tài sản tài chính phi phái sinh được xác
định là sẵn sàng để bán hoặc không được phân loại là: (a) các khoản cho vay và các khoản phải thu; (b) các khoản đầu tư giữ đến ngày đáo hạn; (c) các tài sản tài chính ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.”
2.3.3 Trình bày công cụ tài chính
Theo Thông tư 210/2009/TT-BTC hướng dẫn trình bày công cụ tài chính theo IAS 32 như sau:
- Các khoản nợ phải trả tài chính và công cụ vốn chủ sở hữu:
Tổ chức phát hành các CCTC phải phân loại công cụ hoặc các thành phần là
nợ phải trả tài chính hay công cụ vốn chủ sở hữu phù hợp với định nghĩa và bản chất tại thời điểm ghi nhận ban đầu
- Các khoản dự phòng thanh toán tiềm tàng:
Bên phát hành CCTC phải trình bày là khoản nợ phải trả tài chính khi có khả
năng xảy ra các sự kiện không chắc chắn trong tương lai buộc bên phát hành phải thanh toán tiền hoặc tài sản tài chính
- Quyền chọn thanh toán:
Được trình bày là tài sản tài chính hay nợ phải trả tài chính
- Công cụ tài chính phức hợp:
Bên phát hành CCTC phi phái sinh cần phải xem xét những quy định trong công cụ để xác định có gồm cả thành phần nợ phải trả và thành phần vốn chủ sở hữu không Hai thành phần này cần phải được trình bày riêng trên Bảng cân đối kế toán và tổng giá trị ghi sổ của chúng ở thời điểm ghi nhận ban đầu bằng với giá trị hợp lý của CCTC
- Cổ phiếu quỹ:
Cần được trình bày là một khoản mục riêng biệt làm giảm trừ vốn chủ sở hữu, không được ghi nhận vào lãi lỗ khi phát sinh các giao dịch liên quan
Trang 33- Các khoản tiền lãi, cổ tức, lỗ và lãi:
Điều 11, Thông tư 210 quy định:
“Tiền lãi, cổ tức, lợi nhuận, các khoản lỗ và lãi có liên quan đến công cụ tài chính hoặc cấu phần của nó mà là nợ tài chính phải trả được ghi nhận là thu nhập hoặc chi phí trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Cổ tức, lợi nhuận trả cho các cổ đông được ghi giảm trực tiếp vào vốn chủ sở hữu Trường hợp cổ phiếu ưu đãi được phân loại là nợ phải trả thì khoản phải trả cho các cổ đông về cổ tức của cổ phiếu ưu đãi đó được ghi nhận vào chi phí trong kỳ
Chi phí giao dịch liên quan đến việc phát hành công cụ tài chính phức hợp được phẩn bổ cho các thành phần nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của công cụ đó theo
tỷ lệ Chi phí giao dịch liên quan đến nhiều giao dịch được phân bổ cho các giao dịch đó trên cơ sở tỷ lệ tương ứng với các giao dịch Chi phí giao dịch được trình bày là khoản giảm trừ vốn chủ sở hữu trong kỳ báo cáo
Các khoản lãi, lỗ phát sinh do những thay đổi giá trị ghi sổ nợ phải trả tài chính được ghi nhận là thu nhập hoặc chi phí trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.”
- Bù trừ tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính trên Bảng cân đối kế toán:
Bù trừ tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính khi và chỉ khi: có quyền hợp pháp để bù trừ giá trị; và đơn vị có dự định thanh toán trên cơ sở thuần hay đồng thời ghi nhận tài sản và thanh toán nợ phải trả
2.3.4 Công bố công cụ tài chính
Thông tư 210/2009/TT-BTC quy định áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 07 (IFRS 07) hướng dẫn thuyết minh về công cụ tài chính
- Phân nhóm công cụ tài chính và mức độ thuyết minh
CCTC phải được phân nhóm phù hợp với bản chất thông tin và đặc điểm của CCTC đó
- Mức độ trọng yếu của công cụ tài chính đối với tình hình tài chính và kết quả kinh doanh
Trang 34Phải trình bày thông tin để người sử dụng BCTC đánh giá được mức độ trọng yếu của các CCTC đối với tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của đơn
vị
- Trình bày các loại tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính: Giá trị ghi
sổ cần được trình bày trên Bảng cân đối kế toán hoặc trong thuyết minh BCTC:
+ Tài sản tài chính ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;
+ Khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn;
+ Khoản cho vay và phải thu;
+ Tài sản tài chính sẵn sàng để bán;
+ Nợ phải trả tài chính ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
+Nợ phải trả tài chính xác định theo giá trị phân bổ
- Thuyết minh đối với tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Khoản cho vay hoặc khoản phải thu được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, cần phải thuyết minh về: mức độ rủi ro tín dụng; giá trị hợp lý cuối kỳ; các thay đổi giá trị hợp lý trong kỳ; và mức giảm thiểu rủi ro tín dụng của các CCTC phái sinh liên quan;
Đối với nợ phải trả tài chính ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, cần phải thuyết minh: giá trị hợp lý cuối kỳ, các thay đổi giá trị hợp lý trong kỳ; chêch lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị phải thanh toán cho bên nắm giữ khi hợp đồng đáo hạn
- Thuyết minh đối với việc phân loại lại:
Phải trình bày giá trị CCTC sau khi được phân loại lại, nguyên nhân đơn vị phân loại lại, và sự ảnh hưởng tới BCTC
- Thuyết minh về việc dừng ghi nhận:
Phải thuyết minh cho từng loại tài sản tài chính khi chuyển nhượng mà không đủ điều kiện dừng ghi nhận các nội dung: bản chất của tài sản và của việc
Trang 35chuyển giao rủi ro và quyền sở hữu; nếu tiếp tục ghi nhận tài sản đó thì thuyết minh giá trị ghi sổ ban đầu, giá trị tiếp tục ghi nhận, và giá trị ghi sổ của nợ phải trả và tài sản có liên quan
- Thuyết minh về tài sản đảm bảo
+ Giá trị ghi sổ của các tài sản tài chính được sử dụng làm tài sản thế chấp cho các khoản nợ phải trả hay các khoản nợ tiềm tàng,
+ Các điều khoản, điều kiện thế chấp
Trong trường hợp mà đơn vị nắm giữ tài sản thế chấp và có thể bán hay đem tài sản đó đi thế chấp khi chủ sở hữu tài sản vẫn có khả năng trả nợ, cần thuyết minh:
+ Giá trị hợp lý của tài sản thế chấp, thông tin về nghĩa vụ hoàn trả tài sản thế chấp;
+ Các điều khoản, điều kiện liên quan đến việc sử dụng các tài sản này
- Dự phòng cho tổn thất tín dụng:
Khi tổn thất tín dụng làm các tài sản tài chính bị giảm giá mà được ghi nhận
dự phòng ở tài khoản riêng thì trong kỳ cần đối chiếu theo mỗi loại tài sản tài chính các thay đổi của tài khoản đó
- Thuyết minh về công cụ tài chính phức hợp gắn liền với nhiều công cụ tài chính phái sinh
Khi phát hành một CCTC phức hợp phải thuyết minh chi tiết các thành phần của CCTC phức hợp (nợ phải trả và vốn chủ sở hữu) và CCTC phái sinh đi kèm
- Thuyết minh các khoản vay mất khả năng thanh toán và vi phạm hợp đồng
Cần phải thuyết minh đối với các khoản vay phải trả không có khả năng thanh toán ghi nhận tại ngày báo cáo: số lần không trả được (nếu có); giá trị ghi sổ của chúng; có khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán hay đàm phán lại hợp đồng trước ngày phê duyệt BCTC
- Trình bày các khoản mục thu nhập, chi phí, lãi hoặc lỗ
Trang 36Điều 25 Thông tư 210 quy định “đơn vị phải thuyết minh những khoản mục thu nhập, chi phí, lãi, lỗ sau trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hoặc trong Thuyết minh báo cáo tài chính:
+ Lãi hoặc lỗ thuần của:
a) Các tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Trình bày riêng rẽ lãi hoặc
lỗ thuần của tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được xếp vào nhóm này tại thời điểm ghi nhận ban đầu và tài sản hoặc nợ phải trả tài chính nắm giữ để kinh doanh;
b) Tài sản tài chính sẵn sàng để bán; Trình bày riêng rẽ các khoản lãi, lỗ ghi nhận trực tiếp vào thu nhập trong kỳ và các khoản phân loại lại từ vốn chủ sở hữu sang thu nhập trong kỳ;
c) Các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn;
d) Các khoản cho vay và phải thu; và
đ) Nợ phải trả tài chính được xác định theo giá trị phân bổ
+ Tổng thu nhập tiền lãi và tổng chi phí lãi vay (sử dụng lãi suất thực tế) cho tài sản tài chính hay nợ phải trả tài chính không thuộc nhóm được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
+Thu nhập và chi phí từ phí dịch vụ (ngoại trừ các khoản đã tính khi xác định lãi suất thực) phát sinh từ:
a) Các tài sản hay nợ phải trả tài chính không thuộc nhóm được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; và
b) Các hoạt động ủy thác khác dẫn đến việc nắm giữ hay đầu tư tài sản thay mặt cá nhân, các quỹ ủy thác, quỹ hưu trí và các tổ chức khác
+ Thu nhập tiền lãi dồn tích đối với các tài sản tài chính bị giảm giá
+ Khoản lỗ do giảm giá trị của mỗi loại tài sản tài chính.”
- Trình bày các chính sách kế toán
Trang 37Trong phần tóm tắt chính sách kế toán áp dụng phải trình bày những cơ sở xác định giá trị CCTC sử dụng trong quá trình lập BCTC và những chính sách kế toán khác có liên quan
- Thuyết minh về nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro
+ Phải thuyết minh riêng cho mỗi loại phòng ngừa rủi ro: giá trị hợp lý; dòng tiền; và khoản đầu tư thuần vào những hoạt động ở nước ngoài, như sau: mô tả; bản chất của rủi ro được phòng ngừa; mô tả và thuyết minh giá trị hợp lý của các CCTC được sử dụng để phòng ngừa
+ Đối với phòng ngừa rủi ro về dòng tiền, phải thuyết minh thêm thông tin về: thời gian dự kiến dòng tiền phát sinh và thời gian những dòng tiền có ảnh hưởng đến lãi, lỗ; những giao dịch đã được phòng ngừa nhưng hiện nay dự đoán không phát sinh; giá trị được ghi nhận vào, được phân loại lại hay tách ra từ vốn chủ sở hữu
+ Ngoài ra, cần phải trình bày riêng: lãi, lỗ của công cụ được sử dụng và khoản mục được phòng ngừa rủi ro về giá trị hợp lý; phần không hiệu quả trong phòng ngừa rủi ro dòng tiền, hay trong phòng ngừa rủi ro khoản đầu tư thuần
- Thuyết minh về giá trị hợp lý:
+ Tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính cần thuyết minh giá trị hợp lý để
so sánh được với giá trị ghi sổ; và phương pháp xác định giá trị hợp lý
- Những thuyết minh định tính: đối với rủi ro phát sinh từ CCTC, cần
thuyết minh:mức độ, cách thức phát sinh; mục tiêu, chính sách, quy trình quản lý,
và phương pháp sử dụng để đo lường rủi ro; và so sánh các nội dung trên với kỳ trước
- Những thuyết minh định lượng:
Tóm tắt mức độ rủi ro tại thời điểm đơn vị báo cáo đối với từng loại rủi ro phát sinh từ những CCTC
- Thuyết minh về rủi ro tín dụng:
+ Các thông tin sau phải thuyết minh theo loại công cụ tài chính:
Trang 38Mức độ rủi ro tín dụng tối đa tại ngày báo cáo mà không tính đến tài sản đảm bảo hoặc hỗ trợ tín dụng qua số liệu trung thực nhất;
Mô tả tài sản đảm bảo
Các tài sản tài chính chưa quá hạn hay bị giảm giá thì thuyết minh về chất lượng tín dụng; đã bị quá hạn hay giảm giá nhưng đã đàm phán lại cần thuyết minh giá trị ghi sổ; đã quá hạn hay giảm giá, phải thuyết minh: tuổi nợ, phân tích có bị giảm giá trị tại ngày báo cáo không và ước tính giá trị hợp lý của tài sản đảm bảo đơn vị nắm giữ
Ngoài ra còn cần thuyết minh bản chất và giá trị ghi sổ, chính sách về việc thanh lý các tài sản đảm bảo mà đơn vị nhận được khi chưa chuyển thành tiền mặt hay sử dụng chúng
- Thuyết minh về rủi ro thanh khoản:
+ Những khoản nợ phải trả tài chính cần thuyết minh thời gian đáo hạn còn lại theo hợp đồng
+ Cách thức và phương pháp quản lý rủi ro thanh khoản tiềm tàng
- Thuyết minh về rủi ro thị trường:
Phải thuyết minh, phân tích độ nhạy cảm đối với từng loại rủi ro thị trường
và mức độ ảnh hưởng tới lãi, lỗ và vốn chủ sở hữu tại ngày đơn vị báo cáo; khi phân tích độ nhạy cảm sử dụng những phương pháp và giả định nào và các thay đổi so với kỳ trước, lý do thay đổi
2.4 Cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu
Phần này trình bày các nghiên cứu thực nghiệm và kết quả nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu Quy ước:
(0): nhân tố ảnh hưởng nhẹ đến mức độ thông tin được công bố thì giả định
là không ảnh hưởng
(+): nhân tố tác động tích cực đến mức độ trình bày và công bố thông tin (-): nhân tố tác động tiêu cực đến mức độ trình bày và công bố thông tin Mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố: mức độ tập trung quyền sở hữu (Owusu-Ansah, 1998; Barako et al., 2006;
Trang 39Mangena và Tauringana, 2007; Huafang và Jianguo, 2007; Zhizhong et al., 2011), thời gian công ty hoạt động, sự tồn tại của ủy ban kiểm toán, khả năng thanh khoản, lợi nhuận, loại công ty kiểm toán (Owusu-Ansah, 2005), quy mô công ty (Owusu-Ansah, 2005; Huafang và Jianguo, 2007; Aboagye-Otchere et al., 2012), sự độc lập của hội đồng quản trị (Huafang và Jianguo, 2007; Zhizhong et al., 2011), ban kiểm toán nội bộ có nhiều thành viên có kiến thức kế toán tài chính (Aboagye-Otchere et al., 2012)
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp kết quả các nhân tố tác động đến mức độ công
bố thông tin từ các nghiên cứu thực nghiệm
Nhân tố
Owusu - Ansah,
1998
Owusu - Ansah,
2007
Huafang
và Jianguo,
Trang 40Tương tự như nhân tố tác động mức độ thông tin được công bố trên báo cáo tài chính, các nghiên cứu về trình bày và công bố thông tin công cụ tài chính của các công ty cho thấy nhân tố tác động đến mức độ trình bày công cụ tài chính gồm đặc trưng của doanh nghiệp như quy mô, kết quả kinh doanh, đòn bẩy tài chính (Hassan et al., 2006); tương tự, nghiên cứu của Lopes và Rodrigues (2007) cho thấy ảnh hưởng đáng kể bởi quy mô, loại công ty kiểm toán, tình trạng niêm yết, loại doanh nghiệp (tài chính hay phi tài chính) Nghiên cứu của Taylor et al (2008) kết luận đặc điểm quản trị công ty là yếu tố quyết định quan trọng, cùng với đòn bẩy tài chính, quy mô doanh nghiệp, và đặc điểm ngành công nghiệp ảnh hưởng mức độ trình bày công cụ tài chính của các công ty Theo nghiên cứu của Adznan và Nelson (2014) thì mức độ công bố thông tin bị ảnh hưởng bởi các nhân tố như: phí kiểm toán và tồn tại ủy ban kiểm toán độc lập