1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu để phân tích hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại việt nam

106 334 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 328,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hiệu1.1 Các mô hình toán học dưới dạng đối ngẫu của mô hình CCR định hướng đầu vào và mô hình BCC định hướng đầu vào 24 2.1 Các biến đầu vào thường được sử dụng và các biến đầu ra thư

Trang 1

HỒ CHẤN TÍN

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BAO DỮ LIỆU ĐỂ

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Đà Nẵng - 2016

Trang 2

HỒ CHẤN TÍN

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BAO DỮ LIỆU ĐỂ

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.34.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Võ Thị Thúy Anh

Đà Nẵng - 2016

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Trang 4

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Các câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục đề tài 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 4

1.1 LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 4

1.1.2 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại 7

1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 10

1.2.1 Phương pháp đánh giá các chỉ số tài chính 10

1.2.2 Phương pháp sử dụng mô hình phân tích bao dữ liệu (Data envelopment analysis - DEA) 13

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 28

1.3.1 Các nhân tố ngoại sinh 28

1.3.2 Nhóm nhân tố nội sinh 29 1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Trang 5

1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 311.4.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 33

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36

2.1 LỰA CHỌN CÁC BIẾN ĐẦU VÀO VÀ CÁC BIẾN ĐẦU RA ĐỂ ƯỚCLƯỢNG CÁC ĐỘ ĐO HIỆU QUẢ CHO CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNGMẠI TẠI VIỆT NAM TRONG MÔ HÌNH DEA 362.2 LỰA CHỌN LOẠI ĐỊNH HƯỚNG TRONG MÔ HÌNH DEA ĐỂ ƯỚCLƯỢNG CÁC ĐỘ ĐO HIỆU QUẢ CHO CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNGMẠI TẠI VIỆT NAM 452.3 KIỂM TRA SỰ PHÙ HỢP CỦA DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU KHI ÁPDỤNG MÔ HÌNH DEA 462.4 MÔ TẢ SỐ LIỆU MẪU NGHIÊN CỨU 48

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53

3.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆTNAM TRONG GIAI ĐOẠN 2009 - 2014 533.1.1 Thực trạng tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận của các NHTM tạiViệt Nam trong giai đoạn 2009 - 2014 533.1.2 Thực trạng nợ xấu của các NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn

2009 – 2014 563.1.3 Thực trạng sáp nhập, hợp nhất của các NHTM tại Việt Nam 573.2 KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG ĐIỂM HIỆU QUẢ BẰNG PHƯƠNG PHÁPBAO DỮ LIỆU (DEA) 583.2.1 Kết quả ước lượng điểm hiệu quả kỹ thuật toàn bộ (TE) 58

Trang 6

3.3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỰ TỐI THIỂU HÓA CÁC NGUỒN LỰCĐẦU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦACÁC NHTM TRONG NĂM 2014 713.3.1 Phân tích tối thiểu hóa giá trị tài sản cố định của các NHTM trongnăm 2014 để đạt hiệu quả kỹ thuật toàn bộ tối ưu (TE) 723.3.2 Phân tích tối thiểu hóa giá trị tổng số tiền gửi của các NHTM trongnăm 2014 để đạt hiệu quả kỹ thuật toàn bộ tối ưu (TE) 743.3.3 Phân tích tối thiểu hóa số lượng nhân viên trong các NHTM trongnăm 2014 để đạt hiệu quả kỹ thuật toàn bộ tối ưu (TE) 763.4 KIỂM TRA THỐNG KÊ BẰNG TƯƠNG QUAN HẠNG SPEARMAN

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐIỂM HIỆU QUẢ KỸ THUẬT TOÀN BỘ (TE)VỚI ROA, ROE CỦA CÁC NHTM CHƯA HIỆU QUẢ 773.4.1 Ước lượng hệ số tương quan hạng Spearman giữa điểm hiệu quả kỹthuật toàn bộ (TE) với ROA của các NHTM chưa hiệu quả kỹ thuật toàn

bộ tối ưu 783.4.2 Ước lượng hệ số tương quan hạng Spearman giữa điểm hiệu quả kỹthuật toàn bộ (TE) với ROE của các NHTM chưa hiệu quả kỹ thuật toàn

bộ tối ưu 79

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

4.1 KẾT LUẬN CHUNG 824.2 CÁC KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNGKINH DOANH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM TRONGTHỜI GIAN TỚI 834.2.1 Các kiến nghị đối với các NHTM 83

Trang 7

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

Trang 8

Ký hiệu Giải thích

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

NIM Tỷ lệ thu nhập lãi suất ròng cận biên (Net interest margin)NNM Tỷ lệ thu nhập phi lãi suất ròng cận biên (Net noninterest

margin)NOM Tỷ lệ thu nhập hoạt động ròng cận biên (Net operating margin)NRST Lợi nhuận ròng trước những giao dịch đặc biệt (Net return

prior to special transactions margin)EPS Lợi nhuận ròng trên một cổ phần (Earing per Share)

CLLBQ Chênh lệch lãi suất bình quân

Company)

Trang 9

Số hiệu

1.1

Các mô hình toán học dưới dạng đối ngẫu của mô hình

CCR định hướng đầu vào và mô hình BCC định hướng

đầu vào

24

2.1

Các biến đầu vào thường được sử dụng và các biến đầu

ra thường được sử dụng trong các nghiên cứu áp dụng

phương pháp DEA đối với ngành ngân hàng

38

2.2 Tóm tắt các biến đầu vào và các biến đầu ra trong các

2.3 Ma trận hệ số tương quan yếu tố đầu vào và đầu ra các

2.4 Tên và ký hiệu 24 ngân hàng thương mại tại Việt Nam 492.5 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 503.1 Kết quả ước lượng TE theo mô hình CCR định hướng

3.2 Xếp hạng kết quả ước lượng TE trung bình giai đoạn

3.3 Thống kê số lượng ngân hàng được xếp hạng hiệu quả

theo điểm hiệu quả kỹ thuật toàn bộ (TE) 603.4 Kết quả ước lượng PTE theo mô hình BCC định hướng

3.5 Xếp hạng kết quả ước lượng PTE trung bình giai đoạn

3.6 Thống kê số lượng ngân hàng được xếp hạng hiệu quả

theo điểm hiệu quả kỹ thuật thuần (PTE) 653.7 Kết quả ước lượng SE 683.8 Xếp hạng kết quả ước lượng SE trung bình giai đoạn

3.9 Thống kê số lượng ngân hàng được xếp hạng hiệu quả 69

Trang 10

Kết quả kiếm định tương quan hạng Spearman giữa TE

và ROA của các NHTM chưa đạt hiệu quả kỹ thuật tối

ưu (TE < 1)

78

3.11

Kết quả kiếm định tương quan hạng Spearman giữa TE

và ROE của các NHTM chưa đạt hiệu quả kỹ thuật tối

ưu (TE < 1)

79

Trang 11

Số hiệu

1.1 Hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả phân bô (AE), hiệu

1.2 Đường đồng lượng lồi tuyến tính từng khúc 181.3 Sự dịch chuyển về tâm và sự dịch chuyển lỏng lẻo 231.4 Hiệu quả kỹ thuật toàn bộ (TE), hiệu quả kỹ thuật

thuần (PTE) và hiệu quả quy mô (SE) 273.1 Tỷ lệ (%) tăng trưởng tín dụng ngành ngân hàng Việt

Nam trong giai đoạn 2009 - 2014 543.2 Chỉ số ROA ngành ngân hàng Việt Nam trong giai

3.3 Chỉ số ROE ngành ngân hàng Việt Nam trong giai

3.4 Các điểm hiệu quả kỹ thuật toàn bộ (TE) của 24

NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2009 - 2014 613.5 Các điểm hiệu quả kỹ thuật thuần (PTE) của 24

NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2009 - 2014 663.6 Các điểm hiệu quả quy mô (SE) của 24 NHTM tại

Việt Nam giai đoạn 2009 - 2014 70

3.7

Các điểm hiệu quả kỹ thuật TE trung bình, PTE trung

bình, SE trung bình của 24 NHTM tại Việt Nam trong

giai đoạn 2009 - 2014

80

3.8

Tỷ lệ trung bình (%) tối thiểu hóa 3 nguồn lực đầu vào

để 15 NHTM tại Việt Nam đạt hiệu quả kỹ thuật tối ưu

(TE = 1) trong năm 2014

81

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có nhiều biến động phức tạp nhưhiện nay, đặc biệt là sau khủng hoảng tài chính thế giới 2008 thì việc phântích hiệu quả hoạt động của các NHTM trong các năm qua đáng để chúng talưu tâm, liệu vấn đề chất lượng trong hoạt động hệ thống NHTM có thật sựtốt hay chưa? Đòi hỏi cần phải có sự nhìn nhận, đánh giá và phân tích mộtcách khách quan hoạt động của hệ thống NHTM để thấy được bức tranh toàncảnh của hệ thống NHTM Việt Nam

Hệ thống ngân hàng đang trong giai đoạn tái cơ cấu với nhiều ngân hànghợp nhất, sáp nhập để tạo thành các ngân hàng mới có nguồn lực tài chínhvững mạnh hơn tồn tại và phát triển trong giai đoạn mới Bên cạnh việc phântích thông qua các chỉ số tài chính truyền thống, chúng ta nên có nhiều cáchphân tích về nhiều phương diện và góc độ để xem xét, nhận định các điểmmạnh và các điểm yếu mà các NHTM đã và đang phải chú trọng nhiều hơnnữa để hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn Từ đó có thể giúp các nhà quảntrị, điều hành các NHTM có thêm những sự góp ý trong việc hoạch định cácchính sách, chiến lược hoạt động kinh doanh và phát triển ngân hàng củamình

Nhận thấy sự cần thiết phải thiết lập một cách phân tích hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam trong giai đoan vừa qua nên tôi

quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu để phân tích hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được thực hiện với ba mục tiêu chính sau:

Trang 13

- Thứ nhất, phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua hiệu quả

kỹ thuật của các NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2009 - 2014, từ đó thấyđược thực trạng hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam trong thời gianqua

- Thứ hai, xác định kiểm định mối tương quan giữa các điểm hiệu quả kỹthuật với ROA, ROE của các NHTM hoạt động kinh doanh chưa hiệu quả tạiViệt Nam

- Thứ ba, đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động củacác NHTM tại Việt Nam trong thời gian tới

3 Các câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đề tài phải trả lời nhữngcâu hỏi nghiên cứu sau:

- Các NHTM tại Việt Nam hoạt động kinh doanh trong giai đoạn 2009-2014 có hiệu quả kinh doanh được phản ánh thông qua hiệu quả kỹ thuật caokhông?

- Nếu các NHTM tại Việt Nam hoạt động kinh doanh trong giai đoạn

2009 - 2014 chưa hiệu quả cao thì nguyên nhân là do tác động chủ yếu là do

sự không hiệu quả kỹ thuật thuần hay do sự không hiệu quy mô?

- Yếu tố đầu vào nào cần được quan tâm cải thiện nhiều nhất đối với cácNHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2009 - 2014?

- Điểm hiệu quả kỹ thuật toàn bộ của các NHTM hoạt động kinh doanhchưa hiệu quả có mối tương quan với các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời

là ROA, ROE không?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là hiệu quả hoạt động của các ngân hàngTMCP tại Việt Nam Do phạm trù hiệu quả hoạt động rộng về mặt ý nghĩa

Trang 14

nên bài nghiên cứu tập trung vào hiệu quả kỹ thuật phản ánh hiệu quả kinhdoanh của các NHTM theo quan điểm các biến đầu vào và các biến đầu ra

Nghiên cứu được tiến hành với 24 NHTM tại Việt Nam hoạt động tronggiai đoạn 2009 - 2014 Bài nghiên cứu chọn 24 NHTM để thực hiện nghiêncứu vì các ngân hàng này thỏa mãn các điều kiện về dữ liệu của biến đầu vào

và các biến đầu ra phù hợp với yêu cầu được đưa ra trong nghiên cứu Phântích hiệu quả kinh doanh của 24 NHTM này sẽ cho thấy được cái nhìn kháiquát về thực trạng hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng Việt Nam thờigian qua, từ đó có những định hướng tốt hơn cho ngành ngân hàng Việt Namtrong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành qua 3 bước với các phương pháp sau:

- Bước 1: Phân tích tổng quan thực trạng hoạt động của các NHTM tạiViệt Nam trong giai đoạn 2009 - 2014

- Bước 2: Ứng dụng phương pháp bao dữ liệu (DEA) với 2 mô hìnhCCR và BCC để phân tích hiệu quả kinh doanh thông qua chỉ số hiệu quả kỹthuật của từng NHTM

- Bước 3: Sử dụng phương pháp định lượng thống kê để xác định mốitương quan hạng giữa các tỷ số tài chính ROA, ROE với điểm hiệu quả kỹthuật toàn bộ của các NHTM trong giai đoạn 2009 - 2014

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo và phụ lục,

đề tài được trình bày theo kết cấu 4 chương chính như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm.

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu.

Chương 4: Kết luận chung và các kiến nghị.

Trang 15

1.1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại

a Khái niệm ngân hàng thương mại

Trên thế giới, mỗi một quốc gia đều có định nghĩa về ngân hàng (dựavào, mục đích, đối tượng hoạt động, ) nhưng các định nghĩa đó đều có mộtthống nhất về ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức kinh doanh tiền

tệ với hai đặc điểm là nhận tiền ký thác, sử dụng lượng tiền này để cho vay vàlàm dịch vụ thanh toán

Theo Luật các tổ chức tín dụng 47/2010/QH12 được Quốc hội nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua năm 2010: “Ngân

hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật nhằm mục tiêu lợi nhuận”.

Bên cạnh đó, Luật cũng đã định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là việc

kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.

b Các chức năng của ngân hàng thương mại

Theo TS Hồ Hữu Tiến (2008) đã phân tích các chức năng của cácNHTM thành 3 chức năng chính sau đây:

- Chức năng trung gian tài chính

Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, quá trình sản xuất diễn ra theochuỗi T – H – T nên luôn có sự thừa và thiếu vốn ở nơi này thừa, nơi khác

Trang 16

thiếu, thời điểm khác nhau với những lượng khác nhau Từ thực tế yêu cầu, đểgiải quyết mâu thuẩn này cần có một cơ chế chuyển giao vốn từ nơi thừa vốnđến nơi thiếu vốn trong nền kinh tế Có hai cơ chế chuyển giao vốn đó là cơchế trực tiếp (trực tiếp từ người thừa vốn sang người thiếu vốn) và cơ chế giántiếp (từ người thừa vốn sang người thiếu vốn thông qua một trung gian tàichính) Cơ chế gián tiếp phổ biến hơn với các NHTM là các định chế chủ yếuthực hiện chức năng chuyển giao vốn, là cầu nối trung gian giữa cung và cầu

về vốn trong nền kinh tế Khi thực hiện chức năng này, NHTM đóng vai tròmôi giới giữa người cho vay và người đi vay NHTM thu hút các khoản tiềnnhàn rỗi nhỏ lẻ ở khắp nơi trong nền kinh tế để kết hợp lại thành một lượngtiền lớn phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của chính nền kinh tế đó

- Chức năng tạo phương tiện thanh toán

Nhờ nhận tiền ký thác, NHTM có khả năng cho vay, nhưng khi chovay, NHTM lại tạo ra tiền gửi không kỳ hạn hay còn gọi là tiền ngân hàng haytiền bút tệ, là một phần lớn trong khối tiền tệ Như vậy, NHTM chính là mộtnguồn cung ứng tiền quan trọng trong nền kinh tế Thông qua số nhân về mứccung tiền, NHTM có khả năng tạo và hủy tiền Lợi dụng chức năng này, ngânhàng trung ương (NHTW) các nước có thể tăng hay giảm lượng tiền trong lưuthông thông qua việc thay đổi tỷ lệ dữ trữ bắt buộc, từ đó làm thay đổi khảnăng cho vay của các NHTM để đạt được mục tiêu đề ra

- Chức năng trung gian thanh toán

Nhờ nhận tiền gửi ký thác của khách hàng và cho khách hàng vay,NHTM mở các sổ sách theo dõi và chuyển tiền trong các tài khoản giao dịchcủa khách hàng Như vậy, NHTM đã chuyển tiền từ tài khoản này sang tàikhoản khác, từ nơi này sang nơi khác Thông qua chức năng này của NHTM,nền kinh tế có thể hạn chế được lượng tiền mặt lưu thông, hạn chế vốn bị ứ

Trang 17

đọng trong khâu thanh toán, thúc đẩy việc luân chuyển tiền tệ trong nền kinh

tế một cách nhanh chóng

c Các hoạt động chính của ngân hàng thương mại

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự cạnh tranh gay gắt tronghoạt động ngân hàng, dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng Để đáp ứng nhucầu của khách hàng cũng như thực hiện tốt vai trò, chức năng của mình, cácNHTM thường xuyên cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau, từ truyền thốngđến hiện đại

Các dịch vụ NHTM truyền thống

Dịch vụ ngân hàng truyền thống bao gồm các dịch vụ sau:

- Thực hiện trao đổi ngoại tệ

- Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại

- Nhận tiền gửi

- Bảo quản vật ủy thác

- Tài trợ các hoạt động của chính phủ

- Cung cấp các tài khoản giao dịch

- Cung cấp dịch vụ ủy thác

Các dịch vụ NHTM hiện đại

Dịch vụ ngân hàng hiện đại bao gồm các dịch vụ sau:

- Cho vay tiêu dùng.

- Tư vấn tài chính.

- Quản lý tiền mặt.

- Dịch vụ cho thuê tài chính.

- Cho vay tài trợ dự án.

- Bán các dịch vụ bảo hiểm.

- Cung cấp các kế hoạch hưu trí.

- Cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán.

Trang 18

- Cung cấp dịch vụ tương hỗ và trợ cấp.

- Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn.

Như vậy, sự đa dạng hóa các loại hình dịch vụ NHTM hiện đại nhưngày nay càng tạo cơ hội đa dạng hóa danh mục đầu tư cũng như thu hútnhiều đối tượng khách hàng khác nhau, tạo điều kiện giảm thiểu rủi ro, nângcao hiệu quả hoạt động của chính các NHTM

1.1.2 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại

Hiệu quả của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trùkinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực,tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định

Hiệu quả kinh doanh thể hiện quan hệ so sánh giữa kết quả (đầu ra) vànguồn lực hoặc chi phí (đầu vào) của một thực thể kinh doanh để tạo ra kếtquả trong một thời kỳ

Hiệu quả kinh doanh = Kết quả (lợi nhuận, doanh thu, …) / Phương tiện (chi phí, tài sản, doanh thu, vốn chủ sở hữu, …)

Trong hoạt động của NHTM, theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả cóthể được hiểu ở hai khía cạnh như sau:

(1) Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác.

(2) Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng.

Theo Peter S.Rose giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yaleđưa ra: bản chất NHTM có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạtđộng với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro ở mức độ cho phép.Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn vìthu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mởrộng thị phần hoạt động và thu hút được nguồn vốn đầu tư

Trang 19

Theo định nghĩa của cuốn “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế

Anh – Việt” trang 255 của PGS.TS Nguyễn Khắc Minh thì hiệu quả là: “mối

quan hệ giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ”

và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị

trường phân phối tốt như thế nào”.

Theo giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp.GS.TS Ngô Đình Giao, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội - 1997, trang 408,

“hiệu quả biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn

bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó”.

Như vậy, hiệu quả kinh doanh của NHTM thể hiện quan hệ so sánhgiữa đầu ra là các kết quả (lợi nhuận, doanh thu) và đầu vào là các nguồn lực(tài sản, vốn chủ sở hữu, ) hoặc các chi phí của ngân hàng để tạo ra kết quảđó trong một thời kỳ nhất định Hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency - TE)của NHTM phản ánh sự chuyển đổi từ các đầu vào thành các đầu ra tronghoạt động kinh doanh của ngân hàng để đạt được năng suất cao nhất Hiệuquả kinh doanh là một khái niệm hiệu quả tổng quát, trong đó khi đánh giátình hình kinh doanh của ngân hàng thì hiệu quả kinh doanh được phản ánhthông qua hiệu quả kỹ thuật, bởi hiệu quả kỹ thuật đo lường hiệu quả của tìnhtrạng sử dụng các nguồn lực đầu vào để tạo ra các đầu ra sao cho ngân hàngđạt hiệu quả cao nhất

Một đơn vị kinh doanh được coi là đạt hiệu quả Pareto nếu đơn vị đó sửdụng được tối ưu các nguồn lực, có thể hiểu là không thể nào gia tăng thêmcác yếu tố đầu ra với lượng các đầu vào cho trước, hay không thể nào cắtgiảm thêm các yếu tố đầu vào mà không làm giảm sản lượng đầu ra Tập hợpcác điểm hiệu quả Pareto sẽ tạo thành đường giới hạn khả năng sản xuất(Production Possibility Frontier - PPF) Trong hoạt động sản xuất kinh doanh,

Trang 20

bất kỳ người quản lý và điều hành doanh nghiệp nào cũng luôn muốn tránhlãng phí trong quá trình sản xuất Để đạt được những mục tiêu này thì phải tốithiểu hóa sử dụng các đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho, hoặc sử dụngcác đầu vào đã cho phải tối đa hóa các đầu ra Trong trường hợp này, hiệu quả

kỹ thuật (TE) là khả năng cực tiểu hóa sử dụng các đầu vào để sản xuất cácđầu ra cho trước, hoặc khả năng thu được các đầu ra cực đại từ các đầu vàocho trước và mục tiêu tránh lãng phí của các nhà sản xuất trở thành mục tiêuđạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao

Mục tiêu của nhà sản xuất còn đòi hỏi hỏi sản xuất các đầu ra đã chovới chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng các đầu vào đã cho sao cho cực đại hóadoanh thu, hoặc phân bổ các đầu vào và các đầu ra sao cho cực đại hóa lợinhuận Trong trường hợp này, hiệu quả tương ứng được gọi là hiệu quả kinh

tế (Economic Efficiency - EE) Hiệu quả kinh tế là khả năng cho biết kết hợpcác đầu vào nhân tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một mức sảnlượng nhất định và mục tiêu của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt mứchiệu quả kinh tế cao Hiệu quả kinh tế có thể giúp cho việc kiểm tra lợi nhuậncủa hoạt động kinh doanh tốt hơn so với hiệu quả kỹ thuật Tuy nhiên, mụctiêu của bài nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả kinh doanh và giúp cảithiện tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTM không đạt hiệu quả caotrong hoạt động kinh doanh Do đó, bài nghiên cứu chỉ tập trung vào hiệu quả

kỹ thuật, còn hiệu quả kinh tế sẽ không được xem xét đến

Đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM có thể được chia thành hainhóm là: hiệu quả tuyệt đối (hiệu quả hoạt động = kết quả kinh tế – chi phí bỏ

ra để đạt được kết quả đó) và hiệu quả tương đối (dạng tĩnh: hiệu quả hoạtđộng = kết quả kinh tế / chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó và dạng cậnbiên: hiệu quả hoạt động = mức tăng kết quả kinh tế / mức tăng chi phí).Trong đó, hiệu quả tuyệt đối không cho biết khả năng sử dụng tiết kiệm hay

Trang 21

lãng phí các đầu vào Còn hiệu quả tương đối với những chỉ tiêu tương đối tạo

sự dễ dàng khi so sánh theo thời gian và không gian cho phép so sánh hiệuquả giữa các ngân hàng có quy mô khác nhau hoạt động kinh doanh trong cácthời kỳ khác nhau Bài nghiên cứu tập trung vào hiệu quả tương đối của quátrình sử dụng các đầu vào để tạo ra các đầu ra tại các NHTM

1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Phương pháp đánh giá các chỉ số tài chính

Hiện nay để đánh giá hiệu quả hoạt động nói chung của các NHTM,các nhà quản lý, các nhà đầu tư và các nhà phân tích vẫn chủ yếu tiếp cận theophương pháp đánh giá truyền thống đó là đánh giá hoạt động của các ngânhàng qua các chỉ tiêu tài chính

Theo PGS.TS Lâm Chí Dũng (2009) đã phân tích các chỉ tiêu đánh giáhiệu quả hoạt động của NHTM gồm 3 nhóm: nhóm chỉ tiêu phản ánh khảnăng tăng trưởng, nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời, nhóm chỉ tiêuphản ánh rủi ro Trong đó 2 nhóm: nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời

và nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro phản ánh 2 khía cạnh hiệu quả kinh doanhcủa các NHTM với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro ở mức độcho phép

a Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời

Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời, phản ánh tính hiệu quả củamột đồng vốn kinh doanh theo thông lệ quốc tế thường được phản ánh quacác chỉ tiêu sau: tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equities -ROE), tỷ suất sinh lời trên tài sản (Return on Assetts - ROA), tỷ lệ thu nhậplãi suất ròng cận biên (Net interest margin - NIM), tỷ lệ thu nhập phi lãi suấtròng cận biên (Net noninterest margin - NNM), tỷ lệ thu nhập hoạt động ròngcận biên (Net operating margin - NOM), lợi nhuận ròng trước những giao

Trang 22

dịch đặc biệt (Net return prior to special transactions margin - NRST), lợinhuận ròng trên một cổ phần (Earing per Share - EPS), chênh lệch lãi suấtbình quân (CLLBQ).

b Nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro

Cách đánh giá rủi ro có thể được hiểu là việc sử dụng các thông tin từcác báo cáo tài chính và các thông tin quá khứ để đánh giá mức độ rủi ro hiệntại của ngân hàng về một số loại rủi ro chủ yếu như: rủi ro tín dụng, rủi rothanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro vỡ nợ, rủi ro thu nhập

Mô hình CAMELS

Ngoài ra hiện nay, các nhà quản trị ngân hàng cũng quan tâm hơn đếncác chỉ tiêu theo chuẩn mực quốc tế như CAMELS để đảm bảo ổn định chongân hàng phát triển Được đề xuất bởi Liên hiệp Quản trị tín dụng quốc gia(NCUA) vào tháng 10 năm 1987 tại Mỹ, cho đến ngày nay, mô hìnhCAMELS là một trong những mô hình được ứng dụng khá phổ biến để phântích tình trạng hoạt động kinh doanh và rủi ro của các ngân hàng Phân tíchtheo mô hình CAMELS dựa trên 6 chỉ tiêu cơ bản là:

- Mức độ an toàn vốn (Capital)

Trang 23

Mức độ an toàn vốn được thể hiện quả tỷ lệ an toàn vốn (CapitalAdequency Ratio - CAR) được tính theo tỷ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I vàvốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng.

CAR = * 100

- Chất lượng tài sản có (Asset Quality)

- Bộ máy quản trị (Management)

- Khả năng sinh lời (Earnings)

- Tính thanh khoản (Liquidity)

- Mức độ nhạy cảm với rủi ro (Sensitivity to market risk)

Tuy nhiên, do một số chỉ tiêu của CAMELS khó lượng hóa được ở ViệtNam vì thế gây ra sự khó khăn cho các NHTM khi phải tính toán các chỉ tiêutheo chuẩn mực quốc tế Bởi vậy hiện nay các NHTM chỉ sử dụng một số cácchỉ tiêu cơ bản

Tóm lại, trong phân tích hoạt động kinh doanh của các NHTM hiện naythì các chỉ tiêu tài chính vẫn được sử dụng khá phổ biến và chúng khá đơngiản và tương đối dễ hiểu trong phân tích Tuy nhiên chính mức độ đơn giảncủa nó có thể trở thành vấn đề khá phức tạp nếu các nhà quản lý cố gắng đưa

ra một bức tranh tổng thể khi kết hợp nhiều mặt, nhiều khía nhau hoạt độngkhác nhau của ngân hàng Vì mỗi tỷ số chỉ cho biết hay đánh giá mối quan hệ

tỷ lệ giữa hai biến số cụ thể, không có một tỷ số nào cho chúng ta các kết luậntổng quát về tình trạng của một ngân hàng Do đó, trong việc đánh giá tổngquan thực trạng của một ngân hàng cần phải xem xét một loạt các chỉ số Việcxem xét đồng thời hoặc việc tổng hợp các kết quả phân tích từ các tỷ số khácnhau có thể đưa đến nguy cơ nhầm lẫn trong việc đánh giá hoạt động của cácngân hàng vì các chỉ số này chỉ là những chỉ số phân tích đơn

Để khắc phục các nhược điểm trong phân tích của các hệ số tài chính,khoảng vài chục năm gần đây các nhà kinh tế đã ứng dụng phương pháp phân

Trang 24

tích hiệu quả biên để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngânhàng Phương pháp này giúp chúng ta có thể nhìn thấy một bức tranh tổng thểtrong hoạt động kinh doanh của các NHTM

1.2.2 Phương pháp sử dụng mô hình phân tích bao dữ liệu (Data envelopment analysis - DEA)

Bên cạnh cách tiếp cận phân tích chỉ số tài chính truyền thống, hiện naytrên thế giới còn sử dụng phương pháp phân tích hiệu quả biên trong việcđánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng Phương pháp này tính toán điểmhiệu quả tương đối dựa trên việc so sánh khoảng cách của các đơn vị (cácngân hàng) trong mẫu nghiên cứu với một đơn vị (một ngân hàng) thực hiệnhoạt động tốt nhất nằm trên đường biên hiệu quả Như vậy, đường biên hiệuquả đưa ra một tiêu chuẩn so sánh (a yardstick) để đo lường hiệu quả tươngđối của ngân hàng nằm trên đường biên hiệu quả với các ngân hàng kháckhông nằm trên đường biên hiệu quả Phương pháp này cho phép tính đượcđiểm hiệu quả chung của từng ngân hàng dựa trên hoạt động kinh doanh củachúng và cho phép xếp hạng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Cách tiếpcận này còn cho phép các nhà quản lý xác định được một cách tổng quan thực

tế hoạt động của ngân hàng trong hệ thống đánh giá về ngân hàng của họtrong một giai đoạn kinh doanh nhất định và đồng thời cho phép các nhà quản

lý hoạch định chính sách, nâng cao khả năng hoạt động thực tế của ngân hàngvới các bộ phận có thể áp dụng được các chính sách này trong hoạt động kinhdoanh và qua đó cải thiện được hiệu quả hoạt động toàn bộ của ngân hàngtrong tương lai

Phương pháp phân tích hiệu quả biên có thể được chia thành 2 nhóm là:cách tiếp cận tham số và cách tiếp cận phi tham số Cách tiếp cận thông sốgồm có: phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên SFA (Stochastic frontieranalysis), TFA (Thick frontier analysis), DFA (Distribution Free Approach),

Trang 25

RTFA (Recursive thick frontier analysis), và cách tiếp cận phi thông số gồmcó: phương pháp bao dữ liệu DEA (Data envelopment analysi), FDH (FreeDisposal Hull Analysis), Trong 2 cách tiếp cận này, cách tiếp cận tham sốđòi hỏi phải chỉ định một dạng hàm số cụ thể đối với đường biên hiệu quả vàcó chỉ định về phân phối phi hiệu quả hoặc sai số ngẫu nhiên Tuy nhiên, nếuviệc chỉ định dạng hàm số này sai thì kết quả tính toán sẽ không chính xác vàảnh hưởng ngược chiều đến các chỉ tiêu hiệu quả Trong khi đó, cách tiếp cậnphi tham số đòi hỏi các ràng buộc về hình dáng của đường biên thực hiện tốtnhất (đường biên hiệu quả) và cũng không đòi hỏi các ràng buộc về phân phốicủa các nhân tố phi hiệu quả trong dữ liệu như cách tiếp cận tham số, trừ ràngbuộc các chỉ số hiệu quả có giá trị phải nằm trong khoảng từ 0 đến 1 và giả sửkhông có sai số ngẫu nhiên hoặc sai số phép đo trong dữ liệu Bởi vậy, đâycũng chính là hạn chế của phương pháp phi tham số vì phương pháp này rấtnhạy, cho nên nếu có sai số ngẫu nhiên tồn tại trong dữ liệu thì chúng sẽ ảnhhưởng đến kết quả đo lường hiệu quả

Phân tích bao dữ liệu (DEA)

Phân tích bao dữ liệu là một kỹ thuật quy hoạch tuyến tính để đánh giáhiệu quả hoạt động của một đơn vị ra quyết định (Decision Making Unit –DMU) Các đơn vị ra quyết định (DMU) là các đơn vị hoặc thực thể kinh tế

mà sự hiệu quả hoạt động của nó được đo lường bởi một mô hình, các đơn vịnày có tính đồng nhất, cùng hoạt động trong một lĩnh vực giống nhau và cócác biến đầu vào và các biến đầu ra giống nhau so với các đơn vị ra quyếtđịnh khác trong mẫu nghiên cứu Quan điểm này ứng dụng với lĩnh vực tàichính ngân hàng tạo ra một tập hợp các đơn vị ra quyết định gồm các ngânhàng Qua đó, đo lường mức độ hiệu quả của các ngân hàng và so sánh mức

độ hiệu quả của các ngân hàng này với các ngân hàng khác không hiệu quảtrong mẫu nghiên cứu

Trang 26

Trong các ngành hoạt động dịch vụ phức tạp như ngành ngân hàng córất nhiều mối quan hệ giữa các đầu vào và đầu ra không được xác định mộtcách rõ ràng như các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt khi chúng ta xem xétmối quan hệ đồng thời của nhiều đầu vào và nhiều đầu ra trong hoạt độngkinh doanh của ngân hàng Trong khi phương pháp tiếp cận thông số (thôngthường nhất là SFA) đòi hỏi phải chỉ định một cách cụ thể mối quan hệ thôngqua một dạng hàm số giữa các đầu vào và các đầu ra và điều này có thể đưa ranhững kết luận sai nếu việc chỉ định dạng hàm số là không đúng thì phươngpháp phân tích bao dữ liệu (DEA) lại không đòi hỏi xác định dạng hàm số đểđánh giá hiệu quả của các ngân hàng

Trong quy trình hoạt động kinh doanh, các ngân hàng liên tục xoayvòng các đầu vào (tài sản, vốn, ) để tạo thành các đầu ra (lợi nhuận, ) Mốiquan hệ giữa các đầu vào và các đầu ra có thể được diễn tả bởi một đườngbiên hiệu quả thể hiện việc sử dụng các đầu vào để tạo ra các đầu ra tối đa,tức là tối thiểu hóa đầu vào mà không làm thay đổi đầu ra hay còn được gọi làđịnh hướng đầu vào trong sử dụng mô hình phân tích đường biên hiệu quả

Lấy ví dụ đơn giản là trường hợp gồm 5 ngân hàng (A, B, C, D, E) hoạtđộng kinh doanh trong một gian đoạn thời gian nhất định với 2 đầu vào là cáctài sản, vốn chủ sở hữu và 1 đầu ra là lợi nhuận Đường đồng lượng QQ’ đượctạo thành bởi tất cả các sự kết hợp có thể có được giữa các đầu vào để tạo racác đầu ra giống nhau (các đầu ra không thay đổi) Đường đồng phí PP’ làđường diễn tả sự tối thiểu hóa chi phí của các sự kết hợp của các đầu vào vàcác đầu ra trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng

Trang 27

Hình 1.1: Hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả phân bổ (AE)

và hiệu quả kinh tế (EE)

Hiệu quả kỹ thuật là tính hiệu quả của quá trình sử dụng các yếu tố đầu

vào để sản xuất ra một sản lượng đầu ra Một doanh nghiệp được cho là hiệu

quả về mặt kỹ thuật nếu doanh nghiệp đó đang sản xuất các sản lượng đầu ratối đa từ số lượng tối thiểu của các đầu vào như lao động, vốn và công nghệ

Hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency – TE) phản ánh hiệu quả của

quá trình sản xuất các đầu ra tối đa với các đầu vào được cho, hoặc dùng cácđầu vào tối thiểu để sản xuất các đầu ra được cho (Cần lưu ý là các biến đầuvào và các biến đầu ra được diễn tả trong giới hạn các đơn vị, không đượcđịnh giá cả Bởi hiệu quả kỹ thuật đo lường mối quan hệ giữa các đại lượngđầu vào và các đại lượng đầu ra, trong khi hiệu quả kinh tế đo lường mối quan

hệ giữa các giá trị đầu vào và các giá trị đầu ra)

Các ngân hàng C, D và E đạt hiệu quả kỹ thuật tối ưu (TE = 1) bởi vìcác ngân hàng này đang hoạt động trên đường biên hiệu quả (đường đồnglượng QQ’), các điểm hiệu quả của các ngân hàng này bằng 1 (100%) Trongkhi đó, các ngân hàng A và B là không đạt hiệu quả kỹ thuật tối ưu (0 < TE <

Trang 28

1), các ngân hàng này không hoạt động trên đường biên hiệu quả, bởi vì ngânhàng A và ngân hàng B sử dụng nhiều hơn các tài sản có và vốn chủ sở hữu đểsản xuất mức lợi nhuận khi so sánh với các ngân hàng C, D và E Mức khônghiệu quả kỹ thuật của ngân hàng A được xác định bởi khoảng cách EA làlượng mà tất cả các đầu vào được ngân hàng A sử dụng có thể giảm đi mộttheo một tỷ lệ nào đó mà không làm giảm các đầu ra Mức không hiệu quảnày thường được biểu hiện dưới dạng phần trăm và được xác định bằng tỷ số:EA/OA biểu thị tỷ lệ phần trăm mà tất cả các đầu vào có thể giảm mà khônglàm thay đổi đầu ra Hiệu quả kỹ thuật của ngân hàng A được đo bằng tỷ số:

TE = = 1 -

(Với 0 ≤ TE ≤ 1)Ngân hàng được đánh giá là hoạt động hiệu quả tối đa khi có TE = 1,tức điểm A nằm trên đường biên hiệu quả (đường đồng lượng QQ’)

Hiệu quả phân bổ (Allocative efficiency – AE) phản ánh khả năng củangân hàng Asử dụng các đầu vào theo các tỷ lệ tối ưu, khi giá cả tương ứngcủa chúng đã biết Tỷ lệ phân bổ các yếu tố đầu vào được thể hiện qua đườngđồng phí PP’, tiếp tuyến với QQ’ tại D Theo đó, hiệu quả phân bổ của ngânhàng A được đo bằng tỷ số:

AE =

(Với 0 ≤ AE ≤ 1)Khoảng cách EA’ biểu thị khoản chi phí kinh doanh có thể được cắtgiảm của ngân hàng A nếu kinh doanh tại điểm hiệu quả phân bổ D, thay vìđiểm hiệu quả kỹ thuật nhưng không hiệu quả phân bổ E

Hiệu quả kinh tế (Economic Efficiency - EE) là tích của 2 độ đo hiệuquả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Như vậy, hiệu quả kinh tế của ngân hàng Ađược xác định như sau:

EE = = = AE TE

Trang 29

(Với 0 ≤ EE ≤ 1)Trong bài nghiên cứu này chỉ đo lường và phân tích hiệu quả kỹ thuật(TE), còn hiệu quả phân bổ (AE) và hiệu quả kinh tế (EE) sẽ không được xemxét đến

Trên thực tế, chúng ta không thể có đường đồng lượng là dạng đườngcong như đồ thị trên Bởi vì, để có được đường đồng lượng (đường biên hiệuquả) chúng ta phải ước lượng từ số liệu mẫu Farell (1957) đã gợi ý sử dụngmột đường đồng lượng lồi tuyến tính từng khúc phi tham số được xây dựngnhư đồ thị sau sao cho không có điểm quan sát nào nằm bên trái hoặc ở phíadưới nó

Hình 1.2: Đường đồng lượng lồi tuyến tính từng khúc

Hiệu quả kỹ thuật trong trường hợp nhiều đầu vào và nhiều đầu ra

Giả sử có n các ngân hàng (j= 1, , n) sử dụng m các đầu vào xij (i=1, , m) và sản xuất s các đầu ra yrj (r = 1, , s) Phương pháp DEA phân tíchhiệu quả kỹ thuật của ngân hàng jo được so sánh với số lượng n - 1 các ngânhàng khác trong mẫu Với định hướng đầu vào (tối thiểu hóa đầu vào) điểmhiệu quả kỹ thuật (TE) của ngân hàng jo được xác định bởi công thức dạngphân số sau đây:

Max h o =

Trang 30

ho : điểm hiệu quả kỹ thuật của ngân hàng jo.

: giá trị phi Archimedean (10-6 đến 10-8) để thi hành điều kiện thỏa mãnràng buộc các trọng số đều dương

yrj : lượng đầu ra thứ r được sản xuất bởi ngân hàng j

xij : lượng đầu vào thứ i được sử dụng bởi ngân hàng j

ur : trọng số của đầu ra r

vi : trọng số của đầu vào i

n : số lượng các ngân hàng

s : số lượng các đầu ra được sản xuất bởi mỗi ngân hàng

m : số lượng các đầu vào được sử dụng bởi mỗi ngân hàng

jo : là ngân hàng được đáh giá trong tập hợp của j = 1, ,n các ngânhàng được đánh giá

Dạng thiết lập phân số ở trên hàm ý rằng: hiệu quả kỹ thuật (TE) củangân hàng jo được tối đa hóa (tỷ lệ ho được cực đại hóa để lựa chọn các trọng

số tối ưu) phụ thuộc vào sự so sánh tương đối với điểm hiệu quả của tất cả cácngân hàng khác trong mẫu nghiên cứu, do đó điểm hiệu quả tương đối của tấtcả các ngân hàng bị ràng buộc trong khoảng từ 0 đến 1 (TE 1) Nếu điểmhiệu quả bằng 1 (hiệu quả kỹ thuật tối ưu) hoặc nhỏ hơn 1 (không hiệu quả kỹthuật), giá trị càng cao hơn thì hiệu quả càng cao hơn, và ngược lại

Với ràng buộc thứ nhất để đảm bảo độ đo hiệu quả lớn nhất bằng 1 vàràng buộc thứ hai để đảm bảo các trọng số của đầu vào và của đầu ra không

Trang 31

âm Tuy nhiên, vấn đề gặp phải của dạng toán này là nó tồn tại vô số nghiệm.

Do đó, để khắc phục vấn đề này, Charnes, Cooper và Rhodes (1978) đã đưathêm ràng buột thứ ba:

= 1

Có 2 giả định thường được sử dụng trong mô hình DEA là: hiệu quảkhông biến đổi theo quy mô (Constant return to scale – CRS) và hiệu quả biếnđổi theo quy mô (Variable return to scale – VRS) Giả định CRS cho phép sosánh các ngân hàng lớn và các ngân hàng nhỏ, còn giả định VRS chỉ cho phép

so sánh các ngân hàng có quy mô tương tự nhau

- Hiệu quả không biến đổi theo quy mô (CRS) nghĩa là: Nếu các đầuvào tăng thì các đầu ra sẽ không tăng với một tỷ lệ tương ứng, hoặc các đầuvào giảm thì các đầu ra sẽ không giảm với một tỷ lệ tương ứng (ví dụ nếu cácđầu vào tăng gấp đôi thì các đầu ra sẽ không tăng gấp đôi)

- Hiệu quả biến đổi theo quy mô (VRS) nghĩa là: Nếu các đầu vào tăngthì các đầu ra sẽ tăng với một tỷ lệ tương ứng, hoặc các đầu vào giảm thì cácđầu ra sẽ giảm với một tỷ lệ tương ứng (ví dụ nếu các đầu vào tăng gấp đôi thìcác đầu ra sẽ tăng gấp đôi)

Với giả định hiệu quả không biến đổi theo quy mô (CRS), mô hình trênđược thiết lập lại trong dạng toán quy hoạch tuyến tính như sau:

Trang 32

đầu vào đối với ngân hàng jo bằng 1 Ràng buộc thứ hai hàm ý rằng tất cả các

ngân hàng nằm phía trên hoặc phía dưới đường biên hiệu quả Các trọng số u r

và v i được xử lý như các biến số chưa biết và chúng được đạt được trong giảipháp thiết lập sự quy hoạch tuyến tính

Giả định CRS chỉ phù hợp với điều kiện khi tất cả các ngân hàng trongmẫu nghiên cứu đang hoạt động ở một quy mô tối ưu Tuy nhiên trên thực tếcho thấy đôi khi sự cạnh tranh là không hoàn hảo, các ngân hàng bị ràng buộc

về mặt tài chính, chính các nguyên nhân này có thể làm cho ngân hàng hoạtđộng không ở mức quy mô tối ưu Do đó, với giả định VRS, Banker, Charnes

và Cooper (1984) đề xuất mô hình BCC, mô hình này được thiết lập lại trongdạng toán quy hoạch tuyến tính có đưa thêm biến số uo như sau:

- Nếu uo < 0, mô hình hiệu quả biến đổi theo quy mô tăng dần

- Nếu uo = 0, mô hình hiệu quả biến đổi theo quy mô không đổi

- Nếu uo > 0, mô hình hiệu quả biến đổi theo quy mô giảm dần

Biến tự do uo được thêm vào trong mô hình làm giảm bớt điều kiện củagiả định CRS bằng giới hạn bề mặt bao dữ liệu (the envelopment surface) đếngốc tọa độ Trong mô hình BCC, uo tương đương với ràng buột trong dạng

đối ngẫu của mô hình đảm bảo rằng ngân hàng không hiệu quả chỉ được chấm điểm (benchmarked) với các ngân hàng còn lại có quy mô tương tự với nhau.

Trang 33

Dạng đối ngẫu (Dual program) của mô hình BCC định hướng đầu vào

(các đầu vào được tối thiểu hóa) được thiết lập như sau:

: trọng số của các đầu vào và các đầu ra của ngân hàng jo

: độ chùng đầu vào thứ i của ngân hàng jo (là lượng đầu vào còn dưthừa (the input excesses) của đầu vào thứ i trong khi tối ưu hóa các đầu vàocủa ngân hàng jo được sử dụng)

: độ chùng đầu ra thứ r của ngân hàng jo (là lượng đầu ra bị thiếu hụt(the output shortfalls) của đầu ra thứ r trong khi tối ưu hóa các đầu ra củangân hàng jo được sản xuất ra)

Ngoài ra, trong phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) cần hiểu rõ

về sự dịch chuyển về tâm (radial movement hay proportionate movement) và

sự dịch chuyển lỏng lẻo (slack movement) trong phân tích sự cải thiện tiềmnăng đối với các đơn vị ra quyết đinh (DMUs) trong nghiên cứu để nâng caohiệu quả kỹ thuật (TE) của các đơn vị này Lấy một ví dụ để giải thích rõ hơn

về ý nghĩa các độ chùng (slacks) trong mô hình DEA Giả sử có 5 đơn vị raquyết định (DMU1, DMU2, DMU3, DMU4, DMU5,) cùng sử dụng 2 đầu vào là

x1 và x2 trong hoạt động sản xuất kinh doanh với định hướng đầu vào, tức làtối thiểu hóa các đầu vào x1 và x2 để đạt được hiệu quả

Trang 34

Hình 1.3: Sự dịch chuyển về tâm và sự dịch chuyển lỏng lẻo

Trong đồ thị trên, các DMU1, DMU2, DMU3 và DMU4 đều đạt hiệu quả

kỹ thuật và cùng nằm trên đường biên hiệu quả ABCD Trong đó, DMU2 làđiểm chuẩn (điểm đối chiếu cần dịch chuyển đến để đạt được hiệu quả kỹthuật) của DMU5, do đó DMU5 nên giảm các đầu vào x1 và x2 đang sử dụngvới một lượng tương đương ứng với giá trị của đoạn thẳng BE trên đồ thị từđiểm E dịch chuyển đến điểm B tương ứng với các mức đầu vào x1 và x2 được

sử dụng bởi DMU2 và khi đó DMU5 đạt được hiệu quả kỹ thuật tối ưu (TE =1) (sự dịch chuyển này gọi là sự dịch chuyển về tâm) Trong khi đó, DMU4 dùnằm trên đường biên hiệu quả nhưng được đánh giá là hiệu quả yếu (weaklyefficiency) Do đó DMU4 có thể giảm đầu vào x2 với một lượng tương đươngứng với giá trị của đoạn thẳng CD trên đồ thị từ điểm D dịch chuyển đến điểm

C và khi đó DMU3 để đạt hiệu quả kỹ thuật tối ưu (TE = 1), sự giảm đầu vàomột cách riêng lẻ này được gọi là độ chùng đầu vào ( (sự dịch chuyển này gọi

là sự dịch chuyển lỏng lẻo)

Bảng 1.1: Các mô hình toán học dưới dạng đối ngẫu của

mô hình CCR định hướng đầu vào và mô hình BCC định hướng đầu vào

Dạng đối ngẫu (Dual program) của

mô hình CCR định hướng đầu vào

Dạng đối ngẫu (Dual program) của

mô hình BCC định hướng đầu vào

Trang 35

≥ 0

Sự giải thích các kết quả của các mô hình dạng đối ngẫu của hai môhình CCR và BCC có thể được tóm tắt như sau:

(i) Với giả định CRS, ngân hàng mục tiêu jo đạt hiệu quả khi và chỉ khi

θCCR = 1 và với tất cả i và r Ngược lại, nếu θCCR < 1 thì ngân hàng mục tiêu jo

được đánh giá là không hiệu quả, khi đó ngân hàng mục tiêu jo có thể tăng cácmức đầu vào của nó hoặc giảm mức đầu ra của nó

Với giả định VRS, ngân hàng mục tiêu jo đạt hiệu quả khi và chỉ khi

BCC = 1 và với tất cả i và r Ngược lại, nếu BCC < 1 thì ngân hàng mục tiêu jo

được đánh giá là không hiệu quả, khi đó ngân hàng mục tiêu jo có thể tăng cácmức đầu vào của nó hoặc giảm mức đầu ra của nó

(ii) Phần phía bên trái của mô hình dạng đối ngẫu được gọi là tập hợptham khảo hiệu quả (the efficiency refenrence set) và phần phía bên phải thểhiện một ngân hàng riêng biệt đang được đánh giá Giá trị tối ưu của trọng số

≠ 0 thể hiện các tiêu chuẩn (the benchmarks) cho một ngân hàng riêng biệtđang được đánh giá Tập hợp tham khảo hiệu quả cung cấp các trọng số () đểxác định ngân hàng đạt hiệu quả Tập hợp tham khảo hiệu quả hoặc còn đượcgọi là mục tiêu hiệu quả (the efficient target) chỉ ra các đầu vào có thể đượcgiảm và các đầu ra tăng lên như thế nào để làm cho ngân hàng đang đượcđánh giá đạt được hiệu quả

Trang 36

Sự phân tách của hiệu quả kỹ thuật (TE) bao gồm: hiệu quả kỹ thuậtthuần (PTE) và hiệu quả quy mô (SE) liên quan đến nguồn lực tạo ra sựkhông hiệu quả của các đơn vị ra quyết định (DMUs) được đánh giá trong môhình DEA

Hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả kỹ thuật toàn bộ (Technical efficiency – TE) là hiệu quả kỹ thuật đạt được trong mô hình CCR với giả

định hiệu quả không biến đổi theo quy mô (CRS)

Quy mô của các đơn vị ra quyết định (DMU), đặc biệt là các doanhnghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ như NHTM có thể ảnhhưởng nhiều đến khả năng của các đơn vị này trong quá trình cung cấp cácdịch vụ một cách hiệu quả Trong trường hợp này, với giả định hiệu quảkhông biến đổi theo quy mô (CRS) là không còn thích hợp Do đó, giả địnhhiệu quả biến đổi theo quy mô (VRS) được áp dụng để phân tích hiệu quả kỹthuật của các đơn vị này trong mô hình DEA

Hiệu quả kỹ thuật thuần (Pure technical efficiency – PTE) là hiệu

quả kỹ thuật đạt được trong mô hình BCC với giả định hiệu quả biến đổi theoquy mô (VRS) Do đó, khi điểm hiệu quả được đánh giá dưới giả định VRS,các điểm hiệu quả kỹ thuật thuần (PTE) của các đơn vị ra quyết định (DMU)được đánh giá cho biết phần không hiệu quả kỹ thuật được tạo ra từ các nhân

tố phi quy mô (non – scale factors) gây ra Các điểm hiệu quả kỹ thuật thuần(PTE) đạt được trong mô hình BCC với giả định VRS sẽ cao hơn hoặc bằngcác điểm hiệu quả kỹ thuật tương ứng theo từng đơn vị ra quyết định (DMU)đạt được trong mô hình CCR với giả định CRS joBCC ≥ θjoCCR

Hiệu quả quy mô (Scale efficiency - SE) làtỷ số giữa điểm hiệu quả kỹ

thuật toàn bộ (TE) trong mô hình CCR và điểm hiệu quả kỹ thuật thuần (PTE)trong mô hình BCC SE = θjoCCR / joBCC Một ngân hàng được đánh giá (ngânhàng mục tiêu jo) đạt được hiệu quả quy mô tối ưu (SE = 1) cho thấy ngân

Trang 37

hàng này đang hoạt động ở mức quy mô tối ưu Nếu ngân hàng này không đạtđược hiệu quả quy mô tối ưu (SE < 1) thì có thể phân tích thêm để đánh giángân hàng này quy mô quá nhỏ (too small) tương ứng với hiệu quả biến đổitheo quy mô tăng dần (increasing returns to scale) hay ngân hàng này quy môquá lớn (too large) tương ứng với hiệu quả biến đổi theo quy mô giảm dần(decreasing returns to scale) Mối quan hệ giữa điểm hiệu quả trong mô hìnhCCR và mô hình BCC là: joBCC ≥ θjoCCR, do đó, SEjo ≤ 1 Nếu SEjo =1 thì ngânhàng mục tiêu jo được đánh giá là đạt hiệu quả quy mô, ngược lại SEjo < 1 thìngân hàng mục tiêu jo được đánh giá là không hiệu quả quy mô

Hình 1.4: Hiệu quả kỹ thuật toàn bộ (TE), hiệu quả kỹ thuật thuần (PTE) và hiệu quả quy mô (SE)

TE = PTE x SE

TE = y 3 /y 1

PTE = y 3 /y 2

SE = y 2 /y 1

Trang 38

Như vậy, qua mô hình DEA cho thấy có 2 nguyên nhân gây ra tínhkhông hiệu quả về mặt kỹ thuật toàn bộ (TE) Nguyên nhân thứ nhất là tínhkhông hiệu quả về kỹ thuật thuần (PTE) Nguyên nhân thứ hai là tính khônghiệu quả về quy mô (SE) Nếu không có những khác biệt về môi trường kinhdoanh và các sai số ngẫu nhiên trong việc xác định các yếu tố đầu vào và cácsản phẩm đầu ra, tính không hiệu quả về kỹ thuật thuần sẽ phản ánh sự chệchhướng khỏi việc quản lý so với ngân hàng hiệu quả tốt nhất Do đó kết quảcủa DEA bao gồm các thước đo: hiệu quả kỹ thuật toàn bộ (TE), hiệu quả kỹthuật thuần (PTE), hiệu quả quy mô (SE) của mỗi ngân hàng.

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.3.1 Các nhân tố ngoại sinh

Nhóm nhân tố ngoại sinh (các nhân tố khách quan) chính là các nhân tốbên ngoài tác động đến các NHTM bao gồm:

a Môi trường về kinh tế, chính trị và xã hội trong và ngoài nước

NHTM là một tổ chức trung gian tài chính có vai trò là cầu nối giữakhu vực tiết kiệm và khu vực đầu tư trong nền kinh tế Vì đóng vai trò trunggian nên NHTM luôn chịu những biến động của môi trường kinh tế, chính trịtrong và ngoại nước tác động tạo những điều kiện thuận lợi hoặc gây ra nhữngkhó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Khi nền kinh tế có tốc

độ tăng trưởng cao, tỷ lệ lạm phát được kiểm soát, nhiều doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh có lợi nhuận thì sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động kinhdoanh của ngân hàng Ngược lại, khi nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng giảm,

tỷ lệ lạm phát cao, nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thu lỗ, phá sản thì

sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngoài ra, sựảnh hưởng của hệ thống tài chính quốc tế sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng như sự tăng hoặc giảm tỷ giá, sự tác động của

Trang 39

các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hoặc sự tăng giảm giá vàng, giá dầu

sẽ ảnh hưởng đến nguồn tiền đầu tư vào các ngành khác nhau, trong đó ảnhhưởng đến hoạt động huy động tiền gửi và cho vay của NHTM

b Môi trường pháp ly

NHTM là loại tổ chức kinh tế được sự theo dõi và quản lý nghiêm ngặtcủa Chính Phủ và NHNN Bởi lẽ, các chính sách tiền tệ đều được thực hiệnqua hệ thống NHTM như tăng trưởng dư nợ tín dụng để bơm tiền vào nềnkinh tế hay thắt chặt dư nợ tín dụng để hút tiền của nền kinh tế đảm bảo chonền kinh tế quốc gia hoạt động nhịp nhàng và ổn định Chính Phủ và NHNNquy định các luật, thông tư về sự hoạt động kinh doanh của các NHTMnhằm tránh tình trạng đỗ vỡ, phá sản của một ngân hàng thương mại trong hệthống NHTM sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng,làm chao đảo sự ổn định tài chính của quốc gia, kéo theo nhiều hệ quả xấu.Môi trường pháp lý rõ ràng, minh bạch, phù hợp, kịp thời với từng giai đoạngiai đoạn cụ thể sẽ giúp các NHTM nói riêng và hệ thống ngân hàng nóichung sẽ hoạt động và phát triển ổn định, đúng định hướng phát triển củaChính phủ và NHNN đề ra nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng

1.3.2 Nhóm nhân tố nội sinh

Nhóm nhân tố nội sinh (các nhân tố chủ quan) chính là các nhân tố bêntrong của chính các NHTM bao gồm:

a Năng lực tài chính của một NHTM

Năng lực tài chính của một NHTM thường được biểu hiện trước hết làqua khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu thể hiện sứcmạnh tài chính của một ngân hàng Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tớiquy mô kinh doanh của ngân hàng như: khả năng huy động và cho vay vốn,khả năng đầu tư tài chính và trình độ trang bị công nghệ Thứ hai, khả năngsinh lời cũng là một nhân tố phản ánh về năng lực tài chính của một ngân

Trang 40

hàng vì nó thể hiện tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh Thứ ba là khảnăng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro của một ngân hàng cũng là nhân tố phảnánh năng lực tài chính Nếu nợ xấu tăng thì dự phòng rủi ro cũng phải tăng để

bù đắp rủi ro, có nghĩa là khả năng tài chính cho phép sử dụng để bù đắp tổnthất có thể xảy ra Ngược lại, nếu nợ xấu tăng nhưng dự phòng rủi ro không

đủ để bù đắp có nghĩa là tình trạng tài chính xấu và năng lực tài chính bù đắpcho các khoản chi phí này bị thu hẹp

Ngày đăng: 06/04/2018, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Nguyễn Thị Hồng Vinh (2012), Evaluating the efficiency and productivity of Vietnamese commercial banks: A data envelopment analysis and Malmquist index, The VNU Journal of Science, Economics and Business 28, No.2 (2012) 103 - 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating the efficiency and productivityof Vietnamese commercial banks: A data envelopment analysis andMalmquist index
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Vinh
Năm: 2012
[4] Jelena Titko (2014), DEA application in banking: relationship between efficiency scores and bank size, The International Scientific Conference, May 15 – 16, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: DEA application in banking: relationship betweenefficiency scores and bank size
Tác giả: Jelena Titko
Năm: 2014
[5] Sufian, Fadzlan (2004), The efficiency effects of bank mergers and acquisitions in a developing economy: evidence from Malaysia, The International Journal of Applied Econometrics and Quantitative Studies Vol.1-4 (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sufian, Fadzlan (2004), "The efficiency effects of bank mergers andacquisitions in a developing economy: evidence from Malaysia
Tác giả: Sufian, Fadzlan
Năm: 2004
[6] Ji Li Hu, Chiang Ping Chen và Yi Yuan Su (2006), Ownership reform and efficiency of nationwide banks in China, The Institute of Business and Management, National Chiao Tung University, Taiwan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ownership reform andefficiency of nationwide banks in China
Tác giả: Ji Li Hu, Chiang Ping Chen và Yi Yuan Su
Năm: 2006
[7] Fukuyama, H. (1993), Technical and scale efficiency of Japanese commercial banks: a non – parametric approach, The Journal off Banking and Finance, 20, pp. 745 – 771 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technical and scale efficiency of Japanesecommercial banks: a non – parametric approach
Tác giả: Fukuyama, H
Năm: 1993
[8] Abdel Anouze (2010), Evaluating productive efficiency comparative study of commercial banks in Gulf countries, Doctoral Thesis - The Asston University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating productive efficiency comparativestudy of commercial banks in Gulf countries
Tác giả: Abdel Anouze
Năm: 2010
[12] Ismail, M (2004), A DEA Analysis of Banks Performance in Malaysia, Cardiff Business School, University of Wales Sách, tạp chí
Tiêu đề: A DEA Analysis of Banks Performance in Malaysia
Tác giả: Ismail, M
Năm: 2004
[13] Pasiouras, F (2006), Estimanting the Technical and Scale Efficiency of the Greek Commercial Banks, 2006, School of Management, University of Bath Performent of Conventional banks in Singapore, Journal of Banking and Finance, 26, 79 – 98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimanting the Technical and Scale Efficiency ofthe Greek Commercial Banks, 2006
Tác giả: Pasiouras, F
Năm: 2006
[14] Yang, J. (2005), A Thesis presented to the University of Waterloo in fullfillment of the thesis requirement for the degree of Master of Applied Science in Civil Engineering Waterloo, Ontario, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Thesis presented to the University of Waterloo infullfillment of the thesis requirement for the degree of Master ofApplied Science in Civil Engineering Waterloo
Tác giả: Yang, J
Năm: 2005
[9] Ehab A.Hammad (2007), Mesuring the technical efficiency of the banking sector in Palestine using the data envelopment analysis approach Khác
[10] Cooper, W.W.; Seiford, L.M.; Tone, K. (2007), Data Envelopment Analysis - A Comprehensive Text with Models, Applications, References and DEA - Solver Software Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w