Hơn một nửa các doanh nghiệp ngành ôtô tham gia cuộc điều tra cho rằng số lượng các nhà cung ứng sẽ tăng vào năm 2020, trái ngược so với xu hướng của những thập kỷ trước.. Các nhà sản xu
Trang 1DỰ BÁO KINH TẾ THẾ GIỚI 2020 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN
MỘT SỐ NGÀNH KINH TẾ
I KHÁI QUÁT TRIỂN VỌNG KINH TẾ THẾ GIỚI 2006 - 2020
Năm 2020, quy mô nền kinh tế thế giới dự báo sẽ tăng thêm khoảng 2/3 so với năm 2005 với mức tăng GDP trung bình 3,5%/năm trong giai đoạn 2006-2020 (tương đương mức tăng của 25 năm trước đây) Hai nước có dân số đông nhất thế giới, Trung Quốc và Ấn Độ, sẽ nằm trong số các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới
Tỷ trọng GDP châu Á trong GDP toàn thế giới dự báo sẽ tăng lên 43% vào năm 2020 so với 35% năm 2005 Trong giai đoạn 2006-2020, Nga, Braxin và Mêhicô dự báo sẽ tăng trưởng khoảng 3%/năm; Trung Đông và Bắc Phi dự báo sẽ tăng trưởng 4%/năm Đặc biệt tốc
độ tăng trưởng của khu vực Cận Xahara châu Phi sẽ chỉ đạt dưới 3%/năm, phần nào do tác động của đại dịch AIDS Tại châu Mỹ Latinh, tăng trưởng GDP bình quân đầu người sẽ chỉ
đủ để ngăn không cho khoảng cách với các nước phát triển tăng thêm Xét về GDP bình quân đầu người, Cận Xahara châu Phi sẽ còn tiếp tục tụt hậu
Tiêu dùng trên thế giới, tính theo USD áp dụng tỷ giá thị trường, sẽ tăng mạnh, trung bình 5,6%/năm, từ mức 27.000 tỷ USD hiện nay lên mức 62.000 tỷ USD vào năm 2020 Xét về sức mua tính theo USD, Mỹ tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới, chiếm gần 1/3 tiêu dùng toàn cầu Tuy nhiên, tiêu dùng tăng chủ yếu tại các thị trường đang nổi Trung Quốc dự báo sẽ là thị trường tiêu thụ lớn thứ hai thế giới Ấn Độ hoặc thị trường châu Âu sẽ giữ vị trí thứ ba vào năm 2020
Năm 2020, Trung Quốc sẽ có ngành công nghệ lớn nhất thế giới Trung Quốc cũng sẽ thay thế Đức trở thành nước có lượng khách du lịch ra nước ngoài lớn nhất vào đầu những năm
2010 Đến năm 2020, lượng xe ô tô tại Trung Quốc sẽ lớn hơn so với Mỹ Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để đề cập đến “một thế kỷ châu Á” Tỷ trọng của Mỹ và EU trong tổng thu nhập của thế giới sẽ tương tự mức hiện nay, mỗi khu vực chiếm 20% tính theo sức mua tương đương (PPP) Tỷ trọng của Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tăng lên, trong đó tỷ trọng của Trung Quốc có thể ngang bằng với Mỹ và EU vào năm 2020 Điều này cũng đồng nghĩa với việc tỷ trọng của Nhật Bản giảm
Tăng trưởng kinh tế chung của EU sẽ chậm lại do việc tiếp nhận thêm các thành viên mới Tính đến năm 2020, EU sẽ bao gồm tất cả các nước vùng Bancăng và Thổ Nhĩ Kỳ Bungary và Rumani dự kiến sẽ gia nhập EU vào năm 2007 hoặc 2008, và khoảng hai năm sau đó là Crôatia EU với 25 nước thành viên hiện nay sẽ trở thành liên minh của trên 30 nước vào năm 2020
Mỹ sẽ sản xuất ra sản lượng tương đương với EU mặc dù dân số ít hơn Khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người sẽ tiếp tục tăng do EU tiếp nhận thêm các thành viên mới là những nước nghèo hơn GDP bình quân đầu người của EU15 bằng khoảng 70% so với Mỹ vào năm 2000 Tỷ lệ này đã giảm xuống còn 65% đối với EU25 vào năm 2005, phần lớn là do việc mở rộng EU vào năm 2004 với việc tiếp nhận các nước nghèo hơn rất nhiều so với các
Trang 2nước EU15, ngoài ra còn do kinh tế châu Âu tăng trưởng kém hơn vào nửa đầu thập kỷ này.
Dự báo thu nhập bình quân đầu người của EU33 sẽ chỉ bằng 56% của Mỹ vào năm 2020 Trong năm 2020, Mỹ tiếp tục là nước dẫn đầu về thương mại, mặc dù tỷ trọng của Mỹ trong giá trị xuất nhập khẩu của toàn thế giới sẽ giảm nhẹ, từ 14% năm 2005 xuống 12% năm
2020 Trung Quốc sẽ thay thế Đức ở vị trí thứ hai và gần bắt kịp Mỹ vào năm 2020 Ấn Độ sẽ nhảy vọt từ vị trí thứ 24 hiện nay lên vị trí thứ 10, tuy nhiên cũng chỉ chiếm 3% tổng thương mại toàn cầu
Mỹ
Tăng trưởng GDP tiềm năng của Mỹ sẽ ở mức gần 3%/năm trong thời gian tới, chủ yếu là
do tăng năng suất lao động, kết quả của việc Mỹ đầu tư vào ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông (ICT) Những nghiên cứu trước đây của Cơ quan tình báo kinh tế Anh (EIU) cho thấy ICT là nhân tố chính tạo nên sự chênh lệch về năng suất lao động xuyên Đại Tây Dương
Mỹ được dự báo sẽ tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu về ứng dụng ICT trong 15 năm tới
Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế Mỹ còn do lực lượng lao động tăng Trong số các nước phát triển, dân số Mỹ tiếp tục có mức tăng tương đối cao Trong vòng 15 năm tới, lượng người nhập cư lớn và tỷ lệ sinh cao tại Mỹ sẽ khiến dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục tăng Ngược lại, tại EU, mặc dù cho phép nhập cư, dân số trong độ tuổi lao động dự báo sẽ tăng chậm lại hoặc giảm trong vòng 15 năm tới Tốc độ tăng dân số trong độ tuổi lao động trung bình hàng năm của Mỹ dự báo đạt 0,5%/năm (giảm từ mức gần 1%/năm trong thập kỷ này xuống còn 0,3%/năm giai đoạn 2010-2020)
Châu Âu
Kinh tế châu Âu dự báo sẽ tăng trưởng khoảng 2%/năm trong giai đoạn 2006-2020 Vào năm 2020, EU sẽ có dân số trên 600 triệu người, cao hơn 80% so với dân số Mỹ Sự tăng lên này chủ yếu do EU tăng số nước thành viên (dân số EU25 sẽ không tăng đáng kể, dự báo chỉ đạt 470 triệu người năm 2020 so với mức 460 triệu người hiện nay) Chỉ riêng việc gia nhập của Thổ Nhĩ Kỳ sẽ làm dân số EU tăng thêm 84 triệu người vào năm 2020, chiếm 13,8% tổng dân số EU
Tốc độ tăng trưởng GDP tại các nước thành viên gia nhập EU năm 2004 sẽ vào khoảng 3,5%/năm trong giai đoạn 2006-2020, tương đương mức trung bình của thế giới Mặc dù tăng trưởng cao hơn, các nước thành viên Đông Âu mới dự báo chưa thể bắt kịp các nước EU15 Thu nhập bình quân đầu người của những nước thành viên mới sẽ chỉ tăng từ mức dưới 50% thu nhập bình quân của EU15 vào thời điểm 2004 lên 60% vào năm 2020
Tại các nền kinh tế châu Âu lớn, không giống như Mỹ, tốc độ tăng năng suất lao động đã giảm từ giữa những năm 90 Tuy nhiên, năng suất lao động có thể tăng trở lại do nhiều nền kinh tế châu Âu đang tiến hành cải cách thị trường lao động và cải cách thuế Tăng trưởng của châu Âu đã giảm xuống mức dưới 2% trong một thập kỷ qua Trong thời gian tới, mặc dù tốc
độ tăng trưởng được cải thiện, EU vẫn tụt lại so với Mỹ và khó có thể vượt qua Mỹ
Triển vọng kinh tế Nga trong dài hạn tương đối khó dự báo, tăng trưởng GDP bình quân
Trang 3đầu người trong dài hạn dự báo chỉ đạt mức khiêm tốn là 3,7%/năm Về mặt tích cực, tình hình chính trị tại Nga được cải thiện rất nhiều và kinh tế vĩ mô ổn định trong những năm gần đây Tuy nhiên, môi trường kinh doanh vẫn còn nhiều trở ngại Vai trò của kinh tế nhà nước ngày càng tăng có thể hạn chế sự phát triển kinh tế tư nhân Đồng thời, Nga đang phải đối mặt với một vấn đề nhân khẩu học nghiêm trọng xuất phát từ việc tỷ lệ sinh thấp, tình trạng chăm sóc sức khoẻ yếu kém và nguy cơ bùng nổ đại dịch AIDS Dân số trong độ tuổi lao động của Nga có thể sẽ giảm đáng kể vào năm 2020
Châu Á
Phần lớn các nền kinh tế châu Á sẽ duy trì mức tăng trưởng cao Tăng trưởng GDP của cả khu vực dự báo đạt 4,9%/năm trong giai đoạn 2006-2020, chủ yếu do sự mở cửa, bắt kịp về năng suất lao động, chất lượng lao động tương đối cao, sự phát triển của ICT, và những cải cách về thể chế Trong một số trường hợp, chủ yếu ở Nam Á, các nhân tố về nhân khẩu học sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng nhanh
Tăng trưởng GDP của Trung Quốc dự báo sẽ chậm lại, từ mức 8,7%/năm giai đoạn
2001-2005 xuống còn 6%/năm giai đoạn 2006-2020 Tuy nhiên, mức tăng trưởng trung bình 6%/năm của Trung Quốc trong giai đoạn 2006-2020 vẫn rất ấn tượng Thế mạnh của Trung Quốc là cơ sở hạ tầng tốt, thị trường lao động linh hoạt, hệ thống y tế khá tốt, lao động có kỹ năng tương đối cao và không có bất kỳ rào cản nào đối với đầu tư nước ngoài và việc thiết lập
cơ sở kinh doanh tại Trung Quốc Khả năng bắt kịp về năng suất lao động một cách nhanh chóng có thể duy trì trong nhiều năm Trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ tiếp tục là nước thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hàng đầu
Sự hội nhập ngày càng tăng vào nền kinh tế toàn cầu và yếu tố nhân khẩu học thuận lợi cho phép Ấn Độ có thể duy trì mức tăng trưởng 5,9%/năm trong giai đoạn 2006-2020 Ấn Độ
là nước có nền dân chủ tốt, hệ thống luật pháp công bằng Tuy nhiên, do ngành công nghệ thông tin của Ấn Độ chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong GDP nên ngành này khó có thể trở thành động lực tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Tăng trưởng kinh tế sẽ phụ thuộc nhiều vào việc hiện đại hoá ngành nông nghiệp và ngành chế tác
Triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản khá ảm đạm Trong vòng 15 năm tới, dân
số trong độ tuổi lao động của Nhật Bản sẽ giảm với tốc độ trung bình 1%/năm Tiềm năng tăng trưởng sản lượng sẽ thấp do lực lượng lao động giảm và năng suất lao động ít được cải thiện Theo đó, tăng trưởng GDP thực tế của Nhật Bản dự báo sẽ chỉ đạt trung bình 0,7%/năm trong giai đoạn 2006-2020
Vào năm 2020, một số nền kinh tế của khu vực sẽ bắt kịp Mỹ, như Xingapo, hoặc gần với
Mỹ, như Hồng Công và Đài Loan Tuy nhiên, các nước còn lại của khu vực sẽ tiếp tục tụt hậu
xa Ví dụ vào năm 2020, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc sẽ xấp xỉ 1/4 so với Mỹ nếu tính theo PPP, nhưng chỉ bằng 8% (hay 1/12) nếu tính theo tỷ giá thị trường
Châu Mỹ Latinh
Tốc độ tăng trưởng bình quân của châu Mỹ Latinh dự báo đạt 3%/năm trong giai đoạn 2006-2020 Sự ổn định kinh tế vĩ mô đang được củng cố và đã có những tiến bộ trong cải
Trang 4cách cơ cấu Tuy nhiên, tình hình chính trị của khu vực sẽ cản trở cải cách về tài chính và thể chế Tăng trưởng dân số trong độ tuổi lao động cũng rất thấp Chất lượng nhân lực, xét về sức khoẻ và kỹ năng của lực lượng lao động, vẫn tụt hậu xa so với các thị trường đang nổi ở châu
Á và Đông Âu
II XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH KINH TẾ
1 Ngành ô tô
Xu thế phát triển
Ngành công nghiệp ôtô là ngành công nghiệp lớn nhất trên thế giới, chiếm tới 10,5% GDP của các nước phát triển Trong vòng 30 năm qua, ngành công nghiệp ôtô tăng trưởng khoảng trên 1%/năm Tuy nhiên, theo các chuyên gia, tính đến năm 2020, sản lượng của ngành sẽ tăng khoảng 65% so với hiện nay Hoạt động sản xuất sẽ chủ yếu phụ thuộc vào cầu của khu vực châu Á và có thể đạt mức sản lượng khoảng 100 triệu ô tô/năm
Năm 2005, khu vực châu Á chiếm 35% sản lượng và 25% doanh số bán hàng của ngành công nghiệp ô tô toàn thế giới Dự báo, năm 2020, con số này tương ứng sẽ là 55% và 40% Trung Quốc và Ấn Độ sẽ là hai thị trường phát triển mạnh nhất trong vài thập kỷ tới nhờ quy
mô thị trường lớn và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
Mặc dù châu Á có những lợi thế về mặt chi phí nhưng địa điểm thực hiện quy trình lắp ráp cuối cùng sẽ không có sự thay đổi lớn bởi hoạt động lắp ráp xe ôtô trong tương lai sẽ sử dụng nhiều vốn chứ không phải nhiều lao động Điều này sẽ khiến những nhà máy tại Nhật Bản, châu Âu và Mỹ vẫn sẽ dẫn đầu về năng suất Ngoài ra, đối với những doanh nghiệp lắp ráp, trong 15 năm tới, cơ hội cho những thay đổi cơ bản về mặt công nghệ sẽ thấp hơn Mặc dù được tự động hoá nhiều hơn nhưng phần lớn hoạt động lắp ráp sẽ vẫn giống như hiện nay Tuy nhiên sẽ có sự thay đổi lớn đối với việc sản xuất phụ tùng Hơn một nửa các doanh nghiệp ngành ôtô tham gia cuộc điều tra cho rằng số lượng các nhà cung ứng sẽ tăng vào năm
2020, trái ngược so với xu hướng của những thập kỷ trước Trung Quốc và Ấn Độ sẽ là những nước có mức tăng sản lượng phụ tùng lớn, không chỉ do mức lương thấp mà còn do chi phí cho các kỹ sư có tay nghề giỏi cũng thấp
Thị trường xe cũ tại Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tăng trưởng nhanh trong tương lai dù hiện vẫn đang trong thời kỳ đầu phát triển Khả năng tài chính của người dân ngày càng được cải thiện, mạng lưới giao thông được mở rộng và giá xe cũ thấp hơn sẽ cho phép ngay cả người nông dân cũng có thể mua được ôtô Việc sở hữu một chiếc ôtô đối với những người thu nhập thấp trong xã hội sẽ trở thành hiện thực
Trong thời gian tới, khả năng tiêu thụ nhiên liệu sạch, thân thiện môi trường và sử dụng công nghệ hybrid sẽ là mối quan tâm hàng đầu Hơn 75% các doanh nghiệp được điều tra tin tưởng rằng môi trường sẽ là một vấn đề được quan tâm chính trong chiến lược của các tập đoàn Dự báo những chiếc xe sử dụng nhiên liệu thay thế khác hay sử dụng động cơ hybrid sẽ chiếm 1/5 doanh số bán hàng vào năm 2020 Với tình hình giá dầu bất ổn và nhu cầu nhập khẩu dầu tại Ấn Độ và Trung Quốc tăng lên, tỷ lệ này có thể còn cao hơn
Trang 5Phương thức hoạt động
Trong 15 năm tới, dự báo ngành công nghiệp ôtô sẽ không được tập trung phát triển như
xu hướng vẫn thấy trong 100 năm qua Năm 2020, ngành công nghiệp này sẽ thu hút nhiều công ty tham gia hơn thay vì chỉ chịu sự chi phối bởi 6 công ty chiếm hơn 75% sản lượng toàn cầu trong năm 2005 Tính kinh tế theo quy mô của ngành có xu hướng giảm: Chi phí marketing giảm nhờ vào việc sử dụng Internet và những phương pháp độc đáo khác; điểm hoà vốn giảm đi đáng kể và thậm chí chi phí nghiên cứu và triển khai (R&D) cũng giảm
Hầu hết các nhà sản xuất ôtô sẽ trở thành những nhà cung cấp cho nhiều đại lý hoặc những nhà bán lẻ lớn Việc bán hàng và thu thập thông tin qua mạng Internet sẽ ngày càng phổ biến Hoạt động bán lẻ sẽ được cách mạng hoá theo kiểu “Wal-Mart” Nhờ chi phí bán lẻ thấp và hoạt động của các công ty sản xuất được cải thiện, người sở hữu ô tô sẽ sử dụng dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng ít hơn
Các đối tác tham gia trong ngành
Mối quan hệ giữa những người sở hữu xe và người bán buôn truyền thống sẽ trở nên lỏng lẻo hơn trong vòng 15 năm tới Các nhà sản xuất sẽ sử dụng trang web và những công nghệ truyền thông mới khác để tiếp cận trực tiếp khách hàng, nhằm xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng và tăng khả năng cá biệt hoá sản phẩm và dịch vụ Hơn 90% các doanh nghiệp được điều tra cho rằng mối quan hệ giữa nhà sản xuất và khách hàng sẽ tăng lên trong tương lai Đồng thời, họ cũng cho rằng, trong vòng 15 năm tới, cần đầu tư nhiều hơn vào công nghệ thông tin trong hoạt động marketing, bán hàng và hỗ trợ khách hàng
Mối quan hệ của nhà sản xuất với các nhà cung cấp cũng sẽ có sự thay đổi Hầu hết các doanh nghiệp trong ngành theo điều tra của Cơ quan tình báo kinh tế Anh (EIU) tin tưởng rằng, mối quan hệ của họ với các nhà cung ứng và các đối tác bên ngoài khác sẽ ngày càng có
vị trí quan trọng và được coi như một lợi thế cạnh tranh vào năm 2020 Hơn 90% các doanh nghiệp cho biết họ sẽ hợp tác tốt hơn với các nhà cung ứng trong quá trình phát triển sản phẩm, 68% cho rằng họ sẽ chia sẻ những thông tin nội bộ đối với các nhà cung ứng
2 Hàng tiêu dùng và bán lẻ
Khi dự báo về tương lai phát triển trong 15 năm tới, những doanh nghiệp bán lẻ hàng tiêu dùng cho rằng có hai hướng phát triển: Gia nhập các thị trường đang nổi và tăng doanh số bán tại các thị trường hiện có Mỗi hướng phát triển đều có những thách thức riêng
Trong giai đoạn 2006-2020, thị trường bán lẻ tại các quốc gia không thuộc OECD dự báo
sẽ có tốc độ tăng trưởng cao nhất Tới năm 2020, Mỹ vẫn là thị trường tiêu dùng lớn nhất, chiếm khoảng gần 1/3 chi tiêu dùng toàn thế giới Tỷ trọng của EU tuy giảm nhẹ nhưng vẫn ở mức hơn 20% vào năm 2020 Đáng chú ý là mức tăng chi cho tiêu dùng của thế giới trong 15 năm tới chủ yếu sẽ diễn ra tại các quốc gia đang phát triển hàng đầu, đặc biệt là Ấn Độ và Trung Quốc
Đến năm 2020, Trung Quốc dự báo sẽ vượt qua Mỹ để trở thành thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới Hiện nay, Trung Quốc có 12 triệu hộ gia đình với thu nhập bình quân hàng năm hơn 7.500 USD Đến năm 2020, con số này ít nhất sẽ tăng lên 80 triệu Tầng lớp
Trang 6trung lưu của Trung Quốc sẽ chiếm khoảng 40% dân số vào năm 2020, tức là gấp đôi hiện nay, nhưng tỷ lệ này vẫn thấp hơn nhiều so với Mỹ (60%) Bên cạnh đó, thu nhập bình quân tính theo đầu người của tầng lớp trung lưu Trung Quốc cũng sẽ thấp hơn so với các nước phương Tây
Gần đây, các công ty toàn cầu quan tâm nhiều hơn thị trường Ấn Độ do số lượng người tiêu dùng tại thành thị đang tăng nhanh, tạo nên sự bùng nổ về tiêu dùng Khác với người tiêu dùng tại những quốc gia châu Á khác, người tiêu dùng Ấn Độ thích chi tiêu hơn là tiết kiệm Nhưng sự bùng nổ tiêu dùng tại Ấn Độ sẽ bị hạn chế bởi mức thu nhập trung bình thấp và những hạn chế đối với đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bán lẻ Hiện nay Ấn Độ có khoảng
300 triệu người có thu nhập ở mức trung bình, khoảng 2.000 - 4.000 USD/năm
Sự phát triển của tầng lớp trung lưu tại Ấn Độ phụ thuộc rất nhiều vào sự tăng trưởng của ngành công nghệ thông tin của nước này Dự báo ngành công nghệ thông tin của Ấn Độ sẽ thu hút khoảng 9 triệu lao động trong 5 năm tới, gần gấp 3 lần so với hiện nay Số lượng người có thu nhập trung bình sẽ tăng nhanh Tuy nhiên thu nhập của người dân Ấn Độ vẫn thấp hơn nhiều so với mức trung bình tại Mỹ và các nước giàu khác
Việc tăng doanh số bán tại các thị trường phát triển khó khăn hơn rất nhiều so với tại các thị trường đang phát triển Đối với hầu hết các công ty phương Tây, những thị trường này đã phát triển hoàn thiện và mức độ nợ tiêu dùng đã ở mức cao Tất nhiên vẫn sẽ tồn tại những phân đoạn thị trường mới có khả năng phát triển Nhiều doanh nghiệp coi sự thay đổi về nhân khẩu học là một cơ hội lớn Dân số già đi đồng nghĩa với việc người dân sẽ muốn mua những dịch vụ “có khả năng trợ giúp” với giá cao hơn là một sản phẩm phải “tự vận hành” với giá thấp Tuy nhiên, trong khi một số người cho rằng sự già hoá dân số là một cơ hội thì một số khác lại coi đó là một sự đe dọa Dân số già hóa đòi hỏi những điều chỉnh hết sức khó khăn tại những doanh nghiệp từ trước tới nay chỉ chú trọng vào đối tượng khách hàng là những người trẻ tuổi, ví dụ như các chuỗi cửa hàng bán thức ăn nhanh hay các công ty môi giới cho vay thế chấp
Xu hướng phát triển
Nhìn chung, trong 15 năm tới, mức lợi nhuận tại các thị trường phát triển sẽ thấp hơn Chi phí quản lý, chi phí về nguồn lực, dịch vụ thuê ngoài và hoạt động ở nước ngoài sẽ không khác so với trước đây trừ chi phí của việc gia nhập thị trường Hoạt động marketing theo nhiều kênh khác nhau có thể làm tăng rủi ro của việc xảy ra xung đột giữa các kênh
Việc hợp nhất thường tạo ra lợi thế về kinh tế theo quy mô, nhưng nhiều ngành công nghiệp hiện đã và sẽ sớm nhận ra rằng lợi nhuận tăng sẽ không đủ bù đắp cho đầu tư Tại một
số phân đoạn thị trường, những rào cản pháp lý cũng cản trở việc hợp nhất hơn nữa
Hiệu quả về mặt chi phí sẽ vẫn có vai trò vô cùng quan trọng Các hãng bán lẻ nhận thấy
họ sẽ phải chịu nhiều áp lực về giá trong 15 năm tới Vẫn còn nhiều cơ hội trong việc khai thác các nguồn lực, dịch vụ thuê ngoài và hoạt động ở nước ngoài Các nhà bán lẻ sẽ tiếp tục khai thác các nguồn lực của các quốc gia có mức giá rẻ Tuy nhiên, các chiến lược kiểm soát giá mặc dù vẫn sẽ mang lại nhiều cơ hội trong 5 năm tới, nhưng nó sẽ không còn đóng vai trò
Trang 7quan trọng trong việc tạo ra lợi thế khác biệt trong dài hạn.
Hoạt động marketing qua nhiều kênh sẽ phát triển do các công ty sử dụng Internet ngày càng phổ biến, và việc quản lý quan hệ khách hàng thông qua chuyển thư điện tử hiệu quả hơn Tuy nhiên, thị trường bão hòa, xung đột giữa các kênh và lợi nhuận giảm sẽ hạn chế tiềm năng của hoạt động này trong dài hạn
Phát triển thương hiệu
Các nhà bán lẻ ngày càng tỏ ra lo ngại về sự trung thành đối với nhãn hiệu, 64% trong số người được hỏi coi đây là sự đe dọa nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng; trong khi con số này
ở các ngành khác chỉ là 50% Theo đó, nhãn hiệu ngày càng có vai trò quan trọng, quyết định lợi thế cạnh tranh trong 15 năm tới
Nhiều nhà bán lẻ sẽ theo đuổi chiến lược khuyếch trương nhãn hiệu để có được lợi thế này trên thị trường nội địa Các nhà bán lẻ cũng sẽ cung cấp thêm nhiều dịch vụ, ví dụ dịch vụ bảo hiểm và mời chào các hợp đồng “mở cửa hàng trong cửa hàng” cho các nhà sản xuất hàng tiêu dùng đóng gói và các nhà cung cấp dịch vụ
Nhưng các nhà bán lẻ cũng bắt đầu xác định một chiến lược mới nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình tại các thị trường quan trọng: Tập trung phát triển mối quan hệ với khách hàng và người cung cấp Tạo lập mối quan hệ thân thiết với các đối tác là một lợi thế cạnh tranh lớn hiện nay Việc tăng cường hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước sẽ là một nhân tố quan trọng tạo nên thành công trong hoạt động kinh doanh Các cửa hàng và các dịch
vụ trong cửa hàng sẽ được thiết kế nhằm mục đích kết nối với khách hàng thông qua dịch vụ đối với từng khách hàng cụ thể, cách trưng bày hàng hóa hấp dẫn và dễ lựa chọn, cách thiết kế độc đáo của cửa hàng Bên cạnh đó, hoạt động giao hàng và cung cấp dịch vụ sẽ được quản
lý, giám sát và đo lường ngày càng chặt chẽ hơn Phần lớn những người được điều tra cho biết
họ sẽ liên kết chặt chẽ hơn với các nhà cung cấp trong quá trình phát triển một sản phẩm mới
Và 69% cho rằng sẽ chia sẻ nhiều thông tin hơn với người cung cấp so với mức trung bình chỉ
là 52%
Yêu cầu về nhân sự
Trong việc duy trì lợi thế cạnh tranh, khả năng quản lý và kỹ năng giao tiếp sẽ là hai phẩm chất quan trọng nhất trong 15 năm tới Việc hình thành một đội ngũ lao động được trang bị những kỹ năng trên là một thách thức lớn Theo đó, các nhà bán lẻ sẽ tăng cường biện pháp giám sát và quản lý một cách hệ thống khả năng sáng tạo và đổi mới thông qua kiểm toán; đầu tư nhiều hơn vào các công cụ tình báo có thể giúp tăng doanh số bán cho các khách hàng cụ thể; và thay đổi hệ thống khen thưởng đối với các sáng tạo và dịch vụ khách hàng Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, nhiều doanh nghiệp tham gia điều tra đã bày tỏ mong muốn tập trung đầu tư vào dịch vụ và các hoạt động hỗ trợ khách hàng nhiều hơn là vào quản lý tài chính và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin nói chung như hiện nay
3 Ngành năng lượng
Tiềm năng tăng trưởng
Trang 8Theo dự báo của Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), với mức tăng trưởng cao, tỷ trọng cầu
về dầu trên tổng cầu dầu thế giới của các nước đang phát triển sẽ tăng từ 33% năm 2004 lên 41% năm 2020 Cầu về dầu của riêng Trung Quốc trên tổng cầu dầu thế giới dự báo sẽ tăng vọt từ 7,6% năm 2004 lên gần 11% vào năm 2020
Các nước phát triển vẫn sẽ tiêu thụ năng lượng nhiều hơn các nước đang phát triển nhưng
tỷ trọng cầu của các nước này trên tổng cầu thế giới sẽ giảm đi Các nước OECD vẫn chiếm một lượng tiêu thụ khí đốt tự nhiên lớn trên thế giới vào năm 2020, mặc dù sản lượng tiêu thụ khí đốt của các nước đang phát triển dự kiến sẽ tăng gấp 3 lần
Thời điểm nguồn tài nguyên dầu sẽ cạn kiệt vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi Những người lạc quan thì cho rằng thời điểm đó chắc chắn sẽ phải từ sau năm 2030, trong khi đó những người bi quan thì cho rằng thời điểm đó sẽ đến sớm hơn rất nhiều Từ nay cho đến lúc đó, có
3 phương pháp để tăng nguồn cung: Thứ nhất, khai thác các nguồn dự trữ hydro cacbon mới; thứ hai, khai thác nhiều hơn từ những nguồn dự trữ đang có; và thứ ba là, tăng tỷ lệ nguồn năng lượng thay thế trong tổng nguồn cung
Những biến động lớn
Dự báo đến năm 2020, giá năng lượng trên thị trường sẽ có nhiều biến động và ở mức cao Theo IEA, giá dầu tính theo giá thực tế vẫn sẽ ở mức cao cho đến tận năm 2020 Theo giá danh nghĩa, giá dầu trung bình hàng năm của các nhà nhập khẩu dầu IEA sẽ tăng lên từ 36 USD/thùng năm 2004 lên 50 USD/thùng vào năm 2020 Giá của năng lượng hydrocacbon, ngoài than đá, chắc chắn cũng theo xu hướng tăng của giá dầu
Vai trò là trung tâm sản xuất năng lượng của khu vực Trung Cận Đông sẽ ngày càng tăng Kết quả là lĩnh vực năng lượng sẽ trở thành một lĩnh vực nhạy cảm cao cần có sự can thiệp của các chính phủ Trên 55% các doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng tham gia vào cuộc điều tra đã coi sự bất ổn về chính trị là nguy cơ lớn đối với công việc kinh doanh cho tới năm
2020 Các hoạt động quân sự có thể được sử dụng để bảo đảm nguồn cung Việc thành lập một tổ chức theo kiểu OPEC cho các nhà sản xuất khí đốt là hoàn toàn có khả năng xảy ra Các chính phủ cũng sẽ sử dụng các chính sách kinh tế để đối phó với những biến động về giá
và nguồn cung
Phát triển năng lượng tại chỗ có thể giúp các nước đang phát triển giảm gánh nặng đầu tư vào cơ sở hạ tầng năng lượng Đối với các nước phát triển, sản lượng điện tại chỗ tăng cũng
sẽ làm giảm quy mô của hệ thống truyền tải điện Người tiêu dùng năng lượng cũng sẽ đồng thời là nhà cung cấp hay ít nhất là người quản lý năng lượng chứ không thụ động như trước đây Quan hệ giữa các tổ chức cung cấp năng lượng và các khách hàng cũng sẽ dần thay đổi
Sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp năng lượng
Trong 15 năm tới, ở phần lớn các thị trường, các nhà cung cấp năng lượng sẽ cạnh tranh rất gay gắt với nhau Để đảm bảo yêu cầu cạnh tranh, các nguồn năng lượng cần phải có hiệu quả cao và chi phí thấp
Do vậy, các hãng sản xuất năng lượng đang cố gắng phát triển những sản phẩm đặc trưng
Trang 9Đồng thời, các công ty cũng phải tìm cách để tăng số lượng khách hàng trung thành Trong
đó, một phương pháp hiệu quả là phải tăng số tiện ích của sản phẩm Theo ông Hann, trưởng nhóm quản lý kế hoạch chiến lược ở hãng năng lượng RWE npower của Anh, việc cung cấp nhiều giải pháp cho người tiêu dùng dựa trên quyền lợi cá nhân của họ quan trọng hơn là tìm cách đảm bảo đó là những giải pháp rẻ nhất hay hiệu quả nhất Kết quả điều tra cho thấy chỉ
có 18% các nhà điều hành của các hãng cung cấp năng lượng ủng hộ quan điểm cho rằng việc
“cá biệt hoá sản phẩm và dịch vụ” là ưu tiên hàng đầu dành cho khách hàng trong hiện tại Tuy nhiên, 38% tin rằng việc cá biệt hoá sẽ trở thành ưu tiên hàng đầu dành cho người tiêu dùng vào năm 2020 Như vậy, tầm quan trọng của các giải pháp chú trọng đến quyền lợi cá nhân của khách hàng sẽ khiến các nhà cung cấp năng lượng phải nâng cao chất lượng dịch vụ
và khâu bảo dưỡng, đồng thời mở rộng sang các phạm vi lân cận khác, như phương thức trả góp cho các hệ thống năng lượng mới hay cung cấp các hợp đồng bảo hiểm cho việc cắt giảm nguồn cung
Tính đến năm 2020, mức độ cạnh tranh trên thị trường bán lẻ sẽ trở nên khốc liệt hơn Sự can thiệp của nhà nước trong lĩnh vực sản xuất cũng ngày càng lớn Những người tham gia cuộc điều tra cho rằng một chiến lược rõ ràng sẽ là một nhân tố quan trọng quyết định lợi thế cạnh tranh Các hãng sẽ tập trung vào các kỹ năng quản lý rủi ro và quản lý dự án trong các hoạt động thăm dò hơn là trong lĩnh vực phân phối Bên cạnh đó, rào cản lớn nhất hiện nay trong việc cải thiện mối quan hệ với các đối tác bên ngoài là việc thiếu nhân viên có kỹ năng giao tiếp Vì vậy, phần lớn các công ty đưa ra các kế hoạch nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua các chiến lược triển khai công nghệ thông tin và các chiến lược đào tạo-tuyển dụng
4 Tài chính
Tính đến năm 2020, ngành tài chính sẽ có vai trò ngày càng quan trọng do kinh tế phát triển làm tăng nhu cầu về các dịch vụ giao dịch cơ bản ở các nước đang phát triển Đồng thời,
sự tích lũy của cải cũng làm tăng nhu cầu đầu tư ở các nước phát triển Dịch vụ tài chính dự báo sẽ tăng từ 6% GDP toàn cầu năm 2005 lên 10% năm 2020, đạt doanh thu hàng năm là 6.000 tỷ đô la Mỹ Những thành tựu về công nghệ như thiết bị thanh toán tại chỗ hiện đại, các công cụ lưu trữ và tìm kiếm số liệu bảo hiểm đường biển sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành cũng như thay đổi môi trường cạnh tranh trong ngành
Mặc dù kinh tế tăng trưởng chậm hơn so với những thị trường đang phát triển, các thị trường phát triển tiếp tục có nhu cầu rất lớn về dịch vụ tài chính do những thay đổi nhân khẩu học Một nghiên cứu do hãng Allianz Global Investors tiến hành dự báo rằng thị trường lương hưu của Tây Âu sẽ tăng hơn hai lần trong thập niên tới, từ 7.400 tỷ euro năm 2005 lên 16.400
tỷ euro vào năm 2015
Xu hướng phát triển
Đến năm 2020 khách hàng sẽ đòi hỏi cao hơn Những khách hàng tìm kiếm các dịch vụ giao dịch cơ bản như mở tài khoản và các hợp đồng bảo hiểm sẽ tìm kiếm một nhà cung cấp dịch vụ tốt nhất với giá cả phù hợp, các kênh phân phối và dịch vụ khách hàng thuận lợi Khách hàng có tài sản đầu tư sẽ tìm kiếm những lời tư vấn từ những phòng dịch vụ hỗ trợ
Trang 10khách hàng uy tín.
Tăng trưởng của ngành tài chính tại các nước phát triển chủ yếu dựa vào các sản phẩm tối tân Quản lý kinh doanh phần dịch vụ có hiệu quả sẽ là điều kiện cần để cạnh tranh trên các thị trường sản phẩm tối tân Khách hàng sẽ đặt kỳ vọng nhiều hơn vào hiệu quả của sản phẩm dịch vụ, một phần do trình độ phát triển công nghệ hiện nay và một phần do họ đã quen với việc sử dụng các dịch vụ tiện dụng và đơn giản ở các ngành khác, như ngành hàng không Những ngân hàng hay công ty sử dụng các sản phẩm dịch vụ có công nghệ tối tân, tổ chức và kiểm soát các dịch vụ tốt nhất có thể giành được ưu thế
Các dịch vụ tiện ích, như mở tài khoản và dịch vụ thanh toán, phụ thuộc nhiều vào các chương trình công nghệ thông tin tích hợp và có hiệu quả cao Theo một cuộc điều tra qua mạng của Cơ quan tình báo kinh tế Anh (EIU), 55% trong số các công ty tài chính sẽ tập trung vào việc tăng cường hợp nhất dữ liệu/công nghệ và 53% mong muốn tăng cường tự động hóa các quá trình xử lý nhằm cải thiện năng suất lao động trong 15 năm tới
Chiến lược cạnh tranh
Trước áp lực cạnh tranh ngày càng tăng, các công ty tài chính sẽ phải chọn chiến lược cạnh tranh Năm 2020, ở hầu hết các phân đoạn của ngành tài chính, lợi thế cạnh tranh sẽ không xuất phát từ chính các sản phẩm dịch vụ, do các sản phẩm dễ dàng bị bắt chước Một số tổ chức tài chính sẽ tự khẳng định vị trí là nhà cung cấp các dịch vụ tiện ích giá rẻ, trong khi những tổ chức tài chính khác sẽ lại tập trung vào mời chào dịch vụ đầu tư phức tạp Một số khác vẫn làm chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng
Đối với ngành bảo hiểm, đổi mới công nghệ sẽ làm thay đổi cách thức các tổ chức bảo hiểm giao dịch với khách hàng, ký kết các hợp đồng bảo hiểm và giải quyết các khiếu nại Các doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng các giao dịch trên mạng để phân tích những trường hợp được bảo hiểm, ấn định phí bảo hiểm, tính toán yêu cầu dự trữ và thậm chí đánh giá các khiếu nại, trong đó vệ tinh được sử dụng để chụp những bức hình về tài sản được bảo hiểm với độ phân giải cao
Trong ngân hàng, lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về những công ty có khả năng cung cấp dịch vụ "mọi lúc, mọi nơi" và không chỉ qua Internet Sẽ có nhiều kênh tiến hành các dịch
vụ ngân hàng, ví dụ như Thiết bị kỹ thuật số cá nhân (PDAs), điện thoại di động và tivi Khách hàng sẽ có thể thực hiện các thủ tục ngân hàng ở mọi nơi Theo đó, quản lý thông tin
và các công nghệ hỗ trợ khách hàng sẽ là nhân tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh Bà Kindelan, giám đốc tài chính Ngân hàng Grupo Santander lớn thứ 10 trên thế giới, cho biết:
"Ngân hàng cần có thông tin đầy đủ về khách hàng để có thể đưa ra những sản phẩm phù hợp và đúng thời điểm cho từng khách hàng riêng"
Tuy nhiên, sự tiến bộ về công nghệ không có nghĩa là đến năm 2020 việc cung cấp các dịch vụ tài chính và bán hàng trực tiếp kiểu truyền thống sẽ biến mất Ngược lại, mặc dù khách hàng có thể tìm kiếm và sử dụng các sản phẩm giản đơn hơn thông qua mạng và các thiết bị hiện đại khác, nhưng các hình thức đầu tư ngày càng phức tạp cũng đòi hỏi phải có tư vấn riêng về tài chính, như khi vay thế chấp hoặc liên quan đến các khoản tiền đầu tư lớn