Các khái niệm a/ PRA/ RRA Trong thực tế triển khai các dự án phát triển cộng đồng, việc làm thế nào để dự án phản ánh tốt nhất nhu cầu và nguyện vọng thực tế của người dân tại cộng đồng
Trang 1PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NÔNG THÔN CÓ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG (PRA) VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NGHÈO CÓ SỰ
THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG (PPA)
I Khái niệm, đặc điểm, mục đích và đối tượng
1 Các khái niệm
a/ PRA/ RRA
Trong thực tế triển khai các dự án phát triển cộng đồng, việc làm thế nào
để dự án phản ánh tốt nhất nhu cầu và nguyện vọng thực tế của người dân tại cộng đồng được đặt ra.Tại châu Mỹ Latinh, từ những năm 60 của thế kỷ truớc việc nghiên cứu về một phương pháp có sự tham gia để xây dựng các dự án phù hợp với cộng đồng dân cư đã được tiến hành Đến những năm 1970 lý thuyết
về phương pháp Đánh giá nhanh/ nông thông có sự tham gia của cộng đồng (PRA) đã được hình thành tại khu vực này Vào những năm 1980, phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn (RRA) được xây dựng và trở thành sáng kiến của trường Đại học Khon Kaen của Thái Lan Tuy nhiên, phương pháp PRA/RRA lại được sử dụng đầu tiên tại Kênya và ấn Độ vào những năm 1988 và 1989
Đánh giá nhanh hay đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (Participatory/ Rapid Rural Appraisal – PRA/RRA) là một phương pháp đánh giá nhu cầu ở cộng đồng với sự tham gia của nhiều thành phần có liên quan PRA là một hình thái đặc biệt của nghiên cứu mang tính định lượng được sử dụng để tìm hiểu và thu thập thông tin tại cộng đồng Ưu điểm của phương pháp PRA so với các phương pháp khác là người dân tại cộng đồng tự phân tích thực tế nhu cầu và đời sống của họ PRA là một công cụ đặt biệt hữu ích trong công tác phát triển cộng đồng nói chung và đây là một phương pháp trao quyền cho người dân để quyết định các công việc của cộng đồng
Đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA/RRA) là một phương pháp điều tra để học hỏi và cùng với các thành viên cộng đồng tìm hiểu, phân tích và đánh giá các khó khăn, thuận lợi đồng thời đưa ra các giải pháp, quyết định kịp thời nhằm giải quyết các khó khăn của cộng đồng
b/ PPA
Năm 1992, Phương pháp Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng (Participatory Poverty Assessment – PPA) lần đầu tiên được Ngân hàng Thế giới (WB) sử dụng để tiến hành việc nghiên cứu tại thực địa nhằm đánh giá mức nghèo đói của một quốc gia PPA thường được tiến hành dưới các hình thức nghiên cứu chính sách gắn với chính sách của chính phủ, tìm hiểu mức độ nghèo đói theo quan điểm của người nghèo và các ưu tiên mà người nghèo nêu
ra để nâng cao đời sống của họ Phương pháp này tập trung vào việc phân tích mang tính định tính các thông tin thu thập được từ công tác điều tra tại hộ gia đình
Trang 2Đánh giá đói nghèo có sự tham gia của cộng đồng là một công cụ để đưa quan điểm của người nghèo vào các phân tích nghèo đói nhằm xây dựng các chiến lược xoá đói giảm nghèo bằng các chính sách công
2 Đặc điểm
PRA và PPA là các phương pháp thu thập thông tin ba chiều (theo hình tam giác) nhằm thu thập thông tin một cách chính xác từ nhiều nguồn khác nhau Đó là các tam giác về thành phần của nhóm (gồm cả nam và nữ, trẻ và già, người trong và ngoài cộng đồng), các nguồn thông tin (con người, địa điểm, sự kiện và quá trình), phối hợp các kỹ thuật và công cụ Ví dụ
- Về thành phần nhóm:
Nhóm đa thành phần
Người trong/ ngoài cộng đồng Nam giới/ phụnữ
Về nguồn thông tin Các sự kiện
Người dân
Địa bàn Về kỹ thuật và công cụ
Phỏng vấn và thảo luận
Các đặc điểm của PRA và PPA bao gồm
- Nhóm đa ngành: các thành viên thực hiện phương pháp PRA và PPA cần có kỹ năng và xuất xứ khác nhau, nhóm phải luôn có thành viên
nữ và có thể cả thành viên của cộng đồng
- Tính linh hoạt và tính không bắt buộc: các kế hoạch và phương pháp nghiên cứu là không chính thức và có thể chỉnh sửa cho phù hợp với yêu cầu
- Đây là phương pháp học hỏi và cùng làm việc với cộng đồng
- Trong khi dùng PRA và PPA nên tránh thu thập quá chi tiết và nhiều
số liệu không thực sự cần thiết cho mục đích của việc điều tra
Trang 3- Phân tích tại chỗ: triển khai ở thực địa và phân tích các thông tin thu thập được để đưa ra hướng đi chung (việc phân tích không nhất thiết phải ở trong một phòng họp tiện nghi mà có thể tiến hành ở nhiều nơi như: trong nhà dân, ngoài cánh đồng )
3 Mục đích
- PRA được sử dụng trong đánh giá nhu cầu của cộng đồng, nghiên cứu khả thi, xác định và lập thứ tự ưu tiên cho các dự án, đánh giá dự án hoặc chương trình nhằm xác định những nhu cầu cấp bách nhất của cộng đồng địa phương dựa trên chính ý kiến của người dân và cộng đồng địa phương đó
- PPA được sử dụng để nâng cao hiệu quả của các hành động chung nhằm xoá đói giảm nghèo
4 Đối tượng
Đối tượng tham gia đánh giá thông thường bao gồm đại diện của tổ chức tài trợ (tổ chức phi chính phủ), chuyên gia đánh giá độc lập, đại diện chính quyền, đoàn thể hoặc nhân dân địa phương Đối tượng được tham vấn thường
là các cấp chính quyền, nhân dân và tổ chức quần chúng, đoàn thể địa phương
II Biện pháp và kỹ thuật đánh giá
Hai phương pháp PRA/RRA và Phương pháp PPA đều có chung các biện pháp và kỹ thuật đánh giá sau:
2.1 Xem xét các số liệu hiện có
- Số liệu hiện có là nguồn thông tin quan trọng của một vùng hoặc một đối tượng đã được hoạch định hoặc hiện có ở dạng đã công bố hoặc chưa công bố Nguồn thông tin hiện có là những thông tin cơ sở cho mỗi thông tin sẽ cần phải thu thập, giúp tiết kiệm thời gian và kiểm tra chéo thông tin Đây là một hoạt động quan trọng khi tiến hành khảo sát các chương trình phát triển cộng đồng
- Các dạng nguồn số liệu hiện có:
+ Các báo cáo thống kê
của địa phương Báo cáo của các Ban, ngành tại địa phương (tuỳtheo lĩnh vực quan tâm của dự án, như báo cáo
về lĩnh vực y tế xin Sở Y tế) + Các tài liệu giới thiệu
chung về địa phương, tổ
chức, cơ quan
Sách, sổ tay giới thiệu về lịch sử vùng, tổ chức,
cơ quan + Các biểu đồ Các Ban, ngành tại địa phương (tuỳ theo lĩnh vực
quan tâm) + Bảng biểu, danh mục các
thông tin Các Ban, ngành tại địa phương (tuỳ theo lĩnh vựcquan tâm) + Bản sao các bản đồ và ảnh Cơ quan địa chính địa phương
+ Các số liệu ngắn, tóm tắt Các Ban, ngành tại địa phương (tuỳ theo lĩnh vực
quan tâm)
Trang 42.2 Phương pháp quan sát trực tiếp
Đây là một phương pháp quan trọng cần thiết trong tất cả các cuộc PRA
và PPA
- Quan sát trực tiếp là quan sát một cách hệ thống các đối tượng, sự kiện, quá trình, quan hệ hoặc con người và sau đó người quan sát phải ghi chép lại những điều đã quan sát được Đây là một phương pháp tốt để kiểm tra chéo thông tin thu được từ người được phỏng vấn
- Các phương pháp quan sát:
+ Đo đếm: sử dụng thước, cân
+ Ghi chép: sổ, giấy, biểu đồ, ảnh
+ Sử dụng các giác quan trong khi quan sát: ngửi, nghe, nhìn, sờ + Sử dụng một số câu hỏi để kiểm tra
+ và các phương pháp khác: quan sát theo địa điểm, quan sát bề ngoài, quan sát các sự kiện diễn ra xung quanh
2.3 Phỏng vấn
- Có nhiều hình thức phỏng vấn khác nhau
o Phỏng vấn bán cấu trúc (tức là phỏng vấn cá nhân hay phỏng vấn
hộ gia đình): các cuộc phỏng vấn được tiến hành theo từng trường
hợp nghiên cứu điển hình tức là người phỏng vấn sẽ lựa chọn người được phỏng vấn một cách ngẫu nhiên tuỳ theo mục đích của từng loại thông tin cần thu thập
o Phỏng vấn người cung cấp thông tin chủ yếu: là phỏng vấn những
người có hiểu biết về một chủ đề riêng biệt nào đó Những người
đó có thể là lãnh đạo địa phương, già làng, trưởng bản hay những người có nhiều kinh nghiệm trong một lĩnh vực cụ thể: trồng trọt, chăn nuôi
o Phỏng vấn theo nhóm: tiến hành phỏng vấn nhiều người cùng một
lúc để thu thập các thông tin tại cộng đồng Đây là một phương pháp kiểm tra chéo các nguồn thông tin
o Thảo luận nhóm có trọng tâm: một nhóm từ 6 – 12 người thảo
luận một vấn đề, chủ đề riêng biệt về những thông tin cần thu thập Trong thảo luận nên đề nghị những người tham gia chọn một người điều khiển và ghi chép lại những vấn đề đã thảo luận
- Địa điểm phỏng vấn: tại từng hộ gia đình đối với phỏng vấn hộ gia đình, tại trụ sở thôn, xã khi phỏng vấn nhóm trọng tâm, tại một địa điểm do người phỏng vấn chọn khi phỏng vấn nhóm và tại bất cứ nơi nào khi người phỏng vấn thấy
có thể tiến hành phỏng vấn như: trên cánh đồng, trong trường học, tại nhà của người được phỏng vấn
Trang 52.4 Xếp hạng
- Xếp hạng là việc sắp xếp những thông tin hay vấn đề nào đó theo một trật tự giúp xác định các vấn đề chủ yếu hiện tại của địa phương, đưa ra các ưu tiên của người dân và tiêu chí cho các ưu tiên đó Xếp hạng có thể được sử dụng phối hợp với phỏng vấn
- Các phương pháp xếp hạng:
o Xếp hạng theo thứ tự ưu tiên: là phương pháp giúp xác định nhanh các
vấn đề chủ yếu hoặc các ưu tiên của cộng đồng Có thể thực hiện phương pháp này bằng hình thức bỏ phiếu, cho điểm
- Các bước xếp hạng:
+ chọn một số vấn đề cần sắp xếp theo thứ tự ưu tiên + Đề nghị người được phỏng vấn sắp xếp những vấn đề nói trên theo thứ tự ưu tiên
+ Lặp lại việc này cho những người được phỏng vấn khác + Lên biểu các câu trả lời của họ
- Các hình thức tiến hành xếp hạng:
+ Yêu cầu từng người xếp hạng một, rồi ghi lại thứ tự ưu tiên của
họ và lên biểu + Yêu cầu những người tham gia trong các cuộc họp nhóm xếp thứ tự ưu tiên của các vấn đề vào giấy và cho điểm Ví dụ:
Xếp hạng các khó khăn trong sản xuất nông nghiệp:
điểm Xếp hạng
nhất
Ghi chú: 5 = Khó khăn nhất 1 = ít khó khăn nhất
o Xếp hạng theo cặp: giúp chúng ta xác định các vấn đề hoặc ưu tiên chính
của các thành viên cộng đồng, hình thành các chỉ tiêu xếp hạng và dễ dàng
so sánh các ưu tiên của các cá nhân khác nhau (Phương pháp này ít dùng hơn phương pháp xếp hạng theo thứ tự ưu tiên nên chỉ giới thiệu qua)
- Các bước xếp hạng theo cặp:
+ Chọn một nhóm các vấn đề cần sắp xếp thứ tự ưu tiên + Ghi mỗi vấn đề vào một tờ bìa riêng
+ Đặt hai vấn đề trước mặt người được phỏng vấn và hỏi xem họ coi vấn đề nào ưu tiên hơn hoặc quan trọng hơn
Trang 6+ Cứ tiếp tục hỏi đến vấn đề cuối cùng
o Xếp hạng ma trận trực tiếp: giúp xác định danh sách các chỉ tiêu của một
nhóm đối tượng (phương pháp này ít dùng hơn các phương pháp xếp hạng khác)
o Xếp hạng (phân loại) giàu nghèo: giúp nhận biết được tình hình đời sống
chung của người dân trong cộng đồng, phát hiện các chỉ số và chỉ tiêu về giàu nghèo tại địa phương và thiết lập một vị trí tương đối các hộ trong cộng đồng Đây là một phương pháp quan trọng và chủ yếu của PRA
- Các bước xếp hạng giàu nghèo:
+ Lập danh sách các hộ trong cộng đồng (làng, thôn, bản ) Có thể chọn một nửa số hộ nếu có quá nhiều hộ trong cộng đồng, chú ý chọn những hộ đặc biệt: hộ có phụ nữ làm chủ hộ, hộ đặc biệt khó khăn, hộ gia đình neo đơn
+ Đề nghị một số người tham gia sắp xếp các hộ theo các mức giàu nghèo (ưu tiên những người đã sống lâu năm trong cộng đồng, những người
có hiểu biết chung về các hộ gia đình trong cộng đồng) Những người tham gia sẽ tự định số lượng mức độ giàu nghèo trong cộng đồng (như có thể 3 loại là: nghèo, trung bình, khá giả hay 4 loại là: rất nghèo, nghèo, trung bình, khá giả )
+ Hỏi người sắp xếp các chỉ tiêu xếp loại cho mỗi nhóm mức khác nhau
+ Sau khi người được yêu cầu đã sắp xếp xong các phiếu ghi tên các hộ, người điều tra sẽ ghi lại kết quả
+ Nếu các mức độ giàu nghèo của mỗi người khác nhau thì phải cho điểm mỗi hộ bằng cách nhân chỉ số giàu nghèo với 100
+ Số điểm của tất cả những người tham gia sắp xếp sẽ được ghi vào một biểu chung, cộng điểm lại và chia cho số người phân loại
+ Sắp xếp các hộ theo các loại giàu nghèo
Ví dụ:
Bảng xếp loại giàu nghèo của các hộ gia đình thuộc Thôn 5,
xã Hải Phúc, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị (không đầy đủ)
1
2
3
Hồ Văn Du
Hồ Văn Minh
Hồ Văn Toàn
Hồ Thị Hanh
Hồ Thị Đỗ
Hồ Thị Mơ
Trung Bình nt
nt
Thiếu ăn từ 1-3 tháng/năm;
có từ 1-2 con trầu, có nhà tốt, không vay nợ gì
1
2
3
Hồ Văn Bu
Hồ Văn Cư
Hồ Văn Sơn
Hồ THị Bông
Hồ Thị Lưu
Hồ Thị Hợi
Nghèo nt nt
Thiếu ăn từ 4-6 tháng./năm;
có 1 con trâu, nhà tranh tre thường, có vay nợ
1
2
3
Hồ Văn Ngót
Hồ Văn Thoả
Hồ Văn Thọ
Hồ THị Lanh
THanh
Rất nghèo nt
nt
Thiếu ăn 6 tháng/ năm; không có trâu, nhà dột nát; vay nợ nhiều
Trang 7Ghi chú: Phương pháp này được sử dụng để phân loại giàu nghèo các thôn/bản trong một xã, hay các xã trong một huyện, các huyện trong một tỉnh Các bước xếp hạng được tiến hành như xếp hạng giàu nghèo các hộ gia đình.
Ví dụ: Xếp hạng giàu nghèo các thôn của xã Hợp Thành, huyện Kỳ Sơn,
tỉnh Hoà Bình
hạng
Chú ý: Điểm thấp là giàu, điểm cao là nghèo
Tiêu chí xếp hạng:
Số 3: các thôn nghèo – giao thông kém, dân số đông, đất đai cằn cỗi, thu nhập thấp, nhà tranh tre tạm bợ;
Số 2: Thôn Trung bình - Giao thông tương đối khá, không có nhiều ruộng lớn, thu nhập trung bình
Số 1: Thôn khá giả - giao thông thuận tiện, gần đường quốc lộ, tỉnh lộ, có đất đai màu mỡ, thu nhập ổn định
2.5 Vẽ bản đồ, sơ đồ
- Vẽ bản đồ, sơ đồ sẽ giúp cho người dân trong cộng đồng tham gia vào việc nhận biết chung về làng bản và giúp cho nhóm khảo sát biết được người dân trong cộng đồng đã sử dụng vùng đất của mình như thế nào
- Các loại bản đồ, sơ đồ:
+ Bản đồ, sơ đồ về dân số và phân bổ dân cư + Bản đồ phân loại xã hội và nơi ở
+ Bản đồ về sử dụng tài nguyên thiên nhiên + Bản đồ về đất đai và đồng ruộng
+ Bản đồ nghèo đói + Sơ đồ biểu diễn thời gian + Và các loại khác
- Các bước thực hiện:
+ Quyết định loại bản đồ cần vẽ + Chọn người dân có hiểu biết về vùng định vẽ
Trang 8+ Chọn địa điểm thích hợp để vẽ + Hướng dẫn các đặc điểm cần có trong bản đồ nhưng để người dân tự vẽ
+ Có thể quan sát họ vẽ hoặc đi chỗ khác + Ghi lại tên người vẽ và những người tham gia khác
2.6 Lịch thời vụ
- Lịch thời vụ là một loại lịch chỉ rõ các hoạt động chính, các khó khăn
và thuận lợi trong suốt chu kỳ hàng năm dưới dạng biểu đồ Đây là một phương pháp thu thập thông tin nhanh và tương đối cụ thể, chi tiết để xác định lịch trình công việc của người dân địa phương, giúp cho việc lập kế hoạch trong các dự
án phát triển
- Các dạng lịch thời vụ:
+ Lịch về thời vụ mùa màng ở địa phương
+ Lịch về khí hậu (lượng mưa và nhiệt độ)
+ Lịch về các loại sâu bệnh hoa màu
+ Lịch về bệnh gia súc
+ Lịch về bệnh tật của con người
+ Lịch về chăn nuôi
+ Lịch về các hoạt động tạo thu nhập
+ Lịch về các sự kiện xã hội
+ Và các loại lịch khác
- Các bước:
+ Lấy giấy đã kẻ sẵn các tháng trong năm (có thể theo lịch dương hay lịch âm tuỳ theo phong tục của địa phương)
+ Đặt câu hỏi về các thông tin cần thiết với một số hay nhiều người: thường đặt các câu hỏi về tháng nhiều nhất, ít nhất, rồi theo qui luật giảm dần hay tăng dần, sau đó đặt câu hỏi tiếp theo về thông tin liên quan đến dữ kiện
+ Đưa các thông tin định lượng thu được lên giấy đã kẻ sẵn
Trang 9Ví dụ: Lịch thời vụ của bản Xốp Nhị, xã Hữu Lập
Tháng
Nội dung
Lúa đông
xuân Cấy Làm cỏ, trừsâu bệnh hoạchThu bón phân,Gieo mạ,
cấy Lúa mùa Bón phân Gieo mạ, bón, cấy Làm cỏ Thu
hoạch
t Trỉa Làmcỏ Thu hoạch
giống giốngThả Bệnh gia
Lễ hội x
2.7 Mặt cắt ngang
- Mặt cắt ngang là biểu đồ của các khu vực sử dụng đất đai canh tác Nó được dùng để so sánh các đặc điểm chính, các nguồn tài nguyên, cách sử dụng
và các khó khăn của các vùng đất khác nhau trong khu vực, giúp cho việc xây dựng các hoạt động của dự án phát triển
- Các bước xây dựng mặt cắt ngang:
+ Mời các thành viên trong cộng đồng tham gia đi bộ trong làng và các vùng đất lân cận
+ Thảo luận với người dân về các yếu tố cần có của mặt cắt và tuyến đường sẽ đi bộ
+ Đi khảo sát, quan sát, hỏi và lắng nghe
+ Thảo luận về các khó khăn và thuận lợi, xác định các vùng đất
+ Cuối cùng, đưa các thông tin thu được lên giấy và xin ý kiến của những người tham gia đi bộ với mình, chỉnh sửa theo ý kiến góp ý của mọi người
Trang 10Ví dụ: Mặt cắt ngang ở bản Noọng ó, xã Hữu Lập, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
Đất đỉnh đồi Đất sườn đồi Đất chân đồi Suối
cạn
Hiện trạng Rừng nguyên thuỷ Rẫy Lúa, rẫy ngô
Đất chăn nuôi bò Rừng tái sinh Tương Lai Bảo vệ và trồng
thêm rừng Cấm săn bắn:
vượn, nai, hổ
Luân canh rẫy lúa 1-2 năm rồi bỏ hoang 3-4 năm
Bảo vệ rừng
2.8 Biểu đồ về công việc hàng ngày của người dân
- Biểu đồ sẽ giúp chúng ta nắm được các công việc và hoạt động hàng ngày của người dân ở vùng được khảo sát, đặc biệt là công việc hàng ngày của chị em phụ nữ Trong phát triển cộng đồng, thường xây dựng biểu đồ về công việc hàng ngày của phụ nữ vì tại cộng đồng ngày làm việc của phụ nữ thường dài hơn nam giới do họ phải gánh vác nhiều công việc hơn Biểu đồ này sẽ giúp xác định thời gian thích hợp để tổ chức các hoạt động phát triển tại cộng đồng
- Các bước:
+ Đặt các câu hỏi: mấy giờ sáng dậy? Sau đó làm gì? từ mấy giờ đến mấy giờ là gì? Tiếp tục hỏi cho đến khi người được hòi nói giờ đi ngủ
+ Vẽ biểu đồ phân loại theo các giờ từ sáng đến tối
Ví dụ:
Phân bổ thời gian làm việc và nghỉ ngơi trong ngày của phụ nữ xã Hữu Lập
Dậy
giã
gạo
Nấu
cơm Lênrẫy làm ở rẫy ăntrưa
nghỉ
Tiếp tục làm việc trên rẫy Vềnhà lấynước
3-4 lần
nấu cơm dệt vải
xem phim dệt vải
đi ngủ
2.9 Các loại biểu đồ khác: (giới thiệu)