1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Website trắc nghiệm trực tuyến tin học trình độ a

67 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Ngày nay, với sự nhảy vọt của khoa học công nghệ nói chung của ngành Tin học nói riêng, với những tính năng ưu việt, sự tiện dụng và được ứng dụng rộng rãi tin học trở thành

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trên thực tế, không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, chúng em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè

Với lòng biết ơn sâu sắc, chúng em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Trường đại học Quảng Bình đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường Và đặc biệt

là các thầy cô giáo trong khoa Toán – Tin đã dạy dỗ, giúp đỡ chúng em trong suốt 4 năm học đại học vừa qua Chúng em cũng xin được cảm ơn thầy giáo chủ nhiệm Nguyễn Duy Linh cùng các thành viên trong lớp Đại học Tin K51 đã cùng chúng

em học tập, rèn luyện trong suốt quãng đời sinh viên

Để hoàn thành được bài nghiên cứu khoa học này chúng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo ThS Lê Minh Thắng đã hướng dẫn tận tình cho chúng em về cách nghiên cứu khoa học Nếu không có những chỉ dẫn cụ thể của thầy thì bài nghiên cứu khoa học này của chúng em khó mà hoàn thiện được Một lần nữa, chúng em xin chân thành cảm ơn thầy

Đối với mỗi sinh viên, nghiên cứu khoa học là rất quan trọng nên chúngem đã đầu

tư rất nhiều thời gian và công sức Tuy nhiên do trình độ còn có hạn nên không tránh khỏi được những sai sót Chúng em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn đọc giả để bài nghiên cứu khoa học của chúng được hoàn thiện hơn

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay, với sự nhảy vọt của khoa học công nghệ nói chung của ngành Tin học nói riêng, với những tính năng ưu việt, sự tiện dụng và được ứng dụng rộng rãi tin học trở thành một phần không thể thiếu được của nhiều ngành trong công cuộc xây dựng và phát triển xã hội Hơn thế nữa nó còn đi sâu vào đời sống của mỗi con người

Một trong những ứng dụng tin học vào giáo dục đó chính là hình thức ôn thi trực tuyến Tiếp cận với hình thức thi trắc nghiệm trên mạng hiện nay đang là một trào lưu và cũng là một phương pháp học tập đang thu hút rất đông các bạn học sinh Bên cạnh đó, do sự ứng dụng của tin học vào mọi lĩnh vực nên trình độ tin học đối với mỗi người lại càng cấp thiết Để tổ chức đào tạo và cấp chứng chỉ cho một khoá học chứng chỉ A Tin học không phải là vấn đề dễ dàng Để tiết kiệm thời gian, công sức, nhanh chóng trong quá trình đào tạo, cấp chứng chỉ, và nâng cao chất

lượng đào tạo em đã xây dựng Website trắc nghiệm trực tuyến Tin học trình độ A

Vì thời gian và khả năng của bản thân có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót Chúng em rất mong nhận được những lời nhận xét, đánh giá của quý thầy cô, anh chị và các bạn để đề tài này ngày càng hoàn thiện hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Nhóm sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thu Huệ

Lê Thị Mai Hương Nguyễn Thị Hồng Vân

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

LỜI NÓI ĐẦU 2

MỤC LỤC 3

A MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài: 5

2 Mục đích nghiên cứu………5

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 6

4 Phạm vi đề tài: 6

5 Phương pháp nghiên cứu: 6

6 Cấu trúc của đề tài: 6

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ TRẮC NGHIỆM 8

I.1.NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT TRẮC NGHIỆM 8

I.1.1 Luận đề và Trắc nghiệm khách quan 8

I.1.2 Những nguyên tắc chung của trắc nghiệm 10

I.1.3 Những trường hợp dùng trắc nghiệm 11

I.1.4.Thiết kế dàn bài trắc nghiệm 12

I.1.5 Số câu hỏi trong bài trắc nghiệm 13

I.1.6 Phân loại câu hỏi trắc nghiệm 14

I.2 TỔNG QUAN VỀ PHP VÀ MYSQL 16

I.2.1 Ngôn ngữ php 16

I.2.2 Hệ quản trị cơ sở dữ liệu MySQL 19

I.2.3 INTERNET, WORLD WIDE WEB VÀ HTML 22

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG 29

II.1 Mô tả đề tài 29

II.2 Mô hình chức năng: 29

II.3 Sơ đồ tuần tự 32

II.4 Cơ sở dữ liệu của hệ thống: 43

Trang 4

CHƯƠNG III: CÀI ĐẶT HỆ THỐNG 49

III.1 Môi trường cài đặt 49

III.2 Công cụ cài đặt: Macromedia Dreamweaver: 51

III.3 Kết quả demo 54

III.3.1 Giao diện trang chủ 54

III.3.2 Trang tin tức: 55

III.3.3 Trang đăng ký và đăng nhập 55

III.3.4 Giao diện trang tìm kiếm: 56

III.3.5 Giao diện quản trị và hướng dẫn làm bài thi trắc nghiệm 59

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 5

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Ngày nay, với sự nhảy vọt của khoa học công nghệ nói chung của ngành Tin học nói riêng, với những tính năng ưu việt, sự tiện dụng và được ứng dụng rộng rãi tin học trở thành một phần không thể thiếu được của nhiều ngành trong công cuộc xây dựng và phát triển xã hội Hơn thế nữa nó còn đi sâu vào đời sống của mỗi con người

Tin học đã thâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, nhiều lĩnh vực hoạt động từ lĩnh vực quản lí hành chính, quản lí kinh tế, tự động hoá công nghiệp… đến các lĩnh vực giáo dục đều có thay đổi đáng kể nhờ ứng dụng tin học

Một trong những ứng dụng tin học vào giáo dục đó chính là hình thức ôn thi trực tuyến Tiếp cận với hình thức thi trắc nghiệm trên mạng hiện nay đang là một trào lưu và cũng là một phương pháp học tập đang thu hút rất đông các bạn học sinh Ôn

và thi trực tuyến có những lợi ích cơ bản như: Giảm chi phí, tự định hướng, tự điều chỉnh, tính linh hoạt, tính đồng bộ, tương tác và hợp tác, hiệu quả, dễ tiếp cận và thuận tiện…

Bên cạnh đó, do sự ứng dụng của tin học vào mọi lĩnh vực nên trình độ tin học đối với mỗi người lại càng cấp thiết Để tổ chức đào tạo và cấp chứng chỉ cho một khoá học chứng chỉ A Tin học không phải là vấn đề dễ dàng Để tiết kiệm thời gian, công sức, nhanh chóng trong quá trình đào tạo, cấp chứng chỉ, và nâng cao chất

Trang 6

lượng đào tạo em đã xây dựng Website trắc nghiệm trực tuyến Tin học trình độ A

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Tạo một Website thi trắc nghiệm trực tuyến tin học trình độ A, diễn đàn để các bạn sinh viên trao đổi kinh nghiệm học tập với nhau,… để nâng cao kiến thức chuyên môn và khả năng ứng dụng tin học, làm quen với hình thức thi trắc nghiệm trực tuyến

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

- Khách thể: những đối tượng cần ôn thi chứng chỉ tin học trình độ A

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Nội dung chuyên môn của chứng chỉ A tin học

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp lí thuyết: nghiên cứu tài liệu, sách vở, mô hình hoá, …

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp quan sát

+ Phương pháp điều tra

+ Phương pháp thực nghiệm khoa học

+ Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm

6 Cấu trúc của đề tài:

Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan về trắc nghiệm: giới thiệu tổng quan về lí thuyết trắc nghiệm, PHP và My SQL

Chương II: Phân tích và thiết kế hệ thống: nội dung của chương này là mô tả đề tài, trình bày các mô hình chức năng và các sơ đồ tuần tự các chức năng

Trang 7

Chương III: Cài đặt hệ thống, bao gồm các kết quả Demo, cách đưa Website từ Localhost lên Web Host

Trang 8

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ TRẮC NGHIỆM

I.1.NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT TRẮC NGHIỆM

I.1.1 Luận đề và Trắc nghiệm khách quan

Luận đề và trắc nghiệm khách quan đều là những phương tiện kiểm tra khả năng học tập, và cả hai đều là trắc nghiệm (tests) Các bài kiểm tra thuộc loại luận đề mà xưa nay vốn quen thuộc với chúng ta cũng là những bài trắc nghiệm nhằm khảo sát khả năng của học sinh về các môn học Các chuyên gia đo lường gọi chung các hình thức kiểm tra này là “trắc nghiệm loại luận đề” (essay-type test) để phân biệt với loại trắc nghiệm gọi là “trắc nghiệm khách quan” (objective test) Thật ra, việc dùng từ “khách quan” này để phân biệt hai loại kiểm tra nói trên cũng không đúng hẳn, vì trắc nghiệm luận đề không nhất thiết là trắc nghiệm “chủ quan” và trắc nghiệm khách quan không phải là hoàn toàn “khách quan” Tại Việt Nam, các tài liệu thường ghi là “trắc nghiệm khách quan”, không phải hiểu theo nghĩa đối lập với một đo lường chủ quan nào, mà nên hiểu là hình thức kiểm tra này có tính khách quan cao hơn cách kiểm tra, đánh giá bằng luận đề chẳng hạn Chúng ta gọi tắt “luận đề” là trắc nghiệm luận đề và “trắc nghiệm” là trắc nghiệm khách quan Dưới đây là chín điểm khác biệt và bốn điểm tương đồng giữa luận đề và trắc nghiệm

+ Khác biệt:

Điểm khác biệt

- Một câu hỏi thuộc loại luận đề đòi hỏi

thí sinh phải tự mình soạn câu trả lời và

diễn tả câu trả lời bằng ngôn ngữ của

chính mình

- Một câu hỏi trắc nghiệm buộc thí sinh phải lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong một số câu đã cho sẵn

Trang 9

- Một bài luận đề gồm số câu hỏi tương

đối ít và có tính cách tổng quát, đòi hỏi

thí sinh phải triển khai câu trả lời bằng

lời lẽ dài dòng

- Một bài trắc nghiệm thường gồm nhiều câu hỏi có tính cách chuyên biệt chỉ đòi hỏi những câu trả lời ngắn gọn

- Trong khi làm một bài luận đề, thí sinh

phải bỏ ra phần lớn thời gian để suy

nghĩ và viết

- Trong khi làm một bài trắc nghiệm, thí sinh dùng nhiều thời gian để đọc và suy nghĩ

- Chất lượng của một bài luận đề tùy

thuộc chủ yếu vào kỹ năng của người

chấm bài

- Chất lượng của một bài trắc nghiệm được xác định một phần lớn do kỹ năng của người soạn thảo bài trắc nghiệm

- Một bài thi theo lối luận đề tương đối

dễ soạn, nhưng khó chấm và khó cho

của mình trong câu trả lời, và người

chấm bài cũng có tự do cho điểm các

câu trả lời theo xu hướng riêng của

mình

- Người soạn thảo trắc nghiệm có nhiều

tự do bộc lộ kiến thức và các giá trị của mình qua việc đặt các câu hỏi, nhưng chỉ cho thí sinh quyền tự do chứng tỏ mức độ hiểu biết của mình qua tỉ lệ câu trả lời đúng

- Trong các câu hỏi luận đề, nhiệm vụ

học tập của người học và trên cơ sở đó

giám khảo thẩm định mức độ hoàn

thành các nhiệm vụ ấy không được phát

biểu một cách rõ ràng

- Trong các câu hỏi trắc nghiệm, nhiệm

vụ học tập của người học và trên cơ sở

đó giám khảo thẩm định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ ấy

được phát biểu một cách rõ ràng

- Một bài luận đề cho phép và đôi khi

khuyến khích sự “lừa phỉnh” (chẳng hạn

như bằng những ngôn từ hoa mỹ hay

- Một bài trắc nghiệm cho phép và đôi khi khuyến khích sự phỏng đoán

Trang 10

bằng cách đưa ra những bằng chứng khó

có thể xác định được)

- Sự phân bố điểm số của một bài thi

luận đề có thể được kiểm soát một phần

lớn do người chấm (ấn định điểm tối đa

và tối thiểu)

- Phân bố điểm số của thí sinh hầu như hoàn toàn được quyết định do bài trắc nghiệm

3 Trắc nghiệm và luận đề đều đòi hỏi sự vận dụng ít nhiều phán đoán chủ quan

4 Giá trị của cả hai loại trắc nghiệm và luận đề tùy thuộc vào tính khách quan

và đáng tin cậy của chúng

Bảng 1: So sánh giữa luận đề và trắc nghiệm

I.1.2 Những nguyên tắc chung của trắc nghiệm

Trắc nghiệm là một quy trình, và cũng như các quy trình khác, trắc nghiệm chỉ có thể được thực hiện một cách hiệu quả khi dựa trên một nguyên tắc vận hành hợp lý

Dưới đây là một số nguyên tắc chung của trắc nghiệm dựa theo Gronlund:

- Xác định và làm rõ nội dung đo lường phải được đặt ở mức ưu tiên cao hơn bản thân quá trình đo lường Không bao giờ được thực hiện trắc nghiệm khi chưa xác định nội dung và mục đích đo lường, vì giá trị của các kết quả đạt không chỉ phụ thuộc vào mặt kỹ thuật của việc đo lường mà trước hết là vào việc xác định rõ cần phải đo cái gì và tại sao

- Kỹ thuật trắc nghiệm phải được lựa chọn dựa trên mục đích trắc nghiệm, rất nhiều khi một kỹ thuật trắc nghiệm được lựa chọn chỉ vì nó thuận tiện, dễ sử dụng, hoặc

Trang 11

quen thuộc với nhiều người Tất cả những điều này đều quan trọng, nhưng điều quan trọng nhất trong việc lựa chọn một kỹ thuật trắc nghiệm giáo dục là liệu nó có

đo lường được một cách hiệu quả nhất những gì mà ta cần nó đo lường hay không Bởi vì một kỹ thuật/phương pháp trắc nghiệm chỉ thích hợp nhất cho một vài mục đích cụ thể

- Việc đánh giá tổng quát đòi hỏi phải sử dụng nhiều kỹ thuật và phương pháp đánh giá khác nhau Không có một phương pháp đánh giá nào có thể một mình thực hiện được toàn bộ những yêu cầu đánh giá mức tiến bộ của tất cả những kết quả quan trọng trong học tập của học sinh Vì thế, muốn có được một bức tranh hoàn chỉnh

về kết quả học tập của học sinh thì nhất thiết phải sử dụng nhiều kỹ thuật và phương pháp đánh giá khác nhau

- Muốn sử dụng trắc nghiệm một cách thích hợp nhất thiết phải có sự hiểu biết về những hạn chế cũng như những ưu điểm của nó Một trong những sai lầm nghiệm trọng trong việc sử dụng trắc nghiệm là diễn giải không đúng kết quả trắc nghiệm Cần nhớ rằng trắc nghiệm chỉ là một trong nhiều phương pháp đánh giá, và với tư cách là một công cụ đo lường nó luôn luôn có những sai số, cho nên không thể gán cho những kết quả trắc nghiệm một giá trị tuyệt đối được Mọi công cụ đo lường tâm lý tốt nhất cũng chỉ cho ta được một kết quả gần đúng với thực tế mà thôi, và luôn luôn phải ý thức điều này khi sử dụng trắc nghiệm

- Trắc nghiệm chỉ là một phương tiện dẫn đến cứu cánh, chứ không phải là cứu cánh Khi thực hiện trắc nghiệm phải nhớ rằng chúng được tiến hành để thu thập thông qua những mục đích cụ thể trong quá trình giảng dạy và học tập, chứ không phải chỉ để tiến hành cho có, và mong đợi rằng thông qua việc tiến hành trắc nghiệm, chất lượng giảng dạy và học tập sẽ đương nhiên có được sự cải thiện

I.1.3 Những trường hợp dùng trắc nghiệm

Nên sử dụng trắc nghiệm để khảo sát thành quả học tập trong những trường hợp sau:

Trang 12

- Khi cần khảo sát thành quả học tập của một số đông học sinh, hay muốn rằng bài khảo sát ấy có thể được sử dụng lại vào một lúc khác

- Khi muốn có những điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc phần lớn vào chủ quan của người chấm bài

- Khi các yếu tố công bằng, vô tư, chính xác được coi là những yếu tố quan trọng nhất của việc thi cử

- Khi có nhiều câu trắc nghiệm tốt đã được dự trữ sẵn để có thể lựa chọn và cấu trúc lại một bài trắc nghiệm mới Đặc biệt, ta muốn chấm nhanh và công bố kết quả sớm

- Khi muốn ngăn ngừa nạn học tủ, học vẹt, và gian lận trong thi cử của thí sinh

I.1.4.Thiết kế dàn bài trắc nghiệm

Dàn bài trắc nghiệm thành quả học tập là bảng dự kiến phân bố hợp lý các câu hỏi của bài trắc nghiệm theo mục tiêu (hay quá trình tư duy) và nội dung của môn học sao cho có thể đo lường chính xác các khả năng mà ta muốn đo Để làm công việc này một cách hiệu quả nhất, chúng ta cần phải quyết định:

- Cần khảo sát những gì ở học sinh

- Đặt tầm quan trọng vào những phần nào của môn học và mục tiêu nào

- Cần phải trình bày các câu hỏi dước hình thức nào cho có hiệu quả nhất

- Mức độ khó của các câu trắc nghiệm

- Mức độ khó của bài trắc nghiệm

Thông thường khi thiết kế một dàn bài trắc nghiệm, người ta lập một ma trận hai chiều, còn gọi là bảng quy định hai chiều (table of specifications): một chiều là nội dung và một chiều là mục tiêu Trong các ô ma trận ghi số câu cần kiểm tra cho mỗi nội dung và mục tiêu Tuy nhiên, những mục tiêu này không buộc phải theo sát các nguyên tắc phân loại (6 mức độ của mục tiêu nhận thức) đã được đề cập ở trên

mà có thể cụ thể hóa cho phù hợp với từng môn học khác nhau Trong mỗi ô của

Trang 13

bảng quy định hai chiều này, ta sẽ ghi số câu trắc nghiệm cho mục tiêu hay đơn vị nội dung tương ứng với hàng và cột đó

I.1.5 Số câu hỏi trong bài trắc nghiệm

Số câu của một bài trắc nghiệm khách quan tùy thuộc vào lượng thời gian dành cho việc kiểm tra Trong những kỳ thi, thời gian dành cho trắc nghiệm có thể là hai giờ hay hơn thế Nói chung, thời gian càng dài, càng có nhiều câu hỏi, thì các điểm số

có được từ bài trắc nghiệm ấy càng đáng tin cậy hơn, chỉ số tin cậy sẽ cao Nhưng trong thực tế, rất hiếm khi có bài trắc nghiệm cho học sinh làm liên tục trong hơn

“dân số” các câu hỏi thích hợp về môn học Tuy nhiên, nếu ta thiết lập dàn bài trắc nghiệm một cách kỹ càng, và căn cứ vào thời gian quy định bài trắc nghiệm mà phân bố số câu hỏi hợp lý cho từng phần của nội dung và mục tiêu môn học, ta cũng sẽ có nhiều hi vọng lựa chọn được số câu hỏi “đại diện” cho “dân số” các câu hỏi thích hợp

Số câu hỏi mà một học sinh có thể trả lời được trong một phút tùy thuộc vào loại câu trắc nghiệm sử dụng, vào mức độ phức tạp của quá trình tư duy đòi hỏi để trả lời câu hỏi, và cả vào thói quen làm việc của học sinh Vì lý do đó, ta khó có thể xác định chính xác cần phải có bao nhiêu câu hỏi trong bài trắc nghiệm với số thời

Trang 14

gian ấn định sẵn Phương pháp tốt nhất là rút kinh nghiệm từ những bài trắc nghiệm tương tự

Trong trường hợp không có những kinh nghiệm như vậy, ta có thể giả định rằng ngay cả những học sinh làm rất chậm cũng có thể trả lời một câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn trong một phút, và một câu trắc nghiệm loại Đúng Sai trong nửa phút Với những câu trắc nghiệm dài hơn hay phức tạp thì ta có thể cần phải xét lại thời gian giả định ấy

I.1.6 Phân loại câu hỏi trắc nghiệm

I.1.6.1 Chuẩn IMSQTI :

Chuẩn IMSQTI hay đặc tả IMSQTI ( IMS Question and Test Interoperability - Các định dạng để xây dựng và trao đổi thông tin về đánh giá kết quả học tập ), là một trong những đặc tả do tổ chức IMS ( Instructional Management System Global Learning Consortium - tổ chức chuyên phát triển và xúc tiến các đặc tả mở để hỗ trợ các hoạt động học tập phân tán trên mạng như định vị và sử dụng nội dung giáo dục, theo dõi quá trình học tập, thông báo kết quả học tập, và trao đổi các thông tin

về học viên giữa các hệ thống quản lý ) đặt ra

Theo như chuẩn IMSQTI các câu hỏi trắc nghiệm được phân loại theo kịch bản tương tác và xử lý của câu hỏi, nói cách khác, là phân loại theo bản chất của câu hỏi IMSQTI đưa ra khái niệm interaction, đó chính là tương tác hay bản chất của một câu hỏi Interaction là một lớp tổng quát ở bên trên, dưới nó là các interaction con, tương ứng với từng loại câu hỏi cụ thể IMSQTI cũng đưa ra khái niệm về choice, đó chính là các phương án trả lời hay các lựa chọn của câu hỏi Choice cũng là một lớp tổng quát bên trên, dưới nó là các lớp con tùy thuộc cho từng loại câu hỏi

I.1.6.2 Phân loại câu hỏi theo interaction (tương tác)

Sau đây là phân loại các câu hỏi trắc nghiệm theo khái niệm interaction trong đặc tả IMS Question and Test Interoperability

Trang 15

a choiceInteraction (lựa chọn)

Đây là loại câu hỏi trắc nghiệm thông dụng nhất và khi nghĩ đến trắc nghiệm, chúng ta thường nghĩ đến loại câu hỏi này Câu hỏi loại này thường có một hay nhiều phương án trả lời, nhiệm vụ của thí sinh là chọn ra phương án trả lời đúng nhất hoặc là các phương án trả lời đúng trong trường hợp có nhiều phương án trả lời đúng Trong câu hỏi sẽ có nhiều lựa chọn gọi là các simpleChoice

`- Ưu điểm:

+ Dễ xây dựng

+ Có thể đặt được nhiều câu hỏi trong một bài trắc nghiệm với thời gian cho trước; điều này làm tăng tính tin cậy của bài trắc nghiệm nếu như các câu trắc nghiệm Đúng - Sai được soạn thảo theo đúng quy cách

+ Trong khoảng thời gian ngắn có thể soạn được nhiều câu trắc nghiệm Đúng - Sai

vì người soạn trắc nghiệm không cần phải tìm ra phần trả lời cho học sinh lựa chọn

- Nhược điểm:

+ Độ may rủi cao, do đó dễ khuyến khích người trả lời đoán mò

+ Thường chỉ được dùng để kiểm tra mức độ nhận biết, hiểu

- Những yêu cầu khi soạn câu trắc nghiệm Đúng-Sai:

+ Mỗi câu trắc nghiệm chỉ nên diễn tả một ý tưởng độc nhất, tránh những câu phức tạp, bao gồm quá nhiều chi tiết

+ Lựa chọn những câu phát biểu sao cho một người có khả năng trung bình không thể nhận ra ngay là Đúng hay Sai mà không cần suy nghĩ

+ Những câu phát biểu tính chất Đúng, Sai phải chắc chắn, có cơ sở khoa học + Tránh dùng những câu phát biểu trích nguyên văn từ sách giáo khoa, như vậy sẽ khuyến khích học sinh học thuộc lòng máy móc

+ Tránh dùng các từ: thường thường, đôi khi, một số người,v.v… vì thường là câu phát biểu Đúng

b orderInteraction (sắp xếp)

Trang 16

Câu hỏi loại này thường có nhiều simpleChoice, tạm gọi là các phương án trả lời Trong đó, không có simpleChoice nào là đúng, chỉ có thứ tự ưu tiên trước sau của chúng là có ý nghĩa Nhiệm vụ của thí sinh là sắp xếp lại các phương án trả lời này theo thứ tự đúng của chúng

c associateInteraction (quan hệ)

Là loại câu hỏi trắc nghiệm kết nối nhiều lựa chọn Câu hỏi loại này nhiều lựa chọn, nhiệm vụ của thí sinh là nối một lựa chọn với các lựa chọn khác có liên quan Các lựa chọn này gọi là các simpleAssociableChoice

- Ưu điểm:

+ Dễ xây dựng

+ Có thể hạn chế sự đoán mò bằng cách tăng số lượng lựa chọn

- Nhược điểm:

+ Chỉ chủ yếu dùng để kiểm tra khả năng nhận biết

+ Thông tin có tính dàn trải, không nhấn mạnh được những điều quan trọng

- Những yêu cầu khi soạn câu hỏi dạng này :

+ Không nên đặt số lựa chọn ở hai cột bằng nhau vì như vậy làm cho học sinh dự đoán được sau khi biết một số trường hợp Bên cạnh đó có thể dùng một lựa chọn đúng với hai hay nhiều câu hỏi

+ Không nên soạn các lựa chọn quá dài làm mất thì giờ của học sinh

I.2 TỔNG QUAN VỀ PHP VÀ MYSQL

I.2.1 Ngôn ngữ php

I.2.1.1 Giới thiệu

PHP (viết tắt hồi quy "PHP: Hypertext Preprocessor") là một ngôn ngữ lập trình kịch bản hay một loại mã lệnh chủ yếu được dùng để phát triển các ứng dụng viết cho máy chủ, mã nguồn mở, dùng cho mục đích tổng quát Nó rất thích hợp với web và có thể dễ dàng nhúng vào trang HTML

- Tại sạo lại chọn PHP mà không phải là ASP.Net hay ngôn ngữ nào khác:

Trang 17

+ Tốc độ nhanh, dễ sử dụng

PHP là ngôn ngữ script, có đầy đủ các đặc tính như khả năng, cấu trúc và dễ sử dụng, việc gõ lệnh PHP nhanh hơn ColdFusion (ngôn ngữ lập trình web của hãng Adobe) và nó không khó học như Perl (viết tắt của Practical Extraction and Report Language - ngôn ngữ kết xuất và báo cáo thực dụng - là ngôn ngữ thông dụng trong lĩnh vực quản trị hệ thống và xử lí các trang Web) Tóm lại, PHP cung cấp các tính năng mạnh mẽ để thực hiện ứng dụng Web một cách nhanh chóng

+ Chạy trên nhiều hệ điều hành

PHP có thể chạy trên WindowsNT/2000/2003 và Unix với sự hỗ trợ của IIS và Apache Nhưng ngoài ra nó có thể chạy trên một số các platform (nền tảng) khác như Netscape, Roxen, hay một vài thứ khác Như chúng ta biết ASP có thể chạy trên Unix, ColdFusion có thể chạy trên Solaris và Linux, JSP có thể chạy trên khá nhiều loại platform Đối với PHP, nó có thể chạy tốt trên những platform hỗ trợ các chủng loại trên

+ Truy cập bất kỳ loại CSDL nào

Ứng dụng dự định sẽ truy cập những loại dữ liệu dịch vụ : LDAP, IMAP mail server, DB2, XML parser hay WDDX, bất kể cần đến thứ gì thì PHP cũng sẵn sàng

hỗ trợ thông qua các hàm được xây dựng sẵn nó sẽ làm công việc trở nên rất dễ dàng và tiện lợi

+ Luôn được cải tiến và cập nhật

Có hàng ngàn những chuyên gia lập trình xuất sắc đợi sẵn và họ sẵn sàng bỏ thời gian ra để tạo những phần mềm tuyệt vời và hầu như miễn phí Đối với ngôn ngữ thịnh hành như PHP thì ắt hẳn là các rất nhiều các nhà lập trình đang thực hiện phát triển nó hằng ngày Sự thật có một việc rất ấn tượng là nếu như có một sự cố kỹ thuật, với một email gửi đến một nhà phát triển PHP cùng các các chi tiết sự cố đó Chỉtrong vòng vài giờ sẽ nhận được sự trả lời thoả đáng

+ Được hướng dẫn kỹ thuật bất cứ lúc nào

Trang 18

PHP

Hầu hết các ngôn ngữ đều hỗ trợ active mailing list (danh sách mail những thành viên trực chiến hỗ trợ kỹ thuật) và các development site (trang web hỗ trợ giải quyết kỹ thuật) PHP cũng không ngoại lệ Nếu gặp phải sự cố - gặp những lỗi trong chương trình và không tìm ra cách khắc phục - sẽ có hàng trăm người có tên trong danh sách mail luôn sẵn lòng kiểm tra và khắc phục sự cố

+ Hoàn toàn miễn phí

Không còn ngại gì về vấn đề bản quyền khi sắm một máy vi tính và cài lên đó những phần mềm như Linux, Apache, PHP vì tất cả đều miễn phí Nếu cần không gian làm việc trên internet thì hiện nay các dịch vụ host miễn phí hỗ trợ PHP luôn luôn có và rộng cửa đón chờ

I.2.1.2 Yêu cầu

- Kết hợp với JavaScript và công nghệ Ajax (Asynchronous JavaScript and XML - JavaScript và XML không đồng bộ)

- Lập trình hướng đối tượng

- Thiết kế và xây dựng website theo mô hình MVC (Model-View-Controller –lớp truy vấn- lớp nhập và hiển thị - lớp điều khiền)

1.2.1.3 Hoạt động của PHP:

Vì PHP là ngôn ngữ của máy chủ nên mã lệnh của PHP sẽ tập trung trên máy chủ

để phục vụ các trang Web theo yêu cầu của người dùng thông qua trình duyệt

Trang 19

Khi người dùng truy cập Website viết bằng PHP, máy chủ đọc mã lệnh PHP và xử

lí chúng theo các hướng dẫn được mã hóa Mã lệnh PHP yêu cầu máy chủ gửi một

dữ liệu thích hợp (mã lệnh HTML) đến trình duyệt Web Trình duyệt xem nó như

là một trang HTML têu chuẩn Như ta đã nói, PHP cũng chính là một trang HTML nhưng có nhúng mã PHP và có phần mở rộng là HTML Phần mở của PHP được đặt trong thẻ mở <?php và thẻ đóng ?> Khi trình duyệt truy cập vào một trang PHP, Server sẽ đọc nội dung file PHP lên và lọc ra các đoạn mã PHP và thực thi các đoạn mã đó, lấy kết quả nhận được của đoạn mã PHP thay thế vào chỗ ban đầu của chúng trong file PHP, cuối cùng Server trả về kết quả cuối cùng là một trang nội dung HTML về cho trình duyệt

I.2.2 Hệ quản trị cơ sở dữ liệu MySQL

I.2.2.1 Giới thiệu MySQL

MySQL là hệ quản trị cơ sở dữ dữ liệu mã nguồn mở miễn phí, được tích hợp sử dụng chung với apache, PHP

MySQL quản lý dữ liệu thông qua các cơ sở dữ liệu, mỗi cơ sở dữ liệu có thể có nhiều bảng quan hệ chứa dữ liệu

MySQL có cơ chế phân quyền người sử dụng riêng, mỗi người dùng có thể được quản lý một hoặc nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau, mỗi người dùng có một tên truy cập (user name) và mật khẩu tương ứng để truy xuất đến cơ sở dữ liệu

Khi ta truy vấn tới cơ sở dữ liệu MySQL, ta phải cung cấp tên truy cập và mật khẩu của tài khoản có quyền sử dụng cơ sở dữ liệu đó Nếu không, chúng ta sẽ không làm được gì cả

1.2.2.2 Ưu điểm của MySQL

Tốc độ: MySQL rất nhanh Những nhà phát triển cho rằng MySQL là cơ sở dữ liệu nhanh nhất mà bạn có thể có

Trang 20

Dễ sử dụng: MySQL tuy có tính năng cao nhưng thực sự là một hệ thống cơ sở dữ liệu rất đơn giản và ít phức tạp khi cài đặt và quản trị hơn các hệ thống lớn

Giá thành: MySQL là miễn phí cho hầu hết các việc sử dụng trong một tổ chức

Hỗ trợ ngôn ngữ truy vấn: MySQL hiểu SQL, là ngôn ngữ của sự chọn lựa cho tất

cả các hệ thống cơ sở dữ liệu hiện đại Bạn cũng có thể truy cập MySQL bằng cách

sử dụng các ứng dụng mà hỗ trợ ODC (Open Database Connectivity - một giao thức giao tiếp cơ sở dữ liệu được phát triển bởi Microsoft)

Năng lực: Nhiều client có thể truy cập đến server trong cùng một thời gian Các client có thể sử dụng nhiều cơ sở dữ liệu một cách đồng thời Bạn có thể truy cập MySQL tương tác với sử dụng một vài giao diện để bạn có thể đưa vào các truy vấn và xem các kết quả: các dòng yêu cầu của khách hàng, các trình duyệt Web… Kết nối và bảo mật: MySQL được nối mạng một cách đầy đủ, các cơ sở dữ liệu có thể được truy cập từ bất kỳ nơi nào trên Internet do đó bạn có thể chia sẻ dữ liệu của bạn với bất kỳ ai, bất kỳ nơi nào Nhưng MySQL kiểm soát quyền truy cập cho nên người mà không nên nhìn thấy dữ liệu của bạn thì không thể nhìn được

Tính linh động: MySQL chạy trên nhiều hệ thống UNIX cũng như không phải UNIX chẳng hạn như Windows MySQL chạy được các với mọi phần cứng từ các máy PC ở nhà cho đến các máy server

Sự phân phối rộng: MySQL rất dễ dàng đạt được, chỉ cần sử dụng trình duyệt web của bạn Nếu bạn không hiểu làm thế nào mà nó làm việc hay tò mò về thuật toán, bạn có thể lấy mã nguồn và tìm tòi nó Nếu bạn không thích một vài cái, bạn có thể thay đổi nó

Sự hỗ trợ: Bạn có thể tìm thấy các tài nguyên có sẵn mà MySQL hỗ trợ Cộng đồng MySQL rất có trách nhiệm Họ trả lời các câu hỏi trên mailing list thường chỉ trong vài phút Khi lỗi được phát hiện, các nhà phát triển sẽ đưa ra cách khắc phục trong

Trang 21

vài ngày, thậm chí có khi trong vài giờ và cách khắc phục đó sẽ ngay lập tức có sẵn

trên Internet

I.2.2.3 Tại sao lựa chọn MySQL ?

- Tốc độ và khả năng: MySQL rất nhanh Những nhà phát triển cho rằng MySQL là

hệ quản trị cơ sở dữ liệu nhanh nhất mà người dùng có thể có Nếu công việc là lưu trữ dữ liệu trên web hoặc làm một trang thương mại điện tử cỡ vừa, thì MySQL có

đủ những thứ cần thiết Đối với những cơ sở dữ liệu cỡ trung bình thì MySQL hỗ trợ tuyệt vời về tốc độ

- Dễ sử dụng: MySQL tuy có tính năng cao nhưng thực sự là một hệ thống cơ sở dữ liệu rất đơn giản và ít phức tạp khi cài đặt và quản trị hơn các hệ thống lớn

- Giá thành: MySQL là miễn phí

- Hỗ trợ ngôn ngữ truy vấn: MySQL hiểu SQL, là ngôn ngữ của sự chọn lựa cho tất

cả các hệ thống cơ sở dữ liệu hiện đại Người dùng cũng có thể truy cập MySQL bằng cách sử dụng các ứng dụng mà hỗ trợ ODBC (Open Database Connectivity - một giao thức giao tiếp cơ sở dữ liệu được phát triển bởi Microsoft)

- Năng lực: Nhiều client (máy trạm) có thể truy cập đến server trong cùng một thời gian Các client có thể sử dụng nhiều cơ sở dữ liệu một cách đồng thời Có thể truy cập MySQL tương tác với sử dụng một vài giao diện để có thể đưa vào các truy vấn

và xem các kết quả: các dòng yêu cầu của khách hàng, các trình duyệt Web

- Kết nối và bảo mật: MySQL được nối mạng một cách đầy đủ, các cơ sở dữ liệu có thể được truy cập từ bất kỳ nơi nào trên Internet do đó người dùng có thể chia sẻ dữ liệu của mình với bất kỳ ai, bất kỳ nơi nào Nhưng MySQL kiểm soát quyền truy cập cho nên chỉ những người được phép mới có thể thấy được dữ liệu

- Tính linh động: MySQL chạy trên nhiều hệ thống UNIX cũng như không phải UNIX chẳng hạn như Windows MySQL chạy được với mọi phần cứng từ các máy

PC ở nhà cho đến các máy server

Trang 22

- Sự phân phối rộng: MySQL rất dễ dàng đạt được, chỉ cần sử dụng trình duyệt web bình thường Nếu không hiểu làm thế nào mà nó làm việc hay tò mò về thuật toán, người dùng có thể lấy mã nguồn và tìm tòi nó Nếu không thích một vài chi tiết, người dùng có thể thay đổi

- Sự hỗ trợ: Người dùng có thể tìm thấy các tài nguyên có sẵn mà MySQL hỗ trợ Cộng đồng MySQL rất có trách nhiệm Họ trả lời các câu hỏi trên mailing list thường chỉ trong vài phút Khi lỗi được phát hiện, các nhà phát triển sẽ đưa ra cách khắc phục trong vài ngày, thậm chí có khi trong vài giờ và cách khắc phục đó sẽ ngay lập tức có sẵn trên Internet

- Cải tiến liên tục: MySQL được cải thiện liên tục với một tần số không ngờ Các nhà phát triển cập nhật nó thường xuyên, ngoài ra còn bổ sung các tính năng rất ấn tượng cho nó mọi lúc mọi nơi Hiện tại, MySQL đã được bổ sung thêm hỗ trợ transaction (giao dịch) Như vậy là MySQL đã thực thụ trở thành một Hệ Quản trị CSDL chuyên nghiệp

I.2.3 INTERNET, WORLD WIDE WEB VÀ HTML

I.2.3.1 INTERNET

* Giới thiệu chung:

Internet là mạng của các máy tính trên toàn cầu được thành lập từ những năm 80 bắt nguồn từ mạng APARRNET của bộ quốc phòng Mỹ

* Vai trò, ý nghĩa của Internet trong đời sống xã hội:

- Trước hết, internet là một siêu kênh thông tin toàn cầu, cho phép liên kết con

người lại bằng thông tin và kết nối nguồn tri thức đã tích lũy của toàn nhân loại trong một mạng lưu thông nhất quán Hàng triệu người trên khắp thế giới, thuộc đủ mọi quốc gia, dân tộc, qua mạng internet có thể trao đổi với nhau về tư tưởng, tình cảm, những kinh nghiệm sống, đọc báo, tạp chí…Đặc biệt, thông qua mạng internet, tri thức của từng cộng đồng, từng quốc gia được tích lũy và lưu trữ trong các thư viện, các ngân hàng dữ liệu đã được quốc tế hóa, trở thành tài sản của loài

Trang 23

người Từ một máy tính nối mạng ở Việt Nam, ở Braxin, người ta có thể đọc được các báo nổi tiếng nhất ở Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản; truy cập vào kho dữ liệu khổng lồ của các trường Đại học lớn nhất ở các nước công nghiệp phát triển, người

ta cũng có thể nhanh chóng biết được những dữ kiện mới nhất ở các nước đang phát triển Với internet, biên giới địa chính trị chỉ còn mang ý nghĩa tượng trưng tương đối.Theo xu hướng chung, dòng thông tin chuyển đi trong mạng internet ngày càng lớn và đến mọi địa điểm trên địa cầu Bất cứ ở đâu người ta cũng có thể trao đổi tư tưởng, kinh nghiệm, làm việc với nhau qua internet Và do đó, khi các nhà báo đưa thông tin của họ lên mạng, quy mô, phạm vi ảnh hưởng của thông tin

đó sẽ rộng lớn hơn nhiều so với các phương tiện thông thường

- Thứ hai, internet tạo ra khả năng cung cấp thông tin trực tiếp theo đơn đặt hàng

Điều đó sẽ tạo ra cơ hội thuận lợi mới cho khách hàng Họ sẽ có thể nhận được các thông tin theo đúng yêu cầu của mình, cho dù là những yêu cầu đó rất phong phú

và mang tính cá nhân đơn lẻ Việc chia cắt khách hàng ra từng bộ phận nhỏ sẽ dẫn tới tác động tiêu cực cho các nguồn cung cấp thông tin truyền thống Nguyên nhân chính là ở chỗ internet mở ra cánh cửa tiếp cận với ngân hàng dữ liệu khổng lồ trên mọi lãnh vực của cả thế giới, khách hàng không chỉ có khả năng truy cập những thông tin tư liệu về một vấn đề, một sự kiện cụ thể mà còn có thể khai thác các mối quan hệ tác động qua lại giữa sự kiện, vấn đề ấy giữa với xã hội và thế giới xung quanh Điều ấy cho phép mỗi người có cái nhìn toàn diện hơn, đúng đắn hơn và hình thành cho mình nhận thức, hành vi ứng xử hợp lý hơn Dịch vụ thông tin trực tiếp theo đơn đặt hàng mới chỉ bắt đầu phổ biến ở các nước công nghiệp phát triển, nơi mà internet đã trở thành một hình ảnh quen thuộc trong đời sống hàng ngày của

cư dân Ở các nước này, tùy theo nhu cầu, người ta đã có thể truy cập vào những đề tài cụ thể theo yêu cầu nhất định Những khối lượng thông tin đồ sộ để phục vụ công chúng, xã hội đông đảo đã được sửa chữa, tổ hợp theo ý của người nhận Trong trường hợp này, khách hàng có thể thấy được ý nghĩa của các sự kiện, vấn đề

Trang 24

- Thứ ba, internet mở ra khả năng và điều kiện cho con người tiếp cận trực tiếp các

nguồn thông tin Có nghĩa là thông tin ngay từ nguồn sẽ đi thẳng đến người khai thác mà không qua trung gian nào, hiện tượng nhiễu sẽ giảm đi Điều này dẫn đến một sự chuyển hướng quan trọng trong mối quan hệ giữa các nguồn tin, các phương tiện thông tin và công chúng Trong mối quan hệ này, báo chí giữ vai trò trung gian, họ thu thập thông tin từ nguồn để lựa chọn, “nhào nặn” lại và truyền đi cho xã hội Công chúng chỉ có cơ hội lựa chọn trong số thông tin mà họ cung cấp Với internet, quá trình truyền thông tin tức được thực hiện ngay tức khắc trên phạm

vi toàn cầu Tuy nhiên, đây chỉ là một mặt của vấn đề và nó dẫn tới sự thay đổi phương pháp làm việc của các nhà báo Báo chí buộc phải thích ứng với điều kiện mới bằng cách nâng cao vai trò của mình trong việc phân tích ý nghĩa của thông tin, hướng dẫn công chúng tập trung vào những thông tin trung thực và hiểu những thông tin đó một cách đúng đắn

I.2.3.2 WORLD WIDE WEB:

* World Wide Web (WWW) hay còn gọi là Web là một dịch vụ phổ biến nhất hiện nay trên Internet, 85% các giao dịch trên Internet ước lượng thuộc về WWW Ngày nay số Website trên thế giới đã đạt tới con số khổng lồ WWW cho phép bạn truy xuất thông tin văn bản, hình ảnh, âm thanh, video trên toàn thế giới Thông qua Website, các quý công ty có thể giảm thiểu tối đa chi phí in ấn và phân phát tài liệu cho khách hàng ở nhiều nơi

* Cách tạo trang Web:

Có nhiều cách để tạo trang Web:

- Có thể tạo trang Web trên bất kì chương trình xử lí văn bản nào

- Tạo Web bằng cách viết mã nguồn bởi một trình soạn thảo văn bản như: Notepad, WordPad…là những chương trình soạn thảo văn bản có sẵn trong Window

- Thiết kế bằng cách dùng Web Wizard và công cụ của Word 97, Word 2000

Trang 25

- Thiết kế Web bằng các phần mềm chuyên nghiệp: FrontPage, Dreamweaver, Nescape Editor… Phần mềm chuyên nghiệp như DreamWeaver sẽ giúp bạn thiết

kế trang Web dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn, phần lớn mã lệnh HTML sẽ có sẵn trong phần Code cho bạn

Để xây dựng một ứng dụng Web hoàn chỉnh và có tính thương mại, bạn cần kết hợp cả Client Script (kịch bản trình khách) và Server Script (kịch bản trên trình chủ) với một loại cơ sở dữ liệu nào đó, chẳng hạn như: MS Access, SQL Server, MySQL, Oracle,

Khi bạn muốn triển khai ứng dụng Web trên mạng, ngoài các điều kiện về cấu hình phần cứng, bạn cần có trình chủ Web thường gọi là Web Server

* Trình duyệt Web (Web Client hay Web Browser):

Trình duyệt Web là công cụ truy xuất dữ liệu trên mạng, là phần mềm giao diện trực tiếp với người sử dụng Nhiệm vụ của Web Browser là nhận các yêu cầu của người dùng, gửi các yêu cầu đó qua mạng tới các Web Server và nhận các dữ liệu cần thiết từ Server để hiển thị lên màn hình Để sử dụng dịch vụ WWW, Client cần

có 1 chương trình duyệt Web, kết nối vào Internet thông qua một ISP Các trình duyệt thông dụng hiện nay là: Microsoft Internet Explorer, Mozilla Firefox và Google Chrome… Trong đó Internet Explorer là một trình duyệt chuẩn cho phép trình bày nội dung do Web server cung cấp, cho phép đăng kí tới bất kì Website nào trên Internet, hỗ trợ trình bày trang Web

* Webserver:

Webserver: là một máy tính được nối vào Internet và chạy các phần mềm được thiết kế Webserver đóng vai trò một chương trình xử lí các nhiệm vụ xác định, như tìm trang thích hợp, xử lí tổ hợp dữ liệu, kiểm tra dữ liệu hợp lệ Webserver cũng

là nơi lưu trữ cơ sở dữ liệu, là phần mềm đảm nhiệm vai trò Server cung cấp dịch

vụ Web

Webserver hỗ trợ các công nghệ khác nhau:

Trang 26

- Apache: Hỗ trợ PHP

- Tomcat: Hỗ trợ JSP (Java Servlet Page)

* Phân loại Web

+ Web tĩnh:

- Tài liệu được phân phát rất đơn giản từ hệ thống file của Server

- Định dạng các trang web tĩnh là các siêu liên kết, các trang định dạng Text, các hình ảnh đơn giản

- Ưu điểm: CSDL nhỏ nên việc phân phát dữ liệu có hiệu quả rõ ràng, Server có thể đáp ứng nhu cầu Client một cách nhanh chóng Ta nên sử dụng Web tĩnh khi không thay đổi thông tin trên đó

- Nhược điểm: Không đáp ứng được yêu cầu phức tạp của người sử dụng, không linh hoạt,

- Hoạt động của trang Web tĩnh được thể hiện như sau:

Browser gửi yêu cầu

Browser Server

Server gửi trả tài liệu

+ Website động:

Về cơ bản nội dung của trang Web động như một trang Web tĩnh, ngoài ra nó còn

có thể thao tác với CSDL để đáp ứng nhu cầu phức tập của một trang Web Sau khi nhận được yêu cầu từ Web Client, chẳng hạn như một truy vấn từ một CSDL đặt trên Server, ứng dụng Internet Server sẽ truy vấn CSDL này, tạo một trang HTML chứa kết quả truy vấn rồi gửi trả cho người dùng

- Hoạt động của Web động:

Trang 27

Yêu cầu Kết nối

URL CGI CSDL

Form Dữ liệu trả về Dữ liệu trả về

I.2.3.3 HTML

- HTML (tiếng Anh, viết tắt cho HyperText Markup Language, hay là "Ngôn ngữ

Đánh dấu Siêu văn bản") là một ngôn ngữ đánh dấu được thiết kế ra để tạo nên các trang web với các mẩu thông tin được trình bày trên World Wide Web HTML được định nghĩa như là một ứng dụng đơn giản của SGML và được sử dụng trong các tổ chức cần đến các yêu cầu xuất bản phức tạp HTML đã trở thành một chuẩn Internet do tổ chức World Wide Web Consortium (W3C) duy trì Phiên bản chính thức mới nhất của HTML là HTML 4.01 (1999) Sau đó, các nhà phát triển

đã thay thế nó bằng XHTML Hiện nay, HTML đang được phát triển tiếp với phiên bản HTML5 hứa hẹn mang lại diện mạo mới cho Web

Bằng cách dùng HTML động hoặc Ajax, lập trình viên có thể được tạo ra và xử lý bởi số lượng lớn các công cụ, từ một chương trình soạn thảo văn bản đơn giản – có thể gõ vào ngay từ những dòng đầu tiên – cho đến những công cụ xuất bản WYSIWYG phức tạp HTML không phải là ngôn ngữ lập trình, nó là ngôn ngữ trình bày

Trang Web là sự kết hợp giữa văn bản và các thẻ HTML HTML là chữ viết tắt của HyperText Markup Language được hội đồng World Wide Web Consortium (W3C) quy định Một tập tin HTML chẳng qua là một tập tin bình thường, có đuôi html hoặc htm HTML giúp định dạng văn bản trong trang Web nhờ các thẻ Hơn nữa , các thẻ html có thể liên kết từ hoặc một cụm từ với các tài liệu khác trên Internet

Đa số các thẻ HTML có dạng thẻ đóng mở Thẻ đóng dùng chung từ lệnh giống như thẻ mở, nhưng thêm dấu xiên phải (/) Ngôn ngữ HTML qui định cú pháp

không phân biệt chữ hoa chữ thường Ví dụ, có thể khai báo <html> hoặc

<HTML> Không có khoảng trắng trong định nghĩa thẻ

Cấu trúc chung của một trang HTML:

<html>

<head>

<title>Tiêu đề của trang Web</title>

Trang 28

<body>

<!-các thẻ Html và nội dung sẽ hiển thị >

</body>

</html>

Trang 29

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG

II.1 Mô tả đề tài

Đề tài được thiết kế là một Website với mục đích cho thí sinh dự thi lý thuyết tin học ứng dụng cấp độ A bằng phương pháp trắc nghiệm qua mạng

Chương trình bao gồm hai phân quyền sử dụng là quyền quản trị mạng và quyền người dùng (thí sinh)

- Quyền quản trị: bao gồm các quyền thêm, xóa, cập nhật các thông tin về

câu hỏi của bộ đề thi, thông tin thí sinh và các tin tức sự kiện nổi bật có liên quan Ngoài ra quản trị cũng có tất cả các quyền như một người dùng thông thường như đăng nhập vào trang Web, tham gia thi, đọc tin tức, xem lịch thi, đọc các quy định của trang web,…

- Quyền thí sinh: thí sinh muốn sử dụng các chức năng của trang Website

phải đăng kí làm thành viên của website Các chức năng của chương trình bao gồm thi trắc nghiệm và tìm kiếm thí sinh, câu hỏi theo các tiêu chuẩn tìm kiếm

- Khi người dùng đăng nhập vào hệ thống với quyền thí sinh, hệ thống sẽ yêu cầu cho biết tên đăng nhập Nếu chưa lần nào đăng nhập thì sẽ cho đăng kí thành viên Khi thí sinh muốn thi thì phải đăng kí thông tin bài thi Dựa trên đáp án câu hỏi tương ứng với đề của thí sinh đã làm và câu trả lời của thí sinh để chấm điểm cho bài làm của thí sinh Quy định: 0.2 điểm cho mỗi câu trả lời đúng và nếu câu trả lời sai thì điểm của câu đó là 0 ứng với 50 câu hỏi của đề thi Thí sinh muốn làm lại bài thi của mình phải có liên hệ với người quản trị để cấp thêm quyền dự thi

- Khi người dùng đăng nhập hệ thống với quyền nhà quản trị (Admin) với tên đăng nhập và mật khẩu đã đăng ký sẽ được quyền thêm, xóa, sửa trên các dữ liệu

hệ thống về các câu hỏi của bộ đề thi, thông tin thí sinh và các tin tức sự kiện

II.2 Mô hình chức năng:

Trang 31

- Mô hình chức năng của quản trị viên:

Trang 32

II.3 Sơ đồ tuần tự

- Sơ đồ tuần tự cho chức năng đăng kí thành viên:

Trang 33

- Sơ đồ tuần tự cho chức năng gửi ý kiến về trang Web:

Ngày đăng: 06/04/2018, 15:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w