UBND TỈNH QUẢNG BÌNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ NGHIÊN CỨU SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ THÁT LÁT Notopterus notopterus PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU
Trang 1UBND TỈNH QUẢNG BÌNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
NGHIÊN CỨU SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ THÁT LÁT
(Notopterus notopterus) PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN TỰ
NHIÊN TỈNH QUẢNG BÌNH
Mã số: CS.15.2016
Chủ nhiệm đề tài: Trần Thị Yên
Quảng Bình, tháng 12 năm 2017
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
1 Danh sách thành viên tham gia nghiên cứu đề tài
- Th.S Trần Thị Yên - Chủ nhiệm đề tài
- Th.S Nguyễn Quang Hùng - Thành viên
- Th.S Phan Thị Mỹ Hạnh - Thành viên
- Th.S Trần Công Trung - Thành viên
- Th.S Huỳnh Ngọc Tâm - Thành viên
2 Đơn vị phối hợp chính
- Trung tâm giống Thủy sản Quảng Bình
Trang 4MỤC LỤC
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Danh mục các chữ viết tắt
Thông tin kết quả nghiên cứu
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
6 Cấu trúc của đề tài 2
Nội dung 4
Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 4
Chương 2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 21
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 21
2.1.1 Mục tiêu chung 21
2.1.2 Các mục tiêu cụ thể 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
Trang 52.3 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 21
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 22
2.3.3 Phương pháp thống kê xử lý số liệu 28
Chương 3 Kết quả và thảo luận 29
Kết luận và kiến nghị 39
1 Kết luận 39
2 Kiến nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ LỤC 43
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Trang 8Hình 2.8 Tiêm kích dục tố cho cá 24
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Số hiệu sơ đồ,
biểu đồ
Trang 11TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
Đơn vị: Khoa Nông - Lâm - Ngư
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung
- Tên đề tài: Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Thát lát (Notopterus
notopterus) phù hợp với điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Bình
- Mã số: CS.15.2016
- Chủ nhiệm: Th.S Trần Thị Yên
- Đơn vị chủ trì: Khoa Nông - Lâm - Ngư
- Thời gian thực hiện: 12 tháng
2 Mục tiêu
Xây dựng được quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá Thát lát phù hợp với điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Bình Từ đó tự làm chủ công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá Thát lát và nhân rộng ra địa bàn trong Tỉnh
3 Tính mới và sáng tạo
Qua tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới, nội dung nghiên cứu là hoàn toàn mới ở địa phương Quảng Bình và có tính ứng dụng cao
4 Kết quả nghiên cứu
Đã tiến hành sinh sản nhân tạo cá Thát lát thành công ở tỉnh Quảng Bình
Trang 126 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng
- Kết quả của đề tài đã xây dựng được mô hình sinh sản nhân tạo cá Thát lát ở điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Bình Từ đó làm chủ công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá Thát lát và nhân rộng ra địa bàn trong tỉnh
- Kết quả của đề tài đã đáp ứng được một phần nhu cầu con giống cá Thát lát trong tỉnh Qua đó, thúc đẩy nghề nuôi thương phẩm cá Thát lát phát triển, tạo công ăn việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân
- Đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ kỹ thuật sản xuất
giống của trung tâm và giảng viên chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản
Quảng Bình, ngày 15 tháng 12 năm 2017
Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ và tên)
ThS Trần Thị Yên
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quảng Bình là một tỉnh ven biển Miền Trung, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có diện tích tiềm năng mặt nước ngọt rộng lớn (khoảng 11.000ha), là điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt [9] Trong những năm gần đây, Quảng Bình đã phát triển nghề nuôi cá nước ngọt trong ao hồ, ruộng lúa, lồng bè và đã cung cấp một lượng thực phẩm thuỷ sản đáng kể cho nhân dân [3]
Tuy nhiên, nuôi thuỷ sản nước ngọt chủ yếu là những đối tượng cá truyền thống (trắm, mè, chép….), nên giá trị kinh tế mang lại không cao Vì vậy, để tăng hiệu quả kinh tế nuôi, cần phải nghiên cứu thay thế các đối tượng cá đặc sản có giá trị kinh tế
Cá Thát lát là loài cá nước ngọt có chất lượng thịt thơm ngon, ít xương, thịt có độ dẻo đặc biệt nên rất được ưa chuộng để dùng chế biến món chả cá, coi như một món đặc sản [7] Hiện nay, do vấn đề ô nhiễm biển ở các tỉnh miền Trung nên nhu cầu tiêu thụ các đối tượng cá nước ngọt tăng lên, đặc biệt là cá Thát lát Ðây là một trong những nguyên nhân góp phần tạo thêm sự khai thác quá mức làm cho nguồn sản lượng cá ngoài tự nhiên giảm sút nghiêm trọng, kích cỡ cá thương phẩm nhỏ dần Do đó, nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá Thát lát, ương nuôi cá thương phẩm là việc làm thiết thực Từ đó, có thể cung cấp con giống, chuyển giao công nghệ cho người nuôi, bảo vệ phần nào nguồn lợi thuỷ sản nói chung, cá Thát lát nói riêng
Trong những năm gần đây, nhận thấy tầm quan trọng của việc phát triển nghề nuôi thương phẩm cá Thát lát nên đã có nhiều nghiên cứu tập trung trên đối tượng này Đi đầu trong cả nước về sản xuất giống cá Thát lát là các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long đã cho kết quả sinh sản khá tốt [2], [10] Tuy nhiên,
ở Quảng Bình chưa có một cơ sở sản xuất giống nào nghiên cứu sinh sản nhân tạo đối tượng này Nguồn giống đưa vào nuôi thương phẩm chủ yếu thu gom từ
Trang 14tự nhiên và mua ở các tỉnh miền Nam nên trong quá trình vận chuyển tỷ lệ hao hụt nhiều Do vậy, để góp phần phát triển nghề nuôi thương phẩm cá Thát
lát trong tỉnh, tôi đề xuất đề tài: "Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Thát lát (Notopterus notopterus) phù hợp với điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Bình"
2 Mục đích nghiên cứu
Nuôi vỗ và tiến hành sinh sản nhân tạo cá Thát lát thành công ở tỉnh Quảng Bình Từ đó xây dựng được quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo
cá Thát lát phù hợp với điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Cá Thát lát (Notopterus notopterus)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: tháng 11 năm 2016 đến tháng 11 năm 2017
- Không gian: Trại cá giống nước ngọt Đại Phương - Trung tâm giống Thủy sản tỉnh Quảng Bình
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm thông qua nuôi vỗ cá bố
mẹ Thát lát trong ao và tiến hành sinh sản nhân tạo cá, ương cá Thát lát Theo dõi và ghi nhận các chỉ tiêu về sinh sản của cá Thát lát, tốc độ sinh trưởng của cá Thát lát giai đoạn cá bột lên cá hương
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Kết quả nghiên cứu sẽ đánh giá được khả năng sinh sản nhân tạo của cá Thát lát tại Quảng Bình
Trang 15- Xây dựng được quy trình sinh sản nhân tạo cá Thát lát tại Quảng Bình cung cấp thông tin tham khảo cho sinh viên, giảng viên ở Trường ĐH Quảng Bình và kỹ sư ở trung tâm giống thủy sản
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở về sinh sản nhân tạo cá Thát lát ở tỉnh Quảng Bình
- Xây dựng mô hình sinh sản nhân tạo cá Thát lát và chuyển giao công nghệ cho các trại sản xuất giống trong tỉnh
6 Cấu trúc của đề tài
Mở đầu
Nội dung
Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Chương 2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương 3 Kết quả và thảo luận
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trang 161.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Bình
Theo số liệu của trạm khí tượng thuỷ văn Quảng Bình, huyện Bố Trạch
nằm trong vùng khí hậu chung của tỉnh Quảng Bình, khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của cả hai miền khí hậu Nam - Bắc Đặc trưng khí hậu ở đây là có một mùa hè nắng nóng, mùa thu mưa nhiều và mùa đông khá lạnh
* Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình hằng năm là 24,4oC, nhiệt độ thấp nhất (tháng 12, tháng
1 và tháng 2) có khi thấp xuống khoảng 7,8 - 9,4oC nhiệt độ trung bình trong các tháng này là 18,2 - 19,4oC Nhiệt độ cao nhất (tháng 6, tháng 7) trung bình khoảng 29,2 - 29,4oC có khi lên tới 38 - 40oC Với nền nhiệt độ cao và ổn định
đã đảm bảo cho tổng tích nhiệt của huyện đạt tới trị số 8600 - 9000oC, biên độ chênh lệch giữa ngày và đêm từ 5 - 8oC, số giờ nắng trung bình trong ngày là 5,9 giờ [9]
Như vậy, nền nhiệt độ ở đây là cao, nắng nóng nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng nhiệt đới phát triển tốt Khung nhiệt độ nằm trong khoảng 11,5
÷ 34,3oC nên chưa vượt qua mức độ giới hạn về yêu cầu sinh thái của các loại cây trồng vật nuôi hiện có trong vùng
* Chế độ mưa
Gió mùa đã gây ra hiện tượng mưa nhiều và phân hoá theo không gian Lượng trung bình hằng năm toàn huyện bình quân từ 1300 - 4000mm, phân bố không đều theo vùng và theo mùa Mùa khô nóng có gió Tây Nam thổi từ tháng
4 đến tháng 8, mưa ít, lượng mưa chiếm 20 - 25% lượng mưa cả năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12, mưa nhiều, lượng mưa chiếm 70 - 75% lượng mưa cả năm, vì vậy lũ thường xảy ra trên diện rộng
Số ngày mưa trung bình ở huyện khá cao, lên tới 139 ngày Tần suất những trận mưa lớn trên 300mm, có nhiều trong các tháng 8, 9, 10, 11 Tháng có lượng
Trang 17mưa lớn nhất là tháng 9, tháng 10 (502 – 668 mm), tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 3, tháng 4 (44 – 46 mm) [9]
Với lượng mưa, số ngày mưa như trên thì đây là hạn chế lớn cho sản xuất nông nghiệp của huyện
* Gió bão
Quảng Bình là một trong những vùng có nhiều cơn bão đi qua Trung bình hằng năm có 1 - 2 cơn bão trực tiếp, ảnh hưởng đến các vùng đất ven biển Bão thường xuyên xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 11, gây nhiều hậu quả đến sản xuất, đời sống của người dân trong vùng và ảnh hưởng xấu cho ngành nuôi trồng thuỷ sản
Chế độ gió (hướng gió thịnh hành) ảnh hưởng tới chế độ nhiệt và có sự phân bố rõ rệt theo mùa:
- Gió mùa Đông Bắc: Về mùa đông, do vùng ôn đới lạnh tạo ra nên các khí
áp cao lục địa, các áp lực cao lạnh này dịch xuống phía Nam hoặc Đông Nam lục địa Trung Quốc, rìa phía Nam của nó lấn xuống phía Bắc nước ta gây nên gió mùa Đông Bắc
Gió mùa Đông Bắc ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến huyện Bố Trạch
từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau Gió mùa Đông Bắc làm giảm nhiệt độ đột ngột
từ 4 - 6oC so với bình quân nên thường gây hậu quả xấu đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nuôi trồng thuỷ sản
Gió Tây Nam khô nóng: Nguồn gốc là áp thấp từ vịnh Bengan thổi qua Lào trước khi vào Việt Nam gặp dãy Trường Sơn, tại đây xảy ra hiện tượng "phơi", nghĩa là phần nhiều hơi nước được giữ lại ở phía Tây dãy Trường Sơn Khi xuống Đông Trường Sơn thì trở nên khô nóng, nhưng chỉ xuất hiện từng đợt Bình quân số ngày có gió Tây Nam ở Bố Trạch là 30 - 40 ngày/năm, thường bắt đầu từ tháng 3 kết thúc vào tháng 9, cao điểm vào tháng 7 Gió Tây Nam khô, nóng gây ra 1 số hậu quả như: tốc độ gió lớn (20 m/s) gây hạn, cây cối khô héo, giảm năng suất, bốc mặn phèn, tích luỹ sắt nhôm gây thoái hoá đất [9]
Trang 18Thời tiết khí hậu của vùng rất thuận lợi cho sự phát triển của nông nghiệp nói chung và ngành thuỷ sản nước ngọt nói riêng Tuy nhiên vào mùa hè tháng 5
- 7 thường hạn hán và thiếu nước nên cần có những biện pháp khắc phục Mùa
lũ và bão tháng 9 - 11 gây ra nhiều thiệt hại nên cần chú ý để sản xuất giống đúng mùa vụ tránh thiệt hại do thiên tai gây ra
1.2 Hệ thống phân loại và hình thái cấu tạo cá Thát Lát
1.2.1 Hệ thống phân loại
Theo các tác giả Mai Đình Yên, 1979; Nguyễn Thái Tự, 1983; Mai Đình Yên và cộng sự, 1992; Nguyễn Văn Hảo, 1993, vị trí phân loại cá Thát lát: Ngành : Vertebrata (có xương sống)
Loài : Notopterus notopterus (Pallas, 1769) [6, 14, 18, 19]
Tên tiếng Việt: cá Thát Lát
Tên tiếng Anh – Mỹ: Bronze featherback
1.2.2 Hình thái cấu tạo
Đoàn Khắc Độ (2006), mô tả cá Thát lát: có thân hình dẹp hai bên, màu xám bạc, phần lưng hơi đậm, hông và bụng có màu trắng bạc, lườn bụng sắc [5]
Trang 19Hình 1.1 Cá Thát lát
Cá có nhiều vảy nhỏ phủ toàn thân, vảy ở phần đầu lớn hơn vảy ở phần thân Vi lưng nhỏ nằm lệch phía sau thân, vi bụng rất nhỏ, vi hậu môn dài, nối từ hậu môn tới đuôi Miệng hơi nhô ra, không co rút Mắt lớn vừa, lệch về phía mặt lưng của đầu Đường bên hoàn toàn, chạy giữa thân, tương đối lớn Cá bơi nhờ vây hậu môn, có thể theo hai hướng tiến lùi, thích chui rúc tìm nơi trú ẩn ở hang hốc hay thực vật thủy sinh phát triển [6]
Công thức vây: A = 98 ÷ 103; V = 6; P = 14 ÷ 16; D = 7 ÷ 8; C = 15
27 ÷ 30 Công thức vẩy đường bên: LL = 125 ÷ 135 31 ÷ 35 [6]
1.3 Đặc điểm sinh học cá Thát lát
1.3.1 Đặc điểm sinh thái
Theo Đoàn Khắc Độ (2006), môi trường thích hợp cho cá Thát lát sinh trưởng và phát triển là: nhiệt độ từ 20 – 30oC, pH từ 7 – 8, DO >3 mg/l, khí CO2
từ 3 – 8 mg/l, NH4 là 1 mg/l, độ mặn tối đa là 6‰ [5] Theo nghiên cứu của Lê Ngọc Diện (2006), môi trường thích hợp cho ương nuôi cá Thát lát là: nhiệt độ
từ 28,2 – 30,1oC, pH từ 6,1 – 7,8, DO từ 4,6 đến 6,6, H2S từ 0,024 đến 0,126 mg/l, CO2 từ 8,1 đến 14 mg/l, NH4+ từ 0,71 đến 1,2 mg/l [4]
Trang 20hoàn toàn không thấy ở lưu vực sông Hồng (miền Bắc) Trong thiên nhiên, cá sống ở cả những dòng suối nước trong và nước đục, ao hồ tù đọng Tại lưu vực sông Cửu Long cá theo dòng nước lũ vào các đồng ruộng bị ngập, úng nước và trở về vùng sinh sống cũ khi nước xuống [10]
1.3.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Thát lát sống từng đàn, hoạt động ở tầng đáy, chui rúc dưới bùn Tính
ăn của cá thay đổi theo từng giai đoạn Cá Thát lát thuộc loại ăn tạp, thức ăn thiên về động vật Trong giai đoạn cá bột (1 - 4 ngày tuổi) cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng Sau khi hết noãn hoàng, cá ăn các loại động vật phù du có kích thước nhỏ như: Moina, Daphnia, Trùn chỉ v.v… Khi lớn hơn cá ăn côn trùng, động vật phù du, cá con, giáp xác phiêu sinh, rễ cây thực vật thủy sinh, nhuyễn thể, mùn bã hữu cơ và mùn đáy Cá cũng ăn thực vật và phiêu sinh thực vật nhưng chỉ chiếm khoảng 30% trên tổng lượng thức ăn [5]
1.3.4 Đặc điểm sinh trưởng
Cá Thát lát có kích thước nhỏ, tăng trọng thấp, con lớn nhất dài 400 mm, nặng 500 g, trung bình 100 – 200 g Cá mới nở có chiều dài 0,9 – 1 cm Sau 30 ngày ương cá đạt chiều dài thân 3 – 4 cm Sau 45 - 50 ngày ương được kích cỡ
cá giống khoảng 5 – 6 cm Ngoài tự nhiên, cá một năm tuổi có trọng lượng trung bình khoảng 60 - 80 gam/con, dài 16 - 20 cm Trong thực tế cá đạt kích cỡ này
đã được khai thác để bán cá thịt Trong môi trường nuôi nhốt, cá một năm tuổi đạt kích cỡ thương phẩm khoảng 80 - 120 gam/con [5] Ở Bầu Sơn, Quảng Bình
đã bắt được cá Thát lát dài 40 cm, nặng 0,7 – 0,8 kg, con lớn nhất nặng 1,3 kg [10]
1.3.5 Đặc điểm sinh sản
* Tuổi và kích thước thành thục lần đầu
Mỗi loài cá có tuổi thành thục sinh dục riêng và có thể thay đổi tùy theo điều kiện cụ thể Trọng lượng thành thục lần đầu tiên trong đời của cá cũng biến động rất lớn Cá vẫn có thể thành thục và sinh sản bình thường khi khối lượng
Trang 21nhỏ hơn rất nhiều so với khối lượng thành thục lần đầu tiên của loài trong điều kiện sống riêng biệt [8] Theo quy luật chung cá sống ở vĩ độ cao, nhiệt độ thấp
có tuổi thành thục sinh dục lần đầu cao hơn cá ở vĩ độ thấp, nhiệt độ cao Chế độ dinh dưỡng cũng có ảnh hưởng rất lớn tới tuổi thành thục sinh dục, những nơi có đầy đủ dinh dưỡng cá thành thục nhanh hơn và hệ số thành thục cao hơn Nhưng những loài cá ăn tạp và phiêu sinh thì ảnh hưởng của dinh dưỡng không rõ rệt như những loài cá ăn mồi sống và phổ thức ăn hẹp [8] Ngoài tự nhiên, cá Thát Lát thành thục sinh dục sau 1 năm tuổi với chiều dài 16 – 20 cm và khối lượng
Hình 1.2 Cá Thát lát cái ở giai đoạn thành thục sinh dục
Trang 22Hình 1.3 Cá Thát lát đực ở giai đoạn thành thục sinh dục
* Cấu tạo và các giai đoạn phát triển của buồng trứng
- Cấu tạo:
Hình 1.4 Buồng trứng cá Thát lát
Buồng trứng cá Thát lát có hình dạng không giống như các loại cá xương khác Do buồng trứng của cơ thể cá có đặc điểm là một khối dẹp không chia thùy, nằm trong xoang bụng và treo lên vách xoang cơ thể nhờ màng treo buồng trứng [25]
* Đặc điểm phát triển của tế bào sinh dục
Trong kết quả nghiên cứu này, theo quan điểm của Xakun và Buskaia (1982), các giai đoạn phát triển của buồng trứng đã bắt gặp được mô tả như sau:
Giai đoạn III: Kích thước buồng trứng bắt đầu tăng nhanh và chuyển
sang màu vàng nhạt, chiếm 1/3- 1/2 thể tích xoang bụng, trên buồng trứng đã
có nhiều mạch máu phân bố Kích thước noãn bào cũng bắt đầu tăng lên, có thể thấy rõ trứng bằng mắt thường (600 – 700 µm) Ở giai đoạn này, tế bào trứng chuyển sang giai đoạn dinh dưỡng hay còn gọi là thời kì sinh trưởng dinh dưỡng Tế bào xuất hiện nhiều không bào không bắt màu, kích thước
Trang 23buồng trứng bắt đầu tăng nhanh Điều này có thể là do sự gia tăng thể tích và
số lượng các hạt noãn hoàn Các hạt noãn hoàn nhỏ được hình thành ở vùng giáp nhân sau đó phát triển theo hướng li tâm Nhân vẫn còn lớn và bắt màu đậm, có nhiều hạch nhân với kích thước và hình dạng khác nhau phân bố xung quanh màng nhân
Hình 1.5 Tiêu bản buồng trứng cá Thát lát ở giai đoạn III
Giai đoạn IV: Tuyến sinh dục có kích thước tối đa, chiếm gần hết
xoang bụng và chuyển sang màu vàng đậm Noãn sào có mạch máu phân bố nhiều Nhân chuyển về cực của động vật Các hạt trứng to, lực liên kết giữa các tế bào trứng giảm làm cho trứng có xu thế tách rời nhau Các hạt noãn hoàn rất rõ, có sự phân cực của buồng trứng, nhân lệch tâm Có thể giải thích
là ở giai đoạn này do có sự di chuyển của túi mầm từ trung tâm ra ngoài biên Vào cuối giai đoạn IV, buồng trứng đạt cực đại, căng tròn chiếm 2/3 xoang cơ thể, hạt trứng đều, màu vàng sáng Điều này có thể khẳng định cá Thát lát là loài đẻ theo đợt, rải rác quanh năm Nhận định này được chứng minh trong các thực tế nghiên cứu Kích thước của tế bào trứng có đường kính 1.140 -1.500 µm
Hình 1.6 Tiêu bản buồng trứng cá thát lát ở giai đoạn IV
Giai đoạn V: Nhìn bên ngoài, bụng cá to, thành bụng mềm và xệ
xuống hai bên, lỗ sinh dục nở và hơi lồi Buồng trứng căng tròn, có màu vàng đậm, chứa đầy những hạt trứng mà bằng mắt thường ta có thể nhìn thấy
Trang 24được Trên màng có các mạch máu to Lúc này nếu vuốt nhẹ vào bụng cá, trứng cá sẽ theo lỗ sinh dục chảy ra ngoài Các hạt trứng tròn đều, rời nhau Màng túi mầm tan biến và trở thành vô định hình, xuất hiện nhiều hạt noãn hoàng màu đỏ có kích thước lớn, các không bào dần tiêu biến Trứng đã tách khỏi màng Follicul rơi vào xoang buồng trứng Đó là sự khác biệt cơ bản giữa giai đoạn IV vàV
Hình 1.7 Tiêu bản buồng trứng cá thát lát ở giai đoạn V
Giai đoạn VI: Sau khi cá đẻ xong, sản phẩm sinh dục đã được phóng
ra ngoài, tuyến sinh dục mềm nhão, màng tuyến sinh dục nhăn nheo và teo lại, mạch máu co lại và có mặt các nang trứng bị vỡ Thể tích buồng trứng thu hẹp lại, sự có mặt của nang trứng bị vỡ và sẽ dần dần thoái hóa
Trang 25Hình 1.8 Tiêu bản buồng trứng cá Thát lát ở giai đoạn VI
* Cấu tạo và giai đoạn phát triển của buồng tinh
- Cấu tạo
Buồng tinh cá Thát lát có dạng hình trụ (có hình dạng như tinh trùng), khi thành thục thì căng phồng và có màu trắng sữa
Hình 1.9 Buồng tinh cá Thát lát
* Các giai đoạn phát triển của buồng tinh
Giai đoạn III: Giai đoạn này khối lượng buồng tinh tăng nhanh Màu
sắc lúc đầu là hồng nâu, cuối cùng là màu trắng hơi vàng Cá cống dẫn tinh hầu như chứa đầy các túi với những tế bào sinh dục đực đang ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình tạo tinh
Hình 1.10 Tiêu bản buồng tinh cá Thát lát giai đoạn III
Giai đoạn IV: Buồng tinh có kích thước vượt hơn hẳn các giai đoạn
trước, có màu trắng sữa, các mạch máu phát triển mạnh Khi ấn nhẹ vào tinh sào không thấy có tinh lỏng chảy ra Cá ở giai đoạn này khá lâu.Quan sát trên tiêu bản tổ chức học, thành phần tế bào phần lớn là tinh trùng đổ vào xoang chung của ống sinh tinh
Trang 26Hình 1.11 Tiêu bản buồng tinh cá Thát lát giai đoạn IV
Giai đoạn V: Cuối giai đoạn IV chuyển sang giai đoạn V, buồng tinh
ở trạng thái hoàn toàn chín và đạt kích thước lớn nhất, buồng tinh có màu sữa trắng, mềm Cùng với sự chảy của tinh dịch, kích thước của buồng tinh cũng dần dần giảm xuống
Hình 1.12 Tiêu bản buồng tinh cá Thát lát giai đoạn V
Giai đoạn VI: Giai đoạn này đặc trưng cho trạng thái sau khi đẻ Tinh
trùng trong các ống dẫn đã chảy ra hết, noãn sào giảm về kích thước, dẹp xuống và có dạng một sợi dây mềm Các mạch máu nở ra noãn sào trở lại màu hồng hoặc hơi nâu [25]
Hình 1.13 Tiêu bản buồng tinh cá Thát lát giai đoạn VI
* Tập tính sinh sản
Cá Thát lát bắt đầu sinh sản vào đầu mùa mưa và kết thúc mùa vụ sinh sản vào cuối mùa mưa Cá Thát lát có tập tính làm tổ đẻ Cá cái sẽ dọn sạch tổ
đẻ Tổ đẻ là những giá thể bằng cỏ khô hay vật thể để trứng bám vào đó Cá cái
đẻ trứng vào tổ, cá đực có nhiệm vụ canh giữ tổ và đảo nước để cung cấp oxy cho phôi phát triển Sau 3 - 5 ngày trứng sẽ nở Khi cá đẻ chúng rất hung dữ
Trang 27(đặc biệt là cá đực) sẵn sàng tấn công những con cá lạ xâm nhập đến khu vực tổ
đẻ Tới thời kỳ sinh sản, ống sinh sản lồi ra từ vùng huyệt của con cái Con cái dùng ống này lướt qua lướt lại trên đá để dọn sạch ổ đẻ Tập tính chuẩn bị ổ đẻ của con cái kéo dài vài giờ cho tới khi cá đực tấn công và cùng dọn sạch tổ (tổ dài 15 – 30 cm, sâu 5 – 8 cm, cá gom cây cỏ khô vào tổ làm vật để trứng bám) Sau đó chúng cuộn tròn vào nhau và đẻ trứng
* Mùa vụ sinh sản
Cá Thát lát có thể đẻ nhiều lần trong năm Trong môi trường hoang dã, mùa sinh sản của cá thát lát bắt đầu từ tháng 4 – 11 , tập trung vào tháng 6 – 8 [10] Trong mùa sinh sản một con cá có thể tham gia sinh sản 2 – 3 lần [14]
* Sức sinh sản và hệ số thành thục của cá Thát lát
Ngoài tự nhiên sức sinh sản tương đối của cá Thát lát từ 13 – 20 trứng/g
cá cái Sức sinh sản tuyệt đối vào mùa sinh sản dao động trong khoảng 700 –
1800 trứng tùy theo kích cỡ cá bố mẹ [5] Trong sinh sản nhân tạo sức sinh sản tương đối của cá Thát lát trung bình 15 ± 6 trứng/g cá cái và sức sinh sản tuyệt đối là 1077 ± 408 trứng đối với cá có chiều dài 20 cm Hệ số thành thục cao hay thấp tùy thuộc vào từng giống loài, mùa vụ nuôi vỗ và kỹ thuật nuôi vỗ [8] Hệ
số thành thục cá Thát lát tăng dần và hệ số đạt ở mức cao nhất dao động từ 5,41 – 7,85% trùng với giai đoạn cá đẻ tập trung [10]
1.4 Tình hình nghiên cứu cá trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Trên thế giớí
1.4.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cá
Về nghiên cứu sinh học, sinh thái cá trên thế giới, mặc dù xuất hiện muộn song có những bước tiến vững chắc và nhanh chóng Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX đã có nhiều công trình nghiên cứu sinh học cá Trong đó đáng kể
là công trình nghiên cứu của Fulton (1920), Clack (1928) về việc đề ra phương pháp tính ngược sinh trưởng về chiều dài thân và kích thước Tiếp đến là các công trình nghiên cứu sinh cá về chiều dài và khối lượng là tính tham số sinh
Trang 28trưởng để lập phương trình tính toán Vonbertalanfly (1934, 1938, 1949) R J Gbervrerton (1957), GVNikolxfki (1944, 1963) nghiên cứu các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục [1,8, 20] Theo ông sự phát triển của tuyến sinh dục của
cá gồm có 06 giai đoạn:
Giai đoạn I: Tuyến sinh dục có dạng sợi mảnh và trong, thỉnh thoảng có
màu hơi vàng hoặc hồng Các tế bào sinh dục không thể phân biệt được bằng mắt thường
Giai đoạn II: Tuyến sinh dục còn nhỏ hầu như chưa thấy trứng bằng mắt
thường, chưa phân biệt được đực, cái Thực tế noãn sào thường dày hơn, có dạng tròn và có mạch máu thể hiện tương đối rõ Quan sát dưới kính hiển vi trứng có một lớp màng policull
Buồng trứng vẫn trong suốt và hầu như không màu, song ở trứng cá trích các giống Clupea và Caspialosa do nhiều các mạch máu nên buồng trứng có màu đỏ nhạt hay tương đối sẫm
Giai đoạn III: Giai đoạn chín, bằng mắt thường nhìn thấy những hạt trứng,
khối lượng sinh dục tăng lên rất nhanh có màu trắng trong, chuyển sang màu hồng nhạt
Cần phải nhận thấy rằng, đây là thời kỳ lớn nguyên sinh, trong các noãn bào các chất dinh dưỡng cũng có thể được tích lũy Nhưng trong trường hợp này việc tích lũy thường mang đặc tính tạm thời, mùa vụ
Giai đoạn IV: Giai đoạn chín muồi trứng và sẹ đang chín, tuyến sinh dục
có khối lượng rất lớn, ngoài có nhiều mạch máu, dễ tách hạt, sẹ có màu trắng sữa, khi nhấn nhẹ các sản phẩm sinh dục chưa chảy ra
Giai đoạn V: Các sản phẩn sinh dục chảy ra khi ấn nhẹ vào bụng cá, khối
lượng tuyến sinh dục từ đầu đến cuối giai đoạn đẻ trứng giảm đi rất nhanh
Giai đoạn VI: Giai đoạn đẻ rồi, các sản phẩm sinh dục tiết ra hết sạch và
cổ sinh dục phồng lên, tuyến sinh dục trong dạng túi mềm nhão, ở con cái
Trang 29thường có những trứng nhỏ sót lại, còn con đực có những tinh tử rớt lại [1, 8, 20]
Qua mô tả 6 giai đoạn ở trên, so sánh các giai đoạn phát triển buồng trứng
và buồng tinh cá Thát lát, chúng tôi thấy rằng đặc điểm tuyến sinh dục cá Thát lát mang những đặc điểm chung của các loài cá xương khác
1.4.1.2 Nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá
Việc sinh sản nhân tạo bằng phương pháp tạo ra các điều kiện sinh thái phù hợp đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của sự đẻ là một điều kiện hết sức khó khăn, không thực tế Ngay từ những năm 1763-1765 Lacobi (người Đức) đã bắt cá hồi
ở bãi đẻ làm thụ tinh ướt nhưng kết quả không cao Năm 1854 Vrassky đã tiến hành lặp lại thí nghiêm và sử dụng phương phá thụ tinh khô, đạt kết quả tốt Nhưng mãi đến năm 1935-1936 Ihering và Gherbilski mới thực sự thành công trong kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá bằng não thuỳ thể (Hypophis) tiêm kích thích cho cá đẻ (thay cho điều kiện sinh thái phù hợp) Người ta đã sử dụng từ
"Hypophization" để chỉ phương pháp sinh sản nhân tạo cá Sự thành công này đã đưa việc sử dụng chất sinh học Hypophis trong nghề cá ngày càng gia tăng Nhưng lượng Hypophis khai thác được không đáp ứng đủ cho nhu cầu của sản xuất Vì vậy, các nhà khoa học đã không ngừng nghiên cứu sử dụng các loại kích dục tố khác nhau để cho cá đẻ như: kích dục tố nhau thai người Human Chorionic Gonadotropin - HCG (Mososova, 1936), huyết thanh ngựa chữa (Bratonov, 1936), steroid sinh dục (Sundarary, 1966), progesteron (Chambole, 1969) [21] Năm 1975, Trung Quốc đã thành công trong việc tổng hợp và sử dụng kích dục tố LRH nhân tạo cho cá đẻ Kết quả này đã được áp dụng rộng rãi
Trang 30Lan, Mã Lai Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng này Tiêu biểu có các công trình nghiên cứu của các tác giả ở Thái Lan và Ấn Độ [10] Trước năm 2000, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đặc điểm hình thái, phân bố và sinh trưởng dinh dưỡng của cá Thát lát Từ năm 2000 trở đi, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị thành phần dinh dưỡng của cá Thát lát và các công trình sản xuất giống cá Nghiên cứu của Trường Đại học Calcutta (2002), tây Bengal (Ấn Độ) cho rằng: Thịt cá Thát lát có thành phần dinh dưỡng khá cao, trong 100 gam thịt (bỏ xương) gồm có: Calories, Chất béo: 11,3 g, bão hòa: 2,8 g, chưa bão hòa poly: 2,8 g, chưa bão hòa mono: 4,8 g, cholesterol: 59
mg, chất đạm: 15,4 g So sánh thành phần của lipid và các acid béo trong trứng với toàn thân cá ghi nhận trứng của cá Thát lát chứa lượng Lipid cao hơn thân cá đến 6,8 lần Thành phần của trứng phần lớn là Triacylglycerol = TAG(53,8%),
Phospholipids = PL (37%) Trong đó PL có Phosphatidylcholine, Phosphatidylethanolamine [10, 24] Năm 2004, Weitkamp & CTV đã nghiên cứu khả năng về sinh học sinh sản ở cá Thát lát nhằm đảm bảo cho việc nuôi loài cá này, đáp ứng nhu cầu thị trường Haniffa & CTV (2004) cũng đã công bố công trình nghiên cứu cho sinh sản cá Thát lát trong điều kiện nuôi nhốt có tạo mưa nhân tạo như là bước đầu tiên để bảo tồn loài cá này
Tóm lại, các nghiên cứu trên thế giới mới bước đầu tập trung nghiên cứu
về đặc điểm sinh học của cá Thát lát Mới có một số nghiên cứu đi vào sinh sản nhân tạo và sản xuất giống cá, tiêu biểu có các nghiên cứu ở Thái Lan, Ấn Độ nhưng cho kết quả chưa cao Các nghiên cứu chủ yếu tập trung để bảo tồn nguồn lợi cá Thát lát trong tự nhiên mà chưa phát triển sản xuất đại trà để nuôi thương phẩm
1.4.2 Ở Việt Nam
1.4.2.1 Sơ lược sản xuất giống cá nước ngọt ở Việt Nam
Năm 1963, với sự giúp đỡ của chuyên gia Trung Quốc, Việt Nam cho đẻ thành công cá mè hoa, tiếp đó là cá trắm cỏ, cá mè trắng Năm 1968, cho đẻ
Trang 31thành công cá trôi Năm 1972 cho đẻ cá trê Năm 1979 cho đẻ cá tra (Nguyễn Tường Anh Và CTV, 1979), cá sặc rằn (Lê Như Xuân, Nguyễn Trọng Nho, 1998) Và gần đây một số cá có giá trị kinh tế đã được nghiên cứu và cho sinh
sản thành công như: cá dầy Cyprinus centralus (Lê Đức Ngoan và cộng tác viên, 2005) Cá lóc Ophiocephalus maculatus (Trung tâm giống thuỷ sản Hà Nội, 1998; Nguyễn Văn Việt Nguyễn Hồng Hải, 2006); cá lóc đen Ophiocephalus
micropeltes (Trung tâm khuyến ngư quốc gia, 2006); cá chài Leptobarus hoevenli (Đặng Văn Trường và CTV, 2006); cá vồ đém Pangasius larnaudii (Lê
Sơn Trang, Nguyễn Văn Triều, Dương Nhựt Long, Philippe Cacot, CTV, 2006),
cá bỗng, cá anh vũ (2006), cá cóc Cyclocheilichthys enoplos (Phạm Văn Khánh
Và CTV, 2006); cá chim trắng Colossoma brachypomum (Nguyễn Công Thắng,
Nguyễn Thị Thuỷ, Phạm Xuân An, Bùi Đình Đặng, 2006); Ngoài ra còn có một
số đối tượng khác như cá lăng, cá chiên - nguồn [22]
1.4.2.2 Nghiên cứu sản xuất giống cá Thát lát
Do đặc điểm ưu việt của cá Thát Lát nên trong những năm gần đây cá Thát lát là một trong những đối tượng bị khai thác quá mức, thiếu các biện pháp bảo vệ nên nguồn lợi cá ngoài tự nhiên ngày càng cạn kiệt Việc nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo và nuôi cá Thát Lát là việc làm cần thiết nhằm nâng cao sản lượng cá, đáp ứng nhu cầu thị trường, đồng thời tránh cá khỏi bị tuyệt chủng Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo cá Thát lát
* Nghiên cứu về nuôi vỗ
Theo Nguyễn Ngọc Nguyên (2000), chọn cá bố mẹ mập, khoẻ mạnh, không dị hình, có trọng lượng lớn hơn 100 g/con và chiều dài tối thiểu 18 cm
Ao nuôi vỗ có diện tích từ 100 – 500 m2 Mật độ thả cá nuôi vỗ 0,5 kg/m2 Sử dụng 2 loại thức ăn tươi sống và chế biến Đối với thức ăn tươi sống có thể sử dụng tôm, cá nhỏ còn sống hay đã chết Thức ăn là cá, tép nhỏ còn sống thả chung với cá bố mẹ, cá Thát lát sẽ bắt ăn dần Thức ăn đã chết băm nhỏ đặt vào sàn cho ăn Thức ăn chế biến gồm 50% cám +50% bột cá, thức ăn được kết dính