Đánh giá thực trạng và một số yếu tố tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 20142016 (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và một số yếu tố tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 20142016 (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và một số yếu tố tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 20142016 (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và một số yếu tố tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 20142016 (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và một số yếu tố tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 20142016 (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và một số yếu tố tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 20142016 (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và một số yếu tố tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 20142016 (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và một số yếu tố tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 20142016 (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ OANH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN MỤC ĐÍCH
SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN YÊN,
TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2014 - 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ OANH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN MỤC ĐÍCH
SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN YÊN,
TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2014 - 2016
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số ngành: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Sỹ Trung
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được dùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn này một cách nhanh và chính xác nhất, trước
hết tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Sỹ Trung đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ
bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành và đầy nhiệt huyết của các thầy, cô giáo khoa Quản lý tài nguyên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng TN&MT huyện Tân Yên, Văn phòng đăng
ký đất đai huyện Tân Yên, các đồng chí công chức 24 xã, thị trấn đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài
Mặc dù bản thân đã cố gắng hoàn thành luận văn trong phạm vi và khả năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự cảm thông và tận tình chỉ bảo của quý thầy cô và các bạn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn./
Tác giả luận văn
Phạm Thị Oanh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài 6
1.2 Khái quát chế độ sơ hữu đất đai trên Thế Giới 10
1.3 Chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam 13
1.4 Tình hình sử dụng đất trên Thế Giới 15
1.5 Tình hình sử dụng đất ở Việt Nam 16
1.6 Sơ lược chuyển mục đích sử dụng đất trên Thế Giới 17
1.7 Sơ lược chuyển mục đích sử dụng đất ở Việt Nam 19
1.8 Sơ lược chuyển mục đích sử dụng đất ở tỉnh Bắc Giang 20
1.9 Các kết quả nghiên cứu liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất trên Thế Giới 21
1.10 Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam 23
1.11 Đánh giá chung 24
Trang 6CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Phạm vi, thời gian nghiên cứu 26
2.2 Nội dung nghiên cứu 26
2.2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và Kinh tế - xã hội và thực trạng sử dụng đất của huyện Tân Yên 26
2.2.2 Đánh giá kết quả chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện 26
2.2.3 Phân tích một số yếu tố tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện 26
2.2.4 Đề xuất giải pháp khắc phục 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 27
2.3.2 Phương pháp dự báo 28
2.3.3 Phương pháp chuyên gia 28
2.3.4 Phương pháp thống kê, phân tích số liệu 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và Kinh tế - xã hội và thực trạng sử dụng đất của huyện Tân Yên 29
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 29
3.1.2 Đặc điểm Kinh tế - xã hội 30
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 31
3.1.4 Thực trạng sử dụng đất huyện Tân Yên 32
3.2 Đánh giá kết quả chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện 35
3.3 Các yếu tố tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 45
3.3.1 Yếu tố quy hoạch 45
3.3.2 Yếu tố về công tác dự báo sử dụng đất 50
3.3.3 Yếu tố đô thị hóa 54
3.3.4 Yếu tố dân số và việc làm 59
3.3.5 Yếu tố tổ chức chuyển mục đích sử dụng đất 60
3.3.6 Yếu tố người sử dụng đất 62
Trang 73.4 Một số giải pháp nhằm quản lý chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất trên
địa bàn huyện 65
3.4.1 Giải pháp về quy hoạch sử dụng đất 65
3.4.2 Giải pháp về dự báo sử dụng đất 66
3.4.3 Giải pháp về đô thị 66
3.4.4 Giải pháp về dân số và việc làm 67
3.4.5 Giải pháp về tổ chức chuyển mục đích sử dụng đất 67
3.4.6 Giải pháp cho người sử dụng đất 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2 CMĐSDĐ Chuyển mục đích sử dụng đất
4 CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
16 TN - KT - XH Tự nhiên - kinh tế - xã hội
17 TN & MT Tài nguyên và Môi trường
18 TT - BTNMT Thông tư - Bộ Tài nguyên Môi trường
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Tân Yên năm 2016 33 Bảng 3.2: Tình hình biến động sử dụng đất nông nghiệp của huyện Tân Yên
giai đoạn 2014 - 2016 37 Bảng 3.3: Tình hình biến động sử dụng đất phi nông nghiệp của huyện Tân
Yên giai đoạn 2014 - 2016 38 Bảng 3.4: Các loại hình chuyển đổi mục đích giai đoạn 2014 - 2015 của
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 43 Bảng 3.5: Các loại hình chuyển đổi mục đích giai đoạn 2015 - 2016 của
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 44 Bảng 3.6: Phân kỳ quy hoạch diện tích các loại đất phân bổ theo các mục
đích 47 Bảng 3.7: So sánh giữa kế hoạch chuyển mục đích và hiện trạng chuyển
mục đích sử dụng đất 48 Bảng 3.8: Tổng hợp phương pháp dự báo sử dụng đất toàn huyện 52 Bảng 3.9: Căn cứ để đưa ra dự báo sử dụng trên địa bàn huyện Tân Yên 53 Bảng 3.10: Thu hồi đất thực hiện dự án trên địa bàn huyện 58 Bảng 3.11: Cơ cấu dân số huyện Tân Yên giai đoạn 2014 - 2016 59 Bảng 3.12: Diện tích xin chuyển mục đích sử dụng đất của các hộ gia đình,
cá nhân huyện Tân Yên 63 Bảng 3.13: Loại hình đất chuyển mục đích sử dụng của hộ gia đình, cá nhân
trên địa bàn huyện 64 Bảng 3.14: Ý kiến các hộ về kế hoạch sử dụng đất trong tương lai 65
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Các nhóm đất chuyển mục đích sử dụng giai đoạn 2014 - 2016 35 Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế theo mục tiêu Đại hội đảng bộ huyện tân yên 56
Trang 11ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đất đai biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một quốc gia
Hiện nay vấn đề quản lý hiệu quả, bền vững tài nguyên đất là mục tiêu của tất
cả các nước trên thế giới Việt Nam là nước đang phát triển, với nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, chủ trương CNH - HĐH trên khắp đất nước, các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ đang phát triển mạnh
mẽ với số lượng ngày càng tăng Những năm gần đây kinh tế nước ta có những bước tiến vượt bậc, đặc biệt là từ khi chúng ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO),
ký kết hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) Tổng sản phẩm trong nước bình quân tăng nhanh, chất lượng cuộc sống từng bước được nâng cao… Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển về kinh tế là sự bùng nổ dân số và tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng, hình thành các khu đô thị, các khu công nghiệp lớn gây biến động đất đai tại các địa phương
Trong tình hình hội nhập như vậy Việt Nam đã và đang thu hút và được nhiều công ty nước ngoài đến đầu tư, xây dựng các khu công nghiệp, chính vì vậy nhu cầu đất cho ngành công nghiệp ngày càng cao Bên cạnh đó, dân số tăng nhanh đáng kể trong những năm gần đây, tốc độ phát triển cũng như tốc độ đô thị hóa nhanh đã kéo theo nhiều vấn đề về tình hình sử dụng đất và quản lý quỹ đất Đối với nước đang phát triển như nước ta, quá trình CNH - HĐH, đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế đòi hỏi phải có sự điều chỉnh về cơ cấu sử dụng đất trong quy hoạch sử dụng đất và vì vậy mà hàng năm việc CMĐSDĐ vẫn thường diễn ra ở tất cả các địa phương
Trang 12với diện tích đất CMĐ cũng khá lớn Nhằm kiểm soát việc CMĐSDĐ như đã nêu cần phải tiến hành phân tích và đưa ra dự báo về CMĐSDĐ giữa các loại đất trong từng năm, từng giai đoạn đối với từng địa phương, từng vùng cụ thể, trên cơ sở đó giúp nhà nước chủ động trong việc chỉ đạo, tổ chức xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của nhà nước
Tân Yên là một huyện miền núi nằm ở phía tây tỉnh Bắc Giang, nằm gần vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc “tam giác phát triển” Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Cách thủ đô Hà Nội 60km về phía Tây, cách thành phố Thái Nguyên 50km về phía Tây Bắc và nằm sát thành phố Bắc Giang, là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế - văn hóa, khoa học công nghệ các địa phương trong và ngoài huyện Nhờ đó các hoạt động thương mại dịch vụ, giao lưu trao đổi hàng hóa phát triển ngày càng sôi động Sự phát triển đó đã kéo theo những vấn đề liên quan trực tiếp đến đất đai Quá trình đô thị hóa đã làm đất đai khu vực biến động mạnh cả về mục đích sử dụng
và đối tượng sử dụng đất Việc quản lý, sử dụng đất trở lên phức tạp hơn, việc mua bán, trao đổi, CMĐ trái phép diễn ra ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước Giá cả đất đai khu đô thị trên thị trường thường tăng cao và có những biến động phức tạp
Vì vậy, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là hết sức cần thiết nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý nhà nước về đất đai, nâng cao tính khả thi của việc sử dụng đất hợp
lý, hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu phát triển KT - XH của huyện trong thời kỳ CNH
- HĐH đất nước
Xuất phát từ thực tiễn cũng như tầm quan trọng của vấn đề trên, dưới sự hướng
dẫn của PGS.Ts Lê Sỹ Trung tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng
và một số yếu tố tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2014 - 2016”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng và các yếu tố tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2014 - 2016, nhằm phân tích đưa ra những dự báo về chuyển mục đích sử dụng đất trong thời gian tới Xác định những hạn chế, bất cập và đề ra những giải pháp khắc phục
Trang 133 Ý nghĩa của đề tài
Xác định một số yếu tố chủ yếu tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất Từ
đó đề xuất ra những giải pháp thích hợp, phù hợp ứng dụng các yếu tố xem xét với điều kiện thực tế của địa phương, góp phần đẩy nhanh quá trình sử dụng đất đạt hiệu quả hơn trong thời gian tới
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận
Từ xưa đến nay, đất đai luôn có một vai trò quan trọng trong hệ thống tư liệu sản xuất của con người, là khởi nguồn của mọi của cải vật chất mà con người tạo ra Không một quốc gia nào, một nền kinh tế nào dù lạc hậu hay phát triển mà không cần đến đất đai, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Xã hội phát triển, nền kinh tế đa dạng với nhiều ngành nghề khác nhau thì nhu cầu sử dụng đất càng lớn Tuy nhiên diện tích đất lại cố định, không thể sản sinh Điều này tất yếu dẫn đến việc phải lấy đất của ngành này để chuyển mục đích sang ngành khác quan trọng, cấp thiết hơn.[26]
Toàn bộ đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản
lý là một định hướng chính trị cơ bản đã được ghi trong hiến pháp năm 1992 và đến hiến pháp năm 2013 vẫn được nhắc lại Luật Đất đai năm 2013 còn xác định rõ, cụ thể nội hàm của sở hữu toàn dân về đất đai, đó là: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” ( Điều 5 luật đất đai 2013).[3]
Từ nhận thức trên, Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên quan tâm đến vấn đề đất đai Trong mỗi giai đoạn đã ban hành những chủ trương, chính sách, pháp luật đất đai cho phù hợp, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đã đề ra
Trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện đối với đất đai, tài nguyên, vốn và các tài sản công để các nguồn lực này được quản lý, sử dụng có hiệu quả.”[24] Đến báo cáo chính trị Ban chấp hành trung ương khóa XI Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đã chỉ ra nhiệm vụ: “Tăng cường quản lý nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm; đồng thời tăng cường thông tin truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của người dân”.[2]
Trang 15Tại điều 12 luật đất đai 2013 quy định: “Nhà nước nghiêm cấm lấn chiếm, hủy hoại đất đai; vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được công bố; không
sử dụng đất không đúng mục đích; không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi thực hiện quyền của người sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân theo quy định; sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩ vụ tài chính đối với nhà nước; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định pháp luật về đất đai; không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác theo quy định củ pháp luật; cản trở gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.”[1]
Khi xã hội phát triển ở trình độ cao, việc SDĐ luôn hướng tới mục tiêu kinh tế nhằm đạt được lợi nhuận tối đa trên một đơn vị diện tích đất nhất định như xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, trang trại sản xuất quy mô lớn… Bên cạnh đó, một phần diện tích đất không nhỏ sử dụng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, ăn ở cũng như thỏa mãn đời sống tinh thần của con người như xây dựng nhà ở, hệ thống giao thông, các công trình dịch vụ thể dục thể thao, văn hóa xã hội, mở mang phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn.[24]
Việt Nam là một nước thuộc nhóm nước đang phát triển, cơ cấu nền kinh tế có
xu hướng chuyển dịch từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp Ở giai đoạn phát triển trước đây, nền kinh tế của Việt Nam còn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất lao động thấp, đòi hỏi diện tích đất canh tác nông nghiệp phải lớn mới đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp của người dân Đến giai đoạn hiện nay, diện tích tự nhiên và đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm do áp lực tăng dân số, sự phát triển đô thị hóa, công nghiệp hóa và các hạ tầng
kỹ thuật, nhu cầu sử dụng đất ngày càng lớn đòi hỏi phải điều tiết quỹ đất hiện có của ngành nông nghiệp
Việc chuyển mục đích sử dụng đất liên quan đến rất nhiều đối tượng, ngành kinh tế, trong đó người nông dân là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất Người thực
Trang 16hiện điều tiết, phân bổ quỹ đất, quyết định việc thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất là Nhà nước, thông qua việc ban hành hệ thống văn bản pháp quy và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để quản
lý và định hướng việc chuyển mục đích sử dụng đất theo đúng đường lối, định hướng phát triển Nếu Nhà nước thực hiện tốt công tác này sẽ có tác động tích cực, thúc đẩy
sự phát triển của các ngành kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và đời sống của người dân, còn nếu thực hiện không tốt sẽ gây hậu quả tiêu cực theo chiều hướng ngược lại.[26]
Cấp huyện là cấp chính quyền được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo địa bàn Quản lý nhà nước đối với đất đai là sự phối hợp thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý được giao của chính quyền cấp huyện với các đơn vị khác thuộc
hệ thống quản lý nhà nước về đất đai theo pháp luật quy định, nhằm mang lại môi trường thuận lợi nhất cho người SDĐ trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với đất đai, đảm bảo đất đai được sử dụng hiệu quả cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Chính quyền cấp huyện tổng hợp, đánh giá tiềm năng đất có hệ thống, tính toán hợp lý những thay đổi trong SDĐ và các điều kiện KT- XH để chọn lọc và thực hiện các mục tiêu SDĐ tốt nhất
1.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài
Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép người sử dụng đất chuyển mục đích
sử dụng đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng hoặc đồng ý cho người đang sử dụng đất chuyển sang sử dụng vào mục đích khác Các hoạt động này đều nhằm:
- Đảm bảo cho đất đai được phân phối và phân phối lại cho các đối tượng sử dụng được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích mà Nhà nước đã quy định, đạt hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
- Đáp ứng được nhu cầu của mọi đối tượng sử dụng đất, kể cả trong nước và nước ngoài
- Xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng làm cơ sở để giải quyết mọi mối quan hệ về đất đai và người sử dụng yên tâm thực hiện các quyền của mình trên diện tích đất đó
Trang 17Chuyển mục đích sử dụng đất là nội dung mới được đề cập đến ở lần sửa đổi thứ hai của Luật Đất đai 1993 (năm 2001) và chính thức được bổ sung vào các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai ở Luật Đất đai 2003 và hiện tại là Luật Đất đai
2013 Chuyển mục đích sử dụng đất là việc cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền đồng ý cho người sử dụng chuyển mục đích sử dụng với những diện tích đất cụ thể
từ mục đích này sang mục đích khác Việc quy định các nội dung này đã tạo điều kiện thuận lợi cho người đang sử dụng đất muốn chuyển mục đích đất sang mục đích khác, đồng thời cũng giảm thiểu về thủ tục hành chính cho cơ quan quản lý Nhà nước [4] Theo Điều 52 Luật Đất đai 2013, căn cứ để cho phép chuyển mục đích sử dụng đất gồm:
Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;
- Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;
- Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;
Trang 18- Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải
là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch
vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp Khi chuyển mục đích sử dụng đất thuộc các trường hợp nêu trên thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng
Chuyển mục đích sử dụng đất không cần phải xin phép
Theo điều 11 thông tư 02/2015/TT-BTNMT, hai trường hợp CMĐSDĐ không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng phải đăng ký biến động gồm:
- Chuyển đất trồng cây hàng năm sang xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cẩm và các loại đông vật khác được pháp luật cho phép;
- Chuyển đất ở sang đất phi nông nghiệp không phải là đất ở;
Người SDĐ có nhu cầu CMĐSDĐ nộp một bộ hồ sơ gồm có: Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo mẫu; GCNQSDĐ; GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; GCN quyền sở hữu nhà ở và quyền SDĐ
ở người sử dụng đất chỉ cần đăng ký với Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc
Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi có đất
Các văn bản pháp luật liên quan
Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành luật:
- Luật đất đai 2013 luật này được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29/11/2013 Luật này gồm 14 chương, 212 điều được xây dựng trên nguyên tắc đổi mới toàn diện chính sách đất đai cho phù hợp với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013
- Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm 2014 về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai
Trang 19- Thông tư 02/2015/TT-BTNMT quy định chi tiết một số điều của nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của chính phủ
- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất
- Nghị định 44/2015/NĐ-CP ban hành ngày 06/05/2015 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng Nghị định này quy định chi tiết một số nội dung của Luật Xây dựng về lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng , quản lý thực hiện quy hoạch xây dựng và giấy phép quy hoạch
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
- Nghị định số 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu
tư vào nông nghiệp, nông thôn Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/2/2014 và thay thế Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
- Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2012 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa;
- Công văn số 1622/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 06/05/2014 và Công văn số 3398/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 14/8/2014 gửi UBND các tỉnh, thành phố về việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng để thực hiện các công trình, dự án của các địa phương
- Số 745/2014/QĐ-UBND ngày 07/11/2014, Quyết định ban hành Quy định hạn mức đất giao làm nhà ở; hạn mức công nhận đất ở đối với thửa đất ở có vườn, ao và diện tích đất ở tối thiểu được tách thửa áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
- Số 25/NQ- HĐND, thông qua danh mục các công trình dự án thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất năm 2015 (Văn bản của tỉnh Bắc Giang, ký ngày 9/12/1014)
Trang 20- Số 33/NQ - HĐND, thông qua danh mục các công trình dự án được phép thu hồi đất, các công trình dự án được phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang năm 2016
- Số 858/2014/QĐ- UBND, Ban hành quy định về trình tự, thủ tục khi nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép CMĐSDĐ đối với tổ chức, hộ gia đình, các nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
- Các quyết định của UBND tỉnh về phê duyệt kế hoạch sử dụng đất; CMĐSDĐ cho các cơ quan, tổ chức trên địa bàn huyện Tân Yên
1.2 Khái quát chế độ sơ hữu đất đai trên Thế Giới
Trên thế giới hiện nay còn tồn tại nhiều chế độ nhà nước khác nhau như: Chế
độ nhà nước đa đảng, chế độ nhà nước một đảng cầm quyền, chế độ nhà nước quân chủ Chính vì vậy trên thế giới hiện đang có nhiều mô hình sở hữu đất đai khác nhau tùy thuộc vào chế độ nhà nước của mỗi quốc gia
Chế độ sở hữu đất đai của nhóm các nước phát triển (nhóm G7)
Nhóm G7 bao gồm các nước: Anh, Đức, Canađa, Ý, Mỹ, Nhật Bản và Cộng hoà Pháp Xét về chế độ sở hữu nói chung, tại tất cả các quốc gia G7 đều thừa nhận quyền tư hữu là quyền cơ bản nhất Xét về chế độ sở hữu đất đai, các nước thuộc nhóm G7 đều thực hiện mô hình sở hữu đất đai đa sở hữu Đó là vừa thừa nhận sở hữu đất đai của tư nhân và vừa thừa nhận đất đai sở hữu của nhà nước
Tại Anh, quyền tư hữu về đất đai được pháp luật thừa nhận Cùng với đó, luật pháp nước Anh cũng thừa nhận đất đai thuộc sở hữu của nữ hoàng Anh (hình thức sở hữu này chỉ mang tính tượng trưng, nặng về ý nghĩa chính trị, không có ý nghĩa về mặt kinh tế và pháp luật) Bên cạnh đó nữ hoàng cũng có những diện tích đất thuộc quyền
sở hữu của hoàng gia mà không phải là sở hữu của Nhà nước Tuy nhiên, vì lý do thực
tế mà người có quyền đối với đất đai hiện nay được đối xử như chủ sở hữu đất đai”
Do vậy, xét trên thực tế Anh là nước theo mô hình đa sở hữu đối với đất đai
Luật Đất đai của Mỹ quy định công nhận và khuyến khích quyền sở hữu tư nhân
về đất đai, các quyền này được pháp luật bảo hộ rất chặt chẽ như là một quyền cơ bản của công dân Tuy công nhận quyền sở hữu tư nhân, nhưng Luật Đất đai của Mỹ vẫn khẳng định vai trò ngày càng lớn và có vị trí quyết định của nhà nước trong quản lý đất đai Các quyền định đoạt của Nhà nước bao gồm: Quyền quyết định về quy hoạch
Trang 21và kế hoạch sử dụng đất, quyền quy định về quy hoạch kiến trúc đô thị và công trình xây dựng; quyền quy định về mục đích sử dụng đất; quyền xử lý các tranh chấp về quyền sử dụng đất và quyền ban hành các quy định về tài chính đất (thu thuế kinh doanh bất động sản; quy định mức giá thuê đất hoặc thuê bất động sản…) Quyền thu hồi đất thuộc sở hữu tư nhân để phục vụ các lợi ích công cộng trên cơ sở đền bù công bằng cho người bị thu hồi…
Tại Pháp, cũng như các nước thuộc G7 khác, chế độ sở hữu đất đai gồm hai dạng: thứ nhất là đất đai thuộc SHNN và thứ hai là đất đai thuộc SHTN Đối với đất đai thuộc SHTN thì nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể sở hữu
và khi Nhà nước lấy đất thì phải trả cho chủ đất tiền theo giá quy định Bộ phận đất đai thuộc SHNN bao gồm nhà nước trung ương và chính quyền các địa phương Tài sản công cộng (bao gồm cả đất đai công cộng) có đặc điểm là không được mua và bán Trong trường hợp cần sử dụng đất cho các mục đích công cộng, Nhà nước có quyền yêu cầu sở hữu đất đai tư nhân nhường quyền sở hữu thông qua chính sách bồi thường thiệt hại một cách công bằng
Tại Đức, quyền tư hữu đất đai được chính quyền cộng hoà liên bang bảo hộ Đồng thời, khu vực đất công được coi thuộc sở hữu của Nhà nước bao gồm nhà nước liên bang và chính quyền các bang
Đối với Nhật Bản cũng gần như mô hình các quốc gia G7 khác, chế độ sở hữu đất đai thừa nhận sở hữu và thừa kế của tư nhân Các giao dịch về đất được tiến hành thông qua thị trường Việc giao dịch đó đặt dưới sự kiểm soát của các cơ quan quản
lý Đất đai cũng được quy định thuộc sở hữu của Nhật Hoàng
Trường hợp Canađa, chế độ sở hữu được cấu trúc thành SHTN, sở hữu của chính quyền các vùng và sở hữu của Nhà nước [30]
Chế độ sở hữu đất đai của các nước đang phát triển
Nhóm các nước đang phát triển hiện nay chiếm đa số các quốc gia trên thế giới,
có trình độ phát triển kinh tế vẫn ở mức trung bình và thấp Về chế độ chính trị, các nước đang phát triển theo đuổi những mô hình chế độ chính trị hết sức đa dạng Tuy nhiên, khái quát nhất có thể thấy nổi lên hai loại hình chế độ sở hữu đất đai, đó là chế
độ SHTN và chế độ SHNN về đất đai Trong số đó, Trung quốc, Việt Nam và Lào được xem là các trường hợp ngoại lệ
Trang 22Riêng đối với chế độ SHTN hoàn toàn, trên thực tế rất khó có quốc gia đang phát triển nào thực hiện chế độ SHTN tuyệt đối về đất đai Vì vậy, hình thức sở hữu còn lại cơ bản là chế độ đa sở hữu về đất đai Tức là, đất đai đồng thời có thể thuộc
sở hữu của tư nhân hoặc của nhà nước Điều này được ghi nhận trong luật pháp của rất nhiều quốc gia đang phát triển thuộc các khu vực địa lý khác nhau Chẳng hạn trong luật đất đai của các quốc gia như: Apghanistan, Belarut, Indonexia, Kazakhstan, Ả rập, Singapore, Thái Lan… đều quy định đất đai thuộc SHNN và tư nhân
Đối với Trung Quốc, chế độ sở hữu về đất đai là chế độ công hữu Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thi hành chế độ công hữu XHCN về đất đai - đó là chế độ SHNN và chế độ sở hữu tập thể của quần chúng lao động [29, tr.6]
Ở Ixraen, hầu hết đất đai thuộc SHNN, Nhà nước thực hiện cho thuê đối với các nông dân hoặc những doanh nghiệp, với hợp đồng thuê đất có thời hạn từ 49 đến 99 năm
Tại Nam Phi, Luật CCRĐ 1997 của nước này quy định: đất đai thuộc sở hữu của người lao động, đất công thuộc SHNN, đất của các chính quyền địa phương Như vậy, về cơ bản, Nam Phi thực hiện chế độ SHNN về đất đai
Đối với Mozambich, đất đai thuộc SHNN và nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhượng đất đai
Tại Mông Cổ, đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước và tư nhân Các loại đất có thể thuộc QSH của các cá nhân người Mông Cổ hoặc các công ty, tổ chức người nước ngoài Như vậy, Mông Cổ thực hiện chế độ đa sở hữu, trong đó có thừa nhận cả SHTN của người nước ngoài về đất đai
Đối với khu vực Mỹ Latinh, hầu hết các quốc gia đang phát triển ở khu vực này thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai, trong đó sở hữu của nhà nước không phải là phần cơ bản [30]
Trang 23Bảng 1.1: Chế độ sở hữu đất đai của một số nước ASEAN
STT Tên nước Văn bản luật quy định Hình thức sở hữu
1 Brunây Luật thu hồi đất 1949, Luật đất đai
2 Campuchia Luật đất đai 2001
Sở hữu quốc vương;
5 Lào Luật đất đai 1997 SHTD
6 Malaixia Luật đất đai 1960 SHNN; SHTN
7 Mianma Hiến pháp (điều 18) SHNN
8 Singapore Luật đất đai 1978 SHNN; SHTN
9 Thái Lan Luật đất đai 2008 SHNN;SHTN
10 Việt Nam Hiến pháp 1980; 1992,2013Luật
đất đai 1988;1993; 2003, 2013 SHTD
( Nguồn: kinh nghiệm nước ngoài về quản lý và pháp luật đất đai [30])
1.3 Chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam
Theo hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cơ sở pháp lý xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đất đai được quy định tại Điều 53: "Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý" Đây là cơ sở pháp lý cao nhất xác định rõ Nhà nước ta là đại diện chủ sở hữu đối với toàn bộ quỹ đất quốc gia
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà
Trang 24nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Việc xác lập và duy trì chế độ sở hữu toàn dân về đất đai vào thời điểm hiện tại
là cần thiết dựa trên các căn cứ lịch sử, yếu tố khách quan và chủ quan của nước ta điển hình đó là;
- Thứ nhất, xuất phát từ lập trường “Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”, thì nhân dân phải là chủ sở hữu đối với đất đai Đất đai là thành quả của sự nghiệp giữ nước và dựng nước lâu dài của cả dân tộc, không thể để cho một số người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu Đất đai của quốc gia, dân tộc phải thuộc sở hữu chung của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của toàn dân tộc, của nhân dân
- Thứ hai, sở hữu toàn dân tạo điều kiện để những người lao động có điều kiện tiếp cận đất đai tự do Xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng coi trọng lao động, rằng lao động tạo ra xã hội loài người, tạo ra của cải và tạo ra cuộc sống ngày càng tốt hơn cho con người theo nghĩa nhân văn Chính vì thế lao động là vinh quang, ai không lao động mà
sử dụng của cải một cách bất hợp pháp do người khác làm ra là phi đạo đức
- Thứ ba, sở hữu toàn dân về đất đai ít ra cũng cho ta cơ chế để người lao động
có quyền hưởng lợi ích từ đất đai một cách có lợi hơn, công bằng hơn và bình đẳng hơn Bởi vì sở hữu toàn dân là sở hữu chung của người Việt Nam, hiểu theo nghĩa người Việt Nam là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Thứ tư, sở hữu toàn dân không phải là sở hữu nhà nước về đất đai Sở hữu toàn dân về đất đai là sở hữu chung của toàn dân, nhưng có sự phân chia việc thực hành quyền sở hữu giữa người sử dụng đất và Nhà nước Bản chất của cơ chế đó là phân chia một cách hợp lý các quyền của chủ sở hữu đất đai giữa người dân và Nhà nước, cũng như giữa các cơ quan nhà nước các cấp
- Thứ năm, sở hữu toàn dân về đất đai đem lại nhiều lợi ích phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam Chế độ sở hữu toàn dân còn đem lại nhiều lợi ích phù hợp với đặc thù của nước ta Chế độ sở hữu toàn dân nhấn mạnh quyền của người dân trong sử dụng quyền của mình để cùng nhau giải quyết các vấn đề bất đồng trong
sử dụng và phân chia lợi ích từ đất Bởi vì, với chế độ pháp quyền xã hội chủ nghĩa, người dân có quyền cùng nhau xây dựng Hiến pháp quy định về cung cách sống chung và quyền hạn của Nhà nước trong xã hội
Trang 25- Thứ sáu, nếu chúng ta thừa nhận sở hữu tư nhân đất đai và cho phép người nước ngoài thỏa thuận mua bán đất với tư nhân, thì nguy cơ mất nước từ hệ lụy của nền kinh tế thị trường sẽ thành hiện thực và thành quả đấu tranh kiên cường để giành độc lập của dân tộc ta sẽ có nguy cơ bị triệt tiêu bởi thế lực của đồng tiền
Quản lý Nhà nước về đất đai có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội loài người và có những đặc trưng riêng, đất đai được nhà nước thống nhất quản lý nhằm: + Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Đất đai được sử dụng vào tất cả các hoạt động của con người, tuy có hạn về mặt diện tích nhưng sẽ trở thành năng lực sản xuất vô hạn nếu biết sử dụng hợp lý Thông qua chiến lược sử dụng đất, xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhà nước điều tiết để các chủ
sử dụng đất sử dụng đúng mục đích, đúng quy hoạch nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược đã đề ra
+ Thông qua đánh giá, phân loại, phân hạng đất đai, nhà nước nắm bắt được quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất Trên cơ sở đó có những biện pháp thích hợp
để sử dụng đất đai có hiệu quả cao nhất
+ Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai, tạo nên tính pháp lý cho việc đảm bảo lợi ich chính đáng của người sử dụng đất đồng thời cũng bảo đảm lợi ích của nhà nước trong việc sử dụng, khai thác quỹ đất
+ Thông qua việc giám sát, kiểm tra, quản lý và sử dụng đất đai, nhà nước nắm bắt tình hình biến động về sử dụng từng loại đất, đối tượng sử dụng đất Từ đó, phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những sai phạm + Việc quản lý nhà nước về đất đai còn giúp nhà nước ban hành các chính sách, quy định, thể chế, đồng thời bổ sung, điều chỉnh những chính sách, nội dung còn thiếu, không phù hợp, chưa phù hợp với thực tế và góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống
1.4 Tình hình sử dụng đất trên Thế Giới
Hiện trạng sử dụng đất của thế giới theo FAO như sau:
- 20% diện tích đất ở vùng quá lạnh, không sản xuất được
- 20% diện tích đất ở vùng quá khô, hoang mạc cũng không sản xuất được
- 20% diện tích đất ở vùng quá dốc không canh tác nông nghiệp được
Trang 26Diện tích đất trồng trọt trên thế giới đang suy giảm nhanh chóng do xói mòn đất, cạn kiệt nguồn dinh dưỡng, mất lượng các-bon hữu cơ và các mối đe dọa khác, nhưng xu hướng này có thể đảo ngược nhờ các nước đi đầu trong việc thúc đẩy các hoạt động quản lý bền vững và sử dụng công nghệ thích hợp Đây là thông tin được đưa ra trong báo cáo của FAO
Bản báo cáo “Tình trạng đất trồng trọt trên thế giới” do Uỷ ban liên chính phủ của FAO thực hiện kết hợp với nghiên cứu của 200 nhà khoa học về đất từ 60 quốc gia Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon cho biết trong một thông điệp cho Ngày Đất trồng trọt thế giới: “Con người cùng chung tay quản lý đất trồng trọt bền vững cùng những biện pháp quản lý đất trồng đúng đắn và đầu tư thích hợp”
Tuy nhiên, kết luận của báo cáo là phần lớn nguồn tài nguyên đất của thế giới ở trong tình trạng chất lượng trung bình, kém và rất kém và tình hình này đang trở nên tồi tệ hơn Đặc biệt là 33% đất bị suy thoái ở mức độ trung bình đến suy thoái nặng
do xói mòn, bị nhiễm mặn, axit hóa và ô nhiễm chất hóa học Thay đổi tình trạng đất chủ yếu được thúc đẩy bởi sự gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế, các yếu tố dự kiến sẽ tiếp tục tồn tại trong vài thập kỷ tới.[34]
1.5 Tình hình sử dụng đất ở Việt Nam
Kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2016 đã đánh giá thực trạng sử dụng đất và tình hình biến động đất đai so với kỳ kiểm kê diện tích đất đai năm 2014, đánh giá được việc thực hiện theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt
Trang 27Theo nhóm đất sử dụng, tổng diện tích tự nhiên của cả nước là 33.123,078 ha, trong đó 27.284,906 ha đất đã được sử dụng vào các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp, chiếm 93,59% tổng diện tích tự nhiên; còn 2.123,042 ha đất chưa được
sử dụng vào các mục đích, chiếm 6,41% tổng diện tích tự nhiên Trong đó, nhóm đất nông nghiệp có diện tích là 27.284,906 ha, chiếm 82,43% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 87,07% tổng diện tích đất đã sử dụng; nhóm đất phi nông nghiệp có diện tích
là 3.725,374 ha, chiếm 11,16% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 11,93% tổng diện tích đất đã sử dụng; nhóm đất chưa sử dụng có diện tích là 2.112,798 ha, chiếm 6,41
% tổng diện tích tự nhiên cả nước
Theo báo cáo thống kê diện tích đất đai năm 2015 của các địa phương, tổng diện đất tích tự nhiên của cả nước là 33.123,078 ha, tăng so với số liệu kiểm kê đất đai năm 2014 là 21 ha Trong đó, có 11/63 tỉnh, thành phố có diện tích tự nhiên thay đổi so với số liệu năm 2014 do có sự điều chỉnh địa giới hành chính cho đúng theo bản đồ địa giới 364/CT
1.5 Tình hình sử dụng đất của tỉnh Bắc Giang
Tỉnh Bắc Giang có diện tích tự nhiên là 389.548,3 ha trong đó phân bổ theo 10 đơn vị hành chính cấp huyện là: TP Bắc Giang, huyện Tân Yên, huyện Việt Yên, huyện Hiệp Hòa, huyện Lục Nam, huyện Lục Ngạn, huyện Sơn Động, huyện Lạng Giang, huyện Yên Thế, huyện Yên Dũng
Diện tích đất nông nghiệp là 302.404,6 ha chiếm 77,6 % tổng diện tích tự nhiên; diện tích đất phi nông nghiệp là 79.353,0 ha chiếm 20,4% tổng diện tích tự nhiên; diện tích đất chưa sử dụng là 7.790,7 ha chiếm 2,0% diện tích đất tự nhiên
1.6 Sơ lược chuyển mục đích sử dụng đất trên Thế Giới
Trong thời gian gần đây, nhu cầu phát triển kinh tế phi nông nghiệp đã trở thành một xu hướng phát triển tất yếu của các quốc gia Nhu cầu CMĐSDĐ tạo nên một áp lực rất lớn không chỉ ở các nước đang phát triển mà ở cả nước rất phát triển Vấn đề CMĐSDĐ từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp là một nhu cầu tất yếu cần giải quyết
để phát triển
Trang 28Nguồn tài nguyên đất trên thế giới hàng năm luôn bị giảm, đặc biệt là đất nông nghiệp mất đi do CMĐ sang mục đích khác hay do các tác động tiêu cực từ thiên nhiên như sa mạc hóa hay sâm nhập mặn Mặt khác dân số ngày càng tăng, vào ngày
13 tháng 8 năm 2009, dân số trên Trái Đất được đo bởi Cục điều tra dân số của Mỹ là 6,777 tỉ người, đến cuối năm 2015 dân số thế giới đã sấp xỉ 7,3 tỉ người Đứng trước những khó khăn rất lớn đó thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất cũng như tình hình CMĐSDĐ là hết sức cần thiết
Quá trình CMĐSDĐ đều xảy ra ở tất cả các nước trên thế giới Tuy nhiên, có
sự khác nhau về mức độ đô thị hóa cũng như diện tích đất được CMĐ hàng năm Quá trình CMĐ trên thế giới diễn ra sớm hơn với tốc độ mạnh mẽ hơn ở Việt Nam Đặc biệt là ở một số nước phát triển như: Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản vv…thì tốc độ đô thị hóa nhanh đã làm quá trình CMĐSDĐ trong đó có đất nông nghiệp diễn
ra mạnh mẽ hơn Cơ chế góp đất và điều chỉnh lại đất đai là một kỹ thuật cho quản lý
và giải quyết tài chính cho phát triển đô thị, đã được áp dụng rộng rãi ở Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và sau đó được áp dụng ở nhiều nước châu Á khác như Indonesia, Malaysia, Nepal, Thái Lan [28]
Một số nước tiêu biểu
Ở Trung Quốc, thực hiện CMĐSDĐ theo mô hình chuyển dịch đất đai Mô hình
ở Trung Quốc có khá nhiều điểm giống mô hình đang triển khai trong xây dựng các khu công nghiệp ở Việt Nam Bước thứ nhất là chuẩn bị khu vực đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất để chuẩn bị thu hồi và giao cho nhà đầu tư hạ tầng sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp Bước thứ hai là thu hồi đất của hợp tác xã nông nghiệp bằng quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền Bước thứ ba là nhà đầu tư nhận giao đất hoặc cho thuê đất từ Nhà nước để đầu tư hạ tầng, sau đó chuyển nhượng hoặc cho thuê đối với các nhà đầu tư sản xuất kinh doanh
Ở Hàn Quốc, Chính phủ phê duyệt quy hoạch phân bổ đất đai, quy hoạch các vùng đất để phát triển công nghiệp và đô thị, sau đó thực hiện theo cơ chế điều chỉnh lại đất đai Kinh phí đầu tư dự án và lợi ích từ dự án được tính toán trên nguyên tắc chia sẻ lợi ích với các chủ sở hữu đất đai, các chủ sở hữu có thể được nhận lại một phần đất thuộc khu vực đã chuyển dịch Tổng Công ty đất đai (quốc gia) được thành lập để thực hiện chương trình phát triển các khu đô thị.[29]
Trang 29Pháp là quốc gia phát triển thuộc hệ thống quốc gia tư bản chủ nghĩa Tài sản công cộng (bao gồm cả đất đai công cộng) có đặc điểm là không được mua và bán Trong trường hợp cần sử dụng đất cho các mục đích công cộng, nhà nước có quyền yêu cầu sở hữu đất đai tư nhân nhường quyền sở hữu thông qua chính sách bồi thường thiệt hại một cách công bằng
Nhật Bản nằm trong nhóm các quốc gia phát triển G8, là nước tiến hành cải cách kinh tế sớm nhất châu Á, quá độ từ nền kinh tế phong kiến tiểu nông lên công nghiệp hóa Hiện Nhật Bản là một quốc gia công nghiệp hiện đại Nhật Bản áp dụng chính sách phi tập trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi Với các chính sách tiết kiệm đất triệt để, chính sách bảo hộ sản xuất nông nghiệp, hạn chế tối đa sự chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất ở, sự kết hợp hài hòa giữa nông nghiệp, nông thôn với công nghiệp, thành thị đã có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Nhật Bản, góp phần tạo nên sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản và giữ cho Nhật Bản luôn nằm trong các nước phát triển hàng đầu thế giới.[26]
Như vậy ta có thể thấy rằng các chính sách về quản lý, sử dụng đất đai có tác động to lớn đến nền kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân, đặc biệt là chính sách về việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp nếu được thực hiện một cách hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ được quỹ đất canh tác và phát triển hài hòa các ngành, các lĩnh vực, đảm bảo sử dụng đất một cách tiết kiệm và bền vững Kinh nghiệm quản lý đất đai của các nước phát triển, nhất là các nước châu Á có điều kiện tự nhiên - xã hội giống nước ta như Trung Quốc, Nhật Bản sẽ là bài học quý báu để Nhà nước ta xem xét, vận dụng triển khai thực hiện trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
1.7 Sơ lược chuyển mục đích sử dụng đất ở Việt Nam
Ngày nay với áp lực về dân số và tốc độ đô thị hóa kèm theo là những quá trình xói mòn, rửa trôi bạc màu do mất rừng, mưa lớn, canh tác không hợp lý, chăn thả quá mức, quá trình chua hóa, mặn hóa, hoang mạc hóa, cát bay, đá lộ đầu, mất cân bằng dinh dưỡng… cùng với chế độ chăm bón chưa phù hợp, dẫn đến diện tích đất đai nước ta nói chung ngày càng giảm, đặc biệt là đất nông nghiệp Do đó, việc sử
Trang 30dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất nông nghiệp càng trở nên quan trọng đối với nước ta
Quá trình CMĐSDĐ luôn diễn ra ở mọi thời điểm Trước kia khi chưa có Luật Đất đai quy định về trình tự, thủ tục CMĐ thì quá trình CMĐ vẫn luôn diễn ra Sau khi chúng
ta xây dựng luật để quản lý cũng như bảo vệ quỹ đất nói chung và quỹ đất nông nghiệp nói riêng thì vấn đề CMĐSDĐ vẫn chưa được quan tâm nhiều Cho đến lần sửa đổi thứ
2 (năm 2001) của Luật Đất đai 1993 thì vấn đề CMĐSDĐ mới được đưa ra và chính thức được bổ sung vào các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai của Luật Đất đai 2003
và luật đất đai 2013 Hiện nay cùng với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ đã kéo theo việc CMĐ sử dụng các loại đất cũng như CMĐSDĐ nông nghiệp ngày càng tăng
Diện tích và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng tăng diện tích đất cây trồng có giá trị, thích ứng với biến đổi khí hậu đặc biệt là sau đợt hạn hán ở Miền Trung, Tây Nguyên và hạn hán xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long
Đối với đất phi nông nghiệp đặt biệt là đất ở và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp biến động tăng, chủ yếu do xây dựng các công trình công cộng, hình thành các cơ sở sản xuất kinh doanh, khu dân cư trong đô thị, các tuyến dân cư nông thôn do nhu cầu tăng dân số
Đất chưa sử dụng tiếp tục được đưa vào sử dụng cho mục đích nông nghiệp, trồng rừng, khoanh nuôi rừng với quy mô khác nhau, đất chưa sử dụng là đất bãi bồi ven biển, đã được khai thác để đưa vào sử dụng, trong những năm tới những vùng đất bãi bồi ven biển cũng phải được quy hoạch, trồng rừng lấn biển, góp phần phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, thu nhập cho nông dân và cải thiện môi trường sinh thái ở các địa phương.[30]
1.8 Sơ lược chuyển mục đích sử dụng đất ở tỉnh Bắc Giang
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự gia tăng dân số trên địa bàn tỉnh nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao, dẫn đến áp lực cho việc chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp, đặc biệt là đất ở và việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính không được thực hiện liên tục, thường xuyên Trong những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh có nhiều trường hợp chuyển mục đích sử dụng
Trang 31đất trái quy định, tự ý chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng nhà ở, cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp như: Chuyển đổi đất nông nghiệp giao ổn định lâu dài của hộ gia đình cá nhân hoặc quỹ đất nông nghiệp công ích thuê của cấp xã sang mô hình sản xuất kinh tế trang trại; chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp khác
Theo kết quả kiểm kê có 1.148,5 ha đất nông nghiệp và 44,8 ha đất phi nông nghiệp sử dụng đất sai khác so với hồ sơ đã thiết lập
1.9 Các kết quả nghiên cứu liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất trên Thế Giới
Từ 30 năm nay, Ngân hàng Thế giới và các Ngân hàng Phát triển khu vực đã tập trung sự quan tâm vào cơ chế bồi thường, tái định cư đối với trường hợp chuyển dịch đất đai không tự nguyện sang sử dụng để thựchiện tới các dự án đầu tư thủy điện
và phát triển hạ tầng đô thị, trước hết cho các dự án được đầu tư bằng vốn của các Ngân hàng này Ngân hàng Thế giới đã trở thành tổ chức phát triển đầu tiên đưa ra chính sách chung cho tái định cư không tự nguyện vào năm 1980 trong Bản Hướng dẫn Hoạt động về những vấn đề xã hội trong tái định cư không tự nguyện trong các
dự án do Ngân hàng Thế giới đầu tư Từ đó, vấn đề tái định cư cho dân được xem xét như một cơ hội phát triển và mục tiêu phát triển từ quy hoạch tới thực hiện dự án Các tổ chức quốc tế đã có đầu tư để trợ giúp các nước có các dự án thủy điện lớn thực hiện chính sách chia sẻ lợi ích như tại thủy điện Kariba (Zambia-Zimbabwe), Tucuruí (Brazil), Pak Mun (Thailand) Việc nghiên cứu chính sách này không chỉ ở các nước đang phát triển mà cả cho các công trình thủy điện ở các nước phát triển, các dự án
cụ thể như Tokke (1960) ở Na-Uy; Duncan(1968), Keenleyside (1969), Mica (1975), Minashtuk (2000) ở Canada; Itaipu ở Brazil (1980), Shuikou (1996) ở Trung quốc, Urrá ở Colombia (2000), Kali Gandaki (2002) ở Nepal, v.v Ngân hàng Thế giới đang
có cách tiếp cận vấn đề tái định cư không tự nguyện trên nguyên tắc lựa chọn phương
án tái định cư ít nhất và có sự tham gia của các tổ chức chức phi chính phủ, đại diện của những người bị thiệt hại vào thiết kế, triển khai, theo dõi, giám sát quá trình triển khai công việc tái định cư Sau năm1990, các Ngân hàng Phát triển khu vực đã tập trung vào chính sách cho tái định cư không tự nguyện như Ngân hàng Phát triển liên
Trang 32Mỹ (Inter-American Development Bank - IDB) đưa ra chính sách vào năm 1993,Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Ngân hàng Phát triển châu Phi (AfDB) đưa ra chính sách vào 1995 Ngân hàng Phát triển châu Á đã cho xuất bản Sổ tay Tái định cư vào năm 1998
Cơ chế góp đất và điều chỉnh lại đất đai là một kỹ thuật cho quản lý và giải quyết tài chính cho phát triển đô thị, đã được áp dụng rộng rãi ở Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và sau đó được áp dụng ở nhiều nước châu Á khác như Indonesia, Malaysia, Nepal, Thái Lan Nội dung của kỹ thuật này khá đơn giản về mặt lý luận, chính phủ trung ương và địa phương quyết định thực hiện dự án góp đất và điều chỉnh lại đất đai tại một địa điểm nhất định có mục tiêu là chuyển đất đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp sang phát triển một khu đô thị mới với một quy hoạch đất đủ
hạ tầng, khu dân cư, khu công cộng, các cơ sở sản xuất kinh doanh, v.v được quy hoạch chi tiết Khi quy hoạch, cần căn cứ vào số lượng người đang sử dụng đất nông nghiệp, đất ở để bố trí trả lại cho người đang sử dụng đất diện tích đất đô thị tương ứng sao cho giá trị đất đô thị nhận được phải cao hơn giá trị đất nông nghiệp họ sử dụng trước đó Một diện tích đất sản xuất kinh doanh nhất định được đưa ra bán để
có kinh phí thực hiện toàn bộ dự án Toàn bộ việc triển khai dự án được cộng đồng những người đang sử dụng đất, cộng đồng dân cư thảo luận và đồng thuận trong triển
khai dự án
Cũng trong những năm vừa qua, bài toán chỉnh trang đô thị tại những khu vực
có hạ tầng quá cũ, các khu vực nhà ổ chuột cũng đang đặt ra đối với rất nhiều thành phố lớn, không chỉ ở các nước đang phát triển mà ở cả các nước phát triển Vấn đề này cũng có mục tiêu mang lại lợi ích cho cả thành phố lớn nhưng lại tác động trực tiếp tới một cộng đồng dân cư nghèo Mặt khác, đây cũng là vấn đề cần giải quyết theo hướng xóa đói, giảm nghèo tại đô thị Các ngân hàng quốc tế, trong đó Ngân hàng Thế giới đóng vai trò chủ đạo, đã triển khai nghiên cứu ở hầu hết các đô thị lớn trên thế giới để hình thành giải pháp cho phát triển đô thị bền vững Từ đây, nhiều chính sách có liên quan đã được hướng dẫn, khuyến nghị để các nước xem xét, ứng dụng Chính sách chung là đưa ra giải pháp để gắn chặt mối quan hệ giữa chính quyền thành phố, nhà đầu tư, cộng đồng cư dân các khu phố nghèo trên cơ sở giải quyết bài
Trang 33toán kinh tế chính trị học cho phát triển đô thị Chính sách đất đai cho khu vực đô thị nghèo dựa chủ yếu vào cơ chế góp đất, điều chỉnh lại đất đai Một số nước đã cho áp dụng phương thức công nhận quyền phát triển có thể chuyển nhượng được để có đất Năm 2007, Ngân hàng Thế giới cũng đã tiến hành một nghiên cứu về đô thị Việt Nam với địa điểm cụ thể cho 2 thành phố là Hà Nội và Đà Nẵng Song song với việc đầu
tư dự án nâng cấp đô thị đối với 4 thành phố lớn từ năm 2003, Ngân hàng Thế giới còn hỗ trợ Bộ Xây dựng việc xây dựng chiến lược nâng cấp đô thị cho cả nước.[29]
1.10 Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam
Năm 2009, ngân hàng thế giới đã hỗ trợ VN thực hiện nghiên cứu về "Xã hội và
các xung đột về đất đai", nhằm giúp chính phủ VN nghiên cứu đổi mới chính sách và
biện pháp tổ chức thực hiện cơ chế CMĐSDĐ trên cơ sở "Nhà nước quyết định thu hồi đất và nhà nước thực hiện việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hổi", cũng như nghiên cứu khuyến khích áp dụng các biện pháp thị trường trong phân phối, chuyển dịch đất đai ở VN Chương trình nghiên cứu này của ngân hàng thế giới mục tiêu chính là hỗ trợ cho tổng cục quản lý đất đai, BTNMT, chính phủ VN trong việc
tìm ra các giải pháp tốt hơn về chuyển dịch đất đai trong quá trình CNH - HĐH Viện
nghiên cứu Kiến trúc thuộc Bộ Xây dựng của Việt Nam đã hoàn thành đề tài nghiên cứu về cơ chế góp đất và điều chỉnh lại đất đai phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành về đất đai ở Việt Nam Đây có thể coi như một nghiên cứu cơ sở lý luận, có khảo sát tính khả thi trên thực tế về cơ chế này ở Việt Nam.[29]
Ở Việt Nam hiện nay cũng đã có những công trình nghiên cứu, hội thảo về quá trình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng cũng như các
đề tài liên quan tới vấn đề này
Đề tài “Nghiên cứu vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam” do Thạc sỹ Nguyễn Thị Xuân Hương làm chủ nhiệm
đề tài Đề tài này đã làm rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế với chuyển mục đích sử dụng đất của Việt Nam trong những năm vừa qua, trên cơ sở đó đề xuất phương pháp và tài liệu hướng dẫn cách xác định nhu cầu diện tích đất phải chuyển mục đích sử dụng gắn với các chỉ tiêu tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong các phương án quy hoạch sử dụng đất cấp vùng và cả nước Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm một trong những cơ sở lý luận giúp
Trang 34các cơ quan quản lý Nhà nước chủ động trong việc chỉ đạo, tổ chức xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong cả nước và nâng cao hiệu quả sử dụng đất Một số công trình nghiên cứu với quy mô, phạm vi nhỏ hơn như công trình “Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp trên địa bàn thành phố Huế, giai đoạn 2006 - 2010” của Nguyễn Thị Phương Anh, Nguyễn Phúc Khoa, Trần Ngọc Quang (Tạp chí Khoa học số 71 năm 2012) hay đề tài “Nghiên cứu thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên địa
bàn thanh phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2012” của Trần Đại Thắng (Luận văn thạc
sỹ quản lý đất đai, đại học Nông Lâm Thái Nguyên) Đề tài “ Đánh giá tác động của công tác chuyển mục đích sử dụng đất để phát triển hạ tầng, đô thị tại phường bãi chãy, thành phố hạ long, tỉnh Quảng Ninh” của Vũ Hoàng Cường (Luận văn thạc sỹ quản lý đất đai, trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên)
Tại Bắc Giang cũng có một số đề tài như: “Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại một số dự án trên địa bàn Thành phố Bắc Giang giai đoạn từ
2005 - 2013” của Thân Văn Chung (Luận văn thạc sỹ quản lý đất đai, trường đại học
Nông Lâm Thái Nguyên), đề tài “Quản lý đất dự án trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang” của Nguyễn Đức Huy (Luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý kinh tế,
đại học nông nghiệp Hà Nội )
Nội dung của các công trình nghiên cứu này đều nhằm làm rõ thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất và các tác động tới phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất Tập trung vào làm rõ các vấn đề liên quan đến công tác thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng
và đánh giá tác động của việc thu hồi đất tới đời sống của nhân dân trong khu vực bị ảnh hưởng, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm, bền vững, phát huy các mặt tích cực, hạn chế các tiêu cực do tác động của chuyển mục đích sử dụng đất đến tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đời sống nhân dân
Trang 35trọng, cung cấp những cơ sở khoa học cho các cơ quan liên quan đến việc quy hoạch, định hướng cuộc sống và sử dụng quỹ đất nông nghiệp sao cho hợp lý và hiệu quả nhất, và giúp cho những nhà quản lý đất đai có cái nhìn sâu rộng hơn về vấn đề quản
lý đất đai, cũng như vấn đề về chuyển mục đích sử dụng đất, có thể thấy được những tồn tại, bất cập và hạn chế từ đó có thể đưa ra những chính sách và giải pháp có tính thiết thực nhất, phù hợp nhất nhằm giúp cho việc sử dụng đất đạt hiệu quả nhất, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đời sống nhân dân tốt hơn
Trang 36CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Công tác chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2014 - 2016
- Một số yếu tố ảnh hưởng đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2014 - 2016
2.1.2 Phạm vi, thời gian nghiên cứu
- Phạm vi: Huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn 2014 - 2016
- Thời gian: Từ 9/2016 đến 9/2017
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và Kinh tế - xã hội và thực trạng sử dụng đất của huyện Tân Yên
2.2.2 Đánh giá kết quả chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện
2.2.3 Phân tích một số yếu tố tác động đến chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện
a Công tác quy hoạch sử dụng đất
b Công tác dự báo sử dụng đất
c Công tác phát triển đô thị hóa
d Yếu tố gia tăng dân số và việc làm
Trang 372.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
Thu thập số liệu tại Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê, Trung tâm Phát triển quỹ đất và Cụm công nghiệp, Ban quản lý dự án huyện và các cơ quan liên quan về Báo cáo thuyết minh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Báo cáo công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, báo cáo công tác quản lý dự án đầu tư trong và ngoài cụm công nghiệp; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Số liệu thống kê, kiểm
kê đất đai, ; Thu thập tài liệu có liên quan như: Luật Dân sự, Luật đất đai, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư, Nghị quyết, Quyết định, Quy định của cơ quan nhà nước về quản lý đất dự án;
- Các văn bản pháp lý liên quan đến đề tài
Dữ liệu sơ cấp
Có 2 nhóm đối tượng điều tra:
Nhóm cán bộ quản lý
Nhóm người dân
- Cách thu thập dữ liệu sơ cấp:
+ Phương pháp thu thập chủ yếu là phỏng vấn theo phiếu điều tra công chức viên chức tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện (2 phiếu), chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai (1 phiếu), Công chức Địa chính - Xây dựng xã, thị trấn (24 phiếu);
+ Phỏng vấn trực tiếp một số người dân có đất chuyển mục đích sử dụng trong
3 năm Phỏng vấn trực tiếp một thành viên hiểu biết và nắm chắc được tình hình sử dụng đất của gia đình Do trong giai đoạn 2014 - 2016 số người dân xin chuyển mục đích không nhiều nên tiến hành điều tra hết (năm 2014 tổng 17 phiếu, năm 2015 tổng 21 phiếu, năm 2016 tổng 39 phiếu)
Trang 382.3.2 Phương pháp dự báo
Từ những số liệu thu thập, số liệu điều tra phỏng vấn, cũng như số liệu tham khảo từ các chuyên gia có chuyên môn trong lĩnh vực quản lý đất đai, bằng cách phân tích định tính dựa vào suy đoán, cảm nhận sẽ đưa ra những dự báo liên quan đến tình hình quản lý sử dụng đất cũng như tình hình chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên
2.3.3 Phương pháp chuyên gia
có liên quan về công tác quy hoạch sử dụng đất, CMĐSDĐ sao cho có thể có đúc kết
ra những cái nhìn có tính khoa học hợp lý và đưa ra được những góp ý đạt hiệu quả tốt nhất Phương pháp chuyên gia dựa trên cơ sở đánh giá tổng kết kinh nghiệm, khả năng phản ánh tương lai một cách tự nhiên của các chuyên gia giỏi và xử lý thống kê các câu trả lời một cách khoa học
2.3.4 Phương pháp thống kê, phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê: Tổng hợp sắp xếp các số liệu theo thời gian từng năm
của giai đoạn điều tra
- Phương pháp xử lý số liệu: sử dụng phần mềm MS Excel để xử lý, tổng hợp, phân tích và đánh giá số liệu theo bảng và biểu đồ
- Phương pháp phân tích: kết hợp các số liệu phỏng vấn, điều tra đã được tổng hợp bằng MS Excel để phân tích và đánh giá
Nội dung của đề tài sẽ tận dụng triệt để các số liệu điều tra, phỏng vấn để chỉ
ra các yếu tố nào có mối quan hệ với nhau và có ảnh hưởng tới CMĐSDĐ như thế nào
Trang 39CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và Kinh tế - xã hội và thực trạng sử dụng đất của huyện Tân Yên
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Tân Yên là huyện trung du miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Bắc Giang,
có tổng diện tích 20.834,1 ha
- Phía Bắc giáp huyện Yên Thế
- Phía Đông giáp huyện Lạng Giang
- Phía Nam giáp huyện Việt Yên và thành phố Bắc Giang
- Phía Tây giáp huyện Hiệp Hòa và tỉnh Thái Nguyên
Vị trí địa lý của huyện tương đối thuận lợi trong giao lưu phát triển KT - XH với thành phố Bắc Giang (cách 15km theo tỉnh lộ 398 đường 284 cũ), huyện Sóc Sơn
- Hà Nội (cách 30km theo tỉnh lộ 295), thành phố Thái Nguyên (cách 40km theo tỉnh
lộ 294 đường 287 cũ)
Tân yên có 24 đơn vị hành chính gồm: 2 thị trấn và 22 xã Dân cư rải rác trong các thôn, xóm nhỏ Huyện có 5 tuyến đường tỉnh chạy qua (đường 298, 294, 295, 297
và 398) Phía Đông có sông Thương là tuyến đường thủy quan trọng của huyện
b) Địa hình địa mạo
Huyện Tân Yên có hướng nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam bộ, độ cao trung bình 10 - 15 m so với mực nước biển Gồm vùng đồi núi ở phía Đông và phía Bắc chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên; vùng đồng bằng xen kẽ đồi núi tập trung chủ yếu ở phía Tây chiếm 55% diện tích tự nhiên; còn lại là một số vùng trũng thấp chịu ảnh hưởng của mực nước song Thương nằm ở phía Nam, chiếm 5% diện tích tự nhiên
c) Khí hậu
Huyện Tân Yên chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng
ẩm, mua mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Trang 40Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của huyện như sau:
- Nhiệt độ bình quân cả năm là 23,7℃, trong đó nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 29,4℃, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,9℃ Nền nhiệt được phân hóa theo mùa rõ rệt, trong năm có 4 tháng nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 20℃ (tháng
12 đến tháng năm sau) Đây là yếu tố thích hợp cho việc bố trí cơ cấu cây trồng ngắn ngày tương đối đa dạng, đặc biệt với một số rau màu thực phẩm ưa nền nhiệt thấp và các loại cây trồng ăn quả nhiệt đới
- Lượng mưa bình quân hằng năm 1.476 mm nhưng phân bố không đồng đều Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 cho đến tháng 10, lượng mưa chiếm khoảng 85% tổng lượng mưa cả năm, đặc biệt tập trung vào các tháng 7,8,9 nên thường gây úng ngập cục bộ ở các vùng thấp trũng
- Lượng bốc hơi nình quân 1.034 mm/năm, bằng 70% lượng mưa trung bình hằng năm Đặc biệt trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng bốc hơi hang tháng cao hơn lượng mưa từ 2 - 4 lần, gây khô hạn cho cây trồng trong vụ đông xuân
- Gió: Gió mùa Đông Bắc làm nhiệt độ hạ thấp 10℃ - 12℃, ảnh hưởng tới sản xuất nông nghệp
- Bão: Có 2 - 3 cơn bão trong một năm, thường đi kèm các cơn mưa lớn từ 200
- 300 mm gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống người dân
3.1.2 Đặc điểm Kinh tế - xã hội
Nhiệm kỳ 2011-2015, mặc dù kinh tế trong nước, quốc tế gặp nhiều khó khăn tác động bất lợi tới sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp cũng như quá trình thực hiện các nhiệm vụ của địa phương, song bằng sự nỗ lực cao, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân huyện Tân Yên (Bắc Giang) đã giành nhiều kết quả trong phát triển KT-XH
Xây dựng nông thôn mới (XDNTM) gắn với phát triển nông nghiệp hàng hóa là lĩnh vực được huyện tập trung chỉ đạo và có những chuyển biến mạnh mẽ
- Đầu nhiệm kỳ, bình quân 1 ha đất nông nghiệp đạt 64 triệu đồng, đến nay giá trị sản xuất bình quân đạt 97 triệu đồng/ha