1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học tác phẩm tự sự dân gian trong SGK ngữ văn lớp 10 theo mô hình giờ học đối thoại ( tt)

22 335 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LƯU THỊ KIỀU NHI DẠY HỌC TÁC PHẨM TỰ SỰ DÂN GIAN TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 10 THEO MÔ HÌNH GIỜ HỌC ĐỐI THOẠI Chuyên ngành: Lí luận và phương p

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LƯU THỊ KIỀU NHI

DẠY HỌC TÁC PHẨM TỰ SỰ DÂN GIAN

TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 10 THEO MÔ HÌNH GIỜ HỌC ĐỐI THOẠI

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn - Tiếng Việt

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép

sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Huế, tháng 10 năm 2017

Học viên

Lưu Thị Kiều Nhi

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được nhiều sự hỗ trợ, giúp đỡ và động viên của quý thầy cô, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Đặc biệt, tôi xin gửi lời tri ân chân thành và sâu sắc nhất đến tiến sĩ Mai Xuân Miên đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Nhân đây, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm Huế, Ban giám hiệu và tổ bộ môn trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập

và thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 10 năm 2017

Học viên

Lưu Thị Kiều Nhi Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 16

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17

5 Phương pháp nghiên cứu 18

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 18

7 Cấu trúc luận văn 19

NỘI DUNG 20

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 20

1.1 Cơ sở lí luận 20

1.1.1 Tác phẩm tự sự dân gian - khái niệm và đặc trưng thể loại 20

1.1.2 Đối thoại trong tiếp nhận văn học và dạy học TPVC theo mô hình giờ học đối thoại 26

1.2 Cơ sở thực tiễn 31

1.2.1 TP tự sự dân gian trong SGK Ngữ văn 10 và những yêu cầu chuẩn kiến thức - kĩ năng 31

1.2.2 Thực trạng vấn đề tổ chức hoạt động đối thoại trong giờ dạy học TP tự sự dân gian ở trường THPT hiện nay 35

Tiểu kết chương 1 53

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 5

Chương 2 NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐỐI

THOẠI TRONG GIỜ DẠY HỌC TÁC PHẨM TỰ SỰ DÂN GIAN 54

2.1 Nguyên tắc tổ chức hoạt động đối thoại 54

2.1.1 Đối thoại với tinh thần tôn trọng, bình đẳng 55

2.1.2 Đối thoại bằng kiến thức nền và lý lẽ, dẫn chứng đầy đủ 56

2.1.3 Phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong đối thoại 54

2.2 Một số biện pháp tổ chức hoạt động đối thoại trong giờ dạy học TP tự sự dân gian 57

2.2.1 Xác định đúng vấn đề trọng tâm, trọng điểm khi tổ chức đối thoại 57

2.2.2 Tổ chức hoạt động nhóm thảo luận về những vấn đề mâu thuẫn liên quan đến văn bản, đến sự tiếp nhận văn bản 77

2.2.3 Tổng kết đối thoại, định hướng tiếp nhận theo tinh thần mở 79

Tiểu kết chương 2 81

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82

3.1 Mục đích thực nghiệm 82

3.2 Nội dung thực nghiệm 82

3.2.1 Thiết kế hoạt động đối thoại trong bài đọc hiểu văn bản sử thi 82

3.2.2 Thiết kế hoạt động đối thoại trong bài đọc hiểu văn bản truyền thuyết 82

3.2.3 Thiết kế hoạt động đối thoại trong bài đọc hiểu văn bản truyện cổ tích 82

3.3 Tiến trình thực nghiệm 91

3.4 Kết quả thực nghiệm 91

Tiểu kết chương 3 94

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 6

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1 Thông tin mẫu 36 Bảng 2 Sự chuẩn bị phần hướng dẫn học bài trong SGK của HS trước giờ học TP TSDG 38 Bảng 3 Nội dung khiến HS quan tâm nhất khi học TP TSDG 38 Bảng 4 Điều khiến HS không hứng thú khi học các TP TSDG 39 Bảng 5 Mức độ thích thú của HS đối với hoạt động tranh luận, đối thoại trong giờ học các TP TSDG 40 Bảng 6 Mức độ thích thú của HS khi tham gia tranh luận với thầy cô và bạn bè 40 Bảng 7 Thực trạng việc HS đặt lại câu hỏi để tranh luận lại với GV trong giờ học

TP TSDG 41 Bảng 8 Nguyên nhân HS còn e ngại khi tham gia phát biểu tranh luận 41 Bảng 9 Mong muốn của HS khi phát biểu ý kiến xây dựng bài 42 Bảng 10 Trong giờ học TP TSDG, GV có đưa ra những ý kiến, cách hiểu khác nhau của người đọc để anh/chị trao đổi không? 43 Bảng 11 Phương thức đối thoại được HS ưa thích nhất trong giờ học TP TSDG 43 Bảng 12 Thực trạng việc GV đặt ra tình huống thực tế liên quan đến vấn đề trong

TP để HS thảo luận trong giờ học 44 Bảng 13 HS tự nhận xét về khả năng trình bày một vấn đề trước lớp của mình 44 Bảng 14 Nhận thức của HS về lợi ích của việc tổ chức đối thoại, tranh luận khi học các TP tự sự dân gian 45 Bảng 15 Mong muốn của HS trong giờ học TP tự sự dân gian theo mô hình giờ học đối thoại 45 Bảng 3.1 Kết quả học tập của HS ở lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 92 Bảng 3.2 Mức độ thực nghiệm của HS ở lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 92

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Cùng với sự vận động và phát triển không ngừng của xã hội hiện đại,

giáo dục cũng cần có những bước đột phá lớn về giải pháp nhằm hướng tới xây dựng nền giáo dục năng động và hiện đại, qua đó, nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo

nhân lực ngày càng cao của xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Cho nên,

lối dạy truyền thụ, áp đặt kiến thức một chiều, bắt buộc học sinh ghi nhớ máy móc

đã triệt tiêu khả năng sáng tạo, tự học và các kĩ năng sống thiết yếu ở HS Chính cách dạy này đã dẫn đến hệ quả là HS giỏi lí thuyết nhưng yếu về thực hành; khả năng thích ứng, đối phó với các tình huống xảy ra đời sống chưa linh hoạt; theo đó khả năng tranh biện, đối thoại của HS cũng không có cơ hội phát huy Vậy nên, cách dạy thụ động, một chiều đã không còn phù hợp và chưa đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội hiện đại

Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) ngày nay, mục tiêu hướng đến là những sản phẩm giáo dục năng động, sáng tạo, tự tin, có kĩ năng tranh luận, đối thoại và khả năng thích ứng với môi trường thực tiễn Quan trọng là, dạy học cần dựa vào nhu cầu của người học, lấy người học làm trung tâm thì hình thức và PPDH đã đến lúc cần phải đổi mới, cải tiến Như vậy chỉ có đổi mới, cải tiến PPDH mới có thể giải quyết được “bài toán khó” của giáo dục mà dư luận đặc biệt quan tâm và đặt nhiều kì vọng vào sự đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trong thời gian tới Ngày nay, đối thoại đã trở thành là một trong những hình thức dạy học hiện đại được vận dụng khá phổ biến trong dạy học TPVC ở trường phổ thông Vận dụng hình thức này trong dạy học đã góp phần việc đổi mới PPDH theo hướng hiện đại, tích cực và phát huy được vai trò chủ thể của HS, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

Trong dạy học, tiếp nhận theo quan niệm đối thoại là đưa tác phẩm (TP) vào trong các tương quan năng động với TP, tác giả với truyền thống văn học, văn hóa, với thực tại đời sống, với ý thức xã hội… để khám phá, lí giải, cắt nghĩa TP, tác giả, đối thoại giữa các cách hiểu, giữa các tầm nhìn khác nhau, qua đó bổ sung dung hợp, làm phong phú, giàu có cho nhau Hơn nữa, dạy học theo hình thức đối thoại còn là điều kiện để phát huy chủ thể của HS Chính vì thế, vận dụng hình thức đối

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 9

thoại trong dạy học tác phẩm văn chương (TPVC) là phương thức tích cực để giúp người đọc - HS hiểu tác giả, TP Mặt khác, thông qua giờ học đối thoại, mối quan

hệ giao tiếp thân thiện, tích cực giữa các chủ thể thực sự được thiết lập, đồng thời,

HS có cơ hội bày tỏ tiếng nói cá nhân, được va chạm với các ý kiến khác, đặc biệt là

HS được đối thoại với chình mình Cho nên, dạy học TPVC theo mô hình giờ học đối thoại là hướng đi rất đáng chú ý, góp phần hiện thực hóa đổi mới phương pháp giảng dạy ở nhà trường phổ thông hiện nay

1.2 Văn học dân gian (VHDG) là một trong hai bộ phận cấu thành nền văn

học Việt Nam Trong đó, việc giảng dạy các tác phẩm tự sự dân gian (TSDG) ở nhà trường phổ thông còn tạo điều kiện phát huy năng lực tư duy sáng tạo, phát huy trí tưởng tượng phong phú của HS Tuy nhiên, việc dạy học TP TSDG ở trường phổ thông hiện nay vẫn chưa nhận được sự quan tâm, đầu tư đúng mức từ phía GV và

HS Bởi do những đặc thù riêng biệt của TP VHDG nên quá trình dạy học của giáo viên (GV) và HS gặp phải những khó khăn nhất định

Một là, cũng như các TPVC viết, ngôn ngữ TP VHDG là ngôn ngữ hàm ẩn,

đa nghĩa, dễ tạo ra những tình huống tiếp nhận khác nhau ở HS VHDG là những

sáng tác nghệ thuật ngôn từ, nhưng không chỉ là ngôn từ thuần tuý mà là một tổng thể gồm ngôn từ và các phương tiện nghệ thuật khác TP VHDG là đối tượng của nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Nói cách khác, có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối văn bản VHDG (tổng thể văn hóa, phương diện lịch sử, dân tộc học, xã hội học…) Việc tiếp nhận văn bản VHDG từ nhiều góc độ với những mục đích khác nhau có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về một TP Như vậy có thể nói, tính hàm ẩn, đa nghĩa của ngôn ngữ là một trở ngại hay

sự thách thức đối với người tiếp nhận, đặc biệt là những HS phổ thông còn ít hiểu biết về đặc trưng của ngôn ngữ văn chương

Hai là, TP VHDG luôn luôn là những thông tin có vấn đề Điều này có nghĩa

là, ở TP VHDG, vấn đề đặt ra thể hiện được khả năng tư duy, cách lí giải về các

hiện tượng tự nhiên và đời sống, thể hiện trình độ nhận thức và khả năng thâm nhập cuộc sống của các tác giả dân gian Cho nên trong quá trình tiếp nhận, đòi hỏi chủ

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 10

hiện ở chỗ VHDG là bộ “bách khoa toàn thư” bao gồm các mặt sinh hoạt, những tri thức, kinh nghiệm… mà nhân dân thu được trong quá trình ứng xử với môi trường

tự nhiên và xã hội Trong VHDG, phần lớn sự phản ánh tình trạng ý thức xã hội còn

ở dạng nguyên hợp, chưa có sự phân định rạch ròi trong lĩnh vực sản xuất tinh thần

Do vậy, những dấu ấn về triết học, tôn giáo, văn hóa trong TP VHDG sẽ trở thành thử thách lớn đối với trình độ tiếp nhận của HS THPT

Bốn là, do đặc trưng của phương thức truyền miệng, TP VHDG có tính dị bản Chính yếu tố khả biến này đã phản ánh quá trình đổi mới, phát triển của TP

VHDG Thông qua các dị bản, người tiếp nhận sẽ có được sự hiểu biết cuộc sống của TP qua các địa phương, qua các thời đại khác nhau Đây cũng chính là lí do tạo nên nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau đối với cùng một TP TSDG

Ngoài ra, vấn đề từ phía chủ thể tiếp nhận là đối tượng HS THPT cũng ảnh hưởng không nhỏ đối với giờ dạy đọc hiểu TP VHDG Vì ngoài sự hạn chế về vốn

sống, kinh nghiệm, trình độ thì tâm lí thời đại cũng là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận TP VHDG nói chung và TP TSDG nói riêng Vì đa phần HS thời nay, với tư duy nhạy bén trước cái nhìn cuộc sống đương đại phức tạp, HS dường như hoài nghi với những điều được học từ các truyện dân gian trong nhà trường Những bài học nhân sinh đặt ra trong truyện tuy nhân văn nhưng có vẻ “không tưởng” so với thực tế, liệu “ở hiền có gặp lành”, liệu còn “ác giả ác báo” không và

có nên đặt hết niềm tin khi cho rằng cuộc đời của chúng ta sẽ là một câu chuyện kết thúc có hậu…Và như vậy, học một TP VHDG, HS lại không nhận ra giá trị thiết

thân thực sự cho mình thì sự cố gắng của người dạy sẽ trở nên vô nghĩa

Chính những lí do đó, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những công trình nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài

“Dạy học tác phẩm tự sự dân gian trong SGK Ngữ văn lớp 10 theo mô hình giờ học đối thoại” mong làm sáng tỏ hơn những cơ sở lí luận và thực tiễn của kiểu giờ học đối thoại, đồng thời góp phần thực thi đổi mới PPDH TPVC trong nhà trường phổ thông hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Vấn đề về dạy học đối thoại

M Bakhtin là nhà triết học, nhà mĩ học, nhà nghiên cứu văn học lỗi lạc ở

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 11

Liên Xô thế kỉ XX Trong triết học nhân bản của Bakhtin, “đối thoại” là phạm trù nền Ông cho rằng: “Đối thoại là bản chất của ý thức, bản chất của cuộc sống con người (…) Sống tức là tham gia đối thoại: hỏi, nghe, trả lời, đồng ý, v.v… Con người tham gia cuộc đối thoại ấy bằng toàn bộ con người mình và toàn bộ cuộc đời mình: bằng mắt, môi, tay, tâm hồn, tinh thần, hành vi Nó trút hết con người nó vào lời nói và tiếng nói của nó gia nhập dàn đối thoại của cuộc sống con người, gia nhập cuộc hội thảo thế giới (…) Bản Ngã không chết Cái chết chỉ là sự ra đi Con người

ra đi khi đã nói lời của mình, nhưng bản thân lời nói ấy còn lại mãi mãi trong cuộc

hội thảo không bao giờ kết thúc” [1] Có thể nói, chính lí thuyết đối thoại của nhà

nghiên cứu vĩ đại này đã tạo tiền đề cơ sở cho việc dạy học theo hình thức đối thoại

sau này Thật vậy, trong bài Kĩ thuật giao tiếp đối thoại trong quá trình hình thành

những phẩm chất đạo đức - tinh thần cho HS PTTH, M.E Mikhailovich có viết:

“Theo N Surkova: “Dạy học đối thoại - đó là cách thức hoạt động tương tác sư phạm, cách thức tổ chức của nhà sư phạm khi anh ta ở trạng thái luôn luôn đối thoại với mình, với hội họa, sách báo, âm nhạc, với HS Đối thoại tự bản thân nó đòi hỏi một trình độ phát triển trí tuệ và tình cảm tương đối cao, mặc dù mong muốn đối thoại là phẩm chất tự nhiên, đặc thù của con người” [29]

Nếu nhìn vấn đề một cách rộng mở hơn nữa, theo quan điểm của các chuyên gia tâm lí - giáo dục tại các trường phổ thông đối thoại văn hóa - trường này thành lập vào năm 1992 tại Kharkov (Ukraina) với nhiệm vụ chủ yếu là nghiên cứu, thực hiện PPDH đối thoại các môn khoa học Xã hội và Nhân văn ở trường phông theo thuyết đối thoại văn hóa dưới sự chủ trì của Bibler và các nhà tâm lí giáo dục nổi tiếng khác của Nga và Ukraina như E Donskaia, S Kurganov, V Osetinski, I Solomadin, v.v - mục đích ý nghĩa của trường học là dẫn dắt HS đến với văn hóa hiện đại, điều chỉnh văn hóa nhận thức cá nhân HS Và “văn hóa hiện đại cũng không thể hiểu là nấc thang cuối cùng mà ở đó chúng ta phải giúp trẻ em leo lên Nói chung, không nên hiểu lịch sử các nền văn hóa khác nhau là những nấc khác nhau của một cái thang mà nên hiểu như những tiếng nói giao tiếp, những chủ thể bình đẳng Như vậy, ở đây sự phát triển giữa các nền văn hóa được hiểu là sự đối

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 12

cực, “không chấp nhận những chân lí sẵn có, là con người tự do và tự chủ Anh ta không chấp nhận chỉ suy nghĩ trong giới hạn của một hình thái duy nhất mà luôn vượt ra khỏi giới hạn đó để suy nghĩ một cách khác hơn bằng quan niệm của mình Anh ta không chấp nhận những biểu tượng, những câu trả lời có sẵn mà luôn tự mình tìm cách giải quyết những vấn đề đó một cách độc đáo, mang dấu ấn cá nhân;

và trong sự tìm tòi này, anh ta hết sức chú ý đến cuộc đối thoại vô tận với những những người có vốn văn hoá đa dạng, phong phú” [23] Từ luận điểm đối thoại giữa các nền văn hóa, V.Z Osetinski đã đề xuất nhiệm vụ hết sức quan trọng hiện nay là

“nhà trường phải hình thành được cho HS tư duy mà Bibler gọi là “tư duy đối thoại”, tức là hiểu rằng một đối tượng bao giờ cũng có thể được xem xét từ nhiều quan điểm khác nhau, rằng những nhận thức khác nhau đều quan trọng như nhau,

và tư duy đó yêu cầu sinh tử đối với con người thế kỉ XIX”

Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1990, xuất phát từ việc nghiên cứu chuyên sâu những tiền đề đối thoại của M Bakhtin, Trần Đình Sử đã có bài viết đáng chú ý

như: Đối thoại - hệ hình mới của phê bình văn học (Tạp chí TP mới, số 7/1995), Lí

thuyết đối thoại và mấy nét nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao (Tạp chí Văn học, số 12/1998), Trở về với văn bản văn học - Con đường

đổi mới PPDH Văn (9/8/2014), Cấu trúc đối thoại trong truyện ngắn “Chí Phèo”

của Nam Cao (29/3/2016), Cần thay đổi nền giáo dục quyền uy bằng giáo dục đối thoại (3/5/2016),… Bước đầu, Trần Đình Sử đã giới thiệu những tiền đề cơ bản

trong lí thuyết đối thoại của M Bakhtin, chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa lí thuyết đối thoại và lí thuyết tiếp nhận văn học, vai trò của người đọc, khả năng đối thoại không chỉ giữa cá nhân người đọc với tác giả mà còn là đối thoại giữa các tầng lớp

xã hội, các nền văn hoá dân tộc, các thời đại lịch sử…

Trước đây, phê bình văn học hiện diện trong mô hình lấy nhà văn làm trung tâm; theo đó nhiệm vụ của nhà phê bình là tìm kiếm ý đồ sáng tạo của nhà văn, xác định mức độ thành công của việc biểu hiện ý đồ ấy Từ những năm 40 của thế kỉ trước, với sự ra đời của Phê bình mới, bản thể TP được coi là trung tâm của phê bình văn học; và tuy trường phái phê bình này đã có những đóng góp tích cực nhất định nhưng hệ luỵ của nó lại là phủ nhận người đọc, coi khả năng cảm thụ khác nhau của người đọc chỉ là hiện tượng tâm lí cá nhân chứ không phải là sự tồn tại

Demo Version - Select.Pdf SDK

Ngày đăng: 06/04/2018, 14:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w