1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua việc sử dụng graph trong dạy học tiếng việt (tt)

20 203 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN THỊ THÙY GIANG RÈN LUYỆN TƯ DUY CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG GRAPH TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Chuyên ngành: Lí luận và phươn

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN THỊ THÙY GIANG

RÈN LUYỆN TƯ DUY CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG GRAPH TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn - Tiếng Việt

Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN QUANG NINH

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, đƣợc các đồng tác giả cho phép sử dụng và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Thùy Giang

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ từ nhiều phía Trước tiên, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Quang Ninh đã dành thời gian quý báu tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô đã từng tham gia giảng dạy lớp Cao học Ngữ văn khóa XXIV( năm 2015 - 2017), chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn - Tiếng Việt Xin cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học của trường Đại học sư phạm - Đại học Huế và trường Đại học An Giang, quý thầy cô trong khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm - Đại học Huế đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp

Song song đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, quý thầy

cô và các em học sinh trường THPT Phú Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành tổ chức thực nghiệm để hoàn thành phần nội dung luận văn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, chia sẻ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn./

Huế, tháng 5 năm 2017

Tác giả

Trần Thị Thùy Giang

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

4 Mục đích nghiên cứu 16

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 16

6 Phương pháp nghiên cứu 16

7 Đóng góp của luận văn 17

8 Cấu trúc của luận văn 17

NỘI DUNG 18

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 18

1.1 Cơ sở lí luận 18

1.1.1 Về tư duy 18

1.1.2 Về lí thuyết graph 25

1.2 Cơ sở thực tiễn 29

1.2.1 Về chương trình, SGK Ngữ văn (phần Tiếng Việt) trong trường phổ thông 29 1.2.2 Tình hình việc dạy học Tiếng Việt trong nhà trường THPT hiện nay dưới góc nhìn của lí thuyết graph 31

Chương 2 TỔ CHỨC RÈN LUYỆN TƯ DUY CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT BẰNG GRAPH 33

2.1 Điều kiện để tổ chức rèn luyện tư duy 33

2.1.1 Học sinh phải có khả năng tư duy 33

2.1.2 Giáo viên phải nắm được đặc điểm phát triển tâm lí của học sinh 33

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 5

2.1.3 Phải xác định được đúng nội dung dạy học có thể sử dụng graph để rèn luyện

tư duy 35

2.2 Một số nguyên tắc rèn luyện tư duy 36

2.2.1 Rèn luyện tư duy phải gắn liền với việc rèn luyện ngôn ngữ 36

2.2.2 Rèn luyện tư duy phải gắn với việc rèn luyện các thao tác tư duy cụ thể 36

2.2.3 Rèn luyện tư duy phải gắn liền với tình huống có vấn đề 37

2.3 Tổ chức rèn luyện các thao tác tư duy 38

2.3.1 Rèn luyện thao tác phân tích 40

2.3.2 Rèn luyện thao tác tổng hợp 47

2.3.3 Rèn luyện thao tác so sánh 54

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68

3.1 Mục đích thực nghiệm 68

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 70

3.2.1 Chọn học sinh thực nghiệm 70

3.2.2 Chọn giáo viên thực nghiệm 70

3.3 Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm 71

3.3.1 Nội dung thực nghiệm 71

3.3.2 Cách thức tiến hành thực nghiệm 76

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 77

3.4.1 Các tiêu chí đánh giá 77

3.4.2 Kết quả thực nghiệm 77

3.5 Những nhận xét rút ra từ quá trình thực nghiệm 79

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NXBGD Nhà xuất bản Giáo dục

PPDH phương pháp dạy học

SGK Sách giáo khoa

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Trang

Bảng

Bảng 3.1 Kết quả bài kiểm tra của lớp 10 thực nghiệm và đối chứng 78

Bảng 3.2 Kết quả bài kiểm tra của lớp 11 thực nghiệm và đối chứng 78

Bảng 3.3 Kết quả bài kiểm tra của lớp 12 thực nghiệm và đối chứng 78

Bảng 3.4 So sánh kết quả tổng hợp bài kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và đối chứng 78

Biểu đồ Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả giữa lớp thực nghiệm và đối chứng 79

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Do yêu cầu của đổi mới, các phương pháp dạy học (PPDH) tích cực đã

được vận dụng vào quá trình dạy học và bước đầu phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, khắc phục tình trạng thầy đọc - trò chép, học sinh thụ động trong học tập Tuy nhiên, vấn đề rèn luyện tư duy, phát huy hết tiềm năng của

bộ não - tiềm năng trí tuệ của con người nói chung và của học sinh (HS) nói riêng chưa được phát huy một cách tối đa

Những phát hiện mới mẻ về khả năng kì diệu của não bộ đã thúc đẩy mạnh

mẽ nhiệm vụ của giáo dục và nhà trường phải ra sức khai thác phát huy tiềm năng của người học Đó là nhiệm vụ chiến lược của giáo dục ngày nay nhất là với những dân tộc còn đang phát triển, muốn hòa nhập nhanh vào bước đi của các nước tiên tiến Mục đích cuối cùng của giáo dục là làm sao để từng cá nhân, mỗi cá thể, mỗi công dân tự mình có ý thức khơi dậy tiềm năng to lớn của con người Nhà trường giúp đỡ cho từng học sinh thay đổi triệt để quan niệm và phương pháp học tập cho phù hợp với yêu cầu và thời đại ngày nay, thời đại mà mỗi con người phải học tập suốt đời Muốn học tập không ngừng, học tập cả đời thì con người phải biết tư duy, phải biết tự sử dụng bộ não của mình Nhà trường không thể là nơi truyền thụ đơn thuần những thành tựu khoa học của nhân loại, mà là nơi tập luyện cho mỗi con người biết sử dụng tri thức và biết sáng tạo tri thức Dạy học sinh biết khai thác cao

độ tiềm năng bộ não của mình, tức là nhà trường đã tạo ra được một cuộc cách mạng học tập trong giáo dục và đem đến cho HS cuộc cách mạng học tập cho chính mình Vậy câu hỏi đặt ra chung cho tất cả các nhà giáo chính là: “ Dạy học như thế nào để tận dụng và phát huy tối đa tiềm năng bộ não?” Câu hỏi này buộc những nhà nghiên cứu phải quan tâm xem xét và giải quyết

Như vậy, dạy học không chỉ là một quá trình cung cấp tri thức khoa học mà còn vừa xây dựng và rèn luyện khả năng tư duy cho học sinh Muốn quá trình tư duy diễn ra một cách thuận lợi, học sinh phải được trang bị một nền tảng tri thức ngôn ngữ và một năng lực tư duy năng động, sáng tạo Phần Tiếng Việt thuộc môn Ngữ văn trong chương trình phổ thông phải là môn học đáp ứng cho được những yêu cầu đó Dạy Tiếng Việt như thế không chỉ là việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 9

học mà còn có mục đích rất quan trọng là rèn luyện năng lực tư duy cho học sinh

1.2 Ở trường Trung học phổ thông (THPT), phân môn Tiếng Việt có một vai

trò quan trọng Nó vừa nâng cao, hoàn chỉnh cho học sinh những tri thức có tính lí thuyết về tiếng Việt vừa nâng cao, hoàn chỉnh cho học sinh năng lực hoạt động ngôn ngữ với các kĩ năng quan trọng ở mức độ tự giác, chủ động; qua đó nâng cao năng lực tư duy và góp phần hình thành thế giới quan khoa học cũng như bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp cho các em Thế nhưng có một vấn đề còn tồn tại ở trường THPT là việc dạy học phân môn này lâu nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức của giáo viên lẫn học sinh nên còn bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc rèn luyện tư duy cho các em Rèn luyện để học sinh có năng lực tư duy là điều kiện cần

và đủ để khám phá và lĩnh hội tri thức Ngày nay, khi nền kinh tế tri thức tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì việc rèn luyện tư duy cho học sinh - chủ nhân tương lai của đất nước lại càng hết sức cần thiết Trong nền kinh tế ấy, tri thức trở thành quyền lực, trở thành chìa khóa mở cửa tương lai Không có năng lực tư duy, các em sẽ không có khả năng nắm bắt tri thức, lĩnh hội tri thức và cũng không có khả năng vận dụng tri thức ấy vào thực tiễn cuộc sống Theo chúng tôi, một trong những phương tiện rèn luyện tư duy có hiệu quả cho học sinh, dù ở bất kì cấp học nào, bậc học nào, chính là việc sử dụng Graph

1.3 Nhìn lại lịch sử hình thành của các phương pháp dạy học, chúng ta thấy

có rất nhiều phương pháp dạy học bắt nguồn từ những phương pháp nghiên cứu khoa học tương ứng Ví dụ: phương pháp thí nghiệm trong dạy học vật lí có nguồn

gốc từ phương pháp thí nghiệm trong Vật lí học; phương pháp thực địa trong dạy học địa lí có nguồn gốc từ phương pháp thực địa trong Địa lí học; phương pháp

phân tích ngôn ngữ trong dạy học tiếng có nguồn gốc từ phương pháp phân tích

trong nghiên cứu Ngôn ngữ học…; hoặc phương pháp đàm thoại trong dạy học có

nguồn gốc từ phương pháp trao đổi, seminar trong nghiên cứu khoa học; phương pháp thuyết trình, diễn giảng có nguồn gốc từ phương pháp báo cáo khoa học,… Chính việc phát hiện ra sự tương ứng giữa phương pháp nghiên cứu khoa học với phương pháp dạy học như vậy đã mở ra hướng nghiên cứu mới đối với lí luận dạy

học: nghiên cứu sự chuyển hoá từ phương pháp nghiên cứu khoa học thành phương

pháp dạy học thông qua xử lí sư phạm "Bất kì một phương pháp khoa học bộ môn

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 10

biệt giữa phương pháp khoa học và phương pháp dạy học bộ môn có thể thay đổi

khi trình độ trí tuệ của người học thay đổi" Phương pháp Graph chính là một

trong những phương pháp chuyển hoá như thế Từ một phương pháp riêng của toán học, nay Graph đã trở thành một phương pháp chung của nhiều ngành khoa học, được ứng dụng rộng rãi trong những lĩnh vực khác nhau, trong đó có phương pháp

dạy học - cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội như giảng dạy Hoá học, Vật lí,

Sinh học, Kĩ thuật nông nghiệp, Kĩ thuật quân sự, Lịch sử, Địa lí…Chính việc ứng

dụng ngày càng rộng rãi lí thuyết Graph vào những ngành khoa học khác nhau như trên, đặc biệt là khoa học xã hội là một gợi ý tích cực, thúc đẩy chúng tôi mạnh dạn

đi sâu nghiên cứu tìm hiểu lí thuyết Graph và tìm cách vừa vận dụng lí thuyết này vào dạy học tiếng Việt, vừa rèn luyện năng lực tư duy cho học sinh

Lí thuyết về Graph (lí thuyết sơ đồ mạng) rất có lợi thế trong việc thể hiện những mối quan hệ của các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ Là loại lí thuyết sơ đồ nên Graph vừa mang tính khái quát, vừa mang tính trực quan và mang tính tầng bậc

hết sức cụ thể Sử dụng Graph trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh THPT, điều

này sẽ giúp cho các em thấy được tất cả những mạng lưới quan hệ vốn chằng chịt của “vũ trụ” ngôn ngữ được hiện ra một cách trực quan và cụ thể hơn Đây là lí do giải thích vì sao hiện nay trong dạy học tiếng Việt ở nhà trường phổ thông, Graph lại được sử dụng khá nhiều và rất có hiệu quả Việc tìm hiểu sâu hơn về lí thuyết Graph để trên cơ sở đó có cách vận dụng tốt hơn, sử dụng tốt hơn trong rèn luyện tư duy cho học sinh, theo chúng tôi là có ý nghĩa tích cực

1.4 Trong thư gửi ngành giáo dục năm học 1968-1969, Bác Hồ đã viết

“…phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm giải quyết các

vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa đạt những đỉnh cao của khoa học kĩ thuật” Và Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương

Đảng khoá VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “ Đổi

mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học Kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề… Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ, nghiên cứu những vấn đề về khoa học giáo dục phục vụ cho mục tiêu phát triển sự nghiệp giáo dục” là những nhiệm vụ

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 11

hết sức quan trọng mà ngành giáo dục phải đặc biệt quan tâm Bởi thế, trong dạy học, giáo viên không chỉ làm nhiệm vụ cung cấp kiến thức một cách thuần tuý cho học sinh mà còn phải giúp các em hình thành những phẩm chất cơ bản của tư duy, giúp các em có khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá,… trong học tập và lao động sáng tạo Sử dụng Graph trong dạy học có nhiều thế mạnh

để thực hiện những nhiệm vụ bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo và

năng lực giải quyết vấn đề

Xuất phát từ những lí do như vừa trình bày trên, chúng tôi đã mạnh dạn lựa

chọn đề tài: “Rèn luyện tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua việc sử dụng

Graph trong dạy học tiếng Việt” Lí thuyết Graph tuy có nhiều lợi thế trong việc

truyền thụ kiến thức cho học sinh, nhưng nó cũng không thể và không phải là vạn năng, giúp chúng ta giải quyết tất cả những vướng mắc, những khó khăn trong dạy học, trong rèn luyện tư duy Vì vậy, bên cạnh việc tìm hiểu và vận dụng lí thuyết graph trong dạy học Tiếng Việt, chúng ta cũng cần có nhiều hướng tìm tòi khác nữa Chỉ như vậy, chúng ta mới thực sự góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học Tiếng Việt trong nhà trường, nâng cao năng lực tư duy cho học sinh và luôn luôn đổi mới phương pháp dạy học như những gì chúng ta mong muốn

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Về việc nghiên cứu và ứng dụng lí thuyết Graph vào dạy học trên thế giới

2.1.1 Lí thuyết Graph

- Vào khoảng những năm 70 của thế kỉ thứ XVIII, lí thuyết Graph - còn được gọi là lí thuyết sơ đồ - ra đời Người ta coi công trình đầu tiên về lí thuyết Graph là của Ơle, nhà toán học Thuỵ Sĩ, xuất hiện vào năm 1736 Lúc đó, lí thuyết này chủ yếu nghiên cứu giải quyết những bài toán có tính chất giải trí và tiêu khiển Vào thời điểm

ấy, lí thuyết Graph chỉ là một bộ phận nhỏ của toán học, chưa thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học nên thành tựu nghiên cứu của nó không nhiều Thời điểm xác định bước nhảy vọt của lí thuyết Graph có thể tính từ khoảng cuối thế kỉ XIX, đầu thế

kỉ XX, khi các công trình có quan hệ chặt chẽ với lí thuyết Graph như tôpô và lí

thuyết tập hợp đã trở thành tâm điểm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Tuy thế, lúc

bấy giờ, lí thuyết Graph cũng chỉ mới được coi là có chỗ đứng trong “vương quốc”

của toán học Mãi đến những năm 30 của thế kỉ XX, khi toán học ứng dụng và lí

Demo Version - Select.Pdf SDK

Ngày đăng: 06/04/2018, 14:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w