MỞ ĐẦU Tổn thương thận cấp (TTTC) là tổn thương cơ quan thường gặp ở bệnh nhân điều trị tại khoa điều trị tích cực (ĐTTC), TTTC gây tăng tỉ lệ tử vong, tăng chi phí y tế và tăng nguy cơ bệnh thận mạn. Theo nhiều nghiên cứu, tỉ lệ TTTC ở bệnh nhân điều trị tại khoa ĐTTC khoảng 30 - 36% và mặc dù có nhiều tiến bộ quan trọng của ngành ĐTTC cũng như trong lĩnh vực điều trị thay thế thận, tỉ lệ tử vong vẫn còn cao 50-70% [27], [60]. Một trong những nguyên nhân làm cho tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân TTTC vẫn còn cao là do thiếu các dấu ấn sinh học chẩn đoán sớm TTTC [79], [83]. Hiện nay chưa có điều trị đặc hiệu đối với TTTC nhưng chẩn đoán sớm có thể ngăn chặn sự tiến triển của TTTC. Chẩn đoán sớm TTTC trên lâm sàng vẫn còn là một thách thức, vì creatinin huyết thanh được dùng để chẩn đoán TTTC nhưng không giúp chẩn đoán sớm, creatinin huyết thanh chỉ tăng khi độ lọc cầu thận đã giảm nặng, sự chậm trễ làm mất đi cơ hội có thể can thiệp vào điều trị nhằm thay đổi tiên lượng. Vì thế nghiên cứu về dấu ấn sinh học mới để chẩn đoán sớm TTTC được xếp vào nhóm ưu tiên trong lĩnh vực thận học [11]. Nhờ những kỹ thuật sinh học phân tử trong lĩnh vực gen và protein, nhiều dấu ấn sinh học mới của TTTC đã được phát hiện như neutrophil gelatinase-associated lipocalin (NGAL), kidney injury molecule 1 (KIM 1), interleukin (IL) 18, Tissue inhibitor of metallo- proteinase 2 (TIMP-2), Insulin-like growth factor binding protein 7 (IGFBP-7); trong đó NGAL là dấu ấn sinh học được nghiên cứu nhiều nhất, vì những nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy NGAL trong nước tiểu và trong máu tăng cao và rất sớm trong vòng vài giờ sau khi thận bị tổn thương do thiếu máu hoặc độc chất. Nhiều nghiên cứu lâm sàng đã được thực hiện để xác định giá trị của NGAL trong dự đoán TTTC, mức độ nặng của TTTC, điều trị thay thế thận và tử vong bệnh viện ở bệnh nhân mổ tim hở có tuần hoàn ngoài cơ thể, bệnh nhân sử dụng thuốc cản quang, bệnh nhân cấp cứu, bệnh nhân điều trị tại khoa ĐTTC… Phần lớn các nghiên cứu cho thấy giá trị dự đoán TTTC của NGAL thể hiện qua diện tích dưới đường cong ROC (AuROC) từ khá đến rất tốt [46]. Ở bệnh nhân điều trị tại khoa ĐTTC, nguyên nhân gây TTTC thường do nhiễm khuẩn huyết - sốc nhiễm khuẩn, thiếu máu - giảm tưới máu và thuốc gây độc thận; trong đó nhiễm khuẩn huyết - sốc nhiễm khuẩn là nguyên nhân hàng đầu gây TTTC. Theo nghiên cứu đa trung tâm của Uchino và cộng sự, sốc nhiễm khuẩn là nguyên nhân của 47,5% trường hợp TTTC ở bệnh nhân điều trị tại khoa ĐTTC [105], theo nghiên cứu của Lê Thị Diễm Tuyết tại khoa ĐTTC bệnh viện Bạch Mai, nhiễm khuẩn huyết nặng - sốc nhiễm khuẩn là nguyên nhân của 71,9% trường hợp TTTC [10]. Ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết, ngoài TTTC, NGAL còn được cơ thể sản xuất để đáp ứng với phản ứng viêm, vì thế vai trò của NGAL trong dự đoán TTTC ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết vẫn còn bị nghi ngờ và một số nghiên cứu lâm sàng về NGAL trong dự đoán TTTC ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết cho kết quả trái chiều nhau [25], [50]. Vì thế nghiên cứu này được thực hiện trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết, điều trị tại khoa ĐTTC nhằm xác định giá trị của NGAL huyết tương trong dự đoán TTTC, dự đoán điều trị thay thế thận và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết điều trị tại khoa ĐTTC. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu được thực hiện ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết điều trị tại khoa ĐTTC nhằm 3 mục tiêu: 1. Xác định giá trị của NGAL huyết tương trong dự đoán TTTC. 2. Xác định giá trị của NGAL huyết tương trong dự đoán mức độ nặng của TTTC và điều trị thay thế thận. 3. Xác định giá trị của NGAL huyết tương trong tiên lượng tử vong.
Trang 1PHAN THỊ XUÂN
GIÁ TRỊ CỦA NEUTROPHIL GELATINASE
ASSOCIATED LIPOCALINE HUYẾT TƯƠNG
TRONG CHẨN ĐOÁN SỚM TỔN THƯƠNG THẬN CẤP
VÀ TIÊN LƯỢNG Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TÍCH CỰC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 21.2 Tỉ lệ và nguyên nhân gây tổn thương thận cấp ở bệnh nhân điều trị tại khoa điều trị tích cực
7
1.6 Nghiên cứu về Neutrophil gelatinase-associated lipocalin trong tổn thương thận cấp
19
1.7 Nghiên cứu về Neutrophil gelatinase-associated lipocalin tại Việt Nam
32
Trang 33.2 Xác định giá trị của Neutrophil gelatinase-associated lipocalin huyết tương trong dự đoán tổn thương thận cấp
60
3.3 Xác định giá trị của Neutrophil gelatinase-associated lipocalin huyết tương trong dự đoán mức độ nặng của tổn thương thận cấp và điều trị thay thế thận
4.2 Xác định giá trị của Neutrophil gelatinase-associated lipocalin huyết tương trong dự đoán tổn thương thận cấp
90
4.3 Xác định giá trị của Neutrophil gelatinase-associated lipocalin huyết tương trong dự đoán mức độ nặng của tổn thương thận cấp và điều trị thay thế thận
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Initiative
Tổ Chức Sáng Kiến
Về Chất Lượng Thẩm Tách Máu Cấp
Network
Mạng Lưới Tổn Thương Thận Cấp
Chronic Health Evaluation II
Thang điểm APACHE II
Trang 5molecules bị tổn thương
filtration rate
Độ lọc cầu thận ước đoán
Intensive Care Medicine
Hội Điều Trị Tích Cực châu Âu
Trang 6molecular pattern molecules
gốc từ tác nhân gây bệnh
dương
Improving Global Outcomes
Hội Cải Thiện Dự Hậu Bệnh Thận Toàn Cầu
Society of America
Hội Các Bệnh Nhiễm Trùng Hoa Kỳ
characteristics
Đường cong ROC
Medicine
Hội Điều Trị Tích Cực
Society
Hội Nhiễm Trùng Sau Phẫu Thuật
Trang 7metallo - proteinase 2
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.14 Mức độ nặng của bệnh thời điểm chọn bệnh vào
nghiên cứu
54
Bảng 3.17 Nồng độ NGAL ht ở bệnh nhân có TTTC và không
TTTC
62
Bảng 3.19 Điểm cắt, độ nhạy cảm, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán 68
Trang 9trong dự đoán TTTC xuất hiện ngày 4
Bảng 3.23 Các biến số liên quan đến chỉ định điều trị thay thế
thận
75
Bảng 3.24 So sánh nồng độ NGAL ht giữa hai nhóm bệnh nhân
bị TTTC có và không điều trị thay thế thận
76
Bảng 3.25 Điểm cắt, độ nhạy cảm, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán
dương, giá trị tiên đoán âm tương ứng với các điểm cắt của đường cong ROC nồng độ NGAL ht ngày 1 trong dự đoán điều trị thay thế thận
78
Bảng 3.26 Nồng độ NGAL ht ở bệnh nhân tử vong trong 7 ngày
đầu
80
Bảng 3.27 Nồng độ NGAL ht ở bệnh nhân tử vong trong 7 ngày
đầu giữa nhóm có TTTC và không TTTC
81
Bảng 4.28 Giá trị của NGAL ht trong dự đoán TTTC ở bệnh
nhân NKH trong các nghiên cứu được đưa vào phân tích gộp của Zhang và cộng sự
96
Bảng 4.29 Điểm cắt dự đoán TTTC theo đối tượng và phương
pháp xét nghiệm
97
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Trang
Hình 1.2 Sử dụng các dấu ấn sinh học trong các giai đoạn
khác nhau của TTTC
12
Hình 1.4 Nguồn gốc và tính đặc hiệu vị trí của các dấu ấn
Hình 1.6 So sánh sự gia tăng nồng độ một số dấu ấn sinh học
ở bệnh nhân TTTC sau mổ tim hở có tuần hoàn ngoài cơ thể
25
Trang 11Trang
Biểu đồ 3.2 Phân bố điểm SOFA ngày chọn bệnh nhân vào
Biểu đồ 3.4 Sự thay đổi nồng độ creatinin huyết thanh so với
creatinin huyết thanh nền ở nhóm bệnh nhân TTTC và không TTTC
58
bệnh
58
với mức độ nặng của NKH đánh giá qua thang điểm SOFA
61
Biểu đồ 3.7 Nồng độ NGAL ht ngày 1 đến ngày 4 ở bệnh
nhân xuất hiện TTTC và không TTTC
62
Biểu đồ 3.8 Sự thay đổi tính theo tỉ lệ % của nồng độ NGAL
ht và creatinine huyết thanh ở hai nhóm có TTTC
và không TTTC
63
Biểu đồ 3.9 Đường cong ROC sự thay đổi tính theo tỉ lệ %
của nồng độ NGAL ngày 2 so với ngày 1, trong
dự đoán TTTC trong vòng 7 ngày
Trang 12Biểu đồ 3.16 Nồng độ NGAL ht ngày 1 đến 4 ở bệnh nhân
không TTTC, TTTC AKIN 1, AKIN 2, AKIN 3
73
Biểu đồ 3.17 Nồng độ NGAL ht ngày 1 đến 4 ở bệnh nhân
không TTTC, TTTC không điều trị thay thế thận, TTTC có điều trị thay thế thận
76
Biểu đồ 3.18 Đường cong ROC nồng độ NGAL ht ngày 1
trong dự đoán điều trị thay thế thận
77
Biểu đồ 3.19 Đường cong ROC nồng độ NGAL ht trong tiên
lượng tử vong 7 ngày đầu
80
Biểu đồ 3.20 Nồng độ NGAL ht ở bệnh nhân tử vong 7 ngày
đầu và bệnh nhân sống
81
Biểu đồ 3.21 Nồng độ NGAL ht ở bệnh nhân tử vong 7 ngày
đầu giữa nhóm có TTTC và nhóm không TTTC
81
Biểu đồ 3.22 Đường cong ROC nồng độ NGAL ht trong tiên
lượng tử vong 14 ngày đầu
82
Biểu đồ 4.23 Sự thay đổi tính theo tỉ lệ % của nồng độ NGAL
ht và creatinine huyết thanh ở bệnh nhân TTTC
93
Trang 13NGAL ht trong dự đoán TTTC ở bệnh nhân NKH
– không NKH và mức độ TTTC
102
Trang 141
MỞ ĐẦU
Tổn thương thận cấp (TTTC) là tổn thương cơ quan thường gặp ở bệnh nhân điều trị tại khoa điều trị tích cực (ĐTTC), TTTC gây tăng tỉ lệ tử vong, tăng chi phí y tế và tăng nguy cơ bệnh thận mạn Theo nhiều nghiên cứu, tỉ lệ TTTC ở bệnh nhân điều trị tại khoa ĐTTC khoảng 30 - 36% và mặc dù có nhiều tiến bộ quan trọng của ngành ĐTTC cũng như trong lĩnh vực điều trị thay thế thận, tỉ lệ tử vong vẫn còn cao 50-70% [27], [60] Một trong những nguyên nhân làm cho tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân TTTC vẫn còn cao là do thiếu các dấu ấn sinh học chẩn đoán sớm TTTC [79], [83]
Hiện nay chưa có điều trị đặc hiệu đối với TTTC nhưng chẩn đoán sớm có thể ngăn chặn sự tiến triển của TTTC Chẩn đoán sớm TTTC trên lâm sàng vẫn còn là một thách thức, vì creatinin huyết thanh được dùng để chẩn đoán TTTC nhưng không giúp chẩn đoán sớm, creatinin huyết thanh chỉ tăng khi độ lọc cầu thận đã giảm nặng, sự chậm trễ làm mất đi cơ hội có thể can thiệp vào điều trị nhằm thay đổi tiên lượng Vì thế nghiên cứu về dấu ấn sinh học mới để chẩn đoán sớm TTTC được xếp vào nhóm ưu tiên trong lĩnh vực thận học [11]
Nhờ những kỹ thuật sinh học phân tử trong lĩnh vực gen và protein, nhiều dấu ấn sinh học mới của TTTC đã được phát hiện như neutrophil gelatinase-associated lipocalin (NGAL), kidney injury molecule 1 (KIM 1), interleukin (IL) 18, Tissue inhibitor of metallo- proteinase 2 (TIMP-2), Insulin-like growth factor binding protein 7 (IGFBP-7); trong đó NGAL là dấu ấn sinh học được nghiên cứu nhiều nhất, vì những nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy NGAL trong nước tiểu và trong máu tăng cao và rất sớm trong vòng vài giờ sau khi thận bị tổn thương do thiếu máu hoặc độc chất Nhiều nghiên cứu lâm sàng đã được thực hiện để xác định giá trị của NGAL trong
Trang 15dự đoán TTTC, mức độ nặng của TTTC, điều trị thay thế thận và tử vong bệnh viện ở bệnh nhân mổ tim hở có tuần hoàn ngoài cơ thể, bệnh nhân sử dụng thuốc cản quang, bệnh nhân cấp cứu, bệnh nhân điều trị tại khoa ĐTTC… Phần lớn các nghiên cứu cho thấy giá trị dự đoán TTTC của NGAL thể hiện qua diện tích dưới đường cong ROC (AuROC) từ khá đến rất tốt [46]
Ở bệnh nhân điều trị tại khoa ĐTTC, nguyên nhân gây TTTC thường
do nhiễm khuẩn huyết - sốc nhiễm khuẩn, thiếu máu - giảm tưới máu và thuốc gây độc thận; trong đó nhiễm khuẩn huyết - sốc nhiễm khuẩn là nguyên nhân hàng đầu gây TTTC Theo nghiên cứu đa trung tâm của Uchino
và cộng sự, sốc nhiễm khuẩn là nguyên nhân của 47,5% trường hợp TTTC ở bệnh nhân điều trị tại khoa ĐTTC [105], theo nghiên cứu của Lê Thị Diễm Tuyết tại khoa ĐTTC bệnh viện Bạch Mai, nhiễm khuẩn huyết nặng - sốc nhiễm khuẩn là nguyên nhân của 71,9% trường hợp TTTC [10] Ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết, ngoài TTTC, NGAL còn được cơ thể sản xuất để đáp ứng với phản ứng viêm, vì thế vai trò của NGAL trong dự đoán TTTC ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết vẫn còn bị nghi ngờ và một số nghiên cứu lâm sàng
về NGAL trong dự đoán TTTC ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết cho kết quả trái chiều nhau [25], [50] Vì thế nghiên cứu này được thực hiện trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết, điều trị tại khoa ĐTTC nhằm xác định giá trị của NGAL huyết tương trong dự đoán TTTC, dự đoán điều trị thay thế thận và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết điều trị tại khoa ĐTTC
Trang 163
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết điều trị tại khoa ĐTTC nhằm 3 mục tiêu:
1 Xác định giá trị của NGAL huyết tương trong dự đoán TTTC
2 Xác định giá trị của NGAL huyết tương trong dự đoán mức độ nặng của TTTC và điều trị thay thế thận
3 Xác định giá trị của NGAL huyết tương trong tiên lượng tử vong
Trang 17CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC
1.1.1 Định nghĩa
TTTC là sự gia tăng của creatinin huyết thanh ³ 0,3 mg/dl trong vòng
48 giờ, hoặc sự gia tăng của creatinin huyết thanh ³ 1,5 lần giá trị nền trong
vòng 7 ngày, hoặc thể tích nước tiểu < 0,5 ml/kg/giờ trong 6 giờ [58]
1.1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC
TTTC là hội chứng thường gặp tại các khoa ĐTTC và có liên quan đến
dự hậu Trước đây có hơn 30 tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC, từ thay đổi nhẹ nồng độ creatinin huyết thanh như tăng 0,3 mg/dl so với giá trị nền, đến mức
độ nặng cần điều trị thay thế thận [73] Sự không thống nhất về tiêu chuẩn chẩn đoán dẫn đến sự khác biệt lớn trong thống kê về tỉ lệ mắc TTTC, tỉ lệ tử vong liên quan đến TTTC, so sánh kết quả của các nghiên cứu liên quan đến TTTC [18], [73] Vì thế cần phải có một tiêu chuẩn chẩn đoán thống nhất và tiêu chuẩn đó phải đánh giá được mức độ nặng của TTTC để sử dụng trong lâm sàng và nghiên cứu Mặc dù đã có sự đồng thuận giữa các chuyên gia ĐTTC và thận học, để đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC, cho đến nay tồn tại 3 tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC đó là RIFLE ra đời năm 2004, AKIN năm
2007 và KDIGO năm 2012
Năm 2004, nhóm ADQI (Acute Dialysis Quality Initiative) đề xuất tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC gọi là RIFLE [18] RIFLE là những chữ cái đầu tiên của 3 giai đoạn theo mức độ nặng của TTTC, và 2 giai đoạn liên quan đến dự hậu, chẩn đoán dựa vào sự gia tăng creatinin huyết thanh hoặc sự giảm độ lọc cầu thận hoặc sự giảm thể tích nước tiểu (Bảng 1.1.)
Trang 185
Tiêu chuẩn creatinin huyết thanh hoặc độ lọc cầu thận
(GFR)
Tiêu chuẩn thể tích nước tiểu Nguy cơ rối loạn
chức năng thận
Creatinin tăng gấp 1,5 lần so với giá trị nền hoặc GFR giảm > 25%
< 0,5ml/kg/giờ trong
> 6 giờ
với giá trị nền hoặc GFR giảm > 50%
< 0,5ml/kg/giờ trong
> 12 giờ
Suy chức năng thận Creatinin tăng gấp 3 lần so
với giá trị nền hoặc Creatinin
Mất chức năng thận Mất hoàn toàn chức năng thận trong > 4 tuần
Bệnh thận giai đoạn
cuối
Mất hoàn toàn chức năng thận trong > 3 tháng
Năm 2007, AKIN (Acute Kidney Injury Network) đưa ra Tiêu chuẩn
chẩn đoán và phân độ TTTC, AKIN bỏ 2 giai đoạn tiến triển sang mạn tính
của TTTC; không sử dụng tiêu chuẩn giảm GFR vì trong những trường hợp cấp tính, thường không thể đo GFR; đưa thêm tiêu chuẩn sự gia tăng của creatinin huyết thanh 0,3 mg/dl trong vòng 48 giờ [74] (Bảng 1.2.)
Bảng 1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán và phân độ TTTC AKIN [74]
Tiêu chuẩn Creatinin huyết thanh thể tích nước tiểu Tiêu chuẩn Giai đoạn 1 Creatinin tăng ≥ 0,3 mg/dl, hoặc tăng
gấp 1,5 - 2 lần so với giá trị nền < 0,5ml/kg/giờ trong > 6 giờ
Giai đoạn 2 Creatinin tăng gấp > 2 - 3 lần so với
Giai đoạn 3 Creatinin tăng gấp > 3 lần so với giá
trị nền hoặc Creatinin ≥ 4 mg/dl với Creatinin tăng cấp tính ≥ 0,5mg/dl hoặc cần điều trị thay thế thận
< 0,3ml/kg/giờ trong
24 giờ hoặc
vô niệu trong12giờ
Trang 19Năm 2012, KDIGO (Kidney Disease Improving Global Outcomes), đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán và phân độ TTTC trên cơ sở điều chỉnh tiêu chuẩn chẩn đoán và phân độ AKIN [58] (Bảng 1.3.)
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán và phân độ TTTC theo KDIGO [58]
Tiêu chuẩn creatinin huyết thanh
Tiêu chuẩn thể tích nước tiểu Giai đoạn 1 Creatinin tăng ≥ 0,3 mg/dl, hoặc
tăng gấp 1,5 – 1,9 lần so với giá trị nền
< 0,5ml/kg/giờ trong >6 giờ
Giai đoạn 2 Creatinin tăng gấp 2 – 2,9 lần so
với giá trị nền
< 0,5ml/kg/giờ trong >12 giờ
Giai đoạn 3 Creatinin tăng gấp 3 lần so với
giá trị nền hoặc Creatinin ≥ 4 mg/dl hoặc bắt đầu điều trị thay thế thận hoặc ở bệnh nhân < 18 tuổi, giảm eGFR < 35 ml/min /1,73 m2
< 0,3ml/kg/giờ trong 24 giờ hoặc
vô niệu trong 12 giờ
Từ khi ra đời cho đến nay, mặc dù còn một số hạn chế, tiêu chuẩn RIFLE, AKIN rồi đến KDIGO được chấp nhận và sử dụng rộng rãi Khó khăn lớn nhất khi áp dụng 3 tiêu chuẩn chẩn đoán nêu trên là xác định creatinin nền Creatinin nền phản ảnh chức năng thận của bệnh nhân trước khi bị TTTC, là Creatinin huyết thanh bệnh nhân được đo trong thời gian 1 năm trước đó, hoặc lý tưởng nhất là trong 3 tháng trước đó [42] Thực tế, không biết được creatinin nền của phần lớn bệnh nhân bị TTTC tại các khoa ĐTTC ở Việt Nam Trong trường hợp không biết giá trị nền creatinin huyết thanh của bệnh nhân, ADQI và KDIGO đề nghị dự đoán creatinin nền dựa vào công thức MDRD (modification of diet in renal disease), chấp nhận eGFR 75ml/phút/1,73m2 [18], [58] AKIN đề nghị sử dụng creatinin thời điểm nhập viện làm creatinin nền [74] Các nghiên cứu về TTTC đã dùng nhiều định nghĩa khác nhau để xác định creatinin nền, như creatinin thời điểm nhập viện [82], [89], [57], giá trị creatinin thấp nhất trong 3 ngày đầu
Trang 207
nằm viện [35], giá trị creatinin thấp nhất trong thời gian nằm viện [27], [54], creatinin tính theo công thức MDRD [53], [14], cách tính nào cũng có ưu điểm, có khuyết điểm Hiện tại vẫn chưa có cách nào xác định creatinin nền tốt hơn, chính xác hơn cho tất cả các tình huống lâm sàng dù cho gần như đã
có tiếng nói chung về tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC với 3 bảng tiêu chuẩn
RIFLE, AKIN và KDIGO về cơ bản giống nhau [35], [42]
1.2 Tỉ lệ và nguyên nhân gây TTTC ở bệnh nhân điều trị tại khoa ĐTTC
Áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC mới, nghiên cứu gần đây tại một viện trường tại Hoa Kỳ trong một năm cho thấy tỉ lệ TTTC ở bệnh nhân nằm viện lên đến 22,7% [107]; nghiên cứu đa trung tâm đa quốc gia cho thấy
tỉ lệ TTTC ở bệnh nhân ĐTTC là 57,3% [52] Tỉ lệ bệnh nhân bị TTTC cần điều trị thay thế thận tại các khoa ĐTTC từ 5 - 6% [105], nguyên nhân hàng đầu gây TTTC ở bệnh nhân ĐTTC là sốc nhiễm khuẩn 47,5%, phẫu thuật lớn 34,4%, sốc tim 26,9%, sốc giảm thể tích 25,6%, thuốc độc thận 19%, hội chứng gan thận 5,7%, do tắc nghẽn 2,6% [105] Trong số thuốc và chất gây độc thận, thuốc cản quang là tác nhân hàng đầu gây TTTC 34%, kháng sinh 17% trong đó do aminoglycoside 5,1%, do huỷ cơ vân 15,1%, thuốc ức chế calcineurin 11,9% [75]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Lê Thị Diễm Tuyết, thực hiện tại khoa ĐTTC bệnh viện Bạch Mai, với tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC khi có thiểu niệu (nước tiểu < 400 ml/24 giờ), hoặc creatinin máu ≥ 130 µmol/l (#1,47mg/dl), tỉ lệ TTTC là 16,2%; nguyên nhân hàng đầu gây TTTC là nhiễm khuẩn huyết nặng, sốc nhiễm khuẩn 71,9%, sốc tim, ngừng tuần hoàn 11,9%, sốc giảm thể tích 9,4%, hội chứng gan thận hoặc TTTC/bệnh gan mạn là 8,8%, viêm tụy cấp 7,5%, thuốc cản quang 5%; 93,1% bệnh nhân có
Trang 21tổn thương cơ quan khác đi kèm với TTTC [10] Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Ngọc Thảo ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng, tỉ lệ bệnh nhân
có TTTC là 69,9 %, và tỉ lệ bệnh nhân có tổn thương 2 cơ quan trở lên chiếm đến 95,9% [5]
1.3 Sinh lý bệnh TTTC do nhiễm khuẩn huyết
Sinh lý bệnh TTTC ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết (NKH) do sự phối hợp của nhiều yếu tố bao gồm sự thay đổi và rối loạn áp suất lọc cầu thận và
sự phân bố lưu lượng máu trong thận, rối loạn vi tuần hoàn, rối loạn chức năng tế bào nội mô, quá trình viêm, stress oxy hoá [45], [113]
1.3.1 Sự thay đổi lưu lượng máu đến thận
Bình thường cơ thể có cơ chế tự điều hoà lưu lượng máu đến thận, nhằm bảo đảm lưu lượng máu đến thận ổn định khi có sự thay đổi của huyết
áp trong một ngưỡng nhất định, dưới ngưỡng có thể tự điều hoà, lưu lượng máu đến thận giảm Huyết áp trung bình tối ưu ở bệnh nhân NKH nặng và sốc nhiễm khuẩn để duy trì tưới máu thận, ngăn TTTC xảy ra chưa được xác định Ngoài ra, ở bệnh nhân NKH lưu lượng máu đến thận thay đổi theo sự thay đổi của cung lượng tim do mất cơ chế tự điều hoà Trên thực nghiệm, ở giai đoạn tăng động của NKH có hiện tượng sức cản mạch máu thận giảm và lưu lượng máu đến thận tăng xảy ra đồng thời với độ lọc cầu thận giảm và creatinin máu tăng Sự giảm độ lọc cầu thận trong trường hợp này do sự giãn của tiểu động mạch đến và đi, trội hơn ở tiểu động mạch đi [19]
1.3.2 Sự thay đổi vi tuần hoàn và rối loạn chức năng tế bào nội mô
Ở bệnh nhân NKH có số lượng mao mạch chức năng giảm, sự không đồng nhất trong tưới máu gia tăng, tỉ lệ mao mạch bị ngưng tưới máu hoặc tưới máu ngắt quãng gia tăng [32] Sự thay đổi tại vi tuần hoàn gây ra giảm cung cấp oxy cho cơ quan trong đó có thận dẫn đến TTTC Cơ chế dẫn đến
sự thay đổi tại vi tuần hoàn bao gồm rối loạn chức năng tế bào nội mô, mất
Trang 229
cân bằng giữa các chất gây co mạch và giãn mạch, sự thay đổi của glycocalyx, là lớp glycoprotein-polysaccharide phủ bề mặt tế bào nội mô [32] Rối loạn chức năng tế bào nội mô và sự thay đổi của glycocalyx làm cho các tế bào hồng cầu và bạch cầu khi đi qua mao mạch bị kết dính vào bề mặt tế bào nội mô, cùng với tiểu cầu và fibrin gây huyết khối dẫn đến tắc nghẽn mao mạch; ngoài ra, hiện tượng tăng tính thấm thành mạch gây phù
mô kẽ càng dẫn đến tình trạng thiếu oxy tế bào [32], [113]
Nitric oxide (NO) đóng vai trò quan trọng trong sinh lý bệnh TTTC do NKH, các kích thích viêm làm gia tăng sản xuất nitric oxide (NO), sự gia tăng NO vừa có lợi vừa gây hại ở bệnh nhân NKH, NO có vai trò duy trì tưới máu thận có lợi ở bệnh nhân NKH, tuy nhiên nồng độ NO quá cao gây rối loạn vi tuần hoàn dẫn đến nối tắt tại mao mạch, dòng máu di chuyển chậm, giảm oxy tế bào, khuyếch đại phản ứng viêm; ngoài ra nồng độ NO cao gây
ức chế hô hấp của ty thể và tạo ra gốc ni tơ phản ứng peroxynitrit gây tổn thương tế bào [45], [113]
1.3.3 Phản ứng viêm và stress oxy hoá
Tác nhân gây bệnh hoạt hoá nhiều loại tế bào, trong đó có tế bào biểu
mô thận, tế bào đuôi gai thông qua sự tương tác với các thụ thể nhận cảm như TLR (toll-like receptors), thụ thể lectin týp C… khởi động miễn dịch bẩm sinh Các thụ thể này cũng phát hiện các phân tử được phóng thích từ tế bào
bị tổn thương gọi là DAMP như DNA, RNA, histon, HMGPB1, và protein S100, sau đó phóng thích các cytokin như yếu tố hoại tử u (TNF), IL-6, IL-8 vào máu [45], [113] Cơn bão cytokin trong giai đoạn đầu của NKH hoạt hoá bạch cầu, tế bào nội mô, tế bào biểu mô, tiểu cầu, gây rối loạn chức năng vi mạch, thiếu oxy mô và tổn thương mô [113] Tế bào nội mô bị hoạt hoá phô bày các phân tử kết dính và phóng thích các hoá chất trung gian tiền viêm E-selectin, được sản xuất khi tế bào nội mô bị kích thích, đóng vai trò quan
Trang 23trọng trong việc huy động bạch cầu đến thận trong giai đoạn sau của TTTC
do NKH Trên thực nghiệm, loại bỏ bạch cầu đa nhân trung tính hoặc ức chế các phân tử kết dính ngăn được TTTC xảy ra Điều này giải thích sự kết dính của bạch cầu đa nhân trung tính vào tế bào nội mô gây ra sự phóng thích các gốc tự do oxy hoá (ROS), các men tiêu đạm, elastase, myeloperoxidase, và các men khác gây tổn thương tế bào Các chất này cùng với leukotriene B4
và yếu tố hoạt hoá tiểu cầu làm gia tăng tính thấm mạch máu và gây bộc lộ
các phân tử kết dính, thúc đẩy hơn nữa quá trình viêm (Hình 1.1)
Các bạch cầu rời mao mạch quanh ống thận đến tế bào biểu mô ống thận, trực tiếp hoạt hoá tế bào biểu mô ống thận bằng cách phóng thích các
Hình 1.1 Cơ chế gây TTTC trong NKH do phản ứng viêm
Ghi chú: DAMP: damage- associated molecular pattern
PAMP: pathogen- associated molecular pattern
“Nguồn: Zarbock A, 2014” [113]
Trang 2411
hoá chất trung gian tiền viêm và các phân tử DAMP Các phân tử DAMP, và các phân tử có nguồn gốc từ tác nhân gây bệnh (PAMP) và các cytokin tiền viêm được lọc qua cầu thận, vào ống thận gần, gắn với các thụ thể tương ứng, trực tiếp hoạt hoá tế bào biểu mô ống thận gây ra sự thay đổi chuyển hoá và chức năng của tế bào dẫn đến ngừng chu kỳ tế bào hoặc chết tế bào theo chương trình (Hình 1.1.)
Stress oxy hoá là cơ chế quan trọng gây tổn thương tế bào ống thận do NKH, xảy ra rất sớm ở những vùng có dòng máu chảy qua mao mạch chậm [45] Tử thiết những bệnh nhân TTTC do NKH có hiện tượng không bào hoá
tế bào biểu mô ống thận, liên quan đến stress oxy hoá [113] Nuôi cấy tế bào ống thận và tế bào biểu mô cầu thận trong môi trường có các thành phần của
vi khuẩn hoặc huyết tương bệnh nhân bị bỏng nặng và TTTC do NKH tạo ra các gốc tự do oxy hoá (ROS) hoặc xảy ra hiện tượng chết tế bào theo chương trình [113] Nồng độ các phân tử có gốc tự do oxy hoá và ni tơ gia tăng khu trú tại ống thận giáp ranh với mao mạch không được tưới máu, gợi ý sự chảy chậm của dòng máu hoặc ngưng tưới máu ở các mao mạch là nguyên nhân của Stress oxy hoá [45]
1.4 Dự hậu cuả TTTC
Tử vong ở bệnh nhân TTTC khoảng 50% Tỉ lệ tử vong thay đổi, tùy thuộc vào nguyên nhân gây TTTC, 15% ở bệnh nhân sản khoa, 30% trong TTTC do độc chất, và 60% trong TTTC ở bệnh nhân chấn thương hoặc phẫu thuật lớn [24] Tử vong ở bệnh nhân TTTC không biến chứng từ 5 – 10%, trong khi tử vong ở bệnh nhân TTTC có suy đa cơ quan lên đến 50-70% [73]
Tử vong ở bệnh nhân TTTC cần lọc máu 60,3% [105]
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của tác giả Lê Thị Diễm Tuyết tại khoa ĐTTC bệnh viện Bạch Mai, tử vong ở bệnh nhân TTTC là 52,5% [10];
Trang 25nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Ngọc Thảo tại khoa ĐTTC bệnh viện Chợ Rẫy, ở bệnh nhân NKH nặng, tử vong ở bệnh nhân có TTTC là 65,1% [5]
Phần lớn bệnh nhân sống sau TTTC có chức năng thận hồi phục đủ để
có cuộc sống bình thường Tuy nhiên, khoảng 50% bệnh nhân vẫn còn suy giảm chức năng thận dưới lâm sàng hoặc sẹo khi sinh thiết thận Khoảng 5% bệnh nhân sau TTTC không hồi phục chức năng thận, cần phải điều trị thay thế thận định kỳ hoặc ghép thận [56], [106]
1.5 Các dấu ấn sinh học mới của TTTC
1.5.1 Vì sao cần phải có các dấu ấn sinh học mới của TTTC
TTTC là tổn thương cơ quan thường gặp tại khoa ĐTTC và có tỉ lệ tử vong cao, dù có nhiều tiến bộ quan trọng trong điều trị thay thế thận Một trong những nguyên nhân khiến tỉ lệ tử vong TTTC không giảm như kỳ vọng
Hình 1.2 Sử dụng các dấu ấn sinh học trong các giai đoạn khác nhau
của TTTC
“Nguồn: Mehta R L, 2011” [72]
Trang 2613
trong những thập niên qua, là do thiếu các dấu ấn sinh học chẩn đoán sớm TTTC, gây chậm trễ trong điều trị nhằm ngăn chặn sự tiến triển của TTTC Trên thực nghiệm, một số biện pháp ngăn chặn tiến triển TTTC chỉ hiệu quả nếu được áp dụng sớm, khi thận mới bị tác động bởi các yếu tố gây hại cho
thận [95], giai đoạn này được gọi là giai đoạn tổn thương thận (Hình 1.2.)
Hiện nay, Creatinin huyết thanh được dùng trên lâm sàng để chẩn đoán TTTC, tuy nhiên creatinin không giúp chẩn đoán sớm TTTC, là dấu ấn không đáng tin cậy trong giai đoạn có sự thay đổi cấp tính của chức năng thận do các yếu tố sau [15], [83]:
(1) Sự tăng của creatinin huyết thanh xuất hiện muộn hơn sự giảm của
độ lọc cầu thận, vì thế trong giai đoạn thay đổi cấp tính của độ lọc cầu thận, nồng độ creatinin huyết thanh không phản ảnh chính xác chức năng thận, creatinin huyết thanh chỉ tăng khi độ lọc cầu thận giảm hơn 50%
(2) Bình thường lượng creatinin trong nước tiểu có từ hai nguồn là creatinin được lọc qua cầu thận và creatinin được bài tiết thêm ở ống thận chiếm 5-10% tổng lượng creatinin trong nước tiểu, do vậy độ thanh lọc creatinin sẽ lớn hơn độ lọc cầu thận khoảng 10ml/phút/1,73m2 da Khi độ lọc cầu thận giảm, có sự tăng bài tiết creatinin qua ống thận, có thể đến 40% tổng lượng creatinin trong nước tiểu, làm gia tăng sự khác biệt giữa độ thanh lọc creatinin và độ lọc cầu thận
(3) Bình thường, creatinin bài tiết chủ yếu qua thận, đường ngoài thận không đáng kể, ở người có suy thận nặng, 68% lượng creatinin được bài tiết qua đường ngoài thận, chủ yếu là đường tiêu hóa Bình thường men creatinase ở dạng không hoạt động, khi creatinin huyết thanh tăng cao sẽ kích hoạt men này, làm tăng thải creatinin qua đường tiêu hóa
Trang 271.5.2 Dấu ấn sinh học lý tưởng của TTTC
Dấu ấn sinh học lý tưởng của TTTC phải có những đặc điểm sau: có
độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong chẩn đoán sớm TTTC, giúp chẩn đoán phân biệt TTTC trước thận, tại thận và sau thận, giúp chẩn đoán nguyên nhân TTTC là do thiếu máu, độc tố hoặc nhiễm khuẩn, giúp chẩn đoán phân biệt TTTC với những bệnh thận cấp khác như viêm cầu thận, viêm thận mô kẽ, viêm đài bể thận cấp, dự đoán mức độ nặng của tổn thương thận, sử dụng để theo dõi tiến triển của TTTC, theo dõi đáp ứng với các biện pháp can thiệp và đánh giá dự hậu của TTTC [15], [22], [28], [37], [51]
Để có thể áp dụng được trên lâm sàng, các dấu ấn sinh học phải đáp ứng các điều kiện sau: kỹ thuật lấy mẫu không xâm lấn hoặc ít xâm lấn như nước tiểu hoặc máu, dễ dàng thực hiện tại giường bệnh hoặc ở những phòng xét nghiệm lâm sàng chuẩn với kỹ thuật xét nghiệm chuẩn, đáng tin cậy và cho kết quả nhanh, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong chẩn đoán, có độ chính xác chẩn đoán cao thể hiện qua đường cong ROC và diện tích dưới đường cong ROC (AuROC) [15], [22], [28], [37], [51]
1.5.3 Nguồn gốc, tính đặc hiệu vị trí và phân loại các dấu ấn sinh học mới của TTTC
Bất kể nguyên nhân gây tổn thương thận, đáp ứng viêm giữ vai trò chủ đạo trong khởi phát TTTC (Hình 1.3.) Những yếu tố khởi kích TTTC (thiếu máu cục bộ, chất gây độc thận và nội độc tố vi khuẩn) làm phóng thích những cytokine và chemokine gây viêm từ tế bào nội mô và tế bào ống thận [69] Bạch cầu đa nhân và nhiều bạch cầu khác di trú đến vị trí viêm, đồng thời bám dọc thành mao mạch quanh ống thận từ rất sớm sau khi thận bị tác động bởi các yếu tố khởi kích Tổn thương viêm ở tế bào nội mô làm tăng tính thấm thành mạch, trong vòng 24 giờ giúp bạch cầu đa nhân dễ dàng di
Trang 2815
chuyển vào mô kẽ thận và lòng ống thận Trong quá trình di trú, bạch cầu đa nhân lại phóng thích thêm những cytokine tiềm viêm làm tổn thương ống thận hơn nữa Đáp ứng viêm tại ống thận đối với các yếu tố khởi kích làm mất tính toàn vẹn của bộ khung tế bào, dẫn đến bong tróc tế bào còn sống cũng như những tế bào chết theo chương trình và tế bào bị hoại tử gây tắc nghẽn ống thận [69] Nếu quá trình sửa chữa thành công, những tế bào bình thường sẽ tái biệt hóa và lan rộng để phủ toàn bộ màng đáy bị tổn thương, khôi phục lại cấu trúc và chức năng của nephron [69]
Hình 1.3 Phản ứng viêm trong sinh lý bệnh của TTTC
(Ghi chú: AC tế bào chết theo chương trình, NC tế bào hoại tử, DC tế bào tái biệt hóa)
“Nguồn: Martensson J, 2012” [69]
Trang 29Những dấu ấn sinh học phản ánh những biến cố sinh lý bệnh khác nhau trong quá trình tổn thương và sửa chữa của thận bao gồm:
• Do giảm độ lọc cầu thận: creatinin máu, cystatin C máu
• Những men được phóng thích từ tế bào ống thận bị tổn thương: Alanine aminopeptidase (AAP), Alkaline phosphatase (AP) , α-glutathione S transferase (α-GST), N acetyl β glucosaminidase (NAG)
• Những chất xuất hiện trong nước tiểu do tổn thương cơ chế hấp thu những chất trong dịch lọc của ống thận gần: NGAL, cystatin C nước tiểu
• Những protein được sản xuất từ tế bào viêm di trú đến thận hoặc từ tế bào ống thận do hiện tượng tăng biểu hiện gen (up-regulated) phản ứng khi thận bị tổn thương: Kidney injury molecule-1 (KIM-1), Neutrophil gelatinase associated lipocalin (NGAL), IL-18, liver fatty acid binding protein (L-FABP), Sodium/hydrogen exchanger isoform (NHE3) NGAL và IL-18 còn được sản xuất bởi các tế bào miễn dịch trong máu
và mô ngoài thận đáp ứng với phản ứng viêm như NKH, chấn thương, phẫu thuật lớn
• Những chất có liên quan đến sự ngừng chu kỳ tế bào G1 của tế bào ống thận: Tissue inhibitor of metallo- proteinase 2 (TIMP-2) và Insulin-like growth factor binding protein 7 (IGFBP-7)
Tại hội nghị về dấu ấn sinh học TTTC năm 2014 [81], các chuyên gia
của ADQI chia các dấu ấn sinh học của TTTC thành 2 nhóm chính:
(1) Các dấu ấn sinh học chức năng gồm creatinin, Cystatin C (CysC), b2
microglobulin, α1 microglobulin, microalbumin…
(2) Các dấu ấn sinh học tổn thương thận gồm: NGAL, I18, KIM-1,
L-FABP, TIMP-2, IGFBP-7
Trang 30Hình 1.4 Nguồn gốc và tính đặc hiệu vị trí của các dấu ấn TTTC
“Nguồn: Murray P T, 2014” [81]
Trang 31BẢNG 1.4 Tóm tắt đặc điểm các dấu ấn sinh học mới của TTTC [86], [115] Dấu ấn
sinh học
Nguồn gốc Tại thận Bệnh phẩm Thời
gian phát hiện
Yếu tố gây nhiễu
ly giải tại tế bào ống thận gần, không bài tiết tại ống thận (không thể phát hiện trong nước tiểu người bình thường)
Huyết thanh
và nước tiểu (Cystatin C huyết thanh
là dấu ấn độ lọc cầu thận, Cystatin C nước tiểu là dấu ấn tổn thương ống thận)
12 – 24 giờ sau tổn thương thận
Đáp ứng viêm toàn thân Bệnh ác tính Rối loạn tuyến giáp
Suy/cường glucocorticoid Hút thuốc
IL-18 Cytokine tiền viêm
18 kDa
Phóng thích từ
tế bào ống thận gần sau tổn thương
Huyết tương
và nước tiểu
6- 24 giờ sau tổn thương thận
Phản ứng viêm Nhiễm khuẩn huyết
Nước tiểu 12 – 24
giờ sau tổn thương thận
Carcinoma tế bào thận Tiểu đạm mạn tính
Bệnh thận mạn Bệnh tế bào liềm
Huyết tương
và nước tiểu
1 giờ sau tổn thương ống thận
do thiếu máu cục
bộ
Bệnh thận mạn Thận đa nang Bệnh gan Nhiễm khuẩn huyết
Nước tiểu 4 giờ
sau tổn thương thận
Sai số khi có
sự hiện diện của bilirubin, albumin trong nước tiểu
Trang 3219
1.6 Nghiên cứu về NGAL trong TTTC
1.6.1 Đại cương về NGAL
1.6.1.1 Nguồn gốc, cấu trúc và chuyển hoá NGAL
NGAL là một protein thuộc họ lipocalin, có trọng lượng phân tử 25 Kda gồm 178 axít amin, tạo liên kết đồng hoá trị với gelatinase của bạch cầu
đa nhân trung tính, được phân lập bởi Allen và Venge năm 1989 từ những hạt thứ cấp của bạch cầu đa nhân trung tính [85] Bạch cầu đa nhân đã trưởng thành ở máu ngoại biên không có RNA mã hoá để tổng hợp NGAL, mà NGAL được tổng hợp vào giai đoạn tạo hạt thứ cấp của tế bào tuỷ xương Bình thường gen mã hoá để tổng hợp NGAL có ở nhiều mô của cơ thể như tuỷ xương, tử cung, tuyến tiền liệt, tuyến nước bọt, dạ dày, đại tràng, khí quản, phổi, gan và thận; đáp ứng tăng biểu hiện gen để tổng hợp NGAL xảy
ra khi có các tình trạng bệnh lý khác nhau như phản ứng viêm, nhiễm khuẩn, ngộ độc, thiếu máu, TTTC, và một số ung thư như ung thư vú, ung thư hệ niệu sinh dục [38], [98]
Giống như các lipocalin khác, NGAL gồm có 8 sợi beta tạo thành cấu trúc bậc 3 hình thùng có đài kỵ nước gắn với các phân tử ưa chất béo Trong máu NGAL có 3 dạng: đơn thể (monomer) có trọng lượng phân tử 25 kDa; nhị thể (homodimer) do nhị trùng hoá 2 phân tử NGAL, có trọng lượng phân
tử 45 kDa; và dị thể (heterodimer) do kết hợp NGAL đơn thể với phân tử Matrix metallo peptidase 9 (MMP-9), có trọng lượng phân tử 135 kDa [65]
Nhiều nghiên cứu cho thấy NGAL dạng đơn thể chủ yếu được tạo ra bởi tế bào ống thận, trong khi NGAL dạng nhị thể chủ yếu xuất phát từ bạch cầu đa nhân trung tính (Hình 1.5.), tuy nhiên bạch cầu đa nhân trung tính cũng có thể tiết ra một lượng nhỏ NGAL dạng đơn thể, cũng như tế bào ống thận cũng có thể sản xuất NGAL nhị thể với số lượng nhỏ [65]
Trang 33Phối tử chủ yếu của NGAL là phân tử có gắn sắt siderophore Tại tế bào, NGAL tương tác với thụ thể 24p3R hoặc megalin được gọi là Apo-NGAL hoặc kết hợp thêm với siderophore tạo thành holo-NGAL Sau khi nhập bào, Holo-NGAL thực hiện các chức năng bảo vệ tế bào rồi bị huỷ hoặc đẩy ra khỏi tế bào để tái sử dụng dưới dạng Apo-NGAL [21]
NGAL trong máu sẽ được lọc qua cầu thận và tái hấp thu hoàn toàn ở
tế bào ống thận gần, thoái hoá tại tiêu thể, nên nồng độ NGAL trong nước tiểu rất thấp Khi thận bị tổn thương, tế bào ống thận sản xuất lượng rất lớn NGAL, NGAL đi vào máu và nước tiểu làm gia tăng nồng độ NGAL trong máu và nước tiểu, ống thận gần bị tổn thương giảm hấp thu NGAL góp phần
Hình 1.5 Sinh học NGAL và mối liên hệ với tổn thương ống thận
“Nguồn: Lippi G, 2012” [65]
Trang 3421
làm tăng cao nồng độ NGAL trong nước tiểu [21]
1.6.1.2 Chức năng sinh lý của NGAL: NGAL có ba chức năng chính [94] :
• Tác động ngưng khuẩn: NGAL gắn với phân tử có chứa sắt siderophore, là những phân tử được tổng hợp bởi vi khuẩn để thu thập sắt, bằng cách này NGAL ức chế sự phát triển của vi khuẩn
• Tác động chống oxy hóa: NGAL gắn với phân tử siderophore của người, đây là những phân tử vận chuyển sắt vào trong tế bào đích, như vậy NGAL làm ngưng cung cấp sắt tự do và sắt phản ứng để sản xuất các gốc oxy gây ra các stress oxy hóa và tổn thương tế bào
• Hoạt động như yếu tố tăng trưởng: NGAL điều hòa sự tăng sinh tế bào,
sự chết tế bào theo chương trình, sự biệt hóa tế bào
1.6.1.3 Đáp ứng gia tăng NGAL khi thận bị tổn thương
Khi thận bị tổn thương bởi nhiều tác nhân khác nhau, tại tế bào ống thận có hiện tượng tăng biểu hiện gen NGAL, RNA mã hoá NGAL tăng rất cao trong vòng vài giờ, NGAL được sản xuất và phóng thích vào máu và nước tiểu Nhiều cytokin và yếu tố tăng trưởng tham gia vào quá trình kích thích sự tăng biểu hiện gen NGAL như Granulocyte Monocyte colony stimulating factor (GM-CSF), Interleukin-1 (IL-1), IL-17, IL-22, Transforming growth factor alpha (TGF-!), Insulin like growth factor-1 (IGF-1) [26] NGAL được sản xuất chủ yếu ở ống thận xa, ngoài ra ống thận gần, nhánh lên quai Henle, và ống góp cũng sản xuất NGAL; miễn dịch huỳnh quang ở vật thí nghiệm cho thấy NGAL tập trung nhiều nhất ở ống thận gần, tuy nhiên hiện tượng này phản ảnh hiện tượng nhập bào của NGAL hơn là NGAL được sản xuất nhiều nhất ở ống thận gần [98] Ngoài ra hiện tượng hoạt hoá và di trú của bạch cầu đa nhân trung tính đến thận cũng góp phần làm gia tăng nồng độ NGAL trong máu và nước tiểu [65] Trên thực
Trang 35nghiệm NGAL có tác dụng bảo vệ, ngăn tổn thương tế bào ống thận trong giai đoạn sớm của tổn thương thận, truyền NGAL ngoại sinh cho chuột bị gây tổn thương thận do thiếu máu, thận được bảo vệ khỏi các tổn thương do thiếu máu [80] Ngoài ra NGAL có thể có vai trò trong trong quá trình tăng sinh và biệt hoá tế bào ống thận để thay thế cho các tế bào thận bị hoại tử NGAL có tác động chống lại hiện tượng chết tế bào theo chương trình và bảo tồn sự bộc lộ N-cadherin của biểu mô ống thận, kích thích làm tăng sản xuất men bảo vệ thận heme oxygenase 1, có tác động chống lại sự oxy hoá [21]
1.6.1.4 Giá trị NGAL bình thường
NGAL bình thường trong máu có nguồn gốc từ bạch cầu đa nhân và tế bào gan, lách, thận Ở người lớn, nồng độ NGAL trong nước tiểu là 1 - 20 ng/ml, và trong máu là 70 - 105 ng/ml [94]
1.6.1.5 Các phương pháp xét nghiệm nồng độ NGAL trong máu và nước tiểu
Bệnh phẩm để xét nghiệm NGAL gồm máu toàn phần, huyết thanh, huyết tương kháng đông bằng EDTA hoặc heparin, nước tiểu Định lượng NGAL bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang hoặc miễn dịch men (ELISA) bán tự động hoặc tự động, phương pháp đo độ đục và có cả xét nghiệm nhanh Phần lớn các kít xét nghiệm NGAL hiện nay trên thị trường đều xét nghiệm định lượng chung cả hai dạng NGAL chính trong máu là đơn thể và nhị thể, hoặc định lượng 3 dạng gồm cả NGAL dị thể, vì thế giảm tính đặc hiệu chẩn đoán tổn thương thận nếu NGAL được phóng thích từ nguồn ngoài thận [64] Hiện kít NGAL đo NGAL đơn thể đặc hiệu ống thận đã có
và đang được xác định giá trị trong các nghiên cứu lâm sàng [64] Máu toàn phần cho sai số nhiều hơn huyết tương, huyết thanh vì có sự hiện diện của bạch cầu trong máu Sử dụng huyết tương chính xác hơn huyết thanh vì
Trang 3623
NGAL có thể phóng thích từ bạch cầu đa nhân trong trong quá trình đông máu [64] Huyết tương kháng đông bằng EDTA hoặc heparin cho kết quả NGAL tương đương nhau [17] Kết quả nồng độ NGAL trong nước tiểu được điều chỉnh bằng creatinin nước tiểu, để giảm tới mức tối thiểu tác động của tình trạng cô đặc hay pha loãng nước tiểu Không có sự khác biệt về giá trị dự đoán TTTC và tiên lượng giữa NGAL nước tiểu với NGAL huyết tương [33]
1.6.2 Các nghiên cứu tiền lâm sàng về NGAL trong TTTC
Nghiên cứu NGAL như một dấu ấn TTTC được đề xuất từ kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm, sử dụng các kỹ thuật sinh học phân tử về gen và protein Supavekin và cộng sự phát hiện gen mã hoá để tổng hợp NGAL có hiện tượng gia tăng biểu hiện vào giai đoạn sớm ở thận chuột bị gây thiếu máu [103] Nghiên cứu của Mishra và cộng sự cho thấy NGAL không những
là một trong bảy protein có gen mã hoá tăng biểu hiện rất mạnh, hơn gấp mười lần trong giai đoạn sớm của TTTC do thiếu máu, mà còn là một protein được thải qua đường niệu rất sớm trong vòng 2 giờ sau khi thận bị tổn thương với nồng độ rất cao [77] Nhiều nghiên cứu sau đó chứng minh gen mã hoá NGAL gia tăng biểu hiện rất mạnh và sớm, chỉ trong vòng 2 giờ sau khi thận
bị tổn thương do thiếu máu hoặc độc chất [80], [78], [93]; RNA mã hoá NGAL tăng gấp 1000 lần tại thận, đồng thời nồng độ NGAL huyết thanh tăng gấp 300 lần, nồng độ NGAL nước tiểu tăng gấp 1000 lần trong 24 – 48 giờ sau khi thận bị thiếu máu; thời điểm xuất hiện, mức độ và thời gian xuất hiện NGAL trong nước tiểu tương quan với biến cố thiếu máu [80], [93] Gần đây, một số nghiên cứu tiền lâm sàng đã được thực hiện trên chuột thí nghiệm sử dụng gentamycin và colistin, kết quả nghiên cứu cho thấy có hiện tượng tăng biểu hiện gen NGAL [43] và tăng nồng độ NGAL tương quan với thay đổi bệnh lý tại thận, các tác giả kết luận NGAL có thể dùng như dấu ấn
Trang 37để theo dõi TTTC do gentamycin, colistin [43], [66] Nghiên cứu gây độc tế bào ống thận người bằng gentamycin và colistin trong ống nghiệm cũng cho thấy có sự tăng cao biểu hiện gen mã hoá NGAL trong tế bào và nồng độ NGAL trong dịch nuôi tế bào [55]
Kết quả của các nghiên cứu tiền lâm sàng nói trên cho thấy NGAL là một dấu ấn đầy tiềm năng trong dự đoán TTTC và đó là cơ sở khoa học để phát triển các phương pháp xét nghiệm đo nồng độ NGAL trong máu và nước tiểu dùng trong nghiên cứu và trên lâm sàng
1.6.3 Các nghiên cứu lâm sàng về NGAL trong TTTC
Sự tăng cao nồng độ NGAL từ rất sớm, khoảng 2 giờ sau khi thận tiếp xúc với tác nhân gây tổn thương thận đã khiến NGAL trở thành dấu ấn sinh học được nghiên cứu nhiều nhất trong các dấu ấn sinh học mới của TTTC Ngoài nghiên cứu NGAL như dấu ấn dự đoán TTTC, NGAL còn được nghiên cứu như dấu ấn đánh giá mức độ nặng của TTTC, dấu ấn tiên lượng gồm điều trị thay thế thận, tử vong bệnh viện; và sử dụng như dấu ấn để theo dõi sự phục hồi của tổn thương thận sau TTTC
1.6.3.1 Kết quả nghiên cứu NGAL trên bệnh nhân mổ tim, sử dụng thuốc cản quang, bệnh nhân cấp cứu, bệnh nhân ghép gan
Nghiên cứu lâm sàng về NGAL như dấu ấn sinh học của TTTC lần đầu tiên được Mishra và cộng sự công bố vào năm 2005, nghiên cứu thực hiện trên 71 bệnh nhi mổ tim hở có tuần hoàn ngoài cơ thể Chẩn đoán TTTC khi creatinin máu tăng ≥ 50% giá trị nền Kết quả 20 bệnh nhi (28%) bị TTTC, NGAL ht và NGAL nước tiểu 2 giờ sau mổ có độ nhạy 0,7 và độ đặc hiệu 0,9 trong dự đoán TTTC, AuROC của NGAL nước tiểu 0,998 và AuROC của NGAL ht 0,91 [76]
Trang 3825
Sau đó nhiều nghiên cứu về NGAL được thực hiện ở người lớn và trẻ
em mổ tim, so với các dấu ấn khác, NGAL có ưu điểm là tăng cao và rất sớm
so với KIM-1 và IL-18, và có AuROC cao hơn các dấu ấn khác (Hình 1.6)
Thời gian (giờ) sau khi bắt đầu tuần hoàn ngoài cơ thể
Hình 1.6 So sánh sự gia tăng nồng độ một số dấu ấn sinh học ở bệnh
nhân TTTC sau mổ tim hở có tuần hoàn ngoài cơ thể “Nguồn: Devarajan P, 2010” [38]
Ngoài mổ tim hở, NGAL cũng đã được nghiên cứu trên các nhóm bệnh
nhân khác như bệnh nhân sử dụng thuốc cản quang, bệnh nhân cấp cứu, bệnh
nhân ghép gan Kết quả cho thấy giá trị dự đoán TTTC của NGAL dựa vào
diện tích dưới đường cong ROC (AuROC) từ khá cho đến rất tốt (Bảng 1.5.)
There is an emerging literature suggesting that urine
NGAL is also a marker of CKD and its severity 1 In this
population, urine NGAL levels are elevated and significantly
correlated with serum creatinine, GFR and proteinuria 76–78
Urine NGAL has also been shown to represent an early
biomarker for the degree of chronic injury in patients with
IgA nephropathy 79 and lupus nephritis, 80–82 and may be
increased in urinary tract infections 83 However, the levels of
urine NGAL in these situations are significantly blunted
com-pared with that typically measured in AKI.
In addition, there are a number of limitations pertaining to
the biomarker studies published thus far First, majority of
studies reported were from single centres that enrolled small
numbers of subjects Validation of the published results in
large multicentre studies will be essential Second, most
studies reported to date did not include patients with CKD.
This is problematic, not only because it excludes a large
proportion of subjects who frequently develop AKI in clinical
practice, but also because CKD in itself can result in increased
concentrations of NGAL, thereby representing a
confound-ing variable Third, many studies reported only statistical
associations (odds ratio or relative risk), but did not report
sensitivity, specificity and AUC for the diagnosis of AKI,
which are essential to determine the accuracy of the
biom-arker Fourth, only a few studies with relatively small
number of cases have investigated biomarkers for the
pre-diction of AKI severity, morbidity and mortality – results of
testing NGAL as a predictor of hard clinical outcomes in large
multicentre studies are needed.
Finally, the definition of AKI in the published studies has
been based largely on elevations in serum creatinine, which
raises the issue of using a flawed outcome variable to analyse
the performance of a novel assay The studies of biomarkers
such as NGAL for the diagnosis of AKI may have yielded
different results had there been a true ‘gold standard’ for AKI Instead, using AKI as defined by a change in serum creatinine sets up the biomarker assay for lack of accuracy due to either false positives (true tubular injury but no significant change in serum creatinine) or false negatives (absence of true tubular injury, but elevations in serum creatinine due to pre-renal causes or any of a number of confounding variables that haunt this measurement) It will be crucial in future studies to demonstrate: (i) the association between biomarkers and clinical outcomes such as dialysis, cardiovascular events and death; and (ii) that randomization to a treatment for AKI based on high biomarker levels results in an improvement in kidney function and reduction of adverse clinical outcomes This should be the next goal for the field.
FUTURE PERSPECTIVES FOR ACUTE KIDNEY INJURY BIOMARKERS
Neutrophil gelatinase-associated lipocalin as an AKI ker has successfully passed through the pre-clinical, assay development and initial clinical testing stages of the biomar- ker development process It has now entered the prospective screening stage, facilitated by the development of commer- cial tools for the measurement of NGAL on large populations across different laboratories But will any single biomarker such as NGAL suffice in AKI? In addition to early diagnosis and prediction, it would be desirable to identify biomarkers capable of discerning AKI subtypes, identifying aetiologies, predicting clinical outcomes, allowing for risk stratification and monitoring the response to interventions In order to obtain all of this desired information, a panel of validated biomarkers may be needed Other AKI biomarker candi- dates may include interleukin-18 (IL-18), kidney injury molecule-1 (KIM-1), cystatin C and liver-type fatty acid
biomar-0 5
10 15 20 25 30
Time post-CPB (h)
NGAL (0.95) L-FABP (0.80) IL-18 (0.75) KIM-1 (0.83)
Marker (AUC)
Fig 1 Temporal profile of urinary biomarkers in patients who develop acute kidney injury after cardiopulmonary bypass (CPB) Data are from the following
published references: neutrophil gelatinase-associated lipocalin (NGAL), 27 liver-type fatty acid binding protein (L-FABP), 29 interleukin-18 (IL-18) 28 and kidney injury molecule-1 (KIM-1) 84
NGAL in acute kidney injury
Trang 39Bảng 1.5 Tóm tắt kết quả một số nghiên cứu về NGAL máu trong TTTC Tác giả và cộng
sự (năm)
Nhóm bệnh nhân
Số bệnh nhân
Tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC *
AuROC (95% CI)
140 Creatinin tăng
25%
**Sen 0,90 Spe 0,74
Tong (2015)
[104]
Chụp cản quang Phân tích gộp
0,85 (0,82-0,88)
Di Somma (2013)
[39]
Cấp cứu (người lớn)
665 Creatinin tăng
50% hoặc ≥ 0,3mg/dl
0,84
Niemann (2009)
[84]
Ghép gan (người lớn)
95 Creatinin tăng gấp
2 hoặc 3 lần
0,87 (0,77-0,93) Ghi chú: * creatinin nền; ** không công bố AuROC chỉ công bố sen: độ nhạy, spe: độ đặc hiệu
Trang 40Bệnh nhân nhập ĐTTC đồng thời có nhiều bệnh cấp tính và bệnh mạn hơn các nhóm bệnh nhân khác, vì vậy sự gia tăng NGAL có thể không những
từ TTTC mà còn từ những phản ứng khác của cơ thể như quá trình viêm, nhiễm khuẩn huyết Mặc khác, thời gian và cường độ tác động lên thận thường không rõ làm giảm giá trị đặc hiệu của NGAL như dấu ấn TTTC Mặc dù vậy, nhiều nghiên cứu ở bệnh nhân ĐTTC cho thấy NGAL có giá trị trong dự đoán TTTC, dự đoán điều trị thay thế thận và và tiên lượng tử vong
Bảng 1.6 và 1.7 tóm tắt thiết kế nghiên cứu và kết quả một số nghiên cứu về NGAL máu và nước tiểu ở bệnh nhân điều trị tại khoa ĐTTC tổng quát, đối tượng nghiên cứu đã loại một cách tương đối bệnh nhân bị TTTC lúc nhập ĐTTC, bằng cách chỉ chọn bệnh nhân có creatinin máu < 1,5 mg/dl hoặc loại bệnh nhân có eGFR < 60 ml/phút/1,73m2; dùng tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC AKIN hoặc RIFLE hoặc chỉ dùng tiêu chuẩn creatinin máu mà không dùng tiêu chuẩn thể tích nước tiểu của AKIN, RIFLE; sử dụng creatinin nền là creatinin của bệnh nhân trước nhập viện; nếu không biết creatinin nền (từ 28% - 51% bệnh nhân), các nghiên cứu sử dụng creatinin bệnh nhân lúc nhập viện, hoặc creatinin tính theo công thức MDRD NGAL được lấy mẫu lúc nhập ĐTTC rồi tính giá trị chẩn đoán TTTC trong vòng 1,
2, 5, 7 ngày hoặc lấy mẫu liên tiếp trong vòng vài ngày sau nhập ĐTTC, tính giá trị dự đoán TTTC tại thời điểm cố định 12 giờ, 1, 2, 3 ngày trước khi bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC